kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Giáo trình Luật chứng khoán

Vấn đề 1: Những vấn đề cơ bản về luật chứng khoán.

  1. Khái niệm về chứng khoán và thị trường chứng khoán
  2. Khái niệm, đặc điểm và phân loại chứng khoán
  3. Sự xuất hiện của chứng khoán.

Chứng khoán lần đầu tiên xuất hiện ở Châu âu vào giữa thế kỉ 20 tại Bruges(Bỉ), theo đó, các thỏa thuận đc xác lập cho các giao dịch thực hiện ngay và các giao dịch được thực hiện sau đó khoảng 1 thời gian nhất định.

Ở Mỹ (qgia có nền kinh tế chiếm tỷ trọng lớn nhất của nền kinh tế toàn cầu), sau khi đắc cử(1789), Tổng thống Gerorge Washington công bố việc phát hành công trái sau đó các loại cổ phiếu cũng được phát hành để hình thành các tổ chức kinh tế.

Ở VN, cụm từ “ chứng khoán” đã xuất hiện khá lâu ngày từ thời kì Pháp thuộc do hiện tượng du nhập các mô hình tổ chức kinh tế từ Pháp,Anh và đặc biệt tại miền Nam VN sau 1945 có sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Hoa Kì. Cho đến nay, thuật ngữ” chứng hoán” đã trở nên rất quen thuộc với các dạng như: cổ phiếu,trái phiếu,chứng chỉ quỹ đầu tư…

  1. Định nghĩa chứng khoán: Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ,bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:a)Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ: b)Quyền mua cổ phần,chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.(khoản 1 điều 6 luật CK).
  2. Đặc điểm của chứng khoán.

– Tính sinh lợi thể hiện ở việc người phát hành ra chúng phải trả cho người sở hữu chứng khoán lợi tức trong tương lai để nhận về mình quyền sử dụng vốn. Tính sinh lợi xuất hiện khi người nắm giữ chứng khoán giao dịch ck như loại tài sản đc phép.

– Tính thanh khoản tạo cho người sở hữu chứng khoán chuyển đổi dạng tài sản từ chứng khoán sang tiền thông qua giao dịch tại thị trường thứ cấp hoặc thông qua nghiệp vụ ngân hàng. Tính chất này phụ thuộc vào uy tín của chủ thể phát hành, vào chi phí chuyển đổi và sự biến động của thị trường.

– Tính rủi ro thể hiện ngay ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn.Mức độ rủi ro tiềm tàng đến đâu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn cùng các cam kết khác chính là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới độ rủi ro.

  1. Bản chất của chứng khoán.

Theo phương diện kinh tế,ck đc coi là loại “ tư bản giả”.Điều này có nghĩa, lượng vốn (tư bản thật)đã được nhà đầu tư(người nắm giữ ck) chuyển cho các tổ chức phát hành và họ chỉ nắm giữ những phương tiện thể hiện có lượng tư bản đang tồn tại thực tế mà thôi

Theo phương diện pháp lý, ck là loại tài sản với đầy đủ đặc tính của nó.Từ khi xuất hiện, do tự giác hay tự phát,ck đã đc công nhận là loại ts, với những đặc điềm là “ giấy tờ có giá”. Người sở hữu ck có thể chuyển nhượng, kiếm lợi,tặng cho…ck như bất kì loại ts nào khác.

  1. Phân loại chứng khoán.

*Căn cứ vào quyền sở hữu ck đối với người phát hành:

Chứng khoán vốn là loại ck xác nhận sự góp vốn và quyền liên quan đến phần vốn góp của chủ sở hữu ck đối với đối tượng phát hảnh ra nó. Đặc điểm:nhà đầu tư không xác định đc thời gian thu hồi,mức thu nhập từ việc đầu tư nhưng lại có cơ hội tham gia vào kiểm soát hoặc trực tiếp kinh doanh phần vốn đã thu hút.Tồn tại dưới 2 dạng: cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư(ngoài ra còn chứng quyền).Cổ phiếu(stock, share) là loại ck xác nhận số cổ phần mà cổ đông đó nắm giữ tại một công ty cổ phần và quyền được hưởng một phần lợi nhuận dưới hình thức cổ tức cũng như quyền tham gia quản lí công ty.Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại ck do công ti quản lí quỹ đầu tư hoặc các quỹ đầu tư phát hành, xác nhận phần vốn góp và quyền hưởng lợi của người đầu tư đối với quỹ.

Chứng khoán nợ-một ck rất phổ biến, tạo ra sự ổn định tương đối trong giao dịch trên thị trường là trái phiếu. Trái phiếu là phương tiện vay nợ, theo đó chủ thể phát hành ra nó cam kết sẽ trả lại cả gốc và lãi vào thời gian nhất định trong tương lai.(trái phiếu Chính phủ,trái phiếu doanh nghiệp do DN phát hành

* Căn cứ vào khả năng xác định người sở hữu chứng khoán: ck ghi danh và ck vô danh. Ck ghi danh có đặc điểm người sh ck chính là người đc ghi tên trên ck đó và việc chuyển nhượng giao dịch ck này cần phải thực hiện theo những trình tự nhất định.Ck vô danh ko ghi tên người sở hữu ck, những ai đang nắm giữ ck một cách hợp pháp chính là người sở hữu ck.

*Căn cứ vào hình thái biểu hiện: ck chứng chỉ và ck ghi sổ. Ck chứng chỉ đc thể hiện bằng các chứng từ với đầy đủ các thông tin về tổ chức phát hành, mệnh giá,thời gian phát hành và các thông tin khác. Ck ghi sổ có đặc điểm trên đó tổng hợp ck (theo từng tài khoản) của người sở hữu ck.

  1. Khái niệm, đặc điểm của thị trường chứng khoán.

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi chứng khoán.

            Hàng hóa trên thị trường ck là các loại ck dài hạn và trung hạn

TTCK ko thể thiếu các chủ thể trung gian( ko thể tồn tại đc khi chỉ có các DN, các nhà đầu tư.

Ko tồn tại độc lập( có tính nhạy cảm sâu sắc đối với nền kinh tế và xh; tính quốc tế)

Chủ thể trên thị trường ck bao gồm: nhà đầu tư(nhà đầu tư chuyên nghiệp: cty đầu tư ck,quỹ đầu tư ck,các định chế tổ chức khác; nhà đầu tư không chuyên nghiệp: đa phần là cá nhân); tổ chức trung gian là những chủ thể liên kết nhà đầu tư với tổ chức phát hành và giữa các nhà đầu tư với nhau (gồm: cty ck,cty quản lý quỹ đầu tư ck,sở giao dịch ck,trung tâm lưu kí ck,ngân hàng giám sát, ngân hàng thanh toán..); tổ chức phát hành ck( nhà nước, các tổ chức kinh tế); cơ quan quản lý nhà nước( Chính phủ, bộ Tài chính,Ủy ban ck NN)

Các nguyên tắc: đảm bảo quyền tự do kinh doanh; công khai, minh bạch; công bằng; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

  1. Khái quát về thị trường chứng khoán VN.

Từ những năm 1980 trở lại đây, VN có bước chuyển biến quan trọng: chuyển từ cơ chế quản lí tập trung với nền kinh tế kế hoạch hóa sang cơ chế thị trường và hiện nay chúng ta đang thực hiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. TTCk là mô hình đặc trưng của nền kinh tế thị trường phát triển.

TTCK VN có mối quan hệ mật thiết với quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã tạo điều kiện hết sức quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển của thị trường sơ cấp cũng như hình thành thị trường thứ cấp ở VN. Ngược lại TTCK cũng có ảnh hưởng ko nhỏ đến quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, từ giai đoạn cổ phần hóa đến giai đoạn niêm yết ck và khi có nhu cầu phát hành chứng khoán để tăng vốn doanh nghiệp.

  1. Khái niệm luật chứng khoán.
  2. Định nghĩa luật chứng khoán.

Luật CK tổng hợp những nguyên tắc, định hướng cơ bản của cơ chế hoạt động ck và TTCK đã được thể chế hóa, là tổng hợp quy phạm pl điều chỉnh quan hệ xh phát sinh trong quá trình chào bán, niêm yết và giao dịch ck trên lãnh thổ VN và các hoạt động liên quan đến ck của các tổ chức cá nhân VN.

Pl Ck bản thân nó đã thể hiện rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh của chúng. Điều 1 luật Ck năm 2006 xác nhận: “Luật này quy định về hoạt động chào bán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư ck,dịch vụ về ck và TTCk”.

Các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh, thuộc phạm vi điều chỉnh của pl chứng khoán gồm 6 nhóm:

(1) Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình chào bỏn chứng khoán: Chào bán ck là hoạt động phức tạp, bao gồm nhiều nhóm, nhiều giai đoạn tiến hành các loại hành vi khác nhau để đảm bảo sao cho ck có thể đến được tay người cần mua.Nếu đặt quan hệ phát sinh trong quá trình chào bán ck vào môi trường( thị trường) cụ thể thì đây là hoạt động cơ bản phát sinh trên thị trường sơ cấp (thị trường phát hành)

            Trong giai đoạn chào bán ck có những loại quan hệ sau: Quan hệ giữa tổ chức phát hành với tổ chức kinh doanh ck hoặc định chế tài chính trung gian trong việc hỗ trợ phát hành như tư vấn phát hành hay bảo lãnh phát hành hay đại lí phát hành; Quan hệ giữa tổ chức phát hành với các tổ chức định mức tín nhiệm(nếu có): quan hệ giữa tổ chức phát hành với cơ quan quản lí nhà nước gắn liền với hoạt động phát hành ck: đăng kí chào bán chứng khoán ra công chúng với Ủy ban ck nhà nước, xin phép NHNN nếu là các tổ chức tín dụng, thông báo với UBCKNN nếu chào bán chứng khoán ở các nước ngoài, xin phép Bộ tài chính trong trường hợp luật định; Quan hệ giữa tổ chức phát hành với giới truyền thông và các chủ thể luật định trong quá trình công bố thông tin về quá trình chào bán; Quan hệ giữa tổ chức phát hành với nhà đầu tư.

(2) Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình niêm yết chứng khoán: Niêm yết ck hiểu đơn giản nhất là việc thực hiện các hoạt động cần thiết để một loại ck nhất định có thể công bố công khai trên thị trường có tổ chức và các đối tượng quan tâm có cơ sở tin cậy, thực hiện giao dịch ck này. Các ck niêm yết phải hội tụ đủ những tiêu chí, điều kiện nhất định và theo đó, chúng sẽ đc công bố, đưa vào giao dịch tại thị trường có tổ chức: SGDCK hay TTGDCK; nếu ko đủ điều kiện, ko đc đưa vào mua bán tại thị trường này.

Quá trình niêm yết chứng khoán đc duy trì thông qua các quan hệ cơ bản sau: Quan hệ giữa tổ chức đăng kí niêm yết với SGDCK hay TTGDCK; Quan hệ giữa tổ chức niêm yết chứng khoán với tổ chức tư vấn niêm yết, tổ chức kiểm toán được chấp nhận, cá nhân kí báo cáo kiểm toán, báo cáo tài chính của tổ chức niêm yết; Quan hệ giữa tổ chức niêm yết với những người có liên quan và cổ đông lớn của công ti…

(3) Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình giao dịch chứng khoán: GDCK có thể đc thực hiện bởi các chủ thể kinh doanh chứng khoán hoặc bởi các nhà đầu tư đơn thuần hoặc bởi chính các tổ chức phát hành(khi thực hiện giao dịch liên quan đến cổ phiếu quỹ). Các tổ chức kinh doanh chứng khoán thực hiện nhiều loại giao dịch khác nhau(khoản 19 điều 6 luật ck).

Thông thường các quan hệ phát sinh trong quá trình giao dịch chứng khoán gồm những loại chủ yếu sau: Quan hệ phát sinh giữa thành viên giao dịch với SGD hay TTGDCK; Quan hệ phát sinh giữa tổ chức niêm yết, tổ chức tư vấn niêm yết với SGD hay TTGDCK đối với những ck mới niêm yết, đưa vào giao dịch; Quan hệ giữa đại diện giao dịch của công ti ck là thành viên với SGD hay TTGD; Quan hệ giữa khách hàng là nhà đầu tư chuyên nghiệp và hay hoặc ko chuyên nghiệp với công ti chứng khoán từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng của quá trình giao dịch.

(4) Nhóm quan hệ gắn với tổ chức thị trường, hoạt động của các mô hình hỗ trợ thị trường:

Quan hệ phát sinh trên thị trường tập trung thường là quan hệ giữa tổ chức điều hành thị trường với các thành viên tham gia gắn với trách nhiệm giao dịch.Quan hệ phát sinh trên thị trường ck tập trung thường bao gồm các loại cơ bản sau: Quan hệ giữa tổ chức điều hành thị trường ck(SGD hay TTGDCK) với các tổ chức thành viên; Quan hệ giữa tổ chức điều hành thị trường ck với các tổ chức có nhu cầu niêm yết/niêm yết và giao dịch ck; Quan hệ giữa tổ chức điều hành thị trường ck với các tổ chức hỗ trợ thị trường như tổ chức lưu kí, trung tâm thanh toán bù trừ

Các quan hệ trên thị trường ck phi tập trung gắn với nhà đầu tư, tổ chức quản lí thị trường và các công ti ck. Nhóm quan hệ phát sinh trên thị trường này có mức độ, tính chất, yêu cầu kiểm soát thấp hơn so với giao dịch trên thị trường tập trung. Tại đây có thể phát sinh một số quan hệ: Quan hệ giữa tổ chức thị trường(SGD hay TTGDCK) với tổ chức có ck giao dịch; Quan hệ giữa tổ chức thị trường với công ti chứng khoán là thành viên; Quan hệ giữa tổ chức thị trường với nhà đầu tư có nhu cầu tham gia giao dịch ck trên thị trường ck phi tập trung; Quan hệ giữa nhà đầu tư ck với “ nhà tạo lập thị trường”, với tổ chức có ck giao dịch(tùy theo loại giao dịch mà nhà đầu tư tham gia);

Trên thị trường tự do, quan hệ ck đc thực hiện đối với các loại ck do các tổ chức phát hành thường có quy mô nhỏ, ko có nhu cầu thực hiện chào bán chứng khoán rãi. PL điều chỉnh giao dịch trên thị trường này có độ “ lỏng” hơn so với các thị trường kia. Các quan hệ phổ biến trên bộ phận thị trường này: Quan hệ giữa các nhà đầu tư khi giao dịch chứng khoán đã phát hành, ko đăng kí giao dịch trên thị trường tập trung hay phi tập trung; Quan hệ giữa nhà đầu tư và công ti đại chúng tự doanh; Quan hệ giữa công ti chứng khoán với tổ chức có ck giao dịch trên thị trường tự do.

Bên cạnh sự tồn tại và các mối quan hệ liên quan đến giao dịch phát sinh trên các bộ phận thị trường ck, luôn tồn tại các chủ thể hỗ trợ cho hoạt động bình thường của thị trường cùng với các quan hệ của nó. Trung tâm lưu kí ck(TTLKCK), trung tâm thanh toán bù trừ, các tổ chức định mức tín nhiệm đc hình thành và tồn tại ko nằm ngoài những mục tiêu đó. Với mục tiêu hỗ trợ đồng thời gián tiếp quản lí hoạt động thị trường, các tổ chức hỗ trợ này thường có các quan hệ sau: Quan hệ giữa TTLKCK với các cơ quan quản lí có thẩm quyền; Quan hệ giữa TTLKCK với công ti ck thành viên, với công ti đại chúng..; Quan hệ giữa tổ chức định mức tín nhiệm với tổ chức phát hành; Quan hệ giữa trung tâm thanh toán bù trừ với công ti ck, với nhà đầu tư.

(5) Nhóm quan hệ gắn với hoạt động quản lí thị trường: Hoạt động quản lí nhà nước đối với thị trường ck đc đặt ra như bộ phận quan trọng trong lĩnh vực quản lí nhà nước ở các quốc gia có thị trường ck. Hành vi quản lí thị trường đc thực hiện bởi cơ quan quản lí chung và cơ quan quản lí chuyên ngành.Đc thể hiện thông qua các quan hệ cơ bản sau: Quan hệ giữa UBCKNN với cơ quan quản lí NN khác về ck và ttck; Quan hệ quản lí giữa UBCK với SGD hay TTGDCK, các tổ chức hỗ trợ thị trường; Quan hệ quản lí giữa UBCK với các chủ thể kinh doanh ck; Quan hệ quản lí giữa UBCK với các tổ chức chào bán chứng khoán ra công chúng, công ti đại chúng , tổ chức niêm yết; Quan hệ quản lí chung của UBCK đối với thị trường và công ti đầu tư…

Bên cạnh hoạt động quản lí nhà nước với tính chất bắt buộc, yếu tố hành chính thể hiện trong từng quan hệ, xu hướng nới rộng cách thức quản lí, giao quyền quản lí cho các tổ chức tự quản ngày càng trở nên phổ biến ở các quốc gia. Hoạt động quản lí của các tổ chức tự quản đc thừa nhận chính thức và ngày càng mở rộng về phạm vi và mức độ quản lí. Gồm các quan hệ: Quan hệ quản lí giữa sở giao dịch ck với các tổ chức thành viên; Quan hệ quản lí giữa sở giao dịch chứng khoán với các tổ chức niêm yết và các tổ chức có liên quan, tham gia vào quá trình hoạt động tại SGDCK.

(6) Nhóm quan hệ gắn với việc xử lí vi phạm và giải quyết tranh chấp trên thị trường ck: Xử lí vi phạm trong lĩnh vực ck trước hết phải xác định đc hành vi vi phạm, theo đó có cách thức và chế tài xử lí thích hợp. Hành vi vi phạm có thể là: Giao dịch nội gián, được hiểu là hành vi lợi dụng công việc hoặc lợi thế tiếp nhận thông tin để trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện hoạt động mua bán ck với mục đích trục lợi; Thao túng thị trường; Lừa đảo ck; Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, ko đầy đủ các quy định mà các chủ thể tham gia buộc phải thực hiện

Với những vi phạm cơ bản trên, cơ quan quản lí NN có thẩm quyền thực hiện các hoạt động cần thiết nhằm đưa ra phán quyết về mức độ, cách thức xử lí tương xứng.Giải quyết tranh chấp trên thị trường ck làm phát sinh quan hệ giữa các bên tranh chấp với nhau hoặc bên thư 3(cơ quan hòa giải hoặc cơ quan trọng tài,tòa án)theo những nguyên tắc và trình tự nhất định.

  1. Quan hệ pháp luật chứng khoán: là quan hệ xh phát sinh trong quá trình hình thành, chuyển giao ck được các quy phạm pl điều chỉnh mà hậu quả pháp lí là tạo ra những quyền và nghĩa vụ pháp lí cho các chủ thể.

Quan hệ pháp luật ck được xem xét phân loại dựa vào nhữn tiêu chí cơ bản sau:

* Căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ có quan hệ pl ck mang tính hành chính và quan hệ mang tính bình đẳng thỏa thuận. Quan hệ pháp luật ck mang tính hành chính xuất hiện khi có sự tham gia của cơ quan quản lí NN về ck tham gia với tư cách là chủ thể quản lí và các đối tượng bị quản lí(VD: quan hệ về việc cấp và thu hồi các loại giấy phép…) Quan hệ pháp luật giữa các chủ thể kinh doanh ck, quan hệ giữa các tổ chức phát hành với nhà đầu tư, quan hệ giữa nhà đầu tư với công ti ck… thể hiện sự tự nguyện, bình đẳng thực sự giữa các bên trong quá trình thiết lập quan hệ và thực hiện hành vi lquan đến ck.

* Căn cứ vào lĩnh vực phát sinh trên thị trường ck quan hệ pháp luật ck đc phân chia tương ứng với các quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật ck

Ý nghĩa của việc xác định tiêu chí và phân loại quan hệ pl ck: có ý nghĩa quan trọng phù hợp với các đối tượng khác nhau. Nhà làm luật sử dụng tiêu chí và nơi dung phân chia quan hệ pháp luật để ban hành hệ thống các văn bản đảm bảo tính khả thi, phù hợp với các đặc điểm của từng nhóm quan hệ pháp luật ck. Đối với các đối tượng áp dụng pháp luật hoặc tuân thủ pháp luật, việc xác định đúng loại quan hệ cùng với tính chất của chúng giúp ta có cách ứng xử đúng đắn hoặc áp dụng pháp luật phù hợp.

Rõ ràng, việc phân loại quan hệ pháp luật ck cho thấy các loại chủ thể tham gia quan hệ. Các chủ thể kinh doanh ck là loại chủ thể quan trọng và chủ yếu của quan hệ pl ck. Nhóm chủ thể này có thể là công ti ck,công ti quản lý quỹ đầu tư ck, tổ chức lưu kí, tổ chức phát hành ck, nhà đầu tư…

Trên thị trường ck, căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật ck là hành vi pháp lí liên quan đến ck(sự kiện pháp lí) và sự tồn tại của quy phạm pl điều chỉnh chính loại hành vi đó(cơ sở pháp lí). Hành vi pháp lí phải đc thực hiện chủ thể cụ thể, cho dù đó là chủ thể quản lí nhà nước hay các chủ thể khác có mục đích và nội dung liên quan đến ck. Đối với cơ sở pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp luật ck cũng ko hoàn toàn ổn định và bất biến . Chúng cũng làm thay đổi, hình thành hay chấm dứt quan hệ pháp luật ck cụ thể.

Vấn đề 2: Pháp luật về chào bán chứng khoán

  1. Khái niệm chào bán chứng khoán.
  2. Khái niệm chào bán chứng khoán và vai trò của chào bán chứng khoán

*K/niệm: Chào bán ck là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán. Chủ thể chào bán chứng khoán rất đa dạng, có thể là chính phủ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp.

CP thường chào bán ck dưới dạng trái phiếu chính phủ hoặc tín phiếu kho bạc. Các doanh nghiệp có thể chào bán ck dưới dạng cổ phiếu(công ti cổ phần), trái phiếu(cty cổ phần và cty TNHH) hoặc cả cổ phiếu và trái phiếu( cty cổ phần) tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp để gọi vốn, thỏa mãn nhu cầu vốn trong kinh doanh. Ko phải tất cả các doanh nghiệp đều đc chào bán ck mà quyền chào bán thường chỉ dành cho công ti cổ phần và cty TNHH.

*Vai trò: chào bán ck có vai trò quan trọng ko chỉ đối với chủ thể chào bán mà còn đối với cả nền kinh tế nói chung: +Đối với chủ thể phát hành là chính phủ thì việc chào bán ck có khả năng giúp CP thu hút đc nguồn vốn lớn từ khắp nơi trên toàn quốc. Như vây, ngay cả khi ngân sách NN thâm hụt, Cp vẫn có thể huy động vốn để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của mình, đặc biệt là để thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng mà ko phải dùng đến những biện pháp tạo tiền đề có nguy cơ dẫn đến lạm phát.+Đối với các doanh nghiệp, chào bán ck là kênh huy động vốn quan trọng, giúp các doanh nghiệp giải quyết khó khăn về vốn và ko bị lệ thuộc thái quá vào vốn tín dụng ngân hàng mà vẫn có thể thỏa mãn nhu cầu về vốn trong kinh doanh. Hơn nữa chào bán ck có khả năng đem lại cho doanh nghiệp các nguồn vốn dài hạn và ổn định hơn so với nguồn vốn doanh nghiệp vay từ ngân hàng.+ Đối với nền kinh tế xã hội, chào bán chứng khoán sẽ đem lại nguồn vốn cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế xh. Vai trò của chào bán ck đối với nền kinh tế xh còn đc thể hiện ngay cả trong hoạt động chào bán chứng khoán của các doanh nghiệp

  1. Các phương thức chào bán chứng khoán: là phương pháp và hình thức thực hiện việc chào bán chứng khoán. Có 2 phương thức: chào bán ck ra công chúng và chào bán ck riêng lẻ.

2.1 Chào bán ck ra công chúng:

* Khái niệm: có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để nhìn nhận thế nào là chào bán chứng khoán ra công chúng.Khó có thể khẳng định định nghĩa nào là chuẩn mực hơn định nghĩa nào vì mỗi quốc gia, thậm chí mỗi học giả có thể có những cách hiểu khác nhau. Chào bán chứng khoán ra công chúng có thể hiểu là việc đưa chứng khoán ra chào bán rộng rãi cho số lượng lớn các nhà đầu tư ( NĐT) trong đó phải có một tỉ lệ chứng khoán nhất định chào bán cho các NĐT nhỏ.Theo Luật chứng khoán Việt Nam, chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau:Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet;Chào bán chứng khoán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;Chào bán một số lượng nhà đầu tư không xác định.

Có thể thấy, các nhà làm luật Việt Nam chú trọng tới yếu tố “số lượng nhà đầu tư” và coi đó là tiêu chí chủ yếu để phân biệt chào bán chứng khoán ra công chúng với chào bán chứng khoán riêng lẻ.

*Đặc điểm: Các luật gia có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nhìn nhận về chào bán chứng khoán ra công chúng.Tuy nhiên, ta nhận thấy chào bán chứng khoán ra công chúng luôn có một số đặc trưng sau:

Một là, việc chào bán chỉ được thực hiện sau khi chủ thể phát hành đã đăng kí chào bán với cơ quan nhà nước có thẩm quyển quản lí thị trường chứng khoán.

Hai là, việc chào bán thường được tiến hành thông qua tổ chức trung gian là các công ty bảo lãnh phát hành hoặc đại lí phát hành chứng khoán.

Ba là, việc chào bán chứng khoán được thực hiện trên phạm vi lớn, thu hút số lượng lớn nhà đầu tư (đến từ trong và ngoài nước và không chỉ nhà đầu tư có tổ chức mà buộc phải có cả nhà đầu tư cá nhân) bỏ vốn để mua chứng khoán được phát hành trong đợt chào bán.

Bốn là, tổng giá trị chứng khoán đã chào bán thường phải đạt tới mức độ nhất định nhằm tập trung được lượng vốn lớn, giúp chủ thể phát hành thực hiện được dự án mở rộng quy mô kinh doanh hoặc đầu tư mới.

* Những ưu thế và bất lợi của chào bán chứng khoán ra công chúng. Chào bán ck ra công chúng có khả năng đem lại những lợi thế và cả bất lợi cho chủ thể phát hành.

+ Lợi thế:Chào bán chứng khoán ra công chúng sẽ tạo ra hình ảnh đẹp và sự nổi tiếng của công ty, nhờ vậy công ty sẽ dễ dàng hơn và tốn ít chi phí hơn trong việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu ở những lần sau. Thêm vào đó, khách hàng và nhà cung ứng của công ty thường cũng sẽ trở thành cổ đông của công ty và do vậy công ty sẽ rất có lợi trong việc mua nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.

Chào bán chứng khoán ra công chúng sẽ làm tăng giá trị tài sản ròng, giúp công ty có được nguồn vốn lớn và có thể vay vốn của ngân hàng với lãi suất ưu đãi hơn cũng như các điều khoản về tài sản cầm cố sẽ ít phiền hà hơn. Ví dụ như các cổ phiếu của các công ty đại chúng dễ dàng được chấp nhận là tài sản cầm cố cho các khoản vay ngân hàng. Ngoài ra, việc phát hành chứng khoán ra công chúng cũng giúp công ty trở thành một ứng cử viên hấp dẫn hơn đối với các công ty nước ngoài với tư cách làm đối tác liên doanh.

Chào bán chứng khoán ra công chúng giúp công ty có thể thu hút và duy trì đội ngũ nhân viên giỏi bởi vì khi chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty bao giờ cũng dành một tỷ lệ chứng khoán nhất định để bán cho nhân viên của mình. Với quyền mua cổ phiếu, nhân viên của công ty sẽ trở thành cổ đông, và được hưởng lãi trên vốn thay vì thu nhập thông thường. Điều này đã làm cho nhân viên của công ty làm việc có hiệu quả hơn và coi sự thành bại của công ty thực sự là thành bại của mình.

Chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty có cơ hội tốt để xây dựng một hệ thống quản lý chuyên nghiệp cũng như xây dựng được một chiến lược phát triển rõ ràng. Công ty cũng dễ dàng hơn trong việc tìm người thay thế, nhờ đó mà tạo ra được tính liên tục trong quản lý. Bên cạnh đó, sự hiện diện của các uỷ viên quản trị không trực tiếp tham gia điều hành công ty cũng giúp tăng cường kiểm tra và cân đối trong quản lý và điều hành công ty.

Chào bán chứng khoán ra công chúng làm tăng chất lượng và độ chính xác của các báo cáo của công ty bởi vì các báo cáo của công ty phải được lập theo các tiêu chuẩn chung do cơ quan quản lý qui định. Chính điều này làm cho việc đánh giá và so sánh kết quả hoạt động của công ty được thực hiện dễ dàng và chính xác

+ Bất lợi: Chào bán chứng khoán ra công chúng làm phân tán quyền sở hữu và có thể làm mất quyền kiểm soát công ty của các cổ đông sáng lập do hoạt động thôn tín công ty. Bên cạnh đó, cơ cấu về quyền sở hữu của công ty luôn luôn bị biến động do chịu ảnh hưởng của các giao dịch cổ phiếu hàng ngày.

Chi phí chào bán chứng khoán ra công chúng cao, thường chiếm từ 8-10% khoản vốn huy động, bao gồm các chi phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn pháp luật, chi phí in ấn, phí kiểm toán, chi phí niêm yết… Ngồi ra, hàng năm công ty cũng phải chịu thêm các khoản chi phí phụ như chi phí kiểm toán các báo cáo tài chính , chi phí cho việc chuẩn bị tài liệu nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và chi phí công bố thông tin định kỳ.

Công ty chào bán chứng khoán ra công chúng phải tuân thủ một chế độ công bố thông tin rộng rãi, nghiêm ngặt và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn so với các công ty khác. Hơn nữa, việc công bố các thông tin về doanh thu, lợi nhuận, vị trí cạnh tranh, phương thức hoạt động, các hợp đồng nguyên liệu, cũng như nguy cơ bị rò rỉ thông tin mật ra ngoài có thể đưa công ty vào vị trí cạnh tranh bất lợi.

Đội ngũ cán bộ quản lý công ty phải chịu trách nhiệm lớn hơn trước công chúng. Ngoài ra, do qui định của pháp luật, việc chuyển nhượng vốn cổ phần của họ thường bị hạn chế.

2.2 Chào bán ck riêng lẻ:

Hiện nay, pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể thế nào là chào bán chứng khoán riêng lẻ, nhưng ta có thể hiểu: “Chào bán chứng khoán riêng lẻ là hoạt động chào bán chứng khoán của chủ thể phát hành cho các khách hàng đặc biệt, thường là các nhà đầu tư có tổ chức”. (ví dụ: các công ty bảo hiểm nhân thọ, các quỹ hưu trí, các công ty đầu tư chứng khoán..).

Chủ thể phát hành chứng khoán riêng lẻ theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 và Luật chứng khoán 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì, chủ thể phát hành chứng khoán riêng lẻ gồm các bộ phận các doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển sang hình thức công ty cổ phần, các công ty cổ phần mới thành lập theo Luật doanh nghiệp, các công ty đầu tư chứng khoán phi đại chúng và công ty trách nhiệm hữu hạn.

Chứng khoán chào bán riêng lẻ có thể là cổ phiếu thường và trái phiếu. Tuy nhiên, trên thực tế thì phương thức chào bán chứng khoán riêng lẻ chủ yếu được sử dụng để chào bán trái phiếu. Việc chào bán chứng khoán riêng lẻ thường phải thỏa mãn một số điểu kiện như: Tính chuyên nghiệp của nhà đầu tư, nghĩa vụ cung cấp thông tin của tổ chức phát hành và các tổ chức tham gia phân phối chứng khoán, giới hạn số lượng về số lượng nhà đầu tư và người mua chứng khoán phải có dự định đầu tư chứ không phải nhằm mục đích buôn bán kiếm lời.

  1. Nội dung pháp luật chào bán chứng khoán ra công chúng
  2. Chủ thể phát hành chứng khoán ra công chúng. Theo pháp luật hiện hành chủ thể phát hành ck ra công chúng gồm tất cả các tổ chức có chào bán tất cả các loại ck đc pháp luật thừa nhận theo một trong 3 phương thức: thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet; chào bán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, ko kể nhà đầu tư ck chuyên nghiệp; chào bán cho một số lượng nhà đầu tư ko xác định.

Chủ thể phát hành ck ra công chúng có thể là doanh nghiệp NN cổ phần hóa. Trường hợp này, tùy theo yêu cầu nắm giữ vốn của NN tại doanh nghiệp, phần vốn còn lại sẽ đc doanh nghiệp chào bán rộng rãi ra công chúng thông qua phát hành cổ phiếu. Hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng của chủ thể này chịu sự điều chỉnh của những quy định về chào bán ck ra công chúng

Chủ thể phát hành ck ra công chúng cũng có thể là những cti TNHH chuyển đổi thành công ti cổ phần thông qua việc chào bán cổ phiếu ra công chúng để gọi vốn rộng rãi từ công chúng đầu tư một trong những hình thức tổ chức lại doanh nghiệp đc thừa nhận theo Luật DN năm 2005

Chủ thể phát hành ck ra công chúng còn có thể là các công ti cổ phần phi đại chúng, nay có nhu cầu tăng vốn điều lệ và đc phép tăng vốn điều lệ bằng chào bán cổ phiếu rộng rãi ra công chúng; cũng có thể là các cti đại chúng, các cti cổ phần và cti TNHH

Ngoài nhóm chủ thể là các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh cần vốn nói trên, chủ thể phát hành ck ra công chúng còn bao gồm cả các quỹ đầu tư ck đại chúng và các cti đầu tư ck

  1. Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng.

Mỗi nước có những qui định riêng cho việc phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng. Tuy nhiên, để phát hành chứng khoán ra công chúng thông thường tổ chức phát hành phải đảm bảo năm điều kiện cơ bản sau:

Về qui mô vốn: tổ chức phát hành phải đáp ứng được yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu ban đầu, và sau khi phát hành phải đạt được một tỷ lệ phần trăm nhất định về vốn cổ phần do công chúng nắm giữ và số lượng công chúng tham gia.

Về tính liên tục của hoạt động sản xuất kinh doanh: công ty được thành lập và hoạt động trong vòng một thời gian nhất định (thường khoảng từ 3 đến 5 năm).

Về đội ngũ quản lý công ty: công ty phải có đội ngũ quản lý tốt, có đủ năng lực và trình độ quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty.

Về hiệu quả sản xuất kinh doanh: công ty phải làm ăn có lãi với mức lợi nhuận không thấp hơn mức qui định và trong một số năm liên tục nhất định (thường từ 2-3 năm).

Về tính khả thi của dự án: công ty phải có dự án khả thi trong việc sử dụng nguồn vốn huy động được.

Tuy nhiên, các nước đang phát triển thường cho phép một số trường hợp ngoại lệ, tức là có những doanh nghiệp sẽ được miễn giảm một số điều kiện nêu trên, ví dụ: doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích, hạ tầng cơ sở có thể được miễn giảm điều kiện về hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Theo Điều 4 Nghị định 14/2007/NĐ-CP của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán thì những quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về Điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng của một số loại hình doanh nghiệp như sau:

  1. a) Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần kết hợp chào bán cổ phiếu ra công chúng thì thực hiện theo quy định của pháp luật về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.
  2. b) Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần kết hợp chào bán cổ phiếu ra công chúng:

– Đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều 12 Luật Chứng khoán[1];

– Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được chủ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh thông qua;

– Có công ty chứng khoán tư vấn trong việc lập hồ sơ chào bán cổ phiếu.

  1. c) Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chuyển đổi thành công ty cổ phần:

– Đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Chứng khoán, cụ thể là:

+ Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;

+ Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

– Có công ty chứng khoán tư vấn trong việc lập hồ sơ chào bán cổ phiếu.

  1. d) Đối với doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng:

– Là doanh nghiệp làm chủ đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thuộc đề án phát triển kinh tế – xã hội của các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

– Có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

– Có cam kết chịu trách nhiệm liên đới của Hội đồng quản trị hoặc các cổ đông sáng lập đối với phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán;

– Có tổ chức bảo lãnh phát hành;

– Có ngân hàng giám sát việc sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán.

  1. e) Đối với doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực công nghệ cao:

– Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao được khuyến khích đầu tư theo quy định của pháp luật;

– Có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

– Có cam kết chịu trách nhiệm liên đới của Hội đồng quản trị hoặc các cổ đông sáng lập đối với phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán;

– Có tổ chức bảo lãnh phát hành;

– Có ngân hàng giám sát việc sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán.

Về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng thì bao gồm:

  1. a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
  2. b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;
  3. c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
  4. Trình tự, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng

* Trình tự: – Bước 1: Gửi Hồ sơ đăng ký chào bán cho ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) trực tiếp tại bộ phận một cửa hoặc theo đường bưu điện gồm 01 bộ gốc và 05 bộ sao y bản chính, kèm theo file điện tử theo địa chỉ do UBCKNN quy định

– Bước 2: Sửa đổi, bổ sung hồ sơ nếu phát hiện thông tin không chính xác hoặc bỏ sót nội dung quan trọng theo quy định phải có trong hồ sơ hoặc thấy cần thiết phải giải trình về vấn đề có thể gây hiểu nhầm hoặc theo yêu cầu của UBCKNN

– Bước 3: Sau khi được chấp thuận về nguyên tắc, tổ chức phát hành gửi UBCKNN 06 bộ hồ sơ đã được chấp thuận trước khi UBCKNN cấp giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng.

* Thủ tục: Điều 14 Luật chứng khoán 2006 qui định hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng gồm:

– Thứ nhất, về hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm có: Giấy đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng; Bản cáo bạch; Điều lệ của tổ chức phát hành; Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng; Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có).

– Thứ hai, về hồ sơ đăng ký chào bán trái phiếu ra công chúng gồm có: Giấy đăng ký chào bán trái phiếu ra công chúng; Bản cáo bạch; Điều lệ của tổ chức phát hành; Quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán trái phiếu ra công chúng; Cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác; Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có).

– Thứ ba, về hồ sơ đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng gồm có:  Giấy đăng ký chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng; Bản cáo bạch; Dự thảo Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán; Hợp đồng giám sát giữa ngân hàng giám sát và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có).

Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng phải kèm theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua hồ sơ. Đối với việc chào bán chứng khoán ra công chúng của tổ chức tín dụng, hồ sơ phải có văn bản chấp thuận của Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng được tổ chức, cá nhân có liên quan xác nhận thì tổ chức phát hành phải gửi văn bản xác nhận của tổ chức, cá nhân đó cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.Các thông tin trong hồ sơ phải chính xác, trung thực, không gây hiểu nhầm và có đầy đủ những nội dung quan trọng ảnh hưởng đến việc quyết định của nhà đầu tư.

Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần, doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ cao; chào bán chứng khoán ra nước ngoài và các trường hợp cụ thể khác được Bộ tài chính qui định cụ thể tại Thông tư số 17/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 13/3/2007 để hướng dẫn Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng

4.Trách nhiệm của chủ thể phát hành ck ra công chơng.

4.1 Trách nhiệm của chủ thể phát hành cổ phiếu ra công chúng. Việc chào bán cổ phiếu ra công chúng làm cho chủ thể phát hành trở thành cti đại chúng và phải thực thi các nghĩa vụ luật định áp dụng đối với cti đại chúng. Các nghĩa vụ đó bao gồm:

– Tuân thủ chế độ công bố thông tin điều 102 luật CK

– Tuân thủ các nguyên tắc pháp lí về quản trị cti đc quy định trong luật DN (quyền cổ đông; tổ chức và hoạt động của đại hội đồng cổ đông, của hội đồng quản trị, của ban kiểm soát..)

– Tuân thủ quy định pl về đăng kí, lưu kí ck

4.2 Trách nhiệm của chủ thể phát hành trái phiếu ra công chúng: cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ công bố thông tin.

Để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, pl quy định cti phát hành trái phiếu ra công chúng phải công bố thông tin định kì, theo đó trong vòng 10 ngày kể từ ngày có báo cáo tài chính năm đc kiểm toán, cti phát hành trái phiếu ra công chúng phải công bố báo cáo tài chính năm. Phải công bố thông tin bất thường trong vòng 72h kể từ ngày xảy ra một trong các tình huống luật định.=> đảm bảo công chúng bỏ vốn đầu tư vào trái phiếu của các tổ chức này có đc những thông tin cần thiết về tình hình tài chính kinh doanh và khả năng tài chính của cti phát hành, từ đó cú quyết định đầu tư đúng đắn.

III. Nội dung pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ

  1. Chủ thể phát hành chứng khoán riêng lẻ bao gồm:

Các DNNN cổ phần hóa gồm: Các công ti NN độc lập thuộc các bộ, ngành, địa phương; cti mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng cti NN(kể cả NHTMNN); cti mẹ trong tổ hợp cti mẹ- cti con; cti thành viên hạch toán độc lập thuộc tổng cti do NN quyết định đầu tư và thành lập; đơn vị hạch toán phụ thuộc của cti NN độc lập, tập đoàn, tổng cti NN, cti mẹ, cti thành viên hạch toán độc lập của tổng cti; cti TNHH do NN nắm giữ 100% vốn điều lệ. Những DNNN cổ phần hóa thông qua chào bán ck riêng lẻ thường là những DN có khối lượng cổ phần bán ra dưới 10tỷ đồng và mức vốn điều lệ ko đạt yêu cầu để chào bán ck ra công chúng.

Theo luật DN năm 2005, từ ngày 1/7/2006 đến ngày 1/7/2010 các cti NN thành lập theo luật DNNN năm 2003 phải chuyển đổi thành cti TNHH hoặc cti cổ phần. Vì vậy trong vài năm tới các cti NN cổ phần hóa sẽ là bộ phận quan trọng trong số các doanh nghiệp thực hiện việc huy động vốn thông qua chào bán ck riêng lẻ.

Các cti cổ phần mới thành lập theo luật DN có thể huy động vốn theo 2 phương thức. Tuy nhiên trên thực tế, những cti này thường lựa chọn phương thức chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư ra nước ngoài chuyển sang hoạt động theo hình thức cti cổ phần cũng đứng trong hàng ngũ các doanh nghiệp chào bán cổ phiếu riêng lẻ.

Các công ti đầu tư ck theo pháp luật hiện hành gồm cti đầu tư ck đại chúng và cti đầu tư ck phát hành riêng lê. Như vậy, trừ nhóm cti ck đại chúng, các cti đầu tư ck còn lại đều là những cti huy động vốn thông qua chào bán cổ phiếu riêng lẻ.

Cả cti cổ phần và cti TNHH đều đc phép chào bán trái phiếu để huy động vốn, đáp ứng nhu cầu về vốn trong kinh doanh. Trong thực tiễn, chủ thể phát hành trái phiếu thường lựa chọn phương thức chào bán riêng lẻ vì vậy các cti này cũng rất có thể sẽ có mặt trong hàng ngũ các tổ chức phát hành ck riêng lẻ.

  1. Điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ

2.1. Điều kiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có văn bản riêng và cụ thể quy định về việc chào bán cổ phiếu riêng lẻ cũng như điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ mà vấn đề này được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau, điều chỉnh việc chào bán cổ phiếu của những loại hình doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, mới đây khi Nghị định số 01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010 quy định về chào bán chứng khoán cổ phần riêng lẻ đã góp phần từng bước tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động chào bán cổ phiếu ra thị trường chứng khoán nói chung và điều kiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ nói riêng. Vấn đề này được quy định như sau:

Thứ nhất, về các doanh nghiệp thuộc diện được chào bán cổ phiếu riêng lẻ: Theo như quy định tại Điều 2 Nghị định 01/2010/NĐ-CP về đối tượng áp dụng thì để được chào bán chứng khoán riêng lẻ thì doanh nghiệp phải được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc các doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần (ngoại trừ các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần). Riêng đối với các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện ngoài việc phải tuân thủ quy định của Nghị định này còn phải tuân thủ các quy định khác của pháp luật chuyên ngành.

Thứ hai, doanh nghiệp chỉ được chào bán cổ phần riêng lẻ bằng việc chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau:

  1. a) Các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;
  2. b) Dưới 100 nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. [ Điều 4 Nghị định số 01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010 quy định về chào bán chứng khoán cổ phần riêng lẻ]

Như vậy, với quy định này thì pháp luật đã hạn chế số lượng nhà đầu tư, tổ chức đầu tư tham gia vào việc mua cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp của doanh nghiệp chào bán chứng khoán riêng lẻ.

Thứ ba, điều kiện để các doanh nghiệp chào bán chứng khoán (thỏa mãn quy định tại Điều 2 Nghị định 01/2010/NĐ-CP) là:

– Cú quyết định thông qua phương án chào bán cổ phần riêng lẻ và phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị theo Điều lệ công ty hoặc ủy quyền của Đại hội đồng cổ đông cho Hội đồng quản trị (đối với công ty cổ phần); hoặc Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển thành công ty cổ phần); hoặc chủ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần).

Phương án chào bán phải xác định rõ đối tượng và số lượng nhà đầu tư được chào bán dưới 100 nhà đầu tư và hạn chế chuyển nhượng cổ phần tối thiểu trong vòng 01 năm kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán.

Trường hợp chào bán cho các đối tác chiến lược, tổ chức chào bán phải xây dựng tiêu chí xác định, lựa chọn đối tác chiến lược. Đối tác chiến lược là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp; chuyển giao công nghệ mới, cung ứng nguyên vật liệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm; gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp.

Những người có quyền lợi liên quan đến đợt chào bán riêng lẻ không được tham gia biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông về việc này.

– Có hồ sơ đăng ký chào bán cổ phần riêng lẻ đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại Điều 9 Nghị định định số 01/2010/NĐ-CP gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền chậm nhất 20 ngày trước ngày dự kiến thực hiện việc chào bán, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.

Trong trường hợp tổ chức chào bán là doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, ngoài việc phải đáp ứng các quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này, phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan.

– Các đợt chào bán riêng lẻ phải cách nhau ít nhất sáu tháng.

– Đảm bảo tuân thủ các quy định về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư, trong trường hợp có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài.

2.2. Điều kiện chào bán trái phiếu riêng lẻ. Để được chào bán chứng khoán riêng lẻ, doanh nghiệp phải hội tụ các điều kiện theo quy định của pháp luật như:

Thứ nhất, doanh nghiệp phải thuộc đối tượng được phép chào bán chứng khoán riêng lẻ, tức là được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty nhà nước trong thời gian chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu về thời gian hoạt động kinh doanh tối thiểu. Kể từ khi chính thức bước vào hoạt động chính thức cho tới khi thực hiện việc chào bán riêng lẻ, doanh nghiệp phải có thời gian hoạt động ít nhất là một năm. Đây chính là khoảng thời gian tối thiểu cần thiết để doanh nghiệp có thể sơ bộ chứng minh thực lực của mình trong thời gian đã qua và tiềm lực của mình trong những khoảng thời gian sắp tới trong lĩnh vực kinh doanh của mình.

Thứ ba, doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu tài chính minh bạch, thể hiện ở chỗ doanh nghiệp phải có báo cáo tài chính của năm liền kề trước với năm phát hành trái phiếu riêng lẻ đã được kiểm toán. Thỏa mãn được điều kiện này là doanh nghiệp đã chứng tỏ được tính nghiêm túc của việc chấp hành chế độ kế toán và kiểm toán trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Đây có thể coi là nguồn thông tin đáng tin cậy, một bộ phận cấu thành thông tin cần cung cấp cho nhà đầu tư để giúp nhà đầu tư có thể đánh giá được năng lực kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó cú quyết định đầu tư thỏa đáng.

Thứ tư, doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu của pháp luật về năng lực kinh doanh, thể hiện ở số lãi của hoạt động sản xuất, kinh doanh năm liền kề trước với năm phát hành. Với điều kiện này, thì chỉ doanh nghiệp làm ăn hiệu quả mới được vay vốn thông qua chào bán trái phiếu và những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ không thể có được quyền năng huy động vốn này. Điều kiện này được đặt ra để loại trừ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả tham gia vào quá trình huy động vốn bằng chào bán chứng khoán nhằm giảm thiểu nguy cơ rủi ro tiềm tang cho nhà đầu tư.

Thứ năm, doanh nghiệp phải hoạch định được đường đi nước bước cụ thể cần thiết phải tiến hành để chào bán trái phiếu riêng lẻ, thể hiện ở chỗ doanh nghiệp có phương án phát hành trái phiếu đã được tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền thông qua. Phương án phát hành trái phiếu do doanh nghiệp phát hành để làm cơ sở cho việc chào bán chứng khoán phải thể hiện được các nội dung cần thiết, giúp nhà đầu tư có thể quyết định được việc nên hay không nên đầu tư vào loại trái phiếu sẽ được chào bán trong mối quan hệ so sánh với các loại trái phiếu doanh nghiệp khác cũng có mặt trên thị trường chứng khoán. Ví dụ: nội dung của phương án phát hành trái phiếu phải giúp nhà đầu tư xác định được vốn mà mình bỏ ra cho doanh nghiệp vay thông qua việc đầu tư vào mua trái phiếu sẽ được dựng vào mục đích gì; tổng số lượng trái phiếu phát hành là bao nhiêu; địa điểm bán trái phiếu, thanh toán nợ gốc và lãi như thế nào… Nếu chào bán trái phiếu chuyển đổi, phương án phát hành trái phiếu của doanh nghiệp còn phải thể hiện thêm một vài nội dng khác như tỷ lệ chuyển đổi từ trái phiếu sang cổ phiếu, thời hạn chuyển đổi, biên độ biến động giá cổ phiếu.

Tùy thuộc vào hình thức sở hữu của doanh nghiệp phát hành trái phiếu và vào loại trái phiếu sẽ được chào bán mà cơ quan có thẩm quyền thông qua phương án phát hành trái phiếu khác nhau. Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cơ quan có thẩm quyền là hội đồng quản trị (trong trường hợp công ty cổ phần), hoặc hội đồng thành viên (trong trường hợp công ty trách nhiêm hữu hạn) nếu chào bán trái phiế thường; hoặc đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần trong trường hợp chào bán trái phiếu chuyển đổi. Đối với doanh nghiệp nhà nước (kể cả tổ chức tín dụng thuốc sở hữu nhà nước), phương thức chào bán cổ phiếu phải được bộ tài chính chấp thuận.

  1. Trình tự, thủ tục chào bán chứng khoán riêng lẻ

3.1. Trình tự, thủ tục chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Theo Nghị định số 01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010 quy định về chào bán chứng khoán cổ phần riêng lẻ thì trình tự, thủ tục chào bán được thực hiện đối với các doanh nghiệp đã đáp ứng đầy đủ điều kiện chào bán như sau:

  1. Gửi hồ sơ đăng kí chào bán cổ phần riêng lẻ đầy đủ và hợp lệ tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

Theo quy định tại Điều 9 Nghị định này thì bước đầu tiên là doanh nghiệp phải gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền hồ sơ đăng kí chào bán cổ phần riêng lẻ đầy đủ và hợp lệ chậm nhất 20 ngày trước ngày dự kiến thực hiện việc chào bán, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký đầy đủ và hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông báo cho tổ chức đăng ký biết và công bố trên trang thông tin điện tử (website) của cơ quan danh sách tổ chức đăng ký chào bán thuộc phạm vi quản lý của mình theo mẫu quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp tổ chức chào bán là doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện, nếu pháp luật liên quan có quy định khác thì trình tự, thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Trình tự, thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký chào bán cổ phần riêng lẻ phải được niêm yết công khai tại cơ quan có thẩm quyền. Do vậy, trường hợp quá 15 ngày sau thời hạn trên mà tổ chức chào bán không nhận được ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức chào bán được tiến hành chào bán cổ phần riêng lẻ theo hồ sơ đã đăng ký.

  1. Tiếp sau đó là việc doanh nghiệp đã đăng kí chào bán cổ phần riêng lẻ sẽ cung cấp thông tin về đợt chào bán cho nhà đầu tư theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.

Gồm: 1.Thông tin về Tên, địa chỉ của doanh nghiệp; 2.Ngành nghề kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; 3.Sản phẩm và dịch vụ chủ yếu; 4.Tài sản chủ yếu của doanh nghiệp; 5.Danh sách những công ty mẹ và công ty con; 6.Tình hình hoạt động kinh doanh và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trước thời điểm chào bán cổ phần riêng lẻ; 7.Vị thế của công ty so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành; 8.Một số thông tin chủ yếu về kế hoạch đầu tư và chiến lược phát triển doanh nghiệp; 9.Thông tin về đợt chào bán cổ phần riêng lẻ; 10.Những người chịu trách nhiệm chính đối với nội dung các thông tin về doanh nghiệp.

Việc công bố thông tin không được chứa đựng nội dung có tính chất quảng cáo và mời chào về việc chào bán cổ phần riêng lẻ.

  1. Cuối cùng là việc doanh nghiệp chào bán cổ phần riêng lẻ sẽ tổ chức thực hiện việc chào bán theo đúng phương án đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3.2. Trường hợp chào bán trái phiếu riêng lẻ.

  1. Công bố thông tin trước khi chào bán trái phiếu riêng lẻ.

Trường hợp chào bán trái phiếu, chủ thể phát hành phải cung cấp một số thông tin phản ánh tình hình tài chính, uy tín của doanh nghiệp phát hành và quyền lợi của người sở hữu trái phiếu. Thứ nhất, chủ thể phát hành phải công khai báo cáo tài chính đã được kiểm toán của năm trước năm phát hành làm cơ sở cho nhà đầu tư đánh giá thực trạng tình hình kinh doanh của tổ chức phát hành. Thứ hai, tổ chức phát hành phải công bố phương án phát hành trái phiếu được tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông qua để giúp nhà đầu tư biết được một cách sơ bộ mục đích của cuộc chào bán, khối lượng, kì hạn và lãi suất trái phiếu chào bán để có thể dự đoán được mức lãi mà mình được hưởng nếu đầu tư vào loại trái phiếu sẽ chào bán. Thứ ba, tổ chức phát hành phải công khai kết quả xếp loại của tổ chức định mức tín nhiệm đối với tổ chức phát hành trái phiếu và loại trái phiếu chào bán. Đây là thông tin quan trọng, giúp nhà đầu tư có thể có được hình dung tương đối chính xác về thứ bậc của tổ chức phát hành và mức độ rủi ro của trái phiếu mà tổ chức đó sẽ chào bán trong mối quan hệ với các tổ chức phát hành khác và trái phiếu của những tổ chức đó trên thị trường chứng khoán. Thứ tư, tổ chức phát hành phải công bố quyền lợi của người mua trái phiều và cam kết của mình đối với người sở hữu trái phiếu. Đây là thông tin cần thiết giúp nhà đầu tư có thể biết được quyền lợi của mình sau khi trở thành người sở hữu trái phiếu và có cơ sở để xem xét liệu quyền lợi của mình có được tổ chức phát hành đảm bảo thực hiện.

Ngoài ra, tùy thuộc vào loại trái phiếu sẽ chào bán là trái phiếu chuyển đổi hay trái phiếu không chuyển đổi, tổ chức phát hành sẽ phải tuân thủ những nguyên tắc chào bán khác nhau nhưng những nguyên tắc này đều đặt ra yêu cầu công bố thông tin và quy định rõ những thông tin cần cung cấp cho nhà đầu tư đối với từng loại trái phiếu. Nếu chào bán trái phiếu chuyển đổi, tổ chức phát hành trái phiếu công khai, tại thời điểm chào bán, các thông tin cần thiết về điều kiện chuyển đổi, thời hạn chuyển đổi, tỉ lệ chuyển đổi trái phiếu, biên độ biến động giá cổ phiếu, mục đích sử dụng nguồn thu từ đợt chào bán trái phiếu và các quyền lợi khác của người sở hữu trái phiếu. Nếu chào bán trái phiếu không chuyển đổi, tổ chức phát hành phải chú trọng việc công khai mục đích sử dụng nguồn tiền thu đợt cháo bán trái phiếu.

  1. Phân phối trái phiếu riêng lẻ.

Việc phân phối trái phiếu trong phát hành chứng khoán riêng lẻ có thể được tiến hành bởi chính tổ chức phát hành hoặc thông qua tổ chức trung gian là nhà bảo lãnh phát hành hoặc đại lí phá hành. Đây là những công ti chứng khoán và các định chế tài chính thỏa mãn điều kiện luật định được phép cung cấp dịch vụ bảo lãnh hoặc đại lí phát hành. Việc bảo lãnh phát hành và đại lí phát hành có thể do một hoặc mốt số tổ chức bảo lãnh hoặc đại lí đứng ra đảm nhiệm.

Chứng khoán phát hành riêng lẻ có thể được chào bán theo phương thức bán lẻ hoặc đấu thầu. Phương thức bán lẻ thường được sử dụng để chào bán thêm cổ phần ở các công ti đang hoạt động nay muốn tăng vốn điều lệ hoặc để phân phối cổ phần lần đầu ở các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, bằng cách bán cho các đối tường mua cổ phần được hưởng ưu đãi về giá.

Phương thức đấu thầu thường được áp dụng để chào bán trái phiếu doanh nghiệp. Việc đấu thầu trái phiếu có thể được tiến hành trực tiếp tại doanh nghiệp phát hành trái phiếu hoặc thông qua các tổ chức tài chính trung gian hoặc thông qua Trung tâm giao dịch chứng khoán. Mục đích của đấu thầu trái phiếu là giúp tổ chứ phát hành hoặc tổ chức được ủy quyền phát hành có thể lựa chọn mứ lãi suất trúng thầu trên cơ sở các mức lãi suất dự thầu của các tổ chức, cá nhân tham gia dự thầu. Thường thì mức lãi suất trúng thầu sẽ là mứ lãi suất dự thầu thấp nhất mà tổ chức phát hành phải trả cho chủ sở hữu trái phiếu. Trong cuộc đấu thầu trái phiếu, tổ chức phát hành cũng có thể kết hợp giữa đấu thầu canh tranh lãi suất với đấu thầu không cạnh tranh lãi suất với điều kiện tỉ lệ trái phiếu đấu thầu không cạnh tranh lãi suất không vượt quá tỉ lệ luật định trên tổng khối lượng trái phiếu thông báo phát hành của đợt đấu thầu đó. Nhưng ngay cả trong đấu thầu không cạnh tranh lãi suất, tổ chức và cá nhân dự thầu vẫn phải đăng kí mua trái phiếu theo mức lãi suất trúng thầu được xác định căn cứ vào kết quả của đấu thầu cạnh tranh lãi suất.

Vấn đề 3: Pháp luật về tổ chức thị trường chứng khoán

I – Tổng quan về thị trường giao dịch chứng khoán

  1. Khái niệm

Thị trường giao dịch chứng khoán là thị trường diễn ra việc mua, bán chứng khoán sau phát hành theo các quy định của pháp luật về chứng khoán.

  1. Đặc điểm:
  • Được tổ chức bởi các chủ thể đặc biệt là sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán. ( Sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán là các pháp nhận được thành lập theo các quy định của pháp luật để tiến hành các hoạt động nhằm giúp các giao dịch chứng khoán diễn ra một cách thuận lợi, nhanh chóng và trong khuôn khổ pháp luật).
  • Hàng hóa được giao dịch tại thị trường giao dịch chứng khoán thông thường là loại hàng hóa có chất lượng cao. Đó là những loại chứng khoán đã được kiểm định và đủ điều kiện niêm yết và giao dịch.

Các loại chứng khoán này phân theo hai cấp độ:

+ Chứng khoán được phép giao dịch ở thị trường giao dịch do sở giao dịch chứng khoán tổ chức có chất lượng cao nhất. Loại chứng khoán này thỏa mãn các điều kiện rất cao do sở ban hành.

+ Chứng khoán được giao dịch tại thị trường giao dịch được tổ chức bởi trung tâm giao dịch chứng khoán có chất lượng thấp hơn. Là những loại chứng khoán không đủ điều kiện giao dịch hoặc nhà phát hành không muốn giao dịch tại thị trường do sở giao dịc tổ chức.

  • Các giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua các trung gian chuyên nghiệp là các thành viên thị trường. Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tại thị trường giao dịch chứng khoán. Các nhà đàu tư không được trực tiếp đặt lệnh mua, bán trực tiếp mà phải gián tiếp qua các trung gian là thành viên thị trường này.
  • Các hoạt động trên thị trường giao dịch chứng khoán chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ của sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán,và của UBCKNN trên cơ sở pháp luật chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán và trung tâm giao dịch chứng khoán có trách nhiệm trực tiếp giám sát các hoạt động trên thị trường mình tổ chức. UBCKNN có trách nhiệm giám sát hoạt động của SGDCK, TTGDCKđể đảm bảo hoạt động đó đúng pháp luật.
  1. Bản chất:
  • Góc độ kinh tế: Là tập hợp các hoạt động phân phối lại các nguồn vốn từ chủ thể này sang chủ thể khách, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Thong qua hoạt động phân phối lại này mà các nguồn vốn được luận chuyển một cách nhanh chóng nhất.
  • Góc độ pháp lý: Là tập hợp các giao dịch mua, bán chứng khoán trên cơ sở pháp luật hiện hành. Các chủ thể trên thị trường thực hiện các giao dịch chuyển nhượng được pháp luật thừa nhận, thông qua đó đáp ứng các nhu cầu của bản thân mình.
  1. Chức năng:
  • Phân phối lại những nguồn vốn giữa các nhà đầu tư.

Trong quá trình đầu tư, nhà đầu tư cố gắng đầu tư vào lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao nhất và rút khỏi những lĩnh vực mag lại ít lợi nhuận hoặc không manh lại lợi nhuận một cách nhanh nhất.

  • Xác định giá thị trường của chứng khoán.( chức năng quan trọng).

Trên nền kinh tế thị trường thì giá cả của hàng hóa được xác định dựa trên mối quan hệ cung cầu. Trên thị trường giao dịch chứng khoán diễn ra thường xuyên và có tính liên tục tuân theo quan hệ cung cầu, trên cơ sở đó giá thị trường của chứng khoán được xác định một cách chính xác nhất.

Việc xác định giá thị trường của chứng khoán có ý nghĩa quan trọng:

+ Có ý nghĩa trong việc xác định chỉ số chứng khoán – kim chỉ nam cho nền kinh tế quốc gia. Dựa vào đó, các CQNN có thẩm quyền có thể nắm được khá rõ sự phát triển của nền kinh tế, thông qua đó để có những chính sách phù hợp.

+ Có ý nghĩa quan trọng đối với tổ chức phát hành khi muốn phát hành chứng khoán bổ sung bởi lẽ giá bán chứng khoán trong đợt phát hành bổ sung dựa trên giá thị trường tại thời điểm đó.

+ Có ý nghĩa quan trọng đối với những nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào chứng khoán, giúp họ đưa ra những quyết định đầu tư, không đầu tư kịp thời đúng đắn.

  • Tạo tính thanh khoản cao cho các chứng khoán:

Tính thanh khoản là khả năng chuyển hóa thành tiền một cách nhanh chóng của các loại chứng khoán. Nhờ có thị trường giao dịch chứng khoán mà các chứng khoán được niêm yết và giao dịch ở đó có thể được mua đi, bán lại dễ dàng thông qua đó các nhà đầu tư có thể thu hồi vốn để phục vụ nhu cầu bản thân hoặc chuyển hướng lĩnh vực đầu tư vào lĩnh vực khác một cách nhanh chóng.

  1. Các nguyên tắc hoạt động chứng khoán trên thị trường giao dịch chứng khoán:
  • Tôn trọng quyền tự do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán của các tổ chức, cá nhân. Theo đó, không tổ chức, cá nhân nào được can thiệp vào hoạt động mua, bán chứng khoán, kinh doanh dịch vụ của các chủ thể trên thị trường giao dịch nếu các hoạt động này ko trái pháp luật.
  • Các hoạt động diễn ra trên thị trường phải dựa trên sự công bằng, công khai và minh bạch. Thông tin là cơ sở để các nhà đầu tư xem xét và đưa ra quyết định đầu tư của mình. Theo đó, các nhà đầu tư phải được quyền tiếp cận thông tin thị trường ở mức độ như nhau, phải được công bố công khai và mọi hành vi sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán trên thị trường giao dịch đều bị cơ quan chức năng xử lý.
  • Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư. Các CQNN có thẩm quyền có trách nhiệm ban hành các quy định pháp luật liên quan và trực tiếp thực hiện các hành vi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong trường hợp cần thiết.
  • Tự chịu trách nhiệm về rủi ro. Theo đó, một khi Nhà nước thừa nhận và tôn trọng quyền tự do trong hoạt động mua, bán và kinh doanh chứng khoán của các chủ thể thì những chủ thể này sẽ phải ý thức được và tự gánh chịu những rủi ro từ những hoạt động của thị trường.
  • Tuân thủ các quy định của pháp luật. Theo đó, tất cả hoạt động của các chủ thể thực hiện trong thị trường giao dịch phải được diễn ra trong khuôn khổ pháp luật.

II – Pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của thị trường giao dịch tập trung:

  1. Khái niệm:

Thị trường giao dịch chứng khoán tập trung là thị trường giao dịch được tổ chức bởi sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán.

  1. Sở giao dịch chứng khoán:
  • Khái niệm: Là pháp nhân thành lập và hoạt động theo mô hình công ty TNHH hoặc CTCP.
  • Đặc điểm (khác so với các công ty KDCK khác):

+ Chỉ có Thủ tướng chính phủ mới có quyền ra quyết định thành lập, giải thể, chuyển đổi cơ cấu tổ chức, hình thức sở hữ của SGDCK theo đề nghị của Bộ trưởng BTC.

+ Là công ty có hoạt động kinh doanh đặc thù – tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán tập trung – hoạt động kinh doanh chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán. Nội dung hoạt động kinh doanh này gồm: quản lý việc niêm yết chứng khoán, cung cấp chỗ và thu phí thành viên giao dịch, cung cấp các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho giao dịch …

+ Là công ty chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành – pháp luật chứng khoán; chịu sự điều chỉnh của luật doanh nghiệp về các vấn đề tổ chức và phân chia lợi nhuận; chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật khác về các vấn đề có liên quan.

+ Là công ty chịu sự quản lý và giám sát của UBCKNN với tư cách là CQCLNN chuyên ngành.

  • Quyền và nghĩa vụ của SGDCK: (Điều 37 – LCK)
  • Quyền:

+ ban hành quy chế về niêm yết chứng khoán, ban hành các quy chế về thành viên và giao dịch, quy chế về công bố thông tin, quy chế về giám sát và hòa giải.

+ được toàn quyền thực thi các quy chế mình đã ban hành. Quyền chấp thuận hoặc hủy bỏ niêm yết; tạm ngừng hoặc đình chỉ hoặc hủy bỏ giao dịch chứng khoán; chấp thuận, hủy bỏ tư cách thành viên, quản lý, giám sát hoạt động giao dịch của các thành viên; giám sát hoạt động công bố thông tin của tổ chức niêm yết, của thành viên; được quyền thực thi các quyền này trên cơ sở các quy chế của mình.

+ Giám sát hoạt động công bố thông tin của tổ chức niêm yết, thành viên giao dịch tại SGDCK.

+ Cung cấp thông tin thị trường và các thông tin liên quan đến chứng khoán niêm yết.

+ Làm trung gian hòa giải theo yêu cầu của thành viên giao dịch khi phát sinh tranh chấp liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán.

+ Thu phí theo quy định của BTC.

  • Nghĩa vụ:

+ Thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thống kê nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

+ Bảo đảm hoạt động GDCK trên thị trường được tiến hành công khai, công bằng, trật tự và hiệu quả.

+ thực hiện công bố thông tin theo quy định của pháp luật.

+ Cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền trong công tác điều tra và phòng, chống các hành vi VPPL về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

+ Phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho các nhà đầu tư.

+ Bồi thường thiệt hại cho thành viên giao dịch trong trường hợp SGDCK gây thiệt hại cho thành viên giao dịch, trừ trường hợp bất khả kháng.

  • Cơ cấu tổ chức:
  • Hội đồng quản trị:

+ Là cơ quan có quyền lực cao nhất tại SGDCK. Thường gồm đại diện các CTCK thành viên, 1 số đại diện ko phải thành viên như tổ chức niêm yết, giới chuyên môn, nhà kinh doanh, chuyên gia luật và các thành viên đại diện cho Chính phủ.

+ Chủ tịch HĐQT do các thành viên bầu, phải được BTC phê chuẩn theo đề nghị của HĐQT sau khi có ý kiến của Chủ tịch UBCKNN.

+ Quyền hạn:

  • Đình chỉ, rút giấy phép thành viên.
  • Chấp thuận, đình chỉ và hủy bỏ niêm yết chứng khoán.
  • Chấp nhận kế hoạch và ngân sách hàng năm của SDGCK.
  • Ban hành và sửa đổi các quy chế hoạt động của SGDCK.
  • Các thẩm quyền khác theo điều lệ.
  • Ban giám đốc:

+ Là cơ quan điều hành của SGDCK và chịu trách nhiệm trước HĐQT về hoạt động điều hành của mình.

+ Gồm GĐ, PGĐ. GĐ của SGDCK phải được BTC phê chuẩn theo đề nghị của HĐQT, sau khi có ý kiến của Chủ tịch UBCKNN.

+ Quyền hạn: theo điều lệ

  • Ban kiểm soát:

+ Là cơ quan giúp việc cho HĐQT để kiếm soát,  giám sát các hoạt động tại SGDCK trong đó có cả giám sát công việc điều hành của BGĐ.

+ Thành viên do HĐQT phê chuẩn và bổ nhiệm. BKS chỉ chịu trách nhiệm về công việc của mình trước HĐQT.

+ Quyền hạn: theo điều lệ

  • Các bộ phận giúp việc:

+ Chính là các phòng ban của SGDCK có trách nhiệm giúp GĐ điều hành công việc tại sở.

+ Thường gồm các phòng giao dịch, phòng niêm yết, phòng thành viên, phòng công nghệ thông tin, phòng kế toán, phòng nghiên cứu và phát triển, văn phòng.

  • Thành viên của SGDCK:

+ Điều kiện:

  • Các CTCK được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, được kinh doanh nghiệp vụ môi giớ I hoặc/ và tự doanh chứng khoán.
  • Đáp ứng các điều kiện nhất định của SGDCK, phải tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy chế thành viên do SGDCK ban hành.

+ Quyền và nghĩa vụ:

  • Quyền được sử dụng các trang thiết bị, hệ thống giao dịch SGDCK phục vụ cho HĐKD.

Quyền được nhận các thông tin về thị trường GDCK.

Được đề nghị SGDCK đứng ra làm trung gian hòa giải khi có tranh chấp.

Đề xuất ý kiến với SGDCK về các vấn đề có liên quan.

Các quyền khác được SGDCK quy định trong quy chế thành viên giao dịch của SGDCK,

  • Nghĩa vụ tuân thủ các nghĩa vụ của CTCK theo quy định của pháp luật.

Chịu sự giám sát của SGDCK.

Nộp phí thành viên, phí giao dịch và các loại phí khác theo quy định

Công bố thông tin theo quy định của pháp luật và quy chế công bố thông tin do SGDCK ban hành.

Hỗ trợ các thành viên khác theo yêu cầu của SGDCK

Các nghĩa vụ khác quy định tại quy chế thành viên giao dịch SGDCK.

  1. Hoạt động cơ bản của SGDCK:
  • Hoạt động niêm yết:

+ Khái niệm: Là hoạt động của SGDCK nhằm xác định, kiểm tra và chấp thuận chứng khoán của một tổ chức phát hành đủ điều kiện đưa vào giao dịch tại SGDCK

+ Lợi ích:

  • Uy tín của tổ chức phát hành được nâng lên: do không phải tổ chức phát hành nào cũng có thể được chấp thuận cho niêm yết chứng khoán của mình tại SGDCK bởi lẽ điều kiện để được niêm yết rất khó.
  • Nâng cao tính thanh khoản cho chứng khoán.
  • Giúp tổ chức phát hành xác định được chính xác giá thị trường chứng khoán.
  • Tổ chức phát hành được ưu đãi về thuế.
  • Nâng cao uy tín của SGDCK, đồng thời làm cho khối lượng giao dịch tăng lên và nguồn thu số phí mà SGDCK thu được cũng tăng lên.
  • Tạo nhiều cơ hội mối giới mua bán cho các nhà đầu tư tăng lên và doanh thu của các công ty từ hoạt động này cũng sẽ tăng lên.
  • Phù hợp với định hướng phát triển thị trường chứng khoán của quốc gia.
  • Giúp nhà đầu tư có thêm một loại chứng khoán có triển vọng tốt để lựa chọn và quyết định đầu tư.

+ Tiêu chuẩn niêm yết: (Khoản 1 – Điều 8 – Nghị định 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành LCK).

  • Các điều kiện định lượng:
  • CTCP có VĐL đã góp tại thời điểm đăng kí niêm yết từ 80 tỉ VNĐ trở lên.
  • HĐKD của 2 năm liền trước năm đăng kí niêm yết phải có lãi và không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký niêm yết.
  • Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ.
  • Cổ đông là thành viên HĐQT, BKS, GĐ hoặc TGĐ, PGĐ hoặc PTGĐ phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữ trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong vòng 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu nhà nước do các cá nhân nắm giữ.
  • Các điều kiện định tính:
  • Không có các khoản nợ quá hạn chưa được dự phòng theo quy định của pháp luật; công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên HĐQT, BKS, GĐ, PGĐ, TGĐ, PTGĐ, kế toán trưởng, cổ đông lớn và những người có liên quan.

+  Thủ tục đăng ký:

  • Bước 1: Tổ chức đăng ký niêm yết lập bộ hồ sơ đăng ký bao gồm các giấy tờ, tài liệu theo quy định gửi đến SGDCK, có thể thuê các tổ chức tư vấn, tổ chức kiểm toán giúp hoàn thiện hồ sơ, phải chịu mọi trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của bộ hồ sơ.
  • Bước 2: Trong thời hạn 30 ngày, SGDCK xem xét bộ hồ sơ đăng ký niêm yết, có quyền yêu cầu bổ sung nếu thấy chưa đầy đủ thông tin.

Trong thời gian này, các thành viên HĐQT, BKS, GĐ hoặc TGĐ, PGĐ hoặc PTGĐ, kế toán trưởng, cổ đông lớn không được chuyển nhượng những cổ phần mà mình nắm giữ.

  • Bước 3: SGDCK quyết định chấp thuận/ ko chấp thuận. Nếu từ chối thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

+ Quản lý việc niêm yết:

  • Là một phần trong hoạt động quản lý thị trường giao dịch tập trung của SGDCK, nhằm duy trì thị trường hoạt động công bằng và trật tự.
  • Hai nội dung cơ bản của hoạt động quản lý niêm yết là thay đổi niêm yết và hủy bỏ niêm yết:

Thay đổi niêm yết là việc thay đổi một hoặt 1 số nội dung liên quan đên chứng khoán đang được niêm yết. Hậu quả là tổ chức niêm yết phải lập bộ hồ sơ thay đổi niêm yết gửi đến SGDCK.

Việc thay đổi niêm yết được tiến hành khi có một trong các sự kiện xảy ra:

  • Tổ chức niêm yết thực hiện tách, gộp cổ phiếu, phát hành thêm cổ phiếu để trả cổ tức hoặc cổ phiếu thưởng hoặc chào bán quyền mua cổ phần cho cổ đông hiện hữu.
  • Tổ chức niêm yết bị tách, nhận sáp nhập.
  • Các trường hợp thay đổi số lượng chứng khoán niêm yết khác trên SGDCK.

Hủy bỏ niêm yết là việc SGDCK chấm dứt việc niêm yết của một loại CK tại SGDCK. Hậu quả là chứng khoán của tổ chức niêm ết không còn tên trên hệ thống giao dịch tại SGDCK.

Tổ chức niêm yết có quyền niêm yết lại sau 12 tháng từ thời điểm niêm yết bị hủy bỏ nếu thỏa mãn các điều kiện của luật định.Chứng khoán bị hủy bỏ niêm yết khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:

  • Tổ chức niêm yết không còn đáp ứng được các quy định về điều kiện niêm yết trong vòng 1 năm.
  • Tổ chức niêm yết bị ngừng hoặc ngừng các hoạt động SX,KD.
  • Tổ chức niêm yết bị thu hồi giấy chứng nhận ĐKKD / giấy phép hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành
  • CỔ phiếu khong có giao dịch tại SGDCK trong thời hạn 12 tháng.
  • Kết quả kinh doanh thua lỗ trong 3 năm liên tục và tổng lỗ lũy kế vượt quá vốn chủ sở hữu trong báo cáo tài chính.
  • Tổ chức niêm yết đề nghị hủy bỏ niêm yết.
  • Các trường hợp khác.
  • Hoạt động giao dịch:

+ Khái niệm: Là hoạt động trung tổ chức sân chơi cho cá người chơi là thành viên, cung cấp thiết bị, hệ thống cần thiết phục vụ cho cuộc chơi, ban hành luật chơi để buộc người chơi tuân thủ.

+ Quy trình giao dịch tại SGDCK:

  • Bước 1: Nhận lệnh
  • Bước 2: Truyền lệnh đến SGDCK và nhập vào hệ thống. Các lệnh giao dịch được đại diện giao dịch nhập vào hệ thống giao dịch tại SGDCK để khớp lệnh theo nguyên tắc ưu tiên về giá, ưu tiên về thời gian, ưu tiên về khối lượng.
  • Bước 3: Khớp lệnh: việc khớp lệnh có thể được thực hiện theo 1 trong các phương pháp khớp lệnh định kỳ/ liên tục.
  • Bước 4: Xác nhận giao dịch hoàn thành. Kết quả thành công của giao dịch sẽ đc hiển thị trên bảng điện tử và đồng thời kết quả giao dịch bằng văn bản sẽ chuyển đến tay nhà đầu tư.
  • Hoạt động giám sát:

+ Nội dung giám sát:

  • Giám sát việc tuân thủ các quy chế của SGDCK, các quy định của LCK và các quy định có liên quan.
  • Điều tra các tin đồn có thể ảnh hưởng đến giá cả thị trường, xử lý tin đồn theo quy định của pháp luật.
  • Điều tra, làm rõ, ngăn chặn và xử lý các hành vi bị cấm trong GDCK như giao dịch nội gián, thao túng thị trường.

+ Mục đích: nhằm tìm ra nguyên nhân của những biến động bất thường của thị trường; kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các hoạt động sai trái của các chủ thể trên thị trường, đảm bảo thị trường vận hành an toàn và hiệu quả.

+ Đối tượng giám sát: các GDCK, hoạt động của các tổ chức niêm yết, các CTCK thành viên.

+ Phương thức: hàng loạt các phương pháp phân tích, đối chiếu, thống kê.

Giám sát trực tiếp/ gián tiếp.

  • Hoạt động công bố thông tin:

+ Mục đích: cung cấp cho những chủ thể có liên quan những thông tin chính xác nhất về thị trường, giúp các nhà đầu tư có được những thông tin cần thiết để đưa ra quyết định đúng đắn. đồng thời cảnh báo các chủ thể có thể liên quan về các giao dịch thực hiện tại sở.

+ Phương tiện công bố thông tin:

  • Các phương tiện CBTT của UBCKNN: báo thường niên, trang thông tin điện tử và các ấn phẩm khác của UBCKNN.
  • Các phương tiện CBTT của SGDCK: bản tin thị trường chứng khoán, trang thông tin điện tử của SGDCK …
  • Phương tiện thông tin đại chúng

+ Nội dụng: (Điều 107 – LCK).

  • Thông tin về GDCK tại SGDCK.
  • Thông tin về tổ chức niêm yết: CTCK, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty quản lý quỹ.
  • Thông tin giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán.

III – Thị trường giao dịch phi tập trung (OTC)

  1. Đặc trưng:
  • Là thị trường có tổ chức
  • Được tổ chức dưới hình thức phi tập trung (ko được thực hiện tại địa điểm xác định mà thông qua hệ thống trao đổi thông tin hoặc ở bất kì địa điểm nào thuận lợi cho việc thương lượng và xác lập giao dịch giữa bên mua và bên bán – khác TTCK TT)
  • Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC là loại có chứng khoán có chất lượng ko cao như ở TTCKTT, thường lá các loại chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ, công ty mới thành lập chua đủ điều kiện niêm yết và giao dịch tại SGDCK.
  • Có sự tham gia của các nhà tạo lập thị trường, bên cạnh các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán.
  • Phương thức thỏa thuận
  • Chịu sự điều chỉnh của LCK
  • Chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ của cơ quan chuyên ngành – UBCKNN là chủ yếu.
  1. Các quy định về niêm yết chứng khoán:
  • Chủ thể đứng ra tổ chức thị trường giao dịch, trong đó có thị trường OTC, sẽ xây dựng quy chế về niêm yết chứng khoán và phải được UBCKNN phê chuẩn. Quy chế phải đảm bảo 2 yêu cầu:

+ Cho phép các chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết tại thị trường giao dịch tập trung sẽ được niêm yết và giao dịch tại đây

+ Ngăn chặn các chứng khoán kém chất lượng được giao dịch tại thị trường này để đảm bảo sự lành mạnh của thị trường

  1. Các quy định về thành viên giao dịch:
  • Gồm thành viên thông thường và thành viên tạo lập thị trường:

+ Thành viên thông thường: là người môi giới hoặc tự doanh chứng khoán, thực hiện giao dịch chứng khoán nhân danh khác hàng, vì quyền lợi của khách hàng hoặc nhân danh mình, vì quyền lợi của mình.

+ thành viên tạo lập thị trường: duy trì thị trường và tính thanh khoản cho 1 hoặc 1 số loại chứng khoán nhất định. Họ năm giữ 1 lượng chứng khoán nhất định, liên tục đưa ra các mức giá mua, bán, đối với chứng khoán mà mình chịu trách nhiệm tạo lập, sẵn sàng mua, bán chứng khoán đó với mức giá cam kết.

  • Điều kiện (Điều 62 – LCK): phải là CTCK
  1. Các quy định về giao dịch:
  • Các giao dịch thực hiện thông qua hệ thống máy tính nối mạng
  • Các quy định này do chính chủ thể tổ chức thị trường ban hành dưới hình thức quy chế trên cơ sở chấp thuận của UBCKNN.
  • Nội dung: trình tự thủ tục, phương thức giao dịch, phương thức thanh toán và các vấn đề khác.
  1. Các quy định về chế độ công bố thông tin:
  • Chủ thể tổ chức thị trường giao dịch OTC xây dựng và ban hành sau khi được sự chấp thuận của UBCKNN.
  • Nội dung: Thông tin tổ chức chứng khoán được niêm yết và giao dịch tại thị trường, thông tin bản thân các thành viên giao dịch, thông tin về các giao dịch được thực hiên.

Vấn đề 4: Pháp luật về chủ thể kinh doanh chứng khoán

  1. Pháp luật về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán
  2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò
  3. Khái niệm:

– Theo cách hiểu thông thường thì “công ty chứng khoán” là tên gọi chỉ những tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực (ngành) chứng khoán.

– Ở Việt Nam hiện nay, Luật CK không đưa ra định nghĩa về công ty chứng khoán. Tuy nhiên, qua các quy định cụ thể trong Luật CK có thể khái quát định nghĩa về công ty chứng khoán như sau: Công ty CK là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH được thành lập, hoạt động theo luật Ck và các quy định khác của pháp luật để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán dưới đây theo giấy phép do UBCKNN cấp: môi giới CK, tự doanh CK, Bảo lãnh phát hành CK, tư vấn đầu tư CK.

  1. Đặc điểm:

– Công ty CK có đủ các đặc điểm của doanh nghiệp nói chung.

– Ngoài ra còn có những điểm đaẹc thù phân biệt với các doanh nghiệp kinh doanh khác:

+ Về lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh: Công ty CK là chủ thể kinh doanh trên thị trường CK có hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh CK. Điều 60 LCK quy định về các nghiệp vụ kinh doanh CK là môi giới CK, tự doanh CK, bảo lãnh phát hành CK, tu vấn đầu tư CK ngoài ra công ty CK còn được cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác.

+ Về mặt hình thức tổ chức pháp lý: công ty CK chỉ được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH hoặc công ty cổ phần theo quy định của luật doanh nghiệp.

+ Về phương diện quản lý nhà nước: công ty CK đặt dưới sự quản lý nhà nước trực tiếp của cơ quan quản lý chuyên trách. Ở VN, công ty Ck chịu sự quản lý, giám sát của UBCKNN.

+ pháp luật điều chỉnh: công ty CK là doanh nghiệp được thành lap, hoạt động trên cơ sở LCK và các quy định của pháp luật có liên quan.

  1. Vai trò:

Công ty Ck là định chế tài chính trung gian quan trọng trên thị trường CK.

– Trên thị trường sơ cấp, công ty CK cần cho người phát hành CK vì:

+ Để việc phát hành CK thành công thì tổ chức phát hành CK phải bán được CK cho người đầu tư. Việc này gặp phải nhiều khó khăn như vấn đề xác định giá bán, số lượng và thời điểm phát hành CK; vấn đề thực hiện các thủ tục đăng ký phát hành và cuối cùng là vấn đề phân phối CK. Nhứng hoạt động này nếu các tổ chức phát hành tự tiến hành thì hiệu quả đạt được ko cao do đó họ tìm đến các chủ thể chuyên nghiệp hoạt động trên thị trường Ck nơi có các chuyên gia có trình độ cao, có kinh nghiệm tư vấn, hỗ trợ giúp đỡ…đó chính là các công ty Ck.

+ Sự có mặt của các công ty Ck tham ra cung cấp các dịch vụ trong quá trình phát hành sẽ có tác dụng tạo được niềm tin cho những người đầu tư, đặc biệt là các tổ chức phát hành Ck lần đầu thường ít được sự tin tưởng của công chúng.

– Trên thị trường Ck thứ cấp, công ty Ck cần cho người đầu tư vì:

+ Để đánh giá chính xác giá trị thực của Ck từ đó đưa ra quyết định đầu tư hợp lý thì người đầu tư phải có đủ thông tin đáng tin cậy và phải cập nhật thường xuyên về tình hình kinh doanh của tổ chức phát hành. Trong khi đó nếu thông qua công ty Ck – là tổ chức chuyên cập nhật, lưu trữ, xử lý các thông tin về tổ chức phát hành để cung cấp cho người đầu tư bất cứ lúc nào họ cần.

+ Trong thị trường Ck bao giờ cũng có người cần mua, bán Ck nhưng không biết nhau cách tốt nhất là họ ủy quyền cho các tổ chức chuyên nghiệp thông qua đó cơ hội gặp nhau của người mua, bán Ck dễ dàng hơn mà thời gian và chi phí cho những giao dịch này cũng thấp.

à Như vậy có thể thấy công ty CK có vị trí, vai trò quan trọng trong thị trường CK. Những ảnh hưởng tác động của công ty CK đối với các chủ thể tham gia thị trường Ck và sự vận hành của thị trường CK là rất lớn.

  1. phân loại

– Trên thế giới:

+ Công ty CK chuyên doanh: là loại hình công ty CK chỉ được thực hiện 1 hoặc 1 số hoạt động nghiệp vụ kinh doanh CK nhất định mà không được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kinh doanh CK(Mỹ, Nhật…)

+ Công ty Ck đa nghiệp vụ là loại hình công ty Ck được thực hiện nhiều nghiệp vụ kinh doanh Ck thuộc về công ty Ck (Châu Âu lục địa).

+ Công ty kinh doanh Ck đa năng được thực hiện đồng thời các nghiệp vụ kinh doanh Ck và cả nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, bảo hiểm (Đức, Úc…)

– Ở VN:

+ Căn cứ hình thức tổ chức pháp lý doanh nghiệp thì công ty Ck chi thành công ty Ck cổ phần và công ty TNHH kinh doanh Ck trong đó có 2 loại công ty TNHH 2 tv trở lên và công ty TNHH 1 tv.

+ Căn cứ hình thức tổ chức đầu tư và nguồn vốn của chủ sở hữu thì được chia thành: công ty Ck 100% vốn trong nước; cty Ck 100% vốn nước ngoài; cty Ck hỗn hợp trong đó tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài ko được quá 49%; chi nhánh cty Ck nước ngoài tại VN.

  1. Quy chế thành lập, hoạt động, giải thể, phá ản công ty CK

2.1.Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động KDCK

Theo pháp luật VN hiện hành, tổ chức, cá nhân muốn KDCK tại VN thì phải thành lập công ty Ck dưới hình thức cty TNHH hoặc cty cổ phần và phải được UBCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động.

Pháp luật VN có quy định cụ thể điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho cty CK tại Điều 62 LCK:

Thứ nhất, có trụ sở, có trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động KDCK, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành Ck và tư vấn đầu tư Ck thì ko phải đáp ứng điều kiện trang bị, thiết bị.

Thứ hai, có vốn điều lệ thực góp tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ. Mức vốn pháp đinh được xác định cho từng nghiệp vụ kinh doanh. Trong trường hợp cty xin cấp giấy phép cho nhiều loại nghiệp vụ kinh doanh CK thì vốn pháp định là tổng số vốn pháp định theo từng loại nghiệp vụ kinh doanh mà cty được cấp phép.

Thứ ba, giám đốc hoặc tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ KDCK phải có chứng chỉ hành nghề CK và có tối thiểu ba người hành nghề CK cho mỗi nghiệp vụ kinh doanh.

Ngoài ra:

+ Cổ đông sáng lập hoặc thành viên sang lập là cá nhân có năng lực hành vi sân sự đầy đủ, không thuộc các trường hợp bị pháp luật cấm.

+ Nếu là pháp nhân phải đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lức tài chính để tham gia góp vốn.

+ Các cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập phảo sử dụng nguồn vốn của chính mình để góp vốn thành lập cty Ck.

Đối vơi thành lập chi nhánh cty Ck tại VN thì ngoài 3 điều kiện trên cần có thêm điều kiện là công ty mở chi nhánh phải là tổ chức KDCK đang hoạt động hợp pháp tại nước ngoài.

2.2.trình tự, thủ tục thành lập và cấp giấy phép thành lập, hoạt động

* Khoản 2 Điều 59 LCK quy định “UBCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho cty Ck, giấy phép này đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký KD.

*Thủ tục: (Điều 63 LCK)

– Lập hồ sơ gồm:

+ Giấy đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động của cty Ck.

+ Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm thực hiện các nghiệp vụ KDCK.

+ Xác nhận của ngân hàng về mức vốn pháp dịnh gửi tại tài khoản phong tỏa mở tại ngân hàng.

+ Danh sách dự kiến Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ KDCK kèm theo bản sao Chứng chỉ hành nghề Ck.

+ Danh sách cổ đông sáng lập hoạc thành viên sáng lập kèm theo bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu đối với cá nhân và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với pháp nhân.

+ bản sao báo cáo tài chính năm gần nhất có xác nhận củ tổ chức kiểm toán độc lập của cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là pháp nhân tham gia góp vốn từ 10% trở lên vốn điều lệ đã góp củ tổ chức đề  ghị cấp giấy phép.

+ Dự thảo điều lệ cty.

+ Dự kiến phương án hoạt động kinh doanh trong 3 năm phù hợp với nghiệp vụ kinh doanh đề nghị cấp phép kèm theo các quy trình nghiệp vụ, quy trình kiểm soát nội bộ, quy trình quản lý rủi ro.

Đối với cty Ck có vốn đầu tư nước ngoài thì hồ sơ, thủ tục cấp phép thành lập và hoạt động do Chính phủ quuy định.

* Sau khi nhận được hồ sơ theo quy định, trong thời hạn 30 ngày UBCKNN xem xét chấp thuận nguyên tắc việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động cty Ck. Trường hợp cần làm rõ vấn đề liên quan đến hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động của cty Ck, UBCKNN có quyền đề nghị người đại diện  trong số cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập hoặc người dự kiến được bổ nhiệm, tuyển dụng làm giám đốc (tổng giám đốc) của cty giải trình trực tiếp bằng văn bản.

Trong 6 tháng kể từ ngày được chấp thuận nguyên tắc, tổ chức xin cấp phép thành lập và hoạtđộng, cty Ck phải hoàn tất việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và phong tỏa vốn pháp định.

Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được xác nhận phong tỏa vốn của ngân hàng và biên bản kiểm tra cơ sở vật chất trụ sở cty, UBCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho cty Ck. Trường hợp từ chối UBCKNN phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải công bố Giấy phép thành lập và hoạt động trên phương tiện thông tin của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và một tờ báo điện tử hoặc báo viết trong ba số liên tiếp bao gồm các nội dung chủ yếu như: Tân công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ; Địa chỉ đặt trụ sở chính của công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện (nếu có); Số Giấy phép thành lập và hoạt động, ngày cấp, các nghiệp vụ kinh doanh được phép thực hiện; Vốn điều lệ; Người đại diện theo pháp luật.

Công ty chứng khoán đã được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động khi bổ sung nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải đề nghị cấp bổ sung Giấy phép thành lập và hoạt động. Hồ sơ đề nghị cấp bổ sung Giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm:

  1. a) Giấy đề nghị cấp bổ sung Giấy phép thành lập và hoạt động;
  2. b) Các tài liệu quy định tại các khoản 2, 3 và 8 Điều 63 của Luật này;
  3. c) Điều lệ sửa đổi, bổ sung đã được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua;
  4. d) Quyết định của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị hoặc quyết định của Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty về việc bổ sung nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán.

Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện những thay đổi sau đây: (Điều 68)

  1. a) Thành lập, đóng cửa chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng giao dịch;
  2. b) Thay đổi tân công ty; địa điểm đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng giao dịch;
  3. c) Giao dịch làm thay đổi quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp chiếm từ mười phần trăm trở lên vốn điều lệ đã góp của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, trừ trường hợp cổ phiếu của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đã được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán;
  4. d) Tạm ngừng hoạt động, trừ trường hợp tạm ngừng hoạt động do nguyên nhân bất khả kháng.
  5. Hồ sơ, thủ tục chấp thuận các thay đổi được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính.
  6. Thời hạn chấp thuận các thay đổi là mười lăm ngày, kể từ ngày Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước nhận được hồ sơ hợp lệ. Trường hợp từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

2.3.đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép thành lập, hoạt động KDCK (điều 70)

Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ bị đình chỉ hoạt động trong các trường hợp sau đây:

  1. a) Hồ sơ đề nghị cấp, bổ sung Giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin sai sự thật;
  2. b) Sau khi hết thời hạn cảnh báo quy định tại Điều 74 của Luật này, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ vẫn không khắc phục được tình trạng cảnh báo và có lỗ gộp đạt mức năm mươi phần trăm vốn điều lệ hoặc không còn đáp ứng đủ điều kiện về vốn hoạt động kinh doanh chứng khoán;
  3. c) Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong Giấy phép thành lập và hoạt động;
  4. d) Không duy trì các điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động quy định tại Điều 62 của Luật này.
  5. Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động trong các trường hợp sau đây:
  6. a) Không tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán trong thời hạn mười hai tháng, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động;
  7. b) Không khắc phục được tình trạng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày bị đình chỉ hoạt động;
  8. c) Không khắc phục được các vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều này trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày bị đình chỉ hoạt động;
  9. d) Giải thể, phá sản.
  10. Đối với trường hợp thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động quy định tại điểm b khoản 2 Điều này, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có thể chỉ định công ty chứng khoán khác thay thế để hoàn tất các giao dịch, hợp đồng của công ty bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động; trong trường hợp này, quan hệ uỷ quyền mặc nhiên được xác lập giữa hai công ty.
  11. Khi bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải chấm dứt ngay mọi hoạt động ghi trong Giấy phép và thông báo trên một tờ báo điện tử hoặc báo viết trong ba số liên tiếp. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có trách nhiệm công bố về việc thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ trên phương tiện thông tin của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.

2.4.giải thể, phá sản (điều 75)

Việc giải thể công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp. Trường hợp công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ tự giải thể trước khi kết thúc thời hạn hoạt động thì phải được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.

Việc phá sản công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng

  1. Tổ chức của công ty Ck

3.1. hệ thống tổ chức:

– Trụ sở chính: là trung tâm lãnh đạo, điều hành và thực hiện các nghiệp vụ KDCK.

Các chi nhánh là bộ phận trực thuộc cty không có tư cách pháp nhân thực hiện các hoạt động KDCK theo sự ủy quyền của công ty.

– Các phòng giao dịch trực thuộc trụ sở chính hoặc chi nhánh: cty Ck được thành lập các phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố có trụ sở chính hoặc chi nhánh đã được chấp thuận theo quy định của pháp luật. Phạm vi hoạt động của phòng giao dịch bao gồm môi giới ck, tư vấn đầu tư ck, lưu ký ck, đại lý phân phối ck.

– Các đại lý nhận lệnh cho cty Ck: cty Ck được lựa chọn một số pháp nhân làm đại lý nhận lệnh cho công ty tại các tỉnh, thành phố nơi cty không có trụ sở chính hoặc chưa có chi nhánh. Đại lý nhận lệnh được tiến hành các hoạt động: nhận lệnh và truyền lệnh về trụ sở chính hoặc chi nhánh theo hợp đồng cam kết với cty Ck; công bố thông tin theo ủy quyền của cty Ck. Đại lý nhận lệnh không được mở tài khoản giao dịch Ck cho khách hàng, không được nhận tiền ký quỹ cũng như Ck lưu ký của khách hàng và ko được tiến hành bất cứ một hoạt động tư vấn nào với khách hàng.

3.2. Bộ máy lãnh đạo, điều hành công ty Ck

Pháp luật hiện hành có quy định một số vấn đề mang tính nguyên tắc như sau:

– Cty Ck phải có cơ cấu phòng ban với đủ số nhân viên kinh doanh có chứng chỉ hành nghề KDCK đảm bảo thực hiện các hoạt động KDCK được cấp phép. Tùy vào các hoạt động kinh doanh Ck mà cty Ck thực hiện để cty thành lập ra các phòng ban giúp việc cho thích hợp nhưng phải đảm bảo yêu cầu tách biệt về văn phòng làm việc, nhân sự, hệ thống dữ liệu, báo cáo giữa các bộ phận nghiệp vụ có xung đột giữa lợi ích của cty CK và của khách hàng hoặc giữa lợi ích của các khách hàng với nhau.

– Cty CK phải tuân thủ các nguyên tắc về quản trị cty được quy định trong điều lệ cty phù hợp điều lệ mẫu mà pháp luật quy định. Thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng thành viên của cty CK ko được đồng thời là thành viên của hội đồng quản trị, thành viên của hội đồng thành viên của cty CK khác; giám đốc(tổng giám đốc), phó tổng giám đốc( phó giám đốc), giám đốc chi nhánh ko được đồng thời làm việc cho cty CK, cty quản lý quỹ hoặc doanh nghiệp khác…

– Cty Ck phải thiết lập và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ độc lập và chuyên trách. Hệ thống kiểm soát nội bộ phải được thiết lập tại trụ sở chính, chi nhánh của cty CK, phải chịu sự điều hành, quản lý của giám đốc, tổng giám đúc cty CK, có chức năng giám dát tuân thủ nhằm đảm bảo những mục tiêu: hoạt động của cty tuân thủ đúng pl; an toàn, hiệu quả và trung thực trong việc lập báo cao staif chính của cty.

– Về nhân sự trong bộ máy điều hành của cty CK, pháp luật quy định: người được bổ nhiệm làm giám đốc (tổng giám đốc)cty CK phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

+ Ko phải là người đã từng hoặc đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị phạt tự hoặc bị tòa án tước quyền hành nghề theo quy định của PL.

+ Chưa từng là người đại diện theo PL của doanh nghiệp bị phá sản, trừ trường hợp phá sản vì lỹ do bất khả kháng.

+ Có bằng đại học hoặc trên đại học, có kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực CK, tài chính, ngân hàng ít nhất 3 năm và có kinh nghiệm quản lý điều hành tối thiểu 3 năm.

+ Tuân thủ quy tắc đạo đức ngheeg nghiệp trong hoạt động KDCK.

+ Có chứng chỉ hành nghề CK.

+ Chưa từng bị UBCKNN xử phạt theo PL CK và thị trường CK trong vòng 2 năm gần nhất.

Đối với phó giám đốc (phó tổng giám đốc), giám đốc chi nhánh, phó giám đốc chi nhánh cty CK phải đáp ứng các tiêu chuẩn trên, riêng tiêu chuẩn về trình độ học vấn và kinh nghiệp làm việc thì chỉ cần có bằng đại học hoặc trên đại học, có kinh nghiệp chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, CK ít nhất 2 năm và có kinh nghiệp quản lý điều hành tối thiểu 2 năm…

3.3.nhân viên cty CK

Một trong những điều kiện để cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho cty Ck là: các nhân viên kinh doanh của cty Ck phải có chứng chỉ hành nghề kinh doanh CK. Nhân viên kinh doanh Ck là những người làm việc tại các bộ phận (phòng, ban) chuyên môn thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh Ck.

Pháp luật có quy định về điều kiện về để được cấp giấy phép hành nghề KDCK cho từng đối tượng trong đó rất chú trọng đến trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người xin cấp giấy phép hành nghề, cụ thể: chứng chỉhành nghề CK được cấp cho các cá nahan đáp ứng các điều kiện sau đây:

– Có năng lực hvi dân sự đầy đủ và ko thuộc trường hợ đang phải chấp hành hình phạt tự hoặc đang bị tòa án cấm hành nghề KDCK

– Có trình độ đại học và chuyên môn về CK và thị trường CK (có đủ các chứng chỉ như: chứng chỉ cơ bản về Ck và thị trường Ck; chứng chỉ phân tích và đầu tư CK; chứng chỉ luật áp dụng trong ngành CK);

– Đạt yêu cầu trong kỳ thi sát hạch do UBCKNN tổ chức. đối với người nước ngoài có chứng chỉ chuyên môn về thị trường CK hoặc những người đã hành nghề CK hợp pháp ở nước ngoài thì chỉ cần thi sát hạch PL về CK của VN.

Hồ sơ cấp chứng chỉ hành nghề Ck bao gồm:

– Giấy đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề CK;

– Sơ yếu lý lịch có xác nhận của cơ quan chính quyền địa phương nơi cá nhân đó cư trú. Đối với người nước ngoài sơ yếu lý lịch phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của người đó mang quốc tịch kèm theo bản sao hộ chiếu;

– Bản sao các văn bằng, chứng chỉ chuyên môn hoặc tài liệu chứng minh đã hành nghề CK hợp pháp ở nước ngoài;

Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, UBCKNN cấp chứng chỉ hành nghề Ck. Trường hợp từ chối , UBCKNNphair trả lời và nêu rõ lý do bằng văn bản.

Người hành nghề CK bị thu hồi chứng chỉ hành nghề CK trong các trường hợp sau:

– Bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc thuộc trường hợp đang phải chấp hành hình phạt tự hoặc bị tòa án cấm hành nghề kinh doanh.

– Thực hiện các hành vi như: trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi gian lận, lừa đảo, tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc bỏ sót thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động chào bán CK ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư CK, dịch vụ về Ck và thị trường Ck. Hoặc có hành vi sử dụng tiền, Ck trên tài khoản của khách hàng khi không được khách hàng ủy thác.

Đối với ngành nghề Ck bị thu hồi chứng chỉ hành nghề Ck trong các trường hợp này sẽ ko được cấp lại chứng chỉ hành nghề Ck:

– Ko hành nghề Ck 3 năm liên tục.

Luật CK còn quy định rõ về trách nhiệm của người hành nghề CK cụ thể:

– Người hành nghề ck ko được: đồng thời làm việc cho tổ chức khác có quan hệ sở hữu với cty Ck, cty quản lý quỹ nơi mình đang làm việc; đồng thời làm việc cho cty Ck, cty quản lý quỹ khác; đồng thời làm giám đốc hoặc tổng giám đốc của 1 tổ chức cháo bán CK ra công chứng hoặc tổ chức niêm yết.

– Người hành nghề CK khi làm việc cho cty Ck chỉ được mở tài khoản giao dịch CK cho mình tại chính cty CK đó.

– Người hành nghề CK ko được sử dụng tiền, CK trên tài khoản của khách hàng khi ko được khách hàng ủy thác.

– Người hành nghề CK phải tham gia vào khóa tập huấn về PL, hệ thống giao dịch, loại CK mới do UBCKNN, sở giao dịch CK, trung tâm gioa dịch Ck tổ chức.

  1. Hoạt động của cty CK

4.1. Các nguyên tắc pháp lý, các quyền và nghĩa vụ cơ bản trong hoạt động của cty Ck

– Nguyên tắc cơ bản:

+ Tôn trọng quyền tự do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ CK của tổ chức, cá nhân;

+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

+ Công bằng, công khai, minh bạch.

+ Tự chịu trách nhiệm về rủi ro.

+ Tuân thủ các quy định của PL.

– Trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản trên , PL cụ thể hóa thành các quyền và nghĩa vụ cơ bản trong hoạt động của cty Ck (điều 79 LCK)

+  Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro va giám sát, ngăn ngừa những xung đột lợi ích trong nội bộ cty Ck và trong giao dich với người có liên quan.

+ Quản lý tách biệt Ck của từng nhà đầu tư, tách biệt tiền và Ck của nhà đầu tư với tiền và Ck của Cty Ck.

+ Ký hợp đồng bằng văn bản với khách hàng khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng; cung cấp đầu đủ, trung thực thông tin cho khách hàng.

+ Ưu tiên thực hiện lênh cua khách hàng trước lệnh của cty.

+ Thu thập, tìm hiểu thông tin về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng; bảo đảm các khuyến nghị, tư vấn đầu tư của cty cho khách hàng phải phù hợp với khách hàng đó.

+ Tuân thủ các quy định bảo đảm vốn khả dụng theo quy định của Bộ tài chính.

+ Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho nghiệp vụ kinh doanh Ck tại cty hoặc trích lập quỹ bảo vệ nhà đầu tư để bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư do sự cố kỹ thuật và sơ suất của nhân viên trong cty.

+ Lưu giữ đầy đủ các chứng từ và tài khoản phản ánh chi tiết, chính xác các giao dịch của khách hàng và của cty và phải bảo quản và lưu giữ hợp đồng, tài liệu giao dịch trong thời hạn theo quy định của PL.

+ Thực hiện việc bán hoặc cho khách hàng bán Ck khi không sở hữu Ck và cho khách hàng vay Ck để bán theo quy định của Bộ tài chính.

+ Tuân thủ các quy định của BỘ tài chính về nghiệp vụ KDCK.

+ Thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thống kê, nghĩa vụ tài chính theo quy định của PL.

+ Thực hiện công bố thông tin và chế độ báo cáo theo quy định.

4.2. Hoạt động của cty CK

4.2.1. Hoạt động môi giới Ck

  1. Khái niệm: là hoạt động KDCK trong đó cty CK làm trung gian đại diện cho khách hàng, tiến hành mua hoặc bán CK cho khách hàng và được hưởng hoa hồng từ hoạt động đó. Số tiền hoa hồng môi giới được tính trên tỷ lệ % doanh số mua, bán đã thực hiện cho khách hàng.
  2. Nghĩa vụ:

– cty Ck phải mở tài khoản giao dịch Ck cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa khách hàng với công ty.

– cty Ck có nghĩa vụ giải thích nội dung hợp đồng mở tài khoản giao dịch và các thủ tục có liên quan khi thực hiện giao dịch Ck cho khách hàng.

– cty Ck phải tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng chịu đựng rủi ro và kỳ vọng lợi nhuận thu được của khách hàng. Cty có nghĩa vụ cập nhật các thông tin tên của khách hàng tối thiểu 6 tháng/lần.

– cty Ck phải quản lý tiền gửi giao dịch Ck của khách hàng tách biệt khỏi tiền của chính cty, ko được trực tiếp nhận tiền giao dịch Ck của khách hàng  mà khách hàng phải mở tài khoản tiền tại ngân hàng thương mại do cty CK lựa chọn. Cty Ck phải báo cáo cho UBCKNN danh sách các ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ thanh toán cho mình trong vòng 3 ngày sau khi kí hợp đồng cung câps dịch vụ thanh toán với ngân hàng thương mại.

+ đối với Ck phát hành đại chúng của khách hàng, cty Ck phải quản lý tách biệt CK của khách hàng với CK của cty Ck và phải gửi Ck của khách hàng vào TTLKCK trong vòng 1 ngày làm việc kể từ ngày nhận CK của khách hàng.

+ đôí với CK thuộc Ck phát hành đại chúng, cty Ck được đăng ký và lưu ký Ck của khách hàng tai cty CK theo hợp đồng ký kết vơi khach hàng và quy định của PL.

Cty Ck chỉ được nhận lệnh của khách hàng khi phiếu lệnh được điền chính xác và đầy đủ cá thông tin. Trường hợp nhạn lệnh giao dịch của khách hàng qua internet, diện thoại, fax, cty Ck phải tuân thủ:luật giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn, đảm bảo có ghi nhận thời điểm nhận lệnh; đối với nhận lệnh qua điện thoại, fax cty CK phải đảm bảo nguyên tắc xác nhận lại vơi skhachs hàng trước khi nhập lệnh vào hệ thống giao dịch, lưu giữ bằng chứng chứng minh về việc đặt lệnh của khách hàng và phải có biện pháp khắc phục thích hợp khi ko nhận được lệnh của khách hàng vào hệ thống giao dịch do lỗi của cty.

+ cty Ck chỉ được nhận lệnh của khách hàng có đủ tiền và CK theo quy định của UBCKNN và phải có các biện pháp cần thiết để đảm bảo khả năng thanh toán của khách hàng khi lệnh giao dịch được thực hiện.

+ cty CK phải thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác lệnh giao dịch của khách hàng.

+ cty CK phải công bố về mức phí giao dịch CK trước khi khách hàng thực hiện giao dịch.

4.2.2.Tự doanh

a.Khái niệm: là nghiệp vụ KDCK trong đó cty Ck mua bán Ck bằng vốn của chính mình để thu lợi nhuận và chịu mọi rủi ro liên quan đến việc nắn giữ các CK đó.

  1. điểm khác biêt giữa môi giới và tự doanh: tự doanh là chỉ có tài khoản của cty CK chứ ko có tài khoản của khách hàng. Hoạt động kinh doanh này tạo cho cty Ck chủ động trong hoạt động tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

Tự doanh Ck tạo ra nguồn thu nhập chính cho nhiều cty Ck và có vai trò quan trọng trong hoạtđộng của thị trường Ck vì nó tạo ra sự tác động có tính chất điều chỉnh thị trường,chính sự thành công trong hoạt động tự doanh của cty CK đã tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, khuyến khích họ tham gia đầu tư Ck.

  1. Các quy định về nghiệp vụ tự doanh mà cty Ck phải chấp hành:

– phải đảm bảo có đủ tiền và CK để thanh toán các lệnh giao dịch cho tài khoản của mình.

– phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của chính mình.

– phải công bố cho khách hàng biết khi mình là đối tác trong giao dịch trực tiếp với khách hàng và ko được thu phí giao dịch của khách hàng trong truong hợp này.

Trong trường hợp lệnh mua/bán Ck của khách hàng có thể ảnh hưởng lớn tới giá của Ck đó, cty Ck ko được mua/bán trước cùng loại Ck đó cho chính mình hoặc tiết lộ thông tin cho bên thứ 3 mua/bán Ck đó.

Khi khách hàng đặt lệnh giới hạn, cty Ck ko được mua/bán loại Ck đó cho mình ở mức giá bắng hoặc tốt hơn mức giá của khách hàng trước khi lệnh của khách hàng được thực hiện.

4.2.3. Bảo lãnh phát hành

  1. Khái niệm: là hoạt động của tổ chức bảo lãnh, thường là cty Ck đứng ra giúp tổ chức phát hành đưa Ck ra thị trường và bán Ck cho các nhà đầu tư.

Theo khoản 6 Điều 22 thì “bảo lãnh phát hành Ck là viêc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán Ck, nhận mua 1 phần hay toàn bộ CK còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối Ck ra công chúng”.

  1. Điều kiện

– Được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành CK.

– Không vi phạm PL CK trong 6 tháng liên tục liền trước thời điểm bảo lãnh.

– Tổng giá trị bảo lãnh phát hành ko được lớn hơn 50% vốn chủ sở hữu của tổ chức bảo lãnh phát hành vào thơi điểm cuối quỹ gần nhất tính đến ngày ký hợp đồng bảo lãnh phát hành, trừ trường hợp bảo lãnh phát hành trái phiếu CP, trái phiếu được CP bảo lãnh.

– Có tỷ lệ vốn khả dụng trên nợ điều chỉnh trên 6% trong 3 tháng liền trước thời điểm nhận bảo lãnh phát hành.

  1. Tổ chức bảo lãnh phát hành ko được bảo lãnh phát hành theo hình thức cam kết chắc chắn trong các trường hợp sau:

– Tổ chức bảo lãnh phát hành độc lập hoặc cùng các cty cong của tổ chức bảo lãnh phát hành có sở hữu từ 10% trở lên vốn điều lệ của tổ chức phát hành.

– Tối thiểu 30% vốn điều lệ của tổ chức bảo lãnh phát hành và cỉa tổ chức phát hành là do cùng 1 tổ chức nắm giữ.

Khi cty Ck bảo lãnh phát hành Ck cty Ck phải mở tài khoán riêng biệt tại một nhân hành đang hoạt đọng hợp pháp tại VN để nhận tiền đặt mua Ck của khách hàng.

4.2.4. Tư vấn đầu tư Ck

  1. Khái niệm: là việc cty Ck cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến Ck.
  2. Nội dung: gồm: tư vấn chiến lược kỹ thuạt giao dịch, cung cấp kết quả phân tích Ck và thị trường Ck và các vấn đề có tính quy luạt của hoạt động đầu tư Ck…
  3. Điều kiện:

– Phải có giấy phép thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư Ck.

– Khi tiến hành tư vấn cho khách hàng phải thu thập và quản lý các thông tin về khách hàng bao gồm: tình hình tài chính, thu nhập, mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro, kinh nghiệm và hiểu biết về đầu tư của khách hàng.

– Ko được đảm bảo cho khách hàng kết quả đầu tư  trừ trương hợp đầu tư vào những sản phẩm  đầu tư có thu nhập cố định, ko được trực tiếp hay gián tiếp, bù đắp 1 phần hoặc toàn bộ các khoản thua lỗ của khách hàng do lỗi của cty và ko được quyết định đầu tư thay cho khách hàng.

– Ko được tư vấn cho khách hàng đầu tư vào Ck mà ko cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng, ko được có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật.

– Phải bảo mật các thông tin nhận được từ người sử dụng dịch vụ tư vấn trong quá trình cung ứng dịch vụ tư vấn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc PL có quy định khác.

– Phải tư vấn đầu tư phù hợp với mục tiêu đầu tư và tình hình tài chính của khách hàng.

– Phải có trách nhiệm ngăn ngừa xung đột lơi ích với khách hàng.

4.2.5. Các hoạt động dịch vụ tài chính khác

  1. Lưu ký CK là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao Ck cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu Ck.

– Nguyên tắc quản lý tài khoản lưu ký:

+ Mỗi khách hàng chỉ được phép mở 1 tài khoản lưu ký Ck và mọi bút toán thanh toán được thực hiện qua tài khoản này.

+ tài khoản lưu ký Ck của khách hàng phải tách biệt với tài khoản lưu ký Ck của cty Ck.

+ Cty ko được sử dụng Ck trong tài khoản lưu ký Ck của khách hàng vì lợi ích của bên thứ 3 hoặc vì lợi ích của chính thành viên lưu ký.

+ Cty ko được sử dụng Ck của khách hàng để thanh toán các khoản nợ của chính mình hoặc của tổ chức, cá nhân khác.

– Phải tuân thủ các quy định:

+ Ghi chép chính xác, đầy đủ và cập nhật thông tin vầ các Ck đã đăng ký lưu ký.

+ bảo quản, lưu trữ, thu thập và xử lý số liệu liên quan đến đăng ký Ck.

+ Thực hiện kiểm soát nội bộ nhằm bảo vệ khách hàng hoặc nguwoif sở hữu Ck.

+ Lên danh sách người sở hữu Ck có Ck lưu ký tại Cty Ck và theo dõi tỷ lệ nắm giữu Ck của người sở hữu Ck phù hợp với quy định của PL.

+ Xây dựng quy trình đăng ký CK tại cty.

+ Cung cấp dich vụ chuyển quyền sở hữu Ck đối với các Ck phát hành riêng lẻ theo yêu cầu của tổ chức phát hành.

+ Thu phí đối với khách hàng sử dụng dịch vụ đăng ký Ck theo quy định của PL.

  1. Nghiệp vụ tư vấn tài chính;

– Gồm: tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp, thâu tóm, sáp nhập doanh nghiệp, tư vấn quản trị cty cổ phần, tư vấn chào bán, niêm yết Ck; tư vấn cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp; tư vấn tài chính khác phù hợp với quy định của PL.

– Điều kiện:

+ cty Ck và nhân viên phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan và khoa học của hoạt động tư vấn;

+ không được tiến hành các hoạt động có thể gây hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của bất kỳ loai Ck nào.

+ chịu trách nhiệm trước PL và bồi thường thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ tư vấn khi vi phạm các cam kết trong hợp đồng tư vấn.

– Cty Ck nắm giữ cổ phần hoặc phần vốn góp tự 10% trở lên vốn điều lệ của cty cổ phần, cty TNHH ko được cung cấp dịch vụ tư vấn chào bán, niêm yết Ck; tư vấn cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp cho cty.

            – Phải tuân thủ các nguyên tắc:

+ Phải ký hợp đồng với tổ chức được tư vấn. hợp đồng phải quy định rõ quyền và nghĩa vụ của bên tư vấn va bên được tư vấn trong việc chuẩn bị hồ sơ tư vấn cháo bán, niêm yết và cá vấn đề khác có liên quan.

+ Có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức chào bán, tổ chức niêm yết về quyền và nghĩa vụ khi thực hiện niêm yết Ck.

+ Liên đới chịu trách nhiệm về những nội dung trong hồ sơ chào bán, niêm yết Ck.

  1. Các hạn chế đảm bảo an toàn trong hoạt động của cty Ck

– Đây là nội dung quan trọng được PL quy định nhằm ko chỉ bảo đảm lợi ích cho các cty Ck mà còn hướng tới mục tiêu  cao hơn là bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư, bảo vệ sự phát triển ổn định và lanh fmanhj của TTCK và chinh làbảo vệ sự ổn định và phát triển của cả nền kinh tế và đời sống xã hội.

– Các hạn chế đảm bảo:

+ cty Ck phải đáp ứng yêu cầu về vốn pháp định đối với từng nghiệp vụ kinh doanh Ck, ko được điều chỉnh tăng, giảm vốn điều lệ khi chưa chính thức hoạt động.

+ cty Ck cổ phần được mua lại ko quá 10% số cổ phần phổ thông đã bán làm cổ phiếu quỹ nhưng khoảng cách giữa các lần mua và bán cổ phiếu quỹ gần nhất ko dưới 6 tháng, trừ trường hợp phân phối ccho người lao động trong cty hoặc dùng làm cổ phiếu thưởng.

+ cty Ck phải duy trì tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng vốn nợ điều chỉnh tối thiểu bằng 5%.

+ Cty Ck phải chấp hành hạn mức vay theo quy định: tỷ lệ vốn chủ sở hữu của cty Ck ko được vượt quá 60 lần. Nợ ngắn hạn tối đa bằng tài sản ngắn hạn.

+ Về hạn mức đầu tư vào tài sản cố định: cty Ck được mua, đầu tư vào tài sản cố định của mình theo nguyên tắc giá trị còn lại của tài sản cố định ko được vượt quá 50% vốn điều lệ của cty Ck.

+ Về hạn chế đầu tư của cty Ck PL quy định: trừ trường hợp bảo lãnh phát hành theo hình thức cam kết chắc chắn và trường hợp được thành lập cty con để thực hiện hoạt động kinh doanh Ck, cty Ck ko được: đầu tư vào cổ phiếu hoặc phần vốn góp của cty có sở hữu trên 50% vốn điều lệ của cty Ck; Cùng với người có liên quan đầu tư từ 5% trở lên vốn điều lệ của cty CK khác; Đầu tư từ 20% trở lên tổng số cổ phiếu đang lưu hành của 1 tổ chức niêm yết; Đầu tư từ 15% trở lên tổng số cổ phiếu đang lưu hành của 1 tổ chức ko niêm yết; Đầu tư góp vốn từ 15% trở lên tổng số vốn góp của 1 cty TNHH.

– Cty Ck ko được sử dụng quá 20% tổng tài sản để đầu tư, mua cổ phần hoặc tham gia góp vốn vào 1 tổ chức khác.

– cty ck được thành lập cty con để thực hiện hotaj động KDCK (cùng nghiệp vụ với cty mẹ).

* Ngoài ra cty Ck phải chấp hành các hạn chế sau: (Điều 73)

– Không được đưa ra nhận định hoặc bảo đảm với khách hàng về mức thu nhập hoặc lợi nhuận đạt được trên khoản đầu tư của mình hoặc bảo đảm khách hàng không bị thua lỗ, trừ trường hợp đầu tư vào chứng khoán có thu nhập cố định.

– Không được tiết lộ thông tin về khách hàng, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

–  Không được thực hiện những hành vi làm cho khách hàng và nhà đầu tư hiểu nhầm về giá chứng khoán.

–  Không được cho khách hàng vay tiền để mua chứng khoán, trừ trường hợp Bộ Tài chính có quy định khác.

–  Cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ không được chuyển nhượng cổ phần hoặc phần vốn góp của mình trong thời hạn ba năm, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, trừ trường hợp chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập khác trong công ty.

*Ngoài ra Cty Ck phải chấp hành chế độ công bố thông tin và chế dộ báo cáo theo quy định sau:

Trong thời hạn 10 ngày  kể từ ngày có báo cáo tài chính năm được kiểm toán, cty Ck phải công bố thông tin định kỳ vầ báo cáo tài chính năm. Trong thời hạn 24h kể từ ngày xảy ra 1 trong các sự kiện sau đây, cty Ck phải báo cáo sở giao dịch Ck hoặc trung tâm giao dịch Ck để các tổ chức này công bố thông tin theo quy định:

– Tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong toả hoặc tài khoản được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong toả;

– Tạm ngừng kinh doanh;

– Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động;

– Thông qua các quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại Điều 104 của Luật doanh nghiệp;

–  Quyết định của Hội đồng quản trị về việc mua lại cổ phiếu của công ty mình hoặc bán lại số cổ phiếu đã mua; về ngày thực hiện quyền mua cổ phiếu của người sở hữu trái phiếu kèm theo quyền mua cổ phiếu hoặc ngày thực hiện chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi sang cổ phiếu và các quyết định liên quan đến việc chào bán theo quy định tại khoản 2 Điều 108 của Luật doanh nghiệp;

– Cú quyết định khởi tố đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng của công ty; có bản án, quyết định của Toà án liên quan đến hoạt động của công ty; có kết luận của cơ quan thuế về việc công ty vi phạm pháp luật về thuế.

Công ty đại chúng phải công bố thông tin bất thường trong thời hạn bảy mươi hai giờ, kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây:

– Quyết định vay hoặc phát hành trái phiếu có giá trị từ ba mươi phần trăm vốn thực có trở lên;

– Quyết định của Hội đồng quản trị về chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty; quyết định thay đổi phương pháp kế toán áp dụng;

– Công ty nhận được thông báo của Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp.

Công ty đại chúng phải công bố thông tin theo yêu cầu của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây:

– Có thông tin liên quan đến công ty đại chúng ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư;

Có thông tin liên quan đến công ty đại chúng ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và cần phải xác nhận thông tin đó.

  1. Pháp luật về công ty quản lỹ quỹ đầu tư và ngân hàng giám sát
  1. Công ty quản lỹ quỹ đầu tư:

1.1.Khái niệm, đặc điểm, phân loại

  1. Khái niệm: Là doanh nghiệp theo mô hình công ty cổ phần hoặc cty TNHH được thành lập để hoạt động quản lý quỹ đầu tư Ck và một số hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
  2. Đặc điểm:

– Được thành lập và hoạt động theo sự cho phép của UBCKNN. Việc cấp phép của UBCKNN nhằm mục đích thẩm tra về năng lực dự kiến của cty trước khi nó được thành lập nhằm đảm bảo khi đi vào hoạt động, cty có thể thực hiện tốt chức năng của mính, tránh gây tổn hại không đáng có cho các nhà đầu tư chỉ vì ko đủ năng lực kinh doanh.

– Hoạt động chính của Cty quản lý quỹ là hoạt động quản lý quỹ đầu tư CK theo sự ủy thác của nhà đầu tư vào quỹ hoặc sự ủy thác của nhà đầu tư riêng lẻ. Hoạt động quản lỹ quỹ đầu tư bao gồm việc năm giữu tài sản của quỹ, trực tiếp tiến hành hoạt động đầu tư chứng khoán từ nguồn vốn của quỹ, quản lý danh mục đầu tư của quỹ…

  1. Phân loại:

– Theo mô hình quản lý:

+ cty TNHH quản lý quỹ: là cty thành lập dưới hình thức cty TNHH1 hoặc nhiều thành viên, mô hình này ko được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.

+ Cty cổ phần quản lý quỹ đầu tư: là cty được thành lập dưới hình thức cty cổ phần, có quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.

– Theo mối quan hệ với chủ thể góp vốn:

+ Cty quản lý quỹ độc lập: là cty ko trực thuộc một hệ thống cty theo mô hình cty mẹ – cty con. Cty quản lý quỹ dạng này thường có nhiều chủ thể góp vốn thành lập và ko có thành viên nào có vốn góp chiếm 51% vốn điều lệ trở lên.

+ Cty quản lý quỹ phụ thuộc là ctty trực thuộc 1 cty mẹ. cty này do cy mẹ lập ra và cty mẹ đầu tư 100% vốn hoặc cty mẹ góp vốn với những thành viên sáng lập khác, trong đó cty mẹ chiếm 51% vốn góp trở lên.

  1. Mối quan hệ giữa quỹ đầu tư Ck và cty quản lý quỹ dầu tư Ck

Cty quản lý quỹ có quyền thành lập quỹ đầu tư Ck để thu hút các nhà đầu tư góp vốn vào quỹ. Cty quản lý quỹ có quyền thành lập cả quỹ đại chúng và quỹ thành viên theo thủ tục do PL quy định.

– Về nguyên tắc, cty quản lỹ quỹ có quyền quản lý quỹ do minh thành lập và tiến hành trực tiếp đầu tư bằng nguồn cốn của quỹ trên cơ sở thỏa thuận với các nhà đầu tư vào quỹ.

– Cty quản lý quỹ có quyền chỉ định thành viên quản lý quỹ theo những tieu chuẩn mà Pl quy định để trực tiếp điều hành hoạt động của quỹ.

– Cty quản lý quỹ có quyền thu phí quản lý theo thỏa thuận của các nhà đầu tư. Phí quản lý là khoản chi từ nguồn vốn của quỹ được xác định theo điều lệ quỹ.

– Đối trọng với sự chi phối của cty quản lý quỹ đối với quỹ đầu tư Ck, PL cũng có quy định nhằm cho phép các nhà đầu tư vào quỹ tham gia vào việc quản lý quỹ nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.

  1. Thành lập và cơ cấu lãnh đạo – điều hành cty quản lý quỹ:
  2. Thành lập cty quản lý quỹ

Theo quy định của PL, tổ chức, cá nhân muốn thành lập cty quản lý quỹ đầu tư Ck phải được UBCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động. giấy phép này đồng thời được coi là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm:

– Cty quản lý quỹ phải được thành lập dưới hình thưc cty TNHH hoặc cty cổ phần.

– Có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp với ục tiêu phát triển kinh tế xã hội và chiến lược phát triển ngành CK.

– Có cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm thực hiện hoạt động quản lý quỹ đầu tư Ck.

– Có số vốn góp ko thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của PL. Thành viên góp vốn phải có uy tín và năng lực tài chính.

– Thành viên ban giám đốc (ban tổng giám đốc) và những nhân viên hành nghề quản lý quý phải đáp ứng những tiêu chuẩn nghề nghiệp do PL quy định.

Đối với việc thành lập cty quản lý quỹ có vốn đầu tư nước ngoài, bên nướ ngoài phải là pháp nhân đang hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh Ck, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn đầu tư hoặc những lĩnh vực kinh doanh tương tự.

Sau khi nhận hồ sơ cấp phép thành lập và hoạt động bao gồm đầy đủ cá loại giấy tờ theo quy định của PL nhằm chứng minh đã đáp ứng đầy đủ cá điều kiện thành lập, UBCKNN phỉa tiến hành thẩm định và quyết định cấp hoặc ko cấp giấy phép trong thời hạn 30 ngày, nếu từ chối cấp phép UBCKNN phải giải thích rõ lý do bằng văn bản.

Sau khi được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, cty quản lý quỹ phải tiến hành hoàn tất  việc thành lập và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của PL.

Sau khi được cấp phép, cty quản lỹ quỹ vẫn có thể bị đình chỉ hoạt động hoặc bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động nếu ko đáp ứng được các điều kiện hoạt động, có những sai phạm nghiêm trọng hoặc ko khôi phục được những điều kiện an toàn tài chính do PL quy định, sau khi đã được cảnh báo về nguy cơ mất an toàn tài chính.

  1. Cơ cấu tổ chức, lãnh đạo và điều hành cty quản lý quỹ

– Cty quản lý quỹ có quyền được thành lập hoặc đóng cửa chi nhánh, tuy nhiên việc này phải được sự chấp thuận của UBCKNN theo trình tự, thủ tục PL quy định như điều kiện cơ ở vật chất kỹ thuật, điều kiện về chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện hoạt động quản lý quỹ.

– Cty quản lý quỹ phải đảm bảo sự tách biệt về tổ chức, nhân sự và hoạt động giữa các hoạt động quản lý quỹ, hoạt động tư vấn tài chính và đầu tư Ck, hoạt động quản lý danh mục đầu tư (nêu khách hàng ko phải là quỹ  đầu tư CK do cty quản lý).

– PL yêu cầu cty quản lý quỹ phải ban hành các quy định về kiểm soát nội bộ và đề ra tiêu chuẩn, đạo đức hành ghề đối với nhân viện cty.

– Đốic với thành viên hội đồng quản trị, người quản lý và nhân viên cty quản lý quỹ, nếu có giao dịch Ck đều phải báo cáo và quản lý tập chung tại cty quản lý quỹ và được giám sát bởi bộ phận kiểm soát nội bộ.

  1. Hoạt động quản lý quỹ đầu tư Ck và hoạt động quản lý danh mục đầu tư
  2. Hoạt động quản lý quỹ đầu tư Ck

– Là hoạt động kinh doanh chính của cty Ck.

– Trong quá trình hoạt động, cty quản lý quỹ phải thực hiện cá nghĩa vụ cơ bản sau:

+ Tiến hành hoạt động phù hợp và trong phạm vi giấy phép thành lập và hoạt động do UBCKNN cấp. Những hành vi kinh doanh ko được cấp phép đều vi phạm PL và bị xử lý tùy thuộc vào mức độ vi phạm.

+ Tuân thủ chế độ báo cáo, thống kê, kế toán và công bố thông tin liên quan đến hoạt động quản lý quỹ đầu tư và hoạt động quản lý danh mục đầu tư (nếu có).

+ Tuân thủ các quy định của BTC và UBCKNN về mức độ an toàn tài chính. Những giới hạn về tài chính nhằm đảm bảo (mặc dù chỉ về lý thuyết) sự lành mạnh trong hoạt động của cty quản lý quỹ.

+ Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và ngăn ngừa xung đột lợi ích trong nội bộ và trong giao dịch với những người có liên quan theo quy định của PL.

+ Thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và các chủ thể khác như nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ trả phí giao dịch, phí lưu ký…

– Trong mối quan hệ với quỹ đầu tư Ck, cty quản lý quỹ có những nghĩa vụ sau:

+ Thực hiện hoạt động quản lý quỹ, quản lý danh mục đầu tư phù hợp với quy định của PL, điều lệ quỹ, hợp đồng với ngân hàng giám sát và các quyết định của đại hội nhà đầu tư phù hợp với điều lệ quỹ.

+ Thực hiện quản lý tách biệt tài sản của quỹ đầu tư Ck với tài sản của cty quản lý quỹ; tách biệt về quản lý và tài sản giữa các quỹ với nhau.

+ Đảm bảo trong việc ủy quyền cho bên thứ 3, thay đổi nhân sự hoặc chuyển giao việc quản lý quỹ cho cty quản lý quỹ khác ko làm tổn hại đến lợi ích của quỹ.

+ Xác định giá trị tài sản ròng của quỹ theo quy định của PL và điều lệ quỹ. Giá trị tài sản ròng là giá trị của quỹ được xác định bằng cách lấy giá thị trường (được xác định theo quy định của PL) của tổng tài sản quỹ trừ đi các chi phí của quỹ.

+ Đối với những giao dịch tái sản của quỹ trong đó có sự tham gia giao dịch của người có liên quan của cty quản lý quỹ thì phải tuân thủ những yêu cầu của PL trên cơ sở ko làm tổn hại đên sự công bằng và quyền lợi của quỹ.

+ Công bố thông tin đầy đủ và trung thực theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của đại hội nhà đầu tư, ban đại diện quỹ hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; đối với việc quản lý quỹ đại chúng phải thực hiện việc công bố thông tin ra công chúng theo quy định của PL.

+ Bồi thường những tổn thất do coongty vi phạm thỏa thuận với các nhà đầu tư hoặc vi phạm Pl.

+ Các nghĩa vụ khác theo quy định cua PL hoặc điều lệ quỹ.

– Các hạn chế mà Pl quy định cho cty quản lý quỹ khi thực hiện quyền năng của mình:

+ Không được là người có liên quan của ngân hàng giám sát của quỹ, ngân hàng lưu ký của cty đầu tư Ck do mình quản lý (nếu có).

+ Cty quản lý quỹ ko được đầu tư vào các quỹ do mình quản lý.

+ Cty quản lý quỹ ko được đầu tư, góp vốn hoặc mua cổ phần của 1 cty quản lý quỹ khác; ko được đầu tu, góp vốn hoặc mua cổ phần  của 1 cty Ck.

+ cty quản lý quỹ ko được phép mở tài khoản giao dịch Ck cho các quỹ do mình quản lý tại cty Ck là người có liên quan của cty quản lý quỹ.

+ Cty quản lý quỹ ko được phép dựng vốn của 1 quỹ để đầu tư vào chính quỹ ấy hoặc của quỹ khác mà mình quản lý.

+ Cty quản lý quỹ ko được đầu tư vốn của quỹ vào bất kỳ tài sản hoặc loại Ck nào mà trong đó cty quản lý quỹ, nhân viên và người có liên quan của cty quản lý quỹ có quyền lợi, trừ trường hợp có sự cho phép của ban đại diện quỹ.

+ Cty quản lý quỹ ko được nhận cho chính mình bất kỳ thu nhập hay lợi ích nào thu được từ việc sử dụng các dịch vụ giao dịch tài sản quỹ dụ 1 tổ chức thứ 3 cung cấp mà phải hạch toán các khoản này cho thu nhập của quỹ.

+ Cty quản lý quỹ ko được dựng vốn và tài sản của quỹ do mình quản lý để đầu tư  vượt quá tỷ lệ nhất định trên tổng giá trị của 1 loại CK đang lưu hành của tổ chức phát hành hoặc  1 cty ko niêm yết theo quy định của PL.

+ Cty quản lý quỹ ko được thực hiện các giao dịch làm tăng chi phí và rủi ro ko hợp lý cho quỹ.

+ Cty quản lý quỹ phải đảm bảo có quy trình phân bổ tài sản giao dịch minh bạch, công bằng và hợp lý giữa các quỹ, các danh mục đầu tư và với bản thân cty.

– Với tư cách là 1 chủ thể kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực Ck,cty quản lý quỹ có những quyền sau:

+ quyền tiến hành các hoạt động thành lập, quản lý quỹ đầu tư Ck, quản lý danh mục đầu tư Ck theo sự ủy thác của nhà đầu tư.

+ Quyền tiến hành các giao dịch liên quan nhằm thực hiện hoặc ohucj vụ cho hoạt động của mình.

+ Quyền được mở rộng, thu hẹp phạm vi kinh doanh trong phạm vi do Pl quy định; thành lập hoặc giải thể chi nhánh, văn phòng đại diện theo quy định của PL.

+ Quyền được hoạt động tư vấn tài hcinhs và tư vấn đầu tư Ck.

+ Quyền khởi kiện hoặc khiếu nại đối với cá chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm đến lợi ích chính đáng của cty.

+ các quyền năng khác mà PL ko cấm.

– Các quyền của cty quản lý quỹ đối với quỹ đầu tư Ck do cty quản lý:

+ Quyền được tiến hành hoạt động quản lý quỹ theo thỏa thuận trong điều lệ quỹ và quyết định của đại hội nhà đầu tư.

+ Quyền được hưởng các khoản chi phí quản lý và những khoản thu khác theo thỏa thuận trong điều lệ quỹ. Các khoản thu khác có thể là: Tiền thưởng cho hoạtđộng quản lý có hiệu quả của cty; Các chi phí khác cảu quỹ, nếu những chi phí này được tách bạch ra khỏi cho phí quản lý; Các khoản nợ mà cty được phép cho quỹ vay hoặc vay cho quỹ theo quy định của PL.

  1. Hoạt động quản lý danh mục đầu tư

* Để thực hiện hoạt động quản lý danh mục đầu tư, cty quản lý quỹ và nhà đầu tư phải giao kết hợp đồng quản lý đầu tư. Hợp đồng quản lý đâu tư là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa cty quản lý quỹ và nhà đầu tư theo đó, nhà đầu tư ủy thác cho cty quản lý quỹ thực hiện việc đầu tư Ck bằng tài sản của chính nhà đầu tư, phù hợ với chiện lược đầu tư đã thỏa thuận. Nội dung chính của hợp đồng quản lý đầu tư bao gồm:

– Chiến lược đầu tư bao gồm: mục tiêu đầu tư, các hạn chế đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro và các yêu cầu khác của nhà đầu tư.

– Giá trị vốn, tài sản dựng để đầu tư.

– Danh mục đầu tư và các phương pháp xác định giá trị danh mục đầu tư.

– Quy trình đầu tư của cty quản lý quỹ, quy trình góp thêm tài sản hoặc rút vốn của nhà đầu tư.

– Quy trình phân bổ tài sản giao dịch, đặc biệt là giữa các nhà đầu tư và giữa nhà đầu tư với cty.

– Thời hạn hợp đồng.

– Các loại hình dịch vụ được cty quản lý quỹ cung cấp và mức phí.

– Trách nhiệm công bố thông tin của các bên.

– Bồi thường thiệt hại.

– Giải quyết tranh chấp.

– Các thỏa thuận khác.

* Để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư, PL yêu cầu hợp đồng quản lý đầu tư phải đảm bảo ko có các quy định:

– Nhằm tại điều kiện cho cty quản lý quỹ có thể trốn tránh nghĩa vụ pháp lý do sự cẩu thả có chủ ý của cty, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của nhà đầu tư.

– Nhằm hạn chế phạm vi bồi thường, trách nhiệm tài chính của cty quản lý quỹ mà ko có lý do chính đáng hoặc chuyển rủi ro từ cty quản lý quỹ sang nhà đầu tư.

– Nhằm buộc nhà đầu tư thực hiện nghĩa vụ bồi thường 1 cách ko công bằng.

– Nhằm gây bất lợi 1 cách ko công bằng cho nhà đầu tư hoặc sự thiên vị, mất bình đẳng giữa các nhà đầu tư.

* Các nghĩa vụ mà cty quản lý quỹ phải tuân thủ:

– Phải giao kết hợp đồng lưu ký tài sản với nhân hàng lưu ký cho nhà đầu tư theo quy định của PL.

– Luôn phải đảm bảo thực hiện các giao dịch và phân bổ tài sản giao dịch 1 cách công bằng, hợp lý giữa các nhà đầu tư.

– Cty quản lý quỹ, người có liên quan của cty quản lý quỹ, người hành nghề quản lý quỹ ko được là đối tác mua hoặc bán trong giao dịch tài sản đầu tư trng danh mục của nhà đầu tư ủy thác mà cty đang quản lý, trừ trường hợp giao dịch này được thực hiện thông qua hệ thống giao dịch theo phương thức khớp lệnh tập trung tại sở giao dịch CK, trung tâm giao dịch Ck hoặc đã được quy định cụ thể  trong hợp đồng quản lý đầu tư và đã được nhà đầu tư ủy thác chấp nhận.

– Không được quyền đòi hỏi bất kỳ lợi ích gì ngoài các khoản phí đã thỏa thuận trong hợp đồng.

– Không được sử dụng tài sản ủy thác theo danh mục đầu tư do mình quản lý để đầu tư vào các quỹ đại chúng, cty đầu tư Ck đại chúng thành lập do chính cty quản lý quỹ hoặc cho vay, bảo lãnh cho bất kỳ nghĩa vụ nào.

– Không được đưa ra những tuyên bố với nhà đầu tư về việc bảo đảm hoặt động đầu tư luôn đạt hiệu quả.

  1. Ngân hàng giám sát quỹ đầu tư Ck

2.1.Khái niệm

– Là ngân hàng thương mại, được quyền thực hiện hoạt động giám sát quỹ đầu tư Ck, cty đầu tư Ck theo thỏa thuận với các nhà đầu tư và cty quản lý quỹ nhằm bảo vệ lợi ích cả các nhà đầu tư vào quỹ.

– Sở dĩ quỹ đầu tư đại chúng, cty đầu tư Ck cần đến ngân hàng giám sát vì những lý do cơ bản sau:

+ Quỹ đại chúng, cty đầu tư Ck có những nhà đầu tư ko chuyên nghiệp, ko am hiểu nghiệp vụ đầu tư Ck. Do đó, các nhà đầu tư ko chuyên nghiệp cần có 1 chủ thể có khả năng chuyên môn kiểm tra hoạt động quản lý cưa cty quản lý quỹ

+ Cơ chế tách bạch về quyền quản lý và đầu tư của các nhà đầu tư với bản thân quỹ đại chúng. Cơ chế này thường làm cho các nhà đâu tư ko hoàn toàn yên tâm về những gì đang diễn ra với nguồn vốn của mình. Bởi vậy, ngân hàng sẽ là chủ thể có khả năng giám sát theo dõi một cách thường xuyên hoạt đông của quỹ, để hạn chế những rủi ro đạo đức xuất phát từ cty quản lý quỹ hoặc nhân viên có thể gây hại cho quỹ.

+ Cần tách bạch quyền quản lý của cty quản lý quỹ với quyền nắm giữu tài sản cả quỹ. Tài sản của quỹ bao gồm tiền, Ck và những tài sản khác. Sẽ là minh bạch và dễ đàn kiểm soát những giao dịch tài sản nếu như bản thân chủ thể quyết định giao dịch cần phải nhờ đến chủ thể khác hoàn tất giao dịch này.

+ Cty quản lý quỹ cần có sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật hoặc tài chính trong hoạt động quản lý quỹ đầu tư Ck. Ngân hàng giám sát có thể cho quỹ vay 1 lượng vốn nhất định trong những trường hợp cần thiết để trang trải những chi phí của quỹ theo quy đinh của PL.

2.2. Những điều kiện pháp lý đối với ngân hàng giám sát, quyền và nghĩa vụ của ngân hàng giám sát

  1. Điều kiện pháp lý đối với ngân hàng giám sát

– NHGS phải là ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật. Theo Luật các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đối, bổ sung năm 2004) thù NHTM được ngân hàng nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động, nếu thỏa mãn những điều kiện thành lập và hoạt động theo quy định của PL, trong đó các điều kiện về vốn pháp định và chuyên môn, nghiệp vụ của người lãnh đạo, điều hành là quan trọng nhất.

– NHGS phải được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký Ck. Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký Ck được UBCKNN cấp cho NHTM thỏa mãn những điều kiện sau đây:

+ Có giấy phép thành lập và hoạt động tại VN theo quy định của PL.

+ Nợ quá hạn ko quá 5% tổng dư noqj, có lãi trong năm kinh doanh gần nhất.

+ Có địa điểm, trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động đăng ký, lưu ký, thanh toán các giao dịch Ck.

– NHGS phải giao kết hợp đồng giám sát với cty quản lý quỹ theo thỏa thuận với đại hội nhà đầu tư và phù hợp với điều lệ quỹ.

  1. Những nghĩa vụ và quyền cơ bản của NHGS trong hoạt động giám sát quỹ đầu tư CK

– Các nghĩa vụ:

+ Thực hiện các nghĩa vụ mà PL quy định đối với thành viên TTLKCK.

+ Thực hiện lưu ký tài sản của quỹ đại chúng, cty đầu tư Ck; quản lý tách biệt tài sản của quỹ đại chúng, cty đầu tư Ck và các tài sản khác của NHGS.

+ Tiến hành hoạt động giám sát để đảm bảo cty quản lý quỹ tiến hành quản lý tài sản của quỹ đại chúng tuân thủ đúng PL Ck và điều lệ quỹ đầu tư CK.

+ Thực hiện hoạt động thu, chi, thanh toán và chuyển giao tiền, Ck liên quan đến hoạt động của quỹ đại chúng theo yêu cầu hợp pháp của cty quản lý quỹ.

+ Xác nhận báo cáo do cty quản lý quỹ, cty đầu tư Ck lập có liên quan đến quỹ đại chúng.

+ Giám sát việc tuân thủ chế độ báo cáo và công bố thông tin của cty quản lý quỹ theo quy định của PL Ck, bao gồm cả việc công bố thông tin định kỳ và công bố thông tin bất thường.

+ Báo cáo UBCKNN khi phát hiện cty quản lý quỹ hoặc những tổ chức, cá nhân có liên quan vi phạm PL hoặc điều lệ quỹ đầu tư Ck nhằm ngăn chặn kịp thời những tổn thất cho quỹ.

+ Định kỳ cúng cty quản lý quỹ đối chiểu sổ kế toán, báo cáo tài chính và hoạt động giao dịch của quỹ đại chúng.

+ Các nghĩa vụ khác theo quy định tại điều lệ quyc đầu tư Ck.

– Các hạn chế:

+ NHGS, thành viên hội đồng quản trị, người điều hành và nhân viên của NHGS trực tiếp làm nhiệm vụ giám sát và bảo quản tái sản của quỹ đại chúng ko được là đối tác mua, bán trong giao dich mua, bán tài sản của quỹ đại chúng.

+ NHGS, thành viên hội đồng quản trị, người điều hành và nhân viên trực tiếp của NHGS làm nhiệm vụ giám sát hoạt động quỹ đại chứng và bảo quản tài sản của quỹ đại chứng ko được là người có liên quan hoặc có quan hệ sở hữu, vay hoặc cho vay với cty quản lý quỹ và ngược lại.

– Quyền cơ bản:

+ Được hưởng phí giám sát do cty quản lý quỹ chi trả.

+ Từ chối xác nhận những báo cáo ko trung thực của cty quản lý quỹ về hoạt động của quỹ đầu tư Ck.

+ Từ chối những mênh lệnh ko hợp pháp của cty quản lý quỹ liên quan đến những giao dịch tài sản của quỹ.

+ Những quyền khác quy định trong điều lệ quỹ đầu tư Ck.

Vấn đề 5: Pháp luật về hoạt động kinh doanh chứng khoán

  1. Khái niệm kinh doanh chứng khoán: (Khoản 19 – Điều 6 – LCK)

KDCK là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.

Nói một cách khái quát, KDCK là loại hình hoạt động thương mại đặc biệt mà ở đó các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và các chủ thể được phép kinh doanh chứng khoán tiến hành các nghiệp vụ về chứng khoán cho chính mình hoặc cho khách hàng vì mục tiêu thu lợi nhuận tối đa.

  1. Đặc điểm:
  • KDCK là nghề thương mại đặc thù, có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của các nhà đầu tư là công chúng và các doanh nghiệp. -> Chủ thể muốn thực hiện nghề nghiệp này nhất thiết phải thỏa mãn 1 số điều kiện rất khắt khe về mặt tài chính cũng như pháp lý, thậm chí cả những điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật để thực hiện hoạt động KDCK. Việc quy định các điều kiện thành lập và hoạt động KDCK chính là đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động an toàn, hiệu quả và đặc biệt là bảo đảm quyền lợi chính đáng của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.
  • Đối tượng của hoạt động KDCK: Chứng khoán – giá trị động sản và các dịch vụ về chứng khoán. Đây là những hàng hóa và dịch vụ đặc biệt được giao dịch trên thị trường đặc biệt – thị trường chứng khoán và các giao dịch đó phải tuân thủ quy chế pháp lý đặc biệt do pháp luật về chứng khoán quy định.
  • Hoạt động KDCK phải tuân thủ 1 số nguyên tắc đặc thù của thị trường chứng khoán (nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư). Việc thể chế hóa bằng pháp luật những nguyên tắc này là những bảo đảm pháp lý cho sự vận hành an toàn, hiệu quả của thị trường CK đồng thời bảo vệ 1 cách hữu hiệu quyền và lợi ích hợp pháp cho các nhà đầu tư tham gia thị trường.
  1. Các hoạt động kinh doanh chứng khoán:
  • Bảo lãnh phát hành chứng khoán:
  • Khái niệm: (K22 – Điều 6 – LCK): Là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng.
  • Đặc trưng:

+ Bảo lãnh phát hành chứng khoán bao giờ cũng được thực hiện bởi những tổ chức chuyên nghiệp là công ty chứng khoán hoặc tổ chức khác được phép cung ứng dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán. Các chủ thể này phải được cấp giấy phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và phải tiến hành ĐKKD với chính quyền về hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán.

+ Đối tượng bảo lãnh phát hành chứng khoán chính là vệc phát hành chứng khoán ra công chúng của tổ chức phát hành (Việc phát hành chứng khoán ra công chúng là quyền chứ không phải là nghĩa vụ tài sản của tổ chức phát hành cần phải thực hiện đối với ng thứ ba). -> Ko phải là cam kết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (BLDS: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, kí quỹ, đặt cọc, kí cược) mà chỉ là cam kết bảo đảm thực hiện quyền phát hành chứng khoán của tổ chức phát hành -> ko có cấu trúc chủ thể như quan hệ bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ (bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh).

+  Bản chất: Là dịch vụ thương mại do tổ chức bảo lãnh phát hành thực hiện cho khách hàng là các tổ chức phát hành chứng khoán, với mục đích nhận tiền thu lao dịch vụ.

  • Chủ thể: Công ty chứng khoán, ngoại trừ trường hợp Ngân hàng thương mại được UBCKNN chấp thuận cho phép thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu theo điều kiện do BTC quy định.

Điều kiện:

+ Có giấy phép thành lập và hoạt động KDCK trong đó ghi rõ các loại hình nghiệp vụ KDCK theo đăng ký của tổ chức KDCK.

+ Có người đại diện hợp pháp đủ năng lực và thẩm quyền để xác lập giao dịch bảo lãnh phát hành chứng khoán.

+ Khoản 2 – Điều 6 – LCK: Công ti chứng khoán chỉ đc phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán. (là điều kiện bắt buộc dự ko là chính thức đối với chủ thể muốn tiến hành nghiệ vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán trên TTCK)

  • Hợp đồng dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán:

+ Là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán (bên cung ứng dịch vụ) với tổ chức phát hành chứng khoán (bên sử dụng dịch vụ). Theo đó bên cung ứng dịch vụ cam kết thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa bán hết hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng.

+ Bản chất: Là hợp đồng dịch vụ thương mại.

  • Đối tượng: công việc mà bên cung ứng dịch vụ cam kết thực hiện cho bên sử dụng dịch vụ để được nhận tiền công dịch vụ + phí bảo lãnh phát hành chứng khoán.
  • Công việc này có đặc thù là gắn với việc sử dụng các kĩ thuật nghiệp vụ kinh doanh của tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán và chỉ có những tổ chức nghề nghiệp chuyên môn như công ty chứng khoán mới có khả năng làm được.
  • Khoản phí dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, có bản chất là tiền công hay giá cả dịch vụ thương mại nên khoản phí này thường phản ánh các chi phí mà bên cung ứng dịch vụ đã bỏ ra để tiến hành dịch vụ và đảm bảo có lãi hợp lý.

+  Các loại hợp đồng dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán:

  • Cam kết bảo lãnh chắc chắn: Bên bảo lãnh phát hành cam kết sẽ phân phối số chứng khoán dự kiến phát hành trong thời hạn phát hành chứng khoán. Với cam kết này, tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ mua vào toàn bộ số chứng khoán của đợt phát hành để sau đó phân phối lại cho người đầu tư và tự chịu trách nhiệm về các rủi ro của việc phát hành hoặc tiếp nhận toàn bộ chứng khoán từ tổ chức phát hành để phân phối cho người đầu tư với trách nhiệm mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết khi kết thúc đợt phát hành. (thích hợp với những tổ chức bảo lãnh phát hành chuyên nghiệp, có khả năng tài chính mạnh và có tham vọng chi phối đối với thị trường dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán).
  • Cam kết đại lý phát hành chứng khoán: Bên bảo lãnh phát hành chứng khoán chỉ cam kết sẽ cố gắng hết sức để phân phối chứng khoán cho người đầu tư chứ không cam kết sẽ mua lại số chứng khoán còn thừa khi kết thúc đợt phát hành. (thích hợp với những tổ chức bảo lãnh phát hành không có khả năng tài chính mạnh hoặc mới tham gia thị trường dịch bảo lãnh phát hành chứng khoán và chưa khẳng được vị thế, sức mạnh của mình trên thị trường).
  • Cam kết bảo đảm tất cả hoặc không: Tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết sẽ phân phối hết số chứng khoán tối thiểu cần bán theo yêu cầu của tổ chức phát hành, nếu không được như vậy thì sẽ hủy bỏ đợt phát hành và trả lại tiền đặt mua chứng khoán cho các nhà đầu tư.

+ Nội dung của hợp đồng: (PLVN không quy định cụ thể, nhưng theo khuôn mẫu chung của pháp luật các nước)

  • Đối tượng của hợp đồng – công việc mà tổ chức bảo lãnh phát hành phải thực hiện.
  • Mức phí bảo lãnh phát hành chứng khoán.
  • Loại, số lượng và mệnh giá của các chứng khoán được bảo lãnh phát hành.
  • Thời hạn thực hiện việc bảo lãnh phát hành
  • Phương thức và ngày thanh toán, quyết toán hợp đồng dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
  • Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
  • Quyền và nghĩa vụ của các bên

+ Quyền, nghĩa vụ pháp lý của chủ thể bảo lãnh phát hành chứng khoán:

  • Quyền yêu cầu tổ chức phát hành cung cấp các giấy tờ, tài liệu thông tin cần thiết liên quan đến thủ tục phát hành và số lượng, chủng loại chứng khoán dự kiến phát hành.
  • Nghĩa vụ thực hiện các công việc liên quan đến thử tục chào bán và phân phối chứng khoán ra công chúng.
  • Quyền yêu cầu tổ chức phát hành thanh toán phí dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán theo thỏa thuận.
  • Nghĩa vụ mua lại số chứng khoán chưa đc phân phối hết cho người đầu tư trong trường hợp cam kết bảo lãnh chắc chắn.
  • Nghĩa vụ thanh toán số tiền thu được từ việc phát hành chứng khoán cho tổ chức phát hành chứng khoán.
  • Môi giới chứng khoán:
  • Khái niệm: (Khoản 6 – Điều 20 – LCK) Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
  • Đặc trưng:

+ Luôn được thực hiện bởi chủ thể đặc thù là công ty chứng khoán. Để tiến hành hoạt động môi giới chứng khoán, chủ thể này phải được cấp giấy phép thành lập và hoạt động KDCK đồng thời phải thực hiện việc ĐKKD dịch vụ môi giới chứng khoán tại CQNN có thẩm quyền.

+ Được thực hiện thông qua công cụ pháp lý là hợp đồng dịch vụ môi giới chứng khoán.

+ Nội dung cốt lõi của hoạt động môi giới chứng khoán chính là việc công ty chứng khoán sử dụng chuyên môn nghiệp vụ và những hiểu biết sâu sắc mua hay bán hộ chứng khoán cho khách hàng nhằm hưởng phí hoa hồng.

+ Trong hoạt động môi giới chứng khoán, với tư cách là nhà môi giới, công ty chứng khoán luôn có vai trò và bổn phận là người trung gian giữa người mua và người bán chứng khoán. Bổn phận này của nhà môi giới chứng khoán chỉ được xem là hoàn thành khi người mua đã mua được chứng khoán cần mua và người bán đã bán được các chứng khoán cần bán. ( Sự khác biệt đáng kể với các hoạt động môi giới thương mại khác: nhà môi giới không có trách nhiệm phải thu xếp cho người mua và người bán chứng khoán trực tiếp gặp nhau để tự họ thương lượng và kí kết hợp đồng với nhau). Hợp đồng này được xác lập một cách gián tiếp thông qua hành vi giao dịch của người đại diện là nhà môi giới chứng khoán.

  • Chủ thể: Thường được thực hiện bởi những thương nhân đặc biệt là công ty chứng khoán. Không có quy định cụ thể của LCK nhưng theo thông lệ chung, để tiến hành nghiệp vụ môi giới chứng khoán thì chủ thể phải thỏa mãn 1 số điều kiện bắt buộc như:

+ có giấy phép thành lập và hoạt động KDCK do UBCKNN cấp (giấy này có giá trị là  GCNĐKKD).

+ có người đại diện hợp pháp đủ năng lực và thẩm quyền để kí kết các hợp đồng liên quan đến hoạt động môi giới chứng khoán.

  • Hợp đồng dịch vụ môi giới chứng khoán:

+ Là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên môi giới (chủ thể kinh doanh dịch vụ môi giới chứng khoán) với bên được môi giới (khách hàng – người mua hoặc người bán chứng khoán), theo đó bên môi giới cam kết mua hoặc bán hộ chứng khoán cho khách hàng trên cơ sở các nguyên tắc và quy chế giao dịch của thị trường để được nhận phí dịch vụ môi giới.

+ Bản chất: là hợp đồng dịch vụ thương mại. Tuy nhiên vai trò của bên môi giới chứng khoán không dừng lại việc thu xếp cho các bên mua và bán chứng khoán kí kết được hợp đồng với nhau, bên môi giới chứng khoán còn có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng này đến cùng, tức là thực hiện việc mua hộ và bán hộ chứng khoán cho khách hàng theo sự ủy quyền của họ.

  • Các loại Hợp đồng dịch vụ môi giới chứng khoán: (Hai loại hợp đồng này được kí kết độc lập, hiệu lực không phụ thuộc lẫn nhau song có mối quan hệ chi phối lẫn nhau -> thực hiện nghiệp vụ môi giới thành công).

+ Hợp đồng môi giới mua hộ chứng khoán: bên môi giới cam kết mở tài khoản tiền mua chứng khoán cho khách hàng mua và thực hiện việc tìm mua hộ chứng khoán cho khách hàng theo đúng yêu cầu của họ. Yêu cầu này được thể hiện trong các lệnh mua do khách hàng mua gửi đến cho nhà môi giới chứng khoán.

+ Hợp đồng môi giới bán hộ chứng khoán: bên môi giới cam kết mở tài khoản chứng khoán cho khách hàng bán và thực hiện việc bán hộ chứng khoán cho khách hàng theo đúng yêu cầu của họ. yêu cầu này cũng được thể hiện trong các lệnh bán do khách hàng bán gửi đến cho nhà môi giới chứng khoán.

  • Quyền và nghĩa vụ pháp lý của công ty chứng khoán trong hoạt động môi giới chứng khoán:

+ Quyền yêu cầu khách hàng chuyển giao cho mình số chứng khoán cần bán hoặc số tiền cần sử dụng để mua chứng khoán vào tài khoản chứng khoán hoặc tài khoản tiền mua chứng khoán.

+ Nghĩa vụ thực hiện việc mua hộ hoặc bán hộ chứng khoán cho khách hàng theo đúng yêu cầu của họ về số lượng, loại chứng khoán và giá cả chứng khoán cần mua hay bán.

+ Quyền yêu cầu khách hàng trả phí dịch vụ môi giới chứng khoán và các khoản chi phí hợp lý khách có liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ mua hay bán hộ chứng khoán.

+ Ngoài ra bên môi giới phải thực hiện nghĩa vụ bảo quản các tài sản, hàng hóa của khách hàng nhờ môi giới; nghĩa vụ giữ bí mật về các thông tin liên quan đến lợi ích của khách hàng; nghĩa vụ ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của mình; nghĩa vụ quản lý tách biệt tiền và tài sản chứng khoán của khách hàng với tiền và tài sản chứng khoán thuộc sở hữu của mình; chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới nhưng không chịu trách nhiệm pháp lý về khả năng thực hiện hợp đồng của họ trong giao dịch chứng khoán.

  • Tự doanh chứng khoán:
  • Khái niệm: (Khoản 21 – Điều 6): Là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình.
  • Đặc trưng:

+ Hoạt động tự doanh chứng khoán có bản chất kinh tế là nghề nghiệp kinh doanh đồng thời có bản chất pháp lý là hành vi thương mại. Hoạt động này luôn được thực hiện 1 cách thường xuyên, chuyên nghiệp bởi chủ thể kinh doanh là CTCK. ( khác so với hoạt động đầu tư thông thường của người đầu tư trên TTCK).

  • Hoạt động này được cấp giấy phép và đăng ký kinh doanh tại UBCKNN
  • Chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật kinh doanh nói chung + PLKD chứng khoán.

+ CTCK không tiến hành việc mua bán chứng khoán cho người khác, theo yêu cầu hay vì quyền lợi của người khác mà hoàn toàn chỉ vì lợi ích của mình và cho chính mình. (khác so với các hoạt động KDCK khác)

+ Đối tượng kinh doanh: Chứng khoán (khác với hoạt động kinh doanh hàng hóa thông thường)

  • Bản chất: không phải là hoạt động dịch vụ về chứng khoán mà chính là hoạt động mua vào, bán ra chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời.
  • Chủ thể thực hiện: Công ty chứng khoán có vốn pháp định tối thiểu là 100 tỷ đồng.
  • Hợp đồng mua bán chứng khoán:

+ Là sự thỏa thuận giữa công ty chứng khoán tự doanh với khách hàng về việc mua, bán các chứng khoán niêm yết và chứng khoán chưa niêm yết.

+ Nội dung: (theo tập quán giao dịch – ngoài ra còn có thể thỏa thuận 1 số điều khoản khác)

  • Điều khoản về đối tượng hợp đồng
  • Điều khoản về giá cả của chứng khoán
  • Điều khoản về phương thức thanh toán

+ Hình thức:

  • trực tiếp giữa CTCK với khách hàng
  • gián tiếp thông qua nhà môi giới
  • Quyền và nghĩa pháp lý của chủ thể hoạt động tự doanh chứng khoán:
  • Với tư cách là bên mua:

+ Quyền lựa chọn hình thức kí kết hợp đồng mua bán chứng khoán trực tiếp với người bán hoặc đặt lệnh mua chứng khoán cho các nhà môi giới để nhờ chủ thể này mua hộ chứng khoán cho mình.

+ Quyền yêu cầu bên bán chứng khoán hoặc nhà môi giới chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán cho mình.

+ Nghĩa vụ thanh toán tiền mua chứng khoán cho bên bán, có thể thực hiện trực tiếp đối với người bán hoặc thông qua nhà môi giới bằng cách mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại công ty môi giới.

  • Với tư cách là bên bán:

+ Quyền lựa chọn giữa hình thức kí hợp đồng bán chứng khoán trực tiếp cho người mua hoặc đặt lệnh bán cho nhà môi giới để nhờ bán hộ chứng khoán.

+ Nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán cho bên mua một cách trực tiếp hoặc thông qua nhà môi giới chứng khoán.

+ Quyền trực tiếp yêu cầu bên mua hoặc thông qua nhà môi giới để yêu cầu bên mua thanh toán tiền bán chứng khoán cho mình.

  • Tư vấn đầu tư chứng khoán:
  • Khái niệm: (khoản 23 – Điều 6 – LCK): Là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán.
  • Đặc trưng:

+ Chủ thể: Được thực hiện bởi các tổ chức chuyên nghiệp như công ty chứng khoán.

Điều kiện: tương tự như các hoạt động tiến hành nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán khác. Chú ý điều kiện về mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và vốn pháp định 10 tỉ đồng.

+ Nội dung: Được thực hiện bởi các chuyên gia về chứng khoán – người đại diện cho CTCK, với các công việc chủ yếu như phân tích các thông tin về chứng khoán, cung cấp các kết quả phân tích về chứng khoán và TTCK; đưa ra các khuyến nghị cần thiết đối với khách hàng là nhà đầu tư để giúp họ có được quyết định đầu tư hợp lý và hiệu quả.

+ Hình thức: được thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán.

  • Bản chất:
  • Bản chất kinh tế: là nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán.
  • Bản chất pháp lý: là quan hệ hợp đồng, theo đó CTCK cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng để đc hưởng tiền thù lao dịch vụ theo thỏa thuận.
  • Hợp đồng dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán:

+ Là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa CTCK (bên tư vấn) với nhà đầu tư (bên được tư vấn), theo đó bên tư vấn có nghĩa vụ cung cấp cho khách hàng là nhà đầu tư các kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và các khuyến nghị liên quan đến chứng khoán để họ tự đưa ra quyết định đầu tư, còn khách hàng – nhà đầu tư có nghĩa vụ chi trả tiền thù lao dịch vụ tư vấn đầu tư cho CTCK.

+ Nội dung ( theo tập quán giao dịch):

  • Điều khoản về đối tượng hợp đồng:
  • Điều khoản về giá cả dịch vụ
  • Điều khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán.

+ Đối tượng hợp đồng: công việc mà bên tư vấn phải làm theo yêu cầu của nhà đầu tư: phân tích chứng khoán, đưa ra kết quả, báo cáo phân tích và các khuyến nghị cụ thể đối với nhà đầu tư

+ Bản chất: là hợp đồng dịch vụ.

  • Quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể cung ứng dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán:

+ Nghĩa vụ thu thập, tìm hiểu thông tin về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng, bảo đảm các khuyến nghị, tư vấn đầu tư của công ty cho khách hàng phải phù hợp với khách hàng đó.

+ Nghĩa vụ cung cấp cho khách hàng các kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích về chứng khoán và đưa ra các khuyến nghị cụ thể về đầu tư chứng khoán. (nghĩa vụ chính yếu).

+ Quyền yêu cầu khách hàng trả phí dịch vụ tư vấn theo thỏa thuận trong hợp đồng tư vấn đầu tư chứng khoán.

  • Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán:
  • Khái niệm: (Khoản 26 – Điều 6) là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán, nắm giữ chứng khoán.
  • Đặc trưng: Bản chất là nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nên có những đặc trưng sau đây:

+ Chủ thể: gồm công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (bên được ủy quyền – bên cung ứng dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán) và một bên là nhà đầu tư tổ chức hoặc cá nhân (bên ủy quyền – bên sử dụng dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán).

+ Nội dung gồm các công việc chính như: sử dụng nguồn vốn của nhà đầu tư chuyển giao để trực tiếp đầu tư vào chứng khoán; trực tiếp nắm giữ và bán chứng khoán trên thị trường khi xét thấy cần thiết vì lợi ích của nhà đầu tư -> được ghi rõ trong hợp đồng dịch vụ ủy thác giữa công ty quản lý quỹ với nhà đầu tư.

+ Hình thức: thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng dịch vụ ủy thác quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.

  • Hợp đồng dịch vụ ủy thác quản lý danh mục đầu tư chứng khoán:

+ Là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán với khách hàng (nhà đầu tư), theo đó công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán chấp nhận sự ủy thác của khách hàng trong việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán và quản lý các khoản mục đầu tư của khách hàng vì quyền lợi của họ để được hưởng phí dịch vụ ủy thác do khách hàng thanh toán.

+ Nội dung (theo thông lệ và tập quán giao dịch);

  • Điều khoản về đối tượng hợp đồng
  • Điều khoản về phí dịch vụ ủy thác
  • Điều khoản về thời hạn ủy thác quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
  • Điều khoản vê quyền và nghĩa vụ của các bên

+ Hợp đồng này vừa có tính chất là hợp đồng úy quyền, vừa có tính chất là hợp đồng dịch vụ.

  • Hợp đồng ủy quyền thể hiện: Nhà đầu tư ủy quyền cho công ty quản lý quỹ thay mặt mình tiến hành các công việc đầu tư chứng khoán trên thị trường vì lợi ích của nhà đầu tư.
  • Hợp đồng dịch vụ thể hiện: Cong ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thỏa thuận làm dịch vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán cho khách hàng để được hưởng tiền thù lao dịch vụ.
  • Quyền và nghĩa vụ pháp lý:

+ Quyền yêu cầu khách hàng chuyển giao cho mình khoản tiền mà khách hàng quyết định đầu tư vào chứng khoán. Ngoài ra cũng cần được khách hàng chứng minh tính hợp pháp về nguồn gốc của khoản đầu tư vào chứng khoán cũng như các thông tin về mục đích đầu tư của khách hàng.

+ Nghĩa vụ thực hiện các công việc mà khách hàng ủy thác trong hợp đồng dịch vụ ủy thác quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.

+ Quyền yêu cầu khách hàng trả phí dịch vụ ủy thác quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.

  • Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán:
  • Khái niệm: (pháp luật không quy định – xét về mặt học thuật): là nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, theo đó công ty quản lý quỹ chấp nhận sự ủy thác của các nhà đầu tư để tiến hành việc thành lập quỹ đầu tư chứng khoán bằng nguồn vốn góp của các nhà đầu tư và trực tiếp quản lý, điều hành quản lý quỹ này vào mục đích đầu tư trên thị trường chứng khoán, cũng như đầu tư vào các tài sản khác vì quyền lợi của nhà đầu tư.
  • Đặc trưng: (bản chất là 1 dịch vụ về chứng khoán)

+ Chủ thể: được thực hiện bởi chủ thể đặc thù là công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán theo sự ủy thác của nhà đầu tư.

+ Nội dung bao gồm các công việc chủ yếu như: làm thủ tục thành lập quỹ đầu tư chứng khoán; trực tiếp quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư của quỹ để đầu tư vào các chứng khoán và các tài sản tài chính khác trên thị trường vì quyền lợi của các nhà đầu tư; thực hiện việc phân chia lợi nhuận và chia sẻ rủi ro cho các nhà đầu tư theo tỉ lệ vốn góp, trên cư sở kết quả quỹ đầu tư chứng khoán.

+ Hình thức: thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng dịch vụ ủy thác quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.

  • Hợp đồng dịch vụ ủy thác quản lý quỹ đầu tư chứng khoán: (bản chất là hợp đồng dịch vụ)

+ Là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán với khách hàng là nhóm các nhà đầu tư chứng khoán, theo đó công ty quản lý quỹ chấp nhận sự ủy thác của khách hàng để tiến hành việc thành lập, quản lý và điều hành quỹ đầu tư chứng khoán bằng nguồn vốn góp của các nhà đầu tư và được nhận tiền phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.

+ Nội dung

  • Điều khoản về đối tượng hợp đồng
  • Điều khoản về mức phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (quan trọng)
  • Điều khoản vê quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng
  • Quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản:

+ Quyền yêu cầu các nhà đầu tư cung cấp cho mình những thông tin, tài liệu, giấy tờ cần thiêt cùng với nguồn vốn đầu tư để làm thủ tục thành lập quỹ đầu tư chứng khoán

+ Nghĩa vụ thực hiện các công việc theo sự ủy thác của các nhà đầu tư trong hợp đồng dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.

+ Quyền yêu cầu khách hàng là các nhà đầu tư trả phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư và các khoản tiền thưởng theo thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ quản lý quỹ.

  • Hoạt động lưu ký chứng khoán:
  • Khái niệm: (khoản 24 – Điều 6): Là việc các tổ chức lưu ký nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến chứng khoán.
  • Đặc trưng cơ bản:

+ Về chủ thể: được tiến hành bởi các TTLKCK, các CTCK và NHTM đã đăng lý hoạt động lưu ký chứng khoán với UBCKNN và được TTLKCK chấp nhận là thành viên lưu ký chứng khoán.

+ Về nội dung: bao gồm các công việc chủ yêu như: nhận ký gửi chứng khoán của khách hàng để bảo quản, chuyển giao chứng khoán theo yêu cầu của khách hàng; giúp khách hàng thực hiện các quyền của họ liên quan đến chứng khoán.

+ Về hình thức: thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng dịch vụ lưu ký chứng khoán.

  • Hợp đồng dịch vụ lưu ký chứng khoán:

+ Là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức lưu ký chứng khoán với khách hàng, theo đó tổ chức lưu ký nhận ký gửi chứng khoán của khách hàng, bảo quản, chuyển giao chứng khoán theo yêu cầu của khách hàng và thực hiện giúp khách hàng các quyền liên quan đến chứng khoán để được nhận phí dịch vụ lưu ký chứng khoán.

+ Nội dung:

  • Điều khoản về đối tượng hợp đồng: công việc phải làm
  • Điều khoản về mức phí dịch vụ lưu kí chứng khoán (do Bộ tài chính quy định)
  • Điều khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên
  • Quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản:

+ Quyền yêu cầu khách hàng cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết để thực hiệc việc lưu ký chứng khoán.

+ Nghĩa vụ thực hiện cho khách hàng các công việc liên quan đến dịch vụ lưu ký chứng khoán đã cam kết.

+ Quyền thu phí dịch vụ lưu kí chứng khoán đối với khách hàng sử dụng dịch vụ lưu ký chứng khoán.

+ Nghĩa vụ bảo mật thông tin liên quan đến tài sản chứng khoán của khách hàng đang lưu ký tại tổ chức cung ứng dịch vụ lưu ký.

Vấn đề 6: Quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán

1.Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

-Một trong những đặc trưng cơ bản của thị trường chứng khoán là tính rủi ro cao. Xuất phát từ mục tiêu bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước , ở một mức độ nhất định có những can thiệp vào hoạt động của thị trường nhằm giảm thiểu và phòng tránh rủi ro.

– Sự can thiệp của Nhà nước là một trong những biện pháp cần thiết bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cá thể, khả năng phân tích thông tin, tìm hiểu thị trường còn hạn chế.

– Ngay từ khâu chào bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp, Nhà nước đã thể hiện sự quản lý ở một mức độ nhất định bằng những quy định về điều kiện chào bán ra công chúng.Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật đặt ra các điều kiện cháo bán chứng khoán ra công chúng với chế độ công bố thông tin rất chặt chẽ, nhằm đảm bảo chứng khoán giao dịch trên thị trường phải là những hàng hóa có chất lượng, tạo niềm tin cho công chúng đầu tư. Tổ chức chào bán chứng khoán ra công chúng phải được sự cho phép bằng văn bản của UBCKNN. Điều này xác nhận sự quản lý Nhà nước của UBCKNN đối với hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng.

– Thị trường chứng khoán là nơi tập trung nhiều đối tượng tham gia với nhiều mục đích, sự hiểu biết và lợi ích khác nhau, các giao dịch chứng khoán được thực hiện rất lớn. Hơn nữa, do tính đặc thù của hàng hóa trên thị trường đó là sự tách rời giá trị thực của chứng khoán ra khỏi bản thân chứng khoán, đặc tính đó khiến cho thị trường chứng khoán cũng là môi trường dễ nảy sinh nhiều tiêu cực như lừa đảo, tung tin giả tạo, mua bán nội gián và các hoạt động kiếm lời không chính đáng khác… Khi các hiện tượng tiêu cực xảy ra có thể gây tác hại lớn đến sự phát triển của thị trường chứng khoán, gây tổn thất cho  nhà đầu tư, tổn thất cho thị trường và toàn bộ nền kinh tế. Thị trường chứng khoán không thể phát huy được chức năng và vai trò to lớn của nó. Chính vì thế, quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán là nhu cầu tất yếu khách quan.

Như vậy, để nhằm thiết lập trật tự cho thị trường chứng khoán phòng và chống các hành vi lừa đảo, lũng đoạn thị trường hoặc hành vi khác gây thiệt hại cho nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm, thiếu thông tin, để đảm bảo tính hiệu quả, công bằng, lành mạnh trong hoạt động của thị trường, đảm bảo quyền lợi chính đáng của người đầu tư, dung hòa lợi ích của tất cả những người tham gia thị trường tận dụng và duy trì được các nguồn vốn để phát triển kinh tế thì vấn đề quản lý việc điều hành và giám sát các hoạt động trên thị trường là cần thiết.

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán được hiểu là những thiết chế được thành lập, chịu trách nhiệm trước Nhà nước về mọi hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán cùng với các hoạt động khác có liên quan.

Ở Việt Nam cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán được tổ chức theo trật tự như sau:

+ Chính Phủ: là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, thống nhất quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán

+ Bộ tài chính: chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán

+ UBCKNN là cơ quan thuộc Bộ tài chính, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán, chịu trách nhiệm trước Bộ tài chính và Chính phủ về mọi hoạt động của thị trường.

2.1 Chính phủ

Chính phủ là cq hành pháp cao nhất, đứng đầu trong moi lĩnh vực quản lý nhà nước trong đó có quản lý nhà nước về ck và ttck, một lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm có tác đôg tới mọi hđ kinh tế. Với vai trò là người lãnh đạo điều hành, tổng hợp các qh kinh tế của quốc gia, Chính phủ thông qua hoạt động của ttck để nắm bắt những biến động kinh tế, từ đó đưa ra những csach phù hợp nhằm thúc đấy sự phát triển của thị trường ck nói riêng và tt tài chính nói chung. Như vậy là nhằm thực hiện quản lý đồng bộ các bộ phận của thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn ngắn hạn và thị trường vốn trung và dài hạn trong đó có ttck.

2.2. Bộ Tài Chính

Bộ tài chính thực hiện các hd cơ bản sau:

+ Trình Chính phủ, thủ tướng chính phủ ban hành chiến lược quy hoạch, chính sách phát triển ttck

+ Trình cấp có thầm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các vbqppl về ck và ttck

+ Chỉ đạo UBCKNN thực hiện chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển ttck và các chính sách, chế độ để quản lý và giám sát hoạt động về ck và ttck

Như vậy, BTC là cơ quan ql NN cấp bộ, có chức năng , vai trò quan trọng như cầu nối trung gian giữa cơ quan quản lý chuyên biệt là UBCKNN và cơ quan quản lý cấp cao nhất là CP.

Mối quan hệ giữa Bộ tài chính và UBCKNN trong hd quản lý NN về ck và ttck?

Bộ tài chính quản lý chứng khoán và ttck thông qua UBCKNN đồng thời cũng là cơ quan hành chính nhà nước cấp trên của UBCKNN, chỉ đạo UBCKNN trong việc thực hiện các chính sách cũng như quy định của Nhà nước về giám sát, quản lý ttck

Bộ tài chính chủ trì , phối hợp với Bộ trưởng Bộ nội vụ trình Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UBCKNN.

UBCKNN là cơ quan trực thuộc BTC thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nn về ck và ttck, quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực ck và ttck theo qd của pl.

2.3 UBCKNN

a)vị trí pháp lý

Ở Việt Nam, UBCKNN là cơ quan quản lý Nhà nước chuyên trách về chứng khoán và thị trường chứng khoán được thành lập theo nghị định của chính phủ số 75/1996/ NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 1996 và chính thức hoạt động vào ngày 25 tháng 8 năm 1997. Hiện nay Luật chứng khoán năm 2006 quy định những nội dung cơ bản về nhiệm vụ và quyền hạn của UBCKNN tại điều 8. Quyết định 161/2004/ QĐ- TTg ngày 7/9/2004 quy định về vị trí pháp lý , chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của UBCKNN nay được thay bằng quyết định 63/2007/ QĐ- TTg)

Việc ra đời của UBCKNN ở Việt Nam có những nét đặc thù do hoàn cảnh kinh tế- xã hội của Việt Nam chi phối. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Chính phủ là cơ quan quản lý cao nhất về chứng khoán và thị trường chứng khoán thông qua các cơ quan chức năng là Bộ tài chính và UBCKNN. Trước khi ban hành Luật chứng khoán thì UBCKNN là cơ quan ngang bộ trực thuộc Chính phủ nhưng nay theo quy định tại điều 8 Luật chứng khoán thì UBCKNN là một đơn vị thuộc Bộ tài chính.

UBCKNN có vị trí là cơ quan thuộc Bộ tài chính, cơ quan nằm trong bộ máy nhà nước ở trung ương. Mặc dù là cơ quan trực thuộc Bộ tài chính nhưng về cơ cấu tổ chức, nó không giống với các cơ quan thuộc Bộ tài chính khác, nó không có hệ thống tổ chức từ trung ương đến cơ sở. UBCKNN là một chủ thể quản lý hành chính nhà nước, hoạt động của nó có tính hành chính- mệnh lệnh, có tính độc lập tương đối so với các đơn vị khác thuộc Bộ tài chính.Theo quy định của pháp luật hiện hành: Bộ trưởng Bộ tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ nội vụ trình Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UBCKNN.

  1. b) Chức năng:

Chức năng của UBCKNN có những nét đặc thù để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của VN hiện nay. UBKNN có hai chức năng cơ bản  là: tổ chức xây dựng thị trường ck và quản lý, giám sát sự vận hành của ttck. Thông qua hệ thống các quy chế, chế độ, thể lệ về ck và ttck điều hành bằng cách thành lập các cơ quan đơn vị hay các chức vụ điều hành thị trường; cấp và thu hồi các loại giấy phép có liên quan, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về ck và ttck

  1. c) Nhiệm vụ, quyền hạn:

Điều 8 Luật chứng khoán và Điều 2 Quyết định số 112/2009/QĐ-TTg quy định Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

  1. Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định:
  2. a) Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ; dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán;
  3. b) Chiến lược, quy hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động, đề án, dự án quan trọng về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
  4. Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định:
  5. a) Dự thảo thông tư và các văn bản khác về chứng khoán và thị trường chứng khoán;
  6. b) Kế hoạch phát triển thị trường chứng khoán hàng năm.
  7. Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quy phạm nội bộ, văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
  8. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt.
  9. 5. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
  10. Cấp, gia hạn, đình chỉ, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; chấp thuận những thay đổi liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán.
  11. Quản lý, giám sát hoạt động của các Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán và các tổ chức phụ trợ; tạm đình chỉ hoạt động giao dịch, hoạt động lưu ký của các Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Lưu ký chứng khoán trong trường hợp có dấu hiệu ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; chấp thuận các quy định, quy chế của các Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán; chấp thuận việc đưa vào giao dịch các loại chứng khoán mới, thay đổi và áp dụng phương thức giao dịch mới, đưa vào vận hành hệ thống giao dịch mới.
  12. Thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán.
  13. Thực hiện công tác thống kê, dự báo về hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; tổ chức quản lý và ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
  14. Tổ chức nghiên cứu khoa học; tổ chức, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức quản lý chứng khoán và nhân viên hành nghề chứng khoán; phổ cập kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho công chúng.
  15. Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo phân công, phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật.
  16. Hướng dẫn các tổ chức hiệp hội chứng khoán thực hiện mục đích, tôn chỉ và Điều lệ hoạt động của hiệp hội; kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước, xử lý hoặc kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật của các hiệp hội chứng khoán theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật.
  17. Thực hiện chế độ báo cáo về chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
  18. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, thi đua khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật; thực hiện phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật.
  19. Thực hiện cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt
  20. Quản lý kinh phí do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn kinh phí khác, tài sản được giao; thực hiện chế độ tự chủ về biên chế và kinh phí hoạt động theo quy định của cấp có thẩm quyền.
  21. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính giao và theo quy định của pháp luật.

2.4 Cơ quan quản lý ngành

Cơ quan quản lý ngành là các bộ, ban, ngành cùng phối kết hợp với Bộ tài chính và UBCKNN thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về chứng khoán và ttck: Các bộ, cơ quan ngang bộ; ủy ban nhân dân các cấp

 

Giải thích vì sao: Cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán thường là cơ quan nằm trong bộ máy hành chính nhà nước?

Bởi vì: Thị trường chứng khoán là nơi tham gia của hàng triệu người đầu tư, hàng ngàn tổ chức phát hành trong quốc gia không giới hạn địa giới hành chính. Vì thế, để quản lý thị trường chứng khoán, bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư trong toàn quốc không thể giao cho cơ quan thuộc một vùng lãnh thổ hoặc một địa phương nào phụ trách được mà phải là một cơ quan ở trung ương.

Thứ hai, công việc chủ yếu là quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán là giám sát, tổ chức thực hiện, bảo đảm thi hành  pháp luật một cách thường xuyên, đây là công việc có tính chấp hành, điều hành thuộc lĩnh vực hoạt động của cơ quan quản lý hành chính. Do đó, cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường ck phải đc thiết kế trong bộ máy hành chính. Cơ quan này sẽ xử lý được cấc hvi vi phạm của các chủ thể tham gia theo thẩm quyền nhằm bảo đảm cho thị trường vận hành một cách an toàn và công bằng. Để cơ quan quản lý NN về ck và ttck thực hiện tốt nhiệm vụ thì cần fai thiết kế một mô hình thích hợp, đc trao thẩm quyền và bộ máy đủ để nó thực hiện đc tốt chức năng, nhiệm vụ đc giao.

Đối với các quốc gia, nền tảng kinh tế cũng như hoạt động của ttck vẫn đang trog giai đoạn phát triển đòi hỏi phải có những cơ quan quản lý thị trường mang tính quyền lực nhà nước để dễ dàng can thiệp bằng những biện pháp hành chính khi cần thiết.

Hoạt động thanh tra, giám sát của UBCKNN.

Thanh tra chứng khoán là thanh tra chuyên ngành về ck và ttck, chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của Bộ tài chính.

Thanh tra ck gồm có: Chánh thanh tra, Phó thanh tra và các thanh tra viên. Hoạt động thanh tra chỉ được tiến hành khi cú quyết định của UBCKNN trên cơ sở:

+ Chương trình kế hoạch thanh tra đã được chủ tịch UBKNN phê duyệt;

+ Yêu cầu của chủ tịch UBCKNN;

+ Khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật về chứng khoán và ttck.

-Đối tượng thanh tra, giám sát bao gồm: tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức niêm yết chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán, trung tâm lưu ký ck, cty ck, cty qly quỹ đtu ck, quỹ đtu ck, tổ chức đki, lưu ký thanh toán bù trừ ck, ngân hàng giám sát, người hành nghề kd ck, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hđ ck và ttck.

Phạm vi thanh tra, giám sát bao gồm: hoạt động phát hành chứng khoán, hđ niêm yết ck, hđ giao dịch ck, hđ kd, cung cấp dvu ck, hđ công bố thông tin.

– Hình thức thanh tra: + Thanh tra định kỳ theo chương trình kế hoạch

+ Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật về ck và ttck, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do chủ tịch UBCK giao.

Nội dung qđinh thanh tra: +1 Căn cứ pháp lý để thanh tra; 2 đối tượng, nội dung, phạm vi, nhiệm vụ thanh tra; 3 Thời hạn tiến hành thanh tra; 4 tên trưởng đoàn thanh tra và danh sách thành viên đoàn thành viên

Quyết định thanh tra sẽ đc gửi tới các đối tượng thanh tra, trừ trường hợp thanh tra đột xuất. Quyết định này cũng dc công bố trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày ra qđ thanh tra, việc công bố qđ thanh tra phải đc lập thành văn bản.

Thời hạn thanh tra: không quá 30 ngày, kể từ ngày công bố qđ thanh tra đến khi kết thúc việc thanh tra tại nơi đc thanh tra. Trong trường hợp cần thiết, người ra qđ thanh tra có thể gia hạn, việc gia hạn này chỉ đc một lần, thời gian gia hạn cũng ko vượt quá ba mươi ngày.

Quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra:

+ Quyền: Giải trình những vđ có liên quan đến nd thanh tra; bảo lưu ý kiến trong biên bản thanh tra; từ chối cung cấp thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước ko lq đến nd thanh tra; khiếu nại với người ra qđ thanh tra về những hvi của trưởng đoàn thanh tra hoặc các thành viên trong đoàn khi có căn cứ cho rằng những hành vi đó trái pháp luật; yêu cầu bồi thường thiệt hại theo qđ của pl.

+ Nghĩa vụ: Chấp hành qđ thanh tra; cung cấp đầy đủ, kịp thời chính xác các thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đến nội dung thanh tra theo yêu cầu của thanh tra và phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác và trung thực của thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử đã cung cấp; chấp hành yều cầu, kết luận thanh tra, quyết định xử phạt của thanh tra và cơ quan có thẩm quyền; kí biên bản thanh tra.

Nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra:

Có nhiệm vụ chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện đug nội dung, thời hạn ghi trong qđ thanh tra của đoàn thanh tra.

Có quyền yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp những tài liệu, thông tin liên quan đến nội dung thanh tra, yêu cầu người có thẩm quyền phong tỏa tài khoản tiền, tài khoản ck khi thấy cần thiết ngăn chặn hvi vi pham hoặc xác minh tình tiết làm chứng cứ cminh kết luật đtra.

Có thẩm quyền ban hành qđ xử lý theo thẩm quyèn hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý, đơn đục việc thực hiện qđ xử lý về thành tra đồng thời giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến trách nhiệm của đoàn thanh tra và kết luận về nd thanh tra.

Có nhiệm vụ chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm.

Kết luận thanh tra: Kết luận thanh tra là việc xác định tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân trách nhiệm của cơ quan, tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm nếu có cùng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đã đc áp dụng, kiến nghị về các biện pháp đã đc xử lý.

Trong quá trình thanh tra, người ra qđ thanh tra có quyền yêu cầu trường đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra báo cáo, yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình để làm rõ thêm những vấn đề cần thiết phục vụ cho việc ra kết luận thanh tra.

Bình luận những ưu, nhược điểm về địa vị pháp lý của UBCKNN.

1.Vị trí pháp lý

1.1 Ưu điểm: Đưa ra những ưu điểm thì dựa trên sự So sánh với thời kỳ UBCKNN đã từng là cơ quan ngang Bộ trực thuộc Chính phủ (1997- 3/2004)

Trong thời kỳ UBCKNN trực thuộc Chính phủ (đến 3/2004), thị trường chứng khoán (TTCK) còn nhỏ bé chỉ bằng 1/5 bây giờ, hàng hoá nghèo nàn, nhà đầu tư thì mất niềm tin; vị thế của UBCKNN hết sức yếu ớt; mặc dù đã thiết lập Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP.HCM nhưng hoạt động của Trung tâm này chưa thể hiện là hoạt động của TTCK, doanh nghiệp ra niêm yết thì vấn khó huy động vốn, tiến trình cổ phần hoá gặp khó khăn về thu hút vốn cổ phần….

Nhưng từ khi quyết định chuyển UBCKNN về trực thuộc Bộ Tài chính như hiện nay chính là một quyết định khiến thay đổi thị trường chứng khoán. Nhiều giải pháp quan trọng cho sự phát triển TTCK đã ra đời nhanh chóng, như tăng cường nhiều hàng hoá sơ cấp và thứ cấp cho TTCK, quy mô TTCK hiện nay đã gấp 5 lần trước kia ; tăng cường xúc tiến đầu tư nước ngoài, qua việc mở rộng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài từ 20% lên 49%. Bộ Tài chính cũng đã chỉ đạo nhiều đơn vị trong Bộ ban hành nhiều chính sách liên quan đến phát triển thị trường chứng khoán như chính sách tạo hàng, chính sách về Thuế, kế toán….liên quan đến TTCK.

1.2 Nhược điểm

+ UBCKNN là cơ quan thuộc Bộ tài chính nên có cơ cấu tổ chức và bộ máy điều hành cồng kềnh, nhiều tầng nấc, khiến cho việc đưa ra những quyết định quan trọng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bị hạn chế, không theo kịp với diễn biến thị trường.

+ địa vị pháp lý của UBCKNN bị thu hẹp khi nó chỉ tương đương với một vụ chức năng thuộc Bộ tài chính. Do vậy, UBCKNN cũng bị hạn chế về thẩm quyền cũng như những nội dung hoạt động cụ thể.

+Ảnh hưởng đến vai trì quản lý thị trường chứng khoán, và chức năng đảm bảo sự phát triển của thị trường chứng khoán một cách lành mạnh.

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang chứng kiến tình trạng làm giá, thao túng giá trên thị trường chứng khoán trong thời gian qua. Việc này làm thị trường phát triển thiếu lành mạnh, ảnh hưởng đến niềm tin của các nhà đầu tư với thị trường. Để thị trường phát triển lành mạnh, thì cần xây dựng những quy định xử lý ngăn chặn hiệu quả việc làm giá. Tuy nhiên, vị thế của UBCKNN lại không cho phép nó được thực hiện hiệu quả chức năng này.

2 Đánh giá về nhiệm vụ, quyền hạn

2.1 Ưu điểm

UBCKNN đã thực hiện tốt chức năng của mình vừa là người tạo lập thị trường cũng đồng thời là người quản lý, giám sát tình hình của thị trường chứng khoán. Việc cấp chứng chỉ hoạt động kinh doanh chứng khoán, cấp giấy chứng nhận chào bán chứng khoán hay tiến hành các cuộc thanh tra, tiến hành xử phạt vi phạm là những minh chứng cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này.

Việc quy định cho UBCKNN có thẩm quyền trong việc soạn thảo các dự thảo liên quan tới chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng giúp cho UBCKNN có cơ sở để ban hành thông tư, quyết định điều chỉnh kịp thời những vấn đề của thị trường chứng khoán phát sinh. Ví dụ như ngày 19/11/2010 UBCKNN ra Quyết định số 965/QĐ-UBCK ngày 19/11/2010 đình chỉ có thời hạn đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng theo Giấy chứng nhận đăng ký chào bán số 652/UBCK-GCN do UBCKNN cấp ngày 25/8/2010

– Trong lĩnh vực thanh tra, UBCKNN có thẩm quyền trong việc thanh tra, kiểm tra phát hiện các hành vi vi phạm. Trên thực tế, thẩm quyền này được sử dụng khá nhiều. Điều này chứng tỏ vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán ở nước ta còn nhiều và mặt khác cũng chứng tỏ các cá nhân có thẩm quyền đã vận dụng thẩm quyền này trong hoạt động quản lý, giám sát thị trường chứng khoán; phần nào góp phần làm cho thị trường chứng khoán công bằng và minh bạch hơn

Như vậy, việc quy định chi tiết các quyền hạn và nhiệm vụ của UBCKNN đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của UBCKNN trên thực tế, giúp cho cơ quan này hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ của mình.

2.2 Về nhược điểm

Nếu như ở một số nước trên thế giới, UBCK có quyền điều tra, xác minh việc làm giá và có thể truy tố hình sự. Còn ở ta, thậm chí cả trong Dự thảo luật, UBCKNN vẫn không có thẩm quyền độc lập. UBCK chỉ có quyền thanh tra, mà không có quyền điều tra các nghi vấn sai phạm trên thị trường. Trong nhiều trường hợp kiểm tra, cơ quan quản lý phát hiện thấy dấu hiệu sai phạm, nhưng không thể kết luận được vỡ không có quyền điều tra để tìm hiểu ngọn ngành sự việc. Muốn xác minh được việc thông đồng làm giá thì phải xác định được nguồn vốn, hành vi nội gián, việc đặt lệnh… nhưng quyền này chưa được quy định, mọi quy định phải thông qua Bộ Tài chính.

III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA UBCKNN

Thứ nhất, cần tăng thêm một số quyền cho UBCKNN: như tăng quyền điều tra cho UBCKNN, họp bàn về dự thảo luật vừa qua, Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị bổ sung quy định về thẩm quyền của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) trong việc xác minh bằng chứng gian lận, giúp tăng cường phòng chống, phát hiện và xử lý các hành vi gian lận trên thị trường. Ví dụ: cần có thêm các quyền yêu cầu ngân hàng, cơ quan thuế cung cấp thông tin, quyền được xác minh tài khoản ngân hàng, yêu cầu cung cấp tư liệu… để chứng minh một giao dịch trên thị trường chứng khoán có thông đồng, nội gián, lũng đoạn hay không.

Thứ hai, cần có cơ chế phối hợp với các cơ quan, ngành có liên quan như ngành tư pháp. Cần thiết kế cơ chế sử dụng mối quan hệ giữa các cơ quan tư pháp và cơ quan hành chính để điều tra các vụ vi phạm trong thị trường chứng khoán. Khi ấy, có thể bổ sung thêm quyền cho thanh tra chứng khoán để phát hiện những căn cứ và quyền yêu cầu khởi tố, dựng sức ép của cơ quan tư pháp nếu các biện pháp của thanh tra chưa đủ.

Thứ ba , đưa địa vị pháp lý của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước mang tính độc lập là một tất yếu của sự phát triển. Nhưng vấn đề có nên thay đổi vào thời điểm hiện tại thì cần phải xem xét một cách kĩ lưỡng. Bởi ngay lúc này tách UBCKNN ra khỏi Bộ tài chính có thể đưa đến những kết quả không tốt cho nền kinh tế vĩ mô. Theo giải thích của các đại biểu thuộc Ủy ban kinh tế: , “Luật Chứng khoán là một luật quan trọng, chuyên sâu, có tác dụng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, do mới có hơn 3 năm thực hiện, thị trường chứng khoán mới phát triển, nên cũng khó đòi hỏi quá cao trong việc sửa đổi, bổ sung luật một cách đồng bộ….Những vấn đề cơ bản, lâu dài chưa nên “chạm” đến được như: địa vị pháp lý, vai trò của cơ quan quản lý Nhà nước…”Nói cách khác, quan điểm này cho rằng địa vị pháp của UBCK là một vấn đề lớn, có ảnh hưởng chi phối rất nhiều nội dung khác của Luật, trong khi Luật Chứng khoán mới có hiệu lực thi hành hơn 3 năm, cần thêm thời gian để đánh giá một cách đầy đủ.

Do đó, khi đã xem xét kĩ lưỡng chưa có thể tách hoàn toàn UBCKNN ra khỏi Bộ tài chính, thì giải pháp trước mắt chính là: tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền là UBCKNN có các công cụ, chức năng để xác minh các bằng chứng gian lận, giả mạo gây lũng đoạn thị trường và kiếm lợi bất chính.

Thứ tư, cũng là hướng hoàn thiện chung đối với vấn đề dự thảo luật sửa đổi, bổ sung luật chứng khoán là: thực tế, chúng ta mới tiếp cận các vấn đề một cách riêng lẻ theo ngành, theo lĩnh vực trong khi các thị trường chứng khoán, ngân hàng, tiền tệ… có liên quan mật thiết với nhau. Vỡ vậy, khi sửa đổi Luật Chứng khoán phải đặt trong bối cảnh chung của thị trường tài chính trong nước và cả quốc tế để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tránh xung đột về mặt pháp lý.

Vấn đề 7: Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán và ttck

I.Vi phạm và xử lý vi phạm.

  1. Khái niệm, đặc điểm

Vi phạm pháp luật ck và ttck là hành vi trái pháp luật của tổ chức, cá nhân, xâm hại tới quan hệ xã hội được pl ck xác nhận và bảo vệ, theo đó phải chịu trách nhiệm pháp lý theo qđ của pháp luật ck.

Đặc điểm:

Hành vi vi phạm pháp luật chứng khoán thường mang những dấu hiệu cơ bản sau đây:

-chủ thể thực hiện hành vi vi phạm là các tổ chức, cá nhân trực tiếp liên quan đến hoạt động ck và hđ quản lý ttck, phát sinh trên tất cả các bộ phận thị trường. Mặc dù mức độ vi phạm có thể khác nhau nhưng bất kì chủ thể nào cũng có thể có nguy cơ thực hiện hvi trái pháp luật.

– Hành vi vi phạm thường xuất phát từ động cơ vụ lợi vật chất. Khi thực hiện các hvi vi phạm liên quan đến ck, các chủ thể thường không mong muốn đạt tới những lợi ích phi vật chất như quyền lợi về chính trị, sức khỏe mà chỉ mong chiếm giữ lượng tài sản mà thôi.

– Phần lớn vi phạm pl về ck và ttck đc thực hiện do lỗi cố ý. Bởi những đối tượng tham gia thị trường thường có những hiểu biết nhất định nên khi thực hiện hành vi, những đối tượng này thường nhận thức được hệ quả phát sinh và mong muốn hệ quả ấy sẽ mang lại những lợi ích vất chất to lớn cho mình. Điều này lý giải vì sao các lỗi của hành vi vi phạm về ck và ttck thường là lỗi cố ý.

– Việc xác định chính xác về hành vi vi phạm trong lĩnh vực ck và ttck thường rất phức tạp. Điều này xuất phát từ tính đa dạng và phức tạp trong các giao dịch trên ttck. Ví dụ như trong hành vi giao dịch nội gián để xác định những người có liên quan là rất phức tạp.

– Hành vi vi phạm thường đặc thù, phát sinh nhanh. Tính phát sinh nhanh trong lĩnh vực ck thể hiện ở chỗ khi có sơ hở của chính sách và pháp luật vừa ban hành, lập tức xuất hiện hành vi vi phạm pháp luật.

  1. Các loại vi phạm pháp luật cơ bản về ck và thị trường ck.

– Cách phân loại có ý nghĩa pháp lý trong việc xác định chế tài áp dụng cho chủ thể thực hiện hành vi vi phạm: chia vi phạm trong lĩnh vực ck thành 3 loại:

+ Vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán;

+ Vi phạm dân sự trong lĩnh vực ck và ttck;

+ Vi phạm hình sự về ck và ttck

-Căn cứ vào từng lĩnh vực cụ thể của thị trường chứng khoán, có thể chia thành:

+ Vi phạm trong lĩnh vực phát hành chứng khoán;

+ Vi phạm quy định với người hành nghề kinh doanh ck;

+ Vi phạm quy định về giấy phép hoạt động kd ck;

+ Vi phạm các quy định về niêm yết ck; kinh doanh, giao dịch chứng khoán;

+ Vi phạm về chế độ công bố thông tin

a.Vi phạm pháp luật về phát hành ck

Hành vi vi phạm trong lĩnh vực này có thể được thực hiện như:

-Lập hồ sơ đky chào bán ck ra công chúng có thông tin sai lệch, gây hiểu nhầm hoặc không có đầy đủ thông tin cần thiết có ảnh hưởng ddeens qđ của nhà đầu tư;

– Cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật;

– Sử dụng thông tin ngoài bản cáo bạch để thăm dò thị trường trước khi đc thực hiện chào bán ck ra công chúng;

– Phân phối ck không đúng nd của đký chào bán về loại ck, thời hạn phát hành và khối lượng tối thiểu theo quy định…

b.Vi phạm pháp luật về niêm yết chứng khoán.

– Không công khai thông tin về việc mua lại cổ phiếu của chính mình trong thời hạn bảy ngày làm việc trước ngày thực hiện việc mua lại theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật chứng khoán;

– Công bố thông tin không đầy đủ các nội dung về mục đích mua lại, số lượng cổ phiếu mua lại, nguồn vốn để mua lại, và thời gian thực hiện theo quy định

– Bán ra số cổ pheieus đã mua lại trược sáu tháng kể từ ngày mua lại, trừ trường hợp đc phép theo qđ của Bộ tài chính.

– Hồ sơ niêm yết tại sở giao dịch ck hoặc trung tâm giao dịch ck có những thông tin sai lệch, gây hiểu nhầm hoặc không có đủ thông tin theo quy định….

c.Vi phạm pháp luật về giao dịch ck;

Khác với các vi phạm nói trên, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong giao dịch ck rất đa dạng. Chủ thể đó có thể là cá nhân, có thể là tổ chức. Các hành vi đó có thể là:

-Tổ chức mà pháp luật quy định cấm tham gia vào giao dịch cổ phiếu nhưng trực tiếp hoặc gián tiếp nắm giữ hoặc mua bán cổ phiếu bằng cách đối tên hoặc mượn danh nghĩa người khác để giao dịch ck;

– Trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào các hoạt đôg gian lận lừa đảo, tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc bỏ sót các thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt đông phát hành, niêm yết…

– thực hiện hành vi giao dịch nội bộ thông qua các phương thức: sử dụng thông tin nội bộ để thực hiện mua bán chứng khoán của công ti đại chúng, quỹ đại chúng cho chính mình hoặc bên thứ ba.

  1. Các hình thức xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và ttck
  2. Hình thức xử lý hành chính

Theo Nghị định 85/2010/NĐ-CP Ngày 2/8/2010 Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán

Điều 6 NĐ này quy định : “1. Hình thức xử phạt chính:Đối với mỗi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong hai hình thức xử phạt chính sau đây:

  1. a) Cảnh cáo

Phạt cảnh cáo được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ và nếu Nghị định này có quy định hình thức xử phạt cảnh cáo đối với hành vi vi phạm hành chính đó.

  1. b) Phạt tiền

Mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán là mức trung bình của khung phạt tiền đối với hành vi đó. Nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt có thể giảm thấp hơn nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung phạt tiền. Nếu vi phạm có tình tiết tăng nặng thì mức phạt có thể tăng cao hơn nhưng không được tăng quá mức tối đa của khung phạt tiền. Đối với trường hợp vi phạm hành chính có cả tình tiết tăng nặng lẫn giảm nhẹ thì tuỳ theo tính chất, mức độ của các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà người có thẩm quyền quyết định áp dụng mức phạt cao hơn hoặc thấp hơn mức trung bình hoặc áp dụng mức trung bình của khung hình phạt.

  1. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

  1. a) Tịch thu toàn bộ khoản thu trái pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm hành chính;
  2. b) Đình chỉ hoặc huỷ bỏ đợt chào bán chứng khoán ra công chúng;
  3. c) Đình chỉ hoạt động; thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận trong lĩnh vực chứng khoán, chứng chỉ hành nghề chứng khoán.

Ngoài việc áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung các chủ thể vi phạm còn có thể bị áp dụng một trong các biện phap khắc phục hậu quả nhất định.

Các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm: Tùy từng loại vi phạm mà có cách khắc phục hậu quả riêng như:

+Tổ chức chào bán chứng khoán ra công chúng phải thu hồi chứng khoán đã chào bán, hoàn trả cho nhà đầu tư tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc (nếu có) cộng thêm tiền lãi tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng mà tổ chức chào bán chứng khoán mở tài khoản thu tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc tại thời điểm bị xử phạt vi phạm hành chính, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của nhà đầu tư;

+ Buộc chấp hành đúng quy định về nghĩa vụ công ty đại chúng;

+ Buộc huỷ bỏ, cải chính thông tin;

+ Buộc chấp hành đúng quy định pháp luật về quản lý niêm yết của Sở giao dịch chứng khoán.

+ Buộc chấp hành đúng quy định pháp luật về giao dịch, giám sát và công bố thông tin của Sở giao dịch chứng khoán;

+ Buộc chấp hành đúng quy định pháp luật về hoạt động của công ty chứng khoán;

+ Buộc chấp hành đúng quy định pháp luật về hoạt động của công ty quản lý quỹ.

  1. Xử lý hình sự.

Bộ luật hình sự Việt Nam chưa quy định các tội danh trong lĩnh cực ck và ttck. Tuy nhiên để bảo đảm nguyên tắc mọi hành vi vi phạm có đủ yếu tố cấu thành tội phạm đề có thể bị áp dụng các hình phạt hình sự đc pháp luật quy định, viêc xử lý hình sự đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm nghiêm trọng các qđ pháp luật trong lĩnh vực ck và ttck đc căn cứ trên cơ sở một số tội danh có các yếu tố cấu thành mang tính chất tương đồng như: kinh doanh trái phép; trốn thuế; lừa dối khách hàng; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; quảng cáo gian dối; tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và máy tính; tội hợp pháp hóa tiền và tài sản do tội phạm mà có…

  1. Xử lý dân sự.

Hoạt động của ttck  còn nhiều vấn đề liên quan đến pháp luât dân sự, và đc áp dụng thường xuyên nhất là các chế định về hợp đồng dân sự như việc kí kết các hợp đồng bảo lãnh phát hành, tư vấn phát hành, hợp đồng mở tài khoản kí kết giữa công ti ck với khách hàng, hợp đồng mở tk giữa thành viên lưu kí là ngân hàng và khách hàng…

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, pháp luật dân sự đã quy định rất nhiều biện pháp như cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh, đặt cọc, kí quỹ , kí cược , phạt vi phạm…

II.Giải quyết tranh chấp

1.Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp về ck và ttck.

Tranh chấp trên thị trường ck là những xung đột về quyền và lợi ích phát sinh giữa các chủ thể khi tham gia ttck và được thể hiện ra bên ngoài dưới dạng nhu cầu cần giải quyết thông qua hình thức nhất định theo quy định của pháp luật.

Tranh chấp về ck có những đặc điểm đặc thù:

-Về chủ thể: chủ thể tranh chấp trên ttck phải là các tổ chưc, cá nhân tham gia thị trường chứng khoán. Các chủ thể này bao gồm: tổ chức phát hành thực hiện hoạt động chào bán chứng khoán; tổ chức kinh doanh chứng khoán; nhà đầu tư gồm các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư vào ttck thông qua việc mua, bán ck nhằm mục đích kiếm lời; ngân hàng giám sát, ngân hàng chỉ định thanh toán; tổ chức lưu kí chứng khoán; trung tâm giao dịch chứng khoán và các thành viên

– Về đối tượng tranh chấp: là quyền và lợi ích giữa các chủ thể có được do tham gia ttck. Nói cách khác các quyền và lợi ích này phát sinh trên cơ sở sự tham gia của các bên vào ttck. Do vậy trường hợp hai bên tranh chấp đều là chủ thể tham gia ttck nhưng quyền và lợi ích tranh chấp giữa họ không phát sinh từ quan hệ thiết lập trên ttck thì không đc xđ là tranh chấp trên ttck.

– Về giá trị của tranh chấp: Khôn giống như viêc xác định giá của các hàng hóa giao dịch trên thị trường thông thường, giá trị của chứng khoán phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như thông tin thị trường, tâm lý nhà đầu tư, tình hình kinh tế, chính trị… và quan trọng hơn, giá chứng khoán thường không ổn định. Những phân tích này cho thấy việc xác định giá trị của tranh chấp phát sinh trên ttck hoàn toàn không dễ dàng nếu xuất phát từ thời điểm, tiêu chí định giá khác nhau.

Do vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên các tranh chấp cần phải được giải quyết một cách kịp thời và đúng đắn.

  1. Cơ chế giải quyết tranh chấp.

Tranh chấp trên ttck thường được giải quyết thông qua bốn phương thức: thương lượng, hòa giải, giải quyết bằng con đường trọng tài hoặc giải quyết bằng con đường Tòa án.

a.Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng.

Thương lượng là việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, trao đổi, đấu tranh , nhân nhượng và thỏa thuận để đi đến thống nhất phương án giải quyết xung đột. Đây là hình thức giải quyết tranh chấp không chính thức, do các bên tự nguyện áp dụng. Lựa chọn thương lượng các bên tiết kiệm được thời gian, chi phí. Giải quyết bằng thương lượng thường được áp dụng đối với tranh chấp đơn giản, giỏi trị tranh chấp không lớn.

b.Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải.

Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên tự thỏa thuận để thống nhất lựa chọn giải pháp chấm dứt xung đột với sự hỗ trợ của người thứ ba đóng vai trị trung gian hòa giải. Đối với giải quyết tranh chấp trên ttck giữa các thành viên, trung tâm giao dịch ck hoặc sở gd ck thường đóng vai trị làm trung gian hòa giải.

Ban hòa giải gồm có trưởng ban hòa giải là giám đốc hoặc phó giám đốc trung tâm giao dịch ck, đại diện phòng giám sát thị trường, các phòng chức năng liên quan và đại diện của các công ti chứng khoán thành viên cùng một sơ thành viên khác theo đề nghị của trưởng ban hòa giải.

  1. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra phán quyết có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Trọng tài được sử dụng phổ biến để giải quyết tranh chấp trên ttck nói riêng và tranh chấp kinh doanh nói chung bởi tranh chấp luôn được giải quyết tận gốc bằng phán quyết chung thẩm, có tính bắt buộc chung trong khi thời gian và chi phí không cao, thủ tục đơn giản, không cứng nhắc. Tuy nhiên khi đã lựa chọn hình thức trọng tài , các bên đương nhien mất quyền khởi kiện vụ tranh chấp tại tòa án.

  1. Giải quyết tại tòa án.

Giải quyết tranh chấp tại tòa án là hình thức giai quyết tranh chấp theo đó một bên bằng đơn kiện yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và toàn án theo thủ tục luật định sẽ đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên. Lựa chọn hình thức này, các bên phải tuân thủ trình tự thủ tục pháp lý, phức tạp, thời gian bị  kéo dài, công sức và chi phí cao. Do vậy, giải quyết tranh chấp bằng tòa án chủ yếu trong trường hợp các bên không đồng ý hòa giải, hòa giải không thành, hoặc không thể áp dụng hình thức trọng tài

Về thẩm quyền, căn cứ vào điều 29 BLTTDS có thể xác định các tranh chấp trên thị ttck thuộc thẩm quyền của tòa kinh tế và tòa dân sự.

Các vấn đề về trình tự thủ tục, thời hiệu điều tuân theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

[1] 1. Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:

  1. a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
  2. b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

Leave a Reply