kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Bài giảng Quan hệ kinh tế quốc tế

BÀI GIẢNG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ – CHƯƠNG I – TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

  1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC.

 

  1. Một số khái niệm.

 

1.1. Quan hệ kinh tế đối ngoại.

 

Quan hệ kinh tế đối ngoại là tổng thể những mối quan hệ về kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ cao của một nền kinh tế với bên ngoài.

 

Lưu ý:

 

– Quan hệ kinh tế đối ngoại là những bộ phận của nền kinh tế các quốc gia.

 

– Bên ngoài (có thể hiểu là phần còn lại của thế giới).

 

1.2. Quan hệ kinh tế quốc tế.

 

– Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các mối kinh tế đối ngoại của các nền kinh tế xét trên phạm vi toàn thế giới.

 

Đứng trên góc độ một nước nhìn ra bên ngoài ta có quan hệ kinh tế đối ngoại, đứng trên góc độ không của riêng một quốc gia nào ví dụ như của các tổ chức quốc tế, của một nhà nghiên cứu hay của các chính phủ để khẳng định chính sách nói chung thì các nền kinh tế đối ngoại đan xen với nhau tạo thành quan hệ kinh tế quốc tế.

 

  1. Đối tượng nghiên cứu của môn học.

 

2.1. Chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế:

 

Sẽ đi sâu ở chương VIII – Liên kết kinh tế quốc tế.

 

  1. a) Nhóm các quốc gia, vùng, lãnh thổ, các nền kinh tế (ở đây vừa có quốc gia vừa có các nền kinh tế là do khái niệm quốc gia và nền kinh tế rất khác nhau: trong đa số các trường hợp thì một quốc gia là một nền kinh tế, nhưng một nền kinh tế chưa chắc đã là một quốc gia, ví dụ như khi nói Nền kinh tế EU ‘nhất là trong điều kiện liên kết kinh tế quốc tế hiện nay’, Nền kinh tế ASEAN v.v… chứ không phải riêng lẻ từng nước. Hoặc với lý do tế nhị trong quan hệ ngoại giao khuôn khổ của APEC thì người ta luôn gọi là các nền kinh tế thành viên chứ không gọi là các quốc gia thành viên như các tổ chức quốc tế khác là do trong APEC có cả Trung Quốc và Đài Loan, nếu như gọi là các quốc gia thành viên thì có nghĩa là APEC thừa nhận Đài Loan là một quốc gia mà như vậy sẽ làm cho Trung Quốc không hài lòng). Do vậy khái niệm các nền kinh tế có thể là rộng hơn hoặc hẹp hơn phạm vi quốc gia tuỳ từng trường hợp và được sử dụng rộng rãi hơn.

 

  1. b) Nhóm các liên kết kinh tế quốc tế mang tính khu vực, liên khu vực, toàn cầu  – Số lượng các liên kết của các chủ thể này ngày càng tăng là do xu hướng tự do hoá cũng như xu hướng hình thành các liên kết kinh tế quốc tế trên thế giới ngày càng gia tăng (Các liên kết mang tính khu vực như: ASEAN, EU, NAFTA – khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ gồm Mỹ + Canada + Mehico; APEC – là liên kết mang tính liên khu vực vừa có Châu Mỹ vừa có Châu Á, GATT/WTO – Liên kết toàn cầu v.v…).

 

  1. c) Nhóm các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế (IMF, WB, ADB, IFC – International Financial Co-oporation v.v…).

 

  1. d) Nhóm các tổ chức của Liên Hiệp Quốc (FAO, UNDP, UNCTAD –United Nations Conference Trade and Development: Diễn đàn của Liên Hiệp quốc về thương mại và phát triển: Đặc thù của diễn đàn này là đứng về khía cạnh của các nước đang phát triển v.v…).

 

  1. e) Nhóm các công ty, tập đoàn, hãng, xí nghiệp v.v… – Một trong những loại hình công ty sẽ được nghiên cứu nhiều trong môn học này là các công ty xuyên quốc gia, vai trò của loại hình công ty này ngày càng đóng vai trò chủ chốt không chỉ trong thương mại mà còn trong lĩnh vực đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ; Hầu như những tập đoàn lớn như IBM, Toyota, Nisan, Misubishi, Intel v.v… đều là những tập đoàn xuyên quốc gia, do vậy chiến lược hoạt động của các công ty này như thế nào về các khía cạnh như đầu tư, lý do để tiến hành sáp nhập theo chiều dọc, ngang … sẽ là những vấn đề được đi sâu sau này.

 

2.2. Khách thể của quan hệ kinh tế quốc tế.

 

  1. a) Thương mại quốc tế (Di chuyển hàng hoá và dịch vụ trên quy mô quốc tế – sẽ được nghiên cứu ở Chương II, III, IV).

 

  1. b) Đầu tư quốc tế (Sự di chuyển vốn trên quy mô quốc tế).

 

  1. c) Di chuyển quốc tế về hàng hoá sức lao động (Sức lao động sẽ di chuyển trên quy mô quốc tế như thế nào).

 

  1. d) Quan hệ quốc tế về khoa học và công nghệ (Các đối tượng về công nghệ như bí quyết kỹ thuật, các vấn đề về sở hữu trí tuệ liên quan tới các nước đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam..).

 

  1. e) Di chuyển quốc tế về tiền tệ.

 

  1. Phương pháp nghiên cứu của môn học.

 

  1. a) Kết hợp các kiến thức cơ bản đã được học ở các môn học trước như Lịch sử các học thuyết kinh tế, Kinh tế Vi mô, Kinh tế Vĩ mô – những vấn đề liên quan tới sản xuất, tiêu dùng, thặng dư về tiêu dùng, thặng dư về sản xuất, tổng phúc lợi xã hội, khía cạnh thu của chính phủ từ thuế, các khoản chi của chính phủ cho các khoản như trợ cấp, tổng phúc lợi xã hội (được đo bằng thặng dư người tiêu dùng cộng với thặng dư sản xuất cộng với thu của chính phủ ‘nếu có khi chính phủ can thiệp vào việc thu thuế’ hoặc trừ đi chi của chính phủ ‘nếu chính phủ có trợ cấp’.

 

  1. b) Kết hợp lý luận và thực tiễn.

 

  1. NHỮNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.

 

  1. Hai loại hình chiến lược.

 

1.1. Chiến lược đóng cửa nền kinh tế.

 

Nội dung:

 

– Khi áp dụng chiến lược đóng cửa nền kinh tế, các quốc gia hạn chế mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại với bên ngoài, phát triển kinh tế bằng nội lực là chính, thực hiện tự cung tự cấp bằng những nguồn lực trong nước.

 

Mục đích:

 

– Xây dựng một nền kinh tế tự chủ hoàn toàn dựa trên khả năng của mình.

 

– Giảm sự phụ thuộc kinh tế vào bên ngoài.

 

Ưu điểm:

 

– Xây dựng một nền kinh tế tự chủ là nền tảng bảo đảm cho sự độc lập về chính trị.

 

– Các nguồn lực trong nước được khai thác tối đa để thoả mãn nhu cầu trong nước.

 

– Tốc độ phát triển kinh tế ổn định. Nền kinh tế ít bị ảnh hưởng bởi những biến động xấu (khủng hoảng) của nền kinh tế thế giới. (Ví dụ: trường hợp của Việt Nam khi Khu vực Châu á có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đó thì Việt Nam hầu như không bị ảnh hưởng đến nền kinh tế, trong khi đó cuộc khủng hoảng đó ảnh hưởng rất lớn đến các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia v.v… Đã có một loạt những lý giải tại sao Việt Nam lại không bị ảnh hưởng nhiều, những lý giải đó thiên về tính tích cực như: Có hướng chủ động, Dự báo trước v.v..; nhưng về khía cạnh kinh tế thì bản chất của vấn đề là do nền kinh tế của Việt Nam khi đó còn rất đóng, chưa hội nhập sâu với các nền kinh tế khác trong khu vực – Hội nhập sâu được thể hiện ở điểm quan hệ với các nhà đầu tư trong khu vực, vay vốn của các ngân hàng ở Thái Lan, Indonesia, quan hệ đầu tư thương mại, công nghệ v.v.. những đan xen về kinh tế với các nước trong khu vực của Việt Nam còn thấp ở thời điểm đó, do vậy khi những Ngân hàng ở Thái Lan, Indonesia v.v.. bị phá sản thì Việt Nam không có nhiều những khoản vay ở đó. Nếu như bây giờ mà xảy ra cuộc khủng hoảng trong khu vực như vậy thì Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng rất to lớn vì mức độ hội nhập của Việt Nam hiện giờ đã rất cao so với thời điểm đó.

 

Nhược điểm:

 

– Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định nhưng chậm.

 

– Nền kinh tế bị tụt hậu so với bên ngoài.

 

– Các nguồn lực trong nước được khai thác tối đa nhưng không hiệu quả.

 

– Thị trường nội địa nghèo nàn, chật hẹp, giá cả đắt đỏ, hàng hoá kém đa dạng, và người tiêu dùng không có điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình một cách tốt nhất.

 

Qua bốn nhược điểm trên ta thấy đối với các nước áp dụng chiến lược này thì tốc độ phát triển kinh tế ổn định nhưng rất chậm, tụt hậu so với bên ngoài (vd: nền kinh tế của các nước Châu á những năm 1970 so với Việt Nam không có sự cách biệt là mấy ‘như Sài Gòn được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn đông đã là một trong những khu vực kinh tế rất sầm uất’ nhưng sau một thời gian tương đối đóng cửa ‘mở cửa với Đông Âu; nhưng đóng với các khu vực khác’ tới khi mở cửa năm 1986 thì các nước trong khu vực đã tiến rất xa so với Việt Nam).

 

Trong một dịp phỏng vấn những Việt Kiều, có một Việt Kiều ở Nhật có trả lời câu hỏi: Ai cũng biết rằng đóng cửa hay bảo hộ (đóng cửa nói chung, bảo hộ trong lĩnh vực mậu dịch nói riêng) là một chiến lược không tốt sẽ làm cho người tiêu dùng thiệt thòi (nếu như đã biết về kinh tế, quản trị kinh doanh ta đều biết rằng bảo hộ hay đóng cửa sẽ làm cho người tiêu dùng bị thiệt bởi vì giá cả sẽ tăng lên do bảo hộ thì sẽ phải đóng thuế, khi giá tăng thì lượng tiêu dùng sẽ giảm đi trên cơ sở đường cầu). Ông đã lập luận như sau: Nếu không có bảo hộ thì giá thế giới ở mức độ P1, và sản xuất, tiêu dùng ở lượng Q1, giao điểm của P1 và Q1 là H phần tam giác PP1H là thặng dư của người tiêu dùng (Consumer Surplus). Khi có bảo hộ mà bảo hộ mức độ càng cao thì tác động của nó càng lớn thì sẽ tác động làm mức giá tăng lên P2, do vậy người tiêu dùng cắt giảm làm lượng giảm xuống mức Q2, thặng dư giảm đi xuống còn diện tích của PP2H2. Trong xã hội ai cũng là người tiêu dùng (người sản xuất, gia đình, cá nhân, chính phủ v.v..) do vậy nếu nói rằng người tiêu dùng bị thiệt thòi thì ai cũng bị thiệt thòi cả (nhưng trong các vòng đàm phán của WTO, luôn luôn các bên đều mong muốn phải bảo hộ ngành này, ngành kia). Ông nói tiếp: Người ta muốn có tiêu dùng được thì phải có thu nhập thì mới có thể trang trải được khoản tiêu dùng của mình. Muốn có thu nhập thì phải có công ăn việc làm, mà bảo hộ thì tạo ra công ăn việc làm cho rất nhiều người. Nếu tham gia vào WTO, khi các doanh nghiệp cảm thấy mình đã đủ mạnh, nếu không thì mức độ cạnh tranh cao, số lượng các doanh nghiệp phải lao đao sẽ tăng lên rât nhiều và kéo theo là tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng. Bảo hộ tạo ra công ăn việc làm chính vì vậy giúp cho nhiều người có thể trang trải được những chi phí của minh, do vậy bảo hộ / đóng cửa có tính hai mặt: (i) làm cho người tiêu dùng bị thiệt thòi, thị trường nghèo nàn, số lượng hàng hoá thấp, giá cả cao; nhưng ngược lại (ii) về khía cạnh xã hội thì lại tạo công ăn việc làm. Do vậy để phát triển trong dài hạn bảo hộ vẫn rất cần.

 

1.2. Chiến lược mở cửa nền kinh tế.

 

Nội dung:

 

Các nước thực hiện việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại với bên ngoài, trọng tâm là hoạt động ngoại thương trong đó chú trọng hàng đầu là đẩy mạnh xuất khẩu, tăng cường thu hút và sử dụng vốn, công nghệ bên ngoài để khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước.

 

Ưu điểm:

 

– Tốc độ phát triển kinh tế cao và nhanh do có thể kết hợp sử dụng có hiệu quả các yếu tố bên trong và bên ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế.

 

– Thị trường rộng mở, hàng hoá đa dạng, phong phú có chất lượng và người tiêu dùng có thể thoả mãn nhu cầu của mình một cách tốt nhất.

 

– Tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, kích thích được sản xuất phát triển.

 

Tất nhiên trong điều kiện cạnh tranh như vậy sẽ có những rủi ro, doanh nghiệp nào có thể tồn tại và doanh nghiệp nào không thể tồn tại được. Doanh nghiệp nào tồn tại được trong điều kiện mở cửa, hội nhập thì sẽ được hưởng lợi nhiều vì thị trường sẽ rộng mở, không có thuế xuất khẩu sang các nước khác thay vì khi chưa có Tối huệ quốc thì bị áp hàng rào thuế quan cao làm cho doanh nghiệp bị kìm hãm về khía cạnh thị trường.

 

Thực tiễn đã chứng minh rằng chiến lược mở cửa nền kinh tế là rất đúng đắn. VD: Hiện nay hàng hoá ở Việt Nam rất phong phú, nhiều hơn hẳn 5 năm trước đây, giá cả cạnh tranh. Người tiêu dùng có thể lựa chọn rất nhiều mặt hàng mà mình cần với mọi mức giá mà họ có thể. Đấy chính là kết quả của chiến lược mở cửa, nhưng cái gì cũng có tính hai mặt, đó là do có sự dồi dào hàng hoá như vậy nên có rất nhiều loại hàng giả.

 

Nhược điểm:

 

– Nền kinh tế phụ thuộc và chịu tác động gián tiếp hoặc trực tiếp của những biến động xấu mà nền kinh tế thế giới có thể đưa lại. (vd: như giá dầu mỏ trên thế giới mà leo thang thì lập tức Việt Nam cũng có xu hướng tăng giá).

 

– Tốc độ phát triển kinh tế cao, nhanh nhưng không ổn định. (Gọi là phát triển kinh tế nóng, tuy cao nhưng nếu có khủng hoảng thì lập tức đứng chững lại ngay).

 

– Nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng mất cân đối. (Là việc quá thiên về khía cạnh sản xuất hàng hoá để xuất khẩu, nếu như thị trường không ổn định, không xuất khẩu được nữa thì các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ bị chao đảo).

 

1.3. Việc lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của các nước trên thế giới hiện nay.

 

– Các nước đều thực hiện chiến lược mở cửa kinh tế nhưng không hoàn toàn (vẫn có sự can thiệp của nhà nước – bảo hộ một số ngành; mức độ can thiệp đến đâu thì tuỳ vào nền kinh tế của mỗi nước, chiến lược của từng chính phủ).

 

– Mở cửa nề kinh tế là sự lựa chọn tất yếu của các nước trên thế giới hiện nay nếu muốn tồn tại và phát triển.

 

III. BỐI CẢNH QUỐC TẾ CỦA QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY.

 

  1. Đặc điểm 1:

 

– Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế chung của thế giới hiện nay là xu thế hoà hoãn, chuyển từ đối đầu sang đối thoại. Tuy nhiên, những xung đột quốc tế vẫn còn và ảnh hưởng lớn đến tiến trình phát triển của kinh tế thế giới, và những xung đột chính trị thường tạo ra những ảnh hưởng lớn về kinh tế.

 

– Nguyên nhân gì gây ra những xung đột trong môi trường kinh tế quốc tế hiện nay?

 

– Mặc dù số lượng các cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới đã giảm nhưng những xung đột vẫn tồn tại ở nhiều nơi. Những nguyên nhân gây ra những xung đột đó là những vấn đề về tôn giáo (đạo hồi, thiên chúa giáo), khủng bố (11/9), tranh chấp lãnh thổ (tranh chấp giữa các nước trong khu vực như Việt Nam – Trung Quốc, Indonesia – Malaysia v.v..). Khi còn những xung đột như vậy thì kinh tế bị ảnh hưởng rất nhiều. Như sau khi xảy ra cuộc khủng bố 11/9, thì mọi người rất sợ đi máy bay đã gây ra tình trạng làm cho các hãng hàng không trên thế giới bị lâm vào tình trạng khủng hoảng phải sa thải rất nhiều nhân công lao động.

 

  1. Đặc điểm 2:

 

– Cách mạng khoa học công nghệ ngày càng phát triển với nội dung rộng lớn ngày càng tác động trực tiếp tới mọi mặt đời sống, kinh tế xã hội ở tất cả các nước.

 

– Cuộc cách mạnh khoa hoặc công nghệ đã làm xuất hiện nền kinh tế tri thức mà đặc thù của kinh tế tri thức ta có thể thấy rất quan trọng như vai trò của công nghệ thông tin, người máy, thương mại điện tử v.v… Có rất nhiều khái niệm về nền kinh tế tri thức nhưng ta có thể hiểu rằng trong kinh tế tri thức vai trò của chất xám (hàm lượng chất xám), tri thức tạo ra giá trị sản phẩm ngày càng tăng.

 

– Cách mạng khoa học công nghệ sẽ tác động tới cơ cấu trao đổi, trước kia nước nào giàu thì là những nước có nền công nghiệp phát triển, nhưng hiện nay cách đo lường để xem một nước phát triển hay không thì không thể dựa vào chỉ số về đóng góp của công nghiệp trên tổng GDP nữa mà sẽ được tính trên phần đóng góp của lĩnh vực dịch vụ cho tổng GDP.

 

  1. Đặc điểm 3:

 

Trong nhiều thập kỷ gần đây, khu vực kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương đã nổi lên, trở thành khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, năng động nhất thế giới. Cho dù là trước hay sau cuộc khủng hoảng năm 1997, khu vực này vẫn được coi là khu vực có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới, đây vẫn là khu vực thu hút được đầu tư nước ngoài lớn nhất. Một trong những mô hình mà được thế giới nhắc đến về phát triển ở khu vực này là mô hình “Đàn sếu bay” – một nước dẫn đầu đi trước (Nhật Bản từ những năm 50, 60), sau đó các nước khác đi theo (như Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan) rồi tiếp theo như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Phillipin v.v… Cơ chế của mô hình này là chuyển giao công nghệ, theo lý thuyết vòng đời sản phẩm để thực hiện chuyển giao công nghệ, đầu tư nước ngoài, các nước phát triển xong sẽ chuyển giao cho các nước tiếp theo. Tuy nhiên, mô hình này không được nhắc tới nữa sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997.

 

  1. Đặc điểm 4:

 

WTO giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới.

 

  1. TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – WTO.

 

  1. Bối cảnh lịch sử.

 

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (1870-1914), được coi như thời vàng son của tự do hoá thương mại, của mở cửa quan hệ kinh tế quốc tế. Sau đó do xảy ra các cuộc chiến tranh trên thế giới lần thứ nhất , lần thứ hai, trong thời gian chiến tranh (đặc biệt là các nước Châu Âu) tập trung nguồn lực cho chiến tranh không chú ý tới kinh tế chính vì vậy các chính phủ thực hiện chính sách bảo hộ chặt chẽ để tiết kiệm tiêu dùng. Do vậy, nền kinh tế thế giới chứng kiến những cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng sau những cuộc chiến tranh thế giới. Những cuộc khủng hoảng đó bị đổ lỗi phần lớn là do chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước trong thời kỳ chiến tranh, tuy nhiên bảo hộ mậu dịch không phải là lý do duy nhất mà còn là do chiến tranh nên các nước không thể có được mối quan hệ chính trị hài hoà.

 

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, các nước thấy rằng cần thiết phải tạo lập môi trường quốc tế mở hơn.

 

Tránh những sai lầm của có thể lặp lại là bảo hộ gây ra khủng hoảng kinh tế trong thời kỳ giữa các cuộc chiến tranh. Các nước cố gắng tạo ra một môi trường kinh tế mở hơn để có thể xoá bỏ sự suy thoái cũng như kích thích nền kinh tế Châu Âu. Đã có nhiều chương trình phục hồi sau chiến tranh, một trong những chương trình đó chính là Kế hoạch Marshall của Mỹ, đây là một trong những công cụ mà Mỹ muốn giúp Châu Âu để phục hồi lại nền kinh tế. Trong thời kỳ đó Châu Âu nền kinh tế Châu Âu đang suy kiệt chỉ có Mỹ là hùng mạnh, tuy  nhiên chỉ một mình Mỹ với kế hoạch đó thì chưa đủ do vậy các nước muốn tìm ra một cơ chế để có thể thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển bằng cách xoá bỏ bảo hộ, nhưng vấn để không chỉ có xoá bảo hộ (tự mình xoá bỏ các hàng rào thuế quan để hàng hoá các nước xâm nhập vào nhưng hàng hoá của nước mình lại không thể bán ra các nước khác) do vậy các nước cùng nhau tìm một giải pháp để các nước cùng nhau giảm thuế để các nước cùng có ảnh hưởng tới nhau.

 

Năm 1944 tại Bretton Woods – Mỹ: đưa ra giải pháp.

 

Bốn trụ cột của nền kinh tế thế giới ra đời:

 

–  Ngân hàng Quốc tế về tái thiết và phát triển (IBRD – International Bank for Reconstruction Development). Có tên gọi này là vì Ngân hàng này có nhiệm vụ tái thiết và phát triển Châu Âu – Hiện nay Ngân hàng này đã trở thành Ngân hàng Thế giới – WB, vì sau khi giúp đỡ Châu Âu trở thành một khu vực có nền kinh tế mạnh của thế giới, Ngân hàng này chuyển mục tiêu để hỗ trợ các nước nghèo trên thế giới nên đã được đặt lại tên như vậy.

 

–  Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF – International Money Fund).

 

–  Tổ chức thương mại quốc tế (ITO – International Trade Organization; đây chính là tổ chức tiền thân của WTO – Tổ chức thương mại thế giới)

 

–  Quỹ bình ổn giá cả (PSF – Price Stabilization Fund)

 

  1. Giới thiệu về GATT.

 

Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch General Agreement on Tariff and Trade – GATT.

 

GATT được ký tại Geneva vào ngày 30 tháng 10 năm 1947 bởi 23 nước và có hiệu lực chính thức từ ngày 1 tháng 1 năm 1948.

 

ITO được thành lập tại Havana (1948), ký kết bởi 53 thành viên (nằm trong khuôn khổ Bretton Wood).

 

ITO sụp đổ vào năm 1950: chỉ sau hai năm thành lập – lý do sụp đổ là do Thượng nghị viện Mỹ, và Anh đã không phê chuyển về việc cho ra đời ITO; lý do mà Mỹ không phê chuẩn là bởi hai lý do (i) lúc đó thế giới không thể có 3 cực kinh tế Mỹ – Tây Âu – Nhật Bản như sau này mà chỉ có Mỹ do vậy nếu như có ITO đứng lên để điều phối quan hệ kinh tế toàn cầu thì vô hình chung Mỹ đã trao quyền lực vào tay một tổ chức đứng ra để giải quyết vấn đề trong khuôn khổ quốc tế do vậy Mỹ không muốn, Tuy nhiên tới năm 1995 điều đó không thể tồn tại thêm nữa vì tới thời điểm này không chỉ có Mỹ là cường quốc kinh tế nữa mà phải theo xu thế chung thương mại hội nhập toàn cầu; (ii) Ngoài ra lý do khác nữa là do chiến tranh. Do vậy, ITO là một tổ chức có cơ cấu chặt chẽ đã không tồn tại được, trên cơ sở là một cơ cấu chặt – các nước sẽ phải cam kết với nhau cái gì thì phải thực hiện cái đó; Các vòng đàm phán trong khuôn khổ của GATT vẫn được thực hiện – hay nói cách khác ITO bị sụp đổ nhưng GATT vẫn tồn tại dưới dạng “lỏng” qua những vòng đàm phán – do vậy khi nói về GATT người ta thường nói tới những vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT. Việc sụp đổ của ITO mà GATT vẫn tồn tại thể hiện một cơ chế chặt chưa tồn tại được nhưng một cơ chế lỏng thì vẫn có thể tồn tại được để đàm phán với nhau nhưng không mang tính chất sâu, có những điều có thể thực hiện nhưng không phải bắt buộc.

 

  1. Sự ra đời của WTO.

 

Sự ra đời của WTO được thực hiện trong vòng đàm phán thứ 8 (1986-1994; vòng đàm phán Urugoay tại Geneva)

 

Sự ra đời của WTO có thể được lý giải bởi một số lý do sau:

 

– Nhiều hình thức bảo hộ mới xuất hiện thay vì hình thức thuế quan trước kia, những rào cản tinh vi hơn ví dụ như những quy định về môi trường, an toàn thực phẩm v.v…

 

– Sự phát triển và mở rộng các hoạt động thương mại gắn với đầu tư, dịch vụ, chuyển giao công nghệ do vậy khuôn khổ của WTO không chỉ dừng lại ở lĩnh vực hàng hoá do vậy còn có nhiều hiệp định khác như: GATT – Thương mại hàng hoá hữu hình; GATS –  thương mại dịch vụ; TRIM’s, TRIPs

 

– Thương mại hàng nông sản và hàng dệt may chưa được đề cập tới trong GATT vì được coi là những lĩnh vực nhạy cảm.

 

– Thể chế và hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT quá lỏng lẻo nên bị một số nước thành viên chỉ trích. Cơ chế giải quyết tranh chấp trên cơ sở đồng thuận; thể chế không mang tính ràng buộc do vậy sau khi giải quyết tranh chấp nếu có bên nào không thực hiện xử phạt thì GATT cũng không có biện pháp gì để bắt buộc thực hiện.

 

Do vậy, tháng 12 năm 1994, tại vòng đàm phán Urugoay ở Marrakesh (Marốc): Hiệp định thành lập WTO được ký kết.

 

Ngày 1 tháng 1 năm 1995, WTO chính thức ra đời. WTO là sự kế thừa của GATT nhưng chặt chẽ hơn, ràng buộc hơn, mở rộng hơn.

 

Sự khác nhau giữa GATT và WTO

 

Về tính thể chế: WTO là một tổ chức có tư cách pháp nhân còn GATT thì không, do vậy WTO có thể đứng ra để đàm phán với EU, Mỹ, WB, IMF v.v…

 

– Về phạm vi điều chỉnh: WTO có phạm vi điều chỉnh lớn hơn GATT; GATT chỉ điều chỉnh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ; còn WTO điều chỉnh thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến người tiêu dùng, sở hữu trí tuệ, hàng dệt may v.v…

 

– Về tính ràng buộc: GATT không có tính ràng buộc; WTO có tính ràng buộc rất rõ ràng, nếu như quốc gia nào cam kết gì thì phải thực hiện cam kết đó.

 

– Về cơ chế giải quyết tranh chấp: WTO có cơ chế giải quyết chặt chẽ và có hiệu quả, không phải thực hiện trên cơ chế đồng thuận mà có hẳn một cơ quan giải quyết tranh chấp DSB (Dispute Settlement Body) tương tự như một toà án của WTO do vậy số lượng đưa ra tranh chấp nhờ WTO giải quyết rất nhiều. Một điều hứa hẹn khi đưa ra để DSB giải quyết đó là các nước đang phát triển có cơ hội thắng rất cao (vd: Trung Quốc, các nước ở Nam Mỹ và một số nước khác cùng nhau kiện Mỹ về hàng dệt may và đã thắng –2004).

BÀI GIẢNG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ – CHƯƠNG II – THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ QUỐC TẾ

Trước kia khi nói tới thương mại quốc tế thì mặc nhiên mọi người chỉ nghĩ tới thương mại hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, kể từ thập niên 50 của thế kỷ trước trở lại đây cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì thương mại dịch vụ cũng phát triển với tốc độ chóng mặt dựa trên nền là công nghệ thông tin là chủ yếu.

 

  1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM:

 

  1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại dịch vụ:

 

1.1. Hai khái niệm khái quát:

 

– Dịch vụ là những hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu của sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt. (Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Hà Nội năm 1995, tập 1, trang 671)

 

– – Dịch vụ là sản phẩm của lao động xã hội mà sản phẩm tạo ra không tồn tại dưới hình thái vật chất, trong đó quá trình cung ứng và tiêu thụ diễn ra đồng thời để nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người.

 

Mối quan hệ giữa người cung cấp và người tiêu dùng là mối quan hệ biện chứng (mối quan hệ có đi có lại), là mối quan hệ biện chứng bởi khi người tiêu dùng phát sinh nhu cầu, chuyển nhu cầu đó đến người cung cấp dịch vụ và khi người cung cấp dịch vụ tiếp nhận được thông điệp đó (nếu khả năng của họ có thể) thì họ sẽ cung cấp dịch vụ mà người tiêu dùng mong muốn. Nghĩa là ban đầu người tiêu dùng chỉ là người có nhu cầu thôi, họ sẽ trở thành người tiêu dùng khi người cung cấp dịch vụ cung cấp dịch vụ cho họ. Nhà cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ sẽ thông qua hệ thống cơ sở vật chất để từ đó cả hai bên đều được thỏa mãn. Người tiêu dùng sẽ nhận được dịch vụ mà họ yêu cầu còn người cung cấp dịch vụ sẽ bán cái mà họ có.

 

1.2. Đặc điểm.

 

  1. i) Tính vô hình: Tính vô hình được thể hiện ở chỗ người ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ. (Ví dụ như dịch vụ bưu chính viễn thông: không ai có thể chỉ ra được hình dáng của loại hình dịch vụ đó).

 

  1. ii) Tính không thể tách rời: quá trình cung ứng và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời. (Người cung ứng dịch vụ sẽ bắt đầu cung ứng dịch vụ thì đó cũng là lúc người tiêu dùng bắt đầu quá trình tiêu dùng dịch vụ, và khi mà người tiêu dùng dịch vụ chấm dứt quá trình tiêu dùng dịch vụ của mình thì đó cũng là lúc mà người cung ứng dịch vụ chấm dứt quá trình cung ứng dịch vụ).

 

iii) Tính không đồng nhất: khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vụ. (Thậm chí cùng một loại hình dịch vụ cũng không có tiêu chí để đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm nói chung sẽ được đánh giá trước tiên thể hiện qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vì dịch vụ mang tính vô hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và ở đây chất lượng dịch vụ được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người tiêu dùng – nhưng sự hài lòng của người tiêu dùng cũng rất khác nhau, nó có thể thay đổi rất nhiều).

 

  1. iv) Tính không thể cất trữ: Tính không thể cất trữ là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời. Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng họ cất trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo.

 

Trên đây là 4 đặc điểm của dịch vụ, tuy nhiên, trong khoa học không có gì là tuyệt đối mà chỉ mang tính tương đối, 4 đặc điểm trên cũng vậy. Ví dụ 1: Một loại hình dịch vụ tồn tại trong nền kinh tế mà không mang những đặc điểm trên đó là: Dịch vụ kiểm toán – Khi một doanh nghiệp thuê một đơn vị kiểm toán độc lập để tiến hành kiểm toán toàn bộ chứng từ của doanh nghiệp thì sản phẩm cuối cùng của đơn vị kiểm toán cung cấp cho doanh nghiệp là những bảng kiểm toán mà công ty sau một quá trình làm việc họ đã tổng hợp và đưa lại cho khách hàng của mình. Doanh nghiệp có thể lưu những bảng kết quả kiểm toán đó lại hoặc họ có thể trình, giao cho các cơ quan chức năng khi cần thiết và thậm chí là họ chuyển cho các cơ quan chức năng khác lưu giữ – ở đây sản phẩm không mang tính vô hình đồng thời có thể cất giữ được. Ví dụ 2: Dịch vụ photocopy – Sản phẩm mà khách hàng nhìn thấy được là những văn bản được copy, bản thân khách hàng có bản copy đó có thể chuyển từ tay người này sang tay người khác đồng thời có thể cất đi để sử dụng cho mục đích của riêng mình; sản phẩm là bản copy thì ta có thể nhìn thấy được, hình thù ra sao, đồng thời với những bản copy cũng có tiêu chuẩn chất lượng để đánh giá bản copy như thế nào là đạt, có chất lượng tốt (như độ sắc nét, chất lượng mực in v.v…)

 

1.3. Phân loại dịch vụ.

 

Có nhiều cách phân loại dịch vụ khác nhau, mỗi quốc gia khác nhau lại có một cách phân loại khác nhau.

 

Hai cách phân loại:

 

  1. a) Căn cứ vào tính thương mại. Theo căn cứ này thì dịch vụ chia làm hai loại:

 

  1. Dịch vụ mang tính thương mại: là những dịch vụ được cung ứng để nhằm mục đích kinh doanh và thu lợi nhuận như dịch vụ ngân hàng, phân phối hàng hóa, tài chính, bưu chính viễn thông v.v…. ; và

 

  1. Dịch vụ không mang tính thương mại – còn gọi là dịch vụ phi thương mại: là những dịch vụ được cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh, thu lợi nhuận. Chủ yếu là các dịch vụ công cộng do các tổ chức, các cơ quan cung ứng trong quá trình các cơ quan tổ chức này thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình như dịch vụ vận tải hành khách công cộng, dịch vụ giáo dục, dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, v.v…

 

Nhưng cũng có rất nhiều loại hình dịch vụ vừa mang tính thương mại vừa không mang tính thương mại trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, ví dụ: cùng là trường đại học nhưng Trường Đại học Ngoại Thương cung cấp dịch vụ giáo dục không mang tính thương mại; tuy nhiên Trường Đại học Dân lập Quản lý và kinh doanh lại cung cấp dịch vụ giáo dục mang tính thương mại (có tình trạng là những sinh viên chỉ đạt điểm đầu vào 3 môn là 5 điểm nhưng vẫn được học) – là do họ kinh doanh dịch vụ giáo dục, mở trường, bỏ tiền đầu tư vào cơ sở vật chất do vậy họ phải có sinh viên để thu được tiền đã đầu tư vào đó; nhưng ngược lại các trường quốc lập khác sử dụng tiền ngân sách nhà nước để thực hiện “Sự nghiệp giáo dục”.  Trường học, bệnh viện là các cơ quan sự nghiệp sử dụng nguồn ngân sách nhà nước để phục vụ sự nghiệp của mình. Ví dụ: Dịch vụ chăm sóc sức khỏe – nếu người bệnh vào bệnh viện đúng tuyến, nộp thẻ bảo hiểm y tế v.v.. thì đó là dịch vụ chăm sóc sức khỏe không mang tính thương mại; Tuy nhiên khi một bệnh nhân vào bệnh viện mà không đi theo tuyến, không thẻ bảo hiểm và muốn được phục vụ nhanh chóng nên vào khám “dịch vụ” với số tiền nhiều hơn, nhanh chóng hơn – lúc này dịch vụ y tế lại mang tính thương mại. Có một số loại hình dịch vụ không bao giờ có thể thương mại hóa được như Dịch vụ hành chính công – dịch vụ này là do các cơ quan chính quyền các cấp cung cấp nhằm làm giảm thời gian làm các loại thủ tục cho người dân; Hoặc Dịch vụ Công chứng cũng vậy (ở Việt Nam gọi Công chứng là dịch vụ nhưng trong WTO không coi Công chứng là một loại hình dịch vụ; Công chứng nằm ngoài các loại hình dịch vụ WTO liệt kê).

 

  1. b) Phân loại của WTO: Các phân loại này giống như một liệt kê chia các loại hình dịch vụ ra làm 12 ngành với 155 phân ngành.

 

Việc phân chia này rất mang tính khoa học, giả sử ngành đầu tiên (1) là ngành các dịch vụ kinh doanh – Business Services; và tiếp theo đó là nhiều ngành dịch vụ khác tới (11), cuối cùng là (12) Các dịch vụ không kể tên ở trên – như vậy là vô hình chung cách phân loại của WTO đã bao trùm toàn bộ các ngành dịch vụ tồn tại trong xã hội hiện nay.

 

  1. Các dịch vụ kinh doanh: dịch vụ kinh doanh bất động sản, đại lý hưởng hoa hồng, môi giới, liên quan đến chuyên môn ‘như luật sư, tư vấn’.
  2. Các dịch vụ truyền thông: viễn thông, phát thanh truyền hình, đưa thư ‘mailling’.
  3. Các dịch vụ xây dựng và kỹ sư công trình: kỹ sư công trình xây dựng cao ốc, nhà dân dụng, thiết kế nhà cửa, hoàn thiện công trình v.v…
  4. Các dịch vụ phân phối: dịch vụ bán buôn, bán lẻ, bán hàng đa cấp v.v…
  5. Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và dịch vụ xã hội: y tế, bệnh viện, dịch vụ xã hội ‘như vận tải hành khách công cộng’ v.v…
  6. Các dịch vụ giáo dục: giáo dục tiểu học, trung học, đại học, sau đại học.
  7. Các dịch vụ tài chính: ngân hàng, bảo hiểm, tài chính và các dịch vụ tài chính khác không phải là bảo hiểm như quản lý quỹ v.v…
  8. Các dịch vụ môi trường: thu gom rác thải, thoát nước, trồng cây xanh v.v…
  9. Các dịch vụ du lịch và lữ hành: khách sạn, nhà hàng, hướng dẫn tour, đại lý du lịch v.v…
  10. Các dịch vụ giải trí, thể thao: phát hành báo chí, thể thao, hỗ trợ cho thể thao, bảo tàng, thư viện, lưu trữ v.v…
  11. Các dịch vụ vận tải: vận tải hàng không, đường sắt, đường thủy nội địa, đường bộ, đường vũ trụ, các dịch vụ hỗ trợ cho các loại hình vận tải trên ‘như sửa chữa, bảo dưỡng phương tiên, cung cấp nhiên liệu’ v.v…
  12. Các dịch vụ không được kể tên ở trên.

 

Trên đây là cách phân loại của WTO, nhưng mỗi quốc gia lại có một cách phân loại khác nhau không nhất thiết phải dựa trên cách phân loại của WTO, ví dụ ở Việt Nam trong WTO có nhóm 3 là nhóm xây dựng và kỹ sư công trình thì Việt Nam không xếp ngành này là ngành dịch vụ. Chính vì cách phân loại của các quốc gia khác nhau như vậy nên xảy ra những tranh chấp về dịch vụ. Ví dụ: Mới đây  quốc gia Angtimua, ở Caribe – Trung Mỹ, đã kiện Mỹ vì cung cấp dịch vụ ‘Gambling on Line’, Mỹ nói: Theo WTO – Gambling on Line được xếp vào nhóm dịch vụ văn hóa giải trí thể thao, tuy nhiên Angtimua lại nói rằng: nhưng với quốc gia này Gambling on Line không được xếp vào nhóm dịch vụ đó mà đó là hoạt động mà bị cấm trên lãnh thổ quốc gia đó thế mà Mỹ lại cung cấp Gambling on Line cho nên họ có quyền kiện ra WTO – Vì những phân loại khác nhau của các quốc gia nên dễ dàng dẫn tới tranh chấp.

 

  1. Khái niệm thương mại dịch vụ.

 

Hiện nay chưa có khái niệm chính xác về thương mại dịch vụ, mà thương mại dịch vụ được hiểu rằng: Thương mại dịch vụ là sự trao đổi mua bán mà ở đây đối tượng là dịch vụ. Trong Hiệp định chung về Thương mại và Dịch vụ – GATS có xác định 4 phương thức cung ứng dịch vụ – 4 modes of Supply (Khoản 2 điều 1 của GATS).

 

  1. i) Phương thức 1 – Mode 1: Cung ứng qua biên giới – Cross Border:

 

Dịch vụ di chuyển qua biên giới độc lập với người cung ứng và người tiêu dùng dịch vụ. Ví dụ như: dịch vụ viễn thông (gọi điện thoại quốc tế), tư vấn qua email, qua điện thoại, fax.

 

  1. ii) Phương thức 2 – Mode 2: Phương thức tiêu dùng ở nước ngoài – Abroad Consumption:

 

Dịch vụ được cung ứng cho người tiêu dùng dịch vụ trên một lãnh thổ khác mà ở đó người tiêu dùng dịch vụ không phải là người cư trú thường xuyên như dịch vụ du lịch (khi một người rời khỏi nước mình sang du lịch ở nước khác thì phải sử dụng rất nhiều loại hình dịch vụ như dịch vụ thu đổi ngoại tệ, dịch vụ khách sạn, dịch vụ nhà hàng, vui chơi giải trí v.v…).

 

Lưu ý: khi tài sản của người tiêu dùng dịch vụ di chuyển ra khỏi biên giới thì sẽ được xếp vào Mode 2. Ví dụ: Hãng hàng không Việt Nam Airline đưa máy bay ra nước ngoài để sửa chữa, bảo dưỡng – việc Việt Nam đưa các máy bay của mình sang nước khác để bảo dưỡng, sửa chữa được xếp vào Mode 2 trong tiêu dùng dịch vụ.

 

Ở Mode 1 là dịch vụ di chuyển qua biên giới; Mode 2 người tiêu dùng di chuyển qua biên giới.

 

iii) Phương thức 3 – Mode 3: Hiện diện thương mại – Commercial Presence (Press Office; Branch; Subsidiaries):

 

Người cung cấp dịch vụ thông qua hiện diện thương mại của mình để cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ của một nước thành viên khác.

 

  1. iv) Phương thức 4 – Mode 4: Hiện diện của cá nhân (hiện diện của tự nhiên nhân) – Presence of natural persons:

 

Nhà cung cấp dịch vụ sẽ thông qua sự hiện diện của các tự nhiên nhân để cung ứng dịch vụ trên lãnh thổ của một nước thành viên khác. Phương thức này ứng với dịch vụ mang tính độc lập như dịch vụ luật sư (các văn phòng luật sư thường nằm dưới dạng Associates; hoặc Partnership – trong trường hợp này không chỉ có người nước ngoài đến cung cấp dịch vụ độc lập cũng được xếp vào Mode 4 mà việc những người làm công của những người đứng ra cung ứng dịch vụ cũng được xếp vào Mode 4), Dịch vụ giải trí (việc một ca sĩ đi lưu diễn trên lãnh thổ khác cũng được xếp vào Mode 4)

 

  1. THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TRONG KHUÔN KHỔ GATS:

 

GATS có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1995, đây cũng là thời điểm WTO đi vào hoạt động.

 

  1. Cấu trúc của GATS: Gồm 3 phần

 

1.1. Hiệp định chính: bao gồm 29 điều quy định các nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ.

 

1.2. Phụ lục: những quy định cụ thể liên quan tới một số lĩnh vực như dịch vụ vận tải hàng không, đường biển, tài chính, viễn thông và việc đi lại của các nhà cung cấp dịch vụ.

 

1.3. Phần các cam kết: Trong GATS chỉ có cam kết của các nước tham gia vào vòng đàm phán Urugoay, còn các nước trở thành thành viên của WTO sau ngày 1/1/1995 thì sẽ dùng bản cam kết riêng. Những cam kết này liên quan tới việc mở cửa và tiếp cận thị trường, mỗi quốc gia khác nhau có một kiểu cam kết khác nhau, tuy nhiên các nước thuộc liên minh Châu Âu EU dùng chung một kiểu cam kết.

 

  1. Nội dung chủ yếu của GATS:

 

Nội dung chủ yếu có rất nhiều điều như Nguyên tắc Tối huệ quốc, Đãi ngộ quốc gia, Độc quyền và Đặc quyền cung cấp dịch vụ, Minh bạch hóa, Mở cửa thị trường dịch vụ, Tự do hóa dần dần, Những quy định liên quan đến liên kết kinh tế v.v… Trong khuôn khổ bài học chỉ giới thiệu hai nguyên tắc cơ bản của GATS và cũng đồng thời là hai nguyên tắc cơ bản của WTO. Đó là Nguyên tắc Tối huệ quốc và Nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia.

 

2.1. Nguyên tắc MFN – Most Favoured Nation (trong Điều II): Nguyên tắc tối huệ quốc.

 

Đối với những phương thức thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định này một nước thành viên phải ngay lập tức và không điều kiện dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của một nước thành viên sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà nước đó dành cho một nước thành viên khác bất kỳ.

 

Ví dụ: một quốc gia A dành cho một quốc gia B một sự đối xử thế nào thì quốc gia A cũng phải dành cho quốc gia C một sự đối xử không được kém thuận lợi mà quốc gia A dành cho B, hay nói một cách khác hai sự đối xử của A dành cho B và C phải tương đương với nhau. Ví dụ cụ thể: Hiện nay các ngân hàng nước ngoài cung cấp các dịch vụ liên quan tới ngoại tệ chưa được cho phép ở Việt Nam – giả định Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO – thì trong trường hợp này khi Ngân hàng Nhà nước (SBV) đồng ý cho Ngân hàng City Bank (của Mỹ) được cung cấp dịch vụ nhận gửi và cho vay bằng đồng ngoại tệ (Deposit $ Credit in US Dollar), trong trường hợp này nếu chiểu theo nguyên tắc MFN thì một loạt các ngân hàng như: Misubishi Bank, Tokyo Bank, ABN Ambro Bank, HFBC Bank, ANZ Bank, Standard Chater Bank (là những ngân hàng đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam), nếu như những ngân hàng này có nhu cầu và đệ trình hồ sơ lên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì SBV cũng phải cấp phép để cho tất cả các ngân hàng này được cung cấp dịch vụ cho vay và gửi  bằng ngoại tệ (đồng đô la Mỹ) giống như điều mà City Bank được hưởng.

 

Tuy nhiên trong MFN vẫn có những ngoại lệ nhất định: Đối với trong lĩnh vực thương mại dịch vụ có hai ngoại lệ sau:

 

  1. i) Ngoại lệ đối với những hiệp định về ưu đãi dịch vụ được ký kết trước khi GATS có hiệu lực.

 

  1. ii) Những ưu tiên nằm trong khuôn khổ hợp tác khu vực. (giả sử với ASEAN – ta có AFAS-Asian Free Agreement on Services ‘áp dụng trong thương mại dịch vụ’, nếu dẫn chiếu ra từ ngoại lệ (ii) mà WTO cho phép thì trong khuôn khổ của AFAS khi các nước ASIAN dành cho dịch vụ cũng như các nhà cung cấp dịch vụ của nhau những ưu đãi nào đó thì việc dành ưu đãi đó của Việt Nam cũng như của các nước ASEAN khác sẽ không bị các nước nằm ngoài ASEAN kiện. Hoặc ta có khuôn khổ hợp tác khu vực khác như Liên minh Châu Âu EU, đối với Liên minh Châu Âu EU họ cũng có một chương trình chung nằm trong khuôn khổ hợp tác liên quan đến lĩnh vực thương mại dịch vụ và trong trường hợp này thì khi các nước đó dành những ưu đãi nhất định cho dịch vụ hay các nhà cung cấp dịch vụ của nhau, các nước thành viên khác nằm ngoài liên kết sẽ không có quyền kiện lên WTO nếu không được dành những ưu đãi đó.

 

Mỗi nước thành viên WTO cũng có quyền đưa ra những ngoại lệ MFN của mình, nhưng để những ngoại lệ đó được chấp nhận thì nó cần được (i) sự đồng ý của ít nhất 3/4 số thành viên của WTO và (ii) ngoại lệ đó sẽ được cơ quan có thẩm quyền của WTO quản lý về lĩnh vực thương mại dịch vụ (gọi là Hội đồng thương mại dịch vụ) xem xét lại theo từng năm.

 

2.2. Nguyên tắc NT (trong điều 17 và 18): Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia.

 

Các nước thành viên phải giành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của các nước thành viên khác ngay lập tức và vô điều kiện sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà nước đó dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự trong nước.

 

Nếu chiểu theo Nguyên tắc NT, thì khi quốc gia A dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của mình sự đối xử như thế nào thì quốc gia A cũng phải dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự của quốc gia B một sự đối xử không được kém thuận lợi hơn mà quốc gia A dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự của mình.

 

Nếu trong MFN được thể hiện ở điểm là các quan hệ đối ngoại là bình đẳng, thì ở NT được thể hiện ở điểm quan hệ đối nội và quan hệ đối ngoại là bình đẳng với nhau. Hai nguyên tắc trên trong WTO được gọi chung bằng một tên là: Non discoumination – không phân biệt đối xử.

 

Tuy nhiên phải lưu ý “Dịch vụ tương tự”: Nếu chỉ nói dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ thôi thì người ta có thể chỉ hiểu đó là “dịch vụ bất kỳ” – nghĩa là chỉ hiểu là dịch vụ chung chung. Theo tiếng Anh có hai từ: “Service” và “Services” ; “Service” được hiểu là dịch vụ nói chung; còn trong GATS sử dụng từ “Services” là cụ thể hóa từng loại dịch vụ. Giả sử Dịch vụ tài chính, nhưng trong Tài chính ta có nhiều loại dịch vụ nhỏ “Services”. Ví dụ: Nhà nước Việt Nam có một quy định như sau: Tất cả các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động khi mới gia nhập thị trường sẽ được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi là 0% trong vòng 5 năm đầu kể từ khi gia nhập thị trường. Bây giờ ta có một nhà cung cấp thông tin dịch vụ di động mới là Công ty Viễn thông Điện lực – E Telecom. Trong trường hợp này khi Nhà nước đã ban hành một chính sách như vậy thì tự động Công ty Viễn thông Điện lực sẽ được hưởng mức thuế ưu đãi trong vòng 5 năm đầu kể từ khi gia nhập thị trường là 0%. Cùng thời điểm mà E-Telecom cung cấp dịch vụ thì cũng có một nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động của Mỹ là Sprint tham gia vào thị trường Việt Nam, trong trường hợp này nếu dẫn chiếu theo nguyên tắc NT thì Sprint cũng sẽ được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi trong vòng 5 năm đầu là 0%. Tuy nhiên điều đó chỉ diễn ra khi Sprint cung cấp dịch vụ có tên là “dịch vụ thông tin di động” mà thôi, còn nếu như Sprint lại cung cấp dịch vụ khác cũng là dịch vụ viễn thông nhưng lại là “dịch vụ gọi điện thoại đường dài quốc tế với giá rẻ – VOIP” thì trong trường hợp này Print không có quyền được đòi hỏi ưu đãi về thuế giống như E-Telecom.

 

III. VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ.

 

  1. Thương mại dịch vụ giúp cải biến cơ cấu kinh tế của một quốc gia.

 

Vai trò này thể hiện ở chỗ với các nước phát triển thì đương nhiên dịch vụ hiện nay đang chiếm một tỷ trọng rất lớn trong GDP. Ví dụ đối với một số nước phát triển cũng như các nước công nghiệp mới (hay còn gọi là các nền kinh tế mới nổi) thì tỷ trọng của dịch vụ trong GDP luôn chiếm khoảng từ 60% trở lên, Canada: 79% của GDP; Mỹ: 73,7% của GDP; Singapore: 71%; Hàn Quốc: 62%; Nhật Bản: 54%; của EU mở rộng: 42% (trước kia EU có 15 nước thành viên chủ yếu là các nước Tây Âu và Nam Âu là các nước tương đối phát triển, khi đó tỷ trọng của dịch vụ đối với GDP ở khu vực này là 70%, tuy nhiên bây giờ EU kết nạp thêm 10 nước thành viên mới chủ yếu là các nước thuộc khối Đông Âu là các nước thuộc XHCN cũ thì tỷ trọng dịch vụ của toàn bộ khối EU bị sụt giảm đi); Hiện nay tốc độ tăng trưởng của thương mại dịch vụ của các nước luôn luôn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Ví dụ về nền kinh tế toàn cầu thì trong giai đoạn 1990 đến năm 2005 tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế thế giới từ 3 đến 4% thì tốc độ tăng trưởng của thương mại dịch vụ của thế giới trong giai đoạn này là 10% (gấp 2 lần so với tốc độ tăng trưởng về kinh tế). Ở Việt Nam, năm 2005 theo con số ước tính thì tỷ trọng của thương mại dịch vụ chiếm 38,9% GDP, Việt Nam phấn đấu đến năm 2010 (trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010) mức đóng góp của dịch vụ vào GDP là 45%.

 

  1. Thương mại dịch vụ phát triển kéo theo sự phát triển của thương mại hàng hóa.

 

Trước kia để xuất khẩu được một lô hàng thì doanh nghiệp phải tốn rất nhiều thời gian (từ việc vận tải tới việc thanh toán, bốc dỡ, đóng gói v.v…), nhưng bây giờ cùng với sự xuất hiện và phát triển của nhiều ngành dịch vụ thì quá trình mua bán hàng hóa sẽ diễn ra được nhanh chóng hơn và dễ dàng hơn. Ví dụ: Trước kia khi những dịch vụ trong các ngân hàng chưa phát triển thì các doanh nghiệp rất khó mua bán được hàng hóa một cách dễ dàng và nhanh chóng chẳng hạn như một doanh nghiệp muốn xuất khẩu một lô hàng thì doanh nghiệp tối thiểu phải cần các dịch vụ như: dịch vụ vận tải, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng, chưa kể đến các dịch vụ liên quan đến kiểm định chất lượng. Vậy trước kia khi dịch vụ ngân hàng chưa phát triển cùng với công nghệ thông tin chưa phát triển thì các doanh nghiệp phải dùng chứng từ thông qua đường phát chuyển nhanh, bây giờ các ngân hàng bắt đầu chấp nhận chứng từ điện tử để quá trình thanh toán diễn ra nhanh hơn, như vậy khi quá trình thanh toán diễn ra nhanh hơn thì khả năng thu hồi vốn (hay khả năng quay vòng vốn của nhà xuất khẩu) sẽ nhanh hơn, như vậy sẽ tránh được tình trạng là bị bên nhập khẩu chiếm dụng vốn và doanh nghiệp sẽ có tiền để quay vòng cho thương vụ tiếp theo. Ngoài ra khi dịch vụ vận tải phát triển thì quá trình vận chuyển hàng hóa diễn ra nhanh hơn và an toàn hơn, như vậy là nhà xuất khẩu sẽ có thể xuất khẩu được nhiều hàng hóa hơn đồng thời rủi ro của họ được giảm xuống trong quá trình xuất khẩu. Hoặc một nghiệp vụ ngân hàng nữa được áp dụng: Nghiệp vụ Factoring và nghiệp vụ Forfeiting (hai nghiệp vụ mới), ở Việt Nam hiện nay mới chỉ có Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu và Ngân hàng Vietcombank áp dụng hai nghiệp vụ này. Hai nghiệp vụ này là Nghiệp vụ Bao thanh toán, Ngân hàng đứng ra thanh toán toàn bộ gói cần phải thanh toán (có thể thanh toán toàn bộ hoặc một phần; Factoring là một phần, còn Forfeiting là trọn gói; hiện nay mới chỉ Factoring được áp dụng). Với hai nghiệp vụ này sẽ tạo được thuận lợi cho cả người nhập khẩu lẫn người xuất khẩu. Có một điều kiện là: Các ngân hàng nếu muốn cung cấp dịch vụ Factoring và Forfeiting thì họ phải có một dịch vụ trong đó là dịch vụ Option – quyền lựa chọn ngoại tệ, khi họ cung cấp dịch vụ Option thì họ mới được cung cấp hai dịch vụ kia để giảm những rủi ro trong chênh lệch tỷ giá, biến động quá nhiều về tỷ giá. Nhưng khi hai loại hình dịch vụ này được áp dụng thì bên phải chịu rủi ro lớn nhất là bên Ngân hàng nhưng các ngân hàng vẫn chấp nhận bởi trên thị trường có rất nhièu ngân hàng, nếu không làm với ngân hàng này thì khách hàng có thể lựa chọn ngân hàng khác do vậy các ngân hàng chấp nhận chịu rủi ro lớn để thu hút được khách hàng.

 

  1. Thương mại dịch vụ cải biến cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới.

 

Năm 2002, lượng vốn FDI toàn cầu đạt khoảng trên 2 nghìn tỷ đô la, đến 60% luồng FDI đó được đầu tư vào các lĩnh vực dịch vụ, các nhà đầu tư thích đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ hơn vì cơ sở hạ tầng ban đầu cần ít vốn và khả năng thu hồi vốn lại cao, nhanh hơn so với đầu tư vào các ngành công nghiệp. Ngoài ra khi cải biến được cơ cấu đầu tư như vậy thì khi thương mại dịch vụ phát triển nó lại kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp. Ví dụ: Dịch vụ kho bãi và cảng biển – khi ở đâu đó có ý định xây dựng một cảng biển thì thông thường không dựa vào tiêu chí là ở khu vực đó có những khu công nghiệp nào để xây cảng mà việc xây cảng sẽ được tiến hành trước sau đó các khu công nghiệp mới hình thành quanh đó. Ở Việt Nam có khu vực cảng Chân Mây, sau khi hình thành dự án xây dựng cảng Chân Mây thì hình thành một loạt các dự án xây dựng các khu công nghiệp quanh đó. Mà việc hình thành một loạt các khu công nghiệp quanh đó là rất hợp lý bởi vì (i) các doanh nghiệp có lợi thế khi vận chuyển nguyên liệu đầu vào từ cảng tới nơi sản xuất, (ii) đồng thời có lợi thế về vị trí khi vận chuyển hàng từ nơi sản xuất ra cảng để phân phối đi các nơi khác, và khi cự ly, khoảng cách giảm như vậy thì rủi ro trong quá trình chuyên chở cũng giảm đi rất nhiều và đồng thời chi phí cũng được giảm theo.

 

  1. Thương mại dịch vụ phát triển giúp tạo ra một lượng công ăn việc làm khổng lồ.

 

Vai trò này mang ý nghĩa xã hội rất cao. Ví dụ ở Mỹ năm 2002, số lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 86% lực lượng lao động. Đối với toàn bộ nền kinh tế thế giới thì hiện nay ngành dịch vụ sử dụng nhiều lao động nhất là ngành du lịch với con số là 209,6 triệu lao động, chiếm khoảng 10% lực lượng lao động của toàn thế giới. Và lực lượng lao động này cũng tạo ra một lượng GNP xấp xỉ 10% tổng giá trị GNP của toàn thế giới.

BÀI GIẢNG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ – CHƯƠNG III – THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

  1. I. KHÁI NIỆM VÀ CÁC HÌNH THỨC CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ.1. Khái niệm và các hình thức của thương mại quốc tế.Thương mại quốc tế là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó diễn ra sự mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế.

    2. Các hình thức của thương mại quốc tế

    a) Thương mại hàng hóa: Chính là sự mua bán trao đổi sản phẩm dưới dạng vật chất hữu hình như thương mại hàng nông sản, thương mại hàng máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, dầu mỏ v.v…
    b) Thương mại dịch vụ: Mua bán những sản phẩm vô hình, phi vật chất được thể hiện thông qua các hoạt động của con người, thương mại dịch vụ đóng vai trò ngày càng tăng trong quan hệ thương mại quốc tế.
    c) Thương mại liên quan đến đầu tư.
    d) Thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.

    II. CÁC HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ.

    – Chủ nghĩa Trọng thương.
    – Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
    – Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.
    – Học thuyết Hecksher – Ohlin.
    – Một số lý thuyết khác.

    1. Chủ nghĩa Trọng thương – Mercantilism.

    Hoàn cảnh ra đời từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, gắn liền với một số tác giả tiêu biểu người Pháp như Jean Bordin, Melton, Jully, Corbert, và người Anh như Thomax Mun, James Stewart, Josias Chhild v.v…

    1.1. Nội dung chính của Chủ nghĩa Trọng thương:

    Đề cao vai trò của tiền tệ: Chủ nghĩa Trong thương coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải, nhà nước càng nhiều tiền thì càng giàu có, và trong tiền tệ thì vàng, bạc, kim loại quý được đặc biệt coi trọng. Thời kỳ đó là thời kỳ tích lũy tư bản do vậy đề cao vai trò của tiền tệ đặc biệt là vàng bạc, vàng bạc được các quốc gia phong kiến sử dụng để chi trả như nuôi quân đội, trang trải chi phí chiến tranh v.v.. Để tích lũy thì các quốc gia phong kiến sử dụng nhiều phương pháp như xuất siêu, cướp biển, buôn bán nô lệ v.v…

    Coi trọng thương mại, đặc biệt là ngoại thương, trong ngoại thương phải thực hiện xuất siêu (xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu), để có thể xuất siêu các quốc gia phải thực hiện những chính sách:

    – Chính sách với thuộc địa: xuất khẩu những sản phẩm nguyên liệu thô và sơ chế với giá thấp, các nhà tư bản giữ độc quyền thương mại trên thị trường các nước thuộc địa nhằm ngăn cản các nước này sản xuất, các nước này buộc phải nhập khẩu hàng hoá thành phẩm, sản phẩm công nghiệp chế biến từ các nước chính quốc.

    – Đạt thặng dư mậu dịch bằng cách tăng xuất bằng những công cụ của nhà nước như trợ cấp xuất khẩu, chú trọng xuất khẩu những hàng hoá có hàm lượng chế biến cao (hạn chế xuất những sản phẩm thô, sơ chế), giảm nhập khẩu (riêng mặt hàng vàng bạc lại được khuyến khích nhập khẩu).

    Lợi nhuận: là kết quả của trao đổi không ngang giá (một hình thức lừa gạt – lợi nhuận của quốc gia này có được là nhờ sự nghèo đi của quốc gia khác – thặng dư của quốc gia này là thâm hụt của quốc gia khác).

    – Đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế: Để đạt được xuất siêu, giảm nhập thì các công cụ của nhà nước là rất quan trọng như

    – Khuyến khích xuất khẩu bằng các biện pháp tài chính như trợ giá cho xuất khẩu, cung cấp tín dụng v.v…

    – Hạn chế nhập khẩu bằng những những công cụ truyền thống như hàng rào thuế quan (đánh thuế thật cao).

    1.2. Ưu điểm của Chủ nghĩa Trọng thương:

    a) Lần đầu tiên, các hiện tượng kinh tế được giải thích bằng lý luận. Trước kia các hiện tượng kinh tế chỉ được giải thích bằng tôn giáo, bằng kinh nghiệm chứ chưa có học thuyết khoa học nào.

    b) Đề cao được vai trò của thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế. Bối cảnh lịch sử kinh tế thời kỳ đó là tự cung, tự cấp, mà Chủ nghĩa Trọng thương đề cao vai trò của thương mại đặc biệt là thương mại quốc tế thì đó là một cuộc cách mạng trong nhận thức ở thời kỳ này.

    c) Nhận thức được vai trò điều tiết của Nhà nước. Chủ nghĩa Trọng thương đã nhận thức được vai trò của nhà nước với tư cách là một chủ thể chủ đạo trong quan hệ kinh tế quốc tế và đồng thời cũng nhận thức được tầm quan trọng của các công cụ của nhà nước có thể sử dụng để điều tiết xuất nhập khẩu cũng như  nền kinh tế nói chung.

    1.3. Nhược điểm:

    a) Quan niệm chưa đúng về của cải, về nguồn gốc giàu có của một quốc gia. Chủ nghĩa này cho rằng muốn giàu có thì phải có nhiều tiền, mà muốn có nhiều tiền thì phải xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu.

    b) Quan niệm chưa đúng về lợi nhuận trong thương mại. Chủ nghĩa Trọng thương coi lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá (quốc gia này giàu lên nhờ sự nghèo đi của quốc gia khác). Ta thấy rằng nếu lợi nhuận trong thương mại quốc tế mà cứ như vậy thì những quốc gia bị thua thiệt trong thương mại sẽ không tham gia thương mại quốc tế nữa do vậy thương mại quốc tế sẽ không phát triển lâu dài được.

    c) Chưa nêu lên bản chất bên trong của hiện tượng kinh tế.

    Với tất cả những nhược điểm trên đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế bước sang nửa cuối của thế kỷ XVIII, Chủ nghĩa Trọng thương dần dần mất đi vị thế của mình, trong tác phẩm nổi tiếng của Adam Smith “Nguồn gốc giàu có thực sự của các dân tộc” đã phê phán chủ nghĩa trọng thương và trình bày những quan điểm mới của mình về thương mại quốc tế.

    2. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1723-1790).

    2.1. Quan điểm cơ bản của Adam Smith về thương mại quốc tế bao gồm:

    a) Nguồn gốc của sự giàu có: Không phải do ngoại thương mà do sản xuất công nghiệp. Ông thừa nhận vai trò của thương mại tạo điều kiện cho phát triển kinh tế là rất quan trọng nhưng không phải là yếu tố quyết định. Nguồn gốc của sự giàu có quốc gia không phụ thuộc vào khối lượng vàng bạc mà quốc gia đó có mà dựa vào sự sẵn có hàng hoá, dịch vụ của quốc gia.

    b) Trong thương mại quốc tế trao đổi phải là ngang giá. Sự trao đổi giữa các quốc gia phải dựa trên cơ sở tự nguyện, các bên cùng có lợi – ông phê phán sự phi lý của Chủ nghĩa Trọng thương – ông nói rằng mậu dịch sẽ giúp cả hai bên có thể gia tăng số lượng tài sản của mình thông qua nguyên tắc cơ bản là phân công lao động.

    2.2. Cơ sở mậu dịch giữa các quốc gia: Căn cứ vào lợi thế tuyệt đối của các nước.

    Lợi thế tuyệt đối của một quốc gia về một sản phẩm: Nghĩa là Quốc gia đó có thể sản xuất ra sản phẩm đó với các chi phí thấp hơn các nước khác (Ví dụ: Dầu mỏ của Arập Xêút, gỗ của Canada v.v…). Khi một quốc gia có được lợi thế tuyệt đối về một sản phẩm nào đó thì quốc gia đó thì họ nên chuyên môn hoá vào sản xuất mặt hàng đó, sau đó đem sản phẩm đó trao đổi với các nước khác để nhập khẩu về những sản phẩm họ không có lợi thế tuyệt đối. Adam Smith ví các quốc gia như những hộ gia đình – người chủ gia đình không bao giờ sản xuất được hết những cái mà họ cần, có hộ gia đình làm nông nghiệp, có hộ gia đình sản xuất thủ công sau đó họ trao đổi những sản phẩm với nhau.

    Nguồn gốc của lợi thế tuyệt đối của một quốc gia:

    – Lợi thế tự nhiên: tài nguyên, điều kiện khí hậu, đất đai. Lợi thế tự nhiên đặc biệt quan trọng đối với các sản phẩm như hàng nông sản, lâm sản, thuỷ sản v.v…

    – Lợi thế do nỗ lực:  Sự lành nghề, kỹ thuật của người lao động đặc biệt quan trọng đối với việc sản xuất những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao.

    Ví dụ cho Lợi ích từ chuyên môn hóa

Nước Dầu mỏ (thùng) do một đơn vị nguồn lực sản xuất ra Gạo (tấn) do một đơn vị nguồn lực sản xuất ra
Irag 10 2
Việt Nam 6 3

Ta thấy, ở Irag 1 đơn vị nguồn lực có thể sản xuất ra được 10 thùng dầu, nhưng ở Việt Nam 1 đơn vị nguồn lực có thể sản xuất được 6 thùng dầu mỏ Þ Irag sản xuất ra được nhiều dầu mỏ hơn Việt Nam với cung một lượng đầu vào như nhau nhưng đầu ra số lượng dầu của Irag nhiều hơn Þ Irag có lợi thế tuyệt đối về dầu mỏ.

Tương tự, đối với Việt Nam 1 đơn vị nguồn lực có thể sản xuất ra được 3 tấn gạo, còn Irag được 2 tấn gạo Þ Việt Nam có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất gạo.

1.1.   Nước

Dầu mỏ (thùng) sản xuất ra tăng (giảm) Gạo (tấn) sản xuất ra tăng (giảm)
Irag +10 (2)
Việt Nam (6) +3
Tổng +4 +1

Theo Adam Smith thì Irag chuyên môn hoá vào dầu mỏ còn Việt Nam chuyên môn hoá vào sản xuất gạo như vậy sản lượng dầu mỏ của Irag tăng lên 10 thùng, Việt Nam giảm đi 6 thùng tính trên thế giới tổng số sẽ tăng lên 4 thùng. Tương tự như vậy đối với sản xuất gạo, Irag giảm đi 2 tấn gạo, Việt Nam tăng thêm 3 tấn và tổng số sản lượng gạo trên thế giới tăng 1 tấn. Giả định, Irag chuyển 1 đơn vị từ sản xuất gạo sang sản xuất dầu mỏ, còn Việt Nam chuyển 1 đơn vị từ sản xuất dầu mỏ sang sản xuất gạo – Chuyên môn hoá.

2.4. Các giả định của lợi thế tuyệt đối:

– Chỉ có 2 nền kinh tế tham gia sản xuất hàng hóa

– Hàng hóa các nước khác nhau sản xuất đồng nhất về đặc tính, chất lượng.

– Không tính chi phí vận tải.

– Chi phí là không đổi dù quy mô sản xuất tăng.

– Các yếu tố sản xuất ở các nước giống nhau.

– Dễ dàng di chuyển nguồn lực từ ngành này sang ngành khác.

– Không có sự hiện diện của thuế quan.

– Tri thức là hoàn hảo.

Hạn chế cơ bản của lý thuyết về lợi thế tuyệt đối:

Không giải thích được hiện tượng trao đổi thương mại vẫn diễn ra với những nước có lợi thế hơn hẳn các nước khác ở mọi sản phẩm, hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối về tất cả các sản phẩm. Ngay từ thời Adam Smith, lý thuyết của ông cũng không dập tắt được nỗi lo lắng của nhiều người ở Anh thời kỳ đó, họ lo ngại rằng giả dụ nước Đức có thể vươn lên để sản xuất có hiệu quả tất cả các mặt hàng hơn so với nước Anh thì thương mại quốc tế sẽ thế nào? Học thuyết của Adam Smith không giải thích được điều này và nhà kinh tế học David Ricardo đã khắc phục được nhược điểm này.

3. Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo (1772 – 1823)

3.1. Nội dung về lý thuyết lợi thế so sánh:

a) Mọi nước đều có thể có lợi ích khi tham gia vào thương mại quốc tế. Ví dụ: Irag sản xuất dầu mỏ có hiệu quả hơn Việt Nam, Việt Nam sản xuất gạo có hiệu quả hơn Irag khi hai nước tham gia thương mại quốc tế buôn bán với nhau thì cả hai bên đều có lợi ích. Nhưng ngay cả khi Irag sản xuất có hiệu quả hơn Việt Nam tất cả các mặt hàng, cả Irag và Việt Nam đều có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế. Với quan điểm này, Ricardo kêu gọi tất cả các quốc gia tham gia vào thương mại quốc tế và xoá bỏ rào cản bảo hộ.

b) Lợi ích trong thương mại quốc tế bắt nguồn từ lợi thế so sánh. Xuất hiện khái niệm về lợi thế so sánh chứ không còn chỉ là lợi thế tuyệt đối nữa.

c) Mỗi nước đều có lợi thế so sánh trong sản xuất một mặt hàng nào đó (và kém lợi thế so sánh trong mặt hàng khác).

Một quốc gia có lợi thế so sánh khi quốc gia đó có khả năng sản xuất một hàng hóa với mức chi phí cơ hội (Chi phí để sản xuất ra một sản phẩm được tính bằng một sản phẩm khác) thấp hơn so với các quốc gia khác.

Chi phí cơ hội của việc sản xuất ra một hàng hóa là số lượng hàng hóa khác mà chúng ta phải hy sinh khi chúng ta sử dụng nguồn lực để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa đó.

Đơn vị sản phẩm 1giờ lao động ở Mỹ tạo ra 1 giờ lao động ở TQ tạo ra Tổng
Quần áo (bộ) 20 15 35
Máy tính (chiếc) 2 1 3

 

Chi phí cơ hội để sản xuất quần áo là số máy tính phải từ bỏ để sản xuất 1 bộ quần áo. Trung Quốc: 1/15 (chiếc) < Mỹ 2/20 (chiếc) Þ Trung Quốc có chi phí cơ hội thấp hơn, Trung quốc có lợi thế so sánh trong sản xuất quần áo.

 

Tương tự với Mỹ Þ Lợi thế sản xuất trong máy tính

 

Nếu đề bài cho theo chiều ngược lại:

 

Þ quy đổi về năng suất lao động để tính chi phí cơ hội

 

Đơn vị sản phẩm Số giờ lao động sử dụng ở Mỹ Số giờ lao động sử dụng ở Trung Quốc
Quần áo (bộ) 1 4
Máy tính (chiếc) 5 28

 

Đơn vị sản phẩm 1 giờ lao động Mỹ tạo ra 1 giờ lao động Trung Quốc tạo ra
Quần áo (bộ) 1 1/4
Máy tính (chiếc) 1/5 1/28

 

Chi phí cơ hội sản xuất quần áo ở Trung Quốc: 1/28 : 1/4 = 4/28 = 1/7

 

Chi phí cơ hội sản xuất quần áo ở Mỹ: 1/5 : 1 = 1/5

 

Trung Quốc: Trong nước 7 bộ quần áo tương đương 1 chiếc máy tính, nếu chuyên môn hóa thì cần bán 5 bộ quần áo đủ để đổi một chiếc máy tính Þ dôi ra 2 bộ quần áo.

 

Mỹ: tương tự, Mỹ sẽ có lợi khi chuyên môn hóa vào sản xuất máy tính.

 

3.2. Hạn chế:

 

  1. a) Chỉ chú ý đến cung sản xuất sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh, không chú ý đến cầu tiêu dùng. Tất cả các học thuyết cổ điển chỉ tập trung vào cung chứ không đề cập tới cầu, Cầu chỉ được tập trung trong kinh tế học hiện đại.
  2. b) Chưa tính đến chi phí vận tải, bảo hiểm, thuế quan và các hàng rào bảo hộ mậu dịch.
  3. c) Giá tương đối trong trao đổi chỉ dựa vào đầu vào là lao động.
  4. d) Chưa tính đến yếu tố chi phí sản xuất giảm dần theo quy mô và năng suất lao động tăng dần theo quy mô.
  5. e) Chưa tính đến vòng đời sản phẩm, thị hiếu tiêu dùng.

 

  1. Học thuyết Hecksher – Ohlin (H-O)

 

4.1. Giới thiệu chung về học thuyết:

 

Khác biệt về nguồn lực là nguồn gốc duy nhất của thương mại.

 

Giải thích lợi thế so sánh là do:

 

– Sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia.

 

– Hàng hóa khác nhau thì hàm lượng các yếu tố sản xuất cũng khác nhau.

 

Còn được gọi là Học thuyết về tỷ lệ các yếu tố sản xuất.

 

4.2. Nội dung cơ bản của học thuyết H – O.

 

  1. a) Trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi nước tiến đến chuyên môn hóa ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất. Theo học thuyết này có hai vấn đề (a) sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia ‘vd: các nước phát triển có tiềm lực mạnh về vốn, công nghệ; các nước đang phát triển thì mạnh về lao động, đất đai’ – Khi ta nói một quốc gia có thể dư thừa tương đối về yếu tố nào đó ‘vd: về vốn; ; lao động’ là quan điểm tương đối, chẳng hạn khi ta so sánh quy mô dân số giữa Việt Nam và Mỹ – ta thấy mặc dù dân số Mỹ nhiều hơn Việt Nam nhưng ta vẫn nói Việt Nam dư thừa lao động hơn so với Mỹ là ta so sánh tỷ lệ lao động trên vốn của Việt Nam so với tỷ lệ lao động trên vốn của Mỹ; (b) Ngành sản xuất sử dụng nhiều yếu tố sản xuất. Ví dụ khi nói tới ngành sản xuất dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động so với ngành sản xuất lương thực – ở đây ta tính tỷ lệ lao động, hàm lượng lao động trong sản phẩm đó cao hơn so với hàm lượng lao động trong sản xuất lương thực.

 

  1. b) Trao đổi quốc tế là sự trao đổi các yếu tố dư thừa lấy các yếu tố khan hiếm. Các nước chuyên môn hóa sản xuất các sản phẩm cần nhiều yếu tố dư thừa của nước mình để xuất khẩu và nhập khẩu những sản phẩm mà để sản xuất ra nó đòi hỏi nhiều yếu tố khan hiếm. Các yếu tố của sản xuất: vốn, công nghệ, lao động, tài nguyên. ở các nước phát triển thì có thế mạnh về vốn, công nghệ, còn các nước đang phát triển thì mạnh về lao động, tài nguyên (Dư thừa có nghĩa tương đối), học thuyết của H – O giải thích tại sao một nước, giả như một nước phát triển họ xuất khẩu sản phẩm công nghệ – sản phẩm chiếm hàm lượng vốn nhiều – chính là những yếu tố sản xuất của họ là dư thừa. Tương tự, ta thấy Trung Quốc được coi là công xưởng của thế giới, Trung Quốc xuất khẩu nhiều hàng dệt may, giày dép, đồ chơi trên thế giới – những sản phẩm này sử dụng nhiều những yếu tố rất dư thừa của Trung Quốc. Hoặc ngay trong các nước đang phát triển và phát triển  cơ cấu xuất khẩu cũng rất khác nhau, ta thấy như Canada xuất khẩu sản phẩm gỗ vì họ có lợi thế về nguồn tài nguyên phong phú.

 

  1. c) Định luật xu hướng cân bằng về thu nhập của các yếu tố sản xuất:

 

Khi các nước tự do hóa thương mại, không có nước nào chuyên môn hóa hoàn toàn thì thu nhập của các yếu tố sản xuất giữa các nước có xu hướng cân bằng nhau.

 

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

Leave a Reply