kienthuc4share xin gửi tới các bạn Tài liệu quản trị học – Thuyết công bằng (equity thoery)

Thuyết kỳ vọng là thuyết dựa trên quá trình tư duy nhận thức của chủ thể trong việc ra quyết định. Các lý thuyết về hành vi tổ chức đều được bao trùm và dựa trên thuyết kỳ vọng của Victor Vroom. Thuyết này cho rằng con người quyết định hành động theo một hướng cụ thể, hành động này dựa trên hành động khác, mà việc lựa chọn đó dựa trên mong muốn trong nhận thức của cá nhân đó về kết quả của hành vị được lựa chọn.

Về bản chất, sự thúc đẩy đằng sau hành động được quyết định bởi sự khao khát với kết quả mà họ mong muốn. Cốt lõi của thuyết chính là quá trình nhận thức của cá nhân đó về các yếu tố mang tính động viên. Kết quả mà cá nhân mong muốn, thực tế không phải là yếu tố quyết định tới hành vi bởi nó còn phụ thuộc vào việc cá nhân đó dự đoán liệu rằng mong muốn của mình có thể đạt được hay không nữa.

Vroom đã đưa ra công thức như sau:

kienthuc4share thuyet ky vong

Công thức Expectancy Theory

MF (motivational force): các yếu tố động viên. Các yếu tố này được cầu thành bởi 3 thành phần là Expectancy, InstrumentalityValance

Expectancy: mối quan hệ giữa Effort (cố gắng) và Performance (thể hiện).

Theo đó, expectancy là niềm tin của cá nhân trong việc nếu họ cố gắng tốt (cho nhiều input vào công việc) thì kết quả là họ sẽ thể hiện tốt.

Ví dụ: một sinh viên tin rằng mình đã bỏ rất nhiều input cho việc ôn thi (thời gian, tiền bạc, sức khỏe…) thì khi thi mình sẽ thể hiện tốt (làm bài tốt).

Instrumentality: Mối quan hệ giữa performance (thể hiện) và kết quả (outcome).

Instrumentality là niềm tin của cá nhân rằng sẽ nhận được kết quả mà mình mong muốn (desired outcome) nếu mình thể hiện (perform) được như mình mong muốn (hay còn gọi là cảm nhận về sự thành công). Mức độ Instrumentality sẽ thấp nếu như kết quả đầu ra (outcome) là tương tự nhau cho tất cả các mức thể hiện.

Ví dụ: sinh viên trên tin rằng nếu mình làm bài tốt (chẳng hạn hoàn thành bài thi trong 45’) thì kết quả bài thi sẽ đúng như mình mong muốn (được 10 điểm). Giả sử vì lí do nào đó, sinh viên đó biết rằng dù mình có làm tốt hay không thì cao lắm cũng chỉ được 5 điểm thì mức instrumentality sẽ ở mức thấp.

Valence[1]là giá trị mà cá nhân đó đặt cho kết quả đầu ra dựa trên nhu cầu, mục đích và nguồn động lực của mình.

Ví dụ: với kết quả đầu ra là bài thi điểm 10, sinh viên trên gắn nó với một giá trị mà nó dựa trên nhu cầu, mục đích của sinh viên đó. Chẳng hạn mục đích của sinh viên này là để đạt được học bổng, hoặc dựa trên nhu cầu được thể hiện với bạn bè, thậm chí có thể mang tính tiêu cực như nhằm mục đích gây mất mặt cho một sinh viên khác đang cạnh tranh với mình.

Việc ứng dụng thuyết kỳ vọng được thực hiện bằng cách làm tăng giá trị của MF qua việc tăng các yếu tố cấu thành là:

Tăng Expectancy: ta cần tăng niềm tin của nhân viên rằng họ có khả năng thực hiện công việc, bằng cách như: chọn nhân viên có khả năng, kỹ năng; đồng thời hướng dẫn, đào tạo và cung cấp tài nguyên làm việc cho nhân viên (tài liệu, máy tính…). Khi này nhân viên tin rằng mình có khả năng thực hiện, do đó cố gắng của mình sẽ đẫn đến việc mình thực hiện tốt công việc đó.

Tăng Insrtumentality: giải thích rõ cho nhân viên về kết quả đầu ra, về mức thưởng mà họ có thể nhận được, rằng nếu thể hiện tốt thì kết quả nhận được cũng tốt. Nhờ làm vậy nhân viên mới tin rằng với mức thể hiện tốt thì sẽ gắn với một mức thưởng tốt tương tự.

Tăng Outcome: cho thưởng phải tương ứng với mong muốn của nhân viên, chẳng hạn nhân viên đó mong muốn được chú ý, công nhận bởi đồng nghiệp, thì kết quả thưởng không chỉ là lương mà còn là được tuyên dương trước toàn công ty.

Để hiểu thêm về thuyết, các bạn có thể xem video của mình tại đây:

Và tham khảo thêm tại channel youtube của mình:

https://www.youtube.com/channel/UCgUlvuUqJBHP3NmYsWa2nQA

[1] Valence là giá trị gắn với một đối tượng, một tình huống hoặc tình trạng, mà valence này có thể tích cực lẫn tiêu cực.

Click để xem thêm các bài viết về Quản trị học của kienthuc4share nhé ^^

HaiChauBK

Leave a Reply