kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Bài tập cá nhân Công pháp quốc tế kèm đáp án

CƠ SỞ PHÁP LÝ CẦN THIẾT ĐẢM BẢO TÍNH HỢP PHÁP CỦA NGHỊ QUYẾT DO HỘI ĐỒNG BẢO AN THÔNG QUA

Bài tập tình huống cá nhân Công pháp quốc tế có đáp án.

TH7: Năm 2012, tại quốc gia A xảy ra nội chiến. Hàng ngàn người nổi dậy đã tiến hành đập phá các cửa hàng, nhà kho sân bãi nhằm tăng sức ép đề nghị chính phủ đương nhiệm phải từ chức. Cuộc giao tranh giữa Chính phủ đương nhiên và phe nổi dậy ngày càng căng thẳng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hòa bình và an ninh trong khu vực cũng như đe dọa sự an toàn của những người nước ngoài đang có mặt trên lãnh thổ quốc gia A. Trước tình hình nguy cấp này, Hội động bảo an Liên hợp quốc, với tư cách là cơ quan thực hiện chức năng duy trì hòa bình và an ninh thế giới, đã có những cuộc họp nhằm xem xét vấn đề của quốc gia. Dự thảo Nghị quyết của hội đồng bảo an trong đó đề cập đến việc áp dụng các biện pháp cần thiết, kể cả các biện pháp về quân sự, đối với quốc gia A cũng đã được soản thảo. Trong thời gian chờ đợi nghị quyết được thông qua, với tư cách là Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an quốc gia X đã cho một số tàu quân sự của mình tiến sâu vào neo đậu trong lãnh hải của quốc gia A để sẵn sang thực hiện Nghị quyết của Hội đồng bảo an. Hãy cho biết:

 

– Hành vi của quốc gia X có phù hợp với quy định của Công ước luật biển 1982 hay không? Tại sao?

 

– Các cơ sở pháp lý cần thiết đảm bảo tính hợp pháp của Nghị quyết do Hội đồng bảo an thông qua?

 

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

LHQ: Liên hợp quốc

HĐBA: Hội đồng bảo an

 

BÀI LÀM

  1. Hành vi của quốc gia X có phù hợp với quy định của Công ước luật biển 1982 hay không? Tại sao?

 

Trả lời: Hành vi của quốc gia X không phù hợp với quy định của Công ước luật biển 1982. Vì:

 

Quốc gia X cho neo đậu tàu tại lãnh hải của quốc gia A là trái với quy định của khoản 2 Điều 18 Công ước luật biển 1982 khi thực hiện quyền qua lại lãnh hải  đó là đi qua phải liên tục và nhanh chóng. Tuy nhiên, việc đi qua bao gồm cả việc dừng lại và thả neo, nhưng chỉ trong trường hợp gặp phải những sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người, thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc cạn”. Trong tình huống này, quốc gia X đã neo đậu tại vùng lãnh hải của quốc gia A mà không phải vì gặp những sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người, thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc cạn mà vì để chuẩn bị sẵn sàng thực hiện Nghị quyết của Hội đồng bảo an.

 

Bên cạnh đó, quốc gia X đã vi phạm quy định của công ước Luật biển 1982 việc đi qua của tàu thuyền nước ngoài bị coi là phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển, nếu như trong lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành các họat động quy định tại khoản 2 Điều 19 Công ước Luật hiển 1982. Cụ thể việc đưa quân sự vào khu vực lãnh hại của quốc gia A là hành vi đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, điều này càng vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc của Luật quốc tế – nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ luật quốc tế. Việc quốc gia X đưa tàu quân sự vào khu vực lãnh hải của quốc gia A để sẵn sàng thực hiện nghị quyết của Hội đồng bảo an là không có căn cứ vì Nghị Quyết của hội đồng bảo an chưa được thông qua, Nghị quyết của HĐBA được thông qua khi có 9 ủy viên của Hội dồng bảo an, trong đó có tất cả các ủy viên thường trực bỏ phiếu thuận (Điều 27 Hiến chương liên hợp quốc).

 

Như vậy, hành vi của quốc gia X không phù hợp với Công ước Luật biển 1982.

 

  1. Các cơ sở pháp lý cần thiết đảm bảo tính hợp pháp của Nghị quyết do Hội đồng bảo an thông qua?

 

Dẫn chiếu theo chương 7 Hiến chương liên hợp quốc (từ Điều 39 đến Điều 51) về hành động trong trường hợp hòa bình bị đe dọa, phá hoại hoặc có hành vi xâm lược. Theo đó, Nghị quyết của hội đồng bảo an trong đó đề cập đến việc áp dụng các biện pháp cần thiết, kể cả các biện pháp về quân sự, đối với quốc gia A là hoàn toàn phù hợp. Cụ thể, theo quy định tại Điều 39, Điều 41 Hội đồng có thẩm quyền quyết định những biện pháp áp dụng không liên quan tới việc sử dụng vũ lực để thực hiện nghị quyết của Hội đồng, và yêu cầu các thành viên Liên hợp quốc áp dụng biện pháp đó. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 42 Hiến chương thì nếu những biện pháp được nói tại Điều 41 mà không thích hợp hoặc mất hiệu lực thì Hội đồng bảo an có thẩm quyền áp dụng mọi hành động của hải, lục, không quân nếu Hội đồng bảo an cho rằng đó là cần thiết. Những hành động này có thể là những cuộc biểu dương lực lượng, phong tỏa và những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của các nước thành viên Liên hợp quốc thực hiện. Mặt khác, theo quy định tại Điều 51 Hiến chương nêu quốc gia thành viên của LHQ bị tấn công vũ trang mà cho tới khi HĐBA chưa áp dụng được các biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình, an ninh quốc tế thì những biện pháp mà quốc gia thành viên của LHQ áp dụng để thực hiện quyền tự vệ chính đáng phải được báo ngay cho HĐBA, do đó, có thể dùng biện pháp quân sự tương xứng nếu trong trường hợp bị tấn công vũ trang.

 

Hội đồng bảo an xác định tình hình nội chiến trên lãnh thổ quốc gia A không còn là công việc nội bộ của quốc gia A bởi tình hình nội chiến tại quốc gia A có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hòa bình và an ninh trong khu vực cũng như đe dọa sự an toàn của những người nước ngoài đang có mặt trên lãnh thổ quốc gia A. Do đó, sự can thiệp của HĐBA LHQ trong trường hợp này không được coi là vi phạm nguyên tắc của luật quốc tế về “Không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác”.

 

Để nghị quyết của HĐBA được thông qua thì cần 9 ủy viên của HĐBA, trong đó có tất cả các ủy viên thường trực bỏ phiếu thuận (Điều 27 Hiến chương Liên hợp quốc).

 

Bài tập cá nhân Công pháp quốc tế – tình huống số 6 có đáp án.

 

Tình huống 06:

 

Hundu và Renda đều là hai quốc gia thành viên của Công ước về chống khủng bố quốc tế. Tháng 4/ 2011, Chính phủ Hundu nhận được báo cáo của Cục tình báo quốc gia về việc phát hiện ra nơi ẩn náu trên lãnh thổ Renda của tên trùm khủng bố ( bị truy nã toàn cầu) mà quốc gia này đang tìm kiếm. Chính phủ Hundu ngay lập tức bí mật điều động máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ nước này và tấn công nơi ở của tên trùm khủng bố, đồng thời tiêu diệt tên này.

 

Phát hiện ra hành vi của Hundu, Renda đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ. phía Renda cho rằng hành vi này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, Hundu cho rằng hành vi của quốc gia này là nhằm thưc hiện nghĩa vụ thành viên của Công ước về chống khủng bố. Hơn nữa, Tổng thống Hundu đã thực hiện cuộc điện đàm chính thức với Tổng thống Renda và ông này hứa sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động chống khủng bố được thực hiện bởi Hundu. Hãy cho biết:

 

– Tính hợp pháp trong hành vi của Hundu? Vì sao?

 

– Cuộc điện đàm chính thức giữa Tổng thống của hai quốc gia có xác lập nghĩa vụ của Renda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấn công và tiêu diệt trùm khủng bố trên lãnh thổ Renda không? Vì sao?

 

1.Tính hợp pháp trong hành vi của Hundu? Vì sao?

 

Hành vi của Hundu là không hợp pháp. Vì:

 

Hành vi của Hundu đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia của luật quốc tế. Chính phủ Hundu khi nhận được báo cáo của Cục tình báo quốc gia về việc phát hiện ra nơi ẩn náu trên lãnh thổ Randa của tên Trùm khủng bố ( bị truy nã toàn cầu) mà quốc gia này đang tìm kiếm. Chính phủ Hundu ngay lập tức bí mật điều động máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ nước này và tấn công nơi ở của tên trùm khủng bố, đồng thời tiêu diệt tên này đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia. Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng của mỗi dân tộc, lãnh thổ là biểu hiện của nền độc lập dân tộc và bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia. Bảo vệ biên giới, lãnh thổ chính là bảo vệ chủ quyền quốc gia chống lại mọi hình thức ngoại xâm. Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1970 cũng đã quy định rõ nội dung nguyên tắc này. Như vậy, trong tình huống này thì Hundu đã xâm phạm chủ quyền quốc gia Renda vì hành động bí mật điều động máy quân sự tiến vào Renda.

 

Bên cạnh đó còn vi phạm nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, nguyên tắc này được quy định trong Tuyên bố năm 1970 của Liên hợp quốc về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia. Hành vi Hundu bí mật điều động máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ Renda có thể bị coi là một hành vi sử dụng vũ lực với quốc gia Renda cho dù có mục đích chỉ là bắt tên khủng bố, nhưng nó làm ảnh hưởng tới nền an ninh của Renda khi có quốc gia dùng lực lượng quân sự tiến vào lãnh thổ mình bí mật như vậy. Tuy luật quốc tế không quy định rõ về định nghĩ thế nào là “ Vũ lực” nhưng theo các văn kiện của Liên hợp quốc thì vũ lực được hiểu là sức mạnh về quân sự, chính trị, kinh tế hoặc ngoại giao mà quốc gia này sử dụng bất hợp pháp đối với quốc gia khác. Hundu và Renda đều là thành viên của Công ước về chống khủng bố quốc tế nên khi tên khủng bố này đang ẩn náu trên lãnh thổ Renda thì Renda phải có nghĩa vụ cùng hợp tác với Hundu để bắt tên trùm khủng bố này chứ Hundu không được bí mật điều động máy bay quân sự tiến vào Renda để tiêu diệt tên khủng bố. Điều này vi phạm nghiêm trọng đến nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, ảnh hưởng tới nền an ninh quốc gia của Renda.

 

  1. Cuộc điện đàm chính thức giữa Tổng thống của hai quốc gia có xác lập nghĩa vụ của Renda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấn công và tiêu diệt trùm khủng bố trên lãnh thổ Renda không? Vì sao?

 

Cuộc điện đàm này không xác lập nghĩa vụ của Renda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấn công và tiêu diệt tên trùm khủng bố trên lãnh thổ Renda. Vì:

 

Theo nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác (quy định tại Điều 55,56 Hiến chương liên hợp quốc thì Renda và Hundu phải hợp tác với nhau trong việc bắt tên trùm khủng bố đó nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Sự nỗ lực và thiện chí hợp tác của Renda với Hundu phải dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế sẽ loại bỏ được các hợp tác trái với luật quốc tế và các vấn đề toàn cầu được giải quyết, đây vừa là lời ích chung của các quốc gia vừa là lợi ích cho sự phát triển của các quốc gia đó. Tuy nhiên như phân tích ở ý thứ 1 thì Hundu đã vi phạm hai nguyên tắc cơ bản luật quốc tế nên sự hợp tác này đã không còn là sự hợp tác dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế nữa, hành vi của Hundu đã gây phương hai tới Renda. Bên cạnh đó, Hundu bí mật kế hoạch hành động của mình đó là bí mật điều động máy bay quân sự với tần số siêu âm, thoát khỏi sự kiểm soát của rada trinh thám Renda, vượt biên giới, tiến vào lãnh thổ nước Renda và tấn công nơi ở của tên trùm khủng bố, đồng thời tiêu diệt tên trùm khủng bố.  Điều này đã cho thấy Hundu chưa thiện chí trong hợp tác với Renda vẫn cho Renda là “ ngoài cuộc”, cuộc điện đàm này như một lời cam kết Renda sẽ hợp tác tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chống khủng bố được thực hiện bởi Hundu. Tuy nhiên, cách thức, mức độ hợp tác còn phụ thuộc vào yêu cầu, khả năng của Renda và Hundu cũng cần tôn trọng và tuân thủ theo đúng mức độ hợp tác giữa hai nước và luật pháp quốc tế. Như vậy trong trược hợp này cuộc điện đàm không làm phát sinh nghĩa vụ đối với bên Renda trong việc tạo điều kiện cho Hundu tấn công và tiêu diệt trùm khủng bố trên lãnh thổ Renda.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Giáo trình Luật quốc tế. Trường đại học Luật Hà Nội, Nxb công an nhân dân, năm 2004.
  2. Giáo trình luật quốc tế. ThS Nguyễn Thị Kim Ngân – ThS Chu Mạnh Hùng, Nxb giáo dục Việt Nam.
  3. Hiến Chương Liên Hợp Quốc
  4. Công ước viên 1969

 

  1. Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với hiến chương Liên Hợp Quốc 1970.

THỎA THUẬN QUA HÌNH THỨC TRAO ĐỔI VĂN BẢN GIỮA HAI QUỐC GIA CÓ PHẢI ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ – BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Đề bài:

 

Năm 1970, quốc gia A gửi cho quốc gia B văn bản đề nghị xác định biên giới trên biển giữa quốc gia B và vùng lãnh thổ thuộc địa C mà quốc gia A đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế. Trong thư đó, quốc gia A có nêu rõ nguyên tắc, cách thức phân định và có bản đồ phân định đính kèm. Trong thư trả lời, quốc gia B bày tỏ quan điểm đồng ý với đề nghị của quốc gia A.

 

Tuy nhiên, tranh chấp đến biên giới trên biển lại nảy sinh khi C trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền. Quốc gia C cho rằng: thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và quốc gia B không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên. Hơn nữa, với tư cách quốc gia mới ra đời sau cách mạng giải phóng, quốc gia C không phải kế thừa tất cả các điều ước quốc tế mà A đã đại diện ký kết. Hãy cho biết:

 

– Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có phải điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên hay không? Tại sao?

– Quốc gia C có nghĩa vụ phải kế thừa tất cả các thỏa thuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết, trong đó có thỏa thuận xác định biên giới trên biển hay không? Tại sao?

 

  1. Thoả thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có phải điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên hay không? Tại sao.

 

Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B về  vấn đề xác định biên giới trên biển giữa quốc gia B và vùng lãnh thổ thuộc địa C mà A đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế có thể xem là điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc ở thời điểm C vẫn là vùng lãnh thổ thuộc địa của A.

 

Theo điểm a khoản 1 Luật công ước Viên năm 1969, Điều ước quốc tế dùng để chỉ“một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”. Thoả thuận quốc tế sẽ trở thành điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc khi nó đảm bảo các trình tự tạo nên một điều ước quốc tế, cụ thể như phải đảm bảo các giai đoạn:

 

Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành các văn bản điều ước: Trong giai đoạn này, các bên sẽ thực hiện các hành vi như: đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản điều ước. Thực hiện xong các hành vi này, điều ước quốc tế vẫn chưa phát sinh hiệu lực, tuy nhiên nếu thiếu các hành vi này thì một điều ước quốc tế không thể được hình thành.

 

Giai đoạn 2: giai đoạn thực hiện các hành vi nhằm thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế và có giá trị tạo ra hiệu lực thi hành của điều ước đó. Giai đoạn này có 4 hành vi được thực hiện đó là: hành vi ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế.[ Theo “Luật Quốc tế” Ts. Ngô Hữu Phước]

 

Các thoả thuận giữa các quốc gia chưa thể trở thành một điều ước quốc tế khi thiếu các trình tự trên.

 

Tuy nhiên, các quy định tại công ước Viên năm 1969 chỉ bắt đầu có hiệu lực từ năm 1980. Trước khi công ước Viên năm 1969 có hiệu lực, trong quan hệ quốc tế, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các quốc gia – có thể bằng hình thức văn bản hoặc là sự thỏa thuận bằng miệng – thỏa thuận này được gọi là “điều ước quân tử”

 

Thứ hai, xét đến yếu tố chủ thể tham gia trong thỏa thuận này là quốc gia A và quốc gia B – đều là chủ thể của luật quốc tế. Thỏa thuận này được hình thành dựa trên sự đồng ý của 2 quốc gia (Quốc gia A gửi đề nghị và quốc gia B ngỏ ý đồng ý).

 

Như vậy, căn cứ theo phân tích trên, thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có thể xem là điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc giữa A và B.

 

  1. Quốc gia C có nghĩa vụ kế thừa tất cả các thoả thuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết, trong đó có thỏa thuận xác định biên giới trên biển hay không? Tại sao?

 

Với thỏa thuận quốc tế, quốc gia C không có nghĩa vụ kế thừa tất cả các thỏa thuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết (nghĩa là quốc gia A có thể tiếp tục thực hiện các ngĩa vụ đó hoặc không) những với thỏa thuận xác định biên giới trên biển, C vẫn phải tiếp tục tôn trong và thực hiện thỏa thuận quốc tế này. Vì các lý do như sau:

 

Thứ nhất:  Theo luật quốc tế hiện hành, các quốc gia mới thành lập không có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện các điều ước quốc tế do quốc gia để lại thừa kế ký kết. Căn cứ vào cơ sở pháp lý tại điều 16 và điều 28 công ước Viên năm 1978:

 

“Điều 16: Đối với những điều ước của các quốc gia tiền nhiệm, Quốc gia mới độc lập không bị ràng buộc việc duy trì hiệu lực hoặc phải trở thành thành viên của bất ký điều ước nào với lý do điều ước vẫn còn hiệu lực đối với lãnh thổ được ký kết vào thời điểm kế thừa”.

 

“Điều 28: Điều ước song phương: Điều ước song phương vẫn đang còn hiệu ước hoặc tạm thời áp dụng đối với lãnh thổ được thừa kế vào thời điểm thừa kế sẽ vẫn còn hiệu lực giữa hai bên quốc gia độc lập mới hình thành hoặc quốc gia kia khi:

 

+ Hai bên khẳng định rõ ràng sự chấp thuận

 

+ Hai bên bằng hành vi thể hiện sự chấp thuận

 

Như vậy, đối với các điều ước quốc tế các quốc gia để lại kế thừa, có hai trường hợp:

 

Trường hợp 1: Quốc gia mới giành được độc lập không phải tiếp tục thực hiện các điều ước quốc tế trước đây vẫn thi hành tại lãnh thổ quốc gia mới đó.

 

Trường hợp 2: Đối với các điều ước mà trước đây quốc gia A đã kí kết, quốc gia C  có thể thỏa thuận các điều kiện áp dụng điều ước với quốc gia A. Hoặc C sẽ kí kết với A các điều ước đặc biệt, trong những điều ước lại này có ghi nhận việc C sẽ kế thừa tất cả các điều ước còn hiều lực thi hành do A đã kí kết với B về lãnh thổ vốn là thuộc địa của A trước đây.

 

Thứ hai, trong trường hợp này C vẫn phải kế thừa điều ước quốc tế xác định biên giới trên biển giữa A và B bởi: những điều ước biên giới về lãnh thổ thường có giá trị rất bền vững và mang tính ổn định dù hai bên có mất tư cách chủ thể thì quốc gia mới vẫn buộc phải thừa kế. Căn cứ theo quy định tại điều 11, 15 và 30 của Công ước Viên năm 1969:

 

Điều 11: Sự kế thừa quốc gia không ảnh hương đến tới:

 

  1. Một đường biên giới đã được xác định bởi một hiệp định, hay

 

  1. Các quyền và nghĩa vụ đã được xác định bởi một hiệp định liên quan đến thể chế biên giới.

 

Điều 15: Khi một phần lãnh thổ nhà nước hoặc khi bất cứ phần lãnh thổ nào mà không còn là lãnh thổ của quốc gia đó hoặc trở thành một phần lãnh thổ của quốc gia khác thì: a, Điều ước của quốc gia để lại sẽ ngừng có hiệu lực với phần lãnh thổ mà quốc gia thừa kế có liên quan, kể từ ngày quốc gia thừa kế ra đời.

 

Như vậy, với các điều ước quốc tế khác, Quốc gia C không có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện các điều ước này và có thể hiện nó hay không nhưng với thỏa thuận quốc tế về biên giới, quốc A buộc phải tôn trọng thực hiện.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Giáo trình Luật quốc tế – Ths. Nguyễn Kim Ngân
  2. Công ước viên năm 1978 về kế thừa quốc gia trong Điều ước quốc tế
  3. Công ước Viên 1969 về điều ước quốc tế.

HÀNH VI XÂM PHẠM THỀM LỤC ĐỊA CỦA QUỐC GIA VEN BIỂN – BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Đề bài:

 

Quốc gia Hudu xúc tiến việc lắp đặt các dây cáp ngầm dưới đáy biển ở vị trí cách đường cơ sở của quốc gia Tara 150 hải lý.Trong quá trình lắp đặt, các kỹ sư thi công của Hudu nhận thấy rằng cần phải cố định các đường dây cáp bằng cách khoan 10 mũi vào đáy biển và họ gửi đề xuất này tới Chính phủ Hudu. Chính phủ Hudu đồng ý với đề xuất trên, đồng thời cho phép các kỹ sư thi công thăm dó và thực hiện việc khoan cố định 10 mũi vào lòng đất dưới đáy biển nơi đặt dây cáp ngầm. Khi phát hiện ra hành vi nói trên, Tara đã yêu cầu Hudu dừng ngay hành vi lắp đặt dây cáp cũng như việc khoan vào lòng đất dưới đáy biển trong vùng biển của Tara. Hãy cho biết:

 

– Tara yêu cầu Hudu dừng ngay hành vi lắp đặt dây cáp ngầm cũng như việc khoan vào lòng đất dưới đáy biển có phù hợp với luật quốc tế không ? Tại sao ?

 

– Hudu có thể thực hiện những quyền gì trong vùng biển trên của Tara? Tại sao?

 

Bài làm

 

  1. Tara yêu cầu Hudu dừng ngay hành vi lắp đặt dây cáp ngầm cũng như khoan vào lòng đất dưới đáy biển của Tara hoàn toàn phù hợp với quy định của luật quốc tế.

 

Tại vì hành vi “lắp đặt dây cáp ngầm dưới đáy biển” cũng như “khoan vào đáy biển” của Hudu đã vi phạm quy định của luật quốc tế đồng thời xâm phạm đến quyền của Tara tại vùng thềm lục địa, mà không có sự đồng ý của quốc gia này.

 

Trước hết, phải khẳng định vị trí mà Hudu thực hiện các hành vi nêu trên thuộc vùng thềm lục địa của Tara. Thềm lục địa quốc gia ven biển theo Điều 76 Công ước 1982 được xác định:

 

“Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn”. (khoản 1 Điều 76 Công ước luật biển năm 1982)

 

Nếu bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia ven biển cách đường cơ sở chưa tới 200 hải lý thì thềm lục địa của nước đó được tính đến 200 hải lý, tức là đến ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế. Nói cách khác, khi bờ ngoài của rìa lục địa gần hơn, hoặc chỉ cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải một khoảng cách là 200 hải lý (370,4 km) thì ranh giới ngoài của thềm lục địa pháp lý nước này sẽ bằng hoặc mở rộng đến khoảng cách không quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở. Khi bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở và dao động ở khoảng cách từ ngoài giới hạn 200 hải lý ra đến các khoảng cách 250 hải lý; 300 hải lý; 350 hải lý hoặc rộng hơn thế. Thì theo khoản 5 Điều 76 Công ước luật biển 1982 thì thềm lục địa pháp lý mở rộng ngoài giới hạn 200 hải lý kể từ đường cơ sở được tính từ đường ranh giới phía ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, nhưng không được vượt quá 350 hải lý (648,2 km) tính từ đường cơ sở hoặc cách đường thẳng sâu 2500m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý (185,2 km).

 

Như vậy, vị trí mà Hudu lắp đặt dây cáp ngầm cũng như khoan vào đáy biển cách đường cơ sở của Tara 150 hải lý hoàn toàn thuộc vùng thềm lục địa của Tara.

 

Theo quy định tại Điều 79, Công ước 1982 tất cả các quốc gia có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa, tuy nhiên phải tuân theo điều kiện của quốc gia ven biển khi thực hiện quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của quốc gia ven biển. Quốc gia ven biển có thể không đồng ý cho quốc gia khác lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của mình khi việc lắp đặt ấy cản trở việc quốc gia ven biển thực hiện quyền của mình tiến hành những biện pháp hợp lý để thăm dò thềm lục địa và để ngăn ngừa hạn chế và chế ngự ô nhiễm do dây cáp và ống dẫn ngầm gây ra (khoản 2 Điều 79). Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm theo tuyến phải được sự thỏa thuận của quốc gia ven biển ( khoản 3 Điều 79). Điều đó cho thấy, quyền của tất cả các quốc gia lắp đặt dây cáp và ống dẫn ở thềm lục địa của quốc gia ven biển không phải là quyền tự do vô điều kiện.

 

Trong trường hợp này, việc Hudu lắp đặt dây cáp ngầm dưới đáy biển thuộc vùng thềm lục địa của Tara mà không thỏa thuận cũng như không có sự đồng ý của Tara tức là đã xâm phạm đến quyền của Tara tại vùng thềm lục địa; Hành vi lắp đặt dây cáp của Hudu khi không thỏa thuận với Tara là vi phạm quy định của pháp luật quốc tế ( khoản 3 Điều 79 Công ước Luật Biển 1982); Hành vi lắp đạt dây cáp ngầm của Hudu có thể cản trở Tara thực hiện quyền của mình khi tiến hành thăm dò thềm lục địa; đồng thời hành vi này cũng có thể gây ô nhiễm môi trường cho vùng biển của Tara và Tara có quyền bảo vệ môi trường biển ở thềm lục địa của mình (theo quy định tại Điểu 208 Công ước 1982). Vì những lý lẽ trên, quốc gia Tara hoàn toàn có quyền yêu cầu dừng ngay hành vi lắp đặt trái phép của Hudu trên vùng thềm lục địa của Tara.

 

Quốc gia Tara có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất cứ vào mục đích gì theo Điều 81 Công ước Luật Biển 1982: “Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất kỳ vào mục đích gì.” Như vậy, Hudu tiến hành việc khoan 10 mũi khoan lên vùng thềm lục địa của Tara khi không có sự đồng ý của Tara là hành vi trái với quy định của pháp luật quốc tế, đồng thời vi phạm đến đặc quyền của Tara ( Điều 81); Hành vi này cũng có thể gây ô nhiễm cho vùng biển của Tara. Vì vậy, quốc gia Tara có quyền yêu cầu Hudu chấm dứt các hành vi vi phạm của mình.

 

  1. Những quyền Hudu có thể thực hiện trên vùng biển trên của Tara:

 

Hudu cũng như các quốc gia khác hoàn toàn có quyền đối với vùng nước và vùng trời phía trên thềm lục địa của Tara. Việc quy định và thực hiện quyền tài phán của các quốc gia ven biển không làm ảnh hưởng đến quyền tự do của Hudu.

 

– Hudu có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của Tara theo quy định tại Điều 79, Công ước 1982. Tuy nhiên, cũng theo Điều 79 thì Hudu phải tuân theo một số điều kiện mà quốc gia Tara đưa ra khi thực hiện quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của quốc gia ven biển. Trước hết, Tara có thể không đồng ý cho Hudu cũng như các quốc gia khác lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của mình khi việc lắp đặt ấy cản trở việc quốc gia ven biển thực hiện quyền của mình tiến hành những biện pháp hợp lý để thăm dò thềm lục địa và để ngăn ngừa hạn chế và chế ngự ô nhiễm do dây cáp và ống dẫn ngầm gây ra (Khoản 2 Điều 79). Nếu như Hudu tiến hành việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm thì phải theo tuyến đã được sự thỏa thuận  với Tara ( căn cứ vào khoản 3 Điều 79). Những quy định này chứng tỏ rằng quyền của tất cả các quốc gia lắp đặt dây cáp và ống dẫn ở thềm lục địa của quốc gia ven biển không phải là quyền tự do vô điều kiện. Các khoản 2 và 3 của Điều 70 dành quyền quyết định cho quốc gia ven biển. Ngoài ra, theo khoản 5 Điều 79, khi lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm thì Hudu phải tiến hành những biện pháp phòng ngừa cần thiết đối với dây cáp và ống dẫn ngầm đã được lắp đặt từ trước, đặc biết là không làm cho chúng phải sửa chữa lại.

 

– Ngoài ra, Hudu cũng có thể tiến hành việc nghiên cứu khoa học ở thềm lục địa của quốc gia Tara. Theo quy định của công ước thì điều đó về nguyên tắc chỉ có thể xảy ra khi có sự chấp thuận của Tara. Trong những điều kiện bình thường, Tara có thể đồng ý cho Hudu, các nước khác và tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu khoa học ở thền lục địa của mình, nếu việc nghiên cứu này được thực hiện vì mục đích hòa bình và thỏa bãn được các điều kiện khác như công ước quy định. Vì mục đích đó, Tara ban hành các quy tắc, thủ tục và luật lệ để đảm bảo sẽ cho phép trong một thời hạn hợp lý và sẽ không khước từ một cách phi lý (Điều 246 khoản 3).

 

– Hudu có quyền được khoan vào thềm lục địa khi được phép của Tara. Tại vì, theo quy định tại Điều 81 Công ước Luật Biển 1982 thì quốc gia ven biển có đặc quyền  tài phán và quy định việc khoan ở thềm lục địa vào bất kỳ mục đích gì. Điều đó có nghĩa là các quốc gia khác được phép khoan vào thềm lục địa của quóc gia ven biển khi được sự cho phép của quốc gia ve biển và phải tuân thủ quy định do quốc gia ven biển đặt ra. Như vậy, Hudu có thể có quyền khoan vào đáy biển trên vùng thềm lục địa của quốc gia Tara khi được quốc gia này đồng ý và phải tuân thủ quy định mà Tara đã đặt ra.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Ø Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

Ø Thềm lục địa tầm quan trọng và vai trò to lớn đối với kinh tế biển trong cơ chế đổi mới kinh tế của Việt Nam : Luận văn / Đỗ Quang Hưng . – H.: Trường đại học Luật Hà Nội, 1994 .

Ø Giáo trình Luật quốc tế – ĐH Luật Hà Nội 2008 , nxbCAND

Ø Hiến chương liên hơp quốc

Ø Tạp chí luật học số 9/2007

Ø Một số bài viết tham khảo tạp chí khác.

Ø http://www.wikipedia.org/

Ø http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/245/245/245/157756/Default.aspx

Ø https://sites.google.com/site/tuquivabiendong/khainiemcoban/themlucdia-1

HIỆP ƯỚC HỢP TÁC CHỐNG KHỦNG BỐ – BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

ĐỀ BÀI

 

TH9. Các quốc gia A, B, C và D là thành viên của Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế. Ngày 11/4/2004 các nước này đã ký Hiệp ước hợp tác chống khủng bố” trong đó cho phép các quốc gia thành viên được áp dụng mọi biện pháp đểvô hiệu hóa tất cả các hoạt động khủng bố, kể cả áp dụng hình phạt tử hình. Hiệp ước này yêu cầu phải phê chuẩn và có cho phép bảo lưu.

 

Quốc gia A ngay khi ký Hiệp ước đã đưa ra bảo lưu đối với điều khoản áp dụng biện pháp tử hình. Sau đó, ngày 19/11/2004, cả 3 quốc gia A, B và C đã phê chuẩn Hiệp ước mà không có bảo lưu (quốc gia A khi ký có bảo lưu nhưng khi phê chuẩn không nhắc lại bảo lưu đó). Quốc gia D đã gửi kèm văn kiện phê chuẩn một tuyên bố bảo lưu: “Các điều khoản củaHiệp ước ràng buộc quốc gia D, trừ điều khoản áp dụng biện pháp  tử hình”. Quốc gia C phản đối bảo lưu này của quốc gia D và tuyên bố hai bên không có quan hệ điều ước. Quốc gia B cũng phản đối bảo lưu nhưng không phản đối Hiệp ước có hiệu lực giữa quốc gia B và D.  Quốc gia A im lặng.

 

Hãy phân tích và xác định hiệu lực của Hiệp ước hợp tác chống khủng bố và điều khoản áp dụng biện pháp tử hình trong mối quan hệ giữa bốn quốc gia A, B, C, D.

 

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

 

I – LÍ LUẬN CHUNG

 

Theo quy định tại Công ước Viên về Luật Điều ước ngày 23 tháng 5 năm 1969

 

Bảo lưu : “ Bảo lưu” là một tuyên bố đơn phương với bất kì cách diễn đạt hoặc tên gọi nào, được quốc gia đưa ra khi kí, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập một điều ước, nhằm loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực pháp lí của một số điều khoản nhất định của điều ước khi áp dụng đối với quốc gia đó.

 

Khi một quốc gia thành viên của điều ước quốc tế tuyên bố bảo lưu một hay một số điều khoản trong điều ước và việc bảo lưu đó là hợp pháp, thì việc chấp thuận hay phản đối tuyên bố bảo lưu đó của các quốc gia thành viên khác sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lí nhất định, được quy định tại Điều 23, Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969 như sau: “1. Một bảo lưu đề … bảo lưu đó đề ra.”

 

II – GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

 

Trước hết, trường hợp quốc gia A khi ký có đưa ra bảo lưu đối với điều khoản áp dụng biện pháp tử hình nhưng ngay sau đó, ngày 19/11/2004, A lại phê chuẩn Hiệp ước mà không có bảo lưu. Do đó, việc bảo lưu của quốc gia A khi ký không có giá trị pháp lý và quốc gia A qua việc phê chuẩn, đã chấp nhận chịu sự ràng buộc của Điều ước (Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế).

 

Xét trường hợp tuyên bố bảo lưu và văn kiện phê chuẩn một tuyên bố bảo lưu của quốc gia D là hợp pháp, do đó việc chấp thuận, phản đối của các quốc gia thành viên còn lại của điều ước quốc tế về vấn đề Không áp dụng biện pháp tử hình sẽ làm phát sinh các hậu quả pháp lý nhất định. Dựa vào các căn cứ pháp lí nêu trên, ta thấy quan hệ điều ước giữa các quốc gia thay đổi như sau:

 

  1. Căn cứ theo khoản 5 Điều 20 Công ước Viên 1969,chấp nhận và phản đối bảo lưu:” Theo qui định tại các khoản 2 và 4 và trừ khi điều ước có qui định khác, một bảo lưu coi như được quốc gia khác chấp thuận nếu quốc gia này không đưa ra phản đối bảo lưu trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày nhận được thông báo về bỏa lưu hoặc vào ngày quốc gia này biểu thị đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của điều ước, nếu thời hạn 12 tháng nêu trên đã chấm dứt” và điểm a Khoản 4 Điều 20 “Việc chấp thuận một bảo lưu của một quốc gia kí kết khác sẽ làm cho quốc gia đưa ra bảo lưu trở thành một thành viên của điều ước này trong quan hệ với quốc gia kí kết khác nêu trên, nếu hoặc khi điều ước đó có hiệu lực đối với các quốc gia đó”.

 

Xét việc trước hành động bảo lưu của quốc gia D, quốc gia A im lặng và sau 12 tháng xem như Quốc gia A chấp thuận bảo lưu của quốc gia D về văn kiện phê chuẩn một tuyên bố bảo lưu. Vì vậy giữa quốc gia A và quốc gia D vẫn tồn tại quan hệ điều ước quốc tế về chống khủng bố, theo đó, quốc gia D sẽ Không áp dụng biện pháp tử hình và tương tự, quốc gia A cũng sẽ không áp dụng biện pháp tử hình để vô hiệu hóa tất cả các hoạt động khủng bố ở nước mình.

 

  1. Căn cứ vào điểm b Khoản 4 Điều 20 Công ước viên 1969 “ Việc phản đối một bảo lưu của một quốc gia kí kết khác không cản trở việc điều ước này có hiệu lực giữa quốc gia phản đối bảo lưu và quốc gia đưa ra bảo lưu, trừ khí quốc gia phản đối bảo lưu đã biểu thị ý định và ngược lại”.

 

– Quốc gia C phản đối bảo lưu của quốc gia D và tuyên bố giữa hai quốc gia sẽ không có quan hệ điều ước, do đó giữa C và D không tồn tại quan hệ điều ước về hợp tác chống khủng bố.

 

– Quốc gia B phản đối nhưng không phản đối Hiệp ước có hiệu lực giữa quốc gia B và D. Như vậy giữa B và D vẫn tồn tại quan hệ điều ước tuy nhiên điều khoản bảo lưu cũng như văn kiện phê chuẩn tuyên bố bảo lưu đi kèm của D thì không được áp dụng.

 

– Giữa các quốc gia A, B, C vẫn tồn tại quan hệ điều ước như đã thỏa thuận vì giữa các quốc gia này không có bảo lưu ( khoản 2 Điều 20 Công ước Viên 1969): quốc gia thành viên sẽ áp dụng việc áp dụng mọi biện pháp để vô hiệu hóa tất cả các hoạt động khủng bố, kể cả áp dụng hình phạt tử hình.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Công ước Viên về Luật Điều ước ngày 23 tháng 5 năm 1969
  2. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. CAND, Hà Nội 2007.
  3. Khoa luật – đại học quốc gia, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. ĐHQG, Hà Nội, 1997.
  4. Lê Mai Anh và Trần Văn Thắng, Luật quốc tế – Lí luận và thực tiễn, Nxb. Giáo dục, Hà nội, 2001.
  5. Các văn bản công pháp quốc tế và văn bản pháp luật Việt Nam có liên quan, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2006.
  6. http://www.un.org

PHÂN TÍCH NỘI DUNG VÀ NGOẠI LỆ CỦA MỘT TRONG BẢY NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT QUỐC TẾ – BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế giữ một vai trò quan trọng trong việc ổn định quan hệ quốc tế (QHQT) và ấn định khuôn khổ xử sự cho các chủ thể trong QHQT. Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pact sunt servanda) hiện là một trong bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay.

 

  1. Nội dung của nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda)

 

Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế được hiểu là khi các bên chủ thể trong quan hệ quốc tế tham gia vào ký kết các Điều ước quốc tế (ĐƯQT) thì phải trên cơ sở của sự thỏa thuận và tự nguyện bình đẳng. Đồng thời, khi đã tham gia vào ĐƯQT đó các quốc gia phải có nghĩa vụ tuân thủ nội dung mà mình đã cam kết.

 

Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế xuất hiện rất sớm từ thời La mã cổ đại và tồn tại hàng ngàn năm dưới dạng tập quán pháp lý quốc tế (Pacta sunt servanda) trước khi được ghi nhận trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương ngày nay. Nguyên tắc này được ghi nhận chính thức tại khoản 2 Điều 2 của Hiến chương Liên hợp quốc 1945; Công ước Viên năm 1969 và Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế năm 1970.

 

 

Theo các văn kiện pháp lý quốc tế nêu trên, nguyên tắc này bao gồm các nội dung chính sau:

 

– Mọi quốc gia đều có nghĩa vụ thực hiện tự nguyện, có thiện chí, trung thực và đầy đủ các nghĩa vụ ĐƯQT của mình. Điều này xuất phát từ việc các quốc gia tiến hành thực hiện các cam kết do chính mình đưa ra (cam kết đơn phương). (VD: Việt Nam đưa ra tuyên bố không bán phá giá mặt hàng da giày, thì cam kết này chỉ phát sinh nghĩa vụ với chính quốc gia VN); cam kết song phương giữa hai quốc gia, hai chủ thể của luật quốc tế; hoặc cam kết đa phương được tiến hành bởi nhiều chủ thể LQT (như Hiến chương LHQ 1945 làm phát sinh nghĩa vụ đối với các quốc gia thành viên…).

 

– Mọi quốc gia phải tuyệt đối tuân thủ việc thực hiện nghĩa vụ điều ước quốc tế, tuân thủ một cách triệt để, không do dự. Điều này có nghĩa là điều ước quốc tế phải được thực hiện triệt để, không phụ thuộc vào các sự kiện trong và ngoài nước. Các sự kiện khách quan xảy ra như: thay đổi chính phủ, sự thay đổi hình thức quản lý hay chế độ xã hội, biểu tình, thiên tai, sự thay đổi lãnh thổ, sự thay đổi hoàn cảnh quốc tế không thể là lý do để quốc gia không thực hiện điều ước quốc tế. VD: Việt Nam và Trung Quốc có kí kết một điều ước về việc xác lập ranh giới lãnh hải giữa hai quốc gia. Giả sử Trung Quốc có sự thay đổi chế độ từ XHCN sang TBCN cũng không làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ thực hiện điều ước đã ký giữa hai quốc gia.

 

– Các quốc gia thành viên ĐƯQT không được viện dẫn các quy định của pháp luật trong nước để coi đó là nguyên nhân và từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình. Yêu cầu này được coi là một bộ phận không tách rời của nguyên tắc Pacta sunt servanda và được quy định trong Điều 27 Công ước viên năm 1969. VD: Việt Nam và Thái Lan ký kết điều ước về dẫn độ người nước mình phạm tội trên lãnh thổ nước bạn. Như vậy, việc Việt Nam không đồng ý trả người cho Thái Lan vì lí do tội của người này được quy định trong Luật hình sự Việt nam, phải do Nhà nước Việt Nam xử lý là trái với ĐƯQT về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết.

 

– Các quốc gia không có quyền ký kết ĐƯQT mâu thuẫn với nghĩa vụ của mình được quy định trong điều ước quốc tế hiện hành mà quốc gia ký kết hoặc tham gia ký kết trước đó với các quốc gia khác. VD: khi Việt Nam tham gia ký kết điều ước quốc tế ở ASEAN thì không được trái với Hiến chương Liên hợp quốc mà Việt Nam đã ký kết trước đó.

 

– Không cho phép các quốc gia đơn phương ngừng thực hiện và xem xét lại ĐƯQT. Hành vi này chỉ được thực hiện với phương thức đình chỉ và xem xét hợp pháp theo sự thỏa thuận của các bên là thành viên điều ước. VD: Khi Việt Nam tham gia vào ký kết ĐƯQT với WTO. Trong quá trình hoạt động, nếu thấy một điều khoản nào đó không hợp lý thì Việt Nam không được đơn phương ngừng thực hiện và xem xét lại ĐƯQT đó. Việt Nam chỉ được đình chỉ và xem xét dưới sự đồng ý của các thành viên khác.

 

– Việc cắt đứt quan hệ ngoại giao hay quan hệ lãnh sự giữa các nước thành viên của ĐƯQT không làm ảnh hưởng đến các quan hệ pháp lý phát sinh giữa các quốc gia này, trừ trường hợp các quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự này là cần thiết cho việc thực hiện điều ước (Điều 63 Công ước Viên 1969). VD: Nga cắt đứt quan hệ lãnh sự với Mỹ vì cho rằng các thành viên lãnh sự Mỹ hoạt động gián điệp trên lãnh thổ Nga. Tuy nhiên, điều này không ảnh hưởng đến quan hệ pháp lý phát sinh giữa Nga và Mỹ trong việc thực hiện ĐƯQT được quy định tại Hiến chương LHQ.

 

Như vậy, chính thỏa thuận là cơ sở làm phát sinh nghĩa vụ điều ước và thực hiện nghĩa vụ cam kết chính là tôn trọng những thỏa thuận đã đạt được giữa các bên. Nguyên tắc Pacta sunt servanda chỉ được áp dụng đối với các ĐƯQT có hiệu lực, tức là đối với những điều ước được ký kết một cách tự nguyện trên cơ sở bình đẳng. Bất kì một điều ước nào bất bình đẳng cũng đều xâm phạm chủ quyền quốc gia và Hiến chương LHQ.

 

  1. Ngoại lệ của nguyên tắc Pacta sunt servanda

 

Luật quốc tế đòi hỏi các quốc gia thực hiện tận tâm, có thiện trí và đầy đủ các nghĩa vụ của điều ước. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chịu sự tác động khác nhau của các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến hiệu lực của điều ước thì nguyên tắc này cũng cho phép các quốc gia có thể không phải thực hiện ĐƯQT mà mình là thành viên:

 

Thứ nhất, các quốc gia không phải thực hiện ĐƯQT nếu trong quá trình ký kết các bên có sự vi phạm pháp luật quốc gia về thẩm quyền và thủ tục ký kết. VD: Theo pháp luật Việt Nam, ĐƯQT chỉ được ký với 2 danh nghĩa nhà nước và chính phủ. Nếu điều ước nào được ký với danh nghĩa của các bộ, ngành… không được coi là một ĐƯQT (chẳng hạn như: các thỏa thuận hợp tác giữa trường Đại học Luật Hà Nội với Đại học Luật Bắc Kinh không phải ĐƯQT…).

 

Thứ hai, khi ĐƯQT có nội dung trái với Hiến chương Liên hợp quốc, trái với các nguyên tắc và quy phạm được thừa nhận rộng rãi của luật quốc tế. VD: 2 quốc gia ký kết một điều ước quốc tế có nội dung thiết lập chính sách nhằm phân biệt đối xử giữa các sắc tộc khác nhau…

 

Thứ ba, khi có sự vi phạm nghiêm trọng của một bên cam kết thì bên còn lại có quyền từ chối thực hiện, vì nghĩa vụ theo ĐƯQT chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại nhằm đảm bảo sự bình đẳng về quyền lợi giữa các bên kí kết. Một bên kí kết có quyền viện dẫn sự vi phạm của bên kí kết khác để chấm dứt hoặc tạm đình chỉ việc thực hiện hiệu lực của toàn bộ hay một phần điều ước đã kí kết. Trong trường hợp các bên đã thỏa thuận về việc hủy bỏ hoặc tạm đình chỉ hiệu lực thi hành của điều ước thì chủ thể kết ước có quyền hành động theo thỏa thuận trong điều ước đó.

 

Thứ tư, khi xuất hiện điều khoản Rebus-sic-stantibus (điều khoản về sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh) dẫn đến các bên không thể tiếp tục thực hiện được điều ước quốc tế (Điều 62 Công ước Viên 1969). Khi xuất hiện điều khoản này, các quốc gia có thể viện dẫn để thực hiện 1 trong 3 hành vi sau:

 

– Chấm dứt hiệu lực của ĐƯQT. Hành vi này làm mất hoàn toàn hiệu lực của ĐƯQT.

 

– Tạm đình chỉ hiệu lực của ĐƯQT. Hành vi này chỉ tạm thời làm mất hiệu lực của ĐƯQT.

 

– Rút khỏi quan hệ ĐƯQT. Hành vi này không làm chấm dứt hiệu lực hoàn toàn của ĐƯQT. ĐƯQT chỉ mất hiệu lực với quốc gia viện dẫn điều khoản Rebus-sic-stantibus, nó vẫn có hiệu lực đối với các quốc gia thành viên khác của điều ước.

 

+ Hoàn cảnh bị thay đổi được ghi nhận trong điều 62 Công ước Viên 1969 phải là cơ sở chủ yếu tạo nên sự thỏa thuận của các bên; hoàn cảnh này các bên không thể thấy trước (dự liệu trước) vào thời điểm ký kết ĐƯQT.

 

+ Sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh được hiểu là: hoàn cảnh đó bị xáo trộn lớn đến mức làm biến đổi một cách cơ bản phạm vi của những nghĩa vụ mà các bên vẫn còn phải thi hành theo điều ước. Sự thay đổi này vượt ra khỏi tầm kiểm soát của các bên. Các bên không thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình trong quan hệ điều ước. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh sẽ không thể được nêu lên làm lý do để chấm dứt hoặc rút khỏi quan hệ điều ước nếu đó là điều ước liên quan đến việc thiết lập biên giới quốc gia; hoặc sự thay đổi đó là kết quả của một sự vi phạm nghiêm trọng của chính bên nêu lên nó. Trong trường hợp này, bên còn lại có thể viện dẫn chính điều khoản Rebus-sic-stantibus để giải thoát mình khỏi các nghĩa vụ trong cam kết mà không bị coi là vi phạm nguyên tắc Pacta sunt servanda. Tuy nhiên, việc áp dụng điều khoản Rebus-sic-stantibus phải được thông báo cho bên kia biết.

 

Ngoài ra, hiệu lực thi hành một phần hay toàn bộ điều ĐƯQT có thể bị tác động bởi việc thực hiện các hành vi hợp pháp của chủ thể kí kết, như hành vi bảo lưu điều ước, hành vi thực hiện quyền kế thừa của chủ thể luật quốc tế trong giải quyết các vấn đề kế thừa quốc gia, chính phủ.

 

Có thể nói nguyên tắc Pacta sunt servanda có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thế giới ngày nay, vì trong quan hệ quốc tế không tồn tại bộ máy hoàn toàn thực hiện chức năng cưỡng chế tuân thủ QPPL quốc tế, mà việc thực hiện nó phụ thuộc trước hết và chủ yếu vào thiện chí và tính tự giác của các bên chủ thể. Bên cạnh nguyên tắc này thì sáu nguyên tắc cơ bản còn lại, mỗi nguyên tắc lại chiếm một vai trò quan trọng khác nhau trong mối quan hệ quốc tế.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân, 2004.
  2. TS. Trần Văn Thắng-ThS.Lê Mai Anh, Luật quốc tế và lí luận thực tiễn, Nxb giáo dục.
  3. http://www.wattpad.com/116008-Chuong-2-cac-nguyen-tac-co-Ban?p=5
  4. Các văn bản Công pháp quốc tế và văn bản pháp luật Việt Nam có liên quan, Nxb Chính trị quốc gia, 2006.

BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ – BÌNH LUẬN VỀ CÁC HÀNH VI DO QUỐC GIA TUNYZA VÀ BRAVIA

Đề bài:

 

Năm 1995, hai quốc gia Tunyza và Bravia ký kết Hiệp ước phân định biên giới trong đó thoả thuận sẽ thiết lập khu vực phi quân sự có chiều rộng 10 km tính từ đường biên giới trở vào lãnh thổ mỗi bên. Ngày 16/8/2011, quốc gia Tunyza tập trung hàng nghìn binh sĩ để chuẩn bị cho cuộc tập trận sát dọc tuyến biên giới giữa Tunyza và Bravia. Chính quyền Tunyza cho rằng cuộc tập trận này mang tính chất phòng thủ và diễn ra hàng năm. Trong khi đó, chính quyền Bravia lại cho rằng đây là một hành động vi phạm Hiệp ước phân định biên giới đã ký, có tính chất khiêu khích quân sự và đe doạ sự toàn vẹn lãnh thổ của Bravia.

 

Để phản đối hành động này, ngày 17/8/2011, Bravia đã gửi tối hậu thư yêu cầu Tunyza rút quân ngay lập tức ra khỏi khu vực biên giới giữa hai quốc gia và đe doạ sẽ sử dụng quân đội để tấn công nếu Tunyza không rút quân. Bất chấp lời cảnh báo của Bravia, Tunyza vẫn không tiến hành rút quân. Trước thái độ của Tunyza, Bravia đã dùng đạn pháo về phía Tunyza làm thiệt mạng nhiều dân thường và binh sĩ của Tunyza.

 

Hãy bình luận về các hành vi do quốc gia Tunyza và Bravia thực hiện trên cơ sở các quy định của luật quốc tế

Bài làm

 

Với những dữ kiện đưa ra từ tình huống có thể kết luận cả hai quốc gia Tunyza và Bravia đều có hành vi vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật Quốc tế

Thứ nhất, hành vi của cả 2 quốc gia đều vi phạm nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực

– Về phía Tunyza:

Năm 1995, hai quốc gia Tunyza và Bravia ký kết Hiệp ước phân định biên giới trong đó thoả thuận sẽ thiết lập khu vực phi quân sự có chiều rộng 10 km tính từ đường biên giới trở vào lãnh thổ mỗi bên. Khu vực phi quân sự là khu vực, biên giới hoặc ranh giới nằm giữa hai hay nhiều lực lượng quân sự đối lập mà tại đó hoạt động quân sự không được phép tiến hành. Tuy nhiên, vào ngày 16/8/2011, quốc gia Tunyza tập trung hàng nghìn binh sĩ để chuẩn bị cho cuộc tập trận sát dọc tuyến biên giới giữa Tunyza và Bravia. Theo Tuyên bố của Đại hội đồng Liên Hợp quốc năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ hợp tác giữa các quốc gia đã quy định “mọi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm vi phạm các đường ranh giới quốc tế như giới tuyến ngừng bắn, được thiết lập bằng bởi một thỏa thuận quốc tế mà quốc gia đó là một bên, hoặc tương tự như vậy, có nghĩa vụ phải tuân thủ”. Khái niệm vũ lực còn bao hàm cả việc quốc gia này sử dụng lực lượng vũ trang không nhằm tấn công xâm lược quốc gia khác nhưng để gây sức ép, đe dọa quốc gia khác. Như vậy hành vi tập trận sát biên giới của Tunyza được coi là hành động đe dọa dùng vũ lực, vi phạm nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế

– Về phía Bravia:

Để phản đối hành động này, ngày 17/8/2011, Bravia đã gửi tối hậu thư yêu cầu Tunyza rút quân ngay lập tức ra khỏi khu vực biên giới giữa hai quốc gia và đe doạ sẽ sử dụng quân đội để tấn công nếu Tunyza không rút quân. Tiếp sau đó, trước thái độ bất hợp tác của Tunyza, Bravia đã dùng đạn pháo về phía Tunyza làm thiệt mạng nhiều dân thường và binh sĩ của Tunyza. Ở đây, sự phản ứng của Bravia gồm 2 hành vi “gửi tối hậu thư” và “bắn đạn pháo”. Như phân tích ở trên hành động “gửi tối hậu thư” đe dọa quốc gia khác cũng được coi là hành vi “đe dọa dùng vũ lực”, không phù hợp với hiến chương Liên hợp quốc. Hiến chương cũng chỉ quy định hai trường hợp sử dụng hợp pháp lực lượng vũ trang vào mục đích tự vệ và theo quyết định của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc khi có đe dọa hòa bình, xâm phạm hòa bình hoặc bị xâm lược. hành sử dụng vũ trang để tự vệ chỉ được coi là “hợp pháp” khi một quốc gia bị quốc gia khác tấn công vũ trang. Trong trường hợp này, Bravia đã có hành động “bắn đạn pháo” khi Tunyza chưa có hành động tấn công vũ trang nào. Như vậy, hành động “bắn đạn pháo” từ phía Bravi được coi là hành vi “dùng vũ lực”, vi phạm nguyên tắc cơ bản của luật Quốc tế.

Thứ hai, hành vi bắn đạn pháo của Bravi về phía Tunyza đã vi phạm nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế

Tranh chấp quốc tế luôn xảy ra trong các hoàn cảnh cụ thể, khi mà các chủ thể luật Quốc tế có những quan điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn nhau và có những yêu cầu, hay đòi hỏi cụ thể không thể thống nhất được. Tuyên bố 1970 đã quy định: “Tất cả các quốc gia sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế với những quốc gia khác bằng các biện pháp hòa bình…”. Bên cạnh đó, Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc đã đưa ra những biện pháp hòa bình mà các bên có thể lựa chọn khi xảy ra tranh chấp quốc tế. Khi xảy ra tranh chấp, các bên có quyền tự do lựa chọn các biện pháp giải quyết theo điều 13 để giải quyết tranh chấp sao cho hiệu quả nhất nhưng bắt buộc phải tuân thủ nguyên tắc và cơ sở luật Quốc tế

Như vậy, hành vi của Bravi không nằm trong các biện pháp được quy định tại điều 33 và vi phạm nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế

Thứ ba, hành động không tuân thủ đúng Hiệp định phân định biên giới đã ký với Bravia của Tunyza đã vi phạm nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế

Khoản 2 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc quy định “ tất cả các thành viên liên hợp quốc thiện chí thực hiện các nghĩa vụ do Hiến chương đặt ra”. Bên cạnh đó, Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế cũng đã khẳng định “mỗi điều ước quốc tế hiện hành đều ràng buộc các bên tham gia và đều được các bên thực hiện một cách thiện chí”

Bravia và Tunyza đã kí với nhau Hiệp định phân định biên giới năm 1995 một cách tự nguyện, trên cơ sở bình đằng, và tại thời điểm ngày 16/8/2011, điều ước đã phát sinh và đang còn hiệu lực. Trường hợp của Tunyza không nằm trong các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc đã được quy định. Như vậy cả hai bên phải có nghĩa vụ tuân thủ theo đúng những quy định của điều ước. Hành vi tập trận sát biên giới của Tunyza đã vi phạm thoả thuận trong Hiệp ước với Bravia, đã có sự vi phạm trong việc thực thi điều ước đồng thời vi phạm nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007.
2. Lê Mai Anh và Trần Văn Thắng, Luật quốc tế – Lí luận và thực tiễn, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001.
3. ThS. Nguyễn Thị Kim Ngân – ThS. Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên), Giáo trình Luật quốc tế, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2010.
4. Chủ biên Nguyễn Trung tín, PHS.PTS Nguyễn Đăng Dung Lê Mai Thanh, Nguyễn Hoàng Vân, Tìm hiểu luật quốc tế, Nxb đồng nai
5. TS.Nguyễn Thị Thuận, Luật Quốc tế – Những điều cần biết, Nxb CAND, Hà Nội 2010
 

BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ – HIỆP ĐỊNH PHÂN ĐỊNH VÙNG ĐÁNH BẮT CÁ VÀ KHAI THÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN SÔNG BIẾN GIỚI MAIKI

Đề bài:

 

Tháng 9/1945, Minotta trao trả nền độc lập cho nhân dân các vùng lãnh thổ thuộc địa của Minotta là X, Y, Z, Bêta và Gamma. Tháng 12/1945, ba nước X, Y, Z quyết định hợp nhất và ký Hiệp định về việc thành lập Liên bang Anpha gồm 3 bang là X, Y, Z nhằm mục đích tăng cường sức mạnh chính trị và phát triển kinh tế. Điều 2 Hiệp định thành lập Liên bang khẳng định “Anpha với tư cách là Nhà nước liên bang là chủ thể trong mọi quan hệ pháp luật quốc tế của Anpha”.

Tháng 9/1980, bang X ký kết Hiệp định về phân định vùng đánh bắt cá và khai thác hoạt động du lịch trên sông biên giới Maiki với quốc gia Bêta. Quốc hội của bang X đã thông qua Hiệp định và Quốc hội của Bêta đã phê duyệt Hiệp định. Theo quy định của Hiệp định, Hiệp định có hiệu lực ngày 16/2/1981.

Tháng 2/1981. Anpha gửi Công hàm cho Bê ta khẳng định hiệp định ký kết không đúng thẩm quyền theo pháp luật của Anpha vì vậy Hiệp định vô hiệu theo quy định của Luật Quốc tế. Tuy nhiên Bê ta khẳng định X đã ký kết Hiệp định với tư cách một bang của Anpha. X cũng khẳng định, X có đủ thẩm quyền ký kết Hiệp định vì theo quy định của Hiến pháp liên bang Anpha “Các bang thuộc liên bang có thẩm quyền ký kết các thỏa thuận quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp, giao thông và du lịch”

Hãy xác định hiệu lực của Hiệp định phân định vùng đánh bắt cá và khai thác hoạt động du lịch trên sông biến giới Maiki? Cho biết các cơ sở pháp lý để xác định hiệu lực đó và giải thích?

 

Bài làm

 

Thứ nhất, có thể khẳng định Hiệp định phân định vùng đánh bắt cá và khai thác hoạt động du lịch trên sông Maiki giữa bang X và quốc gia Bêta bị vô hiệu.

Ba nước X, Y, Z quyết định hợp nhất và ký Hiệp định về việc thành lập Liên bang Anpha gồm 3 bang là X, Y, Z nhằm mục đích tăng cường sức mạnh chính trị và phát triển kinh tế. Có thể thấy, X, Y, Z là 3 bang cấu thành nên Liên bang Anpha. Tình hình an ninh, chính trị, kinh tế của mỗi bang đều ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình của Liên bang. Vì vậy, trước những vấn đề liên quan trực tiếp đến tình hình chung, Liên bang Anpha hoàn toàn có quyền được tham gia quyết định

Theo dữ kiện của đề bài, Hiệp định phân định vùng đánh bắt cá và khai thác hoạt động du lịch được tiến hành tại sông biên giới Maiki. Đây được coi là biên giới tự nhiên thuộc biên giới trên bộ theo quy định của Luật Quốc tế. Theo đó, quy chế qua lại của người, phương tiện, hàng hóa hoạt động ở khu vực biên giới, quy chế sử dụng nguồn nước, sử dụng sông suối biên giới, khai thác tài nguyên ở vùng biên giới… đều thuộc chế độ pháp lý của biên giới quốc gia. Cũng căn cứ vào pháp luật Quốc tế, về nguyên tắc, những vấn đề biên giới lãnh thổ là thẩm quyền của các cơ quan nhà nước cấp trung ương . Quy định trên xuất phát từ tầm quan trọng của biên giới đối với vấn đề an ninh chính trị, kinh tế, xã hội…của một quốc gia. Điều 2 Hiệp định thành lập Liên bang khẳng định “Anpha với tư cách là Nhà nước liên bang là chủ thể trong mọi quan hệ pháp luật quốc tế của Anpha”. Như vậy, Liên bang Anpha hoàn toàn có đầy đủ điều kiện để tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế, cụ thể là Liên bang Anpha hoàn toàn có tư cách chủ thể để tham gia kí kết Hiệp định. Việc bang X viện dẫn quy định của Hiến pháp liên bang Anpha “Các bang thuộc liên bang có thẩm quyền ký kết các thỏa thuận quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp, giao thông và du lịch” là không chính xác. Nếu như đây là một hiệp định hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp, giao thông và du lịch bình thường và được thực hiện ở một khu vực khác ngoài khu vực biên giới lãnh thổ thì bang X hoàn toàn có thẩm quyền ký kết theo quy định của Hiến pháp Liên bang. Tuy nhiên, Hiệp định trên lại được ký kết và thống nhất thực hiện tại khu vực sông biên giới giữa bang X và quốc gia Bêta – khu vực hết sức nhạy cảm có khả năng ảnh hưởng đến an ninh chính trị, kinh tế, xã hội của toàn liên bang. Cho dù hiệp định trên có hay không có khả năng ảnh hưởng đến tình hình chính trị, an ninh, xã hội thì việc bang X tự ý kí với quốc gia Bêta mà không thông qua Liên bang Anpha là hoàn toàn sai thẩm quyền. Như vậy, Hiệp định phân định vùng đánh bắt các và khai thác hoạt động du lịch trên sông Maika giữa bang X và quốc gia Bê ta không có hiệu lực do sai về thẩm quyền kí kết và nội dung kí kết theo quy định của Luật quốc tế.

Thứ hai, căn cứ pháp lý dùng để xác định hiệu lực ở đây có thể căn cứ vào nguyên tắc chung của luật Quốc tế và Hiến pháp Liên Bang.

Điều 2 Hiến pháp quy định “Anpha với tư cách là Nhà nước liên bang là chủ thể trong mọi quan hệ pháp luật quốc tế của Anpha”. Như vậy, Liên bang có tư cách tham gia mọi quan hệ quốc tế liên quan đến Anpha

Hiến pháp Liên bang cũng quy định: “Các bang thuộc liên bang có thẩm quyền ký kết các thỏa thuận quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp, giao thông và du lịch” Như vậy, các bang chỉ có quyền tự mình tham gia kí kết các thỏa thuận quốc tế trong các lĩnh vực trên, còn đối với những vấn đề liên quan đến biên giới quốc gia thì bang X không có quyền tự quyết định mà không thông qua Liên bang.

Bên cạnh đó nguyên tắc chung đối với quy chế pháp lý của viên giới quốc gia trong luật quốc tế cũng quy định, việc giải quyết các vấn đề liên quan đến quy chế này thuộc thẩm quyển của cơ quan nhà nước cấp trung ương và các vấn đề liên quan đến phân định biên giới luôn được thực hiện giữa hai quốc gia thông qua một hiệp định , cụ thể ở đây là Liên bang Anpha sẽ là chủ thể đứng ra kí kết và thực hiện các vấn đề trên.

BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ – ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

ĐỀ SỐ 3: Năm 1999, quốc gia Alpha gửi cho quốc gia Bêta một văn kiện ngoại giao trong đó đưa ra đề nghị hoạch định biên giới giữa lãnh thổ của Alpha với vùng lãnh thổ Grama mà Bêta đang giữ vai trò đại diện trong quan hệ quốc tế (Grama là thuộc địa của Bêta). Trong văn kiện đó, Alpha nêu rõ nguyên tắc, cách thức hoạch định và có bản đồ hoạch định đính kèm. Trong văn kiện trả lời, Bêta bày tỏ quan điểm đồng ý với đề nghị của Alpha. Hai quốc gia cũng đã tổ chức họp báo để thông báo chính thức về nội dung thỏa thuận. Năm 2002, Grama tách ra khỏi Bêta và tuyên bố trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Grama cho rằng thỏa thuận qua các văn kiện ngoại giao giữa Alpha và Bêta không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên. Hơn nữa, nếu thỏa thuận năm 1999 là điều ước quốc tế thì với tư cách là quốc gia mới giành được độc lập, Grama không phải thực hiện các điều ước quốc tế mà Bêta đã đại diện ký kết trước đó. Hãy cho biết:

 

– Thỏa thuận giữa Alpha và Bêta trong tình huống nêu trên có phải là điều ước quốc tế hay không? Vì sao?

 

– Sau khi trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền, Grama có phải thực hiện thỏa thuận mà Bêta đã ký với Alpha hay không? Vì sao?

 

BÀI LÀM

 

  1. Thỏa thuận giữa Alpha và Bêta trong tình huống nêu trên có phải là điều ước quốc tế hay không? Vì sao?

 

Theo điểm a, khoản 1, điều 2 Công ước Viên về luật điều ước quốc tế (1969) thì “thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”.

 

Đồng thời, điều 11 Công ước Viên 1969 cũng quy định: “Việc một quốc gia đồng ý chịu sự ràng buộc của một điều ước có thể biểu thị bằng việc ký, trao đổi các văn kiện của điều ước phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập hoặc bằng mọi cách khác được thỏa thuận”.

 

Để xác định thỏa thuận giữa quốc gia Alpha và quốc gia Bêta có phải là điều ước hay không, ta có thể xét đến đặc trưng về mặt hình thức của điều ước quốc tế. Ta có thể khẳng định rằng, điều ước quốc tế tồn tại chủ yếu dưới hình thức văn bản, nhưng bên cạnh đó còn có điều ước quân tử tồn tại dưới dạng bất thành văn.  Như vậy, theo như  điều ước quân tử thì điều ước quốc tế không nhất thiết phải tồn tại dưới dạng văn bản. Cũng theo định nghĩa về thuật ngữ “điều ước” quy định tại điểm a, khoản 1, điều 2 Công ước viên 1969 thì điều ước quốc tế không phụ thuộc vào tên gọi của văn bản thỏa thuận này.

Hơn nữa, vùng lãnh thổ Grama đã được quốc gia Alpha khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế, ta có thể hiểu là từ trước năm 1999, Grama đã và đang là “thuộc địa” của quốc gia Alpha và Alpha là quốc gia “bảo hộ”, vì vậy vùng lãnh thổ Grama phải tuân thủ theo những cam kết mà Alpha đã ký. Như vậy, thỏa thuận giữa quốc gia Alpha với quốc gia Bêta về việc hoạch định biên giới giữa lãnh thổ của quốc gia Bêta với vùng lãnh thổ Grama mà quốc gia Alpha đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế hoàn toàn có thể là điều ước quốc tế.

 

  1. Sau khi trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền, Grama có phải thực hiện thỏa thuận mà Bêta đã ký với Alpha hay không? Vì sao?

 

Theo tiến sĩ Kaikobad (1983): “Quy tắc chung của luật quốc tế tập quán về vấn đề này là, về nguyên tắc, khi kế thừa từ người tiền nhiệm: quốc gia hưởng không hơn và không kém lãnh thổ đó”.

 

Hội nghị lần thứ 53 năm 1968 của Hội Luật gia quốc tế đã thông qua nghị quyết về sự kế thừa của các quốc gia mới: “Khi một hiệp định quy định việc phân định biên giới quốc gia giữa hai quốc gia đã được thực hiên, theo đó đường biên giới đã được hình thành thì không cần phải làm gì thêm nữa … và phạm vi lãnh thổ quốc gia cũng đã được xác lập”.

 

Điều 11 Công ước Viên về kế thừa nhà nước 1978 quy định “Sự kế thừa quốc gia không ảnh hưởng tới:

 

  1. a) một đường biên giới đã được xác định bởi một hiệp định; hay
  2. b) các nghĩa vụ và quyền được xác định bởi một hiệp định liên quan tới thể chế biên giới.

 

Những quy định này là sự khẳng định chính thức nguyên tắc duy trì biên giới ổn định khi xuất hiện sự kế thừa nhà nước.

 

Như vậy, sau khi vùng lãnh thổ Grama trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền thì Grama vẫn phải thực hiện đầy đủ các điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà Alpha đã ký kết thay Grama, trong đó có điều ước với Bêta. Quốc gia Grama không có quyền chọn lựa có thừa kế hay không mà buộc phải thừa kế, vì những điều ước về biên giới lãnh thổ thường có giá trị rất bền vững mang tính ổn định cho dù 1 trong 2 bên có mất tư cách chủ thể thì quốc gia mới vẫn buộc phải thừa kế.

BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ – TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC TẾ

Được đăng bởi Vy Dương vào lúc 17:16 
Nhãn: Bài tập cá nhânCông pháp quốc tế

Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập quốc tế trong xu hướng toàn cầu hóa là yêu cầu hàng đầu đặt ra với mỗi quốc gia kèm theo đó là sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó, tồn tại một cách tất yếu như mặt trái của quan hệ hợp tác giữa các quốc gia là tranh chấp quốc tế cũng gia tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng đòi hỏi phải giải quyết bằng biện pháp hòa bình và dựa trên các nguyên tắc, quy phạm của Luật Quốc tế nhằm ổn định các quan hệ quốc tế và duy trì hòa bình, an ninh quốc tế. Một trong các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là giải quyết thông qua cơ quan tài pháp quốc tế. Không giống với các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế khác, giải quyết tranh chấp thông qua cơ quan tài phán quốc tế là cách thức giải quyết tranh chấp bằng phương pháp, thủ tục tư pháp. Về tổng thể các cơ quan tài phán quốc tế tồn tại chủ yếu ở ba dạng là Tòa án Quốc tế, Trọng tài quốc tế và cơ quan tài phán được thành lập trong khuôn khổ tổ chức quốc tế mà trong phạm vi bài tiểu luận này em xin đề cập đến dạng thức đầu tiên đó là Tòa án công lý quốc tế.

 

Nội dung

 

  1. Khái quát chung về Tòa án quốc tế (The International Court of Justice – ICJ)

 

Tiền thân của Tòa án Công lý Quốc tế (The International Court of Justice – ICJ) là Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế (The Permanent Court of International Justice – PCIJ) – vốn là tòa án của Hội Quốc Liên ra đời vào năm 1922. Tòa PCIJ tồn tại cùng với sự tồn tại của Hội Quốc Liên cho tới khi UN được thành lập và ICJ ra đời thay thế cho PCIJ vào năm 1946.

 

Tòa án Công lý quốc tế được thành lập và hoạt động trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và Quy chế Tòa án Công lý quốc tế. Hiến chương Liên hợp quốc dành toàn bộ Chương XIV từ Điều 92 đến Điều 96 để quy định những vấn đề cơ bản về tổ chức, thẩm quyền và hoạt động của Tòa. Quy chế Tòa án Công lý quóc tế gồm 70 điều được coi là một phần phụ lục gắn bó hữu cơ với Hiến chương Liên hợp quốc. Trụ sở của ICJ đặt tại La Hay, Hà Lan.

 

  1. Thành phần, cơ cấu tổ chức của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ)

 

Tòa án Công lý quốc tế gồm 15 thẩm phán có các quốc tịch khác nhau. Thẩm phán Tòa án Công lý quốc tế được Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc bầu với nhiệm kỳ 9 năm và cứ mỗi năm bầu lại 1/3 số thẩm phán. Tiêu chuẩn để bầu thẩm phán Tòa án Công lý quốc tế căn cứ vào năng lực cá nhân, tương quan vị trí địa lý và đại diện cho các hệ thống pháp luật trên thế giới. Thẩm phán của tòa không được đảm nhiệm chức vụ chính trị, hành chính hoặc nghề nghiệp nào trong thời gian đương nhiệm. Bên cạnh các thẩm phán, khi phiên tòa mở ra, các bên tranh chấp có thể lựa chọn các thẩm phán ad hoc. Thẩm phán ad hoc là thẩm phán do một hoặc các bên tranh chấp không có thẩm phán mang quốc tịch nước mình trong thành phần của tòa đề cử tham gia Hội đồng xét xử.

Các phụ thẩm có thể được tòa lựa chọn hoặc theo yêu cầu của các bên tranh chấp tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp nhằm mục đích tranh thủ thêm sự đóng góp của các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động của tòa, nhất là trong các lĩnh vực kỹ thuật. Ban thư ký đảm trách các dịch vụ tư pháp và là bên lien lạc giữa tòa và các bên tranh chấp.

 

  1. Chức năng của Tòa án Công lý quốc tế ( ICJ).

 

Tòa án Công lý quốc tế có 2 chức năng chính:

 

– Chức năng giải quyết tranh chấp: ICJ là cơ quan có chức năng giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành viên Liên hợp quốc và các quốc gia không phải thành viên Liên Hợp quốc (thỏa mãn những điều kiện do Đại hội đồng quyết định ). Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của tòa được xác định theo 3 phương thức: Chấp nhận thẩm quyền của tòa theo từng vụ việc, Chấp nhận trước quyền của Tòa trong các điều ước quốc tế, Tuyên bố đơn phương chấp nhận trước thẩm quyền của tòa.

 

– Chức năng đưa ra kết luận tư vấn: ICJ thực hiện chức năng đưa ra kết luật tư vấn khi Đại hội đồng hay Hội đồng bảo an Liên hợp quốc yêu cầu, liên quan đến những vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn hoạt động của các cơ quan này. Các quốc gia không có quyền yêu cầu tòa đưa ra kết luận tư vấn về tranh chấp của mình. Các ý kiến tư vấn chỉ mang tính chất khuyến nghị.

 

  1. Thủ tục tố tụng tại phiên tòa.

 

ICJ tiến hành giải quyết tranh chấp quốc tế theo trình tự đầy đủ hoặc rút gọn. Thành phần của một phiên tòa là tối thiểu 9 thẩm phán. Trình tự đầy đủ gồm 2 giai đoạn: giai đoạn tiến hành các thủ tục bổ trợ và giai đoạn xét xử nội dung vụ việc. Trong phạm vi chức năng của mình, tòa có thể lập ra ba loại tòa đặc thù: tòa rút gọn trình tự tố tụng, tòa đặc biệt, tòa ad hoc. Được quy định rất rõ trong chương III Quy chế Tòa Công lý quốc tế.

 

Thủ tục xét xử một vụ tranh chấp trước tòa được quy định cụ thể trong quy chế của Tòa án Công lý quốc tế. Quá trình thụ lý gồm hai giai đoạn: 1, Thủ tục viết trong đó các quốc gia hoàn thành và trao đổi bị vong lục về lập luận của từng bên và các lý lẽ luận tội hay bào chữa; 2, Thủ tục nói ( Tranh tụng trước tòa ) trong đó tòa sẽ nghe ý kiến các bên, các luật sư và cố vấn trong phiên tòa xét xử công khai.

 

Ngoài thủ tục chung gòm hai giai đoạn này cho bất kỳ một vụ tranh chấp nào đưa ra trước tòa, thủ tục xét xử của tòa theo từng trường hợp sẽ được tiến hành theo những bước sau:

 

– Các bên nộp đơn kiện lên Tòa và cử đại diện liên lạc của mình.
– Tòa tiến hành các thủ tục bổ trợ cho thủ tục chính về xét xử nội dung : Tòa sẽ xem xét xác định thẩm quyền của mình trong từng vụ việc cụ thể được nêu. Trong từng trường hợp cần thiết, tòa có thể ra những biện pháp bảo đảm tạm thời cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho mỗi bên. Hợp các các vụ án có mục tiêu tranh chấp chung. Khả năng xử án vắng mặt. Tòa xem xét khả năng can dự vào vụ việc từ bên thứ ba.
– Tòa xét xử về mặt nội dung của vụ việc
– Ra quyết định cuối cùng phân giải tranh chấp.

 

  1. Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế.

 

  1. Phán quyết của tòa được tuyên bố công khai

 

Phán quyết của tòa được trình bày dưới dạng song ngữ, mỗi trang đối nhau dành cho một ngôn ngữ. Các phán quyết thường có độ dài trung bình là 50 trang cho 1 thứ tiếng (tối thiểu là 10, tối đa 271 trang) Toàn văn của phán quyết được chia thành các mục nhỏ và được đánh số. Khác với thực tiễn trọng tài quốc tế, phán quyết của tòa án công lý quốc tế được tuyên bố công khai tại gian chính của Cung điện hòa bình.

 

  1. Phán quyết của tòa mang tính bắt buộc đối với các bên.

 

Các phán quyết của tòa có giá trị chung thẩm và bắt buộc với các bên. Nguyên tắc này được áp dụng cho tất cả các phán quyết của Tòa toàn thể cũng như Tòa rút gọn, Cho tất cả các phán quyết chỉ rõ giải pháp cho tranh chấp hay các nuyên tắc có thể áp dụng cho tất cả các phán quyết có hay không các quy định về tài chính.

 

  1. Phán quyết của tòa không có giá trị ràng buộc với bên thứ 3.

 

Quyết định của tòa chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh chấp và chỉ trong vụ án đó ( điều 59 quy chế của tòa ) Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng mặc dù phán quyết của tòa không ràng buộc các bên đứng ngoài tranh chấp nhưng nó có tác động gián tiếp tới các nước này.

 

  1. Thực tiễn hoạt động của Tòa án Công lý quốc tế.

 

Tòa án Công lý quốc tế là cơ quan pháp lý chính của Liên hợp quốc. Đây không phải là một tổ chức lập pháp mà chỉ là một cơ quan tài phán đưa ra các phán quyết và các kết luận tư vấn trong chừng mực thẩm quyền cho phép. Tuy nhiên ngày nay không có một cơ quan tài phán nào giải quyết các vấn đề của cộng đồng quốc tế trong một tổng thể và được các quốc gia sử dụng một các chung nhất trong việc bảo vệ những giá trị của Luật quốc tế như Tòa án Công lý quốc tế.

 

Các phán quyết và kết luận tư vấn của Tòa đã đề cập mọi khía cạnh khác nhau của công pháp cũng như tư pháp quốc tế, liên quan tới tất cả các bên trên thế giới tới việc kiểm tra các hệ thống pháp lý khác nhau. Tòa có bước khởi đầu tốt đẹp qua các vụ Eo biển corfou năm 1949, quyền tị nạn 1950, hay các kết luận tư vấn Bồi thường thiệt hại cho hoạt động các cơ quan của Liên hợp quốc năm 1949.

Trong thực tiễn hoạt động của tòa đã có 148 vụ tranh chấp được đưa ra trước tòa (tính đến tháng 6 năm 2010), trong số đó có khoảng 120 vụ tranh chấp đã được tòa xét xử. Nhiều phán quyết của ICJ đã có ý nghĩa rất quan trọng. Bên cạnh các phán quyết, ICJ đã đưa ra hơn 20 kết luận tư vấn. Mặc dù số kết luận tư vấn đưa ra không nhiều và các kết luận đó cũng không có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các chủ thể nhưng nó có vai trò không nhỏ trong quá trình dàn xếp một số tranh chấp quốc tế.

  1. Những thành tựu đã đạt được.

 

ICJ đã có những đóng góp tích cực trong các lĩnh vực chung của luật quốc tế. Tòa án công lý quốc tế với sứ mệnh giải quyết các tranh chấp pháp lý giữ các quốc gia và giúp đỡ các tổ chức quốc tế hoạt động 1 cách hiệu quả với việc duy trì công lý trong hoạt động của tòa đã có đóng góp to lớn trong việc khẳng định vai trò của Luật quốc tế trong quan hệ quốc tế cũng nhưu việc phát triển luật quốc tế.

Các quyết định của tòa không chỉ giới hạn trong việc giải thích và nhận thức quá trình phát triển của Luật quốc tế. Trong nhiều trường hợp chính tòa đã đóng góp vào quá trình tiến triển đó bằng việc giái thích luật quốc tế thực định và áp dụng chúng vào các hoàn cảnh đặc thù, các quyết định của tòa đã làm sáng tỏ thêm luật quốc tế và qua đó phần nào mở đường cho các quốc gia phát triển tiếp nhận luật quốc tế. Đóng góp trong luật án lệ của tòa là to lớn.

  1. Những tồn tại

 

Là một cơ quan của luật quốc tế, có nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan khác của Liên hợp quốc trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, Tòa án công lý quốc tế đã hoàn thành nhiệm vụ của mình và có những đóng góp không nhỏ vào việc phát triển và hoàn thiện luật quốc tế. Song, năng lực của tòa vẫn chưa được khai thác đầy đủ. Năng lực này bị hạn chế do cả sự tham gia chưa tích cực của các quốc gia vào công việc của tòa cũng như do chính tầm quan trọng của những vụ việc tòa giải quyết. Những vấn đề đưa ra trước tòa thường là những vấn đề không lớn ví dụ các vụ tai nạn máy bay những năm 1950, vụ Electronica Sicula … Một số yêu cầu giải thích điều lệ của các tổ chức quốc tế hay Hiến chương Liên hợp quốc. Tòa cũng giải quyết một số vụ tranh chấp về lãnh tổ như vủ Các đảo Minquier và Ecre’hous, Tranh chấp biên giới Hà lan – Bỉ, Đền Pre’ah… Tuy nhiên những vụ tòa xét xử không phải những vụ tranh chấp lãnh thổ lớn. Mỗi khi phải giải quyết một vấn đề lớn của luật quốc tế có tầm quan trọng về kinh tế và chính trị (Tây Nam Phi, Các vụ thử vũ khí hạt nhân về chính trị , Barcelona Traction về kinh tế ) Tòa thường đưa ra các giải pháp mang tính tranh cãi ( Thềm lục địa Tuynidi/Libi hay vụ Nicaragoa, Lôccơbi .. ) Tòa không đối đầu với các cơ quan khác.

 

Tòa án Công lý quốc tế hoạt động dựa trên sự thỏa thuận của các quốc gia thành viên nên Tòa chỉ thực sự hoạt động đúng năng lực và chức năng của mình khi các quốc gia thành viên thực sự tin tưởng và coi Tòa như một giải pháp tài phán có thể sử dụng khi đàm phán trực tiếp không đạt được kết quả khả quan.
Bên cạnh đó, khi đề cập đến thủ tục kết luận tư vấn, đây là hình thức giúp đỡ giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nhau. Nhưng kết luận này không có giá trị bắt buộc. Hiệu lực của các kết luận tư vấn trông chờ vào nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia và thái độ của dư luận. Liệu có cần tăng cường hiệu lức của chúng bằng các quy định các tổ chức quốc tế cũng như có quyền được sử dụng thủ túc giải quyết tranh chấp không. Nếu ý kiến này được chấp nhận thì tổ chức quốc tế với cá thành viên là quốc gia độc lập có chủ quyền có quyền được chấp nhận trước thẩm quyền của tòa và có thể cử thẩm phán ad hoc được không? Đây là những vấn đề chưa có câu trả lời và phụ thuộc nhiều vào hiệu quả của Tòa án Công lý quốc tế.
KẾT LUẬN
Là một quốc gia tại Đông Nam Á, khu vực không hẳn thờ ơ với các hoạt động của Tòa án Công lý quốc tế, Việt Nam luôn ủng hộ mọi giải pháp hòa bình các tranh chấp quốc tế, trong đó có biện pháp tài phán quốc tế. Trong khi chủ trương giải quyết các tranh chấp quốc tế của mình bằng con đường đàm phán trực tiếp, Việt Nam hoan nghênh mọi nỗ lục từ bên ngoài trong việc biến khu vực Đông Nam Á trở thành một khu vực hòa bình, thịnh vượng và phát triển, trong đó công lý luôn được tôn trọng. Trên đây là bài tiểu luận của em, bài chắc hẳn còn nhiều thiếu sót, kính mong được sự quan tâm của các thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007.
  2. Giáo trình Luật quốc tế, Thạc sĩ Nguyễn T Kim Ngân, Thạc sĩ Chu Mạnh Hùng, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010.
  3. Tòa án Công lý quốc tế– TS Nguyễn Hồng Thao – Nxb CTQG 2001
  4. Quy chế tòa án Công lý quốc tế.

  5. Được đăng bởi Vy Dươngvào lúc 00:09
    Nhãn: Bài tập cá nhânCông pháp quốc tế
  6. TH4: Năm 1960, quốc gia A gửi cho quốc gia B thư đề nghị hoạch định biên giới giữa lãnh thổ của quốc gia B với vùng lãnh thổ C mà quốc gia A đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế. Trong thư đó, quốc gia A nêu rõ nguyên tắc, cách thức hoạch định và có bản đồ hoạch định đính kèm. Trong thư trả lời, quốc gia B bày tỏ quan điểm đồng ý với đề nghị của quốc gia A. Hai quốc gia cũng đã tổ chức họp báo để thông báo chính thức về nội dung thỏa thuận.
  7. Tranh chấp lãnh thổ bắt đầu nảy sinh sau khi vùng lãnh thổ C trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Quốc gia C cho rằng thỏa thuận qua thư giữa quốc gia A và quốc gia B không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên. Hơn nữa, nếu thỏa thuận năm 1960 là điều ước quốc tế thì với tư cách là quốc gia mới ra đời, quốc gia C không phải kế thừa tất cả các điều ước quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết. Hãy cho biết:
  8. – Theo quy định của Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế, thỏa thuận giữa hai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên có là điều ước quốc tế hay không? Giải thích tại sao?
  9. – Sau khi độc lập, quốc gia C có phải thực hiện thỏa thuận về biên giới lãnh thổ mà quốc gia A đã ký kết với quốc gia B hay không? Giải thích tại sao?
  10. BÀI LÀM
  11. Theo quy định của Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế, thỏa thuận giữa hai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên có là điều ước quốc tế hay không? Giải thích tại sao?
  12. Có thể khẳng định: thỏa thuận giữa hai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên là điều ước quốc tế.
  13. Theo Công ước Viên về luật điều ước quốc tế (1969) thì “thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”.
  14. Về bản chất, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận dựa trên ý chí tự nguyện của các bên liên quan. Chủ thể của điều ước quốc tế là các quốc gia. Điều ước quốc tế tồn tại dưới hình thức văn bản đã được kí kết. Điều ước quốc tế gồm có 3 loại: điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Nhà nước, điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Chính phủ và điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Bộ, ngành. Các điều ước quốc tế được kí kết với danh nghĩa Nhà nước là các điều ước về hoà bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia; về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về tương trợ tư pháp và về các tổ chức quốc tế phổ cập và tổ chức khu vực quan trọng.
  15. Căn cứ theo đề bài, thỏa thuận giữa hai quốc gia A và B trong tình huống nêu trên hoàn toàn có đủ căn cứ để trở thành một điều ước quốc tế. Đây là điều ước quốc tế nhằm hoạch định biên giới lãnh thổ. Việc phân định biên giới lãnh thổ này đã được hai quốc gia thỏa thuận và đi đến kí kết. Điều ước quốc tế này được ghi nhận dưới hình thức văn bản.
  16. Sau khi độc lập, quốc gia C có phải thực hiện thỏa thuận về biên giới lãnh thổ mà quốc gia A đã ký kết với quốc gia B hay không? Giải thích tại sao?
  17. Căn cứ vào đề bài, ta có thể thấy đây là trường hợp hình thành quốc gia mới bằng đấu tranh giải phóng dân tộc hoặc qua cách mạng xã hội. Về nguyên tắc, quốc gia C không phải kế thừa toàn bộ các điều ước do quốc gia A kí kết với quốc gia B. Tuy nhiên, nhằm mục đích không làm xáo trộn trật tự pháp lý quốc tế, và nếu điều ước đã kí không đi ngược lại quyền lợi của quốc gia C thì quốc gia C vẫn có thể tuyên bố kế thừa trong lĩnh vực biên giới lãnh thổ.
  18. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
  19. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. CAND, Hà Nội 2007.
    2. Công ước Viên về luật điều ước quốc tế 1969.

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

3 COMMENTS

Leave a Reply