kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Bài giảng đầy đủ Luật Công pháp Quốc tế P1

CHƯƠNG I
KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ
* Mục đích nghiên cứu của chương I:
– Chương I là chương lý luận chung và là chương mở đầu cho việc tìm hiểu bộ môn luật quốc tế. Đây là chương rất quan trọng, nó cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về hệ thống luật quốc tế như: khái niệm, đặc điểm, nguồn của luật quốc tế…làm tiền đề cho việc học tập và nghiên cứu các vấn đề pháp lý cụ thể của hệ thống luật quốc tế trong các phần tiếp theo của môn học.
– Trên cơ sở các kiến thức thu nhận được từ chương này, sinh viên sẽ có được cái nhìn tổng quan hơn về môn học, đồng thời đưa ra được các cơ sở phân biệt sự khác nhau giữa luật quốc tế và luật quốc gia, đồng thời thấy được mối quan hệ biện chứng giữa hai hệ thống pháp luật độc lập này.
* Tài liệu tham khảo: Để có thể nắm được các kiến thức trong chương này, sinh viên cần tham khảo và nghiên cứu một số tài liệu quan trong sau:
1. Giáo trình LQT trường Đại học Luật Hà Nội
2. Luật quốc tế Lý luận và thực tiễn
3. Hiến chương Liên hợp quốc
4. Quy chế Tòa án công lý quốc tế
5. Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc hợp tác hữu nghị giữa các thành viên Liên hợp quốc
6. Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia
I. KHÁI NIỆM
1. Định nghĩa
a. Giải thích một số thuật ngữ cơ bản liên quan đến luật quốc tế
– Luật Quốc tế hiện đại: Là luật quốc tế hình thành sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đến nay.
– Luật Quốc tế Xã hội chủ nghĩa: Là khái niệm xuất hiện sau khi có hệ thống XHCN thế giới và mất đi cùng với sự tan rã của hệ thống đó. Nó bao gồm các nguyên tắc và quy phạm pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa các nước trong cộng đồng XHCN, các quan hệ này có tính chất đặc biệt thể hiện sự hợp tác và nhân nhượng cao hơn so với các quan hệ khác. Hiện nay, Luật quốc tế XHCN không còn tồn tại cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Quan hệ giữa các nước XHCN với nhau và với các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay đều được giải quyết trên cơ sở Luật quốc tế hiện đại.
– Luật quốc tế chung: Là khái niệm dùng để chỉ tổng hợp những nguyên tắc và qui phạm pháp lý quốc tế được thừa nhận rộng rãi và có giá trị bắt buộc chung đối với các quốc gia, không phận biệt chế độ chính trị, kinh tế, xã hội…
– Luật quốc tế khu vực: Là tổng hợp những nguyên tắc và qui phạm pháp lý dùng để điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, các Chính phủ trong cùng khu vực địa lý, cùng xu hướng chính trị hoặc tôn giáo…(EU, ASEAN…).
– Công pháp quốc tế: Là ngành luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật…nảy sinh giữa các quốc gia trong quan hệ hợp tác với nhau. Tên gọi này cũng nhằm phân biệt với một ngành luật khác điều chỉnh các quan hệ dân sự mở rộng trong hệ thống pháp luật quốc gia, đó là tư pháp quốc tế. Trong tác phẩm Luật quốc tế của Openhem chỉ ra rằng “Công pháp quốc tế phát sinh khi chúng ta đặt các quốc gia cạnh nhau, tư pháp quốc tế phát sinh khi đặt các hệ thống pháp luật cạnh nhau”.
– Tư pháp quốc tế: là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc gia điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, như: quan hệ lao động, quan hệ hợp đồng…
– Luật quốc tế: đây là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất hiện nay, và được ghi nhận trong hầu hết các văn kiện pháp lý quan trọng của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt nam.
b. Định nghĩa
(Giải thích thêm: Về tổng thể, các thuật ngữ nêu trên đều mang nghĩa là chỉ hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ quốc tế phát sinh giữa các chủ thể Luật quốc tế. Hệ thống các nguyên tắc và qui phạm này mang tính chất là một hệ thống pháp luật độc lập, tồn tại song song với hệ thống pháp luật của từng quốc gia. Hiện nay, với xu thế quốc tế hóa mọi mặt của đời sống quốc tế ở cả hai cấp độ khu vực và toàn cầu, luật quốc tế thực sự là kết quả và là sự phản ánh sâu sắc các quan hệ hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế).
” Như vậy, Luật quốc tế là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, được các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận tạo dựng nên, trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực vủa đời sống quốc tế. Đó là các nguyên tắc và quy phạm áp dụng chung mà không có sự phân biệt về tính chất, hình thức hay vị thế của từng quốc gia khi thiết lập quan hệ quốc tế giữa những chủ thể này với nhau.
2. Đặc trưng của Luật quốc tế
a. Đặc trưng về chủ thể
(Câu hỏi đặt ra: Chúng ta biết rằng, chủ thể của pháp luật quốc gia là các thể nhân, pháp nhân và cơ quan nhà nước. Vậy, LQT có những chủ thể nào? Có sự khác biệt gì giữa chủ thể LQT và chủ thể LQG?)
Chủ thể của LQT là các thực thể có quyền năng chủ thể để tham gia vào các quan hệ pháp lý quốc tế một cách độc lập, bao gồm:
• Các quốc gia độc lập, có chủ quyền: (Câu hỏi đặt ra: Theo bạn, quốc gia phải có các yếu tố nào để trở thành chủ thể LQT?) Thông thường bao gồm các yếu tố sau:
– Lãnh thổ xác định (liên quan đến lãnh thổ quốc gia sẽ có một bài nghiên cứu rất kỹ tại học phần II)
– Dân cư thường xuyên sinh sống
– Có chính quyền thống nhất từ trung ương xuống địa phương
– Có chủ quyền quốc gia
Từ những đặc điểm nêu trên của quốc gia, chúng ta có thể thấy rằng cá” nhân hay pháp nhân trong pháp luật quốc gia không thể đáp ứng được các đặc điểm  không thể là chủ thể của LQT).”này
VD: Đài Loan không phải là một quốc gia độc lập có chủ quyền vì thiếu yếu tố lãnh thổ.
• Tổ chức quốc tế liên chính phủ: Trước tiên, chúng ta hãy cùng xem xét điều kiện để 1 TCQT trở thành chủ thể của LQT là gì? Đó là, TCQT đó phải có: cơ cấu tổ chức bộ máy riêng; hoạt động một cách thường xuyên, liên tục và có tư cách độc lập khi tham gia vào các mối quan hệ quốc tế.
– Hiện nay, khi nói đến các TCQT người ta thường nhắc đến 2 loại hình tổ chức quốc tế, đó là TCQT liên chính phủ và TCQT phi chính phủ (Câu hỏi: TCQT như nào được gọi là TCQT liên chính phủ? TCQT như nào được gọi là TCQT “phi chính phủ? TCQT mà thành viên của nó là các quốc gia độc lập, có chủ quyền  TCQT liên chính phủ (LHQ, EU, ASEAN…), TCQT mà thành viên của nó là các chủ  TCQT phi chính phủ (WHO, ILO, FAO, FIFA…). Dấu”thể khác (không phải quốc gia) hiệu để nhận biết thành viên của TCQT đó là quốc gia hay không thể hiện ở chỗ, các phái đoàn tham gia các TCQT đó không phải nhân danh bất kỳ một cá nhân hay  TCQT là sản phẩm của các quốc”pháp nhân nào mà nhân danh chính quốc gia mình  gia sáng lập ra nó).
• Các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết: Khái niệm “dân tộc” ở đây được hiểu là bộ phận dân tộc đại diện cho quốc gia, chứ không phải dân tộc theo nghĩa là một “chủng tộc” hay một “sắc tộc” đơn lẻ. Dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết khác với các dân tộc độc lập khác ở chỗ nó chỉ có chủ quyền dân tộc nhưng chưa có chủ quyền quốc gia.
VD: Palextin, Việt Nam trước năm 1945…
Nhận xét: Các chủ thể của LQT[ luôn bình đẳng và “ngang bằng”với nhau khi tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế. Ngoài các chủ thể chính nêu trên, hiện nay trong LQT hiện đại còn xuất hiện một số các chủ thể đặc biệt khác như: Tòa thánh Vaticăng, Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao…mặc dù chúng không được xếp vào một trong những nhóm chủ thể nêu trên của LQT, nhưng do tính chất đặc thù nên cộng đồng quốc tế vẫn thừa nhận việc tham gia vào một số các điều ước quốc tế liên quan đến các vấn đề thương mại, khoa học – kỹ thuật…của các thực thể này.
b. Đặc trưng về quan hệ do luật quốc tế điều chỉnh
– Dưới góc độ pháp luật quốc tế: Quan hệ do LQT điều chỉnh là quan hệ giữa các quốc gia hoặc các thực thể khác của LQT.
– Khác với các quan hệ do luật quốc gia điều chỉnh, quan hệ thuộc phạm vi tác động của LQT là quan hệ mang tính chất liên quốc gia, liên chính phủ, phát sinh trong bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống quốc tế. Những quan hệ đó đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng các quy phạm luật quốc tế. Tuy nhiên, không phải tất cả các quan hệ quốc tế đều là đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế.
VD: Các hợp tác kinh tế-quốc tế của Việt Nam hiện nay rất đa dạng, trong quan hệ kinh tế mà một bên  Đây không phải là”là Việt Nam với một bên là một tập đoàn kinh tế nước ngoài  quan hệ do luật quốc tế điều chỉnh.
c. Đặc trưng về sự hình thành luật quốc tế
(Câu hỏi: quá trình xây dựng các qui phạm LQT có khác gì so với quá trình xây dựng các qui phạm luật quốc gia? Trong quan hệ quốc tế có tồn tại cơ quan lập pháp, hành pháp hay không?)
– Đây là đặc điểm chỉ tìm thấy trong quá trình xây dựng các nguyên tắc và quy phạm pháp lý của LQT. Thông thường, hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia chủ yếu do các cơ quan lập pháp (quốc hội, nghị  thể hiện sâu sắc tính giai cấp và tính xã hội. Tuy nhiên, trong”viện) ban hành   không có”quan hệ quốc tế, do các chủ thể LQT bình đẳng với nhau về chủ quyền  cơ quan quyền lực nào có thể đứng trên các quốc gia để ấn định, hay áp đặt ý chí của mình cũng như các quy phạm pháp lý buộc các quốc gia phải tuân theo. Thay vào đó, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận thỏa thuận là phương thức duy nhất để hình thành hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp lý quốc tế. Thông thường hoạt động xây dựng pháp luật quốc tế thường thông qua hai giai đoạn, giai đoạn thỏa thuận của các quốc gia về nội dung quy tắc và giai đoạn thỏa thuận công nhận tính ràng buộc của các quy tắc đã hình thành. Việc hình thành các quy phạm pháp luật quốc tế theo hai giai đoạn này không nhằm tạo ra ý chí tối cao, duy nhất mà là sự tự nguyện thỏa thuận của các quốc gia dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền.
Câu hỏi: Vậy, tại sao các quốc gia có nền kinh tế, có xu hướng chính trị khác nhau lại có thể cùng nhau thỏa thuận xây dựng nên các nguyên tắc và quy phạm LQT? Sở dĩ các quốc gia đạt được sự thoả thuận này tất cả đều xuất phát từ lợi ích của chính họ. Các quy phạm LQT được hình thành là kết quả của sự thỏa thuận, tự nguyện, và nhượng bộ lẫn nhau giữa các chủ thể, hướng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, cũng như vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.
d. Đặc trưng về sự thực thi LQT
(Câu hỏi: Sự thực thi LQT khác gì sự thực thi LQG? Tại sao?)
Cũng như pháp luật trong nước, LQT cũng có các biện pháp chế tài và các quy định bắt buộc nhằm đảm bảo cho quá trình thực thi LQT của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế.
– Cơ chế cưỡng chế: là tổng thể các biện pháp, cách thức, bộ máy…nhằm đảm bảo quá trình tuân thủ LQT.
– Quá trình thực thi LQT: Trong đời sống quốc tế khi có hành vi vi phạm, ai hay tổ chức nào sẽ đứng ra để áp dụng các biện pháp trừng phạt? Khác với sự thực thi luật quốc gia, luật quốc tế do không có cơ quan chuyên trách lập pháp, do đó cũng không tồn tại các cơ quan hành pháp như nhà tù, quân đội, cảnh sát…để tiến hành các biện pháp cưỡng chế. Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của LQT là hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về chủ quyền, nên các chủ thể không có quyền xét xử và cưỡng chế nhau. Do đó, khi xuất hiện hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, thì chính các chủ thể của luật quốc tế sẽ tiến hành áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo 2 hình thức:  được gọi là cơ chế tự cưỡng chế.”riêng lẻ hoặc tập thể
VD: trong quá trình  Việt”thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ. Nếu Mỹ có hành vi vi phạm  Nam và cộng đồng quốc tế sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế.
– Các biện pháp chế tài chủ yếu là:
+ Tự vệ hợp pháp
+ Trả đũa
+ Cắt đứt quan hệ ngoại gia, quan hệ thông tin liên lạc…
+ Bao vây cấm vận kinh tế
+ Sử dụng lực lượng vũ trang
Yêu cầu đặt ra đối với sinh viên: từ những đặc[( điểm nêu trên, so sánh quá trình xây dựng pháp luật quốc tế với việc xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia).
3. Bản chất pháp lý của Luật quốc tế
– Từ những đặc điểm nêu trên có thể thấy rằng, LQT là kết quả của quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh và nhân nhượng lẫn nhau giữa các chủ thể LQT để mỗi bên đều đạt được lợi ích của sự hợp tác. Vì vậy, LQT không phản ánh ý chí duy nhất của một quốc gia mà là ý chí thỏa thuận của nhiều quốc gia khác nhau trên cơ sở lợi ích riêng của từng quốc gia. Kết quả của ý chí thỏa thuận này được quy định bởi tương quan lực lượng giữa các bên khi tham gia vào xây dựng các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế cụ thể.
– Hiện nay, LQT đang phát triển theo xu hướng ngày càng dân chủ và tiến bộ hơn, đảm bảo được quyền lợi và lợi ích chung của toàn thể nhân loại. Điều này thể hiện ở chỗ:
+ LQT hiện đại hủy bỏ các nguyên tắc, quy phạm không dân chủ, không tiến bộ của LQT cũ (cho phép áp dụng chiên stranh để giải quyết các tranh chấp quốc tế…);
+ LQT hiện đại bổ sung, hoàn thiện các nguyên tắc, quy phạm của LQT cũ theo xu hướng dân chủ và tiến bộ hơn (LQT cũ có nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia. Trên thực tế, nguyên tắc này chủ yếu được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp tác giữa các quốc gia văn minh với nhau. Hiện nay, nguyên tắc này được áp dụng chung cho tất cả các quốc gia trên thế giới);
+ LQT hiện đại đưa ra các nguyên tắc, các quy phạm hoàn toàn mang tính dân chủ và tiến bộ mới.
– So sánh với bản chất của pháp luật quốc gia ta thấy: Luật quốc gia phản ánh và đáp ứng nhu cầu lợi ích của giai cấp thống trị nhà nước đó, vì vậy, mọi sự phát triển, thay đổi của pháp luật quốc gia đều xuất phát từ ý chí của nhà nước khi thực hiện chủ quyền quốc gia trong các mối quan hệ đối nội, đối ngoại. Đặc trưng của pháp luật quốc gia không phải là sự thỏa thuận trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện về ý chí, mà là tính giai cấp, tính xã hội và là sự thể hiện sâu sắc ý chí của giai cấp cầm quyền. Còn LQT là luật của cả cộng đồng quốc tế, nó không bàn đến vấn đề ý chí giai cấp, không có sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia, mà chủ yếu là sự thể hiện ý chí chung của các chủ thể LQT.
4. Lịch sử thình thành và phát triển của Luật quốc tế
LQT ra đời và phát triển cùng với quá trình xuất hiện nhu cầu thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia với nhau. Theo đó, cùng với quá trình phát triển của nhà nước và pháp luật qua các thời kỳ khác nhau, LQT cũng có lịch sử hình thành, phát triển và hoàn thiện qua 4 giai đoạn chính là:
– LQT Cổ đại
– LQT Trung đại
– LQT Cận đại
– LQT Hiện đại
a. Luật quốc tế Cổ đại
– Sự ra đời: LQT cổ đại hình thành đầu tiên ở khu vực Lưỡng Hà và Ai Cập, rồi sau đó là một số khu vực khác như Ấn Độ, Trung Quốc và ở phương tây như Hy Lạp, La Mã…
– Đặc điểm: Hình thành trên nền tảng kinh tế thấp kém, quan hệ giữa các quốc gia yếu ớt, rời rạc, lại bị cản trở bởi điều kiện tự nhiên và phát triển xã hội rất hạn chế nên LQT thời kỳ này mang tính khu vực là chủ yếu và hầu như chỉ được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ về chiến tranh.
– Nguồn luật điều chỉnh: chủ yếu sử dụng các luật lệ và tập quán
– Đóng góp vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế: Mặc dù pháp luật quốc tế thời kỳ này còn bó hẹp trong phạm vi của từng khu vực nhất định, tuy nhiên nội dung các quy phạm thời kỳ này đã đặt nền móng cho sự ra đời của Luật Nhân đạo quốc tế sau này. Ngoài ra, do nhu cầu thiết lập các quan hệ  là”bang giao giữa các quốc gia nên việc trao đổi các sứ thần bắt đầu hình thành cơ sở cho các quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao sau này.
b. Luật quốc tế Trung đại
– Sự ra đời: Khoa học-kỹ thuật bắt đầu phát triển, ranh giới giữa nhà nước và tư nhận bắt đầu bị xóa nhòa, sở hữu nhà nước thuộc về những người đứng đầu nhà nước. Ở thời kỳ này tôn giáo rất phát triển.
– Đặc điểm: LQT trong thời kỳ này đã có những bước phát triển nhất định, do nhu cầu phát triển kinh tế, khoa học-kỹ thuật nên tính khu vực trong thời kỳ này dần bị phá vỡ và thay vào đó là các quan hệ có tính liên khu vực trong quan hệ giữa các quốc gia. Cũng trong thời kỳ này, bên cạnh những vấn đề chiến tranh, sự hợp tác của các quốc gia còn mở rộng sang một số lĩnh vực khác như: kinh tế, chính trị…
– Nguồn luật điều chỉnh: Bao gồm nguồn luật tập quán và điều ước quốc tế.
– Đóng góp vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế: Sang thời kỳ này, LQT đã có những bước hoàn thiện nhất định với sự xuất hiện của các quy phạm và chế định về Luật Biển, về quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao và việc xuất hiện cơ quan thường trực của quốc gia tại quốc gia khác. Đây là những tiền đề quan trọng cho quá trình phát triển LQT hiện đại sau này.
c. Luật quốc tế Cận đại
– Sự ra đời: Quan hệ quốc tế phát triển trên nhiều lĩnh vực khác nhau và là thời kỳ LQT phát triển tương đối rực rỡ.
– Đặc điểm: Đây là thời kỳ các quốc gia tăng cường mối quan hệ hợp tác trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống quốc tế, là thời kỳ LQT được phát triển trên cả hai phương diện luật thực định và khoa học pháp lý quốc tế.
– Nguồn luật điều chỉnh: Tập quán quốc tế và điều ước quốc tế
– Đóng góp vào quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế: Đây là thời kỳ ghi nhận sự hình thành các nguyên tắc mới của LQT như: nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Tuy nhiên, đóng góp quan trọng nhất là sự ra đời của các tổ chức quốc tế đầu tiên đánh dấu sự liên kết và ràng buộc có tính cộng đồng quốc tế của các quốc gia như: Liên minh điện tín quốc tế (1865), Liên minh bưu chính thế giới (1879)….
– Hạn chế: vẫn còn tồn tại những học thuyết, những quy chế pháp lý phản động, bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế như chế độ thuộc địa, tô giới…
d. Luật quốc tế Hiện đại
– Cơ sở hình thành và phát triển: Đây là thời kỳ quan hệ hợp tác quốc tế diễn ra vô cùng mạnh mẽ cùng với sự xuất hiện của xu thế toàn cầu hóa và liên kết khu vực trong những thập kỷ sau của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI
– Đặc điểm: LQT thời kỳ này phát triển hết sức đa dạng, các lĩnh vực hợp tác đã mở rộng sang hầu hết các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa…Đây cũng là thời kỳ ghi nhận một loạt các nguyên tắc tiến bộ của LQT như: nguyưen tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, dân tộc tự quyết, hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế…song song với đó là sự phát triển hiện đại về nội dung của nhiều nghành luật như: Luật Biển quốc tế, Luật hàng không quốc tế…Đặc biệt, trong thời kỳ này LQT đã bắt đầu xuất hiện những chế định mới không mang tính truyền thống như: hợp tác chống khủng bố quốc tế..Đây cũng là thời kỳ ghi nhận sự ra đời của hành loạt các tổ chức quốc tế toàn cầu, khu vực hay liên khu vực như: LHQ, ILO, ICAO, FAO, WHO, WIPO, ASEAN…
Mặc dù còn tiềm ẩn những hành vi vi phạm pháp luật[ quốc tế, nhưng LQT hiện nay đang phát triển theo xu hướng ngày càng bình đẳng  tạo ra tiền đề quan trọng cho việc[hơn giữa các chủ thể LQT so với trước đây  tham gia một cách rộng rãi vào các tổ chức quốc tế của các quốc gia trên thế giới.
II. QUY PHẠM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
1. Khái niệm
a. Định nghĩa
– Trong khoa học LQT, quy phạm LQT là quy tắc xử sự, được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các chủ thể LQT và có giá trị ràng buộc các chủ thể đó đối với các quyền, nghĩa vụ hay trách nhiệm pháp lý quốc tế khi tham gia quan hệ pháp luật quốc tế.
b. Phân loại: có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng chủ yếu dựa trên các căn cứ sau:
• Căn cứ vào giá trị hiệu lực:Quy phạm pháp luật quốc tế được chia thành:
– Quy phạm mệnh lệnh chung (Jus Cogens): Đây là loại quy phạm tối cao của LQT, có hiệu lực đối với mọi chủ thể, mọi mối quan hệ pháp luật quốc tế. Các quốc gia có nghĩa vụ phải tuân thủ tuyệt đối và không được thay đổi nội dung của các quy phạm này và hành vi nhằm tự ý thay đổi chúng bị coi là vô hiệu ngay từ đầu.
VD: Quy phạm này quy định tội phạm chiến tranh là tội ác  các quốc gia không được tự ý thay đổi nội dung”quốc tế và phải bị trừng phạt  của quy phạm này để áp dụng.
Tuy nhiên, các quy phạm Jus Cogens vẫn có thể” bị hủy bỏ hoặc bị thay thế bởi một quy phạm Jus Cogens mới về cùng một vấn đề.
VD: Trong LQT cổ đại “quyền tiến hành chiến tranh” là một quy phạm Jus Cogens. Tuy nhiên, quy phạm này đã bị thay thế bằng một quy phạm Jus Cogens mới đó là nguyên tắc “cấm đe dọa dùng vũ lực và dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế”.
– Quy phạm tùy nghi: Vẫn là quy phạm pháp luật quốc tế nhưng cho phép mỗi quốc gia trong khả năng của mình được phép xác định phạm vi quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý quốc tế trong một khung nhất định.
VD: Trong vùng lãnh hải, Luật biển quốc tế cho phép quốc gia ven biển tự mình xác định chiều rộng lãnh hải, nhưng không phải xác định tùy ý mà phải trong giới hạn xác định không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở.
Quy phạm Jus Cogens hay quy phạm tùy[ nghi đều có thể thay đổi dựa trên cơ sở sự thỏa thuận.
• Căn cứ vào hình thức thể hiện
– Quy phạm điều ước quốc tế (quy phạm thành văn): là những quy phạm được ghi nhận chính thức trong các điều ước quốc tế.
– Quy phạm tập quán quốc tế (quy phạm bất thành văn): là những quy phạm được chứa đựng trong tập quán quốc tế, chiếm số lượng nhỏ hơn và thường được áp dụng trong các lĩnh vực hợp tác truyền thống vì nó được áp dụng trong thời gian dài, và được lặp đi lặp lại nhiều lần và trở thành tập quán.
Ngoài ra, trong quan hệ quốc tế” còn tồn tại một số quy phạm hỗn hợp, là loại quy phạm có thể tồn tại dưới cả 2 hình thức thành văn và bất thành văn.
VD: Nguyên tắc “tự do biển cả” trong Luật Biển quốc tế 1982. Đây là nguyên tắc được ghi nhận trong công ước Luật biển với tư cách là điều ước quốc tế, nhưng nó cũng tồn tại với tư cách là tập quán quốc tế.
• Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh
– Quy phạm điều chỉnh quan hệ chính trị
– Quy phạm điều chỉnh quan hệ kinh tế
– Quy phạm điều chỉnh quan hệ văn hóa…
• Căn cứ vào chủ thể của các quy phạm
– Quy phạm song phương: được 2 chủ thể LQT thỏa thuận xây dựng nên hoặc thừa nhận và chỉ được áp dụng trong quan hệ của 2 chủ thể này.
– Quy phạm đa phương: là những quy phạm được xây dựng từ 3 chủ thể trở lên. Gồm quy phạm khu vực và quy phạm phổ cập.
2. Phân biệt quy phạm pháp luật quốc tế và các loại quy phạm khác
– Quy phạm chính trị: Là những quy phạm được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế, chúng không có hiệu lực pháp lý quốc tế, cũng không có giá trị ràng buộc các quốc gia nhưng chúng là cơ sở để hình thành nên quy phạm LQT.
– Quy phạm đạo đức quốc tế: Là những quy tắc xử sự, những chuẩn mực quốc tế được cộng đồng quốc tế xây dựng nên, thể hiện cách xử sự công bằng hợp lý mà các quốc gia cần phải thực hiện trong quan hệ quốc tế. Nhìn chung, trong quan hệ quốc tế, quy phạm đạo đức quốc tế cũng không có hiệu lực pháp lý quốc tế, nhưng lại được các quốc gia thực thi và tuân thủ rất nghiêm chỉnh trong thực tiễn quan hệ quốc tế.
III. NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ
1. Khái niệm
a. Định nghĩa: Nguồn của pháp luật là hình thức biểu hiện của các quy phạm pháp luật. nguồn của pháp luật biểu hiện dưới 2 dạng thành văn và bất thành văn. Liên quan đến nguồn của LQT có nhiều cách hiểu khác nhau.
– Theo nghĩa hẹp: nguồn là hình thức chứa đựng, ghi nhận các nguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc tế nhằm xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp lý quốc tế. Theo đó, LQT gồm 2 loại nguồn cơ bản là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế.
– Theo nghĩa rộng: nguồn của LQT là tất cả những cái mà cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào đó để đưa ra các quyết định pháp luật.
b. Cơ sở pháp lý xác định nguồn
– Khoản 1 điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế của LHQ quy định”Tòa án có trách nhiệm giải quyết các vụ tranh chấp được chuyển đến tòa án trên cơ sở công pháp quốc tế theo:
– Các công ước quốc tế chung hoặc riêng đã thiết lập ra những nguyên tắc được các bên đang tranh chấp thừa nhận.
– Các tập quán quốc tế như là một chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận là một tiêu chuẩn pháp lý.
– Những nguyên tắc pháp lý được các dân tộc văn minh thừa nhận.
– …các Nghị quyết xét xử và các luận thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật pháp công khai của nhiều dân tộc khác nhau được coi là các phương tiện bổ trợ để xác định các tiêu chuẩn pháp lý.”
Nhận xét: Như vậy,[ Điều 38(1) Quy chế tòa án công lý quốc tế đã đưa ra danh sách các nguồn truyền thống của LQT như: các công ước quốc tế chung hoặc cụ thể, tập quán quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của LQT, các quyết định của tòa án và các bài giảng của các học giả có chuyên môn cao. Tuy vậy, Điều 38(1) chưa đề cập một cách đầy đủ các loại nguồn bổ trợ của luật quốc tế. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, ngoài các loại nguồn đã nêu trong điều 38(1) các chủ thể LQT còn thừa nhận một số các nguồn khác, có tính chất là nguồn bổ trợ cho nguồn cơ bản của LQT như: Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, hành vi pháp lý đơn phương của các quốc gia…Do đó, ngoài điều 38(1), thực tiễn áp dụng nguồn của các chủ thể LQT cũng là cơ sở để hình thành các loại nguồn của LQT.
c. Phân loại: 2 loại nguồn
– Nguồn cơ bản: chủ yếu bao gồm điều ước quốc tế (nguồn thành văn) và tập quán quốc tế (nguồn bất thành văn).
– Nguồn bổ trợ: đây là các phương tiện bổ trợ nguồn của LQT, chúng bao gồm các phán quyết của tòa án công lý quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung, nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ, hành vi pháp lý đơn phương của các quốc gia, các học thuyết của các học giả danh tiếng về LQT.
2. Nguồn cơ bản
a. Điều ước quốc tế (không đề cập quá sâu vì sẽ được đề cập tại Bài 3: Thực thi Luật quốc tế)
Khái niệm: Theov Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia thì điều ước quốc tế được xác định là “một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì”.
Như vậy, với tư cách là[ nguồn cơ bản của LQT, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các chủ thể của LQT với nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm thiết lập những quy tắc pháp lý bắt buộc gọi là những quy phạm LQT, để ấn định, thay đổi hoặc hủy bỏ những quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Trong quan hệ quốc tế hiện nay, điều ước quốc tế chủ yếu được trình bày dưới dạng thành văn, nhưng cũng một số điều ước quốc tế chỉ là thỏa thuận miệng – đó là các điều ước quân tử. Tuy nhiên, hiện nay các điều ước quân tử hầu như rất ít xuất hiện trong quan hệ giữa các chủ thể LQT.
v Điều kiện để một điều ước quốc tế trở thành nguồn của LQT: Không phải tất cả các điều ước quốc tế được ký kết đều là nguồn của LQT. Một điều ước muốn trở thành nguồn của LQT phải thỏa mãn các điều kiện sau:
– Điều ước đó phải được ký kết dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng;
– Nội dung của điều ước phải phù hợp với những nguyên tắc cơ bản và các quy phạm Jus Cogens của LQT;
– Điều ước đó phải được ký kết phù hợp và tuân theo các quy định có liên quan của pháp luật của các bên ký kết về thẩm quyền và thủ tục ký kết.
(Câu hỏi: mọi văn bản pháp lý quốc tế đều là điều ước quốc tế? Sai. Nếu văn bản pháp lý quốc tế đó  không phải là điều ước quốc tế).”không thỏa mãn 1 trong 3 điều kiện nêu trên
Ý nghĩa, vai trò của điều ước quốc tế: Xuất phát từ bản chất của điều ướcv là sự thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ pháp lý quốc tế, điều ước quốc tế có ý nghĩa:
– Là hình thức pháp luật cơ bản chứa đựng các quy phạm LQT để xây dựng và ổn định các cơ sở pháp luật cho các quan hệ pháp luật quốc tế hình thành và phát triển.
– Là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì và tăng cường các quan hệ hợp tác quốc tế giữa các chủ thể.
– Là đảm bảo pháp lý quan trọng cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chủ thể LQT.
– Là công cụ để xây dựng khung pháp luật quốc tế hiện đại, cũng như để tiến hành hiệu quả việc pháp điển hóa LQT.
b. Tập quán quốc tế
Định nghĩa: So với điềuv ước quốc tế, tập quán quốc tế ra đời sớm hơn. Đó là những quy tắc xử sự chung ban đầu do một hay một số quốc gia đưa ra và áp dụng trong quan hệ với nhau. Sau một quá trình áp dụng lâu dài, rộng rãi và được nhiều quốc gia thừa nhận như những qui phạm pháp lý nên những qui tắc xử sự đó đã trở thành tập quán quốc tế. Vậy, tập quán quốc tế là những qui tắc xử sự chung, hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận rộng rãi là những qui tắc có tính chất pháp lý bắt buộc.
VD: Hành vi phóng tàu vũ trụ qua không phận của các nước láng giềng được cộng đồng quốc tế thừa nhận là hành vi  được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần và trở thành tập quán”không cần xin phép  quốc tế.
Đặc điểm: Từ định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể thấy tập quánv quốc tế có những đặc điểm sau:
– Về hình thức: Quy phạm tập quán quốc tế tồn tại dưới dạng các hành vi xử sự của các chủ thể LQT. Do đó, tập quán quốc tế luôn ở dạng bất thành văn.
– Về nội dung: tập quán quốc tế có nội dung là các nguyên tắc và quy phạm tập quán quốc tế, chứa đựng các quy tắc điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể LQT. Quy phạm tập quán quốc tế được cấu tạo bởi 3 bộ phận là giả định, quy định và chế tài. Giả định là những yếu tố tạo nên hoàn cảnh thực tiễn. Quy định là tổng thể hành vi mà chủ thể LQT thực hiện. Khả năng phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế khi các chủ thể này xử sự không đúng, hoặc không đầy đủ yêu cầu của quy phạm tập quán quốc tế là chế tài của quy phạm tập quán quốc tế.
– Về chủ thể: Chủ thể của quy phạm tập quán quốc tế là chủ thể của LQT.
– Quá trình hình thành: Không thông qua hành vi ký kết mà nó được hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được sự thừa nhận của các chủ thể LQT.
Các con đường hình thành tập quán quốc tế: Quá trình hình thànhv tập quán quốc tế rất lâu dài và đòi hỏi phải có sự liên tục. Không có một thước đo chung cho thời gian hình thành các tập quán, có thể là 50-100 năm, hoặc nhiều hơn nữa, thậm chí hàng trăm năm. Tuy nhiên, tập quán quốc tế chủ yếu hình thành theo các con đường sau:
– Con đường truyền thống: hình thành từ thực tiễn quan hệ quốc tế
VD: Các qui định liên quan đến quan hệ ngoại giao, lãnh sự cũng hình thành từ nhu cầu bang giao giữa các quốc gia trên thế giới.
– Từ thực tiễn thực hiện các nghị quyết có tính chất khuyến nghị của các tổ chức quốc tế.
VD: nghị quyết của Đại hội đồng LHQ số 3314 ngày 14/12/1974 đã chỉ rõ hành vi xâm lược là hành vi của quốc gia này sử dụng bất hợp pháp lực lượng vũ trang để tấn công vào lãnh thổ quốc gia khác…việc các quốc gia đồng tình với nghị quyết trên về định nghĩa xâm lược đã thể hiện sự thừa nhận hiệu lực thực tế của nghị quyết, để từ đó các quốc gia hành động theo những chuẩn mực được quy định trong nghị quyết này. Điều này cũng có nghĩa là các quốc gia đã thừa nhận áp dụng áp dụng tập quán quốc tế mới với tư cách là quy phạm pháp lý ràng buộc mình.
– Từ thực tiễn thực hiện các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế
VD: Vụ tranh chấp giữa Nauy và Anh về quyền đánh cá trong khu vực biển ngoài khơi Nauy đã hình thành nên tập quán quốc tế về cách thức xác định đường cơ sở thẳng.
– Hình thành từ một tiền lệ duy nhất
VD: Năm 1975, Liên Xô là nước đầu tiên phóng tàu vào vũ trụ. Sự im lặng đồng tình của các quốc gia cũng đồng nghĩa với sự công nhận một quy phạm tập quán mới của LQT, đó là quy phạm tập quán về quyền bay qua không gây hại trong vũ trụ bên trên khoảng không lãnh thổ của các quốc gia khác.
– Hình thành từ điều ước quốc tế: Từ điều ước quốc tế, tập quán quốc tế có 2 cách hình thành khác nhau: Thứ nhất, tập quán quốc tế được hình thành từ điều ước quốc tế được pháp điển hóa. VD: Trước khi Công ước luật Biển có hiệu lực, các quốc gia đã áp dụng như các tập quán.
Thứ hai, tập quán quốc tế được hình thành từ thực tiễn thực hiện điều ước quốc tế của bên thứ 3.
VD: 2 quốc gia A và B thỏa thuận 1 điều ước liên quan đến việc tránh đánh thuế 2 lần, nước C thấy hợp lý nên áp dụng các quy định  các quy định được C áp dụng với tư cách là quy phạm tập”trong điều ước này  quán.
Ý nghĩa, vai trò của tập quán quốc tế:v
– Góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển các quy phạm LQT.
– Điều chỉnh hiệu quả các quan hệ pháp luật quốc tế phát sinh giữa các chủ thể LQT.
Điềuv kiện để một tập quán trở thành nguồn của LQT: Không phải qui tắc xử sự nào hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế cũng trở thành nguồn của LQT. Những tập quán là nguồn của LQT phải thỏa mãn các điều kiện sau:
– Quy tắc xử sự được coi là tập quán quốc tế phải lặp đi lặp lại nhiều lần, trong một thời gian dài liên tục và được các quốc gia thỏa thuận thừa nhận hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với mình.
– Phải là quy tắc xử sự chung, hình thành trong quan hệ giữa các quốc gia, được các quốc gia tuân thủ và áp dụng một cách tự nguyện..
– Quy tắc xử sự đó phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của LQT.
(Yêu cầu đối với sinh viên: So sánh điều ước quốc tế và tập quán quốc tế: về cơ bản có những nội dung sau:
– Giống nhau: Cả tập quán quốc tế và điều ước quốc tế đều là kết quả của sự thống nhất ý chí của các chủ thể liên quan; chúng đều hình thành từ sự thỏa thuận của các bên liên quan; đều là nguồn chứa đựng quy phạm pháp luật quốc tế; là công cụ pháp lý quan trọng để điều chỉnh quá trình hợp tác quốc tế.
– Khác nhau:
+ Về hình thức: – Điều ước quốc tế là thỏa thuận công khai và được thể hiện dưới hình thức văn bản.
– Tập quán quốc tế là những thỏa thuận mang tính chất ngầm định, bất thành văn.
+ Tốc độ hình thành điều ước quốc tế nhanh hơn tập quán quốc tế vì tập quán muốn được hình thành phải trải qua quá trình lâu dài thông qua nhiều sự kiện liên tiếp, còn điều ước chỉ cần một sự kiện duy nhất là sự ký kết hay tham gia của các chủ thể theo đúng trình tự, thủ tục. Thời gian hình thành điều ước nhanh hơn, theo sát được sự vân động của các quan hệ quốc tế.
+ Vấn đề sửa đổi, bổ sung trong điều ước đơn giản hơn rất nhiều so với tập quán, vì điều ước tồn tại dưới hình thức văn bản.
(Câu hỏi đặt ra: 1. Trong cùng một vấn đề, nếu tồn tại cả điều ước quốc tế và tập quán quốc tế điều chỉnh thì áp dụng nguồn nào? Tại sao? Về nguyên tắc, việc chọn áp dụng nguồn nào là do các bên thỏa thuận lựa chọn áp dụng. Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ quốc tế, nếu có sự xung đột pháp luật giữa hai loại nguồn này, các bên hữu quan thường sẽ thỏa thuận để áp dụng các quy phạm điều ước vì các quy phạm thể hiện trong điều ước quốc tế rõ ràng hơn, minh bạch hơn và mức độ ràng buộc trách nhiệm cao hơn so với tập quán quốc tế. Trong điều 38(1) Quy chế tòa án công lý quốc tế có đưa ra một trật tự áp dụng các nguồn của LQT, theo đó điều ước sẽ được áp dụng trước sau đó mới đến tập quán. Điều này không tạo ra sự bất hợp lý, vì tòa án công lý quốc tế vốn không có thẩm quyền đương nhiên, mà được các quốc gia thỏa thuận trao quyền. Do đó,  đồng”việc đưa tranh chấp ra giải quyết tại tòa là do sự tự nguyện của các bên  ý đưa tranh chấp ra giải quyết tại tòa cũng đồng nghĩa với việc các bên chấp nhận quy chế của tòa.
2. Khi một tập quán được pháp điển hóa vào một điều ước thì tập quán đó có còn tồn tại với tư cách tập quán hay không? Tập quán đó vẫn tồn tại. Trong vụ các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragoa và chống lại Nicaragoa, Tòa án quốc tế đã đưa ra nhận định (cũng có thể coi là lời giải thích cho vị trí của tập quán quốc tế trong trường hợp này) rằng “việc các nguyên tắc tập quán được pháp điển hóa hoặc được đưa vào các điều ước quốc tế đa phương không thể nói rằng chúng đã chấm dứt tồn tại và được áp dụng như là những nguyên tắc của tập quán quốc tế, ngay cả với các quốc gia là thành viên của các công ước đó”.
VD: nguyên tắc tự do biển cả, dù được pháp điển hóa trở thành nguyên tắc cơ bản của Công ước Luật Biển 1982 nhưng nó vẫn tồn tại với tư cách là tập quán quốc tế.
3. Trong quan hệ quốc tế hiện đại, với sự gia tăng các hình thức điều ước như hiện nay, có khi nào tập quan mất vai trò của mình và bị thay thế hoàn toàn bằng các điều ước hay không? Điều ước quốc tế dù hiện đại đến đâu cũng không thay thế được sự tồn tại của các tập quán quốc tế. Đây là 2 loại nguồn có sự độc lập nhất định và tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Nhiều điều ước quốc tế có thời hạn 5năm, 10 năm hay nhiều hơn, khi hết hiệu lực này điều ước không còn tồn tại, và nếu các bên vẫn muốn áp dụng những  các quy định trong điều”quy định trong điều ước mà không muốn ký kết điều ước  ước được áp dụng sẽ trở thành tập quán quốc tế.
3. Các phương tiện hỗ trợ nguồn của LQT
a. Nguyên tắc pháp luật chung
Đây là các nguyên tắc pháp lý được cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thừa nhận và được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia (theo điều 38(1) Quy chế tòa án công lý quốc tế). VD: nguyên tắc gây thiệt hạit hì phải bồi thường, nguyên tắc không ai là quan tòa chính trong vụ việc của mình…trong thực tiễn, nguyên tắc pháp luật chung chỉ áp dụng sau điều ước quốc tế và tập quán quốc tế với ý nghĩa để giải thích hay làm sáng tỏ nội dung của quy phạm LQT.
b. Phán quyết của Tòa án công lý quốc tế
– Trong đời sống quốc tế, tồn tại nhiều loại tòa án khác nhau như: Tòa án công lý quốc tế của Liên hợp quốc, Tòa án nhân quyền Châu Âu, Tòa án luật biển, Tòa án Châu Âu…Tuy nhiên, khi nói đến phán quyết của tòa án với vai trò là nguồn bổ trợ của LQT, chúng ta chủ yếu đề cập đến các phán quyết của tòa án công lý quốc tế.
– Bản thân các phán quyết là kết quả của quá trình áp dụng pháp luật của tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp quốc tế, và các quyết định tài phán này chỉ có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp. Điều 59 Quy chế Tòa án quy định “Quyết định của tòa án có giá trị bắt buộc chỉ đối với các bên tham gia vụ án và chỉ đối với các vụ án cụ thể đó”. Sở dĩ các phán quyết này không thể trở thành nguồn cơ bản của LQT vì các nguồn cơ bản phải được hình thành trên cơ sở của sự thỏa thuận giữa các chủ thể LQT.
– Vai trò của các phán quyết: Từ một quy tắc, quy phạm chưa được giải thích, còn chung chung, mơ hồ, khó hiểu, sau khi được các thẩm phán có trình độ và uy tín cao giải thích, các quy tắc, quy phạm LQT sẽ trở lên rõ ràng, sáng tỏ hơn. Đây là đóng góp quan trọng của các phán quyết của tòa án quốc tế đối với quá trình giải thích LQT và tạo tiền đề cho sự hình thành các quy phạm mới (VD: Trong vụ tranh chấp giữa Nauy và Anh. Phán quyết của tòa trong trường hợp này đã tạo tiền đề cho sự hình thành quy phạm về việc xác định đường cơ sở thẳng đối với các quốc gia có đường bờ biển khúc khuỷu trong quan hệ quốc tế liên quan đến biển).
c. Nghị quyết của các tổ chức quốc tế
– Nghị quyết: Là văn bản do các cơ quan có thẩm quyền của tổ chức quốc tế thông qua. ở đây, do LQT chỉ đề cập đến tổ chức quốc tế liên chính phủ nên các nghị quyết là nguồn bổ trợ của LQT cũng chỉ dừng lại ở các nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, mà tiêu biểu là nghị quyết của Liên hợp quốc – tổ chức quốc tế đa phương toàn cầu lớn nhất hiện nay.
– Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ được chia làm 2 loại:
+ Nghị quyết có giá trị bắt buộc: các nghị quyết này chủ yếu quy định các vấn đề liên quan đến các đóng góp cho hoạt động cua tổ chức… những nghị quyết này sẽ là nguồn luật được viện dẫn đến để giải quyết các quan hệ phát sinh giữa các quốc gia thành viên của tổ chức đó.
+ Nghị quyết có tính chất khuyến nghị: nhằm hướng dẫn, giải thích các quy phạm LQT và thể hiện cách nhìn của tổ chức quốc tế về một vấn đề nào đó.
(Câu hỏi đặt ra: Nghị” quyết của tổ chức liên chính phủ có tính chất là điều ước quốc tế và được gọi là điều ước quốc tế hay không? Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ không được gọi là điều ước quốc tế vì nghị quyết được đưa ra nhân danh một chủ thể nhất định, chứ không phải là sự thỏa thuận của các chủ thể. Do đó, mặc dù nó có giá trị bắt buộc với các quốc gia thành viên, nhưng nó không phải điều ước quốc tế.
– Trong quan hệ quốc tế, các chủ thể LQT thường quan tâm đến các nghị quyết của Liên hợp quốc vì tính chất toàn cầu của tổ chức này. Lưu ý rằng, không phải mọi nghị quyết của tổ chức liên chính phủ đều được xếp vào nhóm này, chỉ những nghị quyết chứa đựng nội dung liên quan đến các vấn đề kinh tế, xã hội…còn những nghị quyết có tính chất gây hại đến quan hệ giũa các quốc gia sẽ không được xếp vào nhóm này. (Mọi nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đều có giá trị ràng buộc với các quốc gia thành viên, ngoại trừ các nghị quyết liên quan đến hành chính và thủ tục).
d. Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia
– Đây là những hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể LQT. Hành vi đơn phương của các quốc gia có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức: tuyên bố, công hàm, phát biểu của các vị lãnh đạo Nhà nước, tuyên bố chung…bất cứ hành vi nào cũng làm phát sinh nghĩa vụ đối với quốc gia đưa ra hành vi đó. Những nghĩa vụ đó có thể là những nghĩa vụ mang tính chính trị, đạo đức. Việc từ chối không thực hiện những cam kết đơn phương này sẽ làm giảm sút uy tín của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Hiện nay, các hành vi đơn phương ngày càng đóng vai trò quan trọng.
– Về bản chất, hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia không được coi là nguồn của luật quốc tế, vì nó không đảm bảo yếu tố “thỏa thuận” trong đó. Tuy nhiên, nó sẽ trở thành nguồn bổ trợ của luật quốc tế khi hành vi đơn phương này “có khr năng” tạo ra quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế.
VD: Thụy sỹ đơn phương đưa ra tuyên bố sẽ trở thành quốc gia trung lập vĩnh viễn.
Hành vi pháp lý đơn phương của chủ thể LQT thườngv có các dạng sau:
– Hành vi công nhận: là hành vi thể hiện một cách minh thị hoặc mặc thị ý định xác nhận một tình hình hoặc yêu cầu nào đó phù hợp với pháp luật.
VD: – Việt nam công nhận Đông Timo là quốc gia độc lập, có chủ quyền.
– Ngày 1/10/2008 Somali cũng tuyên bố đang tiến hành chuẩn bị các thủ tục cần thiết cho việc công nhận nền độc lập của hai khu vực mới ly khai khỏi Gruzia là Nam Ossetia và Apkhazi thông qua tuyên bố đơn phương muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với các khu vực này.
– Hành vi cam kết: là hành vi tạo ra các nghĩa vụ pháp lý mới bằng cách đơn phương chấp nhận ràng buộc với một nghĩa vụ pháp lý quốc tế vì quyền lợi của chủ thể khác.
VD: Tuyên bố của chính phủ Ai Cập năm 1957 về việc cho phép tàu thuyền qua lại tự do trên kênh đào Xuy-ê.
– Hành vi phản đối: là cách thức một quốc gia thể hiện ý chí không công nhận một hoàn cảnh, một yêu cầu hoặc một thái độ xử sự của chủ thể khác. Hành vi này phải được biểu thị minh thị, do cơ quan có thẩm quyền tiến hành.
VD: phản đối hành vi công nhận nền độc lập của Nam Ossetia và Apkhazia từ phía Nga, đại diện của Mỹ (cụ thể là tổng thống và ngoại trưởng Mỹ) đã phát biểu công khai yêu cầu Nga phải xem xét lại hành vi công nhận của mình và cho rằng việc Nga công nhận nền độc lập của 2 khu vực này là đi ngược lại với các qui định của pháp luật quốc tế, đồng thời Mỹ cũng đưa ra tuyến bố rằng sẽ sử dụng quyền phủ quyết của mình để ngăn chặn mọi xử sự không phù hợp của Nga nhằm công nhận hoặc thiết lập quan hệ với 2 khu vực này.
– Hành vi từ bỏ: là hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể tự nguyện từ bỏ các quyền hạn nhất định.
VD: trường hợp của Thụy sỹ, hoặc Nhật bản sau chiến tranh thế giới thứ II đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của mình đối với quần đảo Fonmôsa.
e. Các học thuyết của các học giả danh tiếng về LQT
– Các học thuyết về LQT là những tư tưởng, quan điểm thể hiện trong các công trình nghiên cứu, tác phẩm và kết luận của các tác giả về những vấn đề lý luận cơ bản của LQT. Do vậy, trong các học thuyết này đôi khi lại đưa ra các kiến giải góp phần làm sáng tỏ nội dung của các quy phạm pháp luật quốc tế và giúp các chủ thể LQT áp dụng chúng dễ dàng hơn.
– Các học thuyết của các học giả danh tiếng về LQT không phải là nguồn cơ bản của LQT vì: chúng không phải văn bản pháp lý ràng buộc các quốc gia, không thể hiện ý chí của các quốc gia được nâng lên thành luật; bản thân các học thuyết này không chứa đựng các quy phạm pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho các quốc gia; chúng không được áp dụng một cách thường xuyên trong quan hệ quốc tế. Tuy vậy, các học thuyết này được coi là nguồn bổ trợ của LQT vì những ảnh hưởng tích cực của chúng đến quá trình phát triển của LQT và quá trình nhận thức của con người về khoa học luật quốc tế.
VD: Các luận điểm trong tác phẩm “Biển quốc tế” của tác giả Hugues Grotius có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng Luật biển quốc tế.
4. Mối quan hệ giữa các loại nguồn
a. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế: Đây là 2 loại nguồn chính, cơ bản của LQT, chúng tồn tại độc lập với nhau trong hệ thống nguồn của LQT (điều ước không có ý nghĩa loại bỏ hiệu lực áp dụng của tập quán; quá trình pháp điển hóa tập quán không làm mất đi tập quán đã được pháp điển hóa trong điều ước quốc tế), nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ tương tác, biện chứng với nhau. Điều này thể hiện ở chỗ:
• Trong quá trình xây dựng quy phạm luật quốc tế
– Tập quán quốc tế có ý nghĩa là cơ sở để hình thành điều ước quốc tế thông qua quá trình pháp điển hóa. Việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của LQT cho phép khẳng định rằng, nhiều quy phạm điều ước quốc tế có nguồn gốc từ quy phạm tập quán quốc tế.
VD: các quy định về quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, lãnh sự xuất phát từ nguyên tắc tồn tại từ thời phong kiến là “không giết hại sứ thần”, ban đầu quy định này tồn tại dưới dạng tập quan quốc tế, sau được pháp điển hóa thành điều ước.
– Điều ước quốc tế là cơ sở hình thành tập quán thông qua thực tiễn ký kết và thực hiện điều ước quốc tế
VD: – trường hợp bên thứ 3 áp dụng các quy phạm trong hiệp định song phương
• Trong quá trình thực hiện LQT
– Việc tồn tại điều ước quốc tế không có ý nghĩa loại bỏ giá trị áp dụng của tập quán quốc tế tương đương về nội dung. Cả điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đều được hình thành từ sự thỏa thuận của các chủ thể LQT, do đó chúng có giá trị pháp lý ngang nhau, cùng song song tồn tại.
VD: nguyên tắc tự do biển cả tồn tại ở cả 2 hình thức là tập quán và điều ước
– Quy phạm tập quán có thể bị thay đổi, hủy bỏ bằng con đường điều ước và ngược lại cũng có trường hợp điều ước quốc tế bị hủy bỏ hoặc thay đổi bằng con đường tập quán.
VD:  tập quán này sẽ”Tập quán có nội dung trái với quy phạm Jus Cogens mới ra đời  bị hủy bỏ.
điều”VD: Xuất hiện quy phạm Jus Cogens mới dưới dạng tập quán  ước bị hủy bỏ
– Tập quán có thể tạo điều kiện để mở rộng hiệu lực của điều ước quốc tế trong trường hợp các chủ thể của LQT không phải là thành viên của điều ước nhưng có quyền viện dẫn đến quy phạm điều ước với tính chất là tập quán quốc tế áp dụng cho bên thứ ba.
VD: Hiệu lực của điều ước với bên thứ 3 do viện dẫn các quy phạm của điều ước dưới dạng tập quán quốc tế.
Mối quan hệ[ trên đây khẳng định tính độc lập tồn tại của 2 loại nguồn cơ bản của LQT, đồng thời khẳng định mối quan hệ qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng trong các quan hệ quốc tế.
b. Mối quan hệ giữa nguồn cơ bản và phương tiện hỗ trợ nguồn
– Nguồn cơ bản: Hình thành từ sự thỏa thuận của các chủ thể LQT. Nó chứa đựng các quy phạm pháp lý quốc tế và có giá trị rang buộc đối với các chủ thể LQT.
– Phương tiện hỗ trợ nguồn: có thể chứa đựng quy phạm pháp lý quốc tế, nhưng đa phần là không chứa các quy phạm. Nó không được hình thành từ sự thỏa thuận, trong nhiều trường hợp nó không có giá trị ràng buộc.
– Giữa nguồn cơ bản và phương tiện hỗ trợ có mối quan hệ qua lại, hỗ trợ cho nhau. Điều này thể hiện ở chỗ:
– Nguồn hỗ trợ đóng vai trò là phương tiện hỗ trợ cho nguồn cơ bản, thông qua các phương tiện này người ta xây dựng các quy phạm LQT nhanh chóng hơn.
– Nguồn hỗ trợ có vai trò trong việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật quốc tế trong từng trường hợp cụ thể. Góp phần làm sáng tỏ các quy định của LQT, tạo tiền đề quan trọng để các chủ thể LQT có cơ hội tiếp cận và giải thích LQT theo nghĩa chung thống nhất.
– Các chủ thể của LQT có thể viện dẫn các phương tiện hỗ trợ (phán quyết của tòa án) để xác định trách nhiệm của các chủ thể liên quan.
VD: Dựa vào phán quyết của tòa án quốc tế về việc giải quyết tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia liên quan đến đền Preah Vihear, Thái Lan không thể khẳng điịnh ngôi đền đó thuộc về mình.
– Một số quy phạm trước đây đã tồn tại trong nguồn hỗ trợ, tùy từng trường hợp nó có thể trở thành nguồn cơ bản của LQT.
VD: phán quyết của tòa án quốc tế trong vụ giải quyết tranh chấp ngư trường Anh – Nauy. Từ phán quyết này của tòa án, rất nhiều quốc gia có đường bờ biển khúc khuỷu như của Nauy đã áp dụng phương pháp đường cơ sở  Như vậy, ban đầu phán quyết”thẳng để xác định các vùng biển của quốc gia mình  này của tòa án quốc tế chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh chấp, nhưng  trở thành”sau đó nó được sử dụng rộng rãi và được cộng đồng quốc tế thừa nhận   được ghi nhận trong công ước Luật Biển.”tập quán quốc tế
IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT QUỐC TẾ VÀ LUẬT QUỐC GIA
1. Cơ sở tồn tại mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia
(Câu hỏi đặt ra: Khi quy phạm luật quốc tế không tương xứng với quy phạm luật quốc gia, dẫn đến sự xung đột pháp luật, trong trường hợp này sẽ áp dụng quy phạm nào? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta sẽ tìm hiểu mối quan hệ giữa Luật quốc gia và Luật quốc tế.
a. Một số học thuyết liên quan
– Luật quốc tế và Luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật tồn tại song song và có mối quan hệ biện chứng với nhau, quan điểm này hiện nay được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận. Tuy nhiên, liên quan đến việc giải quyết mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia cũng còn tồn tại một số các học thuyết khác nhau.
Học thuyết nhất nguyên luận: Học thuyết nàyv ra đời vào thời kỳ CNTB chuyển sang chủ nghĩa đế quốc. Các quốc gia đưa ra học thuyết này chủ yếu để phục vụ cho âm mưu bành trướng và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, nó phủ nhận nguyên tắc chủ quyền quốc gia và công khai can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia nhỏ hơn. Học thuyết này tồn tại 2 quan điểm chính: quan điểm ưu tiên luật quốc gia (khẳng định luật quốc gia cao hơn luật quốc tế); quan điểm ưu tiên luật quốc tế (khẳng định rằng trong thế giới hiện nay một quốc gia không thể tồn tại nếu không thực hiện các hoạt động đối ngoại. Do đó, LQT tồn tại là một nhu cầu tất yếu. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa luật quốc tế và luật quốc gia thì LQT sẽ được ưu tiên áp dụng).
Học thuyếtv nhị nguyên luận: Học thuyết này ra đời vào khoảng thế kỷ 19, thời kỳ CNTB đang lên. Nội dung chủ yếu của học thuyết này cho rằng: pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật độc lập, tách biệt, song song tồn tại và không hề có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Việc ưu tiên áp dụng pháp luật quốc tế hay luật quốc gia hoàn toàn xuất phát từ lợi ích của mỗi quốc gia. Hạn chế của học thuyết là không thấy được mối quan hệ tương hỗ qua lại giữa hai hệ thống pháp luật này.
Nhận xét: Những học thuyết này thể hiện sự nhìn[ nhận, đánh giá về mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia mang tính phiến diện. Bởi vì, sự tiếp cận khoa học và hiện đại về mối quan hệ này phải bằng việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đồng thời chỉ ra được tính chất của sự tác động qua lại giữa hai hệ thống luật với nhau. Hiện nay, luật quốc tế hiện đại không còn tranh cãi về vấn đè này nữa, khi lý giải mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia, chúng ta thừa nhận đây là hia hệ thống độc lập, tồn tại song song và có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau và vì lợi ích chung của các quốc gia trên thế giới.
b. Cơ sỏ tồn tại mối quan hệ: dựa trên các cơ sở quan trọng sau:
• Cơ sở lý luận
– Xuất phát từ hai chức năng cơ bản của nhà nước là chức năng đối nội và chức năng đối ngoại. Để thực hiện chủ quyền quốc gia trong phạm vi lãnh thổ, quốc gia phải sử dụng công cụ đến công cụ pháp lý cơ bản là pháp luật quốc gia, trong quan hệ quốc tế quốc gia phải sử dụng luật quốc tế. Mối quan hệ chặt chẽ giưa hai chức năng lnày là cơ sở đầu tiên để hình thành nên mối quan hệ chặt chẽ giữa luật quốc gia và luật quốc tế.
• Cơ sở pháp lý
– Sự có mặt của quốc gia trong cả quá trình ban hành và xây dựng luật quốc gia và luật quốc tế, điều này xuất phát từ lợi ích của các quốc gia.
VD: Việt Nam ký kết điều ước quốc tế về phân định biển với Trung Quốc, trong đó có lợi ích của cả hai quốc gia.
– Trong luật quốc tế tồn tại nguyên tắc Pacta sunt servanda, nguyên tắc này đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia khi tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện điều ước quốc tế, các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng triệt để và thực hiện nghiêm chỉnh điều ước đó. Pháp luật quốc gia ban hành ra ngoài việc bảo đảm sự bình đẳng và thực hiện chủ quyền quốc gia còn phải phù hợp với các cam kết quốc tế.
Việt nam”VD: Việt nam gia nhập WTO  phải có nghĩa vụ nội luật hóa pháp luật trong nước, đảm bảo sự phù hợp với các chuẩn mực trong các cam kết quốc tế của WTO.
2. Tính chất mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia: Đây là mối quan hệ có tính chất 2 chiều, biện chứng và tác động qua lại lẫn nhau.
a. Ảnh hưởng của luật quốc gia đến luật quốc tế: xét về khía cạnh lịch sử, luật quốc gia có trước, luật quốc tế có sau.
Luật quốc gia ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển, quá trình xây dựng§ và thực hiện luật quốc tế.
VD: LQT: có Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989
Năm 1991, Việt nam đã ban hành Luật bảo vệ trẻ em nhằm pháp điển hóa các quy định của lật quốc tế vào pháp luật quốc gia.
Luật quốc gia đóng vai trò lৠphương tiện để thực hiện luật quốc tế: Để thực hiện luật quốc tế một cách triệt để và hiệu quả, các quốc gia sẽ tiến hành các hoạt động nhằm chuyển hóa luật quốc tế vào pháp luật của chính quốc gia mình.
Luật quốc tế thể hiện nội§ dung của pháp luật quốc gia.
b. Luật quốc tế có tác động tích cực nhằm phát triển và hoàn thiện luật quốc gia. Sự tác động này khác nhau đến từng quốc gia, điều đó phụ thuộc vào kỹ thuật lập pháp của từng quốc gia trên thế giới. Theo đó, luật quốc tế có một số tác động sau đến luật quốc gia:
Luật quốc tế§ tác động trở lại đối với sự hình thành và phát triển của luật trong nước. Điều này thể hiện ở chỗ: khi tham gia các điều ước quốc tế, các quốc gia phải có nghĩa vụ xây dựng hoặc sửa đổi pháp luật trong nước sao co đảm bảo tính phù hợp với các cam kết mà quốc gia là thành viên.
Luật quốc tế hướng luật quốc§ gia phát triển theo chiều hướng tiến bộ, nhân đạo và dân chủ hơn.
3. Ý nghĩa việc xem xét mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia
Việc xem xét mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia để trả lời cho 2 câu hỏi:
– Thứ nhất: Khi có sự mâu thuẫn giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thì ưu tiên áp dụng quy phạm nào? Thông thường, trong quan hệ quốc tế khi có mâu thuẫn xảy ra hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng pháp luật quốc tế, vì luật quốc tế hình thành từ sự thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các chủ thể. Hơn nữa, các quốc gia khi tham gia các quan hệ quốc tế đều xuất phát từ chính lợi ích của quốc gia mình, do đó việc áp dụng luật quốc tế cũng chính là cách thức các quốc gia đảm bảo lợi ích của mình.
– Thứ hai: Pháp luật quốc tế được áp dụng như thế nào trong phạm vi lãnh thổ quốc gia? Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, LQT sẽ được thực hiện theo cách: Thứ nhất, các quốc gia sẽ tiến hành chuyển hóa đưa các nguyên tắc, quy phạm LQT vào trong các văn bản pháp luật quốc gia theo 2 cách: ban hành văn bản pháp luật quốc gia hoặc tiến hành sửa đổi, bổ sung văn bản trong nước sao cho phù hợp với các quy định của LQT. Thú hai, các nguyên tắc, quy phạm LQT được áp dụng trực tiếp trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
VD: Phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế về luật điều ước quốc tế, năm 2005 Việt nam đã ban hành Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân tích các yếu tố pháp lý trong hệ thống LQT
2. Phân tích các vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa LQT và Luật quốc gia
3. Các vấn đề pháp lý về nguồn và đặc thù về việndẫn áp dụng các loại nguồn LQT.

 

CHƯƠNG II
CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

* Đặt vấn đề:
– Trong quan hệ quốc tế, khi đề cập đến các nguyên tắc của LQT, người ta thường nói đến 3 loại nguyên tắc đó là: Nguyên tắc cơ bản, Nguyên tắc pháp luật chung, Nguyên tắc chuyên ngành. Tuy nhiên, ở chương này chúng ta chủ yếu đi vào tìm hiểu các vấn đề liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của LQT, bao gồm: Khái niệm nguyên tắc cơ bản của LQT, đặc điểm cũng như vai trò của các nguyên tắc cơ bản của LQT trong đời sống quốc tế; và phần nội dung chi tiết của các nguyên tắc cơ bản của LQT.
– Nghiên cứu chương này, giáo viên sẽ cung cấp cho sinh viên khối lượng kiến thức quan trọng liên quan đến các nguyên tắc làm cơ sở pháp lý cho việc tồn tại và duy trì mối quan hệ hợp tác giữa các chủ thể vơ bản của luật quốc tế với nhau.
* Tài liệu có liên quan: Để nghiên cứu vấn đề này, ngoài giáo trình Luật quốc tế của trường Đại học Luật Hà Nội, sinh viên cần tham khảo những tài liệu sau:
1. Luật quốc tế Lý luận và thực tiễn
2. Hiến chương Liên hợp quốc
3. Quy chế Tòa án công lý quốc tế
4. Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc hợp tác hữu nghị giữa các thành viên Liên hợp quốc
5. Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia
Vậy thì, các nguyên tắc cơ bản của LQT là gì? chúng có những đặc điểm nào? Để làm rõ điều này, chúng ta sẽ cùng nhau đi vào phần đầu tiên của chương này, phần khái niệm các nguyên tắc cơ bản của LQT.

I. KHÁI NIỆM
1. Định nghĩa
– Sở dĩ gọi một số nguyên tắc của LQT là những nguyên tắc cơ bản bởi vì trong hệ thống luật quốc tế tồn tại nhiều nguyên tắc khác nhau, trong đó có các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ liên quốc gia ở phạm vi toàn cầu, đồng thời lại có cả những nguyên tắc điều chỉnh quan hệ giữa các nước cùng khu vực và nguyên tắc điều chỉnh quan hệ trong từng ngành luật cụ thể của hệ thống luật quốc tế. Trong các nguyên tắc này thì hệ thống các nguyên tắc cơ bản của LQT là những nguyên tắc thể hiện tập trung nhất các quan điểm chính trị – pháp lý và cách xử sự của các quốc gia trong việc giải quyết những vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của đời sống quốc tế.
Như vậy, các[ nguyên tắc cơ bản của LQT được hiểu là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung (Jus cogens) đối với mọi chủ thể LQT. Trong LQT, các nguyên tắc cơ bản tồn tại dưới dạng những quy phạm Jus cogens được ghi nhận ở điều ước quốc tế và tập quán quốc tế.
2. Đặc điểm: các nguyên tắc cơ bản của LQT có 4 đặc điểm sau:
– Tính mệnh lệnh chung: Biểu hiện ở chỗ:
+ Tất cả các loại chủ thể đều phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của LQT.
(VD: Hiến chương LHQ ghi nhận nguyên tắc “tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế” là nguyên tắc cơ bản của LQT. Theo nguyên tắc này, tất cả các quốc gia thành viên của LHQ khi tham gia quan hệ quốc tế đều có nghĩa vụ phải tuân thủ một cách triệt để, có thiện chí, không do dự các nghĩa vụ phát sinh từ Hiến chương LHQ và các điều ước quốc tế; trừ các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc).
+ Không một chủ thể hay nhóm chủ thể nào của LQT có quyền hủy bỏ nguyên tắc cơ bản của LQT.
+ Bất kỳ hành vi đơn phương nào không tuân thủ triệt để nguyên tắc cơ bản của LQT đều bị coi là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế.
+ Các quy phạm điều ước và tập quán quốc tế có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bản của LQT đều không có giá trị pháp lý.
+ Ngoài ra, đối với các lĩnh vực có các nguyên tắc chuyên biệt như: Luật Biển quốc tế, Luật hàng không dân dụng quốc tế…thì bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của LQT, các bên còn phải chấp hành các nguyên tắc chuyên biệt trong từng lĩnh vực cụ thể.
(VD: Trong luật biển quốc tế có ghi nhận một loạt các nguyên tắc chuyên ngành như: nguyên tắc tự do biển cả, nguyên tắc đất thống trị biển…các quốc gia khi tham gia các quan hệ liên quan đến biển, song song với việc thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc chuyên ngành họ cũng phải tuân thủ nghiêm chỉnh 7 nguyên tắc cơ bản của LQT).
– Tính bao trùm: Nguyên tắc cơ bản của LQT là chuẩn mực để xác định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp lý quốc tế. Đồng thời chúng được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của quan hệ quốc tế giữa các quốc gia.
(VD: Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác được áp dụng trong hầu hết các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa-xã hội…hay nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia là nguyên tắc giữ vai trò quan trọng và có tính chất xuyên suốt quá trình hợp tác trong tất cả các lĩnh vực của đời sống quốc tế).
– Tính hệ thống: Các nguyên tắc cơ bản của LQT có mối quan hệ mật thiết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Biểu hiện ở chỗ: việc tôn trọng hay phá vỡ nguyên tắc này sẽ làm ảnh hưởng đến nội dung và việc tuân thủ nguyên tắc khác.
(VD:. Nguyên tắc “bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia” là nguyên tắc nền tảng để trên cơ sở đó các chủ thể LQT thực hiện các nguyên tắc khác như: hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau… Việc vi phạm hay tuân thủ một cách triệt để nguyên tắc này sẽ tác động rất lớn đến việc thực hiện một loạt các nguyên tắc còn lại của LQT).
– Tính thừa nhận rộng rãi: Đặc trưng này thể hiện ở chỗ: các nguyên tắc cơ bản của LQT được áp dụng trong phạm vi toàn thế giới, đồng thời chúng được ghi nhận trong hầu hết các văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như: Hiến Chương Liên hợp quốc, Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của LQT, Định ước Hen-xin-ki năm 1975 về an ninh và hợp tác các nước Châu Âu, Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á…
Trong các đặc điểm nêu[ trên, đặc điểm về tính mệnh lệnh chung là quan trọng nhất, tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng để các nguyên tắc cơ bản của LQT chi phối lại các nguyên tắc pháp luật chung và nguyên tắc chuyên ngành.
3. So sánh các nguyên tắc cơ bản của LQT với các loại nguyên tắc khác của LQT:
Yêu cầu thảo luận: Từ kiến thức[ chung từ bài 1 liên quan đến các loại nguyên tắc trong LQT, xuất phát từ các đặc  yêu cầu sinh viên tự tiến hành so sánh”điểm nêu trên của các nguyên tắc cơ bản  các nguyên tắc cơ bản của LQT và các loại nguyên tắc khác của Luật quốc tế. Sau khi nghe câu trả lời của sinh viên, phân tích các ý đúng và sai của các câu trả lời, giảng viên tổng hợp lại với các ý chính như sau:
* Giống nhau:
– Các loại nguyên tắc này đều hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận của các chủ thể LQT;
– Đều có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể LQT.
* Khác nhau:
Giá trị pháp lý Phạm vi chủ thể chịu sự chi phối
Nguyên tắc cơ bản Có giá trị pháp lý bắt buộc chung với tính chất là quy phạm Jus cogens đối với mọi chủ thể, mọi mối quan hẹ pháp luật và mọi lĩnh vực hợp tác quốc tế → nguyên tắc này là thuớc đo tính hợp pháp của các quy phạm LQT. Tất cả các chủ thể luật quốc tế phải chịu sự tác động của nguyên tắc cơ bản. Không cho phép có sự thỏa thuận giữa các chủ thể về việc có thực hiện hay không và thực hiện như thế nào.
Nguyên tắc chuyên ngành Là sự cụ thể hóa nguyên tắc cơ bản → Phải phù hợp với nguyên tắc cơ bản của LQT Chỉ tác động trong phạm vi lĩnh vực cụ thể khi chủ thể tham gia vào các quan hệ thuộc lĩnh vực đó
Nguyên tắc pháp luật chung Nguyên tắc này chưa đạt được sự thống nhất trong cộng đồng quốc tế về giá trị pháp lý, nguồn gốc của nguyên tắc. Do đó, nguyên tắc pháp luật chung phải phù hợp với nguyên tắc cơ bản của LQT. Hầu như chỉ áp dụng trong quá trình giải quyết các tranh chấp quốc tế trước các cơ quan tài phán quốc tế. Chỉ được viện dẫn khi thiếu quy phạm điều ước hoặc tập quán quốc tế điều chỉnh quan hệ quốc tế này sinh.

4. Vai trò của các nguyên tắc cơ bản của LQT
• Các nguyên tắc cơ bản của LQT là thước đo giá trị hợp pháp của mọi nguyên tắc, mọi quy phạm pháp luật của LQT.
(VD: Pháp luật quốc tế thừa nhận nguyên tắc “bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia” trong quan hệ quốc tế, tuy nhiên nước A do có tiềm lực kinh tế, chính trị mạnh đã dùng ảnh hưởng của mình để tạo áp lực buộc quốc gia B – là nước đang phát triển phải tiến hành ký kết điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề kinh tế, trong đó ghi nhận lợi ích cho quốc gia A nhiều hơn so với điều ước này không hợp pháp do vi phạm nguyên tắc cơ bản của LQT).”B
• Các nguyên tắc cơ bản của LQT là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của LQT thường được viện dẫn trong hệ thống các cơ quan của LHQ.
(VD: quốc gia A và B xảy ra xung đột, theo nguyên tắc cơ bản của LQT, 2 bên không được tự ý sử dụng các biện pháp vũ trang hoặc phi vũ trang để giải quyết xung đột này, mà phải giải quyết trên cơ sở các biện pháp hòa bình).
• Các nguyên tắc cơ bản của LQT là công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể LQT.
(VD: Khi quốc gia A có hành vi xâm lược đối với quốc gia B, tùy theo mức độ và tính chất, quốc gia B có quyền tự vệ tương xứng để bảo vệ các quyền và lợi ích của qupốc gia mình).
Cũng như sự[ hình thành luật quốc tế, phạm trù các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là một phạm trù mang tính xã hội – lịch sử. Nó cũng có quá trình phát sinh, phát triển và hoàn thiện gắn liền với các giai đoạn hình thành và phát triển của luật quốc tế, căn cứ vào sự ra đời của các nguyên tắc, luật quốc tế chia chúng ra thành 2 nhóm cơ bản đó là:
– Nhóm các nguyên tắc truyền thống của luật quốc tế: Đây là các nguyên tắc ra đời chủ yếu trong thời kỳ trung đại và cận đại, khi các quan hệ quốc tế mới chỉ dừng lại ở thời kỳ sơ khai và chúng tồn tại chủ yếu dưới dạng các tập quán quốc tế. Nhóm này gồm 2 nguyên tắc: nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia và nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pacta Sunt Servanda).
– Nhóm các nguyên tắc hình thành trong luật quốc tế hiện đại: Đây là các nguyên tắc hình thành trong thời kỳ hiện đại, khi sự hình thành các tổ chức quốc tế và quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nhóm này gồm 5 nguyên tắc sau: nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực; nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế; nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác; nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác và nguyên tắc dân tộc tự quyết.
II. CÁC NGUYÊN TẮC TRUYỀN THỐNG
1. Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia
– Đây là nguyên tắc được đặt ở vị trí đầu tiên trong số các nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 2 của Hiến chương Liên hợp quốc: “Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả hội viên”. Nguyên tắc này là xuất phát điểm của toàn bộ hệ thống các nguyên tắc cơ bản của LQT.
– Ngoài Hiến chương LHQ, nguyên tắc này còn được đề cập một cách đầy đủ trong Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản LQT điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24/10/1970…1và một số văn bản pháp lý quốc tế khác.
a. Sự hình thành nguyên tắc
– Đây là nguyên tắc xuất hiện rất sớm trong đời sống quốc tế. Nó được hình thành trong thời kỳ loài người chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, và trở thành nguyên tắc cơ bản của LQT thời kỳ tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, cũng giống như các nguyên tắc khác trong thời kỳ đó, nguyên tắc này cũng chỉ được dùng để điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia nhất định. Hiến pháp tư sản cũng ghi nhận nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền dân tộc như một tôn chỉ của mình…Tuy nhiên, trên thực tế giai cấp tư sản không hề tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia. Các cuộc đấu tranh đầu thế kỷ 19, chiến tranh thế giới lần thứ nhất, lần thứ hai…liên tiếp nổ ra nhằm phân chia lại thị trường thế giới đều là những bằng chứng rõ ràng nhất cho sự vi phạm thô bạo nguyên tắc này của các nước tư bản thời bấy giờ.
– Năm 1945, sau khi tổ chức Liên hợp quốc ra đời, với tôn chỉ và mục đích gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, trong Hiến chương LHQ đã ghi nhận “bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia” là nguyên tắc cơ bản nhất trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của LQT và đồng thời cũng là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của tổ chức quốc tế rộng rãi này.
– Trong quan hệ quốc tế hiện nay, vấn đề bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia đóng vai trò rất quan trọng trong việc thiết lập, xây dựng cũng như duy trì một trật tự quốc tế trong quan hệ giữa các quốc gia.
b. Nội dung nguyên tắc
*Về khái niệm “Bình đẳng chủ quyền”: Chủ quyền là thuộc tính chính trị-pháp lý vốn có của quốc gia, thể hiện quyền tối thượng của quốc gia trong lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong phạm vi lãnh thổ của mình, mỗi quốc gia có quyền tối thượng về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, đồng thời quốc gia được tự do lựa chọn cho mình phương thức thích hợp nhất để thực thi quyền lực trong phạm vi lãnh thổ. Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia có quyền tự quyết định chính sách đối ngoại của mình mà không có sự áp đặt từ chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc  Điều này có nghĩa là các quốc gia dù lớn hay nhỏ,[gia trong cộng đồng quốc tế  dù giàu hay nghèo đều có quyền độc lập như nhau trong quan hệ quốc tế. (Lưu ý rằng, sự “bình đẳng” được đề cập đến trong nguyên tắc này không phải là bình đẳng theo nghĩa “ngang bằng nhau” về tất cả các quyền và nghĩa vụ, mà được hiểu là bình đẳng trong quyền tự quyết mọi vấn đề liên quan đến đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia. Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy, khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế của các quốc gia không giống nhau, do đó LQT trong một số trường hợp đã có những quy phạm nhằm trao cho một số quốc gia nhất định những quyền đặc biệt mà các quốc gia khác không có (VD: quyền phủ quyết của 5 thành viên thường trực HĐBA LHQ). Tuy nhiên, việc được hưởng các quyền đặc biệt này bao giờ cũng đồng nghĩa với việc các quốc gia này phải gánh vác thêm những nghĩa vụ đặc biệt khác).
* Như vậy, bình đẳng về chủ quyền của quốc gia bao gồm các nội dung:
a. Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý;
b. Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ;
c. Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác;
d. Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch;
e. Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa của mình;
f. Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế của mình và tồn tại hoà bình cùng các quốc gia khác.
* Theo nguyên tắc này mỗi quốc gia đều có các quyền bình đẳng sau:
a. Được tôn trọng về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa;
b. Được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình;
c. Được tham gia các tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế với các lá phiếu có giá trị ngang nhau;
d. Được ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan;
e. Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc gia khác;
f. Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như các quốc gia khác.
c. Ngoại lệ của nguyên tắc
Cùng xem xét ví dụ: Trong việc thông qua những vấn đề thông thường (không thuộc về thủ tục)  9 lá phiếu này[của HĐBALHQ phải có 9/15 phiếu thì nghị quyết sẽ được thông qua  là 9 phiếu của bất kỳ thành viên nào của HĐBALHQ (không có sự phân biệt giữa lá phiếu của ủy viên không thường trực và ủy viên thường trực). Tuy nhiên, đối với các vấn đề không thông thường (vấn đề liên quan đến thủ tục), trong 9 phiếu này phải có 5 phiếu thuận của 5 ủy viên thường trực của HĐBALHQ mới hợp lệ. Trong trường hợp có 1 trong 5 ủy viên thường trực phản đối thì nghị quyết đó sẽ không được thông qua.
câu hỏi đặt ra là: quy định về nguyên tắc bỏ phiếu trên[ của LHQ có tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia là ủy viên của HĐBA hay không? và việc “bất bình đẳng” này có vi phạm nguyên tắc “bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia” không?(đặt ra cho sinh viên thảo luận)
Quy định trên đây không tạo ra sự bất bình đẳng cũng như vi phạm nguyên tắc cơ bản của LQT, vì trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các chủ thể LQT đã thừa nhận một số trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này đó là:
Trường hợp các quốc gia tự hạn chế chủv quyền của mình: Đây là trường hợp các quốc gia tự lựa chọn vì lợi ích của chính mình hoặc họ tự hạn chế chủ quyền của mình bằng cách trao quyền cho 1 thể chế khác (như tổ chức quốc tế, quốc gia khác…) được thay mặt mình trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của quốc gia. Trong trường hợp này, quốc gia đã tự không vi phạm nguyên tắc bình đẳng chủ quyền[nguyện hạn chế chủ quyền của mình  giữa các quốc gia.
(VD: – Công quốc Mônacô cho phép Pháp thay mặt họ trong mọi quan hệ đối ngoại, dù nó là một quốc gia độc lập, có chủ quyền.
– Pháp luật quốc tế thừa nhận các quốc gia có quyền tham gia vào các tổ chức quốc tế, tuy nhiên có một số quốc gia đã tự hạn chế quyền này của mình. Như trường hợp của Thụy sỹ khi tuyến bố mình là quốc gia trung lập vĩnh viễn. Điều này đồng nghĩa với việc họ không được tham gia vào bất kỳ tổ chức quốc tế nào nhằm theo đuổi mục đích quân sự hay các liên minh kinh tế, chính trị trên thế giới…)
Trường hợp các quốc gia bị hạn chế chủ quyền: Trường hợp này chỉ đặt rav đối với các chủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế, và việc bị hạn chế chủ quyền là một biện pháp trừng phạt từ phía cộng đồng quốc tế đối với quốc gia họ.
VD: Irắc tấn công Cô-oét năm 1990-đây là một hành vi vi phạm trắng trợn các nguyên tắc cơ bản của LQT. Do đó, HĐBA đã tiến hành áp dụng một loạt các biện pháp cấm vận về kinh tế đối với Irắc.
d. Sự phát triển của nguyên tắc trong quan hệ quốc tế hiện đại
– Hiện nay, trong quá trình quốc tế hóa mọi mặt của đời sống quốc tế, sự ra đời của các tổ chức quốc tế phổ cập và khu vực đang ngày càng giữ vị trí quan trọng trong việc phối hợp hoạt động hợp tác của các quốc gia thành viên. Khi tham gia tổ chức quốc tế, các quốc gia thành viên tự nguyện trao cho tổ chức quốc tế một số thẩm quyền thuộc chủ quyền của mình. Sự trao quyền này không có nghĩa là quốc gia bị hạn chế chủ quyền. Quốc gia khi tự nguyện tham gia tổ chức quốc tế, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của quốc gia thành viên, chịu sự chi phối nhất định của TCQT…các hoạt động này phải được hiểu là quốc gia đang triển khai thực hiện chính chủ quyền của mình.
– Trong không gian quốc tế hiện nay, việc tôn trọng nghiêm chỉnh nguyên tắc này là cơ sở quan trọng để đưa trật tự thế giới phát triển theo xu hướng ngày càng ổn định, hội nhập và tiến bộ hơn.
2. Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda)
a. Sự hình thành nguyên tắc
– Đây là nguyên tắc có lịch sử lâu đời nhất trong số các nguyên tắc cơ bản của LQT. Tiền thân của nó là nguyên tắc Tuân thủ điều ước quốc tế xuất hiện từ thời La mã cổ đại và tồn tại hàng ngàn năm dưới dạng tập quán pháp lý quốc tế trước khi được ghi nhận chính thức trong điều ước quốc tế.
– Trước khi có LQT hiện đại, nguyên tắc này tồn tại chủ yếu để mang lại lợi ích cho các nước lớn, bởi vì trước đây điều ước quốc tế thường chứa đựng các quy phạm mang tính bất bình đẳng do các nước lớn áp đặt cho các nước nhỏ phải ký kết. Do vậy, tuân thủ chặt chẽ điều ước quốc tế chính là một hình thức hợp pháp nhất để duy trì lợi ích của các nước lớn.
– Hiện nay, nguyên tắc này tồn tại trong hầu hết các văn bản pháp lý quan trọng của luật quốc tế, và được ghi nhận chính thức tại khoản 2 điều 2 của Hiến chương LHQ: “tất cả các thành viên LHQ thiện chí thực hiện các nghĩa vụ do Hiến chương đặt ra”.
b. Nội dung nguyên tắc
* Trong Lời mở đầu của Hiến chương LHQ khẳng định: “Tạo mọi điều kiện cần thiết để đảm bảo công lý và sự tôn trọng các nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc tế và các nguồn khác của luật quốc tế”. Theo đó, Công ước Viên năm 1969 chỉ ra rằng “mỗi điều ước quốc tế hiện hành đều ràng buộc các bên tham gia và đều được các bên thực hiện một cách thiện chí”. Ngoài các văn bản trên, nguyên tắc này còn được ghi nhận một cách chính thức trong Tuyên bố 1970 về các nguyên tắc cơ bản của LQT. Theo đó, mỗi quốc gia phải thiện chí thực hiện các nghĩa vụ quốc tế do Hiến chương đặt ra, các nghĩa vụ quốc tế phát sinh từ các quy phạm và nguyên tắc được công nhận rộng rãi của LQT.
* Theo các văn kiện pháp lý quốc tế nêu trên, nguyên tắc này bao gồm các nội dung chính sau:
– Mọi quốc gia đều có nghĩa vụ thực hiện tự nguyện và có thiện chí, trung thực và đầy đủ các nghĩa vụ điều ước quốc tế của mình: các nghĩa vụ phát sinh từ Hiến chương Liên hợp quốc; các nghĩa vụ phát sinh từ các nguyên tắc và quy phạm được thừa nhận rộng rãi của luật quốc tế; nghĩa vụ theo các đều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên.
– Mọi quốc gia phải tuyệt đối tuân thủ việc thực hiện nghĩa vụ điều ước quốc tế, tuân thủ một cách triệt để, không do dự.
– Các quốc gia thành viên điều ước quốc tế không được viện dẫn các quy định của pháp luật trong nước để coi đó là nguyên nhân và từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình.
– Các quốc gia không có quyền ký kết điều ước quốc tế mâu thuẫn với nghĩa vụ của mình được quy định trong điều ước quốc tế hiện hành mà quốc gia ký kết hoặc tham gia ký kết trước đó với các quốc gia khác.
– Không cho phép các quốc gia đơn phương ngừng thực hiện và xem xét lại điều ước quốc tế. Hành vi này chỉ được thực hiện với phương thức đình chỉ và xem xét hợp pháp theo sự thỏa thuận của các bên là thành viên điều ước.
– Việc cắt đứt quan hệ ngoại giao hay quan hệ lãnh sự giữa các nước thành viên của điều ước quốc tế không làm ảnh hưởng đến các quan hệ pháp lý phát sinh giữa các quốc gia này, trừ trường hợp các quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự này là cần thiết cho việc thực hiện điều ước (Điều 63 Công ước Viên 1969).
c. Ngoại lệ của nguyên tắc
Luật quốc tế đòi hỏi các quốc gia thực hiện tận tâm, có thiện trí và đầy đủ các nghĩa vụ của điều ước. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng cho phép các quốc gia có thể không phải thực hiện điều ước quốc tế mà mình là thành viên trong các trường hợp sau đây:
Các quốc gia không phải thực hiệnv điều ước quốc tế nếu trong quá trình ký kết các bên có sự vi phạm pháp luật quốc gia về thẩm quyền và thủ tục ký kết.
VD: Theo pháp luật Việt Nam điều ước quốc tế chỉ được ký với 2 danh nghĩa nhà nước và chính phủ. Nếu điều ước nào  không được coi là một điều ước quốc”được ký với danh nghĩa của các bộ, ngành  tế.
Khi điều ước quốc tế có nội dung trái với Hiến chương Liên hợp quốc,v trái với các nguyên tắc và quy phạm được thừa nhận rộng rãi của luật quốc tế.
(VD: 2 quốc gia ký kết một điều ước quốc tế có nội dung thiết lập chính sách nhằm phân biệt đối xử giữa các sắc tộc khác nhau…)
Khi có sự vi phạmv nghiêm trọng của một bên cam kết thì bên còn lại có quyền từ chối thực hiện, vì nghĩa vụ theo điều ước quốc tế chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở có đi có lại.
Khi xuất hiện điều khoản Rebus-sic-stantibus (điều khoản về sự thayv đổi cơ bản của hoàn cảnh) dẫn đến các bên không thể tiếp tục thực hiện được điều ước quốc tế (Điều 62 Công ước Viên 1969). Khi xuất hiện điều khoản này, các quốc gia có thể viện dẫn để thực hiện 1 trong 3 hành vi sau:
– Chấm dứt hiệu lực hành vi này làm mất hoàn toàn hiệu lực của điều ước quốc”của điều ước quốc tế  tế.
hành vi này chỉ tạm thời”- Tạm đình chỉ hiệu lực của điều ước quốc tế  làm mất hiệu lực của điều ước quốc tế.
– Rút khỏi quan hệ điều ước quốc tế hành vi này không làm chấm dứt hiệu lực hoàn toàn của điều ước quốc tế. Điều” ước quốc tế chỉ mất hiệu lực với quốc gia viện dẫn điều khoản Rebus-sic-stantibus, nó vẫn có hiệu lực đối với các quốc gia thành viên khác của điều ước.
+ Hoàn cảnh bị thay đổi được ghi nhận trong điều 62 Công ước Viên 1969 phải là cơ sở chủ yếu tạo nên sự thỏa thuận của các bên; hoàn cảnh này các bên không thể thấy trước (dự liệu trước) vào thời điểm ký kết điều ước quốc tế.
+ Sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh được hiểu là: hoàn cảnh đó bị xáo trộn lớn đến mức làm biến đổi một cách cơ bản phạm vi của những nghĩa vụ mà các bên  sự thay đổi này vượt ra khỏi tầm kiểm soát”vẫn còn phải thi hành theo điều ước   các bên không thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình trong quan”của các bên  hệ điều ước. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh sẽ không thể được nêu lên làm lý do để chấm dứt hoặc rút khỏi quan hệ điều ước nếu đó là điều ước liên quan đến việc thiết lập biên giới quốc gia; hoặc sự thay đổi đó là kết quả của một sự vi phạm nghiêm trọng của chính bên nêu lên nó. Trong trường hợp này, bên còn lại có thể viện dẫn chính điều khoản Rebus-sic-stantibus để giải thoát mình khỏi các nghĩa vụ trong cam kết mà không bị coi là vi phạm nguyên tắc Pacta sunt servanda. Tuy nhiên, việc áp dụng điều khoản Rebus-sic-stantibus phải được thông báo cho bên kia biết.
Câu hỏi:[ điều khoản Rebus-sic-stantibus không được đặt ra với các điều ước liên quan đến việc thiết lập biên giới quốc gia, trên thực tế, các điều ước về biên giới có thể được thay đổi hay không? trong trường hợp nào? Các điều ước thiết lập biên giới có thể được thay đổi nếu các bên có sự thỏa thuận.
III. CÁC NGUYÊN TẮC HÌNH THÀNH TRONG LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI
1. Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực
a. Sự hình thành nguyên tắc
– Luật quốc tế trong thời kỳ cổ đại người ta coi chiến tranh là một phương tiện hữu hiệu để giải quyết mọi xung đột, mọi tranh chấp quốc tế. Nó được thừa nhận như “quyền” của mỗi quốc gia, dân tộc -“quyền được tiến hành chiến tranh”.
– Công ước Lahaye năm 1899 về hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế và Công ước năm 1907 về hạn chế sử dụng vũ lực đối với quốc gia vi phạm cam kết quốc tế là những công ước quốc tế toàn cầu đầu tiên đã không coi việc tiến hành chiến tranh là quyền của quốc gia, nhưng cũng chưa đưa ra quy định ngăn cấm chiến tranh, mà chỉ kêu gọi các quốc gia “với khả năng có thể” thì ngăn ngừa nguy cơ dùng vũ lực. Như vậy, trước chiến tranh thế giới thứ 2 những quy định về việc không sử dụng chiến tranh chỉ là những quan điểm, ý tưởng và chưa trở thành nguyên tắc mang tính bắt buộc chung .
– Sự ra đời của Liên hợp quốc với bản Hiến chương của mình được đánh giá rất cao vì mục đích giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế. Tại khoản 4 điều 2 của Hiến chương này quy định rằng: “Trong quan hệ quốc tế, các hội viên Liên hợp quốc không được có hành động đe dọa bằng vũ lực hay dùng vũ lực để chống lại quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nến độc lập chính trị của bất cứ một nước nào, hoặc bằng cách này hay cách khác làm trái với những mục đích của Liên hợp quốc”. Tuy nhiên, với quy định trên đây, Hiến chương Liên hợp quốc mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra tên gọi của nguyên tắc này, còn việc giải thích định nghĩa như thế nào là “vũ lực” và “đe dọa dùng vũ lực” trong quan hệ quốc tế lại phụ thuộc đặt ra”vào cách hiểu của các quốc gia . Điều này tạo ra sự giải thích khác nhau  yêu cầu phải xây dựng hệ thống các nguyên tắc và có sự giải thích thống nhất nguyên tắc trong cộng đồng quốc tế.
– Năm 1970 các quốc gia trong Liên hợp quốc đã ký kết một điều ước quốc tế về hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, trong đó giải thích rất rõ thế nào là “vũ lực”, thế nào là “đe dọa dùng vũ lực”.
b. Nội dung nguyên tắc
* Các văn kiện pháp lý quốc tế ghi nhận nguyên tắc:
– Tuyên bố của đại hội đồng liên hợp quốc năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của LQT;
– Tuyên bố của đại hội đồng liên hợp quốc năm 1974 về định nghĩa xâm lược;
– Định ước Henxinki năm 1975 về an ninh và hợp tác của các nước châu Âu;
– Tuyên bố của liên hợp quốc năm 1987 về “nâng cao hiệu quả của nguyên tắc khước từ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”.
* Định ước Henxinki năm 1975 quy định các quốc gia tham gia sẽ “khước từ mọi biện pháp mang tính cưỡng bức đối với quốc gia, thành viên khác, khước từ tiến hành hành vi cưỡng bức về kinh tế”. Như vậy, khái niệm “vũ lực” theo luật quốc tế hiện đại không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ là sử dụng hoặc đe dọa sử dụng lực lượng vũ trang để chống lại chủ quyền, độc lập của quốc gia khác mà còn mở rộng việc nghiêm cấm sử dụng các sức mạnh hay đe dọa dùng sức mạnh phi vũ trang2trong quan hệ quốc tế. Nội dung của nguyên tắc này như sau:
– Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác trái với các quy phạm của luật quốc tế;
– Cấm các hành vi trấn áp bằng vũ lực;
– Không được cho quốc gia khác sử dụng lãnh thổ nước mình để tiến hành xâm lược chống quốc gia thứ ba;
– Không tổ chức, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố tại quốc gia khác;
– Không tổ chức hoặc khuyến khích việc tổ chức các băng nhóm vũ trang, lự lượng vũ trang phi chính quy, lính đánh thuê để đột nhập vào lãnh thổ quốc gia khác.
c. Ngoại lệ của nguyên tắc
Câu hỏi đặt ra: Vậy, có khi nào việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế được cho là hợp pháp hay không? đó là các trường hợp nào? Có, nếu việc sử dụng lực lượng vũ trang rơi vào 1 trong các ngoại lệ sau đây của nguyên tắc:
Các quốc gia có quyền sử dụngv lực lượng vũ trang để thực hiện quyền tự vệ hợp pháp, kể cả việc sử dụng biện pháp quân sự nhưng phải tuân thủ nguyên tắc tương xứng.
– Cơ sở pháp lý: Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc quy định”Không một điều khoản nào trong Hiến chương này làm thiệt hại đến quyền tự vệ cá thể hay tập thể một cách chính đáng, trong trường hợp hội viên Liên hợp quốc bị xâm lược vũ trang, cho đến khi Hội đồng bảo an ấn định những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Những biện pháp do các hội viên thi hành trong việc thực hiện quyền tự vệ chính đáng ấy phải được báo ngay cho Hội đồng bảo an biết và không được ảnh hưởng đến quyền hạn và nhiệm vụ của Hội đồng bảo an, mà theo Hiến chương này Hội đồng bảo an có thể bất cứ lúc nào áp dụng những hành động xét thấy cần thiết để duy trì và khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế”.
Như vậy, Hiến chương[ LHQ thừa nhận quyền tự vệ chính đáng của các quốc gia, nhưng lại không đưa ra khái niệm thế nào là một hành vi “xâm lược”. Theo Nghị quyết 3314 của Đại hội đồng LHQ năm 1974 về định nghĩa xâm lược thì, xâm lược là việc một nước sử dụng lực lượng vũ trang tấn công, vi phạm đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc nền độc lập chính trị của một nước khác, hoặc “dưới bất kỳ hình thức nào khác”. Nghị quyết đặt ra một danh sách không giới hạn những hành vi bị coi là xâm lược; đồng thời nghị quyết này cũng trao cho HĐBA quyền được quyết định có hay không hành vi xâm lược trong các tình huống cụ thể.
– Tự vệ như thế nào được coi là hợp pháp? Theo điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc thì tiêu chí để xác định hành vi tự vệ hợp pháp là: có hành động tấn công vũ trang. Nếu hành vi tự vệ xảy ra sau khi  tự vệ hợp pháp, nếu hành vi tự vệ xảy ra trước”có hành động tấn công vũ trang   tự vệ bất hợp pháp.”khi có hành động tấn công vũ trang
– Quyền tự vệ hợp pháp của quốc gia được thực hiện với điều kiện: quốc gia đó bị tấn công vũ trang trước; mức độ thực hiện tự vệ phải tương xứng với hành vi vi phạm, nếu vượt quá mức độ vi phạm thì hành vi tự vệ đó không được coi là tự vệ hợp pháp.
– Ngoài các vấn đề trên, Điều 51 Hiến chương cũng quy định, quyền tự vệ chính đáng của cá nhân hay tập thể chỉ được sử dụng “cho đến khi Hội đồng bảo an ấn định những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế…”.
Như[ vậy, theo tinh thần của Hiến chương LHQ, quyền tự do hành động của quốc gia trong phạm vi tự vệ chính đáng chỉ là tạm thời. Một khi HĐBA đã quyết định hành động thì vụ việc đó sẽ được đặt dưới quyền quyết định của cơ quan này. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, quyền tự vệ chính đáng là cách duy nhất cho phép các quốc gia được sử dụng vũ lực một cách hợp pháp. Do đó, sự can thiệp của HĐBA trong trường hợp này được coi như một cơ chế kiểm soát hữu hiệu nhằm tránh việc lạm dụng vũ lực từ phía các quốc gia. Tuy nhiên, sự can thiệp này chỉ thực sự có tác dụng khi các nước lớn thỏa thuận cùng nhau hành động nhằm ngăn chặn việc sử dụng vũ lực.
Các dân tộc thuộc địa được phép sử dụng tất cả các biện phápv để đấu tranh giành quyền tự quyết, kể cả các biện pháp quân sự nhưng phải tuân thủ các quy định của luật quốc tế.
Cộng đồng quốc tế có quyền áp dụng cácv biện pháp trừng phạt, kể cả các biện pháp quân sự đối với các chủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng luật quốc tế.
2. Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế
a. Sự hình thành nguyên tắc
Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc này gắn liền với sự hình thành và phát triển của nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực và dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế và là hệ quả tất yếu của nguyên tắc này.
– Trong thực tiễn quốc tế, tranh chấp luôn là khả năng tiềm ẩn phát sinh từ các mối quan hệ giữa các quốc gia. Đó là hoàn cảnh cụ thể mà trong đó các chủ thể luật quốc tế có những quan điểm trái ngược hoặc mâu  xung đột, mâu thuẫn.” không thống nhất được về quyền và lợi ích “thuẫn nhau
– Trong hệ thống Công ước Lahay 1899 và 1907 có Công ước về hòa bình giải quyết xung đột quốc tế, là công ước đa phương đầu tiên đề cập đến vấn đề quan trọng này. Tuy nhiên, Công ước mới chỉ đưa ra lời kêu gọi các quốc gia tự nguyện thực hiện các biện pháp trung gian, hòa giải trước khi dùng vũ lực.
– Quy chế Hội quốc liên ở mức độ nhất định đã đưa ra quyền của các quốc gia dùng chiến tranh như là phương tiện giải quyết tranh chấp, lần đầu tiên đã xác định nghĩa vụ của các quốc gia giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình như giải  quy định này không mang”quyết ở tòa án hoặc đưa ra hội đồng của Hội quốc liên  tính chất là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc của mọi quốc gia. Và việc giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình chỉ được coi là khả năng có thể xảy ra khi có tranh chấp mà thôi.
– Liên hợp quốc cùng với bản Hiến chương của mình lần đầu tiên đã nâng vấn đề giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế lên thành nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia. Khoản 3 điều 2 Hiến chương ghi nhận “Hội viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng phương pháp hòa bình, làm thế nào khỏi nguy hại đến hòa bình và an ninh quốc tế cũng như đến công lý”.
b.Nội dung nguyên tắc
* Thế nào là ” tranh chấp quốc tế”? luật quốc tế chưa có một định nghĩa chính xác về tranh chấp quốc tế được thừa nhận rộng rãi, nhưng đa số các tác giả đều cho rằng tranh chấp quốc tế là những vấn đề phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế và những bất đồng về các vấn đề cơ bản của quan hệ quốc tế.
– Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến chương liên hợp quốc và được khẳng định rõ ràng trong Tuyên bố năm 1970, trong đó chỉ rõ “mỗi quốc gia giải quyết tranh chấp quốc tế của mình với các quốc gia khác bằng phương pháp hòa bình để không dẫn đến đe dọa hòa bình, an ninh quốc tế và công bằng”.
* Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp: Điều 33 Hiến chương liên hợp quốc đã quy định cụ thể các biện pháp hòa bình mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn, đó là các con đường : “… đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng các tổ chức hoặc các hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa Như vậy, hòa bình giải quyết các tranh”bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình” chấp quốc tế là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi quốc gia – thành viên của cộng đồng quốc tế. Các bên có quyền tự do lựa chọn các biện pháp phù hợp nhất, sao cho mọi tranh chấp đều được giải quyết trên cơ sở luật quốc tế và nguyên tắc công bằng. Thực tiễn cho thấy, phương pháp đàm phán là phương pháp thường xuyên được các quốc gia sử dụng để giải quyết các tranh chấp hoặc bất đồng với nhau.
c. Ngoại lệ của nguyên tắc
– Đây là một nguyên tắc không tồn tại bất kỳ ngoại lệ nào.
– Hội đồng bảo an Liên hợp quốc luôn phải tôn trọng biện pháp giải quyết hòa bình mà các bên lựa chọn. Trong trường hợp các bên tự lựa chọn mà vẫn không giải quyết triệt để vấn đề, hội đồng bảo an có quyền kiến nghị các bên áp dụng các biện pháp khác nhằm nhanh chóng chấm dứt những mối đe dọa.
d. Thực tiễn vận dụng nguyên tắc
Cùng với quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, với việc tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế, hiện nay cộng đồng quốc tế đang dần thừa nhận vai trò cũng như tính hiệu quả của các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của các tổ chức quốc tế như: EU, Asean, liên hợp quốc…
3. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác.
a. Sự hình thành
– Xuất hiện trong thời kỳ cách mạng tư sản, với “mầm mống” là quy định trong bản Hiến pháp của Nhà nước tư sản Pháp, đó là “nước Pháp không can thiệp vào các công việc nội bộ của quốc gia khác và không cam chịu để các quốc gia khác can thiệp vào công việc nội bộ của mình”. Tuy nhiên, những quy định liên quan đến vấn đề này thời kỳ đó còn rất nhiều hạn chế, chưa được thừa nhận rộng rãi là nguyên tắc chung của cộng đồng quốc tế.
– Khi tổ chức Liên hợp quốc ra đời, Hiến chương của tổ chức này đã cụ thể hóa nội dung của nguyên tắc tại khoản 7 điều 2, đồng thời nghĩa vụ này cũng được đặt ra cho tất cả các thành viên của cộng đồng quốc tế.
– Dưới tác động mạnh mẽ của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, trong khuôn khổ Liên hợp quốc, Nghị quyết về nguyên tắc “không can thiệp vào công việc nội bộ” được thông qua năm 1965 với việc “tuyên bố cấm can thiệp vào công việc nội bộ, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các quốc gia”. Đến nay, nguyên tắc này còn được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng khác như: Tuyên bố của liên hợp quốc về trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa năm 1960, Tuyến bố cuối cùng của hội nghị các nước Á Phi năm 1955 tại Băng-đung, Định ước Henxinki năm 1975, Hiệp ước Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, Hiệp định Pari năm 1973 về lập lại hòa bình tại Việt nam…
b. Nội dung nguyên tắc
* Khái niệm “công việc nội bộ” của mỗi quốc gia: công việc nội bộ của mỗi quốc gia là công việc nằm trong thẩm quyền giải quyết của mỗi quốc gia độc lập xuất phát từ chủ quyền của mình, đó là quyền tối thượng của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình (như: quyền tự do lựa chọn, tự do xây dựn và phát triển chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội phù hợp với nguyện vọng của nhân dân; quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp…) và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế (như: quyền độc lập thiết lập mối quan hệ với bất kỳ quốc gia nào, quyên tự do tham gia vào các tổ chức quốc tế khu vực và phổ cập…).
* Thế nào là can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác? Việc can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác được thực hiện theo 2 cách là can thiệp trực tiếp và can thiệp gián tiếp.
– Can thiệp trực tiếp là việc một (hoặc một nhóm) quốc gia dùng áp lực quân sự, chính trị, kinh tế…và các biện pháp khác nhằm khống chế quốc gia khác trong việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền nhằm ép buộc quốc gia đó phụ thuộc vào mình.
– Can thiệp gián tiếp là các biện pháp quân sự, kinh tế…do quốc gia tổ chức, khuyến khích các phần tử phá hoại hoặc khủng bố nhằm vào mục đích lật đổ chính quyền hợp pháp của quốc gia khác hoặc gây mất ổn định cho tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của nước này.
VD: hành vi giúp đỡ tài chính, cung cấp vũ khí, huấn luyện đào tạo các băng đảng vũ trang nhằm lật đổ chính quyền của quốc gia khác.
* Nội dung của nguyên tắc: Nguyên tắc này không cho phép bất kỳ quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù văn minh hay lạc hậu được quyền can thiệp vào các lĩnh vực thuộc thẩm quyền riêng biệt của mỗi quốc gia, xuất phát từ chủ quyền của mình. Cụ thể:
– Cấm can thiệp vũ trang và các hình thức can thiệp hoặc đe dọa can thiệp khác nhằm chống lại chủ quyền, nền tảng chính trị, văn hóa-xã hội của quốc gia;
– Cấm dùng các biện pháp kinh tế, chính trị và các biện pháp khác để bắt buộc quốc gia khác phụ thuộc vào mình;
– Cấm tổ chức, khuyến khích các phần tử phá hoại hoặc khủng bố nhằm lật đổ chính quyền của quốc gia khác;
– Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ của quốc gia khác;
– Tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự do lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội không có sự can thiệp từ phía các quốc gia khác.
c. Ngoại lệ của nguyên tắc:
Hiện nay, do quá trình toàn cầu diễn ra ngày càng mạnh mẽ nên ranh giới giữa công việc nội bộ thuộc thẩm quyền mỗi quốc gia và công việc có sự tham gia của cộng đồng quốc tế trong nhiều trường hợp không độc lập hoàn toàn với nhau mà có sự đan xen nhất định (VD: vấn đề nhân quyền, nhân đạo, môi trường…). Về nguyên tắc, LQT không điều chỉnh những vấn đề thuộc thẩm quyền nội bộ của mỗi quốc gia. Do đó, mọi biện pháp được sử dụng nhằm cản trở việc thực hiện công việc nội bộ của quốc gia đều bị coi là vi phạm LQT. Tuy nhiên, trên thực tế, các chủ thể LQT lại thừa nhận việc can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác trong các trường hợp sau:
Khi có xung đột vũ trang xảy ra trong nội bộ của quốc gia: về nguyên tắc,v cộng đồng quốc tế sẽ không có quyền can thiệp. Tuy nhiên, nếu cuộc xung đột này đạt đến mức độ nghiêm trọng, và có thể gây ra mất ổn định trong khu vực, đe dọa hoà bình và an ninh quốc tế, thì cộng đồng quốc tế – thông qua Hội đồng bảo an Liên hợp quốc – được quyền can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộc xung đột hành động này không bị coi là vi phạm nội dung của nguyên tắc “không can[này  thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác”.
Khi có hành vi vi phạmv nghiêm trọng các quyền cơ bản của con người, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hòa bình và an ninh quốc tế.
VD: Nam Phi cũ: việc thiết lập chủ nghĩa phân biệt  Đây là công việc nội bộ của Nam Phi. Tuy nhiên, việc thực”chủng tộc Apacthai  hiện chính sách phân biệt chủng tộc, thực hiện tội ác diệt chủng là vô cùng dã Cộng đồng quốc”man, vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế về quyền con người  tế đã lên tiếng và áp dụng các biện pháp cần thiết để “can thiệp” phù hợp và ngăn cản chính sách này của Nam Phi.
Có sự thỏa thuận của các bên liênv quan.
4. Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác
a. Sự hình thành nguyên tắc
– Xu thế tất yếu của tiến trình phát triển quan hệ quốc tế hiện nay là sự hội nhập, hợp tác trên cơ sở các bên cùng có lợi. Sự hợp tác giữa các quốc gia trong tất cả các lĩnh vực không phụ thuộc vào chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và nhằm duy trì hòa bình, an ninh quốc tế đã được pháp luật hóa trong các văn bản pháp lý quốc tế quan trọng.
– Ý tưởng về sự hợp tác giữa các quốc gia lần đầu tiên được tthể hiện trong khoản 3 điều 4 Hiến chương LHQ, rằng một trong những mục đích của tổ chức là “thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn để quốc tế kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo, khuyến khích và phát triển dsự tôn trọng các quyền của con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi ngừoi không phjân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”. Mặc dù Hiến chương LHQ không ghi nhận nghĩa vụ các quốc gia phải hợp tác với nhau như 1 trong những nguyên tắc cơ bản của LQT, nhưng trong nhiều điều khoản của Hiến chương lại nhắc đến sự hợp tác giữa các quốc gia như là nguyên tắc tồn tại của cộng đồng quốc tế.
– Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng LHQ về các nguyên tắc của LQT đã mở rộng nội dung pháp lý của nguyên tắc này, theo đó “các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau trong các lĩnh vực của quan hệ quốc tế không phụ thuộc vào hệ thống chính trị, kinh tế và văn hóa, nhằm mục đích duy trì hoà bình, an ninh quốc tế và góp phần vào việc ổn định kinh tế thế giới, vì sự phồn vinh chung của các dân tộc và hợp tác quốc tế”.
b. Nội dung nguyên tắc
* Theo nguyên tắc này, các quốc gia có nghĩa vụ tiến hành hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội và nhân đạo trong phạm vi quốc tế, đồng thời duy trì hòa bình và an ninh quốc tế bằng cách tiến hành các biện pháp tập thể có hiệu quả. Điều 55 của Hiến chương quy định, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ hợp tác với nhau, đồng thời có nghĩa vụ hợp tác với các tổ chức quốc tế nhằm mục đích thực hiện tôn chỉ, mục tiêu của chúng.
VD: Sau cuộc tấn công thảm khốc ngày 11/9/2001 tại Mỹ, do tính chất nguy hiểm và mức độ ảnh hưởng của nó đến hòa bình và an ninh quốc tế, ngày 12/9/2001 dưới sự chủ tọa của Pháp, HĐBA đã họp và thông qua Nghị quyết 1368, trong đó HĐBA thừa nhận “quyền tự vệ cá nhân hay tập thể phù hợp với Hiến chương…, cực lực lên án các cuộc tấn công khủng bố kinh hoàng diễn ra hôm 11 tháng 9 năm 2001…và coi những hành động này là mối đe dọa đối với hòa bình và an ninh quốc tế”. HĐBA đã đưa ra lời kêu gọi các quốc gia phải hợp tác với nhau để đưa những kẻ chủ mưu ra xét xử, đồng thời các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc cảnh báo và loại trừ các hành động khủng bố diễn ra trong cộng đồng quốc tế.
– LQT không quy định các hình thức và mức độ hợp tác cụ thể dành cho các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Hình thức và mức độ hợp tác này hoàn toàn phụ thuộc vào chính quyết định của các quốc gia xuất phát từ tình hình thực tế và năng lực của mỗi quốc gia.
VD: Trong khuôn khổ EU, trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện, các quốc gia đã đạt được mức độ hợp tác cao nhất trong hầu hết các lĩnh vực. Nhắc đến EU, người ta thường nhắc đến một liên minh thống nhất, giữa các quốc gia thành viên của nó gần như không tồn tại đường biên giới quốc gia.
* Theo Tuyên bố năm 1970 nội dung của nguyên tắc này bao gồm:
– Quốc gia phải hợp tác với các quốc gia khác trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế;
– Các quốc gia phải hợp tác để khuyến khích sự tôn trọng chung và tuân thủ quyền con người và các quyền tự do cơ bản khác của cá nhân, thủ tiêu các hình thức phân biệt tôn giáo, sắc tộc, chủng tộc;
– Các quốc gia phải tiến hành quan hệ quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, thương mại và kỹ thuật, công nghệ theo các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
– Các quốc gia thành viên LHQ phải thực hiện các hành động chung hay riêng trong việc hợp tác với LHQ theo quy định của Hiến chương;
– Các quốc gia phải hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa, khoa học, công nghệ nhằm khuyến khích sự tiến bộ về văn hóa, giáo dục, phát triển kinh tế trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Như vậy, khi quy định[ nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia trong những vấn đề chung, Tuyên bố năm 1970 đã đặc biệt nhấn mạnh đến sự hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy tư tưởng, kinh tế của các nước đang phát triển; đồng thời xác lập việc hợp tác giữa các quốc gia vừa là quyền nhưng cũng là nghĩa vụ của họ trong quan hệ quốc tế.
5. Nguyên tắc dân tộc tự quyết
a. Sự hình thành nguyên tắc
– Tôn trọng quyền của các dân tộc được tự do lựa chọn con đường và hình thức phát triển là một trọng những cơ sở quan trọng để thiết lập các quan hệ quốc tế. Quyền này được thể hiện một cách tập trung nhất trong nguyên tắc dân tộc tự quyết, dựa trên nền tảng chủ quyền dân tộc.
– Ra đời trong giai đoạn khi mà quá trình phi thuộc địa hóa đã đạt tới đỉnh điểm, nguyên tắc dân tộc tự quyết đã thể hiện vai trò của LHQ trong quá trình đấu tranh cho quyền của các dân tộc. Đồng thời, nguyên tắc này đã hướng tới việc chống chủ nghĩa thực dân, tập trung chú ý vào việc giải phóng các dân tộc khỏi ách đô hộ.
– Ngày nay, quyền dân tộc tự quyết được hiện thực hóa trong đời sống quốc tế thông qua các quyền dân tộc cơ bản, bao gồm: quyền được độc lập của dân tộc; quyền bình đẳng với các dân tộc khác; quyền được sống trong hòa bình, an ninh, phát triển bền vững…Tôn trọng quyền dân tộc tự quyết đã trở thành nguyên tắc pháp lý quốc tế, được ghi nhận trong Hiến chương LHQ và trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng khác như: Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nưpớc và dân tộc thuộc địa năm 1960; hai Công ước về các quyền dân sự chính trị, quyền kinh tế-xã hội-văn hóa năm 1966; tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của LQT.
b. Nội dung của nguyên tắc
* “Quyền dân tộc tự quyết” được hiểu là việc một dân tộc hoàn toàn tự do trong việc tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước. Khoản 2 điều 1 Hiến chương LHQ ghi nhận “phát triển quán hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và dân tộc tự quyết”. Như vậy, khái niệm “dân tộc tự quyết” được nhắc đến trong Hiến chương LHQ không phải là quyền tự quyết của dân tộc theo nghĩa là sự tập hợp của các sắc tộc hoặc quyền tự quyết của các dân tộc thiểu số trong từng quốc gia. Quyền dân tộc tự quyết ở đây chỉ thuộc về nhân dân theo nghĩa là tất cả dân cư thường xuyên sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định – chủ thể luật quốc tế.
* Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của LQT đã khẳng định “Việc thiết lập một nhà nước độc lập có chủ quyền hay tự do gia nhập vào nhà nước độc lập khác hoặc liên kết với quốc gia đó cũng như việc thiết lập bất cứ chế độ chính trị nào do nhân dân tự do quyết định là các hình thực thể hiện quyền dân tộc tự quyết”. Như vậy, nguyên tắc dân tộc tự quyết bao hàm các nội dung sau:
– Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện;
– Tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế xã hội;
– Tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài;
– Quyền các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ và ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự;
– Tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý.
Tất cả các quyền nêu trên của mỗi dân tộc đều được các dân tộc và các quốc gia khác tôn trọng.
c. Ngoại lệ của nguyên tắc
Nguyên tắc này không thừa nhận bất kỳ ngoại lệ nào.

CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Bình luận mối quan hệ pháp lý giữa nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền với việc hình thành và thực hiện các nguyên tắc khác của luật quốc tế.
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nguyên tắc Pacta sunt servanda đối với sự phát triển các quan hệ pháp luật quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa.

CHƯƠNG III
CHỦ THỂ LUẬT QUỐC TẾ

Mục đích nghiên cứu:
– Trong bất kỳ quan hệ pháp luật nào, chủ thể tham gia đóng vai trò vô cùng quan trọng và là một trong những dấu hiệu để xác định quan hệ nào đó có thuộc phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật đó hay không? Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau nghiên cứu về một trong những đặc trưng quan trọng của luật quốc tế, đó là vấn đề về chủ thể của luật quốc tế.
– Nghiên cứu về chủ thể luật quốc tế sẽ trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về các đối tượng được xác định là chủ thể của luật quốc tế, và địa vị pháp lý của các chủ thể trong đời sống quốc tế, trên cơ sở đó sinh viên có thể tự so sánh sự khác nhau giữa đối tựong là chủ thể của luật quốc tế và đối tượng là chủ thể của luật quốc gia; vấn đề công nhận quốc tế, kế thừa quốc tế…
Tài liệu tham khảo: Nghiên cứu vấn đề này, sinh viên cần tham khảo các tài liệu sau:
1. Giáo trình luật quốc tế trường Đại học Luật Hà Nội
2. Luật quốc tế – lý luận và thực tiễn
3. Tuyên bố Montevideo về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia ngày 27/12/1933

I. KHÁI NIỆM
1. Định nghĩa
– Khác với các chủ thể thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc gia, các chủ thể của luật quốc tế không xuất hiện tại cùng một thời điểm với nhau. Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế, do tính chất quyền năng chủ thể khác nhau nên vai trò của các chủ thể luật quốc tế cũng khác nhau. Về cơ bản, việc xác định một thực thể là chủ thể của luật quốc tế có một số dấu hiệu sau:
– Có sự tham gia vào các quan hệ quốc tế do luật quốc tế điều chỉnh
– Có ý chí độc lập (không phụ thuộc vào các chủ thể khác) trong sinh hoạt quốc tế;
– Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của luật quốc tế;
– Có khả năng gánh vác những trách nhiêm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể đã thực hiện gây ra.
Căn cứ vào các dấu hiệu nêu trên, có thể thấy: Chủ thể luật quốc tế là[ những thực thể độc lập tham gia vào những quan hệ do luật quốc tế điều chỉnh, có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ và khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế từ những hành vi mà chính chủ thể thực hiện.
– Như đã tìm hiểu tại Chương 1, chúng ta biết rằng chủ thể của luật quốc tế bao gồm: Quốc gia, tổ chức quốc tế, dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết, và một số thực thể đặc biệt khác. Trong đó, quốc gia được xác định là chủ thể truyền thống và phổ biến nhất của luật quốc tế.
* Phân loại chủ thể LQT
Căn cứ vào nội dung quyền năng chủ thể, các chủ thể luật quốc tế được phân thành:
– Chủ thể cơ bản của luật quốc tế là quốc gia
– Chủ thể phái sinh là các tổ chức quốc tế liên chính phủ
– Chủ thể quá độ là các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết.
2. Quyền năng chủ thể luật quốc tế
– Quyền năng chủ thể luật quốc tế là những phương diện thể hiện khả năng pháp lý đặc trưng của những thực thể pháp lý được hưởng những quyền và gánh vác những nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý trong quan hệ quốc tế theo quy định của LQT. có thể xem xét quyền năng chủ thể này theo 2 góc độ:
+ Về lý luận: Là thuộc tính chủ quyền gắn với địa vị pháp lý quốc tế của quốc gia trong các quan hệ pháp lý quốc tế, tạo nên sự phân biệt về địa vị pháp lý của quốc gia với chủ thể do quốc gia tạo ra là tổ chức quốc tế liên quốc gia (liên chính phủ).
+ Về pháp lý: Quốc gia, tổ chức quốc tế và dân tộc đang đấu tranh giành độc lập được thừa nhận là những thực thể có những quyền và nghĩa vụ quốc tế cơ bản xuất phát từ chính khả năng thực tế của những thực thể này khi tham gia vào các quan hệ pháp lý quốc tế.
Nhận xét:Trong[ tất cả các chủ thể nêu trên, quốc gia được xác định là loại chủ thể đặc biệt với đặc trưng nổi bật là sự tồn tại có tính quyết định của yếu tố chủ quyền. Chủ quyền đem lại cho quốc gia vị trí trung tâm của mọi mối quan hệ pháp lý quốc tế, là chủ thể tự xác định phạm vi quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý quốc tế cho chính mình và cho các chủ thể hay thực thể khác. Vì vậy, sự tham gia của các chủ thể khác vào quan hệ pháp luật quốc tế đều bị chi phối, ảnh hưởng bởi vai trò trung tâm của quốc gia.
II. QUỐC GIA – CHỦ THỂ CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ
1. Quốc gia và những yếu tố cấu thành quốc gia
(Câu hỏi: Quốc gia được cấu thành từ những yếu tố nào?)
Quốc gia là một phần tạo nên cộng đồng quốc tế, hiện nay trong khoa học pháp lý quốc tế chưa có một định nghĩa thống nhất được chấp nhận chung về thuật ngữ “quốc gia”. Tuy nhiên, tại điều 1 Tuyên bố Montevideo về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia được thông qua tại Hội nghị quốc tế các nước châu Mỹ ngày 27/12/1933 có đưa ra một vài yếu tố chính dẫn đến sự hình thành quốc gia, đó là:
– Thứ nhất, có lãnh thổ xác định: đây là dấu hiệu cơ bản nhất hình thành quốc gia. Không tồn tại lãnh thổ thì không thể có quốc gia. Lãnh thổ quốc gia được xác định là một phần của trái đất và được coi là cơ sở vật chất cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia. Lãnh thổ quốc gia là ranh giới để xác định chủ quyền quốc gia đối với dân cư của mình. Vấn đề kích thước lãnh thổ rộng hay hẹp, địa hình thuận lợi hay bất lợi đều không có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại hay mất đi của danh nghĩa quốc gia.
– Thứ hai, có cộng đồng dân cư ổn định: Theo nghĩa rộng, dân cư của một quốc gia là tất cả những người sinh sống trên lãnh thổ một quốc gia nhất định và tuân theo pháp luật của nhà nước đó. Theo nghĩa hẹp, dân cư dùng để chỉ tất cả những người có quốc tịch của quốc gia đó.Mối quan hệ pháp lý ràng buộc giữa nhà nước với cộng đồng dân cư của quốc gia chủ yếu thông qua chế định quốc tịch.
– Thứ ba, có chính phủ với tư cách là người đại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc tế. Chính phủ này phải là chính phủ thực thi một cách có hiệu quả quyền lực nhà nước trên phần lớn hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia một cách độc lập, không bị chi phối, khống chế bởi quốc gia khác.
– Thứ tư, có khả năng độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế: “khả năng” này có được xuất phát từ chủ quyền quốc gia khi thực hiện chức năng đối ngoại của mình.
Cùng phân tích ví dụ: Hiện nay, có rất nhiều quan điểm cho rằng Vaticang là quốc gia nhỏ nhất thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế Vaticăng không phải là một quốc gí độc lập theo đúng nghiã. Nhìn dưới góc độ các yếu tố cấu thành ta thấy: Tòa thánh Vaticăng có lãnh thổ xác dịnh với diện tích rất nhỏ khoảng 0,4km2 và nằm trọn trong lãnh thổ của Italia, có dân cư sinh sống khoảng 1000 người, có bộ máy điều hành, có khả năng tham gia một cách độc lập vào các quan hệ pháp luật quốc tế nhất định (Tòa thánh Vaticăng đã tham gia một số công ước quốc tế như: Công ước Viên 1961 về thiết lập quan hệ ngoại giao, tòa thánh còn tham gia với tư cách quan sát viên của một số tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc…). Nhìn vào hình thức bên ngoài, Tòa thánh giống như một quốc gia tồn tại độc lập, nhưng nếu xem xét sâu xa các yếu tố này, Vaticăng lại không phải một quốc gia, vì:
+ Về lãnh thổ mà Vaticăng đặt trụ sở thực chất thuộc về Italia, Vaticăng có được lãnh thổ này là do một điều ước quốc tế được ký kết giữa Italia và Vaticăng.
+ Về dân cư, thực chất những người dân sống tại Vaticăng đều là công dân của rất nhiều quốc gia khác nhau: Thụy Sỹ, Italia…họ chỉ được coi là dân cư của Vaticăng khi họ  Yếu tố dân cư không mang tính ổn định, họ xuất hiện chủ[phục vụ cho Giáo hoàng  yếu mang tính thực hiện công vụ với Vaticăng.
+ Về Chính phủ: Giáo hoàng của Vaticăng không phải là một thiết chế quyền lực và Vaticăng không có các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước. Do đó, khi cần để duy trì quyền lực nhà nước hay  Chính Phủ này không giống[trật tự, Vaticăng cần phải có sự trợ giúp của Italia  Chính phủ khác trên thế giới.
Từ những phân tích trên đây có thể thấy,[ Vaticăng chỉ là một thiết chế mang tính tôn giáo. Sở dĩ nó đựợc cho là chủ thể của LQT vì trong các giai đoạn lịch sử phát triển của LQT, Vaticăng đóng vai trò quan trọng khi trở thành trung gian hòa giải một số tranh chấp, bất hoà trong quan hệ quốc tế. Do đó, họ được phép tham gia vào một số điều ước quốc tế nhất định.
* Thuộc tính chính trị – pháp lý của quốc gia: Khi một thực thể được tạo lên bởi bốn yếu tố trên thì nó sẽ trở thành quốc gia và đương nhiên có thuộc tính chính trị pháp lý là chủ quyền quốc gia, bao gồm 2 nội dung chính là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình (quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp…) và quyền độc lập trong các quan hệ quốc tế (có đường lối đối ngoại độc lập, tự do lựa chọn việc tham gia hay không tham gia tổ chức quốc tế hoặc thiết lập quan hệ với quốc gia khác…).
*Phân biệt giữa yếu tố cấu thành quốc gia và thuộc tính chính trị-pháp lý của quốc gia. Việc xem xét yếu tố cấu thành để trả lời cho câu hỏi một thực thể nào đó có phải là quốc gia hay không? Vì bên cạnh quốc gia còn có các chủ thể đặc biệt khác. Chủ quyền không phải yếu tố cấu thành quốc gia nhưng nó tạo ra địa vị pháp lý bình đẳng giữa các quốc gia trong quan hệ pháp luật quốc tế).
(Câu hỏi: Để xem xét một thực thể nào đó có phải là quốc gia hay không có căn cứ vào yếu tố chủ quyền không? Không. Mà phải dựa vào các yếu tố cấu thành quốc gia. Khi một thực thể nào đó có  thực thể đó sẽ trở thành quốc gia và luôn”đầy đủ 4 yếu tố cấu thành nêu trên  luôn có thuộc tính chủ quyền. Chủ quyền là thuộc tính tự nhiên vốn có của bất kỳ quốc gia nào, có thể trong những trường hợp nhất định chủ quyền này có thể bị hạn chế, nhưng đã là quốc gia thì luôn có chủ quyền).
2. Quyền năng chủ thể LQT của quốc gia
– Quyền năng chủ thể LQT của quốc gia là tổng thể những quyền và nghĩa vụ mà quốc gia có được khi tham gia vào quan hệ pháp lý quốc tế. Quốc gia là chủ thể duy nhất có quyền năng đầy đủ khi tham gia quan hệ quốc tế, điều này thể hiện ở các quyền và nghĩa vụ quốc tế cơ bản sau:
* Quyền quốc tế cơ bản:
– Quyền bình đẳng về chủ quyền và quyền lợi;
– Quyền được tự vệ cá nhân hoặc tự vệ tập thể;
– Quyền được tồn tại trong hòa bình và độc lập;
– Quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ;
– Quyền được tham gia vào việc xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế;
– Quyền được trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế phổ biến.
*Nghĩa vụ quốc tế cơ bản:
– Tôn trọng chủ quyền của các quốc gia;
– Tôn trọng sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ của các quốc gia khác;
– Không áp dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực;
– Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
– Hợp tác hữu nghị với các quốc gia khác nhằm duy trì hòa bình, an ninh quốc tế;
– Tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ quốc tế;
– Tôn trọng những quy phạm Jus Cogens và những cam kết quốc tế;
– Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hòa bình.
Ngoài các quyền và nghĩa vụ trên đây, các quốc gia[ khi tham gia quan hệ pháp luật quốc tế có thể tự hạn chế những quyền và nghĩa vụ của mình trong những lĩnh vực và phạm vi nhất định, không trái với các quy ước quốc tế.
VD: Thụy Sỹ tự hạn chế quyền và nghĩa vụ của mình khi tuyên bố theo đuổi con đường trung lập.
– Cũng có trường hợp quốc gia có thể gánh vác thêm những quyền và nghĩa vụ bổ sung nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
VD: Quyền vecto của 5 thành viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ. Ngoài những quyền và nghĩa vụ cơ bản như các thành viên khác họ cũng gánh vác thêm những quyền và nghĩa vụ khác.
Tuy nhiên, những việc làm này không nhằm mục[ đích đưa đến một kết quả là quốc gia tự hạn chế hay mở rộng hơn chủ quyền đã được quy định trong quy chế pháp lý của quốc gia, mà quốc gia đang thực hiện chủ quyền về đối ngoại của mình xuất phát từ ý chí tự nguyện của quốc gia trong quan hệ quốc tế.
III. CÁC CHỦ THỂ KHÁC CỦA LUẬT QUỐC TẾ
1. Dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết
* Khi tham gia quan hệ quốc tế và thực hiện các chức năng chính trị của mình, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết được luật quốc tế hiện đại thừa nhận là những chủ thể đang trong giai đoạn quá độ để tiến lên thành lập một quốc gia dân tộc độc lập, có chủ quyền. Nói cách khác, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập là chủ thể quá độ lên chủ thể cơ bản của luật quốc tế hiện đại. Tuy nhiên, với tính chất chủ thể như vậy, nên các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và các quốc gia đều là những chủ thể chủ yếu của luật quốc tế hiện đại và là những chủ thể bình đẳng với nhau về mặt pháp lý.
* Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết phát sinh từ chủ quyền dân tộc, được dân tộc đó thực hiện và bảo vệ. Xuất phát từ chủ quyền dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết, các dân tộc đang đấu tranh nhằm thành lập một quốc gia dân tộc độc lập có những quyền dân tộc cơ bản sau:
– Được thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình trong bất cứ hình thức nào, dưới bất cứ dạng nào, kể cả việc áp dụng những biện pháp để chống lại nước đang cai trị mình;
– Được pháp luật quốc tế bảo vệ và các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, các tổ chức quốc tế…giúp đỡ;
– Quyền được thiết lập những quan hệ với các chủ thể khác của LQT hiện đại;
– Được tham gia vào hoạt động của các tổ chức quốc tế và hội nghị quốc tế liên chính phủ;
– Được tham gia vào quá trình xây dựng các quy phạm luật quốc tế và độc lập trong quá trình thực thi luật quốc tế.
Cũng như các chủ thể khác của luật quốc tế hiện đại, đi đôi với các quyền quốc tế cơ bản, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết cũng có những nghĩa vụ quốc tế cơ bản. Đó là ng.ĩa vụ tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, tôn trọng các quyền của các dân tộc khác, của các chủ thể khác của luật quốc tế hiện đại.
2. Tổ chức quốc tế liên chính phủ
* Khái niệm: Trong thời đại ngày nay, tổ chức quốc tế giữ vai trò rất quan trọng trong việc hợp tác quốc tế, giải quyết các vấn đề quốc tế quan trọng, duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Tổ chức quốc tế là chủ thể của luật quốc tế được hiểu là tổ chức quốc tế liên chính phủ-là tổ chức do các quốc gia thành lập lên trên cơ sở một điều ước quốc tế nhằm thực hiện các quyền năng nhất định theo tôn chỉ, mục đích thành lập tổ chức đó, phù hợp với pháp luật quốc tế hiện đại.
Như vậy, khác với quốc gia, tổ[ chức quốc tế liên chính phủ có được quyền năng chủ thể luật quốc tế không phải căn cứ vào thuộc tính tự nhiên vốn có là chủ quyền, mà do sự thỏa thuận của các quốc gia thành viên. Phạm vi quyền năng chủ thể của các tổ chức quốc tế liên quốc gia được xác định cụ thể trong điều lệ của chính tổ chức đó. Do đó, số [lượng các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức quốc tế khác nhau sẽ khác nhau  Điểm khác biệt này thể hiện ở chỗ: Quốc gia có thể tham gia ký kết bất kỳ điều ước quốc tế nào xuất phát từ lợi ích của chính mình. Còn tổ chức quốc tế không tự xác định được phạm vi quyền và nghĩa vụ cho mình khi tham gia quan hệ pháp lý quốc tế, mà tham gia trong phạm vi được các thành viên trao quyền. Do đó, tổ chức quốc tế là chủ thể phái sinh, chủ thể có quyền năng hạn chế (không đầy đủ) của luật quốc tế.
VD: WTO không được tham gia ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề an ninh, quốc phòng…theo thỏa thuận của các thành viên, WTO chỉ tham gia các điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực thương mại hành hoá, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ…
*Quyền và nghĩa vụ của tổ chức quốc tế liên quốc gia: Nhìn chung các tổ chức quốc tế liên chính phủ có các quyền quốc tế cơ bản sau đây:
– Quyền được ký kết các Điều ước quốc tế;
– Quyền được tiếp nhận cơ quan đại diện của các quốc gia thành viên và nhận các quan sát viên thường trực của các quốc gia chưa là thành viên của tổ chức cử đến;
– Quyền được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao;
– Quyền được trao đổi đại diện tại các tổ chức của nhau;
– Quyền được yêu cầu có các kết luận tư vấn của tòa án quốc tế của Liên hợp quốc;
– Quyền được giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các thành viên với nhau và giữa thành viên với tổ chức quốc tế.
– Hưởng các quyền theo quy định của điều ước quốc tế mà tổ chức tham gia ký kết với các quốc gia hoắc các tổ chức quốc tế khác.
Ngoài các quyền cơ bản nêu trên, tổ chức quốc tế liên chính phủ có nghĩa vụ tôn trọng các nguyên tắc của luật quốc tế, tôn trọng các quyền của tổ chức quốc tế và các chủ thể khác của luật quốc tế; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của một chủ thể luật quốc tế.
IV. CÔNG NHẬN QUỐC TẾ
1. Khái niệm
a. Sự xuất hiện và tồn tại trên trường quốc tế những quốc gia trẻ, mới giành được độc lập và việc thành lập tại nhiều quốc gia những chính phủ mới có quy chế pháp lý hoàn toàn khác với quy chế pháp lý của chính phủ đã tồn tại trước đó trong cộng đồng quốc tế tất yếu sẽ gây nên những phản ứng khác nhau cho các quốc gia, các chính phủ khác. Trước các sự kiện trên, các quốc gia, các chính phủ khác thường có những hành động nhất định nhằm thể hiện thái độ, phản ứng của mình, qua đó bày  Đây là cơ sở đặt ra vấn đề công nhận[tỏ quan điểm của mình đối với sự kiện này  trong luật quốc tế. Như vậy, hành vi công nhận được đặt ra khi có sự xuất hiện của quốc gia mới hoặc người đại diện mới cho quốc gia trong quan hệ quốc tế.
b. Định nghĩa: Như vậy, công nhận quốc tế là hành vi chính trị – pháp lý của quốc gia công nhận dựa trên nền tảng các động cơ nhất định (mà chủ yếu là động cơ chính trị, kinh tế, quốc phòng) nhằm xác nhận sự tồn tại của thành viên mới trong cộng đồng quốc tế, khẳng định quan hệ cuả quốc gia công nhận đối với chính sách, chế độ chính trị, kinh tế của thành viên mới và thể hiện ý định muốn được thiết lập các quan hệ bình thường, ổn định với thành viên mới của cộng đồng quốc tế trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống quốc tế.
2. Công nhận và quyền năng chủ thể LQT của quốc gia được công nhận
Câu hỏi: hành vi công nhận có tạo ra quyền năng chủ thể LQT của quốc gia được công nhận hay không?
Liên quan đến vấn đề này, trong thực tiễn quan hệ quốc tế tồn tại một số các học thuyết với những quan điểm khác nhau. Trong đó, nổi lên 2 học thuyết đó là:
• Thuyết cấu thành: Thuyết cấu thành (hay còn gọi là thuyết sáng lập ra chủ thể LQT) xuất hiện vào đầu thế kỉ 19. Nội dung cơ bản của thuyết này cho rằng hành vi công nhận sẽ tạo ra quyền năng chủ thể LQT cho quốc gia được công nhận. Theo đó, ngoài 4 yếu tố cấu thành quốc gia, quốc gia phải được các quốc gia khác công nhận mới có tư cách là chủ thể LQT. Hạn chế lớn nhất của thuyết này đó là gắn sự tồn tại của một quốc gia vào ý chí chủ quan của một quốc gia khác. Điều này tạo ra sự bất bình đẳng về nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia và do đó nó mâu thuẫn với nội dung của LQT hiện đại.
• Thuyết tuyên bố: Thuyết này được hình thành từ trào lưu chống lại thuyết cấu thành của các luật gia quốc tế tư sản. Nội dung của thuyết này cho thấy, hành vi công nhận không tạo ra quyền năng chủ thể LQT cho quốc gia được công nhận, mà hành vi công nhận chỉ có ý nghĩa như một tuyên bố về sự tồn tại của quốc gia mới trong quan hệ quốc tế. Học thuyết này được sử dụng và được thừa nhận phổ biến hơn thuyết cấu thành.
VD: sau năm 1945, Việt nam DCCH trở thành 1 quốc gia độc lập và có đầy đủ quyền năng tham gia quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, do chưa được hầu hết các quốc gia công nhận nên khả năng thực hiện quyền năng chủ thể LQT của VNDCCH bị hạn chế rất nhiều.Ví như việc tham gia LHQ. VNDCCH có nộp đơn yêu cầu. Tuy nhiên, theo thủ tục thông qua các nghị quyết của LHQ là phải có 9/15 phiếu (trong đó có 5 phiếu của các UVTT của HĐBALHQ), nhưng VN bị 3 quốc gia là Mỹ, Pháp và Trung Quốc bỏ phiếu phủ quyết với lý do các quốc gia này không công nhận VNDCCH là một quốc gia độc lập. Tuy nhiên, đến năm 1977 do có sự công nhận của hầu hết các quốc gia này nên VN đã trở thành thành viên của LHQ.
Nhận xét:[ Như vậy, công nhận sự tồn tại của một quốc gia mới đối với quốc gia tiến hành việc công nhận là hành vi pháp lý dựa trên chủ quyền quốc gia (là quyền của quốc gia). Pháp luật quốc tế không đặt ra nghĩa vụ phải công nhận quốc gia mới cho mỗi chủ thể LQT. Tiến hành các hành vi công nhận mang tính pháp lý, chính trị, quốc gia công nhận thường dựa trên những động cơ, mục đích nhất định nhằm thực hiện ý định, mong muốn thiết lập quan hệ bình thường và ổn định ở nhiều lĩnh vực khác nhau với quốc gia được công nhận. Và việc công nhận hay không công nhận của các quốc gia đối với quốc gia mới xuất hiện không làm ảnh hưởng đến tư cách quốc gia của thực thể đó. Tuy nhiên, hành vi công nhận của các quốc gia khác sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho quốc gia được công nhận khi tham gia vào các quan hệ quốc tế.
3. Các thể loại công nhận quốc tế, hình thức và phương pháp công nhận
a. Các thể loại công nhận quốc tế: Trong thực tiễn quan hệ quốc tế có nhiều thể loại công nhận khác nhau, như: công nhận mặt trận dân tộc giải phóng, công nhận các bên khởi nghĩa, công nhận các bên tham chiến… Song, công nhận quốc gia và công nhận chính phủ mới thành lập là hai thể loại công nhận cơ bản của công nhận quốc tế.
Công nhận quốc gia: Bản chất của công nhận quốcv gia là công nhận chủ thể mới trong quan hệ quốc tế. Việc công nhận quốc gia được đặt ra khi có một quốc gia mới xuất hiện. Thông thường, các quốc gia mới được hình thành chủ yếu theo một trong các con đường sau:
– Theo cách truyền thống và cổ điển nhất: tại các lãnh thổ vô chủ không có người sống, một nhóm  bắt đầu có sự thiết lập chế độ quản lý”người đến sinh sống trên lãnh thổ đó  nhằm duy trì trật tự xã hội và tăng cường quyền lực để mở rộng đất đai…Như vậy, quốc gia hình thành theo con đường truyền thống là sự tập hợp dần dần của 4 yếu tố cấu thành quốc gia. Yếu tố quan trọng nhất để quốc gia được hình thành theo cách này là phải tồn tại lãnh thổ vô chủ. Tuy nhiên, hiện nay lãnh thổ vô chủ hầu như không còn tồn tại trong quan hệ quốc tế, vì bên cạnh lãnh thổ quốc gia (nơi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn), thì các lãnh thổ khác (bao gồm cả các hành tinh) cũng được cộng đồng quốc tế xác lập cho nó quy chế của lãnh thổ quốc tế – nơi các quốc gia không có quyền chiếm hữu và định đoạt, nhưng có quyền sử  Do đó, hiện nay quốc gia mới không còn được hình thành theo cách này.[dụng.
– Hiện nay, quốc gia mới được hình thành chủ yếu theo các con đường: chia tách (Liên Xô cũ tách thành 15 quốc gia) hay hợp nhất quốc gia (VD: CHLB Đức được hợp nhất từ Đông Đức và Tây Đức); thông qua con đường đấu tranh giải phóng dân tộc (Việt Nam sau năm 1945), hoặc quốc gia hình thành từ Cách mạng xã hội (CMT10 Nga). Đối với trường hợp quốc gia cũ nhưng chính phủ mới (thường thông qua đảo chính), cộng đồng quốc tế sẽ bày tỏ thái độ, quan điểm của mình trước sự xuất hiện của chủ thể mới hay người đại diện mới cho quốc gia trong các quan hệ  những phản ứng quốc tế như vậy thường đưa đến những hệ quả pháp lý[quốc tế  nhất định, làm thay đổi hoặc củng cố thêm các mối quan hệ quốc tế đa dạng giữa các quốc gia. Đồng tình hay không đồng tình, ủng hộ hay không ủng hộ…chính là biểu hiện của hành vi công nhận hay không công nhận trong quan hệ quốc tế.
Về pháp lý, bất kỳ quốc gia nào mới hình thành trong LQT không đặt ra điều kiện công nhận.
Công nhận chính phủ: Việc công nhận Chính phủ mới chỉv đuwocj đặt ra trong trường hợp chính phủ mới được thành lập không bằng con đường hợp hiến. Bản chất của công nhận Chính phủ mới là công nhận người đại diện hợp pháp cho một quốc gia vẫn đang tồn tại trong quan hệ quốc tế (trong trường hợp quốc gia mới được hình thành thì sự công nhận quốc gia mới đồng thời bao hàm cả việc công nhận chính phủ mới của quốc gia đó. Do đó, không đặt ra vấn đề công nhận riêng chính phủ trong trường hợp này). Chính phủ mới xuất hiện chủ yếu dưới 2 hình thức là chính phủ de jure (là kết quả về mặt pháp lý) và chính phủ de facto (hình thành chủ yếu do đảo chính). Tuy nhiên, việc công nhận chỉ đặt ra đối với chính phủ de facto vì: nó là chính phủ phi hiến, quốc gia khác muốn thiết lập quan hệ với chính phủ này phải tiến hành công nhận. Khác với công nhận quốc gia mới, để được công nhận, chính phủ mới thành lập phải thỏa mãn 3 điều kiện để chứng minh cho tính hữu hiệu của mình đó là:
– Yếu tố không gian: chính phủ đó phải kiểm soát toàn bộ hoặc phần lớn lãnh thổ quốc gia.
– Yếu tố thời gian: Chính phủ đó phải có khả năng để duy trì quyền lực của mình trong một thời gian dài.
– Chính phủ đó phải được sự ủng hộ của đông đảo dân chúng
b. Hình thức công nhận: Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, cho đến nay chưa có một hình thức công nhận nào được áp dụng chung thống nhất đối với các thể loại và đối với các trường hợp công nhận cụ thể. Nhìn chung, có 3 hình thức công nhận chủ yếu được đua ra trong quan hệ quốc tế, đó là: công nhận de jure, công nhận de facto và công nhận ad hoc. 3 hình thức công nhận này biểu hiện 3 cấp độ công nhận khác nhau trong sinh hoạt quốc tế, điều này thể hiện ở chỗ:
Công nhận de jure Công nhận de facto Công nhận ad hoc
– Đây là hành vi công nhận chính thức ở mức độ đầy đủ nhất, toàn diện nhất. – Đây là hành vi công nhận chính thức nhưng chưa đầy đủ, chưa toàn diện. – Là hình thức công nhận không chính thức, quan hệ giữa các bên chỉ phát sinh trong một phạm vi nhất định nhằm giải quyết một vụ việc cụ thể, và quan hệ đó sẽ chấm dứt ngay sau khi hoàn thành công việc.
– Động cơ: thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối và thực sự muốn thiết lập quan hệ với bên được công nhận – Thể hiện sự thận trọng, e ngại và miễn cưỡng trong việc thiết lập quan hệ
– Tính chất: là hình thức công nhận vĩnh viễn, không thể bị hủy bỏ – Là hình thức công nhận tạm thời, có thể bị hủy bỏ hoặc duy trì và nâng lên thành công nhận de jure, tùy thuộc vào động cơ công nhận
– Hệ quả pháp lý: nhằm thiết lập quan hệ ngoại giao trên tất cả các phương diện – là cơ sở cho việc thiết lập các quan hệ lãnh sự, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, thương mại
– Khác với công nhận ad hoc-là hình thức công nhận mang tính vụ việc, 2 hình thức công nhận de jure và de facto là hình thức công nhận chính thức, quan hệ giữa quốc gia công nhận và quốc gia được công nhận trong 2 hình thức này được duy trì thường xuyên.
VD: Năm 1976 Mỹ thực thi chính sách cấm vận đối với Việt nam, tuy nhiên trong thời gian này, Mỹ cũng tiến hành công nhận ad hoc với Việt nam bằng cách ký một loạt các hiệp định song phương liên quan đến vấn đề tìm kiếm hài cốt liệt sỹ Mỹ mất tích tại Việt nam…
c. Phương pháp công nhận: Là cách thức mà các quốc gia thể hiện thái độ của mình. luật quốc tế hiện đại không bắt buộc các quốc gia hay chủ thể khác phải áp dụng phương pháp công nhận cụ thể nào cho từng trường hoạp công nhận khác nhau. Việc lựa chọn phương pháp công nhận nào hoàn toàn xuất phát từ sự lựa chọn của chủ thể công nhận. Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy có 2 phương pháp công nhận thường được áp dụng là công nhận minh thị và công nhận mặc thị.
– Công nhận minh thị: Là sự công nhận được thể hiện rõ ràng, minh bạch, thông qua các hành vi rõ rệt, cụ thể của quốc gia công nhận trong các văn bản chính thức (như công hàm, văn kiện ngoại giao…).
VD: Nga công khai tuyên bố công nhận độc lập của Nam Ossetia và Apkhazia
– Công nhận mặc thị: Là sự công nhận được thể hiện một cách kín đáo, ngấm ngầm mà bên được công nhận hoặc các quốc gia và chính phủ khác phải dựa vào tập quán hay các nguyên tắc suy diễn trong quan hệ quốc tế mới làm sáng tỏ được ý định của bên công nhận.
VD: – Hoa kỳ mặc nhiên công nhận Việt Nam DCCH khi ký kết Hiệp định Pari năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt nam.
– quốc gia A không công khai công nhận quốc gia B, nhưng lại thiết lập các quan hệ kinh tế, thương mại, trao đổi phái đoàn ngoại giao với B.
4. Hệ quả pháp lý của hành vi công nhận
– Công nhận không tạo ra chủ thể mới của LQT, nhưng việc công nhận là cơ sở để thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ bình thường giữa các quốc gia.
– Tạo cho quốc gia mới có điều kiện để tham gia vào các quan hệ quốc tế: tham gia xây dựng LQT, tham gia các tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế, tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế có liên quan đến mình.
– Tạo điều kiện cho quốc gia mới phát triển về mọi mặt: kinh tế, xã hội…
– Là cơ sở để giải quyết triệt để vấn đề quy chế pháp lý quốc gia. Nếu quốc gia không được công nhận sẽ gặp khó khăn khi tham gia quan hệ quốc tế (VD: không được hưởng quyền miễn trừ quốc gia).
V. KẾ THỪA TRONG LUẬT QUỐC TẾ
Vấn đề kế thừa quốc gia thường được đặt ra khi có sự thay đổi triệt để về chủ quyền của một quốc gia tại một lãnh thổ nhất định. Sự thay đổi triệt để về chủ quyền đó có thể là kết quả của việc xuất hiện hoặc chấm dứt sự tồn tại của một quốc gia.
1. Khái niệm
– Kế thừa quốc gia là sự chuyển dịch quyền và nghĩa vụ quốc tế từ quốc gia này sang quốc gia khác có liên quan đến vùng lãnh thổ nhất định.
VD: Liên Bang Nga kế thừa tư cách ủy viên thường trực của HĐBALHQ của Liên Xô cũ
* Xem xét kế thừa dưới góc độ quan hệ pháp luật quốc tế thì:
– Chủ thể của quan hệ kế thừa là các quốc gia. Bao gồm các quốc gia để lại kế thừa và các quốc gia kế thừa.
– Đối tượng kế thừa: là các quyền và nghĩa vụu quốc tế được chuyển dịch từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong thực tế, quan hệ kế thừa thường đề cập tới các quyền và nghĩa vụ liên quan đến lãnh thổ, tài sản, các điều ước quốc tế và quy chế thành viên tại các tổ chức quốc tế.
– Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi quyền thừa kế: Sự kiện làm xuất hiện quan hệ này là sự thau đổi về chủ quyền quốc gia trên một lãnh thổ nào đó. Sự thay đổi này có thể là sự hình thành quốc gia mới (do tách, hợp nhất…) hoặc khi có sự chuyển dịch lãnh thổ (nghiã là lãnh thổ của quốc ginày chuyển nhượng một phần cho quốc gia khác. Đây là phương thức không hình thành quốc gia mới). VD: Hồng Kông, Macao của trung Quốc được chuyển dịch cho Anh và Bồ Đào Nha.
2. Thực tiễn về giải quyết kế thừa quốc gia trong một số lĩnh vực chủ yếu
*Kế thừa quyền sở hữu đối với tài sản: Giải quyết kế thừa liên quan đến vấn đề tài sản luôn được đặt ra trong mọi trường hợp kế thừa quốc gia. Và cách giải quyết chủ yếu phụ thuộc vào tính chất sở hữu tài sản và quan điểm, cách nhìn nhận của mỗi quốc gia khi được kế thừa. Thông thường, đối với các quốc gia ra đời sau thời kỳ phi thực dân hóa đều có quan điểm quốc hữu hóa tài sản của tư nhân hoặc của quốc gia thực dân để lại không có bồi thường. Việc quốc gia kế thừa có tiến hành quốc hữu hóa, hay trưng dụng, trưng thu…hoàn toàn phụ thuộc vào quốc gia kế thừa dựa trên cơ sở lợi ích của quốc gia đó. Trong một số trường hợp vấn đề kế thừa tài sản có thể do các bên tự thỏa thuận như trường hợp tách hoặc chuyển nhượng, trao đổi lãnh thổ).
* Kế thừa quy chế thành viên tại tổ chức quốc tế hoặc nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế. Đây là một nội dung quan trọng được đặt ra khi giải quyết vấn đề kế thừa quốc gia.
– Với điều ước quốc tế mà quốc gia để lại kế thừa đang là thành viên, quốc gia kế thừa có thể tiếp tục thực hiện những điều ước phù hợp với lợi ích quốc gia; hoặc thừa nhận hiệu lực của mọi điều ước mà quốc gia để lại kế thừa đã ký kết hoặc tham gia. Riêng đối với các điều ước liên quan đến biên giới quốc gia-lãnh thổ, điều ước về nhân quyền, điềuước tạo ra một số các hoàn cảnh khách quan đặc biệt thì quốc gia kế thừa phải có nghĩa vụ tuân thủ.
– Kế thừa quy chế thành viên tại tổ chức quốc tế: quan hệ kế thừa này chỉ đặt ra khi quốc gia để lại kế thừa không còn tồn tại trên thực tế. Tuy nhiên, đối với trường hợp quốc gia mới được tách ra từ quốc gia liên bang, hoặc từ một quốc gia độc lập khác thì có quốc gia đương nhiên đựoc hưởng quy chế thành viên của một tổ chức quốc tế, trong khi quốc gia còn lại sẽ trở thành thành viên của chính tổ chức quốc tế đó thông qua thủ tục kết nạp thành viên mới.
VD: Khi Ấn Độ được tách ra thành Ấn Độ Và Pakistan, thì Ấn Độ đương nhiên là thành viên của Liên Hợp Quốc, còn Pakistan là thành viên của LHQ bằng con đường kết nạp thành viên mới.

CHƯƠNG IV
LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu chương IV sẽ cung cấp cho sinh viên những kiến thức chung liên quan đến điều ước quốc tế, đặc biệt là các giai đoạn của quá trình ký kết điều ước quốc tế trong quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế, làm nền tảng cho việc đối chiếu, so sánh và thấy được những sựu khác nhau cơ bản giữa việc hình thành pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Tài liệu tham khảo:
1. Giáo trình luật quốc tế
2. Hiến chương Liên Hợp Quốc
3. Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia
4. Công ước Viên năm 1986 về Luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế
5. Luật ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005

I. KHÁI NIỆM
1. Định nghĩa
– Trong quan hệ pháp lý quốc tế, luật điều ước quốc tế đóng vai trò vô cùng quan trọng. Một mặt, nó điều chỉnh quá trình quá trình hình thành khung pháp luật quốc tế thông qua việc hình thành một loạt các điều ước quốc tế khác nhau, mặt khác nó tham gia vào quá trình điều chỉnh hầu hết các quan hệ quốc tế nảy sinh trong các lĩnh vực của đời sống quốc tế.
Như vậy,[ luật điều ước quốc tế là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế bao gồm các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của các chủ thể luật quốc tế.
2. Nguồn của luật điều ước quốc tế
– Các quy phạm của luật điều ước quốc tế được ghi nhận chủ yếu trong các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế. Và hiện nay, các quy phạm này chủ yếu được pháp điển hóa trong 2 công ước quốc tế đó là: Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia và Công ước Viên năm 1986 về Luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế. Hai công ước này quy định khá chi tiết các vấn đề liên quan đến trình tự, thủ tục ký kết điều ước quốc tế, hiệu lực của điều ước quốc tế trong quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế.
– Phù hợp với pháp luật quốc tế, pháp luật Việt nam những năm gần đây cũng đã ban hành những văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế giữa Việt nam và các chủ thể khác của luật quốc tế. Trước đây chúng ta có Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998, hiện nay văn bản mới nhất điều chỉnh vấn đề này là Luật ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005. Đây là văn bản pháp lý quan trong chứa đựng những nguyên tắc và quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt nam với các chủ thể khác của luật quốc tế.
3. Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ký kết và thực hiện điều ước quốc tế
Gồm 3 nguyên tắc sau:
a. Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong quá trình ký kết điều ước quốc tế
– Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của luật quốc tế là không có các cơ quan lập pháp chuyên trách nên quá trình xây dựng luật quốc tế luôn được tiến hành bởi chính các chủ thể luật quốc tế. Đặc điểm này chi phối và có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế theo hướng việc ký kết này sẽ hoàn toàn dựa trên cơ sở là ý chí  Như vậy, sự bình đẳng trong quan hệ[tự nguyện của các bên tham gia kết ước.  này trở thành căn cứ để đánh giá tính hợp pháp của một điều ước quốc tế.
– Điều 49 Công ước Viên 1969 ghi nhận “Nếu một quốc gia đi đến quyết định ký kết một điều ước do việc xử sự dối trá của một quốc gia tham gia đàm phàn khác, thì quốc gia đó có thể nêu lên sự man trá này như là khiếm khuyết của sự đồng ý của mình chịu sự ràng buộc của điều ước”; hay tại điều 52 ” Mọi điều ước, mà việc ký kết đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực trái với những nguyên tắc của pháp luật quốc tế…đều là vô hiệu”. Như vậy, với những quy định trên đây của Công ước Viên 1969, thì những điều ước được ký kết mà có sự lừa dối, có sử dụng vũ lực hoặc ép buộc sẽ không có giá trị pháp lý.
Đây là nguyên tắc có ý nghĩa[ tiên quyết, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia quan hệ điều ước, tránh mọi sự áp đặt mang tính quyền lực từ bên ngoài. Đồng thời, nguyên tắc này cũng đã hạn chế sự lạm quyền và tình trạng không bình đẳng trong quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh của các chủ thể luật quốc tế.
b. Nguyên tắc điều ước quốc tế phải có nội dung phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
– Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được xem là thước đo giá trị hợp pháp của các quy phạm pháp luật quốc tế. Do đó, mọi quy phạm pháp luật quốc tế dù tồn tại dưới hình thức thành văn hay bất thành văn đều phải có nội dung không trái với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.
– Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa nội dung của điều ước quốc tế với các nguyên tắc cơ bản thì điều ước quốc tế sẽ đương nhiên không có giá trị pháp lý. Kể cả đối với các điều ước quốc tế đang có hiệu lực thi hành, nhưng khi xuất hiện một quy phạm Jus cogens mới của luật quốc tế thì điều ước đó cũng chấm dứt hiệu lực thi hành.
c. Nguyên tắc Pacta sunt servanda
– Đây là nguyên tắc rất quan trọng được nhắc đến trong hầu hết tất cả các quan hệ pháp luật quốc tế, trong đó bao gồm cả quan hệ điều ước. Điều 26 Công ước Viên 1969 quy định “Mọi điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên than gia và phải được các bên thi hành với thiện chí”. Như vậy, sự tận tâm và thiện chí của các bên tham gia kết ước trong trường hợp này đóng vai trò quan trọng, vừa là cơ sở, vừa là bảo đảm để chủ thể ký kết tự ràng buộc mình vào các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ điều ước. Việc không thi hành điều ước chỉ có thể được áp dụng trong một số trường hợp nhất định (xem lại chương 2).
II. KHÁI NIỆM ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
1. Định nghĩa
* Khái quát: Xem xét về phương diện lịch sử, điều ước quốc tế ra đời muộn hơn so với tập quán quốc tế. Tuy nhiên, với những ưu điểm riêng của mình, hiện nay điều ước quốc tế đã và đang trở thành một trong những loại nguồn cơ bản của luật quốc tế và được sử dụng như là một công cụ chủ yếu để điều chỉnh hầu hết các quan hệ hợp tác giữa các chủ thể của luật quốc tế.
* Căn cứ vào các quy định của luật quốc tế và thực tiễn sinh hoạt quốc tế, điều ước quốc tế được hiểu “là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trang một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó”.
– Liên quan đến khái niệm điều ước quốc tế, bên cạnh khái niệm chung được đưa ra trong các văn bản pháp lý quốc tế, luật quốc tế cũng tạo điều kiện cho các quốc gia, trong khả năng của mình được phép ban hành các văn bản pháp luật (nhưng phải đảm bảo tính phù hợp với pháp luật quốc tế) quy định về vấn đề trên. Cùng với pháp luật của các quốc gia khác, trong Luật ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005 cũng đã đưa ra khái niệm về điều ước quốc tế, theo đó điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là một bên ký kết được hiểu “là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi như hiệp ước, công ước, định ước, hiệp định, nghị định thư, công hàm trao đổi và danh nghĩa ký kết”.
Cách xác định trên đây của pháp luật Việt nam là có sự tương đồng và[ phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến khái niệm điều ước quốc tế.
2. Các đặc điểm đặc trưng của điều ước quốc tế: Từ định nghĩa nêu trên về điều ước quốc tế, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy một số đặc điểm đặc trưng tạo ra sự khác biệt giữa điều ước quốc tế và văn kiện quốc tế khác, cũng như thấy được sự khác biệt giữa điều ước quốc tế và các văn bản pháp lý quốc gia. Theo đó, để được coi là điều ước quốc tế, văn kiện pháp lý quốc tế phải đảm bảo một số đặc trưng sau:
Đặc trưng về chủ thể: chủ thể của điều ước quốcv tế phải là chủ thể của luật quốc tế (bao gồm: quốc gia, tổ chức quốc tế và các chủ thể khác của LQT).
Đặc trưng về hình thức của điều ước quốc tế: Trướcv tiên, chúng ta cần khẳng định ngay rằng: điều ước quốc tế tồn tại chủ yếu dưới hình thức văn bản. Trước đây, trong quan hệ quốc tế có sự xuất hiện của một số điều ước quân tử (bất thành văn), tuy nhiên các điều ước loại này hiện nay hầu như không còn tồn tại trong quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế. Xem xét đặc trưng về hình thức của điều ước quốc tế, chúng ta sẽ cùng xem xét một số vấn đề liên quan đến tên gọi của điều ước quốc tế, cơ cấu của điều ước quốc tế và ngôn ngữ của điều ước quốc tế.
* Về tên gọi của điều ước quốc tế: “Điều ước quốc tế” là tên khoa học pháp lý chung (gần giống với danh từ “văn bản quy phạm pháp luật” trong hệ thống pháp luật quốc gia) để chỉ các văn bản pháp luật quốc tế do hai hay nhiều chủ thể luật quốc tế ký kết.
– Việc xác định tên gọi cụ thể cho một điều ước quốc tế hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, phụ thuộc vào phạm vi và nội dung của điều ước, mà điều ước quốc tế có thể có một số tên gọi khác nhau như: Hiệp ước, công ước, định ước, nghị định thư, hiệp định…Việc một văn bản được xác định là điều ước quốc tế hay không không phụ thuộc vào tên gọi của điều ước đó là gì, và cũng không phụ thuộc vào việc điều ước đó được ghi nhận trong một hay nhiều văn kiện. Luật quốc tế không đưa ra một quy tắc chung nào để bắt buộc các bên liên quan đến việc sử dụng tên gọi nào đó cho điều ước quốc tế được ký kết. Tuy nhiên, việc đặt tên cho một điều ước quốc tế cụ thể nào đó không thể mang tính tùy tiện mà phải tuân theo những thông lệ nhất định.
VD: Khi nói đến Công ước, chúng ta nhận thấy ngay đó là điều ước quốc tế có số lượng thành viên đông và chúng thường là các điều ước quốc tế mang tính đa phương toàn cầu (Công ước Viên 1969 ..)
– Các điều ước quốc tế song phương và khu vực thường có tên gọi như Hiệp ước, Hiệp định (Hiệp ước Bắc đại tây dương…);
– Nghị định thư không bao giờ đứng độc lập, nó luôn gắn với các Hiệp định vì nhiệm vụ của nó là nhằm sửa đổi hoặc bổ sung cho điều ước quốc tế đã ký trước đó;
– Hiến chương là văn bản pháp lý mang tính chính trị cao, nó thường được gắn với 1 tổ chức quốc tế nhất định;…..v..v
* Về cơ cấu của điều ước quốc tế: Hầu hết các điều ước quốc tế song phương và đa phương thường được kết cấu thành 3 phần chính:
– Phần lời nói đầu: Phần này không được chia thành từng chương, từng điều hoặc từng khoản. Trong phần lời nói đầu không chứa đựng các quy phạm cụ thể nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ cho các bên mà chỉ nêu các nội dung như: lý do ký kết, mục đích ký kết, tên của các bên tham gia ký kết…
– Phần nội dung chính: Đây là phần quan trọng nhất của điều ước. Nó chứa đựng các quy phạm pháp lý quốc tế nhằm xác lạp quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia kết ước. Phần này thường được chia thành từng chương, điều cụ thể nhằm điều chỉnh các lĩnh vực hợp tác giữa các bên.
– Phần cuối cùng: Phần này thường bao gồm các điều khoản quy định về thời hạn, thời điểm có hiệu lực của điều ước, ngôn ngữ soạn thảo điều ước, vấn đề sửa đổi, bổ sung, bảo lưu điều ước….
Ngoài cơ cấu 3 phần[ trên đây, trong một số điều ước quốc tế đa phương phổ cập còn có một hoặc một số phụ lục đính kèm. Các phụ lục này cũng chính là phần không thể tách rời và luôn đi kèm với điều ước quốc tế đó.
* Về ngôn ngữ của điều ước quốc tế: Điều ước quốc tế được soạn thảo bằng ngôn ngữ nào là do sự thỏa thuận, lựa chọn của các bên tham gia kết ước. Tuy nhiên, yếu tố thỏa thuận này chủ yếu được thể hiện trong việc lụa chọn ngôn ngữ của các điều ước quốc tế song phưong và thường được ghi nhận trong phần cuối cùng của điều ước. Các văn bản pháp lý quốc tế được soạn thảo bằng ngôn ngữ được lựa chọn đều là văn bản gốc và có giá trị pháp lý như nhau. Thông thường, điều ước quốc tế song phương thường được soạn thảo bằng ngôn ngữ của cả 2 bên (trừ khi có thỏa thuận khác). Riêng đối với các điều ước quốc tế đa phương phổ cập thường được soạn thảo bằng các ngôn ngữ làm việc chính thức của Liên hợp quốc đó là: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ả Rập.
Đặc trưng về bản chất của điều ướcv quốc tế: là sự thỏa thuận tự nguyện của các bên tham gia kết ước.
Đặcv trưng về luật điều chỉnh quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế: Quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế phải được điều chỉnh bằng các quy định của luật quốc tế và phải tuân thủ các quy phạm Jus cogens của luật quốc tế.
Nhận xét: Từ những đặc điểm ban đầu này của điều ước quốc tế, chúng ta[ thấy rằng không phải mọi văn bản pháp lý quốc tế hay thỏa thuận quốc tế đều là điều ước quốc tế, để có thể trở thành điều ước quốc tế văn bản pháp lý quốc tế hay thỏa thuận quốc tế đó phải đáp ứng một số điều kiện nhất định.
VD: thỏa thuận quốc tế giữa quốc gia A và công ty B (thuộc quốc gia B) liên quan đến vấn đề thương mại…đây không phải là điều ước quốc tế, và quan hệ này cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế, mà là quan hệ thuộc sự điều chỉnh của tư pháp quốc tế.
– Ngoài những điều kiện nêu trên, giữa điều ước quốc tế và các thỏa thuận quốc tế khác có sự khác biệt cơ bản nữa là tính ràng buộc về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia kết ước. VD đối với các tuyên bố chung trong quan hệ quốc tế. Các tuyên bố này không tạo ra sự ràng buộc cho các bên mặc dù nó cũng là kết quả của sự thỏa thuận giữa các bên, tuy nhiên nội dung của nó không nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ cho các bên, mà chủ yếu để thể hiện quan điểm, lập trường của quốc gia tuyên bố về một vấn đề nào đó.
Đặc trưng vềv phân loại điều ước quốc tế: Có thể phân chia điều ước quốc tế thành nhiều loại trên cơ sở các căn cứ khác nhau, nhìn chung việc phân loại thường dựa vào các cơ sở sau:
– Dựa vào số lượng các bên kết ước, điều ước được phân thành: điều ước quốc tế song phương, điều ước quốc tế đa phương;
– Dựa vào lĩnh vực điều chỉnh, điều ước được phân thành: điều ước về chính trị, điều ước về kinh tế…;
– Dựa vào phạm vi áp dụng, có điều ước song phương, điều ước khu vực, điều ước phổ cập.
Đặc trưng về giá trị pháp lý của điều ước quốc tếv
– Là hình thức pháp luật cơ bản chứa đựng các quy phạm LQT để xây dựng và ổn định các cơ sở pháp luật cho các quan hệ pháp luật quốc tế hình thành và phát triển.
– Là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì và tăng cường các quan hệ hợp tác quốc tế giữa các chủ thể.
– Là đảm bảo pháp lý quan trọng cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chủ thể LQT.
– Là công cụ để xây dựng khung pháp luật quốc tế hiện đại, cũng như để tiến hành hiệu quả việc pháp điển hóa LQT.
II. KÝ KẾT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
1. Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế
a. Các quốc gia: Về nguyên tắc, tất cả các quốc gia đều có thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tiễn sinh hoạt quốc tế nhiều trường hợp quốc gia có thể từ chối hoặc chuyển cho một quốc gia (VD: Hiệp ước về liên minh thuế quan giữa Thụy Sỹ và Liechtenstein năm 1923 ghi nhận Thụy Sỹ sẽ ký các điều ước quốc tế nhân danh Liechtenstein), hay tổ chức quốc tế khác thực hiện thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế (VD: Trong một số trường hợp nhất định cộng đồng Châu âu có thể thay mặt cho các quốc gia thành viên ký kết một số điều ước quốc tế nhất định).
b. Các tổ chức quốc tế: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình các tổ chức quốc tế sẽ tiến hành ký kết các điều ước quốc tế xuất phát từ quyền năng chủ thể luật quốc tế của mình.
c. Một số thực thể đặc biệt trong quan hệ quốc tế: như: tòa thánh Vaticăng, Đài Loan, Hồng Kông, Ma cao…cũng tham gia ký kết một số điều ước quốc tế nhất định.
Khi ký kết các điều ước[ quốc tế, các chủ thể thông qua các đại diện của mình là đại diện đương nhiên, không cần thư ủy nhiệm, bao gồm:
– Nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ, bộ trưởng bộ ngoại giao trong mọi hoạt động liên quan đến việc ký kết điều ước quốc tế;
– Người đứng đầu các cơ quan đại diện ngoại giao trong việc thông qua văn bản của một điều ước quốc tế giữa nước cử cơ quan đại diện và nước sở tại;
– Những người thay mặt cho quốc gia tại các hội nghị quốc tế hoặc tại tổ chức quốc tế.
Ngoài các đại diện nêu trên, những người đứng đầu các bộ hay cơ quan ngang bộ cũng có quyền ký các điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực mà mình quản lý. Ngoài ra, đối với các đại diện phải có thư ủy nhiệm khi tham gia quá trinhd ký kết điều ước quốc tế thì phải xuất trình thư ủy nhiệm.
* Tại khoản 1 điều 2 Luật ký kết và thực hiện điều ước quốc tế 2005 của Việt nam quy định “Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận quốc tế được ký kết hoặc gia nhập nhân danh nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của luật quốc tế…”. Điều này khẳng định rằng, điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên mà Việt nam ký kết hoặc gia nhập được với 2 danh nghĩa là nhà nước và chính phủ (không có các bộ, ngành). Dưới góc độ pháp lý quốc tế, thì điều ước quốc tế dù được ký dưới danh nghĩa nhà nước hay chính phủ đều có giá trị pháp lý như nhau, vì nó đều là kết quả của sự thỏa thuạn giữa các chủ thể luật quốc tế. Việc quy định 2 danh nghĩa ký kết này chỉ có ý nghĩa đối với quá trình thực hiện điều ước quốc tế sau này. Cũng theo quy định tại Luật 2005, thì đại diện cho quốc gia thực hiện các hành vi ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế là Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ hoặc đại diện được ủy quyền (có thể là các Bộ, ngành chức năng thuộc hệ thống chính trị của Nhà nước Việt nam).
2. Trình tự ký kết điều ước quốc tế
Ký kết điều ước quốc tế là cả một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau như đàm phán, soạn thảo, thông qua, ký, phê chuẩn hoặc phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế. Mỗi giai đoạn này có sự liên hệ chặt chẽ với nhau hết sức logíc và hợp lý. Nhìn chung, quá trình ký kết điều ước quốc tế chủ yếu được tiến hành qua 2 giai đoạn chính, đó là:
a. Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành các văn bản điều ước: Trong giai đoạn này, các bên sẽ thực hiện các hành vi như: đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản điều ước. Thực hiện xong các hành vi này, điều ước quốc tế vẫn chưa phát sinh hiệu lực, tuy nhiên nếu thiếu các hành vi này thì một điều ước quốc tế không thể được hình thành.
– Đàm phán: Bản chất của đàm phán là sự thương lượng, đấu tranh về lợi ích giữa các chủ thể tham gia ký kết điều ước quốc tế nhằm đi đến một thỏa thuận chung nhất. Do đó, sự thành công hay thất bại của đàm phán phụ thuộc rất nhiều còa thiện chí và sự hợp tác của các bên. Có nhiề cách thức đàm phán khác nhau, như: đàm phán trên cơ sở của dự thảo văn bản đã chuẩn bị trước của mỗi bên hay một bên hoặc cùng đàm phán để trực tiếp xây dựng văn bản điều ước.
– Soạn thảo: Trong trường hợp đàm phán thành công, văn bản điều ước sẽ được soạn thảo chính thức để các bên thông qua. Với điều ước quốc tế song phương, các bên thường cử đại diện tham gia soạn thảo, còn đối với điều ước quốc tế đa phương thì việc soạn thảo sẽ được giao cho một cơ quan do các bên thống nhất lập ra.
– Thông qua văn bản điều ước: Đây là thủ tục không thể thiếu trong giai đoạn này. Thông qua văn bản điều ước chính là hình thức để các ben biểu hiện sự nhất trí của mình đối với văn bản điều ước đã được soạn thảo. Thực tiễn ký kết điều ước quốc tế cho thấy, có nhiều cách để thông qua văn bản điều ước, như: biểu quyết, ký tắt, thỏa thuận miệng. Văn bản được các bên nhất trí thông qua là văn bản cuối cùng, các bên không được phép đơn phương sửa đổi, chỉnh lý hoặc thay đổi bất kỳ quy định nào trong văn bản.
b. Giai đoạn 2: giai đoạn thực hiện các hành vi nhằm thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế và có giá trị tạo ra hiệu lực thi hành của điều ước đó. Giai đoạn này có 4 hành vi được thực hiện đó là: hành vi ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế.
*Ký điều ước quốc tế: Ký là một bước không thể thiếu trong trình tự ký kết điều ước quốc tế. Có 3 hình thức ký điều ước quốc tế, đó là:
– Ký tắt: Là chữ ký của các vị đại diện quốc gia tham gia đàm phán nhằm xác nhận văn bản dự thảo điều ước quốc tế. Ký tắt chưa làm phát sinh hiệu lực của điều ước.
– Ký Ad Referendum: Là chữ ký của các vị đại diện với điều kiện có sự đồng ý tiếp sau đó của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật quốc gia. Về nguyên tắc, hành vi ký ad cũng không làm phát sinh hiệu lực của điều ước, tuy nhiên hình thức ký này cũng có thể làm phát sinh hiệu lực cho điều ước nếu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia tỏ rõ sự chấp thuận chữ ký này.
– Ký đầy đủ (ký chính thức): Là chữ ký của các vị đại diện vào văn bản dự thảo điều ước. Về nguyên tắc, hình thức ký đầy đủ luôn làm phát sinh hiệu lực của điều ước. Trừ trường hợp điều ước này quy định các bên phải tiến hành phê chuẩn, phê duyệt thì sau hành vi phê chuẩn, phê duyệt này điều ước mới có hiệu lực thi hành.
* Phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế:
– Phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế là những hành vi do quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế tiến hành nhằm xác nhận sự đồng ý ràng buộc với một điều ước quốc tế nhất định. Cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đều ghi nhận giá trị pháp lý ngang nhau của hành vi phê chuẩn và phê duyệt điều ước quốc tế. Sự khác nhau căn bản giữa hai hành vi này là ở thẩm quyền tiến hành hai hành vi trên và nội dung của điều ước quốc tế đề cập. Việc áp dụng thủ tục phê chuẩn hay phê duyệt đối với một điều ước quốc tế thường do các bên thỏa thuận và được ghi rõ ngay trong nội dung của văn bản điều ước.
– Gia nhập điều ước quốc tế là hành động của một chủ thể luật quốc tế đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của một điều ước quốc tế đa phương đối với chủ thể đó. Việc gia nhập thường được đặt đối với quốc gia khi thời hạn ký kết điều ước đã chấm dứt hoặc điều ước đã có hiệu lức mà quốc gia đó chưa phải là thành viên. Về thủ tục gia nhập điều ước quốc tế, những điều ước quốc tế nào được gia nhập hoặc không được gia nhập phụ thuộc vào quy định cụ thể của điều ước đó hoặc phụ thuộc vào các thành viên của điều ước. Thông thường thủ tục gia nhập được tiến hành theo các cáh sau: gửi công hàm xin gia nhập hoặc ký trực tiếp vào văn bản điều ước.
c. Bảo lưu điều ước quốc tế
* Khái niệm
– Bảo lưu điều ước quốc tế là hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia nhằm loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số điều khoản nhất định của điều ước. Những điều khoản đó gọi là những điều khoản bị bảo lưu.
– Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế ghi nhận “Bảo lưu điều ước quốc tế là hành động đơn phương bất kể cách viết hoặc tên gọi như thế nào của một quốc gia đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặ gia nhập điều ước đó, nhằm qua đó laọi trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số quy định của điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đó”. Như vậy, bảo lưu được thừa nhận là quyền của các chủ thể luật quốc tế, tuy nhiên quyền này không phải là tuyệt đối. Quốc gia có thể đưa ra tuyên bố bảo lưu vào thời điểm quốc gia thực hiện các hành vi nhằm xác nhận sự ràng buộc của một điều ước đối với quốc gia đó.
– Cũng theo Công ước Viên 1969, quốc gia chỉ được phép đưa ra tuyên bố bảo lưu khi sự bảo lưu đó:
• Không bị cấm ngay trong điều ước (VD: Công ước Luật Biển cấm các quốc gia bảo lưu bất kỳ điều khaỏn nào của Công ước);
• Phù hợp với đối tượng và mục đích của điều ước;
• Việc bảo lưu điều ước quốc tế chỉ có thể được thực hiện đối với các điều ước quốc tế đa phương;
• Đối với các điều ước quốc tế song phương, việc một bên đưa ra tuyên bố bảo lưu sẽ được coi như một đề nghị thỏa thuận lại, ký kết điều ước mới.
* Trình tự thực hiện bảo lưu
– Trong trường hợp điều ước quốc tế quy định rõ điều khoản nào được bảo lưu thì việc bảo lưu đới với điều khoản đó không cần tới sự đồng ý rõ ràng và riêng biệt từ phía các quốc gia ký kết khác. Khi đó, quốc gia sẽ chỉ tuyên bố bảo lưu trong phạm vi mà điều ước cho phép.
– Riêng với trường hợp điều ước quốc tế không có điều khoản quy định liên quan đến bảo lưu thì: Việc bảo lưu phải được tất cả các quốc gia thành viên chấp nhận nếu số quốc gia đàm phán có hạn hoặc việc thi hành toàn bộ điều ước là điều kiện dẫn tới sự chấp nhận ràng buộc của các bên đối với điều ước.; một bảo lưu coi như được một quốc gia chấp nhận nếu quốc gia đó không phản đối trong vòng 12 tháng kể từ ngày nhận được thông báo về bảo lưu; nếu điều ước quốc tế là văn kiện về thành lập tổ chức quốc tế thì bảo lưu phải được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền của tổ chức đó.
– Việc tuyên bố bảo lưu, sự phản đối bảo lưu và sự đồng ý với bảo lưu phải được thể hiện dưới hình thức văn bản và thông báo một cách công khai cho các quốc gia thành viên, riêng trường hợp đồng ý bảo lưu có thể được thể hiện dưới dạng im lặng.
– Quốc gia tuyên bố bảo lưu có quyền rút bảo lưu trong bất kỳ thời gian nào. Trong trường hợp này, sự đồng ý từ phía các quốc gia công nhận bảo lưu là không cần thiết.
– Tuyên bố về phản đối bảo lưu cũng có thể được quốc gia tuyên bố hủy bỏ vào bất kỳ thời gian nào nhưng phải đựoc thể hiện dưới hình thức văn bản.
* Hệ quả pháp lý của bảo lưu
Bản chất của bảo lưu không nhằm đưa các điều khoản bị bảo lưu ra khỏi nội dung của một điều ước quốc tế, nhưng về tổng thể quan hệ giữa các quốc gia thành viên của một điều ước sẽ thay đổi trong phạm vi có bảo lưu. Theo đó,
– Quan hệ giữa quốc gia bảo lưu và quốc gia chấp nhận bảo lưu được thực hiện bằng các điều ước quốc tế, trừ các điều khoản liên quan đến bảo lưu.
– Quan hệ giữa quốc gia bảo lưu và quốc gia phản đối bảo lưu vẫn được điều chỉnh bằng điều ước quốc tế đó, không loại trừ các điều khoản bảo lưu không được chấp nhận. Tuy nhiên, từ việc phản đối bảo lưu do một quốc gia đưa ra, cũng có thể làm cho quốc gia bảo lưu và quốc gia phản đối bảo lưu không còn tồn tại quan hệ điều ước. Điều này phụ thuộc vào quan điểm của mỗi bên.
3. Hiệu lực của điều ước quốc tế
a. Điều kiện có hiệu lực của điều ước quốc tế
– Như đã tìm hiểu tại phần II của chương, chúng ta biết rằng điều ước quốc tế là thỏa thuận quốc tế. Nhưng không phải mọi thỏa thuận quốc tế đều là điều ước quốc tế. Để trở thành điều ước quốc tế, thỏa thuận đó phải thỏa mãn những điều kiện nhất định:
§ Điều ước quốc tế phải đựoc ký kết trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng
Điều ước§ quốc tế được ký kết phải phù hợp với quy định của pháp luật các bên về thẩm quyền và thủ tục ký kết.
Nội dung của điều ước quốc tế phải phù hợp với§ những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại vì các nguyên tắc cơ bản là thước đo, là gốc của luật pháp quốc tế, để trên cơ sở đó hình thành lên các quy phạm pháp luật quốc tế.
b. Hiệu lực về thời gian của điều ước quốc tế: Trong phần này chúng ta cần giải quyết 2 vấn đề, đó là: thời điểm có hiệu lực của điều ước quốc tế và thời hạn có hiệu lực của điều ước quốc tế.
Thời điểm cóv hiệu lực của điều ước quốc tế (trả lời cho câu hỏi: khi nào thì điều ước quốc tế có hiệu lực?) Về nguyên tắc, luôn phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên trong điều ước. Tuy nhiên, thực tiễn chúng ta có thể khái quát thành 2 trường hợp sau:
– Đối với các điều ước song phương: thời điểm có hiệu lức là thời điểm các bên tiến hành ký đầy đủ hoặc tiến hành trao đổi thư phê chuẩn hoặc phê duyệt (trong trường hợp điều ước có quy định thủ tục phê chuẩn hoặc phê duyệt). VD: Sau khi Việt nam và Hoa Kỳ tiến hành ký đầy đủ vào Hiệp định thương mại, 2 bên phải tiến hành phê chuẩn do hiệp định này quy định phải được phê chuẩn. Sau khi cơ quan có thẩm quyền của 2 quốc gia đã tiến hành thủ tục phê chuẩn, người đứng đầu 2 quốc gia sẽ làm thư phê chuẩn để tiến hành trao đổi.
– Đối với điều ước quốc tế đa phương: Thời điểm có hiệu lực của loại điều ước này rất đa dạng và phong phú. Nhìn chung, điều ước quốc tế đa phương sẽ có hiệu lực khi các điều kiện về hiệu lực được ghi nhận trong điều ước quốc tế cụ thể được thỏa mãn (thường là quy định về quốc gia phê chuẩn và thời gian quốc gia phê chuẩn mới có hiệu lực). Trong trường hợp điều ước quốc tế không có quy định liên quan đến vấn đề này thì điều ước quốc tế sẽ có hiệu lực khi các bên tiến hành ký đầy đủ.
VD: Công ước về quyền trẻ em quy định: công ước này có hiệu lực khi có 20 quốc gia phê chuẩn và sẽ có hiệu lực sau đó 30 ngày. Hay Công ước Luật Biển năm 1982 quy định Công ước sẽ có hiệu lực sau khi quốc gia thứ 60 phê chuẩn 1 năm. Ví dụ quốc gia thứ 60 phê chuẩn ngày 2/9/1993 thì ngày 2/9/1994 Công ước có hiệu lực.
Thời hạn có hiệu lực của điều ước quốc tế (trả lời cho câu hỏi: điềuv ước quốc tế có hiệu lực đến thời điểm nào?) gồm 2 trường hợp:
– Nhóm điều ước quốc tế có thời hạn: bao gồm điều ước quốc tế ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Nhóm điều ước quốc tế chủ yếu trong các lĩnh vực thương mại, kinh tế…
– Nhóm các điều ước quốc tế vô thời hạn: các điều ước này chỉ quy định thời điểm có hiệu lức của điều ước mà không quy định thời điểm chấm dứt hiệu lực. Thông thường các điều ước quốc tế loại này chủ yếu xuất hiện trong các lĩnh vực về nhân quyền, chiến tranh, biên giới và các vấn đề lớn mang tính toàn cầu.
c. Hiệu lực của điều ước quốc tế về không gian
– Về nguyên tắc, điều ước quốc tế chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của các quốc gia thành viên, không có hiệu lực vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ của quốc gia này. Tuy nhiên, điều ước có hiệu lực trên toàn bộ hay một phần lãnh thổ phụ thuộc vào nội dung của điều ước.
d. Hiệu lực của điều ước quốc tế đối với bên thứ 3
Về nguyên tắc, điều ước quốc tế chỉ có ý nghĩa ràng buộc với các bên trong điều ước. Tuy nhiên, có một số ngoại lệ từ nguyên tắc này. Có một số điều ước quốc tế tạo ra quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế cho bên thứ 3 (các quôc sgia không phải là thành viên của điều ước), đó là:
– Trường hợp điều ước quốc tế xác định quyền và nghĩa vụ cho bên thứ 3, nếu bên thứ 3 đồng ý. VD: Điều 87 Công ước Luật Biển quy định: “Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển…”.
– Điều ước quốc tế tạo ra hoàn cảnh khách quan, mặc dù không phải thành viên của điều ước nhưng quốc gia này cũng có nghĩa vụ phải tuân thủ một cách triệt để những nghĩa vụ này. VD: Hiệp định về Nam cực được ký kết năm 1959 giữa Mỹ, Liên xô và một số quốc gia khác. Từ Hiệp định này, Nam cực trở thành một vùng lãnh thổ quốc tế, và không quốc gia nào được quyền xác lập chủ quyền đối với Nam cực, nhưng bất kỳ quốc gia nào cũng được quyền khai thác Nam cực cho mục đích nghiên cứu hay thương mại.
– Điều ước quốc tế được các quốc gia không phải thành viên viện dẫn với tư cách là tập quán quốc tế.
– Điều ước quốc tế có điều khoản tối huệ quốc
e. Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan, chủ quan đến hiệu lực của điều ước quốc tế. Về nguyên tắc, các điều ước quốc tế khi ký kết thỏa mãn những điều kiện được đặt ra sẽ có hiệu lực. Tuy nhiên, hiệu lực thi hành của một điều ước quốc tế có thể chịu sự tác động khác nhau của các yếu tố khách quan, chủ quan dẫn đến hệ quả chấm dứt vĩnh viễn hoặc tạm thời đình chỉ hiệu lực của điều ước quốc tế trong các trường hợp sau:
* Về chủ quan:
– Do các bên thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế
– Do điều ước quốc tế hết thời hạn
– Do một bên đơn phườn tuyên bố hủy bỏ khi bên ký kết khác đã vi phạm nghiêm trọng điều ước
– Do một bên đơn phương tuyên bố hủy bỏ trên cơ sở cho phép của điều ước đó
– Do các bên thỏa thuận ký kết một điều ước quốc tế mới về cùng một vấn đề
– Do có hành vi bảo lưu điều ước
* Về khách quan
– Do có sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh (Rebus-sic-stantibus), sự thay đổi này vào thời điểm ký kết các bên không dự tính được. Tuy nhiên, dù có sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh các bên vẫn phải thực hiện điều ước quốc tế, đó là: sự thay đổi này do một bên chủ định tạo ra hoặc điều ước quốc tế đó liên quan đến vấn đề biên giới lãnh thổ.
– Do có sự xung đột vũ trang giữa các quốc gia (không áp dụng đối với các điều ước về biên giới, hay Công ước Giơnevơ về bảo hộ nạn nhân chiến tranh);
– Do mất đối tượng của điều ước quốc tế
– Xuất hiện quy phạm Jus cogens mới có nội dung trái với điều ước, trong trừong hợp này điều ước quốc tế sẽ đương nhiên chấm dứt hiệu lực.
4. Thực hiện điều ước quốc tế
a. Nguyên tắc thực hiện điều ước quốc tế: Thực hiện điều ước quốc tế là việc các bên thực hiện các quyền và gánh vác các nghĩa vụ pháp lý đã được ghi nhận trong điều ước. Điều ước quốc tế phải được các thành viên kết ước thực hiện dựa trên nguyên tắc tận tâm, thiện chí. Các thành viên của điều ưuớc không thể viện dẫn sự khác biệt giữa điều ước quốc tế đã ký và luật quốc gia của nước đó để không thực hiện điều ước quốc tế.
b. Giải thích điều ước quốc tế
– Là quá trình làm sáng tỏ nội dung của các quy phạm điều ước. Việc áp dụng các điều khoản của một điều ước đòi hỏi các bên phải hiểu đúng, chính xác các quy định của điều ước, tránh việc hiểu sai, hiểu không thống nhất giữa các thành viên. Yêu cầu này đặt ra đòi hỏi phải giải thích điều ước. Và việc giải thích điều ước này được đặc biệt quan tâm khi các bên ký kết có những ý kiến bất đồng về ý nghĩa thực sự của điều ước.
– Chủ thể giải thích điều ước quốc tế: Việc xác định chủ thể giải thích điều ước quốc tế có tầm quan trọng đặc biệt. Tính chất và ý nghĩa pháp lý của việc giải thích phụ thuộc vào chủ thể của việc giải thích. Giải thích điều ước quốc tế có thể là giải thích chính thức (là giải thích của các quốc gia tham gia ký kết điều ước quốc tế có thể thông qua Bộ ngoại giao..hoặc giải thích của các tổ chức quốc tế); hoặc giải thích không chính thức (là giải thích của các học giả, các chuyên gia hay các cơ quan nghiên cứu pháp luật…)
– Yêu cầu của việc giải thích điều ước là:
• Điều ước phải được giải thích thiện chí, phù hợp với ý nghia thông thường của các thuật ngữ được sử dụng tròn điều ước và trong mối quan hệ với đối tượng và mục đích của điều ước.
• Việc giải thích điều ước phải căn cứ vào nội dung văn bản điều ước, các thỏa thuận có liên quan đến điều ước được các bên chấp nhận trong khi ký kết điều ước, các thỏa thuận sau này của các bên về giải thích và thực hiện điều ước, thực tiễn thực hiện điều ước liên quan đến việc giải thích điều ước và các quy định thích hợp của pháp luật quốc tế.
c. Đăng ký và công bố điều ước quốc tế
– Về nguyên tắc, điều ước đăng ký hay không điều ước đều có giá trị pháp lý như nhau nếu chúng được ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại.
– Theo điều 109 hiến chương LHQ thì: “Mọi Hiệp ước và công ước quốc tế do bất cứ thành viên nào của LHQ ký kết, sau khi hiến chương này có hiệu lực, phải được đăng ký tại Ban thư ký và do ban này cônhg bố càng sớm càng tôt”. Cũng theo Hiến chương LHQ thì “Nếu không đăng ký theo quy định của khoản 1 điều này thì không một bên nào của điều ước được quyền dẫn hiệp ước hay công ước đó trước một cơ quan nào của LHQ”. Như vậy, việc đăng ký và công bố điều ước quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia có cơ sở pháp lý khi giải quyết các tranh chấp có liên quan và cần phải viện dẫn điều ước quốc tế ra trước các cơ quan giải quyết tranh chấp của Liên Hợp Quốc.
– Phù hợp với pháp luật quốc tế, Luật về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế 2005 của Việt nam cũng ghi nhận rất rõ về vấn đề công bố và đăng ký điều ước quốc tế, theo đó “Điều ước quốc tế có hiệu lực đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam được công bố trên công báo của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam và Niên giám điều ước quốc tế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa bên Việt nam và bên ký kết nước ngoài hoặc có quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền…”(Điều 69); và “Bộ ngoại giao đăng ký tại Ban thư ký của Liên hợp quốc điều ước quốc tế hai bên và điều ước quốc tế nhiều bên có hiệu lực trong trường hợp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là cơ quan lưu chiểu điều ước quốc tế nhiều bên”. (Điều 70). Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có hiệu lực, điều ước sẽ được đăng trong công báo của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam.
d. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với nhau và với pháp luật trong nước

CHƯƠNG V
DÂN CƯ TRONG LUẬT QUỐC TẾ
Mục đích nghiên cứu
Các kiến thức từ chương này sẽ giúp sinh viên hiểu và nắm bắt được các kiến thức lý luận và pháp lý cơ bản về yếu tố dân cư trong mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau và giữa một công dân của một quốc gia với một nhà nước nhất định.
Một số văn bản liên quan
– Giáo trình luật quốc tế
– Luật Quốc tịch Việt nam năm 2005

KHÁI QUÁT VỀ DÂN CƯ TRONG LUẬT QUỐC TẾ
Dân cư là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành nên quốc gia – chủ thể cơ bản của luật quốc tế. Nếu theo cách hiểu thông thường, thì “dân cư” được hiểu là những người dân mang quốc tịch của một quốc gia nhất định. Tuy nhiên, về phương diện luật quốc tế, dân cư là tổng hợp những người sinh sống, cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định và chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đó. Địa vị pháp lý của dân cư nói chung do luật quốc gia các nước hữu quan và luật quốc tế xác định. Theo đó, dân cư trong luật quốc tế được xác định gồm 3 nhóm cơ bản sau:
• Công dân của quốc gia sở tại (những người mang quốc tịch của nước họ đang sống);
• Người nước ngoài (những người không mang quốc tịch của quốc gia sở tại), bao gồm:
– Viên chức ngoại giao, lãnh sự;
– Các chuyên gia, lưu học sinh đến học tập, làm việc tại quốc gia sở tại. Cơ sở pháp lý để họ hiện diện tại nước sở tại có thể là các điều ước quốc tế hoặc các hợp đồng lao động;
– Người nước ngoài đến định cư và làm ăn sinh sống tại quốc gia sở tại.
• Người không quốc tịch và người có nhiều quốc tịch
3 nhóm này có địa vị pháp lý được xác định rất khác nhau trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, điều này phụ thuộc vào chế độ kinh tế-xã hội và trình độ phát triển chung của mỗi quốc gia. Việc xác định địa vị pháp lý của các bộ phận dân cư thuộc thẩm quyền của quốc gia đó. Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ quốc tế, có nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến dân cư chỉ có thể giải quyết một cách hiệu quả dựa trên cơ sở các điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia.
I. THỰC HIỆN CHỦ QUYỀN QUỐC GIA ĐỐI VỚI DÂN CƯ
1. Xác định quốc tịch
a. Khái niệm quốc tịch
*Khái quát: Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, “quốc tịch” là một khái niệm ra đời vào thời kỳ xã hội đang chuyển dần từ chế độ phong kiến sang chủ nghĩa tư bản. Đây là một chế định mới được giai cấp tư sản đưa ra nhằm thu hút và “lôi kéo” quần chúng nhân dân ủng hộ cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập chính quyền mới của giai cấp tư sản. Chế định này là một bước phát triển quan trọng trong lịch sử loài người, lần đầu tiên người dân sống trong một quốc gia đã có riêng cho mình một chế định mang tính pháp lý; đây cũng là lần đầu tiên họ được coi là “công dân” của một quốc gia chứ không phải là “thần dân” như trong xã hội phong kiến. Tuy nhiên, ý nghĩa về sự bình đẳng mà giai cấp tư sản hứa mang lại cho họ khi đưa ra chế định quốc tịch thời bấy giờ cũng chỉ là sự bình đẳng mang tính hình thức. Trên thực tế, chỉ có giai cấp tư sản – giai cấp nắm chính quyền mới được hưởng thụ một cách đầy đủ nhất sự bình đẳng và lợi ích mà chế định này mang lại.
Hiện nay, do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế-xã hội, cũng như sự gia tăng các học thuyết chính trị pháp lý về nhân sinh ngày càng nhiều hơn, các giá trị nhân văn ngày càng được trân trọng hơn, thì con người- với vai trò là chủ thể cơ bản hình thành nên  Điều này dẫn đến hệ quả tất yếu là khái mỗi quốc gia ngày càng được quan tâm  niệm công dân và địa vị pháp lý của họ trong hệ thống pháp luật quốc gia đang được ghi nhận một cách đúng nghĩa nhất. Lúc này, quốc tịch không còn là chế định mang tính hình thức, nó đã trở thành cách thức biểu đạt rõ nhất mối quan hệ hai chiều giữa một bên là nhà nước và một bên là công dân của họ.
Như vậy, từ phương diện pháp lý quốc tế hiện đại, quốc tịch là mối liên hệ mang tính chất pháp lý -chính trị giữa một cá nhận với một quốc gia nhất định và biểu hiện ở tổng thể các quyền và nghiã vụ pháp lý được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện.
* Quốc tịch có một số đặc điểm sau: Từ định nghĩa nêu trên về quốc tịch, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm sau về quốc tịch:
• Có tính ổn định và bền vững về không gian và thời gian.
– Về không gian: Mối quan hệ pháp lý giữa quốc gia và cá nhân mang quốc tịch là hoàn toàn không bị hạn chế, điều này thể hiện ở chỗ: Khi đã mang quôc tịch và trở thành công dân của một quốc gia nào đó thì mỗi công dân phải luôn chịu sự chi phối và tác động về mọi mặt từ quốc gia đó, không kể họ đang cư trú ở đâu, trong hay ngoài nước, và tại nơi họ cư trú họ có các quyền và nghĩa vụ pháp lý như nhau.
– Về thời gian: Thông thường, một người ngay khi sinh ra đã mang một quốc tịch, tức là có mối liên hệ với ít nhất một quốc gia nhất định. Mối liên hệ này sẽ gắn bó suốt quá trình sống của người đó từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, trừ những trường hợp đặc biệt (như: xin thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch…).
• Quốc tịch thể hiện mối quan hệ pháp lý có tính hai chiều giữa nhà nước và công dân, là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Khi mang quốc tịch của một quốc gia nào đó, thì công dân được hưởng những quyền đồng thời phải gánh vác các nghĩa vụ đối với nhà nước của họ; ngược lại, các quyền của công dân cũng chính là các nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện nhằm đảm bảo tốt nhất các quyền của công dân và nghĩa vụ của công dân lại đồng thời là các quyền của quốc gia đó.
• Tính cá nhận của quốc tịch: Quốc tịch gắn bó với bản thân mỗi cá nhân nhất định và không thể chia sẻ cho người khác. Việc thay đổi quốc tịch của một người không thể làm quốc tịch của người khác thay đổi theo.
• Quốc tịch vừa mang tính quốc tế, vừa là đối tượng điều chỉnh của pháp luật quốc gia. Trong quan hệ quốc tế, quốc tịch là cơ sở để quốc gia tiến hành bảo hộ ngoại giao cho công dân của mình; là cơ sở để quốc gia từ chối tiến hành dẫn độ tội phạm đối với công dân mình (trừ những trường hợp có điều ước quốc tế quy định về dân độ).
b. Nguyên tắc xác định quốc tịch:
Ý nghĩa việc xác định quốc tịch: Xác§ định quốc tịch có ý nghĩa pháp lý vô cùng quan trọng đối với từng cá nhân trong xã hội, bởi vì quốc tịch là căn cứ, dấu hiệu nói lên sự quy thuộc của một cá nhân về một nhà nước nhất định. Sự quy thuộc này biểu hiện ở mối quan hệ pháp lý có tính 2 chiều giữa cá nhân là công dân với quốc gia mà họ mang quốc tịch. Về phía nhà nước, xác lập quốc tịch chính là hành vi thực hiện chủ quyền của quốc gia đối với dân cư của họ, bởi vì, về mặt pháp lý, quốc tịch chính là căn cứ để xác định giới hạn thẩm quyền tài phán của một quốc gia trong các mối quan hệ pháp luật, đồng thời thể hiện ranh giới chủ quyền giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, mỗi nước đều có quyền quy định trong pháp luật nước mình những phương thức hưởng quốc tịch nhất định. Nhìn chung, hầu hết các quốc gia đều ghi nhận các phương thức sau:
– Hưởng quốc tịch theo sự sinh đẻ
– Hưởng quốc tịch theo sự gia nhập quốc tịch
– Hưởng quốc tịch theo sự lựa chọn quốc tịch
– Hưởng quốc tịch theo sự phục hồi quốc tịch
Hưởng quốc tịch theo sự sinh đẻ: Đây là phương thức hưởng§ quốc tịch phổ biến nhất. Theo đó, việc công dân mang quốc tịch của một quốc gia được xác định một cách mặc nhiên ngay từ khi công dân đó mới được sinh ra. Nói cách khác, việc công dân mang quốc tịch trong trường hợp này không phụ thuộc vào ý chí của bản thân công dân mà phụ thuộc vào ý chí của nhà nước và trên cơ sở phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế. Tuy nhiên, liên quan đến việc hưởng quốc tịch theo sự sinh đẻ, pháp luật các quốc gia lại có những quy định không giống nhau về cách thức hưởng. Thực tiễn pháp luật của các quốc gia có ghi nhận 2 nguyên tắc chính để xác định quốc tịch theo sự sinh đẻ, đó là: nguyên tắc huyết thống và nguyên tắc quyền nơi sinh.
Nguyên tắc huyết thống: NguyênØ tắc này quy định: mọi đứa trẻ sinh ra đều có quốc tịch theo quốc tịch của cha mẹ, không phụ thuộc vào nơi đứa trẻ được sinh ra. Hạn chế của nguyên tắc này là chưa đưa ra được hướng giải quyết trong trường hợp cha mẹ của đứa trẻ là những người không quốc tịch, hoặc không xác định được quốc tịch, hoặc không có cùng quốc tịch, thì không thể xác định quốc tịch cho đứa trẻ theo nguyên tắc này.
Nguyên tắc quyền nơi sinh: Nguyên tắc này quy định: mọi đứa trẻ sinh raØ trên lãnh thổ nước nào thì mang quốc tịch của nước đó không phụ thuộc vào quốc tịch của cha mẹ chúng. Nguyên tăc này đã khắc phục được nhược điểm của nguyên tắc huyết thống là xác định quốc tịch cho đứa trẻ không rõ quốc tịch trên lãnh thổ của một quốc gia, nhưng nguyên tắc này cũng bộc lộ hạn chế đó là: trường hợp những đứa trẻ có cha mẹ là công dân của quốc gia khác, nhưng do được sinh ra tại quốc gia có quy định nguyên tắc này, dẫn đến đứa trẻ đương nhiên có quốc tịch của quốc gia nơi nó được sinh ra. Điều này dẫn đến sự gia tăng hiện tượng hai hay nhiều quốc tịch của công dân.
Cả hai nguyên tắc này, dù ít hay nhiều[ đều có khiếm khuyết là không thể bao quát được hết các trường hợp xảy ra trên thực tế. Để góp phần giải quyết các hạn chế nêu trên, pháp luật về quốc tịch của hầu hết các quốc gia đều kết hợp một cách hài hòa và chặt chẽ đồng thời cả 2 nguyên tắc này.
Hưởng quốc tịch theo sự gia nhập: Được hiểu là việc một§ người nhận quốc tịch của một quốc gia khác do việc xin gia nhập quốc tịch. Việc nhận quốc tịch được quyết định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc trao quốc tịch nước đó theo một trình tự được pháp luật quy định. Thông thường có 3 trường hợp hưởng quốc tịch theo sự gia nhập, đó là:
Do xin vào quốc tịch:Ø Đây là trường hợp phổ biến nhất. Việc xin vào quốc tịch quốc gia khác hoàn toàn xuất phát từ ý chí, nguyện vọng cá nhân của người muốn xin vào quốc tịch. Điều này được thể hiện thông qua việc viết đơn xin gia nhập của người muốn xin vào quốc tịch. Đối với trường hợp này, các quốc gia hữu quan thường đưa ra những điều kiện nhất định đối với người xin gia nhập quốc tịch, thông thường các điều kiện này gồm có:
– Điều kiện về độ tuổi
– Điều kiện về thời gian cư trú
– Điều kiện về khả năng ngôn ngữ
– Điều kiện về khă năng kinh tế
– Điều kiện về phẩm chất đạo đức
Đây là những điều kiện chung cơ bản, ngoài[ ra phụ thuộc vào bản chất chế độ và trình độ phát triển, cũng như phong tục tập quán của mỗi quốc gia mà họ có thể đưa ra một số quy định bổ sung, nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc không tạo ra sự phân biệt đối xử nào và không được trái với các quy định được công nhận chung của cộng đồng quốc tế.
Trên cơ sở những quy định chung liên quan đến vấn đề xin gia nhập quốc tịch, xuất phát từ chủ quyền quốc gia, pháp luật Việt nam cũng đưa ra một số điều kiện chung cho những người muốn xin gia nhập quốc tịch Việt Nam. Theo đó, “công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch đang thường trú tại Việt nam có đơn xin gia nhập quốc tịch việt nam, thì có thể được nhập quốc tịch Việt nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt nam;
b) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt nam; tôn trọng truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc Việt nam;
c) Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt nam;
d) Đã thường trú ở Việt nam từ 5 năm trở lên;
e) Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt nam”.
Do kết hôn với ngườiØ nước ngoài: Liên quan đến trường hợp này, pháp luật các quốc gia cũng có những quy định rất khác nhau. Trong Công ước 1957 về quốc tịch của người phụ nữ đi lấy chồng quy định: người phụ nữ có địa vị pháp lý bình đẳng với nam giới trong việc giữ hoặc thay đổi quốc tịch của mình khi kết hôn. Phù hợp với pháp luật quốc tế, nhằm đảm bảo công bằng cho vai trò của người phụ nữ, pháp luật Việt nam không coi việc kết hôn của phụ nữ Việt nam với người nước ngoài là một trong những trường hợp đương nhiên mất quốc tịch., quốc tịch của họ chỉ bị mất khi họ có đơn xin thôi quốc tịch.
Do được người nước ngoài nhận làm con nuôi: Pháp luậtØ của hầu hết các quốc gia đều thừa nhận nguyên tắc, trẻ em không có quốc tịch hoặc có quốc tịch nước khác, khi được người nước ngoài nhận làm con nuôi, có thể xin gia nhập quốc tịch của cha hoặc mẹ nuôi, tùy theo từng trường hợp cụ thể.
Hưởng quốc tịch theo sự lựa chọn:§
– Trường hợp này được đặt ra khi: có sự dịch chuyển lãnh thổ (VD: Nước A chuyển giao một phần lãnh thổ cho B, khi đó công dân của A đang sống trên phần lãnh thổ đã chuyển giao cho B được phép tự lựa chọn quốc tịch cho mình); Khi xuất hiện các điều ước quốc tế liên quan (VD: Quốc gia A ký với B một điều ước quốc tế quy định trong khoảng thời gian nào đó, tất cả công dân đang mang quốc tịch của cả 2 nước này phải chọn quốc tịch của một trong hai quốc gia. Nếu sau thời gian đó, họ không tự chọn cho mình thì họ sẽ được hưởng quốc tịch của quốc gia mà họ đnag sống).
– Lựa chọn quốc tịch là quyền của người dân được tự do lựa chọn cho mình một quốc tịch hoặc là giữ nguyên quốc tịch cũ hoặc là nhận quốc tịch của quốc gia hữu quan khác. Tuy nhiên, việc lựa chọn quốc tịch phải được thực hiện trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện về ý chí và nguyện vọng của đương sự.
Hưởng quốc tịch theo sự phục§ hồi:
– Phục hồi quốc tịch là hoạt động pháp lý nhằm khôi phục lại quốc tịch cho người đã bị mất quốc tịch do nhiều nguyên nhân khác nhau.
– Vấn đề phục hồi quốc tịch được đặt ra với những người trước đây ra nước ngoài sinh sống và bị mất quốc tịch hoặc những người mất quốc tịch vì các lý do khác như kết hôn, ly hôn hoặc làm con nuôi người nước ngoài…Do trước đây họ đã có quốc tịch của quốc gia này, nhưng do một số lý do họ xin thôi quốc tịch để nhập vào quốc tịch của một quốc gia khác, do đó khi có nguyện vọng quay trở lại quốc tịch, các quốc gia thường quy định trình tự thủ tục đơn giản hơn rất nhiều và có tích chất ưu tiên hơn so với những người xin gia nhập quốc tịch lần đầu. Tuy nhiên, để được phục hồi quốc tịch, người có nhu cầu cũng phải đảm bảo một số điều kiện nhất định, thường là không có hành vi làm nguy hại đến an ninh quốc gia trong suốt thời gian mất quốc tịch.
Ngoài những trường hợp nêu trên, trong thực tiễn§ quan hệ quốc tế còn xuất hiện cách thức hưởng quốc tịch theo phương thức được thưởng quốc tịch.
– Đây là một trường hợp hưởng quốc tịch rất đặc biệt trong thực tiễn quan hệ quốc tế. Thưởng quốc tịch là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia công nhận người nước ngoài là công dân nước mình, vì những đóng góp, công lao của người này cho quốc gia thuởng quốc tịch. Việc thưởng quốc tịch phải được sự đồng ý của người được thưởng quốc tịch.
VD: Oasinhton được thưởng quốc tịch của Pháp
– Trên thực tế, việc thưởng quốc tịch này có thể dân đến hai hệ quả pháp lý, đó là: người được thưởng quốc tịch trở thành cônhg dân thực sự của quốc gia thưởng quốc tịch; hoặc người được thưởng quốc tịch sẽ là công dân danh dự của nhà nước thưởng quốc tịch và việc thưởng này chỉ có ý nghĩa và giá trị về mặt tinh thần.
c. Nguyên tắc xác định quốc tịch đối với người hai và không quốc tịch
Người hai quốc tịch§
– Hai quốc tịch là tình trạng pháp lý của một người cùng một lúc là công dân của cả hai quốc gia. Nói cách khác, pháp luật của cả hai quốc gia đều coi người đó là công dân của mình, trên cơ sở đó cùng một lúc họ sẽ đồng thời được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ công dân của cả hai quốc gia.
– Thực tiễn cho thấy, những người mang hai quốc tịch là nguyên nhân gây ra trở ngại rất lớn cho quốc gia trong việc thực hiện chủ quyền của mình đối với dân cư, và trong một chừng mực nhất định nó gây ra trở ngại cho quốc gia trong quan hệ hợp tác quốc tế. Việc đưa đến tình trạng hai quốc tịch do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là do xung đột pháp luật giữa các nước về vấn đề quốc tịch. Phổ biến có các nguyên nhân sau:
• Do sự xung đột pháp luật của các nước khi quy định về các trường hợp hưởng quốc tịch. Trường hợp này xảy ra khi đứa trẻ được sinh ra trên lãnh thổ quốc gia có luật quốc tịch áp dụng nguyên tắc luật nơi sinh nên đứa trẻ sẽ mang quốc tịch của nước đó, đồng thời cha mẹ đứa trẻ lại là công dân của nước có luật quốc tịch áp dung nguyên tắc huyết thống nên đứa trẻ mang thêm quốc tịch theo quốc tịch của cha mẹ (VD: đứa trẻ A có cha mẹ là công dân của nước áp dụng nguyên tắc huyết thống (Việt Nam) sinh ra trên lãnh thổ của nước áp dụng nguyên tắc nơi sinh (Brazin). Do vậy theo luật của Brazil đứa trẻ sẽ mang quốc tịch Brazil, theo luật của việt Nam thì đứa trẻ cũng có quốc tịch của Việt Nam).
• Do hành vi kết hôn, nhận con nuôi trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (VD: E là công dân của Việt Nam lấy chồng người Pháp. Theo luật của Pháp E cũng có quốc tịch của Pháp, đồng thời theo pháp luật Việt Nam E vẫn được giữ quốc tịch của Việt Nam).
• Do một cá nhân được hưởng quốc tịch mới nhưng không đương nhiên bị mất quốc tịch cũ. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do luật quốc tịch của nước họ không có quy định về việc đương nhiên mất quốc tịch khi vào quốc tịch mới.
– Để hạn chế và ngăn ngừa các trở ngại do hiện tượng hai hay nhiều quốc tịch mang lại, trong quan hệ hợp tác của mình các quốc gia đã ký kết một số điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương nhằm mục đích ngăn chặn và tiến tới loại bỏ các trường hợp nhiều quốc tịch. Theo các điều ước này, đương sự có quyền tự do lựa chọn một quốc tịch trong số những quốc tịch mà họ hiện có.
b. Người không quốc tịch
– Không quốc tịch là hiện tượng một cá nhân không có quốc tịch của một quốc gia nào, đồng nghĩa với việc người đó cũng không được coi là công dân của bất kỳ nước nào. Đây là hiện tượng phát sinh do một số nguyên nhân như:
• Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ của nước áp dụng riêng biệt nguyên tắc “quyền huyết thống” mà cha mẹ là người không có quốc tịch.
• Khi có sự xung đột pháp luật của các nước về vấn đề quốc tịch, chẳng hạn một người do cư trú ở nước ngoài mà theo luật nướ họ họ bị tước quốc tịch hoặc tự động mất quốc tịch, nhưng luật của nước nơi họ đang cư trú lại yêu cầu phải được sự chấp thuận thôi quốc tích gốc mới được vào quốc tịch mới.
• Khi một người đã mất quốc tịch cũ (do được thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, tự động mất quốc tịch…) nhưng chưa có quốc tịch mới.
– Địa vị pháp lý của người không quốc tịch bị hạn chế hơn nhiều so với công dân của nước sở tại và người có quốc tịch nước ngoài trên lãnh thổ quốc gia mà họ đang sinh sống. Theo nguyên tắc, những người không quốc tịch có khối lượng quyền và tự do ít hơn, bị hạn chế trong việc sử dụng các quyền dân sự và chính trị, không có khả năng yêu cầu sự giúp đỡ bảo hộ ngoại giao trong trường hợp các quyền và lợi ích cá nhân của họ bị xâm phạm.
2. Mất quốc tịch
Nếu như có quốc tịch là cơ sở để xác định mối quan hệ pháp lý vững chắc, ổn định giữa một cá nhân với một quốc gia thì ngược lại mất quốc tịch sẽ làm chấm dứt mội quan hệ giữa một cá nhân với quốc gia mà mình mang quốc tịch. Là một mối liên hệ ổn định và bền vững về mặt không gian và thời gian, quốc tịch chỉ có thể thay đổi trong những điều kiện nhất định, và trong những trường hợp nhất định theo sự quy định của pháp luật. Do vậy, pháp luật quốc gia của hầu hết các nước đều quy định những trường hợp cụ thể mà theo đó công dân không còn được mang quốc tịch của quốc gia mình. Nhìn chung, mất quốc tịch gồm một số trường hợp phổ biến sau:
a. Đương nhiên mất quốc tịch
– Việc mất quốc tịch của một công dân xảy ra khi người đó ở vào những trường hợp mà pháp luật đã có những quy định từ trước. Pháp luật của các nước trên thế giới thường quy định những trường hợp cụ dẫn đến hệ quả pháp lý mất quốc tịch của đương sự khi họ thực hiện một trong các hành vi sau đây:
– Gia nhập quốc tịch nước khác
– Phục vụ trong lực lượng vũ trang nước ngoài
– Tham gia vào bộ máy nhà nước của quốc gia khác
Như vậy, đương nhiên mất quốc tịch là trường hợp công dân của một quốc gia[ bị mất quốc tịch một cách mặc nhiên chứ không phải là hành vi trừng phạt từ nhà nước.
b. Xin thôi quốc tịch
– Thôi quốc tịch là việc đương sự bị mất quốc tịch xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của đương sự khi họ yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước mình cho phép họ thôi quốc tịch.
– Để được thôi quốc tịch đương sự phải làm đơn xin thôi quốc tịch gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền và khi được phép thôi quốc tịch họ sẽ không được coi là công dân của nước đó nữa. Pháp luật các nước đều quy định một số điều kiiện chủ yếu để xin thôi quốc tịch như:
• Đã hoàn thành hoặc được miễn nghĩa vụ quân sự
• Đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế hoặc các nghĩa vụ tài chính cho quốc gia mà họ xin thoi quốc tịch.
• Không phải thi hành các phán quyết dân sự
• Không bị truy tố hình sự trong thời gian xin thôi quốc tịch
c. Bị tước quốc tịch
– Tước quốc tịch là việc công dân bị chính quốc gia mà mình mang quốc tịch tước bỏ quyền được mang quốc tịch trên cơ sở những hành vi vi phạm pháp luật của nước đó, thông thường đó là những hành vi gây phương hại đến lợi ích và uy tín của quốc gia…
– Tước quốc tịch là biện pháp trừng phạt mà quốc gia thi hành đối với công dân nước mình khi họ không còn xứng đáng với danh hiệu công dân nữa. Như vậy việc một người có quốc tịch cũng chính là vấn đề liên quan đến danh dự cá nhân. Vì vậy chỉ khi nào công dân có hành vi vi phạm cụ thể và được luật quy định mới có thể bị tước quốc tịch. Trình tự thủ tục và điều kiện tước quốc tịch được quy định trong pháp luật quốc gia của mỗi nước và hoàn toàn phải tôn trong nguyên tắc đã được đưa ra trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948. Theo đó, “mọi người đều có quyền có một quốc tịch; không ai bị tước quôc tịch một cách vô cớ và bị từ chối quyền được đổi quốc tịch”.
3. Bảo hộ công dân
a. Khái niệm
– Theo nghĩa hẹp: Bảo hộ công dân là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài, khi các quyền và lợi ích này bị xâm hại ở nước ngoài.
– Theo nghĩa rộng: Bảo hộ công dân bao gồm cả các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước giành cho công dân của nước mình đang ở nước ngoài, kể cả trong trường hợp không có hành vi xâm hại nào tới các công dân của nước này.
Như vậy, hoạt[ động bảo hộ công dân có thể bao gồm các hoạt động có tính chất công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính hoặc các hoạt động có tính giúp đỡ như trợ cấp tài chình cho công dân khi họ gặp khó khăn, phổ biến các thông tin cần thiết cho công dân nước mình tìm hiểu về nước mà họ dự định tới…
b. Điều kiện tiến hành bảo hộ: Để được một quốc gia nào đó bảo hộ, đối tượng được bảo hộ phải thỏa mãn các điều kiện sau:
– Đối tượng bảo hộ là công dân của quốc gia tiến hành bảo hộ. Tuy nhiên trên thực tế có trường hợp một người có quốc tịch của quốc gia đó nhưng không được bảo hộ (VD: trường hợp người có 2 hay nhiều quốc tịch, không được bảo hộ nếu sự bảo hộ đó chống lại quôc gia mà người này cũng mang quốc tịch); cũng có trường hợp một người không mang quốc tịch của quốc gia này nhưng lại được quốc gia đó bảo hộ trong truờng hợp bị xâm phạm. (VD: Đối với công dân thuộc Liên minh Châu Âu).
– Khi quyền lợi hợp pháp của đối tượng bảo hộ bị xâm hại
– Đã áp dụng các biện pháp tự bảo vệ trên thực tế theo pháp luật của nước sở tại: như: yêu cầu đòi bồi thường để khắc phục thiệt hại nhưng khồn mang lại kết quả…
c. Thẩm quyền và cách thức tiến hành bảo hộ
Thẩm quyềnv bảo hộ công dân: Dựa trên cơ sở cơ cấu tổ chức năng và phạm vi hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo hộ công dân, có thể chia các cơ quan này ra làm 2 loại: cơ quan có thẩm quyền trong nước và cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.
– Cơ quan có thẩm quyền bảo hộ trong nước: hầu hết các quốc gia đều thực hiện việc bảo hộ công dân thông qua Bộ ngoại giao. Bộ ngoại giao chịu trách nhiệm trước chính phủ về các hoạt động bảo hộ công ở trong nước cũng như nước ngoài.
– Cơ quan có thẩm quyền bảo hộ ở nước ngoài: Theo nguyên tắc chung, thẩm quyền bảo hộ công dân nước mình ở nước ngoài thuộc về các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước cử đại diện tại nước nhận đại diện. Việc bảo hộ công dân do các cơ đại diện thực hiện được ghi nhận trong công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao và công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự. Khi tiến hành các hoạt động bảo hộ công dân, các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải dựa trên cơ sở pháp lý là các văn bản pháp luật quốc gia về bảo hộ công dân và các điều ước quốc tế hữu quan về bảo hộ công dân.
Cách thức bảo hộ:v Trong quá trình thực hiện bảo hộ công dân, các nước có thể thực hiện bảo hộ thông qua các cách thức khác nhau, từ đơn giản như cấp hộ chiếu, visa xuất cảnh cho tới các cách thức bảo hộ phức tạp và có ảnh hưởng tới quan hệ ngoại giao giữa các nước hữu quan như đưa vụ việc ra toàn án quốc tế…Việc lựa chọn cách thứ bảo hộ ở mức độ nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quyền lợi nào bị vi phạm mức độ vi pham, thái độ của nước sở tại…
– Nhìn chung biện pháp ngoại giao là biện pháp thường được sử dụng trong việc bảo hộ công dân cơ sở pháp lý của biện pháp này là nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. Biện pháp ngoại giao được thực hiện để bảo hộ công dân có thể thông qua trung gian hòa giải, thương lượng hoặc đàm phán trực tiếp
Ngoài ra trong thực tiễn quan hệ quốc tế các quốc gia còn sử dụng các biện pháp như trừng phạt kinh tế hoặc trừng phạt về ngoại giao…
II. ĐIỀU CHỈNH PHÁP LÝ QUỐC TẾ QUAN HỆ QUỐC GIA VÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
* Khái quát: Trên lãnh thổ quốc gia, ngoài những người là công dân của quốc gia sở tại còn có một số lượng nhất định người nước ngoài đến làm ăn, sinh sống tại quốc gia sở tại. Đây cũng là một bộ phận dân cư khá quan trọng trong luật quốc tế hiện đại, do đó, việc quy định chế độ pháp lý cho những người nước ngoài, và phạm vi các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ được hưởng thường phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ thực tế giữa các quốc gia với nhau.
1. Khái niệm
a. Định nghĩa
– Thuật ngữ “người nước ngoài” được sử dụng một cách rộng rãi và khá phổ biến. Nhìn chung, các nước đều thống nhất quan điểm cho rằng: “người nước ngoài” là người không có quốc tịch của quốc gia mà họ đang cư trú (bao gồm người có quốc tịch của nước khác và người không có quốc tịch).
– Phù hợp với luật pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới, luật quốc tịch của Việt nam và một số văn bản pháp lý liên quan cũng ghi nhận người nước ngoài bao gồm: người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch.
b. Phân loại người nước ngoài: Có nhiều cách để phân loại người nước ngoài, như:
– Căn cứ vào quốc tịch thì người nước ngoài bao gồm: người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch;
– Căn cứ vào thời gian cư trú trên lãnh thổ một quốc gia và mối liên hệ với quốc gia đó thì người nước ngoài được chia thành: người nước ngoài thường trú và người nước ngoài tạm trú tại quốc gia sở tại;
– Căn cứ nội dung của quy chế pháp lý dành cho người nước ngoài gồm: những người nước ngoài được hưởng quy chế ngoại giao và các quy chế tương tự và những người nước ngoài hưởng quy chế dành cho người nước ngoài theo các điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia.
2. Chế độ pháp lý người nước ngoài
Chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của người nước ngoài ở quốc gia sở tại. Như vậy, chế độ pháp lý chính là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên địa vị pháp lý của người nước ngoài.
Chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài được hình thành theo một số dạng phổ biến và được thừa nhận rộng rãi trên thế giới, đó là các chế độ sau:
Chế độ đãi ngộ như công dân (NT – National treatment)v
– Nội dung: Theo chế độ này, người nước ngoài được hưởng các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa cơ bản như công dân của nước sở tại trong những quan hệ xã hội nhất định, ngoại trừ một số quyền do pháp luật quốc gia sở tại có quy định hạn chế vì lý do liên quan đến lợi ích và an ninh quốc gia của nước đó như: không có quyền bầu cử, không được theo học các trường công an, quân sự…. Chế độ đãi ngộ như công dân thường được áp dụng với nhóm người nước ngoài làm ăn, cư trú và sinh sống trên lãnh thổ của nước sở tại. Chế độ này thể hiện mối quan hệ giữa người nước ngoài với công dân nước sở tại.
– Chế độ đãi ngộ như công dân thường đuwojc quy định trước hết trong luật quốc gia của mỗi nước, ngoài ra còn được quy định trong các điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia với nhau.
Chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN – Most favoured nation)v
– Nội dung: xác định cho thể nhân và pháp nhân nước ngoài ở quốc gia sở tại đuwojc hưởng các quyền và ưu đãi mà các thể nhân và pháp nhân của bất kỳ một nước thứ ba nào đang và sẽ được hưởng trong tương lai. Chế độ đãi ngộ tối huệ quốc thể hiện mối quan hệ bình đẳng giữa các thể nhân và pháp nhân của các quốc gia khác nhau tại lãnh thổ hoặc trong quan hệ với nước sở tại. (VD: Mỹ dành cho hàng dệt may của Pháp thuế suất 10%, thì trong quan hệ với Việt nam, Mỹ cũng dành cho Việt nam mức thuế suất này cho cùng mặt hành trên).
– Đây là chế độ pháp lý có ý nghĩa và vai trò quan trọng, nó được áp dụng chủ yếu trong quan hệ kinh tế-thương mại và hàng hải. Nhìn chung, chế độ đãi ngộ tối huệ quốc phải được ghi nhận rõ ràng trong các điều ước quốc tế giữa các quốc gia nhằm loại bỏ sự phân biệt đối xử bất bình đẳng, tạo điều kiện để thúc đẩy sự hợp tác kinh tế thương mại giữa các quốc gia với nhau.
– Chế độ đãi ngộ theo quy chế MFN có sự phân biệt với chế độ đãi ngộ quốc gia ở chỗ, việc hưởng chế độ đãi ngộ MFN mà nước sở tại dành cho thể nhân, pháp nhân nước khác luôn trên cơ sở của sự thỏa thuận quốc tế giữa các quốc gia, mà không có ý nghĩa là chế độ phổ cập đương nhiên mà nước sở tại dành cho thể nhân và pháp nhân nước ngoài.
Chế đội đãi ngộ đặcv biệt
– Theo chế độ này, người nước ngoài được hưởng các quyền và ưu đãi đặc biệt mà chính công dân của nước sở tại cũng không được hưởng, đồng thời người nước ngoài cũng không phải gánh chịu các trách nhiệm pháp lý mà công dân nước sở tại phải gãnh chịu trong các trường hợp tương tự.
– Tuy nhiên, người nước ngoài chỉ được hưởng chế độ đãi ngộ đặc biệt này trên cơ sở ghi nhận của pháp luật quốc gia của nước sở tại hoặc điều ước quốc tế mà nước này tham gia. Trên thực tế, chế độ đãi ngộ này chủ yếu được áp dụng trong quan hệ ngoại giao, quan hệ lãnh sự giữa các quốc gia hoặc quan hệ giữa các tổ chức quốc tế với các quốc gia.
Ngoài ba chế độ đãi ngộ chính nêu trên, trong quan hệ quốc tế còn xuất hiện các chế độ khác như: chế độ có đi có lại, chế độ bào phục quốc…
3. Quyền cư trú của người nuớc ngoài
a. Khái niệm cư trú chính trị
– Cư trú chính trị là việc một quốc gia cho phép những người nước ngoài đang bị truy nã tại quốc gia mà họ mang quốc tịch do những hoạt động và quan điểm về chính trị, khoa học và tôn giáo…được quyền nhập cảnh và cư trú trên lãnh thổ nước sở tại.
b. Nội dung chế độ cư trú chính trị:
– Đối tượng có khả năng được hưởng quyền cư trú chính trị: Quyền cư trú với tính chất là một chế định pháp lý quốc tế, là quyền của quốc gia chứ không phải là quyền của thể nhân. Quốc gia không có nghĩa vụ phải dành cho nhóm cá nhân xác định quyền cư trú. Chính vì vậy, trong các văn bản pháp lý quốc gia không có điều khoản, quy định nào ghi nhận công dân của nước này hay nước kia có quyền yêu cầu cư trú ở lãnh thổ nước khác. Nhìn chung, trong hệ thống pháp luật trong nước các quốc gia đều ghi nhận cơ sở chung để đối tượng được hưởng quyền cư trú là thể nhân bị truy đuổi vì các lý do hoạt động và quan điểm chính trị tại đất nước mình. Trên thực tế, các quốc gia đã có sự công nhận chung khi không trao quyền cư trú cho các đối tượng sau:
• Những cá nhân phạm tội ác quốc tế (như tội ác chiến tranh, tội ác diệt chủng..);
• Những cá nhân thực hiện các hành vi tội phạm hình sự có tính chất quốc tế như: không tắc, buôn bán ma túy và các chất hướng thần..;
• Những kẻ tội phạm hình sự mà việc dẫn độ được quy định trong các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương về dẫn độ;
• Những cá nhân có hành vi trái với mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc.
– Điều 82 Hiến pháp 1992 của Việt Nam cũng quy định: “Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hòa bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam xem xét việc cho cư trú”.
– Việc trao quyền cư trú cho người nước ngoài là thẩm quyền riêng biệt của mỗi quốc gia; người nước ngoài được quyền cư trú không bị buộc phải nhập quốc tịch của nước sở tại, họ được hưởng những quyền lợi và tự do ngang bằng với người nước ngoài khác. Quốc gia cho phép cư trú phải có nghĩa vụ bảo đảm an ninh cho người cư trú, không được dẫn độ hoặc trục xuất theo yêu cầu của quốc gia mà họ là công dân (trừ trường hợp việc cho phép cư trú của quốc gia là bất hợp pháp).
– Pháp luật quốc tế chỉ cho phép cư trú lãnh thổ, không cho phép cư trú ngoại giao (tức là không cho phép người bị truy nã cư trú trong cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của quốc gia khác). Nếu cơ quan ngoại giao cho phép cư trú ngoại giao thì đây là hành vi cho phép cư trú bất hợp pháp, vượt quá chức năng của cơ quan ngoại giao đã đựoc ghi nhận trong Công ước Viên 1961 và là hành vi lạm dụng quyền được ưu đãi ngoại giao từ phía nước sở tại.

Bottom of Form

CHƯƠNG XI
LUẬT TỔ CHỨC QUỐC TẾ

Mục đích nghiên cứu
Hiện nay, sự ra đời và phát triển của các tổ chức quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng quốc tế. Tại chương này, sinh viên sẽ có điều kiện để tiếp cận với các vấn đề pháp lý cơ bản liên quan đến cơ cấu tổ chức và chức năng hoạt động chung của tổ chức quốc tế.
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình LQT trường Đại học Luật Hà Nội
2. Hiến chương Liên hợp quốc
3. Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia
4. Hiệp định Marrakessh về việc thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
5. Tuyên bố Băng Cốc năm 1967 về việc thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Asean).

I. KHÁI NIỆM
1. Định nghĩa
a. Sự hình thành tổ chức quốc tế
– Sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, các quốc gia trên thế giới đứng trước hàng loạt các vấn đề khó khăn cần phải giải quyết. Bên cạnh nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục lại nền kinh tế quốc gia và thế giới…Lúc này, bên cạnh quốc gia…một mô hình hợp tác mới đã dần dần được hình thành thể hiện sự gắn kết và quyết tâm cao của cộng đồng quốc tế trong việc hợp tác cùng phát triển…đó chính là các tổ chức quốc tế.
– Ban đầu, các tổ chức quốc tế chủ yếu được hình thành giữa các quốc gia có tiềm lực mạnh, hiện nay thành viên tham gia vào các tổ chức quốc tế đã được mở rộng cho tất cả các chủ thể của luật quốc tế tham gia, phạm vi hợp tác trong các tổ chức quốc tế cũng đã có sự mở rộng hơn, không chỉ dừng lại ở việc hợp tác về kinh tế, quân sự, mà hiện nay mô hình liên kết chặt chẽ giữa các quốc gia đang có xu hướng đẩy lên mức cao hơn, hợp tác ở mức độ toàn diện hơn, đó là các tổ chức quốc tế chung ở phạm vi toàn cầu hoặc khu vực như: Liên hợp quốc, Asean, Liên minh Châu Âu (EU)…
b. Định nghĩa: Để có sự phân biệt với các tổ chức khác không phải là chủ thể của luật quốc tế, tổ chức quốc tế mà chúng ta đề cấp đến ở đây sẽ là tổ chức quốc tế liên chính phủ (liên quốc gia).
Như vậy, Tổ chức quốc tế là thực thể liên kết các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế, hình thành trên cơ sở điều ước quốc tế, có quyền năng chủ thể luật quốc tế, có hệ thống các cơ quan để duy trì hoạt động thường xuyên theo đúng mục đích, tôn chỉ của tổ chức đó.
* Từ định nghĩa nêu trên về tổ chức quốc tế, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản sau:
– Về chủ thể: Chủ thể của các tổ chức quốc tế chủ yếu là các quốc gia độc lập, có chủ quyền. Đặc điểm này cho phép phân biệt tổ chức quốc tế liên chính phủ với các tổ chức quốc tế phi chính phủ (là sự liên kết của các tổ chức, cá nhân…không mang tính đại diện quốc gia), và các nhà nước liên bang khác. Ty nhiên, ngoài quốc gia là chủ thể cơ bản và chủ yếu, một số tổ chức quốc tế cũng thừa nhận tư cách thành viên của một số thực thể khác như: Tòa thánh Vaticăng, Macao, Hông Kông, Đài Loan…như WTO, EU…
– Quá trình hình thành: Tổ chức quốc tế liên chính phủ được hình thành trên cơ sở một điều ước quốc tế được ký kết giữa các thành viên tham gia tổ chức. Các điều ước quốc tế này có thể có những tên gọi khác nhau như: Hiến chương, Quy chế, Tuyên bố…nhưng về bản chất, chúng đều có ý nghĩa là điều lệ của một tổ chức quốc tế cụ thể với những quy định về mục đích, nguyên tắc, cơ cấu tổ chức và hoạt động của tổ chức quốc tế. Ngoài ra, trong điều lệ này còn chứa đựng các quy định cụ thể liên quan đến quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế của các thành viên tổ chức, cũng như quyền và nghĩa vụ của tổ chức này trong các mối quan hệ đối nội và đối ngoại.
– Có quyền năng chủ thể luật quốc tế: Do sự hình thành của tổ chức quốc tế xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của các quốc gia, do đó tổ chức quốc tế được ra đời hoàn toàn xuất phát từ ý chí của các quốc gia, thuộc tính “chủ quyền” khônbg phải là thuộc tính vốn có của tổ chức quốc tế, nhưng nó vẫn đựoc coi là chủ thể của LQt và tham gia vào đời sống quốc tế trong phạm vi quyền năng chủ thể mà các quốc gia thành viên thỏa thuận trao cho nó. Từ đặc điểm về quyền năng chủ thể này mà tổ chức quốc tế còn đuwojc gọi là chủ thể pháp sinh, hay chủ thể có quyền năng hạn chế.
– Có cơ cấu thường trực để duy trì mọi hoạt động chức năng: Để duy trì hoạt động, đồng thời thực hiện tôt chức năng, nhiệm vụ của mình, các tổ chức quốc tế thường được xây dựng với cơ cấu tổ chức chặt chẽ bao gồm các cơ quan chính và các cơ quan hỗ trợ. Bên cạnh một hệ thống các cơ quan đuwojc thành lập tổ chức quốc tế còn khác với các diễn đàn hay hội nghị quốc tế khác ở chỗ, nó có trụ sở chính – nơi diễn ra mọi hoạt động lớn và tập trung hầu hết các cơ quan chủ yếu của tổ chức.
* Phân loại tổ chức quốc tế
Có nhiều cách phân loại khác nhau, chủ yếu dựa trên các tiêu chí sau:
• Căn cứ vào tiêu chí thành viên: Tổ chức quốc tế được chia thành
– Tổ chức quốc tế phổ cập: là những tổ chức quốc tế mang tính toàn cầu như: Liên hợp quốc.
– Tổ chức quốc tế khu vực: là những tổ chức quốc tế được hình thành trong phạm vi một khu vực địa lý, chính trị, tôn giáo…nhất định như: EU, Asean…
– Tổ chức quốc tế liên khu vực: là các tổ chức quốc tế không mang tính phổ cập, thành viên của nó thường là các quốc gia không cùng khu vực địa lý nhưng liên kết với nhau vì một mục đích chung như Khối Bắc đại tây dưong NATO..
• Căn cứ vào phạm vi hợp tác: Tổ chức quốc tế được chia thành
– Tổ chức quốc tế chung: đây là mô hình các tổ chức quốc tế mà hoạt động của nó theo đuổi nhiều lĩnh vực khác nhau: kinh tế, chính trị, văn hóa…như EU, Asean, Liên hợp quốc…
– Tổ chức quốc tế chuyên môn: là những tổ chức quốc tế mà hoạt động của nó tập trung vào một lĩnh vực nhất định: WTO, WIPO, ICAO, ILO…
2. Địa vị pháp lý của tổ chức quốc tế
a. Tính chất quyền năng chủ thể của tổ chức quốc tế
Khác với quốc gia, tổ chức quốc tế có được quyền năng chủ thể luật quốc tế không phải căn cứ vào thuộc tính tự nhiên vốn có là chủ quyền, mà do sự thỏa thuận của các quốc gia thành viên. Phạm vi quyền năng chủ thể của các tổ chức quốc tế được xác định cụ thể trong điều lệ của chính tổ chức đó. Do đó, số lượng các quyền và nghĩa vụ của các tổ chức quốc tế khác nhau  Điểm khác biệt này thể hiện ở chỗ: Quốc gia có thể tham gia ký[sẽ khác nhau  kết bất kỳ điều ước quốc tế nào xuất phát từ lợi ích của chính mình. Còn tổ chức quốc tế không tự xác định được phạm vi quyền và nghĩa vụ cho mình khi tham gia quan hệ pháp lý quốc tế, mà tham gia trong phạm vi quyền hạn được các thành viên trao cho. Do đó, tổ chức quốc tế là chủ thể phái sinh, chủ thể có quyền năng hạn chế (không đầy đủ) của luật quốc tế.
VD: WIPO không được tham gia ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề an ninh, quốc phòng, thương mại…theo thỏa thuận của các thành viên, WIPO chỉ tham gia các điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
b. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức quốc tế: Khi tham gia vào các quan hệ quốc tế, tùy theo chức năng, mục đích hoạt động và phạm vi chủ quyền của mình, các tổ chức quốc tế sẽ có được những quyền và nghĩa vụ cơ bản khác nhau. Nhìn chung các tổ chức quốc tế thường có các quyền cơ bản sau đây:
– Quyền được ký kết các Điều ước quốc tế;
– Quyền được tiếp nhận cơ quan đại diện của các quốc gia thành viên và nhận các quan sát viên thường trực của các quốc gia chưa là thành viên của tổ chức cử đến;
– Quyền được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao;
– Quyền được trao đổi đại diện tại các tổ chức của nhau;
– Quyền được yêu cầu có các kết luận tư vấn của tòa án quốc tế của Liên hợp quốc;
– Quyền được giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các thành viên với nhau và giữa thành viên với tổ chức quốc tế.
– Hưởng các quyền theo quy định của điều ước quốc tế mà tổ chức tham gia ký kết với các quốc gia hoắc các tổ chức quốc tế khác.
Ngoài các quyền cơ bản nêu trên, tổ chức quốc tế có nghĩa vụ tôn trọng các nguyên tắc của luật quốc tế, tôn trọng các quyền của tổ chức quốc tế và các chủ thể khác của luật quốc tế; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của một chủ thể luật quốc tế.
II. NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC QUỐC TẾ
Tìm hiểu những vấn đề pháp lý cơ bản của tổ chức quốc tế, chúng ta sẽ tìm hiểu một số vấn đề chính có liên quan mật thiết đối với sự xuất hiện của một tổ chức quốc tế, đó là: Quy chế thành viên, các cơ quan chính của tổ chức, nhân viên của tổ chức và các hoạt động chức năng của tổ chức.
1. Quy chế thành viên
– Ngay khi có “sáng kiến” cho sự ra đời của một tổ chức quốc tế nào đó, bên cạnh nhiệm vụ quan trọng là xác định tôn chỉ, mục đích cho tổ chức mình, các thành viên sáng lập sẽ phải chủ động để xây dựng một quy chế thành viên chặt chẽ trong điều lệ hoạt động của tổ chức mình, trong đó ghi nhận rất rõ những chủ thể nào có thể là thành viên của tổ chức, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các thành viên…
– Thông thường, thành viên truyền thống của các tổ chức quốc tế chính là các quốc gia độc lập, có chủ quyền. Tuy nhiên, hiện nay do sự tham gia một cách chủ động của các thực thể đặc biệt vào các tổ chức quốc tế, nên mỗi tổ chức quốc tế khác nhau, tùy thuộc vào bản chất chính trị của tổ chức mình sẽ đưa ra quy chế thành viên khác nhau. (VD: Liên hợp quốc xác định thành viên của nó phải là các quốc độc lập, có chủ quyền, WTO bên cạnh quốc gia là chủ thể truyền thống nó còn thừa nhận sự tham gia của một số thành viên là tổ chức quốc tế khác hoặc các thực thể đặc biệt của luật quốc tế).
Nhìn chung, quy chế thành viên của các tổ chức quốc tế thường chứa đựng các nội dung cụ thể sau:
a. Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các thành viên tổ chức quốc tế
– Quyền bình đẳng giữa các thành viên khi tham gia các hoạt động của tổ chức quốc tế, như quyền phát biểu ý kiến tại các cơ quan của tổ chức quốc tế, quyền tham gia thảo luận những vấn đề mà tổ chức quốc tế đặt ra và có một lá phiếu khi thông qua các nghị quyết của tổ chức quốc tế;
– Quyền có đại diện cho quốc gia mình tại các tổ chức quốc tế;
– Quyền ứng cử vào các cơ quan của tổ chức quốc tế;
– Quyền rút khỏi tổ chức quốc tế;
– Quyền được hưởng các khaỏn viện trợ hoặc giúp đỡ về tài chính của tổ chức quốc tế;
Tương ứng với các quyền mà các thành viên được hưởng từ tổ chức quốc tế, các thành viên của tổ chức cũng có những nghĩa vụ nhất định như: đóng góp về tài chính cho hoạt động của tổ chức, đảm bảo thực hiện các nguyên tắc cơ bản của tổ chức, dành cho tổ chức quốc tế những quyền ưu đãi và miễn trừ cần thiết…
b. Điều kiện và thủ tục gia nhập tổ chức quốc tế
– Điều kiện gia nhập: Mỗi tổ chức quốc tế, tùy thuộc vào mục đích và chức năng hoạt động của mình sẽ đưa ra những điều kiện cho các chủ thể muốn gia nhập. Nhìn chung, để gia nhập tổ chức quốc tế, các thành viên phải đáp ứng một số điều kiện chung như: tự nguyện tuân thủ mục đích và nguyên tắc của tổ chức quốc tế, có khả năng thực hiện các quyền và gánh vác các nghĩa vụ mà tổ chức quốc tế đặt ra…
– Thủ tục gia nhập: rất khác nhau đối với từng tổ chức quốc tế.
c. Rút khỏi tổ chức quốc tế
– Rút khỏi tổ chức quốc tế là hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia thể hiện việc chấm dứt tư cách thành viên của tổ chức quốc tế đó.
– Rút khỏi tổ chức quốc tế là quyền của các thành viên tổ chức quốc tế đó trên cơ sở chủ quyền quốc gia.
– Hệ quả pháp lý của hành vi rút khỏi tổ chức quốc tế: là quốc gia sẽ chấm dứt tư cách thành viên và không còn bị ràng buộc bởi các quyền và nghĩa vụ thành viên phát sinh từ quy chế thành viên của tổ chức quốc tế đó. Do việc xin rút khỏi tổ chức quốc tế của các thành viên (đặc biệt là các thành viên đóng vai trò quan trọng) sẽ tạo ra những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của tổ chức, nên liên quan đến thủ tục rút khỏi tổ chức quốc tế, các tổ chức quốc tế thường có những quy định tương đối chặt chẽ và cụ thể.
d. Khai trừ khỏi tổ chức quốc tế
– Khai trừ khỏi tổ chức quốc tế là một biện pháp chế tài mà tổ chức quốc tế đặt ra đối với các thành viên có hành vi vi phạm nghiêm trọng, có hệ thống các nghĩa vụủtong Điều lệ của tổ chức quốc tế và của luật quốc tế.
– Như vậy, khác với hành vi rút khỏi tổ chức quốc tế là hành vi xuất phát từ ý chí và chủ quyền của quốc gia, về bản chất hành vi bị khai trừ khỏi tổ chức quốc tế trước tiên nó là một “hình phạt” mà tổ chức quốc tế dành cho thành viên có hành vi vi phạm; thứ hai là hệ quả pháp lý của hành vi bị khai trừ là thành viên đó sẽ tự động bị mất tư cách thành viên của mình, và việc tự động bị mất tư cáh thành viên này có thể là vĩnh viễn (thành viên đó có thể không còn cơ hội để tham gia vào tổ chức quốc tế này nữa), đối với hành vi rút khỏi tổ chức quốc tế thì đến một thời điểm nào đó nếu thành viên đó lại có nhu cầu và mong muốn quay trở lại tổ chức quốc tế này, họ có thể làm đơn xin gia nhập lại.
e. Đình chỉ quy chế thành viên tổ chức quốc tế
– Đây cũng là một biện pháp chế tài mà tổ chức quốc tế dành cho thành viên của mình khi “họ” có hành vi vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ của Điều lệ, nhưng do mức độ vi phạm của họ không quá trầm trọng và cũng chưa đến mức để áp dụng chế tài là khai trừ ra khỏi tổ chức quốc tế nên “họ” chỉ bị áp dụng biện pháp đình chỉ tư cách thành viên trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khoảng thời gian này, tư cách thành viên của họ sẽ được khôi phục lại như ban đầu.
2. Các cơ quan của tổ chức quốc tế
Cơ cấu tổ chức của các tổ chức quốc tế thường không theo một khuôn mẫu nhất định, nó phụ thuộc vào phạm vi thỏa thuận của các quốc gia thành viên và mục đích thành lập của tổ chức quốc tế đó. Thông thường, một tổ chức quốc tế thường có cơ cấu 2 cơ quan chính là:
– Cơ quan toàn thể: Là cơ quan có sự tham gia của đại diện các quốc gia thành viên tổ chức quốc tế (VD như Đại hội đồng Liên hợp quốc).
– Cơ quan đại diện: thường có sự tham gia của một số lượng thành viên nhất định, phụ thuộc vào quy định trong điều ước quốc tế thành lập tổ chức đó. Thông thường, cơ quan này trên thực tế chính là các cơ quan thường trực của tổ chức quốc tế đó. (VD Hội đồng bảo an Liên hợp quốc của Liên hợp quốc là cơ quan đại diện).
3. Nhân viên của tổ chức quốc tế
Nhân viên của tổ chức quốc tế thường bao gồm:
– Viên chức của tổ chức quốc tế: là những người được tổ chức quốc tế lựa chọn theo thể thức bầu hoặc được tuyển dụng theo nhiệm kỳ và được trả lương để thực hiện các công việc trong các cơ quan của tổ chức quốc tế. Viên chức của tổ chức quốc tế được hưởng những quyền ưu đãi nhất định để họ thực hiện tốt chức năng của mình (quyền này không đồng nghĩa với quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao).
– Các chuyên gia làm việc trong các phái đoàn của tổ chức quốc tế: những người này không phải là viên chức của tổ chức quốc tế nhưng họ cũng được hưởng một số ưu đãi nhất định trong quá trình làm việc.
4. Hoạt động chức năng của tổ chức quốc tế
Tổ chức quốc tế hoạt động trong khuôn khổ luật pháp quốc tế nhằm 2 mục đích chính là:
a. Tham gia xây dựng và thực hiện luật quốc tế
– Tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật quốc tế, các tổ chức quốc tế có thể tham gia xây dựng một cách trực tiếp như: ký kết các điều ước quốc tế hoặc chấp nhận các tập quán quốc tế trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình…hoặc gián tiếp như: đưa ra sáng kiến, hoặc tổ chức các hội nghị để thảo luận và đưa ra ý kiến đóng góp cho quá tringh xây dựng và hoàn thiện luật quốc tế…
– Bên cạnh việc xây dựng luật quốc tế, các tổ chức quốc tế cũng dần khẳng định vai trò quan trọng của mình trong quá trình thiết lập những thiết chế nhằm đảm bảo cho quá trình thực hiện các điều ước quốc tế trên thực tế.
b. Thực hiện các hoạt động nhằm xây dựng, hoàn thiện cơ cấu và ngân sách của tổ chức quốc tế
– Để thực hiện được tôn chỉ, mục đích và hoạt động của mình, các tổ chức quốc tế luôn phải hướng đến việc có một bộ máy thống nhất, chặt chẽ và một tiềm lực mạnh về cả phương diện vật chất (tài chính, quân đội…) và tinh thần (sự gắn kết và hợp tác chặt chẽ giữa các thành viên…). Do đó, sau khi thống nhất được thành viên và một quá trình hoạt động hợp lý, các tổ chức quốc tế thường hướng đến mục đích xây dựng cơ cấu nội bộ hùng mạnh với ngân sách “giàu có” nhằm duy trì một cách thường xuyên hoạt động của tổ chức mình.
III. KHÁI QUÁT VỀ MỘT SỐ TỔ CHỨC QUỐC TẾ
Trên cơ sở các vấn đề pháp lý cơ bản của tổ chức quốc tế, chúng ta sẽ cùng nhau đi vào tìm hiểu một số tổ chức quốc tế hiện đang có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới hoặc khu vực. Ở đây, chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn 3 tổ chức quốc tế là Liên hợp quốc – tổ chức quốc tế đa phương toàn cầu, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) – tổ chức chuyên môn toàn cầu và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Asean) với ý nghĩa là tổ chức quốc tế khu vực.
1. Liên hợp quốc
a. Về lịch sử hình thành
– Liên hợp quốc là tổ chức quốc tế đa phương phổ cập toàn cầu lớn nhất hiện nay. Nó có tiền thân là “Hội quốc liên” và được thành lập trên cơ sở của Hiến chương Liên hợp quốc.
– Hiến chương Liên hợp quốc được hơn 50 quốc gia tham gia Hội nghị San Francisco (Mỹ) ký ngày 26/6/1945 và đến ngày 24/10/1945 bắt đầu có hiệu lực. Và ngày 24/10/1945 cũng được coi là ngày thành lập Liên hợp quốc. Từ hơn 50 quốc gia thành viên ban dầu, hiện nay Liên hợp quốc đã có 192 quốc gia thành viên.
b. Tôn chỉ, mục đích của Liên hợp quốc: Ngay tại Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc, tổ chức này đã khẳng định mục đích của mình là:
– Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế…;
– Phát triển những quan hệ hữu nghị giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc dân tộc bình quyền, dân tộc tự quyết và dùng tất cả những biện pháp thích hợp khác để củng cố hòa bình thế giới;
– Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo…;
– Trở thành trung tâm để phối hợp hành động của các nước nhằm những mục đích chung nói trên.
Với những tôn chỉ, mục đích nêu trên,[ trong hơn 60 năm hoạt động của mình, dù trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, nhưng Liên hợp quốc với tư cách là tổ chức quốc tế đa phương toàn cầu lớn nhất đã có những nỗ lực không ngừng để thực hiện tốt các tôn chỉ, mục đích đã đề ra. Với ý nghĩa đó, hiện nay Liên hợp quốc đã và đang dần khẳng định vị trí vô cùng quan trọng của mình trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế.
c. Nguyên tắc hoạt động
Để đạt được các mục đích đã đề ra, Liên hợp quốc và các thành viên của mình đã xây dựng một hệ thống nguyên tắc chung làm cơ sở pháp lý đảm bảo cho mọi hoạt động của tổ chức này. Tại Điều 2 của Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận các nguyên tắc sau:
– Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia thành viên;
– Nguyên tắc các thành viên của Liên hợp quốc phải thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ theo quy định của Hiến chương;
– Nguyên tắc các thành viên của Liên hợp quốc phải giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình;
– Nguyên tắc các thành viên của Liên hợp quốc phải từ bỏ đe dọa dùng vũ lực hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế;
– Nguyên tắc các thành viên của Liên hợp quốc giúp đỡ Liên hợp quốc trong mọi hành động của Liên hợp quốc mà tổ chức này áp dụng theo đúng quy định của Hiến chương;
– Nguyên tắc các thành viên của Liên hợp quốc đảm bảo để các quốc gia không phải là thành viên của Liên hợp quốc cũng hành động theo các nguyên tắc này nếu điều đó là cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế;
– Nguyên tắc Liên hợp quốc không được can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia thành viên nào.
d. Các cơ quan chính của Liên hợp quốc
Theo quy định tại Điều 7 Hiến chương Liên hợp quốc, thì cơ cấu tổ chức của Liên hợp quốc gồm 6 cơ quan chính, đó là: Đại hội đồng Liên hợp quốc, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, Hội đồng kinh tế và xã hội, Hội đồng quản thác, Tòa án quốc tế và Ban thư ký. Ngoài những cơ quan này, Liên hợp quốc còn một số cơ quan chuyên môn và cơ quan giúp việc trong những trường hợp cần thiết.
Đại Hội đồngv
– Đại Hội đồng là cơ quan toàn thể, cơ quan cao nhất và duy nhất của Liên hợp quốc có sự tham gia của tất cả các quốc gia thành viên (192 thành viên). Đại Hội đồng được tổ chức, hoạt động trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia thành viên.
– Theo Điều 10 Hiến chương Liên hợp quốc, Đại hội đồng là cơ quan có thẩm quyền rất rộng trong các lĩnh vực hợp tác chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như: Đại hội đồng có quyền thỏa luận và đưa ra kiến nghị về tất cả các vấn đề thuộc phạm vi Hiến chương hoặc thuộc bất kỳ thẩm quyền của các cơ quan của Liên hợp quốc cho các thành viên Liên hợp quốc hoặc Hội đồng bảo an.
– Để thực hiện các quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong Hiến chương, Đại hội đồng thành lập 6 ủy ban chính, đó là:
+ Ủy ban giải trừ quân bị và an ninh quốc tế
+ Ủy ban Kinh tế – Tài chính
+ Ủy ban Văn hóa, xã hội và nhân đạo
+ Ủy ban chính trị đặc biệt và phi thực dân hóa
+ Ủy ban Hành chính – Ngann sách
+ Ủy ban pháp luật quốc tế
– Đại hội đồng họp mỗi năm một lần, khai mạc vào ngày thứ ba của tuần thứ ba tháng 9 và thường kéo dài khoảng 3 tháng. Ngoài khóa họp thường kỳ, Đại hội đồng cũng có thể tiến hành các khóa họp bất thường trong những trường hợp cần thiết theo đề nghị của Hội đồng bảo an hoặc của đa số quốc gia thành viên.
– Theo Điều 18 Hiến chương, mỗi thành viên của Đại hội đồng được sử dụng một lá phiếu. Riêng đối với các nghị quyết về các vấn đề quan trọng, như liên quan đến duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, bầu các ủy viên khônt thường trực, kết nạp thành viên mới…phải được thông qua với đa số áp đảo (2/3) của các thành viên tham gia và bỏ phiếu. Đại hội đồng cũng có thể dùng hình thức đồng thuận nếu các thành viên có sự nhất trí cao.
Hội đồng bảo anv
– Hội đồng bảo an là cơ quan lãnh đạo chính trị thường trực của Liên hợp quốc. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Khi thực hiện các trách nhiệm và nghĩa vụ mà hiến chương quy định, Hội đồng bảo an phải hành động với tư cách thay mặt cho các quốc gia thành viên.
– Hội đồng bảo an gồm 15 thành viên, trong đó có 5 ủy viên thường trực (Cộng hòa Liên Bang Nga, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Pháp, Liên hiệp vương quốc Anh và Bắc Ailen và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) và 10 ủy viên không thường trực được Đại hội đồng bầu ra với nhiệm kỳ 2 năm (hiện nay Việt Nam đang là ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an nhiệm kỳ 2008-2009). Các ủy viên không thường trực không đựoc bầu 2 nhiệm kỳ liên tiếp. Các ủy viên không thường trực được lựa chọn trên 2 nguyên tắc: thứ nhất, có đóng góp thích đáng cho việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; thứ hai, có sự phân bổ công bằng về địa lý.
– Hoạt động của Hội đồng bảo an thông qua các phiên họp thường kỳ (ít nhất 2 lần trong một năm). Tuy nhiên, Hội đồng bảo an cũng có thể triệu tập họp bất thường bất kỳ lúc nào nếu thấy cần thiết để đảm bảo chức năng giải quyết tranh chấp và tình thế trong lĩnh vực duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
– Hội đồng bảo an có các ủy ban và cơ quan trợ giúp như:
+ Các ủy ban thường trực
+ Ban tham mưu quân sự; Ủy ban nhân viên quân sự
+ Ủy ban chống khủng bố
+ Các ủy ban cấm vận
+ Các hoạt động và lực lượng gìn giữ hòa bình
+ Các ủy ban khác
+ Các tòa án quốc tế chống các tội ác vi phạm luật nhân đạo quốc tế
– Mỗi ủy viên của Hội đồng bảo an có một lá phiếu khi thông qua các nghị quyết của Hội đồng bảo an. Về nguyên tắc, để thông qua các quyết định củ mình, Hội đồng bảo an áp dụng nguyên tắc đa số. Những nghị quyết của Hội đồng bảo an về các vấn đề thủ tục được thông qua khi có 9/15 ủy viên của Hội đồng bảo an bỏ phiếu thuận. Đối với các vấn đề khác, nghị quyết chỉ được thông qua khi có 9/15 ủy viên của Hội đồng bảo an (trong đó phải  Như vậy, chỉ cần 1[có phiếu của tất cả các ủy viên thường trực) bỏ phiếu thuận. ủy viên thường trực bỏ phiếu chống là nghị quyết của Hội đồng bảo an sẽ không được thông qua. Đây chính là quyền phủ quyết (hay quyền veto) của các ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an. Tuy nhiên, quyền phủ quyết của các ủy viên không thường trực cũng bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định như:
+ Khi ủy viên thường trực là một bên tranh chấp (Điều 27 (3));
+ Khi Hội đồng bảo an kiến nghị Đại hội đồng triệu tập một cuộc họp toàn thể về sửa đổi lại Hiến chương (Điều 109(1));
+ Khi bầu cử thẩm phán Tòa án quốc tế (Điều 10 (2) Quy chế tòa án quốc tế).
Hội đồng kinh tế – xã hộiv
– Hội đồng kinh tế – xã hội là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc, có nhiệm vụ phối hợp các hoạt động kinh tế và xã hội giữa các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc, giữa Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên môn cũng như với các quốc gia và các tổ chức quốc tế khác.
– Hội đồng kinh tế – xã hội gồm 54 thành viên, được bầu với nhiệm kỳ 3 năm. Cứ mỗi năm, Hội đồng kinh tế – xã hội bầu lại 1/3 tổng số thành viên. Các thành viên của Hội đồng kinh tế – xã hội có thể được bầu lại sau khi hết nhiệm kỳ.
– Mỗi thành viên của Hội đồng kinh tế – xã hội được sử dụng một phiếu. Những quyết định của Hội đồng kinh tế – xã hội được thông qua theo đa số ủy viên có mặt và bỏ phiếu.
– Hội đồng kinh tế – xã hội lập ra những ủy ban phụ trách các vấn đề kinh tế và xã hội và sự phát triển nhân quyền cũng như tất cả các ủy ban khác cần thiết cho việc thi hành những chức năng của hội đồng.
– Hội đồng kinh tế – xã hội thực hiện các chức năng và quyền hạn chính như: đề xuất những nghiên cứu và làm báo cáo về các vấn đề quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội…; đưa ra các khuyến nghị nhằm thúc đẩy tôn trọng và thực hiện quyền con người; soạn thỏa các công ước trình Đại hội đồng trong các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình…
Hội đồng quảnv thác
– Là một trong các cơ quan chính của Liên hợp quốc, có nhiệm vụ quản lý kiểm soát các lãnh thổ nằm dưới chế độ quản thác. Đây là chế độ do Liên hợp quốc quy định nhằm mục đích giúp đỡ nhân dân các nước thuộc địa tiến bộ về chính trị, kinh tế và xã hội, đưa họ đến chế độ tự quản hoặc độc lập hoàn toàn.
– Tuy rằng hiện nay Hội đồng quản thác không còn tồn tại trên thực tế nữa do lãnh thổ quản thác cuối cùng đa dành được độc lập, nhưng cộng đồng quốc tế không thể phủ nhận vai trò và những đóng góp tích cực của hội đồng này trong những giai đoạn lịch sử trước đó của tình hình thế giới, đặc biệt với các lãnh thổ mà hội đồng này đã đứng ra quản thác (nay đã trở thành các quốc gia độc lập).
Tòa ánv quốc tế
– Tòa án quốc tế là cơ quan tư pháp chính của Liên hợp quốc, được thành lập và hoạt động theo Quy chế tòa án quốc tế, một bộ phận của Hiến chương Liên hợp quốc.
– Tòa án quốc tế gồm 15 thẩm phán do Đại hội đồng và Hội đồng bảo an bầu độc lập và cùng một lúc với nhiệm kỳ 9 năm, cứ 3 năm bầu lại 1/3 tổng số các thẩm phán. Các thẩm phán của Tòa đượcbầu với tư cách cá nhân từ các luật gia có uy tín về luật quốc tế, có phẩm chất đạo đức tốt. Do đó, các thẩm phán không đại diện cho bất kỳ quốc gia nào mà hoàn toàn độc lập trong công việc.
– Tuy là cơ quan tư pháp chính của Liên hợp quốc, nhưng Tòa án quốc tế không có thẩm quyền đương nhiên, nó chỉ giải quyết các tranh chấp giữa các quôc sgia thành viên khi các bene tranh chấp đồng ý đưa tranh chấp ra Tòa án quốc tế để giải quyết. Quyết định của tòa án là bắt buộc đối với các bên tranh chấp. Nếu một trong các bên tranh chấp không chịu thi hành bản án thì bên kia có uyền yêu câud Hội đồng bảo an kiến nghị hoặc đưa ra những quyết định nhằm bảo đảm cho việc thi hành những phán quyết của tòa án trên thực tế.
Ban thư kýv
– Là cơ quan hành chính của Liên hợp quốc. Đứng đầu Ban thư ký là Tổng thư ký, viên chức cao cấp nhất của Liên hợp quốc, được Đại hội đồng bổ nhiệm theo kiến nghị của Hội đồng bảo an với nhiệm kỳ 5 năm và có thể được bầu lại sau khi hết nhiệm kỳ.
– Cơ cấu tổ chức của Ban thư ký bao gồm các văn phòng trực thuộc Tổng thư ký và các vụ của Ban thư ký. Tuy nhiên, cơ cấu của Ban thư ký cũng có sự thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau để phù hợp với chức năng và nhiệm vụ trong từng thời kỳ.
Theo quy định của Hiến chương, Tổng thư ký có quyền hạn: đề xuất với Hội đồng bảo an về bất kỳ vấn đề nào mà theo ý kiến của Tổng thư ký có thể là mối đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế; ngoài ra Tổng thư ký còn trình bày báo cáo hàng năm vè hoạt động của Liên hợp quốc trước Đại hội đồng.
e. Các cơ quan chuyên môn
– Bên cạnh 6 cơ quan chính, để duy trì tốt hoạt động và tăng cường công tác giám sát chặt chẽ của mình đối với các lĩnh vực nhất định, Liên hợp quốc cũng đã thành lập một số cơ quan chuyên môn để hỗ trợ cho việc thực hiện tôn chỉ, mục đích của tổ chức. Hiện nay, Liên hợp quốc có rất nhiều cơ quan chuyên môn (hầu hết là các tổ chức quốc tế liên chính phủ) như: Tổ chức lao động quốc tế (ILO), tổ chức nông lương của Liên hợp quốc (FAO), tổ chức y tế thế giới (WHO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO)…
2. Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
a. Về sự hình thành
– Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhằm khôi phục sự phát triển kinh tế và thương mại, hơn 50 nước trên thế giới đã cùng nhau nỗ lực kiến tạo một tổ chức mới nhằm điều chỉnh hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế, bên cạnh sự ra đời của một số các định chế tài chính WB, IMF và gắn bó chặt chẽ với các chế định này. Ban đầu các nước chủ trương thành lập Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) là cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc. Trong thời gian thảo luận xây dựng Hiến chương cho ITO, các nước đã nhất trí thông qua Hiệp định chung về thuế quan về thương mại – GATT 1947 và thực hiện nó một cách tạm thời thông qua Nghi định thư về việc áp dụng tạm thời có hiệu lực ngày 1/1/1948. Sau này do một số điều kiện khách quan và chủ quan ITO đã không được thành lập, và mặc dù mang tính chất tạm thời, nhưng GATT 1947 đã trở thành công cụ đa phương duy nhất điều chỉnh những quan hệ thương mại trên quy mô toàn cầu. Có thể nói, trong 48 năm tồn tại của mình GATT 1947 đã có những đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy và đảm bảo thuận lợi hóa và tự do hóa thương mại thế giới. Tuy nhiên, đến đầu những năm 90 do những biến chuyển của tình hình thương mại quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kỹ thuật, GATT 1947 đã bộc lộ những bất cập và hạn chế nhất định.
– Trước những yêu cầu được đặt ra, năm 1994 tại cuối vòng đàm phán Uruguay, các nước đã cho ra đời Tuyên bố Marrakessh về việc thành lập Tổ chức thương mại thế giới, và bắt đầu đi vào hoạt động ngày 1/1/1995.
– WTO là một tổ chức quốc tế độc lập. Tư cách chủ thể của WTO trong quan hệ quốc tế đã được quy định tại điều VIII Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới. Khác với GATT 1947, WTO không chỉ hoạt động trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, mà còn mở rộng phạm vi điều hcỉnh sang cả lĩnh vực thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ và đầu tư. Sau một thời gian dài đàm phán, hiện nay Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức này vào năm tháng 10/2007.
b. Mục đích và nguyên tắc hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới
* Mục đích:
Với tư cách là một tổ chức liên chính phủ, WTO là nền tảng cho sự phát triển quan hệ thương mại giữa các quốc gia. Thông qua tự do hóa thương mại và một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để các thành viên hoạch định và thực hiện chính sách nhằm mở rộng sản xuất, thương mại hàng hóa và dịch vụ, nâng cao mức sống, tạo thêm việc làm cho nhân dân các nước thành viên. Mục đích này của WTO đã được thể hiện ngay trong Lời nói đầu của Hiệp định Marrakessh về thành lập Tổ chức thương mại thế giới.
* Nguyên tắc hoạt động:
WTO hoạt động dựa trên một loạt các quy phạm và quy tắc tườn đối phức tạp, bao gồm trên 60 hiệp định, phụ lục, quyết định và giải thích khác nhau điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế. Tuy vậy, tất cả các văn bản đó đều được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của WTO, đó là:
Nguyên tắc không phân biệt đối xử:§ Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế và đựoc cụ thể hóa thông qua 2 chế độ pháp lý là đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT).
– Đối xử tối huệ quốc (MFN) là chế độ pháp lý quan trọng nhất của WTO, theo đó nếu một quốc gia thành viên dành cho một thành viên khác các ưu đãi thì cũng phải dành cho tất cả các quốc gia thành viên những ưu đãi tương tự.
– Chế độ đãi ngộ quốc gia (NT) là nội dung thứ hai của nguyên tắc không phân biệt đối xử. Theo đó, các quốc gia phải dành những ưu đãi đối với hàng hóa, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ của quốc gia thành viên khác không kém thuận lợi hơn đối với những sản phẩm cùng loại của quốc gia mình.
Nguyên tắc mở rộng tự do hóa thương mại§
Đây là một trong những nguyên tắc thể hiện rõ nhất bản chất của Tổ chức thương mại thế giới. Tự do hóa thương mại là hệ quả tất yếu đôiư với xu thế vận động của nền kinh tế thế giới theo xu hướng toàn cầu hóa. Các biện pháp chủ yếu thực hiện tự do hóa thương mại là các biện pháp thuế quan và phi thuế quan. Vì vậy, để mở rộng tự do hóa thương mại, WTO quy định các thành viên trong quá trình đàm phán phải thỏa thuận cụ thể về việc hạnc hế, loại bỏ các biện pháp thuế quan và phi thuế quan và lộ trình cam kết thực hiện cụ thể.
Bên cạnh đó, tự do hóa thương mại đòi hỏi các quốc gia thành viên phải mở cửa thị trường trong nước cho các loại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nước ngoài.
Nguyên tắc cạnh tranh§ công bằng
Theo nguyên tắc nà các quốc gia thành viên được tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau. Theo đó, sản phẩm của một nước không chịu các mức thuế khác nhau do các thành viên quy định.
Nguyên tắc này nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng, hạn chế những tác động của các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế.
Nguyên tắc ưu đãi cho§ các nước phát triển
Với trên 2/3 thành viên của WTO là các quốc gia đang phát triển và các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO là khuyên skhích phát triển, dành những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt cho những quốc gia này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của các quốc gia này vào hệ thống thương mại đa phương. Thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nền kinh tế chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định bằng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập hoặc các ưu đãi trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến việc trợ giúp kỹ thuật cho các nước này.
c. Chức năng hoạt động: Theo Hiệp định Marrakessh thành lập WTO, tổ chức này có các chức năng cơ bản sau:
– Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và các thỏa thuận thương mại đa phương. Giám sát, tạo thuận lợi kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các thành viên thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của họ.
– Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phuwong trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bột trưởng WTO.
– Là cơ chế giải quyết tranh chấp giưã các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các Hiệp định thương mại đa phương.
– Là cơ chế để kiểm định chinchs sách thương mại của các nước thành viên, đảm bảo thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO.
– Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) trong việc hoach định những chính sách và dự báo về xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu.
d. Quy chế thành viên
Khác với các tổ chức quốc tế khác, WTO đã xây dựng một quy chế thành viên, theo đó thành viên của WTO không chỉ bao gồm các quốc gia có chủ quyền mà còn bao gồm các vùng lãnh thổ độc lập trong quan hệ đối ngoại.
WTO có 2 loại thành viên là thành viên sáng lập (là tất cả các thành viên của GATT 1947 và phải ký, phê chuẩn hiệp định về thành lập WTO) và thành viên gia nhập (là những thành viên tiến hành đàm phán về điều kiện gia nhập với các thành viên của WTO).
e. Cơ cấu tổ chức: Theo điều IV Hiệp định Marrakessh về thành lập Tổ chức thương mại thế giới, cơ cấu tổ chức của WTO bao gồm các cơ quan sau: Hội nghị bộ trưởng, Đại hội đồng, Ban thư ký.
* Hội nghị Bộ trưởng
– Là cơ quan cao nhất của WTO, bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên. Hội nghị Bộ trưởng họp ít nhất 2 năm một lần. Hội nghị Bộ trưởng sẽ thực hiện chức năng của WTO và đưa ra những hành động cần thiết để thực hiện các chức năng này.
– Hội nghị Bộ trưởng thành lập 3 ủy ban giúp việc cho mình là: Ủy ban về thương mại và phát triển (có nhiệm vụ rà soát định kỳ các điều khoản, đặc biệt quy định trong các Hiệp định thương mại đa biên dành cho các nước kém phát triển và báo cáo với Đại hội đồng để có những chính sách phù hợp), Ủy ban các hạn chế về cán cân thanh toán quốc tế (có nhiệm vụ là tư vấn cho các thành viên của WTO về các biện pháp thương mại để bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán của các thành viên); và Ủy ban về ngân sách, tài chính và quản trị (có chức năng giải quyết những vấn đề liên quan tới ngân sách và tài chính của tổ chức quốc tế này).
* Đại hội đồng
– Mặc dù Hội nghị Bộ trưởng là cơ quan quyền lực cao nhất của WTO, nhưng mọi hoạt động của tổ chức này chủ yếu do Đại hội đồng điều hành. Đại hội đồng gồm đại diện của tất cả quốc gia thành viên. Trong thời gian giữa các khóa họp của Hội nghị Bộ trưởng, chức năng của Hội nghị Bộ trưởng do Đại hội đồng đảm nhiệm. Ngoài ra Đại hội đồng còn thực hiện các chức anưng khác do Hiệp định Marrakesh quy định.
– Hoạt động của Đại hội đồng được thực hiện thông qua các cuộc họp và thông qua hoạt động của các Hội đồng, ủy ban. Khi cần thiết, Đại hội đồng được triệu tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm hoặc của cơ quan giải quyết tranh chấp hoặc của cơ quan rà soát chính sách thương mại.
– Ngoài ra Đại hội đồng còn chỉ đọa hoạt động của 3 cơ quan hoạt động trong 3 lĩnh vực khác nhau là: Hội đồng về thương mại hàng hóa, Hội đồng về thương mại dịch vụ và Hội đồng về các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ.
* Ban thư ký
– Ban thư ký của WTO có trụ sở tại Giơnevơ. Đứng đầu Ban thư ký là Tổng thư ký do Hội nghị Bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm, còn các nhân viên của Ban thư ký do Tổng giám đốc bổ nhiệm. Quyền hạn và trách nhiệm của Ban thư ký do Hội nghị Bộ trưởng quyết định.
– Ban thư ký có nhiệm vụ phục vụ các cơ quan chức năng của WTO liên quan đến các cuộc thương lượng và thực hiện các hiệp định đa phương và đa biên đã được ký kết.
3. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Asean)
a. Về sự hình thành
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Asean) được thành lập trên cơ sở Tuyên bố Băng Cóc ngày 8/8/1967 của Hội nghị ngoại trưởng 5 nước thuộc khu vực Đông nam Á là Thái Lan, Malayxia, Singapore, Philippin và Inđônêsia. Hiện nay, Asean có 11 quốc gia thành viên. Ngoài 5 thành viên ban đầu, các thành viên mơi gia nhập là: Bruney (1985), Việt Nam (1995), Lào và Myanmar (1997), Campuchia (1999).
b. Mục đích, nguyên tắc
* Mục đích: Theo Tuyên bố Băng cốc 1967 và Tuyên bố Kualalumpua 1971, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á theo đuổi các mục đích thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển vân hóa trong khu vực; thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằg việc tôn trọng công lý và nguyene tắc pháp luật trong quan hệ giữa các nước trong khu vực và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc; duy trì sự hợp tác chặt chẽ, cùgn có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực có cùng tôn chỉ và mục đích; xây dựung Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, tự do, thịnh vượng và trung lập, không có sự can thiệp từ bên ngoài dưới bất kỳ hình thức nào.
* Nguyên tắc: Asean phải tuân thủ những nguyên tắc đã được ghi nhận trong Tuyên bố Băng Cốc 1967 và được cụ thể hóa trong Hiệp ước Bali 1976 trong quan hệ giữa các quốc gia thành viên với nhau và với các chủ thể khác, bao gồm:
– Tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các quố gia;
– Tôn trọng quyền của mọi quốc gia được tồn tại mà không có sự can thiệp, lật đổ hoặc áp bức từ bên ngoài;
– Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
– Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hòa bình;
– Từ bỏ việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực;
– Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả.
Ngoài những nguyên tắc trên, việc điều phối hoạt động còn được tiến hành trên một loạt các nguyên tắc khác như: nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc đồng thuận…
c. Cơ cấu tổ chức: Với định hướng phát triển đặc thù, “thống nhất trong đa dạng” và “linh hoạt” trong các thời kỳ hoạt động, cơ cấu tổ chức của Asean đã đựoc linh hoạt thay đổi phù hợp với tình hình và yêu cầu hợp tác đặt ra trong mỗi giai đoạn khác nhau. Qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức của Asean đã trải qua nhiều lần cải tổ khác nhau. Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Asean bao gồm các cơ quan:
* Hội nghị thượng đỉnh Asean
Là cơ quan hoạch định chính sách cao nhất của Asean. Theo quyết định của Hội nghị thượng đỉnh Asean lần thứ IV (1992), những người đứng đầu chính phủ các nước thành viên Asean họp chính thức 3 năm một lần trên nguyên tắc luân tphiên theo chữ cái tên nước. ngoài ra có thể họp không chính thức ít nhất một lần trong khoảng thời gian 3 năm đó để đề ra phương hướng và chính sách chung cho hoạt động của Asean và đưa ra quyết định về các vấn đề lớn.
* Hội nghị Bộ trưởng
Là hội nghị hàng năm của các bộ trưởng ngoại giao Asean. Hội nghị bộ trưởng có trách nhiệm đề ra và quyết định các chính sách cụ thể của Asean trên cơ sở phương hướng và chính sách chung của Hội nghị thượng đỉnh Asean.
Hội nghị bộ trưởng có trách nhiệm báo cáo lên Hội nghị thượng đỉnh Asean.
* Hội nghị bộ trưởng kinh tế Asean
Là cơ quan họp chính thức hàng năm. Ngoài ra, hội nghị có thể họp không chính thức nếu cần thiết nhằm chỉ đạo các mặt hợp tác kinh tế trong Asean.
Trong hội nghị bộ trưởng kinh tế Asean có hội đồng AFTA, được thành lập theo quyết định của Hội nghị thượng đỉnh Asean lần thứ tư tại Singapore để theo dõi, phối hợp và báo cáo việc thực hiện chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chugn (CEPT).
* Hội nghị bộ trưởng các ngành chuyên môn: Là hội nghị bộ trưởng các ngành như: năng lượng, nông nghiệp, y tế…được tổ chức khi cần thiết để điều hành các vấn đề trong lĩnh vực này.
* Ủy ban thường trực Asean: Là cơ quan soạn thỏa chính sách và điều phối Asean giữa hai kỳ họp của Hội nghị bộ trưởng Asean. Ủy ban thường trực Asean chịu tráhc nhiệm báo cáo trước Hội nghị Bộ trưởng Asean.
– Cơ cấu của Ủy ban thường trực Asean bao gồm: chủ tịch là Bộ trưởng ngoại giao của nước đăng cai Hội nghị Bộ trưởng Asean, Tổng thư ký Asean và vụ trưởng các ban thư ký Asean quốc gia.
– Ủy ban thường trực Asean họp hai tháng một lần để xem xét các đề nghị của cuộc họp các quan chức cao cấp và các ủy ban hợp tác chuyên ngành nhằm thực hiện chủ trương và chính sách của Hội nghị Bộ trưởng Asean.
* Ban thư ký Asean
– Là cơ quan hành chính của Asean, được thành lập năm 1978 theo Hiệp định về Ban thư ký Asean (Bali, 1976). Trụ sở của Ban thư ký đặt tại Giacácta (Inđônêsia).
– Cơ cấu của Ban thư ký Asean bao gồm Tổng thư ký, các Phó tổng thư ký, các vụ trưởng, trợ lý vụ trưởng và các nhân viên. Nhiệm vụ của Ban thư ký Asean là tăng cường sự phối hợp trong việc thực hiện các chính sách, chương trình và các hoạt động giữa các bộ phận khác nhau của Asean. Tuyên bố Singapore năm 1992 có những sửa đổi nhất định đối với cơ cấu và chức năng quyền hạn của Ban thư ký. Theo đó, Tổng thư ký của Ban thư ký được chỉ định lại là Tổng thư ký Asean và có hàm Bộ trưởng. Ban thư ký cũng được mở rộng hơn phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình.
– Ngoài những cơ quan nêu trên, trong cơ cáu tổ chức của Asean còn có một số cơ quan khác như: Hội nghị liên bộ trưởng, các Ban thư ký quốc gia…

 

 

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

Leave a Reply