kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Bài tập học kì Công pháp quốc tế có đáp án sưu tầm P1

TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ TỚI QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN CÁC VĂN BẢN LUẬT CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM

Bài tập học kỳ Công pháp quốc tế, đề bài: Phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em.

 

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” là câu nói bao hàm đầy đủ ý nghĩa về Trẻ em. Trẻ em hôm nay là tương lai của nhân loại, của thế giới, của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi họ tộc và mỗi gia đình mai sau.

 

Ngày 26 tháng 1 năm 1990, Việt Nam đã ký Công ước về quyền trẻ em 1989 và phê chuẩn Công ước ngày ngày 20 tháng 2 năm 1990, mà không kèm theo bảo lưu nào. Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới và cũng là quốc gia đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước này. Việc phê chuẩn Công ước đã tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho việc bảo vệ trẻ em ở Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra những nghĩa vụ ràng buộc Việt Nam đối với việc thực thi Công ước. Tuy nhiên việc đảm bảo và thực hiện quyền trẻ em cũng còn nhiều hạn chế, tình trạng xâm hại trẻ em thực sự đáng báo động, rất nhiều hành vi vi phạm quyền trẻ em mà chưa chịu sự trừng trị của pháp luật. Vì những lí do trên em xin được chọn đề tài: (Phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em) để làm bài tập lớn học kì. Tuy nhiên do hiểu biết của em còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cám ơn!

 

B.NỘI DUNG

 

  1. KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN TRẺ EM TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT  VIỆT NAM

 

1.Khái niệm về trẻ em

 

1.1Trẻ em theo công ước về quyền trẻ em năm 1989 và pháp luật nước ngoài

 

Điều 1 Công ước về quyền trẻ em đã ghi nhận “Trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Trung quốc: Điều 2, luật Bảo vệ người chưa thành niên quy định, trẻ em còn được gọi là trẻ chưa thành niên, là công dân dưới 18 tuổi. Nhật Bản: Điều 4, luật Phúc lợi trẻ em năm 1947 cũng quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi. Pháp luật tôn trọng và thực thi toàn bộ những quy định để đảm bảo mọi phúc lợi cho trẻ em. Theo Điều 1 Luật liên bang Nga số 124-FZ ngày 21/7/1998 (sửa đổi), thì trẻ em được hiểu là người ở độ tuổi dưới 18.

 

1.2 Trẻ em theo pháp luật Việt Nam

 

Từ những quy định về độ tuổi của người chưa thành niên trong các văn bản pháp luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Hôn nhân gia đình, Bộ luật Lao động hiện hành… trên chúng ta có thể hiểu và đưa ra một khái niệm về trẻ em như sau “Trẻ em là người dưới 18 tuổi”, khái niệm này phù hợp với Công ước quốc tế quyền trẻ em và pháp luật Việt Nam.

 

  1. Quyền trẻ em

 

Quyền trẻ em chính là quyền của con người được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng phát triển và tính chất cuộc sống trẻ em.

 

2.1Quyền trẻ em theo công ước quốc tế

 

Công ước về quyền trẻ em năm 1989 đã bao quát được tất cả các khía cạnh  của quyền trẻ em bao gồm: Quyền sống còn; quyền được phát triển; quyền được bảo  vệ quyền được tham gia và một số biện pháp bảo vệ dành cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

 

2.2Quyền trẻ em theo pháp luật Việt Nam

 

Hiến pháp 1992, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đã nói rõ quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em. Bộ luật Dân sự năm 2005 có những quy định riêng nhằm xác định địa vị pháp lý của trẻ em trong lĩnh vực dân sự, gồm quyền, nghĩa vụ và những đảm bảo pháp lý. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2005 đã có những quy định trẻ em như là một thành viên đặc biệt của gia đình, cần có sự bảo hộ pháp lý đặc biệt. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 xác định trẻ em với tư cách là một cá nhân, nên quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của trẻ em.

 

II.TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ TỚI QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN CÁC VĂN BẢN LUẬT CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM

 

1.Đặc điểm các quan hệ pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em.

 

1.1. Đặc điểm các quan hệ pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em.

 

Quan hệ pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em, về bản chất thì đó chính là các quan hệ pháp luật điều chỉnh các quyền con người. Nguyên tắc chung của việc thực hiện điều ước quốc tế về quyền trẻ em là nguyên tắc tận tâm thực hiện cam kết quốc tế (nguyên tắc Pacta sutservanda) đòi hỏi các quốc gia có nghĩa vụ thực thi các điều ước quốc tế một các tự nhiên và nghiêm chỉnh. Đối tượng điều chỉnh của các thỏa thuận đó là các quyền trẻ em bao gồm quyền sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển và quyền được tham gia. Công ước về quyền trẻ em ràng buộc nghĩa vụ của các quốc gia đã phê chuẩn hoặc gia nhập trong việc thực hiện các quyền trẻ em.

 

1.2 Đặc điểm pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền trẻ em.

 

Quyền trẻ em được ghi nhận là các quyền cơ bản của công dân (chương V Hiến pháp 1992) mà nội dung của quyền này chủ yếu là các quyền dân sự, bao gồm: quyền sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển và quyền được tham gia.

 

Chế định quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan do các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia ban hành như: Hiến pháp 1992, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và các văn bản pháp luật khác bao gồm cả văn bản luật và văn bản dưới luật.

 

Việt Nam đã xây dựng một bộ máy các cơ quan Nhà nước để đảm bảo việc thực hiện quyền trẻ em.

 

  1. Sự tác động của luật quốc tế đối với luật Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em.

 

Pháp luật quốc tế có tác động tích cực đến sự phát triển và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền trẻ em.

 

Tính chất tác động của luật quốc tế đối với luật quốc gia được đánh giá bằng thực tiễn thực thi nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế của quốc gia, thể hiện ở những hoạt động cụ thể: Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của luật quốc gia phù hợp với cam kết quốc tế của chính quốc gia đó.

 

Các văn bản pháp luật Việt Nam hiện nay đều thể hiện quan điểm của Nhà nước Việt Nam trong việc nghiêm chỉnh tuân thủ và tôn trọng các nghĩa vụ cũng như các cam kết quốc tế mà Việt Nam chính thức ràng buộc, trên cơ sở bình đẳng, có đi có lại, hợp tác phát triển.

 

  1. Bảo vệ quyền trẻ em theo pháp luật Việt Nam.

 

Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định Nhà nước Việt Nam tôn trọng các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội trong đó có quyền trẻ em.

 

– Quyền sống còn

 

Điều 32, 37 Bộ luật Dân sự năm 2005: Cá nhân có quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể. Danh sự, nhân phẩm, uy tín của cá nhâ được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Bộ luật Hình sự cũng đã góp phần bảo vệ quyền sống còn của trẻ em. Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: “1. Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ; 2. Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập.”

 

– Quyền được bảo vệ

 

Trong pháp luật Việt Nam, quyền được bảo vệ bao gồm các quyền: Trong lĩnh vực Dân sự; Hành chính; Hình sự; Lao động; Bảo vệ khỏi bị xâm hại tình dục, tệ nạn ma tuý, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.

– Quyền được phát triển

 

Nhóm quyền được phát triển nhằm mục đích đảm bảo cho trẻ em có thể đạt được khả năng phát triển tối đa, cả về thể chất lẫn trí tuệ. Sự phát triển của trẻ em là dự kết hợp của hai yếu tố cá nhân và môi trường, do đó pháp luật Việt Nam quy định khá rõ nét những vấn đề liên quan đến quyền phát triển của trẻ em: Quyền được giáo dục; Quyền được vui chơi, giải trí; Quyền được thu nhận thông tin.

 

– Quyền được tham gia

 

Trẻ em cần có một môi trường thuận lợi để thực hiện quyền được tham gia một cách đầy đủ. Người lớn có nghĩa vụ tạo điều kiện cho trẻ em thực hiện quyền tham gia: Quyền được bày tỏ ý kiến; Quyền tham gia lao động và ký kết hợp đồng lao động; Quyền khiếu nại tố cáo

 

III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN CỦA TRẺ EM

 

Hệ thống pháp luật còn tản mạn dẫn tới những quy định không thống nhất. Tình trạng buông lỏng giáo dục từ trong đời sống gia đình. Nền giáo dục còn nhiều hạn chế. Các cơ quan chuyên trách, tổ chức có trách nhiệm trong việc thực hiện quyền trẻ em chưa phát huy được vai trò của mình. Nhận thức của cộng đồng xã hội về việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em chưa được nâng cao. Vì vậy cần thực hiện một số biện pháp sau đây để nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về bảo vệ quyền của trẻ em.

 

  1. Đối với hệ thống pháp luật quốc tế.

 

– Cần ban hành quy định cụ thể về công tác làm Báo cáo quốc gia về quyền trẻ em, yêu cầu các quốc gia thành viên phải được thực hiện đúng và đầy đủ các công việc để thống nhất và có báo cáo trung thực, chính xác nhất về tình hình trẻ em ở mỗi nước.

 

– Cần đẩy mạnh và kiện toàn cơ chế về bảo vệ và phát triển quyền trẻ em. Công tác giám sát, đánh giá, điều tra việc thực hiện quyền trẻ em ở các quốc gia luôn phải kiện toàn để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền trẻ em một cách thường xuyên và đồng đều ở các quốc gia trên thế giới.

 

  1. Đối với hệ thống pháp luật Việt Nam

 

– Phải rà soát và hệ thống hóa các văn bản pháp luật có quy định về quyền trẻ em. Hoạt động này nhằm phát hiện những nội dung văn bản pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với thực tiễn. Tiến hành ban hành các văn bản pháp luật mới, luật hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân. Việc sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản pháp luật về quyền trẻ em cần phải được tiến hành ngay nhưng về lâu dài có thể nghiên cứu để xây dựng Luật về bảo vệ quyền trẻ em một cách chi tiết, cụ thể hơn.Các quy phạm pháp luật quy định về quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn tản mạn ở nhiều ngành luật, nhiều văn bản pháp luật khác nhau.

 

– Cần tuyên truyền và giáo dục đối với quyền trẻ em bởi, việc tuyên truyền, giáo dục đóng góp rất lớn vào việc thực hiện, tuân thủ pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của người dân.

 

– Cần tăng cường vai trò Nhà nước bởi, nhà nước có vai trò to lớn trong việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam, Nhà nước phải xác định mục tiêu trẻ em và đảm bảo quyền trẻ em luôn được đặt trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, cần tăng cường hơn nữa vai trò của Nhà nước với những giải pháp thiết thực.

 

– Cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của gia đình vì đây là yếu tố quyết định đảm bảo cho quyền trẻ em được thực hiện tốt ngay từ trong mái ấm gia đình.

 

– Cần thành lập Toà án vị thành niên pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam hiện nay có quy định một số thủ tục tố tụng riêng dành cho những người phạm tội là người chưa thành niên nhưng thực tế cho thấy nhiều toà án đã xem nhẹ các quy định này. Vì thế cùng với quá trình cải cách tư pháp cần thiết phải thành lập Toà án vị thành niên và quan trọng hơn là tạo điều kiện tốt nhất, giáo dục các em trở thành những công dân có ích cho gia đình và xã hội.

 

C.KẾT LUẬN

 

Quyền trẻ em được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam như là sự đảm bảo về mặt pháp lý của Nhà nước đối với quyền trẻ em. Hệ thống các thiết chế bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam góp phần quan trọng đưa quyền trẻ em vào thực tiễn. Đây cũng chính là sự cam kết mạnh mẽ của Việt Nam với cộng đồng quốc tế về việc bảo vệ quyền trẻ em. Cùng với sự phát triển nền kinh tế mạnh mẽ thì trẻ em ở Việt Nam đã được hưởng các quyền của mình đầy đủ hơn. Tuy nhiên việc bảo vệ quyền trẻ em không phải là vấn đề đơn giản, chỉ cần sự một cá nhân hay một tổ chức cụ thể thì có thể thực hiện việc này một cách toàn diện, mà việc bảo vệ quyền trẻ em đòi hỏi sự tham gia của toàn xã hội vì nó liên quan đến rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, có nhiều vấn đề nảy sinh và cần phải hoàn thiện cả hệ thống pháp luật lẫn các thiết chế để đảm bảo tốt nhất các quyền trẻ em.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
  2. Luật Quốc tịch.
  3. Luật Lao động
  4. Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004.
  5. Công ước quốc tế quyền trẻ em 1989.
  6. Pháp luật Quốc tế về lao động tre em – Khóa luận tốt nghiệp – Bùi Thi Quyên Quyên – Đại học Luậtt Hà Nội – 2012.

THỰC TIỄN HỢP TÁC SONG PHƯƠNG VỀ DẪN ĐỘ TỘI PHẠM GIỮA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA – BÀI TẬP HỌC KỲ CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Đề bài: phân tích , đánh giá thực tiễn hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và một số quốc gia.

 

Dẫn độ tội phạm là một chế định của luật hình sự quốc tế , đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm .Trong khuân khổ bài ta sẽ: “phân tích , đánh giá thực tiễn hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm giữa VN và một số quốc gia” để hiểu rõ hơn về hoạt động dẫn độ tội phạm tại Việt Nam qua các hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm.

 

  1. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

 

  1. Các vấn đề liên quan đến dẫn độ tội phạm

 

  1. Định nghĩa dẫn độ tội phạm

 

Khái niệm dẫn độ có rất nhiều cách tiếp cận,nhưng dù là cách tiếp cận nào đi nữa thì các quan điểm trên cũng được hiểu một cách chung nhất là : “Dẫn độ tội phạm làhành vi tương trợ pháp lý , được thỏa thuận giữa các quốc gia hữu quan( quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu dẫn độ ) dựa trên cơ sở các quy định của luật quốc tế , trong đó một quốc gia được yêu cầu sẽ thực hiện việc chuyển giao cá nhân đang hiện diện trên lãnh thổ nước mình cho  quốc gia có yêu cầu để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với cá nhân đó.”

 

  1. Đặc điểm của dẫn độ

 

Về chủ thể thực hiện hoạt động dẫn độ tội phạm: Các quốc gia độc lập có chủ quyền là chủ thể cơ bản và chủ yếu của Luật quốc tế, đồng thời cũng chính là chủ thể tham gia vào hoạt động dẫn độ tội phạm. Trong hoạt động dẫn độ tội phạm sẽ có chủ thể là quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu. Quốc gia yêu cầu là quốc gia là quyền và lợi ích bị cá nhân tiến hành hành vi xâm hại một cách trực tiếp, quốc gia được yêu cầu là quốc gia nơi cá nhân này đang hiện diện. Quốc gia yêu cầu sẽ đưa ra yêu cầu dẫn độ khi phát hiện ra cá nhân đó đang ở trên lãnh thổ của quốc gia yêu cầu (trên cơ sở sự thoả thuận), quốc gia được yêu cầu căn cứ vào pháp luật quốc gia và quy định của Luật quốc tế để chấp nhận hoặc từ chối yêu cầu dẫn độđó.

 

Về cơ sở pháp lý của hoạt động dẫn độ: Các điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia hữu quan chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động dẫn độ. Vì việc tiến hành dẫn độ tội phạm là quyền của quốc gia trong quan hệ quốc tế trên cơ sở chủ quyền quốc gia, hoạt động này sẽ chỉ trở thành nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện trên cơ sở các điều ước quốc tế được ký kết với các quốc gia khác.

 

Về nguồn của hoạt động dẫn độ tội phạm: Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, luật quốc gia chính là nguồn của hoạt động dẫn độ tội phạm.

 

+> Điều ước quốc tế điều chỉnh hoạt động dẫn độ tội phạm gồm điều ước quốc tế đa phương toàn cầu hoặc khu vực (Công ước châu Âu về dẫn độ năm 1957, Hiệp định mẫu về dẫn độ của Liên hợp quốc năm 1990..); Các điều ước quốc tế song phương (Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc năm 2003..)

 

+> Tập quán quốc tế có thể kể đến như: nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình, nguyên tắc có đi có lại..

 

+> Luật quốc gia bao gồm các văn bản pháp lý quốc gia điều chỉnh hoạt động hợp tác về dẫn độ tội phạm (thẩm quyền, trình tự, thủ tục…) của chính quốc gia trong quan hệ với quốc gia khác như: Luật tương trợ tư pháp

 

Về đối tượng dẫn độ: Đối tượng chính của hoạt động dẫn độ là các tội phạm mà cá nhân thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia mình và đang hiện diện trên lãnh thổ của quốc gia khác. Khoa học Luật Hình sự quốc tế ghi nhận 3 hình loại: tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc tế, tội phạm hình sự chung. Trên thực tế, hoạt động dẫn độ tội phạm chủ yếu được thực hiện với các cá nhân phạm tội có tính chất quốc tế hoặc một số tội phạm hình sự chung mang tính chất quốc tế.

 

3.Nguyên tắc của dẫn độ

 

3.1. Nguyên tắc có đi có lại

 

Nội dung của nguyên tắc này ghi nhận quốc gia được yêu cầu dẫn độ chỉ được thực hiện yêu cầu dẫn độ theo yêu cầu nếu nhận được bảo đảm từ phía quốc gia yêu cầu dẫn độ trong trường hợp tương tự, quốc gia này chắc chắn sẽ thực hiện dẫn độ tội phạm cho quốc gia đối tác hữu quan. Đây là được ghi nhận trong Luật quốc gia của một số nước , tức luật pháp các nước này yêu cầu phải tuân thủ nguyên tắc có đi có lại trong việc thực hiện tội phạm . Hiện nay, cũng có quan điểm pháp lý của không ít quốc gia cho rằng nên loại bỏ nguyên tắc có đi có lại trong Luật quốc gia như là điều kiện không thể chấp nhận khi giải quyết yêu cầu dẫn độ tội phạm từ một quốc gia khác .

 

3.2Nguyên tắc định danh tội phạm kép

 

Đây là một nguyên tắc đặc thù trong lĩnh vực dẫn độ tội phạm được hầu hết các nước áp dụng .Theo nguyên tắc này , đối tượng bị yêu cầu dẫn độ sẽ được dẫn độ khi hành vi của họ được định danh là hành vi tội phạm theo luật quốc gia của cả nước yêu cầu và nước được yêu cầu dẫn độ . Không đáp ứng được yêu cầu này , các quốc gia có quyền từ chối dẫn độ .

 

3.3. Nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình

 

Sự từ chối dẫn độ thường được quy định một cách hết sức rõ ràng trong các văn bản pháp luật quốc gia như Hiến pháp hoặc đạo luật khác . Ở Việt Nam, trước khi Luật tương trợ tư pháp năm 2007 ra đời, nguyên tắc này được quy định trong luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 (khoản 2 Điều 4) .Tuy vậy, nguyên tắc này cũng có một số ngoại lệ. Cụ thể tại Hội nghị quốc tế lần thứIII về thống nhất hóa luật quốc tế đã đạt được thỏa thuận nhất trí nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình cho nước khác không áp dụng đối với các cá nhân thực hiện tội phạm quốc tế.

 

3.4.Nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị

 

Nguyên tắc này được ghi nhận trong rất nhiều các điều ước quốc tế. Mặc dù có sự nhất trí trong pháp luật quốc gia và sự nhất trí về quan điểm công nhận nguyên tắc này nhưng trong thực tiễn quốc tế không có sự thống nhất về giải thích vấn đề tính chất chính trị .

 

Theo nguyên tắc , việc xác định tính chất chính trị của tội phạm diễn ra trong quá trình xét xử tại tòa án và hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách của quốc gia nơi đang có người bị dẫn độ lẩn trốn . Trong thực tiễn dẫn độ tội phạm , nhiều kẻ phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự bỏ trốn ra nước ngoài , yêu cầu cư trú chính trị và họ được chấp nhận cho cư trú . Quốc gia chấp nhận cho những cá nhân này cư trú thì cũng thường không chấp nhận dẫn độ người đó với tư cách là tội phạm chính trị .

 

  1. Các trường hợp không dẫn độ tội phạm.

 

4.1. Không dẫn độ nếu cá nhân bị dẫn độ sẽ bị kết án đối với tội phạm khác

 

Theo đó, cá nhân được yêu cầu dẫn độ sẽ chỉ bị truy tố và xét xử đối với hành vi phạm tội trên cơ sở định danh tội phạm được áp dụng tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội đó, hành vi này đã được cung cấp như là cam kết để được dẫn độ của quốc gia yêu cầu. Quốc gia được yêu cầu hoàn toàn có thể từ chối dẫn độ tội phạm nếu quốc gia yêu cầu tiến hành xét xử đối với tội phạm khác mà cá nhân đó đã thực hiện trong quá khứ (không nằm trong yêu cầu dẫn độ).

 

4.2. Không dẫn độ trong trường hợp cá nhân sẽ bị kết án tử hình

 

Trong quan hệ hợp tác dẫn độ tội phạm, các quốc gia có thể đưa ra thoả thuận về trường hợp quốc gia được yêu cầu sẽ từ chối dẫn độ nếu như cá nhân được dẫn độ sẽ bị kết án tử hình đối với hành vi vi phạm của mình tại quốc gia yêu cầu hoặc quốc gia đó sẽ chấp nhận dẫn độ nếu nhận được sự cam kết của quốc gia yêu cầu rằng cá nhân đó sẽ không bị lĩnh án tử hình.

 

4.3. Một số trường hợp khác

 

Một số trường hợp không dẫn độ tội phạm khác bao gồm: Không dẫn độ trong trường hợp cá nhân bị xét xử về cùng một tội; Không dẫn độ nếu hành vi phạm tội của cá nhân được thực hiện ở quốc gia này mà quốc gia khác lại đưa ra yêu cầu dẫn độ; Cá nhân không bị dẫn độ nếu thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã chấm dứt; Cá nhân sẽ không bị dẫn độ nếu các hành vi phạm tội được ghi nhận trong đề nghị dẫn độ thuộc sự điều chỉnh đặc biệt của quốc gia được yêu cầu; Một số trường hợp từ chối dẫn độ khi cân nhắc các vấn đề nhân đạo đối với cá nhân bị dẫn độ.

 

II.Thực tiễn hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm giữa VN và một số quốc gia.

 

Trong các loại điều ước quốc tế , các điều ước quốc tế song phương luôn tỏ rõ vai trò điều chỉnh cụ thể , chi tiết các quyền và nghĩa vụ giữa hai bên kí kết . Đồng thời thể hiện đượcvị trí của các bên kí kết so với vai trò của họ tại các điều ước quốc tế đa phương . Một số điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và một số quốc gia khác là : Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Hàn Quốc năm 2003( Hiệp định gồm 20 Điều , là hiệp định song phương chuyên biệt đầu tiên về dẫn độ của nhà nước ta) ; Hiệp định giữa Việt Nam và Liên bang CHXHCN Xô viết ký ngày 10/12/1981, nội dung về hình sự và dẫn độ quy định tại Chương III “Tương trợ tư pháp về hình sự dẫn độ” , gồm 16 điều từ Điều 53 đến Điều 68. Hiệp định này hiện nay Liên bang Nga đã kế thừa….Ngoài hiệp định chuyên biệt đầu tiên về dẫn độ trên , hiện nay,hai hiệp định song phương mới nhất về dẫn độ tội phạm đã được nước ta đàm phán kí kết Ấn Độ(2013) , Hungari (2013)

 

1.Đánh giá

 

1.1. ĐÁnh giá chung

 

Các điều ước song phương này bao gồm các quy định liên quan đến : Nghĩa vụ dẫn độ tội phạm ; Đối tượng của hoạt động dẫn độ ; Thủ tục dẫn độ và các tài liệu cần thiết ; Quy định bắt khẩn cấp; Quy định dẫn độ đơn giản ; Quy định về giải quyết các trường hợp đặc biệt trong dẫn độ ( nhiều yêu cầu dẫn độ với một cá nhân, hoãn thi hành quyết định dẫn độ , dẫn độ lại , quá cảnh ) ; Quy định về chi phí dẫn độ tội phạm .

 

Những quy định về dẫn độ tội phạm trong các điều ước quốc tế giữa Việt Nam và một số quốc gia nêu trên đã thể hiện được sự tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế về về dẫn độ tội phạm (về nguyên tắc dẫn độ tội phạm , các trường hợp từ chối dẫn độ , trình tự, thủ tục  dẫn độ tội phạm …) Phù hợp với các điều kiện của các quốc gia về chế độ kinh tế , chính trị và hệ thống pháp luật , Việt Nam và các quốc gia này đã xây dựng các điều khoản phù hợp nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất trong hợp tác dẫn độ tội phạm . Tuy nhiên, hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam với các quốc gia vẫn còn một số tồn tại  cần khắc phục là: Một là :  số lượng các điều ước song phương được kí kết giữa Việt Nam và các quốc gia khác có liên quan trực tiếp đến dẫn độ tội phạm còn rất  hạn chế. Hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và các quốc gia chủ yếu vẫn dựa trên các hiệp định tương trợ tư pháp mà ít các hiệp định riêng về dẫn độ tội phạm ;Hai là : Phạm vi hợp tác song phương còn hẹp .

 

  • Về nghĩa vụ dẫn độ theo quy định trongcác hiệp định trên thì :

 

Thứ nhất , chưa có sự thống nhất trong các quy định của Việt Nam với các nước . Việt Nam kí hiệp định về vấn đề dẫn độ với rất nhiều nước nhưng không phải các quy định này thống nhất ở tất cả các hiệp định đó .

 

Thứ hai , quy định về dẫn độ trong các hiệp định này còn có nhiều điểm chưa chặt chẽ, cùng một tội phạm nhưng có quốc gia quy định mức phạt tối thiểu , có quốc gia quy định mức phạt tối đa . Điều này gây khó khăn cho các cơ quan chức năng thực hiện dẫn độ , nếu trong thực tế việc dẫn độ giữa Việt Nam và các nước kí kết gặp phải trường hợp trên

 

Giới hạn truy cứu trách nhiệm hình sự

 

Không phải trong trường hợp nào các nước kí kết hiệp định cũng chấp nhận yêu cầu dẫn độ . Các hiệp định về dẫn độ mà Việt Nam kí với nước ngoài đều quy định :

 

+> Không được truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc buộc người bị dẫn độ chấp hành hình phạt về những tội không phải là tội danh yêu cầu trong căn cứ dẫn độ . ; Không được dẫn độ người đó cho nước thứ 3 nếu không có sự đồng ý của nước được yêu cầu dẫn độ ; Các quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của  người bị dẫn độ tránh truờng hợp nước  yêu cầu dẫn độ lợi dụng việc dẫn độ để xét xử đối tượng theo một tội danh khác , phục vụ cho mục đích riêng của mình (chính trị, tôn giáo …)

 

1.2. Đánh giá các hiệp định

 

1.1.1 Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Hàn Quốc năm 2003.

 

Ngày 15/9 /2003  tại Seoul (Hàn Quốc, nhà nước ta đã kí kết hiệp đinh song phương  chuyên biệt đầu tiên về dẫn độ tội phạm với Đại Hàn Dân Quốc (có hiệu lực từ ngày 19/4 /2005 ) Hiệp định này đã thể hiện tương đối đầy đủ chính sách hình sự , cũng như quan điểm của Đảng và nhà nước ta đối với vấn đề dẫn độ trong tình hình hiện nay ; việc kí kết Hiệp định đã đánh dấu một bước tiến mang tính lịch sử và là cơ sở pháp lý quan trọng trong tiến trình tiếp tục đàm phán , kí kết các hiệp định tương trợ tư pháp về dẫn độ song phương giữa Công hòa xã hội chủ nghĩa việt nam với các nước trong khu vực và trên thế giới . Hiệp định gồm 20 điều quy định về các nội dung cơ bản của hoạt động dẫn độ . Bao gồm các nội dung chính sau đây :Hiệp định quy định trường hợp dẫn độ , từ chối dẫn độ , các bên không có nghĩa vụ phải dẫn độ công dân của nước minh và yêu cầu dẫn độ phải được lập thành văn bản gửi qua đường ngoại giao , trong trường hợp khẩn cấp , một bên có thể yêu cầu bắt khẩn cấp người để dẫn độ trước khi có yêu cầu dẫn độ và các quy định khác…

 

Về nghĩa vụ dẫn độ:(điều 1): hai  quốc gia thống nhất dẫn độ cho nhau bất kì người nào đang có mặt trên lãnh thổ của nước mình mà khi có yêu cầu để tiến hành truy tố , xét xử hoặc thi hành án về một tội có thể bị dẫn độ . Ở quy  định đầu tiên của hiệp định đã thể hiện được rõ ràng , đầy đủ trách nhiệm cũng như thiện chí trong nỗ lực chung của hai quốc gia về vấn đề hợp tác quốc tế , đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và hợp tác về dẫn độ nói riêng

 

Về các trường hợp từ chối dẫn độ (điều 3) : khi bên được yêu cầu xác định rằng tội phạm  bị  yêu cầu dẫn độ  là tội phạm mang tính chất chính trị hoặc bên được yêu cầu có căn cứ xác đáng cho rằng yêu cầu dẫn độ được đưa ra nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trừng phạt  người bị dẫn độ vì lý do chủng tộc, tôn giáo , quốc tịch , giới tính , chính kiến , quan điểm chính trị.

 

Về quyền tự  quyết định từ chối dẫn độ (điều 4) : theo hiệp định này , việc dẫn độ có thể bị từ chối khi có một trong các trường hợp sau đây : khi toàn bộ hoặc một phần tội phạm bị yêu cầu dẫn độ tội phạm bị yêu cầu dẫn độ được cho là đã được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia được yêu cầu theo pháp luật của quốc gia đó , khi người bị yêu cầu dẫn độ đã được xử vô tội hoặc bị kết án tại một quốc gia thứ ba về cùng một tội đó , nếu bị kết án thì hình phạt đã được thi hành đầy đủ hoặc không còn hiệu lực nữa. Trong các trường hợp ngoại lệ , xét mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lợi ích của quốc gia yêu cầu , quốc gia được yêu cầu thấy rằng việc dẫn độ sẽ không phù hợp với các nguyên tắc nhân đạo do hoàn cảnh cá nhân của người bị yêu cầu dẫn độ và khi tội mà yêu cầu dẫn độ đưa ra là một tội theo Luật quân sự và không phải là tội được quy định trong Luật hình sự thông thường

 

Về thủ tục dẫn độ và tài liệu cần thiết : yêu cầu dẫn độ phải được thực hiện bằng văn bản và gửi thông qua con đường ngoại giao . Văn bản yêu cầu dẫn độ phải kèm theo các tài liệu theo quy định của( Điều 7 )Hiệp định có chữ kí hoặc xác nhận của thẩm phán hoặc cơ quan chức năng có thẩm quyền của Bên yêu cầu , được đóng dấu chính thức của cơ quan và gửi kèm theo bản dịch ra tiêng của bên được yêu cầu hoặc tiếng anh

 

1.1.2 Hiệp định giữa Việt Nam và Liên bang CHXHCN Xô viết ký ngày 10/12/1981, nội dung về hình sự và dẫn độ quy định tại Chương III “Tương trợ tư pháp về hình sự dẫn độ” , Hiệp định này hiện nay Liên bang Nga đã kế thừa.

 

  • Văn bản yêu cầu dẫn độ

 

Nước kí kết sẽ chỉ chấp nhận dẫn độ tội phạm nếu có đủ căn cứ để chứng minh rằng đối tượng bị dẫn độ tội phạm được nêu trong yêu cầu dẫn độ và tội phạm đó là tội phạm có thể được chấp nhận dẫn độ . Các giấy tờ buộc phải chuyển giao để có thể được chấp nhận dẫn độ theo yêu cầu của các hiệp định bao gồm :

 

Lệnh bắt đối tượng (hiện nay , hầu hết các thành viên Interpol đều coi lệnh truy nã của Interpol là căn cứ  hợp pháp ) ;Bản mô tả hoàn cảnh phạm tội ( Bản tóm tắt vụ án ) ; Điều luật của nước kí kết yêu cầu coi hành vi là tội phạm ;thiệt hại vật chất do tội phạm gây ra (nếu có) ; lý lịch tư pháp của người phạm tội càng chi tiết càng thuận lợi cho việc tìm kiếm , truy bắt đối tượng của nước được yêu cầu ; Nếu yêu cầu dẫn độ để thi hành hình phạt thì còn phải kèm theo chứng thực bản án , xác nhận bản án đã có hiệu lực pháp luật . Nếu người bị yêu cầu dẫn độ đã chấp nhận một phần hành vi bản án thì cũng phải thông báo về  điều này .

 

Những giấy tờ trên là quy định bắt buộc có thể được chấp nhận yêu cầu dẫn độ . Nếu thiếu, nước được yêu cầu có thể đề nghị cung cấp bổ sung tài liệu trong một thời gian hợp lý . Thời hạn này quy định trong các hiệp định là không giống nhau . Như Hiệp định Việt Nam – Liên Bang Nga thời hạn quy định là không quá hai tháng Hết thời hạn trên , nếu các tài liệu không được cung cấp đầy đủ thì nước được yêu cầu dẫn độ có thể chấm dứt thủ tục dẫn độ và trả lại tự do cho người bị bắt giữ .

 

Trên thực tế ở giai đoạn này các nước kí kết thực hiện yêu cầu dẫn độ của nước ta chưa thực sự tích cực.Các thủ tục dẫn độ, tố tung chưa tuân theo một quy định chính thức nào . Các quy định trong các hiệp định cũng chưa được thực hiện đầy đủ .

 

Điển hình cho tình trạng này là quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga . Cơ quan đại diện của Bộ công an Việt Nam tại Liên Bang Nga chỉ bảo cáo về Tổng cục Cảnh sát cho tiếp nhận đối tượng , không có người áp giải, không có hồ sơ gì ( Dẫn độ tội phạm , tương trợ pháp ly hình sự vè chuyển giao phạm nhân quốc tế trong phòng chống tội phạm…).Điều này gây khó khăn rất lớn cho phía Việt Nam trong việc xử lý tội phạm vì không đủ căn cứ để khởi tố , bắt, tạm giữ, tạm giam . Khi phía Việt Nam có yêu cầu bổ sung hồ sơ thì không được trả lời hoặc từ chối trả lời . Trong năm 1994 , Cục cảnh sát điều tra – Bộ Công An tiếp nhận và khởi tố 20 bị can từ Nga chuyển về nhưng chỉ truy tố được 11 bị can còn 9 đối tượng phải đình chỉ điều tra do không đủ căn cứ . Ngoài ra thực tế cũng cho thấy hiệp định tương trợ tư pháp của Việt Nam – Liên Bang Nga không được thực hiện đầy đủ . Nhiều trường hợp , phía Nga đã trục xuất về VN một số người Việt Nam phạm tội trên lãnh thổ Nga trong khi có thể  trao đổi, tiến hành các  thủ tục dẫn độ theo quy định về dẫn độ tội phạm mà hai nước đã thỏa thuận trong hiệp định tương trợ tư pháp .

 

Có thể thấy thực tế tình hình dẫn độ tội phạm từ phía nước ngoài cho Việt Nam trong giai đoạn còn nhiều bất cập . Đa số các nước kí kết với Việt Nam đều chưa thực hiện đầy đủ các cam kết đã  thỏa thuận . kết quả là các quy định về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và các nước chưa phát huy được hiệu quả, chưa đạt được mục đích kí kết

 

  • Nhiều nước cùng yêu cầu dẫn độ cùng một đối tượng

 

Đây là điều phổ biến trong thực tế đặc biệt với sự phát triển của quan hệ quốc tế  thì những tội phạm xuyên quốc gia ngày càng nhiều . Nước nhận được yêu cầu sẽ phải chấp nhận yêu cầu nào và từ chối yêu cầu nào?. Quyết định điều này , nước được yêu cầu cần phải dựa vào nhiều yếu tố như tính chất hành vi phạm tội, địa điểm phạm tội, và thời điểm các nước yêu cầu để đưa ra quyết định . Đây là một vấn đề quan trọng song trong các hiệp định mà Việt Nam kí kết lại không có sự thống nhất rõ ràng .

 

Cụ thể trong hiệp định Việt Nam – Liên Bang Nga chỉ quy đinh chung chung là “ nước kí kết được yêu cầu sẽ xem xét yêu cầu của từng nước để quyết định nên thỏa mãn yêu cầu  nước nào” (Điều 62).Trong khi đó , luật , điều ước quốc tế về dẫn độ của nhiều nước cùng thời điểm đã quy định khá chặt chẽ vấn đề này.Trên thực tế, đa số các nước , nhất là các nước chưa kí hiệp định dẫn độ với nhau thường thỏa thuận về vấn đề này dựa trên mối quan hệ thân thiện giữa các nước , với thiện chí hợp tác và tôn trọng lẫn nhau .

 

  1. Thực tiễn thực hiện .

 

Sáu tháng đầu năm 2010, Văn phòng Interpol Việt Nam tiếp nhận, xử lý 246 lượt thông tin liên quan đến gần 20 yêu cầu truy nã tội phạm hình sự, truy nã và dẫn độ tội phạm. Interpol Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ trong nước giải quyết tốt một số yêu cầu về tương trợ tư pháp hình sự của cảnh sát các nước trong đó có Hàn Quốc và Liên Bang Nga. Các yêu cầu này chủ yếu liên quan đến những vụ án giết người, bắt cóc tống tiền, tham nhũng, rửa tiền… của các băng nhóm người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài hoặc những vụ án liên quan đến một số cá nhân, công ty ở Việt Nam. Qua kênh hợp tác Interpol, các yêu cầu về tương trợ tư pháp đã được triển khai tích cực, hiệu quả,nhanhchóng.

 

Qua trao đổi thông tin, Interpol Việt Nam phát hiện Nam Kuk Hyeon, quốc tịch Hàn Quốc đang bị cảnh sát nước này truy nã về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã trốn vào Việt Nam, nhiều khả năng đang ở Hà Nội. 20 giờ 30 ngày 7-4-2010, Văn phòng Interpol phối hợp Công an Hà Nội bắt giữ Nam Kuk Hyeon tại 120 Nguyễn Chí Thanh, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.

 

Ngày 11/10, TAND Hà Nội mở phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ hai người đàn ông quốc tịch Nga, theo đề nghị của Viện kiểm sát trung ương Liên bang Nga.Cả hai đều phạm vào các tội thông thường, không liên quan đến chính trị, tôn giáo và các hành vi phạm tội không phải nhận án tử hình. Sau khi tiếp nhận yêu cầu dẫn độ của Viện kiểm sát trung ương Liên bang Nga, Bộ Công an đã đề nghị TAND Hà Nội xem xét. Chiếu theo Luật pháp Việt Nam, TAND Hà Nội đã đồng tình với quan điểm của VKSND Hà Nội, đồng ý với yêu cầu dẫn độ của Viện kiểm sát Trung ương Liên bang Nga, căn cứ theo Luật tương trợ tư pháp và pháp lý giữa hai nước.Bộ Công an đã chuyển cho Tổng viện kiểm sát Liên bang Nga 02 yêu cầu dẫn độ;

 

Trong các điều ước quốc tế song phương,cho đến nay Việt Nam đã kí 12 Hiệp định có các điều khoản về dẫn độ, 4 Hiệp định riêng biệt về dẫn độ với Hàn Quốc, An-giê-ri, Ấn Độ, Australia.Về cơ bản , nội dung tương trợ tư pháp về hình sự của các hiệp định này phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế , tạo cơ sở pháp lý cho hợp tác giữa Việt Nam với nước ngoài , tuy nhiên bên cạnh đó những quy định của hiệp định cũng chỉ mang tính nguyên tắc hoặc điều chỉnh một số lĩnh vực cụ thể như chuyển giao tài sản , đồ vật liên quan đến vụ án hình sự , ủy thác việc truy cứu TNHS .

 

  1.  Khó khăn khi thực hiện hoạt động dẫn độ tại Việt Nam

 

Việt Nam chưa có một văn bản riêng quy định về dẫn độ mà các quy đinh dẫn độ chỉ nằm trong các văn bản phap luật khác ( Luật Tương trợ tư pháp 2007, BLTTHS 2003) việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành còn chậm ; chế độ chính sách kinh phí, trang thiết bị cho các hoạt động về dẫn độ tội phạm còn rất hạn hẹp ; đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động dẫn độ còn hạn chế về số lượng và chất lượng làm việc .

 

  1. Một số giải pháp

 

Các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét, lấy ý kiến và đưa ra các văn bản hướng dẫn cụ thể để bổ sung một số vấn đề còn thiếu trong Luật Tương trợ tư pháp ; tiếp tục đẩy mạnh việc đàm phán, kí kết các điều ước quốc tế trong dẫn độ tội phạm ; về nhân lực , trang thiết bị cần được quan tâm phát triển cải thiện cũng cần tăng cường vấn đề tài chính phục vụ hoạt động dẫn độ  thêm hiệu quả .

 

III. KẾT LUẬN

 

Ngày nay, với sự quốc tế hóa đời sống xã hội , hoạt động giao lưu , hội nhập của các lơi ích quốc gia đến sự hoạt động của tội  phạm ngày càng  tinh vi, phức tạp và liên quan đến nhiều quốc gia hơn. nên sự xuất hiện của quy định về dẫn độ có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế , trừng trị kẻ phạm tội một cách triệt để và hợp pháp

 

  1. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007.
  2. Ths. Nguyễn Thị Kim Ngân – ThS. Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên), Giáo trình luật quốc tế, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2010.
  3. Lê Mai Anh & Trần Văn Thắng, Luật quốc tế – Lí luận và thực tiễn, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001.
  4. http:// www. Interpol .int/ public / ICPO
  5. Dẫn độ tội phạm, tương trợ pháp lý về hình sự và chuyển giao phạm nhân quốc tế trong phòng chống  tội phạm PGS.TS Nguyễn Xuân Yếm , NXB chính trị quốc gia .
  6. Dẫn độ tội phạm Trong luật quốc tế và liên hệ thực tiễn Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Lê VĂn Bính , 2012.
  7. Hiệp định song phương về dẫn đội tội phạm giữa nước CHXHCN Việt Nam và Đại Hàn Dân quốc.
  8. Hiệp định giữa Việt Nam và Liên bang CHXHCN Xô viết ký ngày 10/12/1981( Hiệp định này hiện nay Liên bang Nga đã kế thừa.)

TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ TỚI QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN CÁC VĂN BẢN LUẬT CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM

Bài tập học kỳ Công pháp quốc tế có đáp án.

 

Theo khoa học pháp lý quốc tế hiện đại, Luật Quốc tế là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật, được quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế.

 

Mối quan hệ giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia là vấn đề mang tính lý luận cơ bản, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật ở từng quốc gia. Mối quan hệ này được thể hiện ở nhiều nội dung và dưới nhiều cấp độ khác nhau. Trên quy mô toàn cầu, mối quan hệ biện chứng qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia diễn ra theo hai chiều hướng: Luật quốc gia ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển, quá trình xây dựng và thực hiện Luật Quốc tế; Luật Quốc tế thường xuyên thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của pháp luật quốc gia. Đối với từng quốc gia, sự tác động qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia tùy thuộc vào mức độ tham gia quan hệ quốc tế của quốc gia đó.

 

Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã chủ động từng bước tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Trong quá trình tham gia vào quan hệ quốc tế, ảnh hưởng qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia của Việt Nam là tương đối rõ nét. Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của bài tiểu luận, em xin được chọn đề tài:

 

Phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm

 

NỘI DUNG

 

  1. Cơ sở lý luận

 

  1. Khái niệm đấu tranh phòng chống tội phạm

 

Để có cách sử dụng chính xác thuật ngữ “đấu tranh phòng, chống tội phạm” đảm bảo tính khoa học và toàn diện, cần phân tích nội hàm của các thuật ngữ này qua các từ của thuật ngữ. “Đấu tranh” là từ Hán Việt, có nghĩa tương đương với “chống”, theo đó “đấu tranh” ở đây được hiểu là công tác điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội. “Chống” được hiểu là sự đấu tranh trực diện giữa một bên là chủ thể có thẩm quyền và một bên là tội phạm. Còn “phòng ngừa” là ngăn ngừa hoặc ngăn chặn để không cho tội phạm xảy ra

 

Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.

 

  1. Một số văn bản pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực phòng chống tội phạm

 

– Luật phòng, chống mua bán người ngày 29/03/2011

 

– Nghị định số 72/2010/NĐ-CP ngày 08/7/2010 quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường

 

– Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP “Về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới” ngày 31/7/1998.

 

– Chỉ thị số 37/2004/CT-TTg “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của Chính phủ đến năm 2010”

 

– Nghị định số 25/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/04/2014 quy định về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao.

 

– Một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên:

 

+ Công ước New York ngày 15/11/2000 về Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia  (kèm theo bảo lưu và tuyên bố), có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 08/6/2012

 

+ Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng

 

+ Công ước của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia

 

+ Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia

 

– Các hiệp định song phương và đa phương khác về tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm…

 

  1. Luật Quốc tế có tác động đến sự phát triển và hoàn thiện của Luật quốc gia

 

Khi tham gia quan hệ quốc tế, quốc gia có nghĩa vụ phải tận tâm thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế của mình. Điều này được quốc gia thể hiện thông qua nhiều hành vi cụ thể khác nhau trong đó có hành vi sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia sao cho các quy định của pháp luật quốc gia vừa mang tính đặc thù của mỗi quốc gia vừa phù hợp với các cam kết quốc tế của quốc gia. Chính vì vậy, các quy định có nội dung tiến bộ của Luật Quốc tế thể hiện thành tựu mới của khóa học pháp lý dần dần sẽ được truyền tải vào trong các văn bản pháp luật quốc gia. Những thành tựu này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của pháp luật quốc gia, đảm bảo cho quốc gia vừa có thể hội nhập vào nền tảng pháp lý chung, vừa có thể thiết lập được một hệ thống pháp luật quốc gia hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.

 

Ở Việt Nam, vấn đề áp dụng các điều ước quốc tế được thực hiện theo quy định của pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, cụ thể là: “Trong trường hợp việc thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi phải bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cơ quan các ngành hữu quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trình kiến nghị về việc bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản pháp luật đó” (khoản 6 điều 11)

 

Điều ước quốc tế được Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết với danh nghĩa Nhà nước, Chính phủ hoặc cấp ngành. Do vậy, khi một điều ước quốc tế được phía Việt Nam ký kết hoặc gia nhập thì có nghĩa là Nhà nước, Chính phủ hoặc ngành liên quan có trách nhiệm thực hiện điều ước quốc tế đó bằng cách nội luật hóa hoặc quy chiếu trực tiếp, có nghĩa là nó sẽ nằm trong hệ thống pháp luật quốc gia, khi đó, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ xã hội được nó điều chỉnh phải tuân theo. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập quy định những vấn đề mà pháp luật trong nước chưa điều chỉnh thì nó có thể trở thành căn cứ pháp lý để ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong nước, đặc biệt là các văn bản của bộ, ngành. Trường hợp điều ước quốc tế và luật nội địa cùng quy định về một vấn đề thì về nguyên tắc, luật nội địa phải phù hợp với điều ước quốc tế bằng cách phải sửa đổi, bổ sung hoặc dẫn chiếu áp dụng điều ước quốc tế. Như vậy, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là căn cứ cho việc ban hành văn bản. Chính vì vậy mà các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nói riêng và pháp luật quốc tế nói chung là cơ sở, căn cứ quan trọng để chúng ta phát triển, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước.

 

  1. Tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm

 

Để phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm, em xin được đi vào phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm cụ thể, đó là: đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người; đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng và đấu tranh phòng chống khủng bố quốc tế.

 

  1. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người

 

Hiện nay, ở Việt Nam tình hình buôn bán người đang gia tăng và diễn biến phức tạp. Việc nghiên cứu các quy định trong Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và các nghị định thư bổ sung, đặc biệt là Nghị định thư về phòng chống buôn bán người vào thời điểm này rất có ý nghĩa thực tiễn về mặt pháp lý, một trong những nỗ lực của Việt Nam nhằm giảm thiểu nạn buôn bán người là việc thông qua Luật phòng chống mua bán người.

 

Những quy định cơ bản của pháp luật về buôn bán người

 

Nhìn chung, pháp luật Việt Nam thông qua Luật phòng chống buôn bán người và Luật quốc tế thông qua Nghị định thư về phòng chống buôn bán người đều quy định những vấn đề như:

 

– Hình sự hóa những hành vi liên quan đến tội phạm buôn bán người: phù hợp với quy định tại Điều 5 Nghị định thư về chống buôn bán người, pháp luật Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ các hành vi phạm tội có liên quan đến tội buôn bán người và những hành vi phạm tội đó đều chịu những mức xử lý nghiêm khắc. Liên quan đến hành vi phạm tội buôn bán người được quy định tại Điều 119, 120, Điều 20 tội đồng phạm, Điều 254, 255, 256, 273, 274, 275 BLHS; Điều 3 Luật phòng chống buôn bán người; Nghị định 68/2002/CP ngày 10/07/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều luật của Luật hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có nhiều điều khoản liên quan đến phòng chống buôn bán người như: điều 2, 18, 21, 35, 50, 58.

 

– Thẩm quyền điều tra, quyền tài phán ngoài phạm vi lãnh thổ: pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa các quy định tại Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia tại Điều 5, Điều 6 BLHS. Theo như quy định này thì Việt Nam cũng có thể có thẩm quyền tài phán ngoài lãnh thổ đối với các tội phạm được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam trong các trường hợp như người bị hại là công dân Việt Nam, người không có quốc tịch thường trú tại Việt Nam; hành vi phạm tội có tổ chức được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam nhằm để thực hiện một tội phạm nghiêm trọng tại Việt Nam hoặc hành vi tham gia rửa tiền hay rửa tiền chưa đạt được thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhằm để sẽ rửa tiền tại Việt Nam. Quyền tài phán ngoài lãnh thổ được quy định rất rõ trong các Hiệp định song phương hay đa phương mà Việt Nam ký kết với các nước khác trong từng lĩnh vực cụ thể.

 

– Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp: Nghị định thư về chống buôn bán người không đề cập vấn đề dẫn độ tội phạm buôn bán người, nhưng tại khoản 1, khoản 3 Điều 16 của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có quy định về dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp. Pháp luật Việt Nam quy định các trường hợp dẫn độ tội phạm theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia theo nguyên tắc có đi có lại (quy định cụ thể trong chương 4 Luật tương trợ tư pháp và trong điều 343 BLTTHS). Các quy định về dẫn độ trong pháp luật Việt Nam nói chung đã đáp ứng được những yêu cầu khách qua trong việc thực hiện tương trợ tư pháp trong thời kỳ hội nhập quốc tế và cũng phù hợp với tinh thần chung của pháp luật quốc tế về phòng chống buôn bán người

 

– Những quy định về việc bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân của tội phạm buôn bán người: Nhìn chung, pháp luật Việt Nam cũng đã quy định đầy đủ về vấn đề trợ giúp và tái hòa nhập cộng đồng của các nạn nhân bị buôn bán và điều này cũng phù hợp với tinh thần chung của Công ước Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Điều 24, 25) và Nghị định thư bổ sung cho Công ước về chống buôn bán người (Điều 6, 7, 8). Cả pháp luật Việt Nam và Luật quốc tế đều quy định các vấn đề như: không trừng phạt nạn nhân; bảo vệ an toàn thể chất, bảo vệ đời tư và nhân dạng cho nạn nhân; các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ nạn nhân trong quá trình tố tụng; hồi hương và tái hòa nhập cộng đồng…

 

Những quy định trong pháp luật Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng với các quy định của pháp luật quốc tế về phòng chống tội phạm buôn bán người; điều đó chứng tỏ tác động không nhỏ của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người.

 

  1. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng

 

Ngày 21/11/2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật phòng chống tham nhũng. Quá trình xây dựng Luật này cũng đã tham khảo những quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Từ các quy định của Công ước, quy định của Luật phòng chống tham nhũng, đồng thời quán triệt Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X (kỳ họp thứ ba), các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về phòng chống tham nhũng. Cụ thể là:

 

– Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về phòng chống tham nhũng đến năm 2020 và kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược; đã ban hành một loạt các Nghị định, Quyết định, Chỉ thị quy định về minh bạch tài sản, thu nhập, chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở, trang thiết bị và phương tiện làm việc; tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng; xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng chống tham nhũng; trả lương qua tài khoản đối với đối tượng hưởng lương từ ngân sách…

 

– Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xây dựng, trình Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quy chế phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Trung ương với Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng có liên quan đến PCTN (Quyết định số 264-QĐ/TW ngày 12/10/2009);

 

– Thực hiện Nghị quyết 1039/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 28/8/2006 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội, các cơ quan: Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế về việc phối hợp trong công tác phòng chống tham nhũng (Quy chế số 01/QCPH ngày 15/01/2009);

 

– Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án đưa nội dung phòng chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng (Quyết định số 137/2009/QĐ-TTg); Ban hành Quyết định về tổ chức, tên gọi, nhiệm vụ và quy chế hoạt động của Bộ phận giúp việc Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng (Quyết định số 138/2009/QĐ-TTg ngày 09/12/2009)

 

– Các văn bản pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra tham nhũng cũng đã được rà soát, sửa đổì, bổ sung, ban hành mới theo thẩm quyền.

 

Về việc thực hiện một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng: Theo Điều 8 Công ước, các quốc gia thành viên Công ước có nghĩa vụ “trong khuôn khổ hệ thống pháp luật và thể chế nước mình, những quy tắc hoặc chuẩn mực xử sự (cho công chức) để đảm bảo việc thực hiện chức năng công được chính xác, chuẩn mực và đúng đắn”. Thực thi quy định này, hầu hết các cơ quan nhà nước Việt Nam ở trung ương đều đã ban hành và thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức. Một số tổ chức xã hội nghề nghiệp ở trung ương cũng đã xây dựng và thực hiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp của hội viên như: Hội Kế toán, Kiểm toán, Hội nhà báo, Tổng hội Y dược học…; các tổ chức khác cũng đang khẩn trương xây dựng quy tắc để ban hành.

 

  1. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống khủng bố quốc tế

 

Khủng bố quốc tế là hành vi của cá nhân hay tổ chức sử dụng các thủ đoạn bạo lực hoặc phi bạo lực tấn công và gây thiệt hại (hoặc đe dọa gây thiệt hai) nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe tài sản của cá nhân, tổ chức, tàn sát dã man dân thường để nhằm đạt được các mục đích chính trị, kinh tế hay xã hội

 

Các quy định pháp luật về phòng, chống khủng bố có ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; BLTTHS năm 2003; Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997… và nhiều văn bản dưới luật khác.

 

Thực tiễn cho thấy, hoạt động khủng bố quốc tế là một loại tội phạm xuyên quốc gia rất nguy hiểm; quá trình đấu tranh chống tội phạm khủng bố quốc tế đòi hỏi các nước trên thế giới phải đẩy mạnh hợp tác tương trợ tư pháp hình sự trên nhiều mặt, như công tác điều tra, thu thập chứng cứ, cung cấp, trao đổi thông tin, bắt giữ và dẫn độ, chuyển giao người bị kết án… Để có cơ sở pháp lý đầy đủ cho các hoạt động này, Việt Nam cần tiếp tục đàm phán, ký kết với các nước Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, Hiệp định về dẫn độ và các điều ước quốc tế khác có điều chỉnh vấn đề hợp tác đấu tranh chống tội phạm khủng bố. Nghị quyết 48/NQ-TW đã định hướng: “Ký kết và gia nhập các công ước quốc tế về chống khủng bố quốc tế, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền, chống tham nhũng, các hiệp định tương trợ tư pháp”. Đối với bốn điều ước quốc tế về chống khủng bố mà Việt Nam chưa phải là thành viên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, đề xuất Nhà nước gia nhập các điều ước quốc tế này, nhất là Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin. Việc Việt Nam tham gia công ước quốc tế này trong thời điểm hiện nay là cần thiết.

 

Tuy đã gia nhập hoặc ký kết nhiều điều ước quốc tế đa phương, song phương về phòng, chống khủng bố hoặc liên quan đến phòng, chống khủng bố nhưng cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa tạo lập được cơ chế tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế đó. Để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phòng, chống khủng bố, cần xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố; đặc biệt là các điều ước của Liên hợp quốc về phòng, chống khủng bố. Nếu không ban hành văn bản hướng dẫn thi hành các điều ước quốc tế về phòng, chống khủng bố thì các điều ước đó chỉ tồn tại mang tính hình thức.

 

Luật phòng, chống khủng bố cần tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ, phải bảo đảm yêu cầu nội luật hoá các quy định trong các văn kiện pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố mà Việt Nam đã là thành viên, tạo điều kiện để Việt Nam tiếp tục tham gia các điều ước quốc tế còn lại về chống khủng bố trong thời gian tới; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật và thực tiễn đấu tranh phòng, chống khủng bố của các quốc gia trên thế giới. Đây là những yêu cầu rất đáng chú ý trong quá trình xây dựng dự án Luật để đảm bảo sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về phòng, chống khủng bố. Việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về phòng, chống khủng bố cũng phải được tính toán, cân nhắc có chọn lọc, theo hướng lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn chính trị, kinh tế, pháp luật Việt Nam, tránh rập khuôn, máy móc…

 

III. Một số hạn chế ngăn cản sự tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm

 

Thứ nhất, việc triển khai thực hiện các hiệp định đã được ký kết còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp với pháp luật quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự hoặc chưa đúng với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Để tăng cường phòng, chống tội phạm, công cụ đầu tiên là BLHS và BLTTHS. Thực tiễn mấy năm qua cho thấy có nhiều chậm trễ, bất hợp lý trong pháp luật hình sự Việt Nam. Những kinh nghiệm từ nhiều quốc gia phát triển đang rất cần cho xã hội Việt Nam, đã từng được đề xuất nhưng chưa được áp dụng.

 

Thứ hai, về phòng chống tội khủng bố: các dấu hiệu pháp lý của tội khủng bố trong pháp luật hình sự Việt Nam còn có những điểm chưa tương thích với các quy định về khủng bố trong các công ước quốc tế, chưa đáp ứng thực tiễn hoạt động phạm tội khủng bố trong tình hình hiện nay.

 

Thứ tư, về phòng chống tội phạm tham nhũng: Việt Nam còn ít kinh nghiệm, nhiều quy định của Công ước còn tương đối mới đối với Việt Nam. Pháp luật Việt Nam tuy cơ bản phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, song bản thân hệ thống pháp luật đó đang trong giai đoạn hoàn thiện.

 

KẾT LUẬN

 

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và khu vực đang tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao thoa pháp luật. Sự giao thoa này chắc chắn sẽ dẫn đến quá trình tiếp thu và học hỏi cái mới, văn minh, tiến bộ nhằm hoàn thiện những lỗ hổng và bất cập trong hệ thống pháp luật quốc gia. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế và hợp tác về trật tự an toàn xã hội đã và sẽ giúp Việt Nam tranh thủ được các kinh nghiệm và thành tựu, các phương tiện kỹ thuật hiện đại của thế giới để bảo vệ an ninh, trật tự; đồng thời tạo thành một thế trận, một môi trường an ninh, trật tự ổn định để phát triển kinh tế đất nước. Cùng với đó, cũng tạo được cơ sở vững chắc để xây dựng hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Luật kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005
  2. Giáo trình Luật quốc tế – trường Đại học Luật Hà Nội – Nxb Công an nhân dân năm 2010
  3. Giáo trình Luật quốc tế – Ths. Nguyễn Thị Kim Ngân, Ths. Chu Mạnh Hùng – Nxb Giáo dục Việt Nam năm 2010
  4. Giáo trình Công pháp quốc tế (quyển 1) – trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh – Nxb Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam năm 2013
  5. Nguyễn Thị Kim Ngân – Luận văn thạc sỹ luật học: “Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2001
  6. Phạm Bá Quyền – Luận văn thạc sỹ luật học: “Một số vấn đề pháp lý về tòa án hình sự quốc tế và việc gia nhập của Việt Nam” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2010
  7. Lê Thị Mai Anh – Luận văn thạc sỹ luật học: “Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2011
  8. Đinh Thị Thuấn – Luận văn thạc sỹ luật học: “Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về phòng chống tội phạm buôn bán người” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2011
  9. Nguyễn Thị Hoàng Anh – Luận văn thạc sỹ luật học: “Pháp luật quốc tế về chống khủng bố” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2012
  10. Phùng Thu Thủy – Khóa luận tốt nghiệp: “Hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tế trong luật quốc tế” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2010
  11. Trung tâm nghiên cứu khoa học – Ủy ban thường vụ Quốc hội – Thông tin chuyên đề: “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về phòng, chống khủng bố ở Việt Nam hiện nay” – Hà Nội, tháng 5 năm 2013
  12. http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/Phong-chong-tham-nhung/2012/16537/Phong-chong-toi-pham-phong-ngua-la-chinh-tuyen-truyen-la-giai.aspx
  13. http://www.pup.edu.vn/vi/Nghien-cuu-trao-doi/Nghien-cuu-thuat-ngu-%E2%80%9CDau-tranh-phong,-chong-toi-pham%E2%80%9D-trong-van-ban-quy-pham-phap-luat-cua-nha-nuoc…-708
  14. http://www.pup.edu.vn/vi/Nghien-cuu-trao-doi/Vai-tro-Hop-tac-quoc-te-phong,-chong-toi-pham-o-nuoc-ta-trong-giai-doan-hien-nay-495
  15. http://www.thongtintuyengiaogialai.vn/default1.asp?655=5&658=34&657=457&654=4
  16. http://tks.edu.vn/portal/detailtks/5880_79_61_Khai-niem-phong-ngua-toi-pham-duoi-goc-do-toi-pham-hoc.html?TabId=KS61&pos=4
  17. http://tks.edu.vn/portal/detailtks/5337_79_61_Phong,-chong-toi-pham–Sua-luat-de-tang-hieu-qua.html?TabId=KS61&pos=4

 

  1. http://tks.edu.vn/portal/detail/4957_79__Thuc-trang-thuc-thi,-tuan-thu-Cong-uoc-cua-Lien-hop-quoc-ve-chong-tham-nhung-o-Viet-Nam-hien-nay-va-mot-so-kien-nghi.html?TabId=KS61&pos=4

CÁ NHÂN CÓ THỂ THAM GIA VÀO MỘT SỐ QUAN HỆ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ NHẤT ĐỊNH NHƯNG KHÔNG VÌ THẾ MÀ THỰC THỂ NÀY TRỞ THÀNH CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ

Bài tập học kỳ Công pháp quốc tế có đáp án.

 

 

Trong bất cứ quan hệ pháp luật nào thì chủ thể luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng và là một trong những dấu hiệu để xác định mối quan hệ nào đó thuộc sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật nào. Luật Quốc tế là hệ thống pháp luật được tập hợp từ nhiều văn bản từ nhiều nguồn khác nhau. Việc nghiên cứu về chủ thể là rất cần thiết vì giúp tìm ra đâu là nguồn của luật, quan hệ nào thuộc sự điều chỉnh của luật.

 

 

Thực tế trên thế giới hiện nay ngoài quan điểm truyền thống cho rằng quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh, tổ chức liên chính phủ, chủ thể đặc biệt khác là chủ thể của luật thì còn có quan điểm (hiện đại) cho rằng cá nhân, các công ty xuyên quốc gia, tổ chức phi chính phủ cũng nên được xem là chủ thể của luật Quốc Tế. Đây là quan điểm mới và cũng được một số nước trên thế công nhận. Hiện tại ở Việt Nam mặc dù cũng có nhiều ý kiến về vấn đề mới này nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về quan hiện đại. Câu hỏi được đặt ra là: Chúng ta có suy nghĩ gì về vấn đề này? Có nên công nhận quan niệm này?

 

Đây là đề tài được xem là khá mới mẻ và còn nhiều vấn đề cần phải làm rõ nên chúng ta cần phải nghiên cứu sâu hơn để tìm ra lời giải đáp phù hợp với thực tiễn hiện nay. Với đề tài : Bình luận quan điểm “Trong thực tiễn, cá nhân có thể tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế nhất định nhưng không vì thế mà thực thể này trở thành chủ thể của Luật quốc tế” em sẽ đưa ra cái nhìn của bản thân dựa trên nền tảng các kiến thức cơ bản, chính thống về Luật quốc tế.

 

  1. Khái niệm về chủ thể của luật quốc tế

 

  • Định nghĩa chủ thể luật quốc tế

 

Mỗi hệ thống pháp luật đều có những chủ thể nhất định của nó. Đối với Luật quốc tế, số lượng cũng như quyền năng của từng loại chủ thể bị chi phối bởi phạm vi các quan hệ được Luật quốc tế điều chỉnh và trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn phát triển. Trong giai đoạn chiếm hữu nô lệ, quan hệ bang giao giữa các quốc gia còn hạn hẹp, chủ yếu là quan hệ giữa các quốc gia trong cùng khu vực, nên chủ thể của Luật Quốc tế trong giai đoạn này chỉ là các quốc gia chủ nô. Sang thời kỳ phong kiến, quan hệ giữa các quốc gia được mở rộng. Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng của tôn giáo (đặc biệt là thiên chúa giáo) đến các mặt của đời sống xã hội phong kiến khá rõ nét. Chính vì vậy, chủ thể Luật Quốc tế trong thời kì này bao gồm các quốc gia phong kiến, các nhà thờ thiên chúa giáo. Đến giai đoạn tư bản chủ nghĩa, đặc điểm của quan hệ quốc tế trong thời kỳ này mang tính chất “cá lớn nuốt cá bé”, chỉ có các quốc gia văn minh – quốc gia tư bản chủ nghĩa – mới được coi là chủ thể của luật quốc tế, còn các quốc gia kém phát triển, các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc không có tư cách này. Cách mạng tháng Mười năm 1917, chiến tranh thế giới và sự phát triển của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã dến sự ra đời của một loạt các quốc gia xã hội chủ nghĩa, cùng với đó là sự xuất hiện các dân tộc đấu tranh giành quyền tự quyết và các tổ chức liên chính phủ. Trước tình hình đó, trong luật quốc tế đặt ra vấn đề tồn tại nhiều loại chủ thể khác nhau bên cạnh chủ thể truyền thống là các quốc gia.

 

Dưới góc độ lý luận khoa học pháp lý, để xác định được đối tượng của Luật Quốc tế cần phải dựa vào các dấu hiệu cơ bản sau:

 

Có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế do Luật Quốc tế điều chỉnh.

 

Có ý chí độc lập trong sinh hoạt quốc tế.

 

Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế.

 

Có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể gây ra.

 

Từ những cơ sở trên, chúng ta có thể định nghĩa tổng quát khái niệm chủ thể của Luật Quốc tế như sau: Chủ thể của Luật Quốc tế là những thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ quốc tế và khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế từ những hành vi mà chính chủ thể thực hiện.

 

  • Đặc điểm của chủ thể luật quốc tế

 

Xét về vị trí, tính chất, vai trò chức năng và bản chất pháp lý… thì các chủ thể của Luật Quốc tế có sự khác nhau, tuy nhiên chúng bao giờ cũng có chung các đặc điểm cơ bản và đặc trưng sau: năng lực pháp luật, năng lực hành vi pháp luật và năng lực trách nhiệm pháp lý. Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể luật quốc tế có những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định. Năng lực hành vi pháp luật thể hiện qua sự thực hiện có ý thức các quyền và nghĩa vụ của chủ thể luật quốc tế. Chủ thể của luật quốc tế có năng lực trách nhiệm pháp lý đối với những vi phạm pháp luật quốc tế của mình. Những tính chất trên được gọi là tính chủ thể pháp lý.

 

  •  Phân loại chủ thể luật quốc tế theo quan niệm truyền thống

 

Hiện nay, trong quan hệ pháp Luật Quốc tế hiện đại thì chủ thể của Luật Quốc tế bao gồm:

 

Các quốc gia, đây là chủ thể cơ bản và chủ yếu của Luật Quốc tế.

 

Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, đây là chủ thể tiềm tàng của Luật Quốc tế.

 

Các tổ chức quốc tế liên chính phủ, đây là chủ thể phái sinh của Luật Quốc tế, được hình thành bởi sự hợp tác của các quốc gia trên nhiều lĩnh vực hướng đến lợi ích của các quốc gia và lợi ích chung của cộng đồng.

 

Các chủ thể đặc biệt khác.

 

  1. Có nên xem cá nhân là chủ thể của Luật quốc tế?

 

2.1. Khái niệm “cá nhân”

 

  • Định nghĩa “cá nhân”: Cá nhân là chủ thể mang tính tự nhiên, là một thực thể sinh học chiếm số lượng lớn nhất trong xã hội. Cá nhân là chủ thể thường xuyên và quan trọng nhất của nhiều ngành luật như: pháp luật dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật đất đai… bởi đây là chủ thể đầu tiên và cơ bản trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia chưa công nhận cá nhân là chủ thể của Luật Quốc tế.

 

  • Đặc điểm của cá nhân: Cá nhân có các đặc điểm riêng như sau:

 

+ Năng lực pháp luật của cá nhân: là khả năng có quyền và nghĩa vụ. Đây là những quyền do nhà nước quy định và không ai được tự hạn chế nghĩa vụ của mình cũng như quyền và nghĩa vụ của người khác. Mọi cá nhân sinh ra không phân biệt giới tính, thành phần dân tộc, giàu nghèo, tôn giáo… đều có năng lực pháp luật như nhau và được nhà nước đảm bảo thực hiện. Điều này được công nhận tại Điều 6 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948 (Ở bất kì nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật).

 

+ Năng lực hành vi của cá nhân: là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí cũng như độc lập chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Khả năng này được xác định dựa theo độ tuổi và khả năng nhận thức của con người. Năng lực hành vi của cá nhân ở các quốc gia khác nhau và ở nhiều thời điểm khác nhau là khác nhau.

 

2.2. Những quan điểm khác nhau về tính chủ thể của cá nhân trong Luật quốc tế

 

2.2.1. Quan điểm truyền thống –Mang nhiều ưu điểm

 

Quan điểm truyền thống cho rằng: Cá nhân không thể là chủ thể của luật quốc tế. Đây được coi là quan điểm chính thống của các nước XHCN, chủ thể của Luật Quốc tế chỉ là Quốc gia, các Tổ chức Quốc tế Liên Chính Phủ, các Dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và các chủ thể đặc biệt khác. Theo học thuyết thực nghiệm – doctrine possitive (Anzilotti, Triple) thì cộng đồng thế giới chỉ gồm các quốc gia, cá nhân không phải là chủ thể của Luật quốc tế, luật này chi phối nhiều quốc gia. Cũng theo học phái này, luật quốc tế chỉ có hiệu lực đối với cá nhân thuộc 1 quốc gia khi nào những quy tắc quốc tế đổi thành luật quốc nội  .

 

Rất rõ ràng nhận ra ưu điểm vượt trội của quan điểm này, thể hiện ở các điều sau đây:

 

– Thứ nhất: Quan điểm truyền thống đã đưa ra được các tiêu chí để đánh giá đâu là chủ thể của Luật Quốc tế, phân định rõ ràng giữa các chủ thể, không mơ hồ hay gây nhầm lẫn. Chủ thể Luật Quốc Tế được định nghĩa và có những đặc điểm nhận biết riêng biệt tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc các chủ thể này kí kết điều ước quốc tế hoặc tham gia điều ước quốc tế. Điều này giúp ta có thể nhận biết đâu là chủ thể Luật Quốc tế khi dựa vào các định nghĩa và đặc điểm này.

 

– Thứ hai: Chủ thể luật quốc tế theo quan điểm truyền thống có tính ổn định. Quốc gia – chủ thể cơ bản của Luật Quốc tế có một số lượng xác định, sự thay đổi về số lượng các quốc gia không lớn, mặt khác Quốc gia “không di động” giúp dễ dàng kiểm soát trong việc Quốc gia tuân thủ các Điều ước quốc tế đa phương như Hiến chương Liên Hợp Quốc, Luật biển Quốc tế…Sự ổn định này của quốc gia dẫn đến sự ổn định của các tổ chức liên chính phủ, các dân tộc dành thuộc địa. Ngược lại, nếu công nhận cá nhân là chủ thể của Luật quốc tế thì với tính chất “luôn di động, không ổn định” và số lượng quá lớn (hiện nay dân số thế giới đã đạt ngưỡng 7 tỷ người theo số liệu ngày 30/10/2011) thì việc kiểm soát là không đơn giản.

 

– Thứ ba: Các chủ thể của Luật Quốc tế có một địa vị pháp lí ngang bằng nhau trong các Điều ước Quốc tế song phương hay đa phương mà họ kí kết hay tham gia. Do đó khi thực hiện các Điều ước này họ ý thức được nghĩa vụ và quyền lợi của mình. Nếu xem cá nhân cũng là chủ thể của luật quốc tế, có nghĩa là cá nhân “ngang hàng” với Nhà nước thì sẽ tạo ra sự mâu thuẫn với sự quản lý của Nhà nước đối với cá nhân trong phạm vi quốc gia.

 

2.2.2. Quan điểm hiện đại – Còn nhiều hạn chế

 

Trái ngược với quan điểm nêu trên là học thuyết thực tế – doctrine réaliste (Duguit, Scelle Politis) cho rằng cá nhân là chủ thể duy nhất của luật quốc tế. Theo những tác giả đó, quốc gia là 1 phương tiện kỹ thuật, một phương thức tổ chức và quản trị những quyền lợi chung. Khi nói đến quốc gia, thì không thể không chú ý đến những cá nhân thành phần của quốc gia. Luật pháp – luật quốc nội hay luật quốc tế, thực ra, được đặt ra chỉ để phối hợp hoạt động của các cá nhân tức là các nhà cầm quyền và người dân. Bản thân quốc gia chỉ là một ý niệm trừu tượng không phải là một thể nhân, không thể có những quyền và nghĩa vụ. Cộng đồng thế giới không phải là một tập thể gồm những quốc gia thể nhân, ngược lại gồm có những cá nhân, và mối tương quan quốc tế là mối tương quan giữa cá nhân: vì có liên hệ gia đình, thương mại, văn hóa giữa những cá nhân thuộc những dân tộc khác nhau, nên có cộng đồng thế giới và luật quốc tế là phương tiện để cho việc giao dịch giữa các cá nhân được thuận lợi hơn. Một trong những học giả ủng hộ quan điểm này – Giáo sư người Nhật Sh.Oda cho rằng “Sau Đại chiến thế giới thứ nhất hình thành một quan điểm mới theo đó cá nhân là chủ thể các trách nhiệm về những vi phạm chống trật tự pháp luật thế giới và cá nhân phải bị truy tố và trừng phạt theo luật quốc tế”(Oda Sh.The Individual in International Law. London. 1978. p. 471). Tuy nhiên, chúng ta cần thấy rằng: Việc công nhận một chủ thể là chủ thể của Luật Quốc tế sẽ làm phát sinh rất nhiều quan hệ phức tạp cần giải quyết trên thực tế vì thế việc có công nhân cá nhân có phải là chủ thể Luật Quốc tế hay không phải dựa trên những tác động tích cực hay tiêu cực của từng chủ thể trên đến quan hệ quốc tế trên thực tiễn.

 

Nếu công nhận cá nhân là chủ thể Luật Quốc tế đồng nghĩa sẽ thể chế những quy định về quyền con người được ghi nhân trong Hiến chương Liên hợp quốc là tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Khi đó, cá nhân không những có quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế được nảy sinh từ điều Luật Quốc tế mà còn có quyền và khả năng yêu cầu quốc gia thực hiện các quyền con người và trong trường hợp cần thiết thỉnh cầu lên các Toà án Quốc tế để đảm bảo cho các quyền đó. Và lẽ tất nhiên những viện dẫn vào nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ của nước khác để cản trở sự điều tiết của Luật Quốc tế đối với vấn đề quyền con người sẽ không còn tồn tại nhiều như hiện nay. Nhưng đứng ở góc độ quốc gia thì sẽ phát sinh hiện tượng dựa vào con bài nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền và sẽ lại vi phạm nguyên tắc chủ quyền quốc gia.

 

Mặt khác việc cá nhân ngày càng tích cực tham gia vào hoạt động trên trường quốc tế làm cho các hoạt động này phức tạp hơn, khó điều khiển hơn, như một số ý kiến cho rằng “thật là vô ích nếu như xếp cá nhân vào hàng ngũ những chủ thể của Luật Quốc tế, bởi vì làm như vậy là vô hình chung công nhận một số quyền của cá nhân mà trên thực tế không có, phủ nhận tính tất yếu của sự khác biệt giữa cá nhân và các chủ thể khác trong luật quốc tế” .

 

Một số quốc gia cho rằng cá nhân là chủ thể của Luật Quốc tế vì quốc gia đó đang hiểu khái niệm Luật Quốc tế theo nghĩa rộng hơn, tức là bao hàm cả Công và Tư pháp Quốc tế. Tư pháp Quốc tế điều chỉnh các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài. Quan hệ dân sự ở đây tùy thuộc vào quan điểm lập pháp của mỗi nước mà có thể chỉ là quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản hoặc còn có thêm quan hệ hôn nhân gia đình, tố tụng dân sự, lao động, kinh doanh – thương mại… Yếu tố nước ngoài có thể là chủ thể tham gia quan hệ là cá nhân, pháp nhân  nước ngoài hoặc có khách thể là tài sản, công việc ở nước ngoài hoặc có sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi chấm dứt các quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài. Điểm đáng chú ý là chủ thể của Tư pháp Quốc tế có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc bao gồm cả Nhà nước nước ngoài. Trong Tư pháp Quốc tế, một cá nhân hoàn toàn có thể ngang hàng, bình đẳng về địa vị pháp lý với Nhà nước và Nhà nước hoàn toàn có thể đối mặt với một đơn kiện từ cá nhân. Do đó nếu một quốc gia xem Tư pháp Quốc tế là bộ phận của Luật Quốc tế thì cá nhân cũng là chủ thể của Luật Quốc tế. Trong phạm vi của đề tài đặt ra, em không đi sâu về vấn đề vị trí của Tư pháp Quốc tế nhưng em muốn nhấn mạnh rằng đây cũng là một trong các lý do chủ yếu dẫn đến sự khác biệt về quan điểm của các quốc gia trên thế giới về việc công nhận hay không công nhận cá nhân là chủ thể của Luật Quốc tế.

 

Tuy nhiên, thiết nghĩ ở đây nên có một cách nhìn đúng đắn và những việc làm cụ thể để quyền con người được thực hiện mà chủ quyền của quốc gia vẫn được toàn vẹn chứ không nên quá chú trọng vào vấn đề cá nhân có phải là chủ thể luật quốc tế hay không, bởi xét cho cùng đó thuộc về quan điểm của mỗi quốc gia. Và cũng cần nhấn mạnh rằng điều quan trọng không phải là tuyên bố một cách hình thức về tính chủ thể pháp lý cá nhân, về quyền con người mà nên tìm các biện pháp hữu hiệu để cho quyền con người được đảm bảo trong mối tương hỗ giữa nội Luật và Công pháp Quốc tế, trong sự hợp tác quốc tế giữa các tổ chức, quốc gia với nhau.

 

  1. Bảo vệ quan điểm KHÔNG xem cá nhân là chủ thể của Luật quốc tế

 

3.1. Về đối tượng điều chỉnh

 

Đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế là các quan hệ quốc tế phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên chủ yếu và quan trọng nhất vẫn là chính trị. Thật vậy, xu hướng tất yếu hiện nay đó là tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: từ kinh tế, văn hóa đến giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng… Nhưng ẩn sau hầu hết các quan hệ này đều ít nhiều có liên quan đến chính trị. Trong khi đó, các quan hệ mà cá nhân tham gia lại chủ yếu là các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) – phi chính trị.

 

Vì thế có thể suy ra rằng các quan hệ xã hội mà cá nhân tham gia trên thực tế với các quan hệ mà Luật Quốc tế điều chỉnh là không thống nhất với nhau. Căn cứ vào điều này có thể thấy cá nhân không thể là chủ thể của Luật quốc tế.

 

3.2. Về các dấu hiệu cơ bản của chủ thể luật quốc tế

 

Một thực thể được xem là chủ thể của luật quốc tế nếu cùng lúc đáp ứng cả 4 dấu hiệu dưới đây. Vì vậy, để chứng minh cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế, em sẽ phân tích để chỉ ra rằng cá nhân không đáp ứng đủ tất cả các điều kiện. Từ đó khẳng định quan điểm “Trong thực tiễn, cá nhân có thể tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế nhưng không vì thế thực thể này trở thành chủ thể của luật quốc tế” là đúng.

 

Thứ nhất: Về sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế do Luật Quốc tế điều chỉnh.

 

Một chủ thể của luật quốc tế, trước tiên phải có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế do luật quốc tế điều chỉnh. Tuy nhiên điều này cũng không đồng nghĩa với việc mọi thực thể có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế thì được coi là chủ thể của luật quốc tế. Bởi để được công nhận là một chủ thể của luật quốc tế, thực thể còn phải đảm bảo các yếu tố khác được đề cập trong phần sau.

 

Sự tham gia của cá nhân vào các quan hệ pháp luật quốc tế được Luật quốc tế thừa nhận. Một số các tác giả đã viện dẫn các Điều ước Quốc tế về quyền con người (ví dụ như Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948), về vị thế pháp lý của một số nhóm cá nhân trong Luật Quốc tế (Công ước Quốc tế về quyền của người tị nạn 1951), hay quyền của cá nhân được thỉnh cầu lên các Tòa án Quốc tế (Điều 190 Công ước Quốc tế về Luật Biển 1982 cá nhân có quyền được đưa đơn kiện nhà nước tham gia Công ước và đòi hỏi được xét xử tại Toà án Quốc tế về biển), khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế ( ví dụ như Điều lệ Tòa án binh quốc tế 1945, Công ước Quốc tế về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948…). Ngoài ra, theo quy định của pháp luật quốc tế, cá nhân có thể tham gia hạn chế trọng một số quan hệ pháp luật quốc tế đặc biệt, ví dụ, trong quan hệ tố tụng quốc tế, khi Tòa án quốc tế xét xử tội phạm chiến tranh.

 

Bên cạnh đó, không thể phủ nhận là luật pháp được đặt ra để chi phối hoạt động của cá nhân, và cá nhân là chủ thể thực sự của luật pháp. Ví dụ: khi quốc gia kí kết một hiệp ước về sự giao thông trên một sông lớn hay một kênh quốc tế, việc kí kết đó nhằm thiết lập một quy chế cho con sông hay kênh với mục đích là để cho các cá nhân có sự tự do hoạt động thương mại. Khi một hiệp ước ấn định một sự chuyển nhượng lãnh thổ từ một quốc gia cho một quốc gia khác, hiệp ước đó tất nhiên liên quan đến các cá nhân sông trên phần lãnh thổ được chuyển nhượng, các cá nhân này sẽ phải thay đổi quốc tịch. Nhiều hiệp ước quốc tế liên quan đến sự chuyển nhượng lãnh thổ có hậu quả đối với cá nhân, vì những hiệp ước này có thể cho phép cá nhân rời nước mình hoặc ở lại nhưng phải thay đổi quốc tịch, tuân theo chế độ chính trị mới. Những thí dụ trên cho thấy rõ cá nhân có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế cho Luật quốc tế điều chỉnh.

 

Tuy nhiên, sự tham gia này của cá nhân không tất yếu dẫn đến khả năng tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế khác với tư cách là chủ thể của luật quốc tế. Thực tế đã cho thấy cá nhân không có quyền kí kết các điều ước quốc tế, không có quyền tài phán,… mặc dù cá nhân được tham gia một số quan hệ pháp luật đặc biệt.

 

Rõ ràng, không thể phủ nhận sự tham gia của cá nhân vào các quan hệ pháp luật quốc tế nhưng cá nhân chỉ có khả năng tham gia rất hạn chế vào một số các quan hệ quốc tế xác định hoặc tham gia các quan hệ này một cách gián tiếp thông qua Nhà nước. Điều này liên quan đến dấu hiệu thứ hai: Ý chí độc lập trong sinh hoạt quốc tế.

 

Thứ hai: Về ý chí độc lập trong sinh hoạt quốc tế.

 

Ý chí độc lập trong sinh hoạt quốc tế là một trong những dấu hiệu cơ bản, đặc thù của chủ thể luật quốc tế. Mọi thực thể muốn được công nhận là chủ thể của luật quốc tế đều phải có ý chí độc lập trong các quan hệ quốc tế, nói cách khác, không phụ thuộc vào bất cứ chủ thể quốc tế nào khác. Mỗi chủ thể luật quốc tế đều có tư cách bình đẳng với nhau và sự bình đẳng này thể hiện trong việc các chủ thể có quyền tự do, độc lập, tự quyết sự tham gia của mình vào các quan hệ quốc tế như có thể tự mình kí kết, gia nhập, tham gia các điều ước quốc tế…Một thực thể tham gia các quan hệ pháp luật quốc tế mà không có sự độc lập về ý chí thì không thể trở thành chủ thể của luật quốc tế.

 

Từ sự phân tích ở trên, ta có thể thấy cá nhân hoàn toàn có thể tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế do luật quốc tế điều chỉnh. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: Khi tham gia các quan hệ pháp luật quốc tế đó cá nhân có sự độc lập về ý chí hay không? Câu trả lời là: không. Bởi lý do đơn giản là cá nhân luôn chịu sự chi phối của các chủ thể luật quốc tế khác khi tham gia các quan hệ quốc tế, đặc biệt là Quốc gia. B.M Shurshaloff V.M đã viết trong cuốn Quan hệ pháp lý quốc tế rằng  “Cá nhân do chịu sự cai trị của quốc gia không thể thay mặt mình hoạt động trên trường quốc tế như một chủ thể của luật quốc tế” .

 

Rõ ràng, cá nhân có thể có nhiều quyền mà luật quốc tế ấn định, như quyền xuất ngoại, du nhập vào nước khác, quyền thụ đắc tài sản, quyền hoạt động thương mại,… nhưng cá nhân luôn phải nhờ quốc gia mình can thiệp với nước ngoài, để nước ngoài công nhận những quyền đó của cá nhân. Như thế, rõ ràng là khi tham gia vào tất cả các quan hệ của đời sống xã hội thì cá nhân vẫn chịu một sự chi phối rất lớn từ ý chí, từ quyền lực chính trị của chủ thể đặc biệt – đó là Nhà nước. Một mặt, cá nhân không được làm trái, đi ngược lại các quy định của pháp luật quốc gia. Một mặt, cá nhân không thể tự mình tham gia vào một số các quan hệ quốc tế mà phải thông qua nhà nước.

 

Vậy sự chi phối của Nhà nước đối với cá nhân thể hiện như thế nào? Ví dụ: Những hiệp ước liên quan đến cá nhân như hiệp ước thương mại, hiệp ước lưu thông,… có thể đem lại cho cá nhân những quyền năng nhất định nhưng không thể đem lại cho cá nhân sự đảm bảo cần thiết đối với quyền năng đó. Một khi quốc gia không tham gia vào hiệp ước hoặc quốc gia có chiến tranh, có xung đột, các hiệp ước trên có thể vô hiệu và cá nhân sẽ đương nhiên mất khả năng tham gia vào các quan hệ mà hiệp ước quy định. Hiệu lực của hiệp ước, khả năng tham gia các quan hệ quốc tế của cá nhân tùy thuộc rất nhiều vào quy định của quốc gia. Bản thân cá nhân không thể dùng ý chí để quyết định được.

 

Ví dụ: Điều 6 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948 quy định: “Những kẻ phạm tội diệt chủng sẽ bị 1 Tòa án có thẩm quyền của quốc gia nơi hành vi phạm tội được thực hiện xét xử hoặc một tòa án hình sự quốc tế có thể phán quyết trên cơ sở các quốc gia thanh viên sẽ chấp nhận thẩm quyền của Tòa án quốc tế đó” Với quy định này có thể thấy, một cá nhân phạm tội diệt chủng, tùy thuộc vào ý chí của các quốc gia, có thể bị xét xử bởi 1 tòa án của quốc gia hoặc bị xét xử bởi 1 tòa án quốc tế do các quốc gia thỏa thuận thành lập. Cá nhân không có quyền lựa chọn, tức là không có ý chí trong một quan hệ pháp luật quốc tế mà mình tham gia.

 

Như vậy, cá nhân không  có ý chí độc lập khi tham gia các quan hệ quốc tế, và như vậy cá nhân không thể là một chủ thể của luật quốc tế.

 

Thứ ba: Về việc có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế.

 

Xuất phát từ việc các chủ thể luật quốc tế hoàn toàn có ý chí độc lập trong các quan hệ quốc tế, dẫn đến đặc trưng thứ ba của chúng: Có đầy đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của luật quốc tế. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc mọi thực thể có các quyền và nghĩa vụ riêng biệt với các chủ thể luật quốc tế đều được coi là chủ thể của luật quốc tế.

 

Không thể phủ nhận rằng, trên thực tế, có một số trường hợp luật quốc tế trao các quyền và nghĩa vụ trực tiếp cho cá nhân. Đó là trường hợp mà luật quốc tế đặt ra để bảo vệ con người chống chế độ mãi nô (bản tuyên ngôn Bruxelles năm 1890, Hiệp ước Béc Lin năm 1885, Điều 11 Hiệp ước Sain Germanien Laye năm 1919 đã hủy bỏ chế độ nô lệ và sự mãi nô ở Châu Phi), chống sự diệt chủng (Hiệp ước ngăn ngừa và trừng phạt sự diệt chủng năm 1948), để bảo vệ những quyền của dân tộc thiểu số, dân tị nạn và vô quốc tịch (Hiệp định thơ Lahaye năm 1930 nhằm giảm thiểu số người vô quốc tịch và thực hiện sự nhập cảnh người tị nạn tại các quốc gia đã chấp nhận sự nhập cảnh đó; Hiệp ước Genive năm 1923 ấn định 1 quy chế cho dân tị nạn, những người này được trợ giúp, được cấp thể căn cước đặc biệt tại quốc gia cho phép tị nạn; Hiệp ước Giơnevơ năm 1951 xác định quy chế của dân tị nạn);…

 

Đặc biệt là sự ra đời của Bản tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/2948 đã công nhận mọi cá nhân, bất luận là người dân quốc gia độc lập hay bị trị đều được hưởng các quyền và tự do trong bản tuyên ngôn. Các quyền và tự do căn bản trong bản tuyên ngôn có thể được chia thành 4 loại: (1) Các quyền về tự do cá nhân (Từ điều 3 đến điều 13) như các quyền sống tự do và an toàn, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được được bảo vệ chống lại mọi sự bắt bớ giam giữ trái phép, mọi sự tran tấn, trừng phạt dã man, quyền tự do đi lại, xuất ngoại, hồi hương; (2) Các quyền về tự do trong mối liên lạc với người khác (Điều 14 đến Điều 16) như quyền tị nạn, quyền có quốc tịch, quyền lập gia đình; (3) Các quyenf tự do tinh thần và tự do chính trị (từ Điều 17 đến Điều 21) như quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, tự do bầu cử, ứng cử, quyền tham gia các công việc công; (4) Các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (Điều 22 đến Điều 27) như quyền có việc làm, quyền tự do chọn việc làm, tự do lập nghiệp đoàn, được hưởng các chế độ an ninh xã hội, tự do học tập, hưởng một nền giáo dục căn bản và miễn phí, tự do tư tưởng về khoa học,…

 

Một số nhà luật học đã dựa vào những căn cứ như trên đã đề cập, họ chứng minh rằng cá nhân vẫn được hưởng quyền và các nghĩa vụ như các chủ thể khác của luật quốc tế. Tuy nhiên, theo quan điểm của em thì dù các Điều ước Quốc tế trên là hướng tới con người, hướng tới cá nhân thì những quyền, nghĩa vụ cá nhân tồn tại trong Điều ước quốc tế đó chỉ với ý nghĩa là khách thể của các quan hệ pháp luật điều ước quốc tế về quyền con người, hình thành từ sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau hay với tổ chức quốc tế. Cá nhân trong các mối quan hệ như vậy chỉ có thể là đối tượng của những thỏa thuận hay cam kết quốc tế mà không thể là chủ thể của những mối quan hệ đó được. Bình luận về vấn đề này, B.M Shurshaloff cho rằng các Điều ước Quốc tế được ký kết giữa các quốc gia với nhau, quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các Điều ước này là dành cho nhà nước và nhà nước có phải đảm bảo cho cá nhân có những quyền trên, vì bản thân những Điều ước đó không thể nào được thực thi nếu không được nhà nước cụ thể hóa trong Luật quốc gia. Vào đầu thế kỷ XX nhà luật học nổi tiếng Martence cũng có quan điểm như vậy. Ông cho rằng cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế nhưng có những quyền nhất định trong quan hệ quốc tế. Những quyền đó được nảy sinh từ bản chất tự nhiên của con người, từ tình thế họ là công dân của một quốc gia  .

 

Như vậy, cần phải thấy rằng việc cá nhân tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế về quyền con người là do sự thỏa thuận của các chủ thể luật quốc tế. Cá nhân chỉ là chủ thể của quyền con người chứ không phải chủ thể của luật quốc tế về quyền con người. Có thể lấy ví dụ bản tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền để chứng minh cho điều này. Bản tuyên ngôn nhân quyền chỉ có hiệu lực ràng buộc về phương diện tinh thần, vì bản tuyên ngôn chỉ bao gồm những nguyên tắc, luân lý hoặc triết lý. Đoạn cuối bài tự của bản tuyên ngôn có viết: “Đại hội đồng liên hợp quốc Công bố bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản Tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các Quốc gia thành viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ.” Bản tuyên ngôn không phải là một hiệp ước, vì lẽ ấy, bản tuyên ngôn không có hiệu lực pháp lý, không thể coi như đương nhiên có hiệu lực hủy bỏ Luật quốc nội trong trường hợp luật quốc nội trái với bản tuyên ngôn. Quốc gia hoàn toàn có quyền hủy bỏ quy tắc quốc nội trái với bản tuyên ngôn. Điều đó cũng có nghĩa là hiệp ước chỉ có hiệu lực với một cá nhân khi quốc gia mà cá nhân đó mang quốc tịch tham gia điều ước hoặc những quy tắc quốc tế đó được ban hành trong quốc gia, và như thế, đã trở thành luật quốc nội của quốc gia đó.

 

Trên đây mới bàn đến những quyền, nghĩa vụ của cá nhân có thể gây nhầm lẫn trong việc xác định tư cách chủ thể luật quốc tế của cá nhân. Một điều quan trọng nữa là, trên thực tế có rất nhiều quyền và nghĩa vụ cá nhân không hề có. Theo tập quán quốc tế, những cá nhân không có những quyền hạn do Luật quốc tế ấn định mà những quyền này được dành cho quốc gia. Chẳng hạn như cá nhân không thể thưa kiện trước tòa án quốc tế, không thể kí kết các hiệp ước quốc tế,…

 

Như vậy, có thể khẳng định cá nhân không các quyền, nghĩa vụ ngang bằng, riêng biệt với các chủ thể khác của luật quốc tế mà phải chịu sự tác động của quốc gia.

 

Thứ tư: Về khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể gây ra.

 

Có thể thấy rằng không một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế, trên nó không tồn tại quyền lực chính trị nào chi phối hoạt động của nó và khi tham gia vào các quan hệ quốc tế thì các chủ thể có vị trí độc lập, bình đẳng với nhau. Khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi của mình gây ra có quan hệ mật thiết với khả năng có sự tự do ý chí tham gia các quan hệ quốc tế.

 

Do đó, một điều tất yếu từ việc cá nhân không có các quyền, nghĩa vụ riêng biệt theo quy định của luật quốc tế là cá nhân sẽ không có sự tự do ý chí tham gia các qan hệ quốc tế, đồng thời cá nhân cũng không có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi của mình gây ra 1 cách độc lập. Một khi không có vị trí độc lập bình đẳng với các chủ thể khác, cá nhân sẽ không thể độc lập gánh chịu trách nhiệm pháp lý do những hành vi của mình gây ra.

 

Thực tiễn ta thấy rằng, trong mối tương quan về địa vị pháp lý trong Luật quốc gia thì nhà nước luôn có quyền tài phán đối với công dân nước mình, phần lớn các quan hệ phát sinh giữa cá nhân với nhà nước đều được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy, mệnh lệnh phục tùng. Mặt khác, chúng vẫn có thể bị tài phán bởi các cơ quan quốc tế khác (ví dụ như Tòa án binh Quốc tế) theo Luật Quốc tế. Vì vậy, khi tham gia vào các hoạt động, cá nhân luôn bị chi phối ảnh hưởng bởi quyền lực chính trị và khi tham gia vào quan hệ với các chủ thể khác của Luật Quốc tế thì chúng khó có thể có được vị trí độc lập và bình đẳng.

 

KẾT LUẬN

 

Hiện nay việc có nên đưa cá nhân vào là chủ thể của Công pháp quốc tế hay không cũng đang còn là vấn đề gây tranh cãi lớn. Dù không ủng hộ quan điểm này nhưng em vẫn mong muốn rằng trong tương lai cá nhâ có thể tham gia nhiều hơn nữa vào đời sống quốc tế. Luật Quốc tế cũng như Luật quốc gia đều có sự phát triển, thay đổi theo quá trình phát triển khách quan của xã hội. Vì vậy với sự phát triển và hội nhập toàn cầu như hiện nay thì mở rộng khái niệm “Luật Quốc tế” là điều cần thiết nhưng cần có sự nhìn nhận phù hợp với khoa học pháp lý của từng chế độ, từng hình thức chính trị của mỗi quốc gia.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1.  Giáo trình Luật Quốc tế – Đại học luật Hà Nội, 2010

 

  1. “Luật quốc tế”, Lưu Văn Bình, giảng viên luật Đh Luật Hà Nội, thư viện ĐH Luật Hà Nội

 

  1. “Đôi điều đánh giá về quan điểm cho rằng: Chủ thể của Luật quốc tế còn có cá nhân, các công ty xuyên quốc gia, tổ chức phi chính phủ”, tiểu luận Luật quốc tế, xem: tailieu.vn.

 

  1. “Cá nhân, chủ thể của Luật Quốc tế?”, Nguyễn Đức Lam.

 

  1. Hiến chương Liên Hiệp quốc.

 

 

  1. Tuyên ngôn Liên hợp quốc về nhân quyền.

HÀNH VI SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CỦA LIMON CÓ PHÙ HỢP VỚI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ KHÔNG – BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

TH9: Pizza và Limon là hai quốc gia hiện đang có tranh chấp về biên giới trên bộ. Quan hệ giữa hai nước ngày càng trở nên căng thẳng do những vụ xung đột thường xuyên xảy ra tại khu vực biên giới. Ngày 5/5/2010, Pizza phát hiện Limon đã thành công trong việc làm giàu uranium ở quy mô lớn và đang triển khai sản xuất vũ khí hạt nhân. Limon không phủ nhận thông tin làm giàu uranium những khẳng định mục đích duy nhất của họ là nhằm tạo ra năng lượng điện, sử dụng vào mục đích hòa bình.

Ngày 10/6/2010, một nhóm vũ trang từ lãnh thổ Pizza đã vượt biên giới, tấn công và phá hủy các cơ sở hạt nhân của Limon. Đáp trả hành động nói trên, Limon sử dụng máy bay ném bom các trung tâm thương mại, đài truyền hình trung ương và các nhà máy điện của Pizza, gây nhiều thiệt hại về người. Hãy cho biết:

 

– Hành vi sử dụng lực lượng vũ trang của Limon có phù hợp với pháp luật quốc tế không? Giải thích tại sao?

 

– Pizza có quyền áp dụng những biện pháp đáp trả nào đối với Limon? Giải thích tại sao?

 

  1. Hành vi sử dụng lực lượng vũ trang của Limon có phù hợp với pháp luật quốc tế không? Giải thích tại sao?

 

– Trả lời: Không.

 

– Giải thích:

 

Hành vi sử dụng lực lượng vũ trang của Limon đã vi phạm pháp luật quốc tế, cụ thể là vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực – một quy phạm Jus cogens được ghi nhận trong khoản 4 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc “Tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp quốc.”

 

Điều kiện một chủ thể bị coi là vi phạm nguyên tắc này là : Một, có hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực; và Hai, hành vi đó trái pháp luật quốc tế. Như vậy, để chứng minh hành vi của Limon có vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực hay không cần chứng minh được cả hai điều kiện trên.

 

Thứ nhất, có thể khẳng định hành vi của Limon là hành vi sử dụng vũ lực. Khái niệm “vũ lực” được sử dụng trong Hiến chương bao gồm sức mạnh vũ trang và cả các loại sức mạnh phi vũ trang khác. Hành vi sử dụng máy bay ném bom các trung tâm thương mại, đài truyền hình trung ương và các nhà máy điện quốc gia khác của Limon rõ ràng là hành vi sử dụng sức mạnh vũ trang, bởi Limon đã dùng máy bay ném bom tấn công Pizza – loại máy bay dùng cho mục đích quân sự được sử dụng để tấn công các mục tiêu trên mặt đất, gây thiệt hại về lớn về kinh tế, con người.

 

Thứ hai, hành vi sử dụng vũ lực của Limon là trái với pháp luật quốc tế. Sở dĩ phải đặt ra điều kiện pháp lý cho một hành vi sử dụng vũ lực là bởi Hiến chương Liên hợp quốc không chỉ cấm các biện pháp vũ lực bất hợp pháp mà còn cho phép các biện pháp vũ lực hợp pháp, được quy định tại các điều từ 39 đến 42, điều 51. Theo đó, có hai trường hợp sử dụng hợp pháp lực lượng vũ trang là: sử dụng vào mục đích tự vệ (Điều 51), và theo quyết định của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc khi có đe dọa hòa bình, xâm phạm hòa bình hoặc bị xâm lược (từ điều 39 đến 42).

 

Nhìn bề ngoài, hành vi của Limon có vẻ mang tính chất tự vệ chính đáng, bởi trước đó, Limon không hề có ý định tấn công Pizza mà do Pizza đã đơn phương vượt biên giới, tấn công và phá hủy các cơ sở hạt nhân của Limon. Hành vi đó của Pizza bị coi là vi phạm nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực nên theo tinh thần của Điều 51 thì Limon hoàn toàn có quyền tự vệ chính đáng. Tuy nhiên, cần phải lưu ý, Điều 51 quy định về “quyền tự vệ” của các quốc gia chứ không cho phép một quốc gia tiến hành trả đũa đối với những cuộc tấn công trước đó. Hành vi trả đũa không thể coi là thực hiện quyền tự vệ, bởi trong khi tự vệ là hành động cần thiết để bảo vệ nền hòa bình của quốc gia khi có sự tấn công vũ trang thì trả đũa lại mang bản chất là hành vi trừng phạt đối với quốc gia khác. Quốc gia áp dụng biện pháp trả đũa vẫn làm phát sinh trách nhiệm pháp lý quốc tế nếu không đảm bảo nguyên tắc vừa mức. Sự không vừa mức thể hiện rất rõ ràng trong sự tấn công của Limon nhằm vào Pizza, trong khi Pizza chỉ tấn công các cơ sở hạt nhân bằng đường bộ thì Limon còn dùng máy bay quân sự ném bom vào cơ sở kinh tế, truyền thông và gây nhiều thương vong cho phía Pizza. Những hành động vũ trang quá “mạnh tay” đó không thể nói là vì mục đích tự vệ đơn thuần mà Limon chỉ lấy “tự vệ” như lí do để hợp pháp hóa hành vi xâm lược của mình. Điều đó chứng tỏ hành vi sử dụng vũ lực của Limon là vi phạm luật quốc tế.

 

Rõ ràng, Limon không thể đưa ra những lý do có vẻ chính đáng để biện hộ cho hành vi sai trái của mình và luật quốc tế cũng không cho phép các quốc gia viện dẫn căn cứ miễn trách nhiệm pháp lý quốc tế để vi phạm các quy phạm luật quốc tế mang tính chất Jus cogens.

 

  1. Pizza có quyền áp dụng những biện pháp đáp trả nào đối với Limon? Giải thích tại sao?

 

Trước hành vi phạm pháp luật quốc tế của Limon, Pizza có thể áp dụng những biện pháp đáp trả sau đây:

 

– Thứ nhất:Sử dụng quyền tự vệ chính đáng. Do Limon đã tấn công vũ trang bất hợp pháp nhằm vào Pizza nên Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc đã cho phép Pizza được sử dụng các lực lượng vũ trang để tự vệ cho đến khi Hội đồng bảo an chưa áp dụng được những biện pháp cần thiết để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Tuy nhiên cần lưu ý, khi thực hiện quyền tự vệ, quốc gia bị tấn công cần tuyên bố về sự kiện bị tấn công và thông báo ngay cho Hội đồng bảo an. Nếu như thiếu sự thông báo này thì việc sử dụng vũ lực của quốc gia không được xem là tự vệ chính đáng.

 

– Thứ hai: Đưa ra Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Do có sự xâm phạm hòa bình quốc gia, Pizza có quyền đề xuất lên Hội đồng bảo an để giải quyết. Hội đồng bảo an sẽ xác định sự đe dọa hoà bình, phá hoại hoà bình và đưa ra những kiến nghị hoặc quyết định các biện pháp nào nên áp dụng phù hợp để duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế (Điều 39), bao gồm các biện pháp quân sự (biểu dương lực lượng, phong toả và những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc thực hiện) hoặc phi quân sự (cắt đứt toàn bộ hay từng phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường biển, hàng không, bưu chính, điện tín, vô tuyến điện và các phương tiện thông tin khác, kể cả việc cắt đứt quan hệ ngoại giao) (Điều 41, 42).

 

– Thứ ba: Áp dụng hình thức trả đũa hợp pháp (reprecalia). Đây là một hình thức truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế do bên bị hại tiến hành, nhằm mục đích trừng phạt những hành vi vi phạm pháp luật quốc tế. Theo nguyên tắc chung, việc truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế dưới hình thức trả đũa cần được tiến hành một cách vừa mức. Ở đây, do có sự vi phạm pháp luật quốc tế của Limon đối với mình, với tư cách là bên bị hại, Pizza hoàn toàn có thể áp dụng hình thức trả đũa một cách hợp pháp.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Giáo trình Luật quốc tế, Đại học Luật Hà Nội, 2011
  2. Hiến chương Liên hợp quốc.

TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ TỚI QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN CÁC VĂN BẢN LUẬT CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM – 8 ĐIỂM

Bài tập học kỳ Công pháp quốc tế có đáp án.

 

Theo khoa học pháp lý quốc tế hiện đại, Luật Quốc tế là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật, được quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế.

 

 

Mối quan hệ giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia là vấn đề mang tính lý luận cơ bản, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật ở từng quốc gia. Mối quan hệ này được thể hiện ở nhiều nội dung và dưới nhiều cấp độ khác nhau. Trên quy mô toàn cầu, mối quan hệ biện chứng qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia diễn ra theo hai chiều hướng: Luật quốc gia ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển, quá trình xây dựng và thực hiện Luật Quốc tế; Luật Quốc tế thường xuyên thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của pháp luật quốc gia. Đối với từng quốc gia, sự tác động qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia tùy thuộc vào mức độ tham gia quan hệ quốc tế của quốc gia đó.

 

 

Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã chủ động từng bước tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Trong quá trình tham gia vào quan hệ quốc tế, ảnh hưởng qua lại giữa Luật Quốc tế và Luật quốc gia của Việt Nam là tương đối rõ nét. Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của bài tiểu luận, em xin được chọn đề tài:

 

Phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm

 

NỘI DUNG

 

  1. Cơ sở lý luận

 

  1. Khái niệm đấu tranh phòng chống tội phạm

 

Để có cách sử dụng chính xác thuật ngữ “đấu tranh phòng, chống tội phạm” đảm bảo tính khoa học và toàn diện, cần phân tích nội hàm của các thuật ngữ này qua các từ của thuật ngữ. “Đấu tranh” là từ Hán Việt, có nghĩa tương đương với “chống”, theo đó “đấu tranh” ở đây được hiểu là công tác điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội. “Chống” được hiểu là sự đấu tranh trực diện giữa một bên là chủ thể có thẩm quyền và một bên là tội phạm. Còn “phòng ngừa” là ngăn ngừa hoặc ngăn chặn để không cho tội phạm xảy ra

 

Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.

 

  1. Một số văn bản pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực phòng chống tội phạm

 

– Luật phòng, chống mua bán người ngày 29/03/2011

 

– Nghị định số 72/2010/NĐ-CP ngày 08/7/2010 quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường

 

– Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP “Về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới” ngày 31/7/1998.

 

– Chỉ thị số 37/2004/CT-TTg “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm của Chính phủ đến năm 2010”

 

– Nghị định số 25/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/04/2014 quy định về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao.

 

– Một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên:

 

+ Công ước New York ngày 15/11/2000 về Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia  (kèm theo bảo lưu và tuyên bố), có hiệu lực đối với Việt Nam kể từ ngày 08/6/2012

 

+ Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng

 

+ Công ước của Liên hợp quốc về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia

 

+ Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia

 

– Các hiệp định song phương và đa phương khác về tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm…

 

  1. Luật Quốc tế có tác động đến sự phát triển và hoàn thiện của Luật quốc gia

 

Khi tham gia quan hệ quốc tế, quốc gia có nghĩa vụ phải tận tâm thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế của mình. Điều này được quốc gia thể hiện thông qua nhiều hành vi cụ thể khác nhau trong đó có hành vi sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia sao cho các quy định của pháp luật quốc gia vừa mang tính đặc thù của mỗi quốc gia vừa phù hợp với các cam kết quốc tế của quốc gia. Chính vì vậy, các quy định có nội dung tiến bộ của Luật Quốc tế thể hiện thành tựu mới của khóa học pháp lý dần dần sẽ được truyền tải vào trong các văn bản pháp luật quốc gia. Những thành tựu này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của pháp luật quốc gia, đảm bảo cho quốc gia vừa có thể hội nhập vào nền tảng pháp lý chung, vừa có thể thiết lập được một hệ thống pháp luật quốc gia hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.

 

Ở Việt Nam, vấn đề áp dụng các điều ước quốc tế được thực hiện theo quy định của pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, cụ thể là: “Trong trường hợp việc thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi phải bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cơ quan các ngành hữu quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trình kiến nghị về việc bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản pháp luật đó” (khoản 6 điều 11)

 

Điều ước quốc tế được Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết với danh nghĩa Nhà nước, Chính phủ hoặc cấp ngành. Do vậy, khi một điều ước quốc tế được phía Việt Nam ký kết hoặc gia nhập thì có nghĩa là Nhà nước, Chính phủ hoặc ngành liên quan có trách nhiệm thực hiện điều ước quốc tế đó bằng cách nội luật hóa hoặc quy chiếu trực tiếp, có nghĩa là nó sẽ nằm trong hệ thống pháp luật quốc gia, khi đó, mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia quan hệ xã hội được nó điều chỉnh phải tuân theo. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập quy định những vấn đề mà pháp luật trong nước chưa điều chỉnh thì nó có thể trở thành căn cứ pháp lý để ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong nước, đặc biệt là các văn bản của bộ, ngành. Trường hợp điều ước quốc tế và luật nội địa cùng quy định về một vấn đề thì về nguyên tắc, luật nội địa phải phù hợp với điều ước quốc tế bằng cách phải sửa đổi, bổ sung hoặc dẫn chiếu áp dụng điều ước quốc tế. Như vậy, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là căn cứ cho việc ban hành văn bản. Chính vì vậy mà các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nói riêng và pháp luật quốc tế nói chung là cơ sở, căn cứ quan trọng để chúng ta phát triển, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước.

 

  1. Tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm

 

Để phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm, em xin được đi vào phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm cụ thể, đó là: đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người; đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng và đấu tranh phòng chống khủng bố quốc tế.

 

  1. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người

 

Hiện nay, ở Việt Nam tình hình buôn bán người đang gia tăng và diễn biến phức tạp. Việc nghiên cứu các quy định trong Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và các nghị định thư bổ sung, đặc biệt là Nghị định thư về phòng chống buôn bán người vào thời điểm này rất có ý nghĩa thực tiễn về mặt pháp lý, một trong những nỗ lực của Việt Nam nhằm giảm thiểu nạn buôn bán người là việc thông qua Luật phòng chống mua bán người.

 

Những quy định cơ bản của pháp luật về buôn bán người

 

Nhìn chung, pháp luật Việt Nam thông qua Luật phòng chống buôn bán người và Luật quốc tế thông qua Nghị định thư về phòng chống buôn bán người đều quy định những vấn đề như:

 

– Hình sự hóa những hành vi liên quan đến tội phạm buôn bán người: phù hợp với quy định tại Điều 5 Nghị định thư về chống buôn bán người, pháp luật Việt Nam đã quy định tương đối đầy đủ các hành vi phạm tội có liên quan đến tội buôn bán người và những hành vi phạm tội đó đều chịu những mức xử lý nghiêm khắc. Liên quan đến hành vi phạm tội buôn bán người được quy định tại Điều 119, 120, Điều 20 tội đồng phạm, Điều 254, 255, 256, 273, 274, 275 BLHS; Điều 3 Luật phòng chống buôn bán người; Nghị định 68/2002/CP ngày 10/07/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều luật của Luật hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có nhiều điều khoản liên quan đến phòng chống buôn bán người như: điều 2, 18, 21, 35, 50, 58.

 

– Thẩm quyền điều tra, quyền tài phán ngoài phạm vi lãnh thổ: pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa các quy định tại Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia tại Điều 5, Điều 6 BLHS. Theo như quy định này thì Việt Nam cũng có thể có thẩm quyền tài phán ngoài lãnh thổ đối với các tội phạm được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam trong các trường hợp như người bị hại là công dân Việt Nam, người không có quốc tịch thường trú tại Việt Nam; hành vi phạm tội có tổ chức được thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam nhằm để thực hiện một tội phạm nghiêm trọng tại Việt Nam hoặc hành vi tham gia rửa tiền hay rửa tiền chưa đạt được thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhằm để sẽ rửa tiền tại Việt Nam. Quyền tài phán ngoài lãnh thổ được quy định rất rõ trong các Hiệp định song phương hay đa phương mà Việt Nam ký kết với các nước khác trong từng lĩnh vực cụ thể.

 

– Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp: Nghị định thư về chống buôn bán người không đề cập vấn đề dẫn độ tội phạm buôn bán người, nhưng tại khoản 1, khoản 3 Điều 16 của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có quy định về dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp. Pháp luật Việt Nam quy định các trường hợp dẫn độ tội phạm theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia theo nguyên tắc có đi có lại (quy định cụ thể trong chương 4 Luật tương trợ tư pháp và trong điều 343 BLTTHS). Các quy định về dẫn độ trong pháp luật Việt Nam nói chung đã đáp ứng được những yêu cầu khách qua trong việc thực hiện tương trợ tư pháp trong thời kỳ hội nhập quốc tế và cũng phù hợp với tinh thần chung của pháp luật quốc tế về phòng chống buôn bán người

 

– Những quy định về việc bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân của tội phạm buôn bán người: Nhìn chung, pháp luật Việt Nam cũng đã quy định đầy đủ về vấn đề trợ giúp và tái hòa nhập cộng đồng của các nạn nhân bị buôn bán và điều này cũng phù hợp với tinh thần chung của Công ước Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Điều 24, 25) và Nghị định thư bổ sung cho Công ước về chống buôn bán người (Điều 6, 7, 8). Cả pháp luật Việt Nam và Luật quốc tế đều quy định các vấn đề như: không trừng phạt nạn nhân; bảo vệ an toàn thể chất, bảo vệ đời tư và nhân dạng cho nạn nhân; các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ nạn nhân trong quá trình tố tụng; hồi hương và tái hòa nhập cộng đồng…

 

Những quy định trong pháp luật Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng với các quy định của pháp luật quốc tế về phòng chống tội phạm buôn bán người; điều đó chứng tỏ tác động không nhỏ của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người.

 

  1. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng

 

Ngày 21/11/2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật phòng chống tham nhũng. Quá trình xây dựng Luật này cũng đã tham khảo những quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Từ các quy định của Công ước, quy định của Luật phòng chống tham nhũng, đồng thời quán triệt Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X (kỳ họp thứ ba), các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về phòng chống tham nhũng. Cụ thể là:

 

– Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về phòng chống tham nhũng đến năm 2020 và kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược; đã ban hành một loạt các Nghị định, Quyết định, Chỉ thị quy định về minh bạch tài sản, thu nhập, chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở, trang thiết bị và phương tiện làm việc; tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng; xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng chống tham nhũng; trả lương qua tài khoản đối với đối tượng hưởng lương từ ngân sách…

 

– Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xây dựng, trình Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quy chế phối hợp giữa Ủy ban Kiểm tra Trung ương với Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng có liên quan đến PCTN (Quyết định số 264-QĐ/TW ngày 12/10/2009);

 

– Thực hiện Nghị quyết 1039/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 28/8/2006 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội, các cơ quan: Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế về việc phối hợp trong công tác phòng chống tham nhũng (Quy chế số 01/QCPH ngày 15/01/2009);

 

– Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án đưa nội dung phòng chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng (Quyết định số 137/2009/QĐ-TTg); Ban hành Quyết định về tổ chức, tên gọi, nhiệm vụ và quy chế hoạt động của Bộ phận giúp việc Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng (Quyết định số 138/2009/QĐ-TTg ngày 09/12/2009)

 

– Các văn bản pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra tham nhũng cũng đã được rà soát, sửa đổì, bổ sung, ban hành mới theo thẩm quyền.

 

Về việc thực hiện một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng: Theo Điều 8 Công ước, các quốc gia thành viên Công ước có nghĩa vụ “trong khuôn khổ hệ thống pháp luật và thể chế nước mình, những quy tắc hoặc chuẩn mực xử sự (cho công chức) để đảm bảo việc thực hiện chức năng công được chính xác, chuẩn mực và đúng đắn”. Thực thi quy định này, hầu hết các cơ quan nhà nước Việt Nam ở trung ương đều đã ban hành và thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức. Một số tổ chức xã hội nghề nghiệp ở trung ương cũng đã xây dựng và thực hiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp của hội viên như: Hội Kế toán, Kiểm toán, Hội nhà báo, Tổng hội Y dược học…; các tổ chức khác cũng đang khẩn trương xây dựng quy tắc để ban hành.

 

  1. Tác động của Luật Quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống khủng bố quốc tế

 

Khủng bố quốc tế là hành vi của cá nhân hay tổ chức sử dụng các thủ đoạn bạo lực hoặc phi bạo lực tấn công và gây thiệt hại (hoặc đe dọa gây thiệt hai) nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe tài sản của cá nhân, tổ chức, tàn sát dã man dân thường để nhằm đạt được các mục đích chính trị, kinh tế hay xã hội

 

Các quy định pháp luật về phòng, chống khủng bố có ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; BLTTHS năm 2003; Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997… và nhiều văn bản dưới luật khác.

 

Thực tiễn cho thấy, hoạt động khủng bố quốc tế là một loại tội phạm xuyên quốc gia rất nguy hiểm; quá trình đấu tranh chống tội phạm khủng bố quốc tế đòi hỏi các nước trên thế giới phải đẩy mạnh hợp tác tương trợ tư pháp hình sự trên nhiều mặt, như công tác điều tra, thu thập chứng cứ, cung cấp, trao đổi thông tin, bắt giữ và dẫn độ, chuyển giao người bị kết án… Để có cơ sở pháp lý đầy đủ cho các hoạt động này, Việt Nam cần tiếp tục đàm phán, ký kết với các nước Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, Hiệp định về dẫn độ và các điều ước quốc tế khác có điều chỉnh vấn đề hợp tác đấu tranh chống tội phạm khủng bố. Nghị quyết 48/NQ-TW đã định hướng: “Ký kết và gia nhập các công ước quốc tế về chống khủng bố quốc tế, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền, chống tham nhũng, các hiệp định tương trợ tư pháp”. Đối với bốn điều ước quốc tế về chống khủng bố mà Việt Nam chưa phải là thành viên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, đề xuất Nhà nước gia nhập các điều ước quốc tế này, nhất là Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin. Việc Việt Nam tham gia công ước quốc tế này trong thời điểm hiện nay là cần thiết.

 

Tuy đã gia nhập hoặc ký kết nhiều điều ước quốc tế đa phương, song phương về phòng, chống khủng bố hoặc liên quan đến phòng, chống khủng bố nhưng cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa tạo lập được cơ chế tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế đó. Để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phòng, chống khủng bố, cần xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố; đặc biệt là các điều ước của Liên hợp quốc về phòng, chống khủng bố. Nếu không ban hành văn bản hướng dẫn thi hành các điều ước quốc tế về phòng, chống khủng bố thì các điều ước đó chỉ tồn tại mang tính hình thức.

 

Luật phòng, chống khủng bố cần tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ, phải bảo đảm yêu cầu nội luật hoá các quy định trong các văn kiện pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố mà Việt Nam đã là thành viên, tạo điều kiện để Việt Nam tiếp tục tham gia các điều ước quốc tế còn lại về chống khủng bố trong thời gian tới; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật và thực tiễn đấu tranh phòng, chống khủng bố của các quốc gia trên thế giới. Đây là những yêu cầu rất đáng chú ý trong quá trình xây dựng dự án Luật để đảm bảo sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về phòng, chống khủng bố. Việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về phòng, chống khủng bố cũng phải được tính toán, cân nhắc có chọn lọc, theo hướng lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn chính trị, kinh tế, pháp luật Việt Nam, tránh rập khuôn, máy móc…

 

III. Một số hạn chế ngăn cản sự tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm

 

Thứ nhất, việc triển khai thực hiện các hiệp định đã được ký kết còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp với pháp luật quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự hoặc chưa đúng với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Để tăng cường phòng, chống tội phạm, công cụ đầu tiên là BLHS và BLTTHS. Thực tiễn mấy năm qua cho thấy có nhiều chậm trễ, bất hợp lý trong pháp luật hình sự Việt Nam. Những kinh nghiệm từ nhiều quốc gia phát triển đang rất cần cho xã hội Việt Nam, đã từng được đề xuất nhưng chưa được áp dụng.

 

Thứ hai, về phòng chống tội khủng bố: các dấu hiệu pháp lý của tội khủng bố trong pháp luật hình sự Việt Nam còn có những điểm chưa tương thích với các quy định về khủng bố trong các công ước quốc tế, chưa đáp ứng thực tiễn hoạt động phạm tội khủng bố trong tình hình hiện nay.

 

Thứ tư, về phòng chống tội phạm tham nhũng: Việt Nam còn ít kinh nghiệm, nhiều quy định của Công ước còn tương đối mới đối với Việt Nam. Pháp luật Việt Nam tuy cơ bản phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, song bản thân hệ thống pháp luật đó đang trong giai đoạn hoàn thiện.

 

KẾT LUẬN

 

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và khu vực đang tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao thoa pháp luật. Sự giao thoa này chắc chắn sẽ dẫn đến quá trình tiếp thu và học hỏi cái mới, văn minh, tiến bộ nhằm hoàn thiện những lỗ hổng và bất cập trong hệ thống pháp luật quốc gia. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế và hợp tác về trật tự an toàn xã hội đã và sẽ giúp Việt Nam tranh thủ được các kinh nghiệm và thành tựu, các phương tiện kỹ thuật hiện đại của thế giới để bảo vệ an ninh, trật tự; đồng thời tạo thành một thế trận, một môi trường an ninh, trật tự ổn định để phát triển kinh tế đất nước. Cùng với đó, cũng tạo được cơ sở vững chắc để xây dựng hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Luật kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005
  2. Giáo trình Luật quốc tế – trường Đại học Luật Hà Nội – Nxb Công an nhân dân năm 2010
  3. Giáo trình Luật quốc tế – Ths. Nguyễn Thị Kim Ngân, Ths. Chu Mạnh Hùng – Nxb Giáo dục Việt Nam năm 2010
  4. Giáo trình Công pháp quốc tế (quyển 1) – trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh – Nxb Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam năm 2013
  5. Nguyễn Thị Kim Ngân – Luận văn thạc sỹ luật học: “Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2001
  6. Phạm Bá Quyền – Luận văn thạc sỹ luật học: “Một số vấn đề pháp lý về tòa án hình sự quốc tế và việc gia nhập của Việt Nam” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2010
  7. Lê Thị Mai Anh – Luận văn thạc sỹ luật học: “Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2011
  8. Đinh Thị Thuấn – Luận văn thạc sỹ luật học: “Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về phòng chống tội phạm buôn bán người” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2011
  9. Nguyễn Thị Hoàng Anh – Luận văn thạc sỹ luật học: “Pháp luật quốc tế về chống khủng bố” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2012
  10. Phùng Thu Thủy – Khóa luận tốt nghiệp: “Hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tế trong luật quốc tế” – trường Đại học Luật Hà Nội, 2010
  11. Trung tâm nghiên cứu khoa học – Ủy ban thường vụ Quốc hội – Thông tin chuyên đề: “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về phòng, chống khủng bố ở Việt Nam hiện nay” – Hà Nội, tháng 5 năm 2013
  12. http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/Phong-chong-tham-nhung/2012/16537/Phong-chong-toi-pham-phong-ngua-la-chinh-tuyen-truyen-la-giai.aspx
  13. http://www.pup.edu.vn/vi/Nghien-cuu-trao-doi/Nghien-cuu-thuat-ngu-%E2%80%9CDau-tranh-phong,-chong-toi-pham%E2%80%9D-trong-van-ban-quy-pham-phap-luat-cua-nha-nuoc…-708
  14. http://www.pup.edu.vn/vi/Nghien-cuu-trao-doi/Vai-tro-Hop-tac-quoc-te-phong,-chong-toi-pham-o-nuoc-ta-trong-giai-doan-hien-nay-495
  15. http://www.thongtintuyengiaogialai.vn/default1.asp?655=5&658=34&657=457&654=4
  16. http://tks.edu.vn/portal/detailtks/5880_79_61_Khai-niem-phong-ngua-toi-pham-duoi-goc-do-toi-pham-hoc.html?TabId=KS61&pos=4
  17. http://tks.edu.vn/portal/detailtks/5337_79_61_Phong,-chong-toi-pham–Sua-luat-de-tang-hieu-qua.html?TabId=KS61&pos=4

 

  1. http://tks.edu.vn/portal/detail/4957_79__Thuc-trang-thuc-thi,-tuan-thu-Cong-uoc-cua-Lien-hop-quoc-ve-chong-tham-nhung-o-Viet-Nam-hien-nay-va-mot-so-kien-nghi.html?TabId=KS61&pos=4

VAI TRÒ CỦA TẬP QUÁN QUỐC TẾ TRONG VIỆC ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ GIỮA CÁC QUỐC GIA – BÀI TẬP HỌC KỲ CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Trong lịch sử quan hệ giữa các quốc gia, tập quán pháp lý quốc tế với tư cách là nguồn luật quốc tế xuất hiện sớm hơn nhiều so với điều ước quốc tế. Nhìn từ góc độ khoa học của luật quốc tế, tập quán quốc tế là hình thức pháp lý chứa đựng quy tắc xử sự chung, hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được các chủ thể luật quốc thừa nhận là luật. Cũng như điều ước quốc tế, tập quán quốc tế tồn tại và có thể bị thay đổi nếu nó không thích hợp với thực tiễn điều chỉnh quan hệ quốc tế hoặc có sự xuất hiện của tập quán mới. Điều ước và tập quán quốc tế, về nguyên tắc, được coi là cách thức chủ yếu xây dựng quy phạm pháp luật quốc tế bắt buộc, hay còn gọi là luật “cứng” (“hard” law). Mặc dù điều ước quốc tế được xem là phương thức làm luật phổ biến trong lĩnh vực các lĩnh vực đời sống luật quốc tế nhưng các chủ thể của luật quốc tế lại vẫn áp dụng tập quán vì một số lý do. Không có những thủ tục phê chuẩn phức tạp như điều ước quốc tế, những quy tắc tập quán là cách thức dễ dàng hơn để đạt được sự thống nhất toàn cầu, bởi vì các chủ thể chủ động có thể bảo đảm sự mặc nhận từ phía các chủ thể thụ động – một thuận lợi đặc biệt trong giải quyết những vấn đề trong đời sống quốc tế. Để hiểu rõ hơn về vai trò của tập quán quốc tế đối với các quan hệ quốc tế, em xin phân tích đề bài: “Phân tích vai trò của tập quán quốc tế trong việc điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia”

 

 

 

NỘI DUNG

 

  1. Tổng quan về tập quán quốc tế

 

  1. Khái niệm.

 

Tập quán quốc tế là hình thức pháp lý chứa đựng quy tắc xử sự chung, hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được các chủ thể luật quốc tế thừa nhận là luật

 

Sự hình thành một tập quán quốc tế hoặc sự áp dụng một quy tắc với giá trị là tập quán quốc tế dự trên hai yếu tố sau:

 

  • Yếu tố vật chất, là sự tồn tại của thực tiến quốc tế, tức phải có quy tắc xử sự được hình thành trong thực tiễn quan hệ của các quốc gia. Hiểu theo cách truyền thống là sự lặp đi lặp lại các sự kiện và hành vi pháp lý một cách thống nhất trong sinh hoạt quốc tế còn theo cách tiếp cận hiện đại bao gồm cả những nguyên tắc hình thành từ thực tiễn ký kết, thực hiện điều ước quốc tế hay các thực tiễn khác.

 

  • Yếu tố tinh thần, là sự thừa nhận của chủ thể luật quốc tế đối với các quy tắc xử sự đã hình thành là quy phạm luật quốc tế.

 

  1. Giá trị pháp lý

 

Về pháp lý tập quán quốc tế có vị trí quan trọng, nó là cơ sở hình thành và phát triển các quy phạm luật quốc tế và điều chỉnh hiệu quả các quan hệ pháp luật quốc tế phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế.

 

  1. Phân loại.

 

Trong luật quốc tế hiện đại tồn tại hai loại tập quán quốc tế :

 

Thứ nhất, mang tính truyền thống, bao gồm các quy tắc xử sự không thành văn, hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được các quốc gia thừa nhận

 

Thứ hai, bao gồm các quy tắc xử sự được ghi nhận trong một số văn kiện, được các quốc gia thừa nhận hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với mình với tư cách là tập quán pháp lý quốc tế.Đặc điểm của loại này là nó không hình thành từ văn kiện quốc tế mà chúng có thể hình thành từ điều ước quốc tế cũng như từ các văn kiện quốc tế khác, thường là nghị quyết của tổ chức quốc tế.

 

  1. Vai trò của tập quán quốc tế trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia.

 

  1. Vị trí của tập quán quốc tế trong việc điều chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia.

 

Thứ nhất, đó là quy tắc xử sự chung trong quan hệ của các quốc gia và được các quốc gia tuân thủ, áp dụng một cách tự nguyện

 

Thứ hai, quy tắc này được các quốc gia thừa nhận có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với mình.“ Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế là những nguồn cơ bản của luật quốc tế”. Việc hình thành, tồn tại và hủy bỏ các quy tắc của tập quán hay điều ước không phụ thuộc vào nhau và vào các nguồn khác của luật quốc tế.Lời mở đầu của Công ước Viên 1969 khẳng định “những quy phạm của luật tập quán quốc tế sẽ tiếp tục điều chỉnh những vấn đề chưa được quy định trong các điều khoản của công ước này”. Vì vậy, các quốc gia chưa gia nhập công ước vẫn có thể viện dẫn các quy phạm của công ước dưới dạng các quy phạm tập quán.Tính truyền thống, tính mềm dẻo là những ưu điểm riêng của tập quán quốc tế.Tuy nhiên áp dụng loại nguồn nào của pháp luật quốc tế phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên khi tham gia các quan hệ quốc tế.Trong đó việc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế có nhiều ưu điểm vượt trội.

 

2.Tập quán quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia

 

Ngay từ khi hình thành các quốc gia đã đặt ra vấn đề cần có sự hợp tác với nhau để không một quốc gia nào tồn tại một cách biệt lập với cộng đồng, cùng nhau phát triển, hợp tác để chống chiến tranh xâm lược và phát triển kinh tế. Để điều chỉnh các mối qun hệ đó các quy phạm pháp luật điều chỉnh như điều ước quốc tế, đặc biệt là tập quán quốc tế cho phép các chủ thể thỏa thuận để lựa chọn cách xử sự cho mình, có giá trị pháp lý bắt buộc. Thông qua tập quán quốc tế các quốc gia tôn trọng và thừa nhận các quy tắc xử sự của quốc gia mà mình hợp tác nhẳm tạo dựng quan hệ hợp tác lâu dài, có nhiều quy phạm pháp luật do chính các quốc gia áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định cũng được các chủ thể khác thừa nhận là tập quán quốc tế, bắt buộc khi hợp tác với các quốc gia đó phải tuân thủ tập quán quốc tế đó. Như thực tiễn hoạt động xác lập chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia thông qua tuyên bố của các quốc gia về chiều rộng lãnh hải, về độ cao vùng trời là xuất phát điểm để hình thành nên tập quán quốc tế về độ cao vùng trời cũng như về chiều rộng lãnh hải trong Luật quốc tế, hay xét trong bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, có hai nguyên tắc được hình thành từ tập quán quốc tế, được các quốc gia thừa nhận, đó là nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia và nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta sun servanda). Hai nguyên tắc này không chỉ tồn tại với tư cách là tập quán quốc tế mà còn được khẳng định trong hiến chương liên hợp quốc, như nguyên tắc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế : “Tất cả các nước thành viên đều phải làm tròn những nghĩa vụ mà họ phải đảm nhận theo Hiến chương này” (Khoản 2, Điều 2).

 

  1. Tập quánquốc tế có vai trò trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế

 

Hiện nay cùng với sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc tế , tranh chấp quốc tế cũng ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng, nó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nó tồn tại một cách tất yếu như một mặt trái của các quan hệ giữa các quốc gia. Trong quá trình giải quyết các tranh chấp luật áp dụng bao gồm luật nội dung và luật hình thức, là các nguyên tắc quy phạm của Luật quốc tế (các điều ước quốc tế song phương và đa phươg).Trong một số trường hợp giải quyết tranh chấp quốc tế, không thể áp dụng Luật quốc tế, Điều ước quốc tế để giải quyết nhưng tập quán quốc tế có thể áp dụng để giải quyết, giúp cho cơ quan tài phán quốc tế dễ dàng xử lý tranh chấp mà được sự hài lòng của đương sự. Ví dụ chứng minh:

 

Xét trong vụ Nicaragoa kiện Mỹ về việc tiến hành các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragoa và chống lại Nicaragoa. Trong vụ kiện này Tòa án đã sử dụng luật tập quán để giải quyết tranh chấp giữa hai bên.Bằng phán quyết ngày 26/11/1984. Tòa đã chấp nhận tuyên bố đơn phương của Nicaragoa vào ngày 14/9/1929 về chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa thường trực vẫn có giá trị đối với tòa, trên cơ sở điều 36, khoản 5 của quy chế.Nicaragoa đã buộc tội Mỹ sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ, vi phạm 4 công ước mà hai bên đều tham gia, nhất là hiến chương liên hợp quốc và Hiến chương của Tổ chức các nước châu mỹ, tòa cũng phải xem xét đến lập luận của Mỹ về việc thực hiện quyền tự vệ tập thể chính đáng có lợi cho Xanvado.Tranh chấp ở đây rõ ràng là một cuộc tranh chấp về việc giải thích và áp dụng một điều ước đa phương mà cả Mỹ, Nicaragoa và En Xavando đều là thành viên của điều ước đó.Bảo lưu của Mỹ không cho phép tòa có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong việc áp dụng và giải thích các điều ước quốc tế đó như là nguồn của luật điều ước, nhưng bảo lưu này không có hiệu lực với các loại nguồn quốc tế khác mà điều 38 của Quy chế đã quy định, trong đó có luật tập quán. Mỹ cho rằng các quy phạm tập quán có cùng nội dung với điều ước quốc tế mà Mỹ bảo lưu không được áp dụng cho giải quyết tranh chấp giữa Mỹ và các nước khác, cũng như không được viện dẫn.Nhưng tòa đã bác bỏ lập luận, tòa  không chấp nhận tại sao luật tập quán lại không thể tồn tại và được áp dụng một cách độc lập đối với luật điều ước.

 

Thông qua đó tập quán quốc tế đã được tòa án viện dẫn để giải quyết tranh chấp giữa Mỹ và Nicaragoa, tòa kết luận Mỹ vi phạm các nguyên tắc tập quán của luật quốc tế về cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế cũng như cấm can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia khác.

 

KẾT LUẬN

 

Tập quán pháp lý quốc tế với tư cách là nguồn của luật quốc tế xuất hiện sớm hơn nhiều so với điều ước quốc tế. Trong thời kỳ cổ đại và trung đại, quan hệ giữa các quốc gia chủ yếu được điều chỉnh bằng tập quán pháp lý quốc tế

 

Nó có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ giữa các quốc gia, cũng là một trong những nguồn cơ bản của luật quốc

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007.
  2. TS. Nguyễn Thị Kim Ngân, TS. Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên), Giáo trình luật quốc tế (dùng trong các trường đại học chuyên ngành luật và ngoại giao), Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2012.
  3. Nguyễn Hồng Thao, Toà án công lí quốc tế, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2000
  4. http://doc.edu.vn/tai-lieu/tieu-luan-vai-tro-cua-tap-quan-quoc-te-trong-qua-trinh-dieu-chinh-cac-quan-he-phap-luat-quoc-te-38121/

BÀI TẬP HỌC KÌ CÔNG PHÁP QUỐC TẾ – PHƯƠNG THỨC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ DO CHIẾM HỮU

Được đăng bởi Giang Nguyễn Linh vào lúc 22:28 
Nhãn: Bài tập học kỳCông pháp quốc tế

LỜI MỞ ĐẦU

 

Lãnh thổ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia, là cơ sở vật chất cho sự tồn tại của quốc gia, duy trì ranh giới quyền lực nhà nước đối với một cộng đồng dân cư nhất định, góp phần tạo dựng một trật tự pháp lý quốc tế hòa bình và ổn định. Luật pháp quốc tế hiện đại ghi nhận quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ. Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ chỉ được coi là hợp pháp khi dựa trên những cơ sở và phương thức do luật quốc tế quy định.

 

Trong giai đoạn chiến tranh được coi là phương tiện hợp pháp để giải quyết các tranh chấp quốc tế thì cơ sở xác lập chủ quyền lãnh thổ và thay đổi lãnh thổ quốc gia chủ yếu thông qua chiến tranh xâm chiếm lãnh thổ. Ngày nay, luật quốc tế hiện đại thừa nhận và khẳng định nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ. Theo đó, việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải dựa vào các phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp.

 

Khoa học pháp lý quốc tế ghi nhận  4 phương thức thụ đắc lãnh thổ: Thụ đắc lãnh thổ do tác động tự nhiên, Thụ đắc lãnh thổ do chuyển nhượng; Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu; Thụ đắc lãnh thổ do chiếm hữu. Ngày nay trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ, nhưng các tranh chấp lãnh thổ vẫn còn dai dẳng và các nguyên tắc, quy phạm về thụ đắc lãnh thổ vẫn còn giá trị soi xet các hành vi thủ đắc của các quốc gia

 

Trong các phương thức thụ đắc lãnh thổ nói trên thì phương thức thụ đắc lãnh thổ do chiếm hữu (chiếm cứ hữu hiệu) là phổ biến nhất. Đây cũng là phương thức được Việt Nam áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp về vấn đề chủ quyền biển Đông hiện nay.

 

 

 

NỘI DUNG

 

  1. PHƯƠNG THỨC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ BẰNG CHIẾM CỨ HỮU HIỆU 

 

  1. Khái niệm thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm cứ hữu hiệu

 

Chiếm hữu là một phương thức thụ đắc lãnh thổ trong luật pháp quốc tế, là hành động của một quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên một lãnh thổ vốn chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ một quốc gia nào khác hoặc một vùng lãnh thổ vốn đã có chủ sau đó bị bỏ rơi và trở lại trạng thái vô chủ ban đầu. Sự chiếm hữu trong phương thức thụ đặc lãnh thổ này không phải chiếm đóng trong chiến tranh hay chiếm đóng quân sự trong thời bình. Chiếm hữu ở đây được xem là: “Sự nắm quyền sở hữu thực sự bởi một chính phủ đối với một lãnh thổ vô chủ với ý đồ qua đó thụ đắc chủ quyền”.  Muốn thụ đắc chủ quyền bằng phương thức chiếm hữu, quốc gia phải có hành động trên thực tế, sở hữu lãnh thổ vô chủ và đồng thời phải có ý chí chiếm hữu lãnh thổ vô chủ đó.

 

  1. Chủ thể thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu

 

Chủ thể trong chiếm hữu lãnh thổ phải là hành động nhân danh quốc gia, được quốc gia uỷ quyền, không phải là hành động của tư nhân. Mọi hành động mang danh nghĩa cá nhân đều không phải là cơ sở pháp lý để khẳng đinh chủ quyền lãnh thổ và cũng không làm thay đổi bản chất của chủ quyền ngay cả khi các tư nhân đó hợp thành một tập thể hoặc một công ty, trừ những trường hợp khi tập thể đó hoặc công ty đó được Nhà nước ủy quyền xác lập chủ quyền lãnh thổ thay mặt cho Nhà nước. Nguyên tắc chỉ Nhà nước mới là chủ thể của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ đã được thừa nhận một cách rộng rãi và trở thành một tập quán quốc tế

 

  1.  Đối tượng của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu

 

Đối tượng của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm cứ hữu hiệu là: Lãnh thổ vô chủ (Terra Nullius) hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi (Terra derelicta).

 

3.1. Lãnh thổ vô chủ

Theo cách hiểu của luật gia phương Tây thì một lãnh thổ bị coi là vô chủ trong trường hợp nó đã có cư dân bản địa (thổ dân) song không có một thiết chế nhà nước nào, hoặc có nhưng bị coi là có nền văn minh thấp hơn tiêu chuẩn lúc bấy giờ ở Châu Âu. Cách hiểu này bắt nguồn từ trong lịch sử của hình thức chiếm hữu, phục vụ cho mục đích đi xâm lược, bành trướng lãnh thổ của chủ nghĩa thực dân. Đơn cử cho cách hiểu này là  trường hợp hòn đảo Puerto Rico. Đây là hòn đảo nằm ở phía đông bắc vùng biển Caribbean, phía đông nước Cộng hòa Dominicana và phía tây Quần đảo Virgin. Từ thế kỷ VII, nền văn hóa Taino phát triển mạnh mẽ, thịnh vượng và kéo dài cho đến cuối thế kỷ XV (1493) khi Columbus phát hiện ra hòn đảo này. Người Tây Ban Nha đã nhanh chóng chiếm toàn bộ đảo Puerto Rico làm thuộc địa. Những người thổ dân Taino sụt giảm nhanh do bị giết hay những bệnh dịch chết người hoặc bị người Tây Ban Nha bắt làm nô lệ

 

3.2. Lãnh thổ bị bỏ rơi

Lãnh thổ vô chủ còn được hiểu là lãnh thổ bị bỏ rơi, không thuộc quyền quản trị của bất kỳ quốc gia nào nữa. Lãnh thổ bị bỏ rơi là vùng đất, đảo trước kia đã từng được chiếm hữu, thuộc chủ quyền của một quốc gia nhưng sau đó nhà nước chiếm hữu từ bỏ chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ đó. Một lãnh thổ được xem là bị bỏ rơi khi đủ hai yếu tố: Về mặt vật chất là sự không có mặt của chính quyền thực sự trên lãnh thổ được xét. Về mặt tinh thần là sự chủ tâm từ bỏ lãnh thổ đó, không còn biểu hiện muốn khôi phục lại chủ quyền đối với lãnh thổ đó. Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì chỉ có thể kết luận là đã có “sự yếu đuối của chính quyền Nhà nước đối với những vùng đất được nói đến” chứ không phải là “một sự từ bỏ tự nguyện chủ quyền”

 

Ví dụ: Đảo Saint Martin thuộc Trung Mỹ do Tây Ban Nha chiếm hữu từ giữa thế kỷ XVII. Do không có khả năng tổ chức quản lý, họ đã quyết định từ bỏ quyền chiếm hữu đảo. Đảo trở thành vô chủ. Người Pháp và người Hà Lan cùng một lúc đến chiếm đảo và tuyên bố thiết lập chủ quyền của nước họ. Cuộc tranh chấp đã được giải quyết như sau: nửa đảo nơi người Pháp đổ bộ lên thuộc chủ quyền của Pháp, nửa kia thuộc về Hà Lan.

 

  1. Các phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu

 

4.1. Chiếm hữu tượng trưng

Trong thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI, chủ quyền đối với lãnh thổ mới “phát hiện” được xác định theo các sắc lệnh của Giáo hoàng Alexandre. Tuy nhiên, các quốc gia ở Châu Âu bị đụng chạm về quyền lợi đều không chịu chấp hành sắc lệnh nói trên. Từ thế kỷ XVI, các nước đã phải tìm ra những nguyên tắc về thiết lập chủ quyền trên những vùng lãnh thổ mà họ “phát hiện”. Thuyết “quyền ưu tiên chiếm hữu” dành cho quốc gia đã phát hiện ra vùng lãnh thổ đó đầu tiên, gọi tắt là thuyết quyền phát hiện.

 

Trên thực tế, việc phát hiện chưa bao giờ tự nó đem lại cho quốc gia phát hiện chủ quyền lãnh thổ vì rất khó xác định thế nào là phát hiện, xác nhận việc phát hiện. Vì vậy, để xác nhận quốc gia nào đó đã phát hiện ra một vùng lãnh thổ vô chủ hoặc bị bỏ rơi, quốc đó phải để lại dấu vết của mình trên vùng lãnh thổ mà họ phát hiện như: bia chủ quyền, cột mốc, cờ…. Nhưng trước đà phát triển của chủ nghĩa tư bản, các cường quốc đấu tranh gay gắt để phân chia và phân chia lại toàn bộ thế giới thì việc chiếm hữu tượng trưng ngày càng bộc lộ nhược điểm. Các dấu vết phát hiện mà quốc gia đặt lại mang tính thụ động, không chịu nổi thử thách của thời gian, không xác định được phạm vị chủ quyền lãnh thổ nên có những quốc gia “vô tình” hay cố ý lại “phát hiện” và đặt dấu hiệu về chủ quyền trên những vùng lãnh thổ mà các quốc gia khác đã chiếm hữu. Do đó, rất nhiều vụ tranh chấp chủ quyền có nguồn gốc từ phương thức chiếm hữu này.

 

4.2. Chiếm cứ hữu hiệu

Một vấn đề đặt ra là “phát hiện” không thôi đã đủ để tạo ra một danh nghĩa chủ quyền hay chưa? Nếu như chỉ  “phát hiện” mà không có những hành vi xác lập chủ quyền, không có những hoạt động chứng tỏ vùng đất đó đã được quản lý bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì việc “phát hiện” chỉ là phôi thai tạo ra danh nghĩa ban đầu mà thôi. Việc phát hiện cần phải được bổ sung bằng các hành động chiếm đóng hiệu quả mới có thể tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thụ đắc chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền muốn được xác lập thì phải là thật sự, có hiệu quả, tức là đòi hỏi sự có mặt thực tế của quốc gia chiếm hữu trên vùng lãnh thổ đó.

 

Tại Hội nghị Berlin về Châu Phi (1885), các quốc gia thống nhất thực hiện thụ đắc lãnh thổ bằng nguyên tắc chiếm hữu thật sự. Các hành vi được coi là chiếm hữu thực sự cần phải thỏa mãn những điều kiện sau đây: Hành vi chiếm cứ là của các cơ quan Nhà nước, các nhân viên nhà nước hoặc một tổ chức công được nhà nước ủy quyền; phải mang tính thực sự, lâu dài; phải hòa bình, đúng nguyên tắc của Luật Quốc tế.

 

  1. VIỆT NAM VẬN DỤNG PHƯƠNG THỨC CHIẾM CỨ HỮU HIỆU ĐỂ XÁC LẬP VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ TRÊN BIỂN

 

Nói đến Biển Đông người ta không thể không nói đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông. Nói đến chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam cũng không thể không nói đến việc Việt Nam, đã từ rất lâu trong lịch sử, khám phá và liên tục thực hiện quyền chiếm hữu đối với hai quần đảo này. Trong tiềm thức của người dân Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được coi là những phần đất thiêng liêng của Tổ quốc do ông cha chúng ta đã khám phá và thực thi chủ quyền từ xa xưa, mà trách nhiệm của các thế hệ người Việt Nam sau này phải quyết tâm gìn giữ và bảo vệ.

 

  1. Chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo vô chủ được Nhà nước Việt Nam chiếm hữu hợp pháp

 

Trên quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa xuất hiện dấu vết sự sống của người Việt Cổ. Trong hành trình tìm kiếm dấu tích người Việt trên các hòn đảo ở biển Đông, các nhà khảo cổ học đã tiến hành các cuộc khai quật tại các đảo, các vùng ven biển thuộc Nha Trang, Khánh Hòa. Nhiều phát hiện lớn đã đưa đến kết luận, trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa đã có người Việt Nam cư trú liên tục cho đến hiện nay. Năm 1993, tại làng Bích Dầm, đảo Hòn Tre (Nha Trang) các nhà khoa học đã mở 3 hố khai quật rộng 86m2, thu được 81 tiêu bản, gồm nhiều công cụ đá thuộc thời đại Kim Khí. Tại đảo Bình Hưng (Khánh Hòa) cũng phát hiện nhiều mảnh vỡ của đồ gốm như nồi gốm, xương gốm mỏng thuộc gốm miệng loe, hoa văn thuộc văn hóa khảo cổ học Sa Huỳnh. Qua các kết quả khảo cổ trên, ta thấy dấu tích của người Việt ở trên các đảo đã có từ thời kỳ sơ khai.

 

Cho đến thế kỷ XVII, 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vẫn là các đảo vô chủ. Trên đảo không xảy ra bất kỳ sự tranh chấp chủ quyền cũng như chưa nước nào có dấu hiệu xác lập chủ quyền. Đến nửa đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn mới tiến hành các hoạt động khai thác và quản lý đầu tiên nhằm xác lập chủ quyền trên các quần đảo này.

 

  1. Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này một cách thật sự, liên tục và hòa bình

 

2.1. Có sự điều tra khảo sát địa hình và tài nguyên đối với các quần đảo thông tài liệu cổ (sách sử, bản đồ) từ thế kỷ XVII

 

Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776): “Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Nghĩa ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi(19) linh tinh hơn 130 hòn cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy….”

Trong Đại Nam nhất thống chí (1882): “Đảo Hoàng Sa: ở phía Đông Cù Lao Ré huyện Bình Sơn, từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn 130 đảo nhỏ, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục gọi là Vạn Lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào…”

 

Không chỉ thể hiện qua các sách sử, các tập bản đồ của Việt Nam thời phong kiến cũng ghi chú sự xuất hiện của hai quần đảo này. Trong tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá soạn vẽ vào thế kỷ XVII, ghi rõ trong lời chú giải vùng Phủ Quảng Nghĩa (Quảng Nam): “Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là “Bãi Cát Vàng””. Bản đồ xứ Đàng Trong  vẽ Bãi Cát Vàng là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. Bản đồ nước Việt Nam vẽ vào đầu thế kỷ XIX (khoảng năm 1838) cũng ghi “Hoàng Sa” – “Vạn Lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt Nam.

 

Thời kỳ này hiểu biết của các nhà hàng hải về Hoàng Sa và Trường Sa còn mơ hồ. Đối với họ các quần đảo này là khu vực rộng lớn, nguy hiểm cho tàu thuyền vì có những bãi đá ngầm. Tuy nhiên, tất cả đều ghi nhận đây là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.

 

2.2. Tổ chức khai thác hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa với tư cách một quốc gia làm chủ thông qua hoạt động của các đội Hoàng Sa

 

Thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn ở Đàng Trong nhận thấy nguồn lợi từ Hoàng Sa, Trường Sa mang lại nên tổ chức các đội hải quân đi khai thác. Trong Phủ biên lạp lục (1776) ghi nhận họ Nguyễn cho 70 suất đội Hoàng Sa tháng ba mỗi năm nhận giấy sai đi, mang thức ăn đủ sáu tháng đi bằng 5 chiếc thuyền tiểu đi biển 3 ngày 3 đêm thì đến các đảo. Tại đây các đội Hoàng Sa khai thác sản vật, tìm hóa vật của tàu và các hải sản quy hiếm. Đến tháng 8 mang về thành Phú Xuân để nộp. Nửa đầu TK XVIII, chúa Nguyễn tổ chức thêm “Đội Bắc Hải” ra Trường Sa làm nhiệm vụ như “Đội Hoàng Sa”.

 

Đến thời Tây Sơn, mặc dù phải liên tiếp đối phó với sự xâm lược của nhà Thanh và quân Xiêm nhưng vẫn luôn quan tâm đến việc duy trì và sử dụng các đội Hoàng Sa. Sách Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông ghi rõ: “Trong thời gian từ năm 1771 đến 1801, gần như lúc nào cũng có chiến tranh, trên đất liền cũng như ngoài Biển Đông, từng khu vực có lực lượng hoặc do Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh hoặc quân Tây Sơn làm chủ”. Năm 1775 cai hợp Hà Liễu (đảo Lý Sơn) làm đơn xin với chính quyền Tây Sơn được lập lại hai đội Hoàng Sa và Quế Hương, sẵn sàng vượt biển ra đảo để làm nhiệm vụ theo thông lệ và sẵn sàng ứng chiến chống kẻ xâm phạm…Như vậy, nhà nước Tây Sơn vẫn tiếp tục tổ chức việc khai thác Hoàng Sa với ý thức thực hiện chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa.

 

* Nhà Nguyễn ra sức củng cố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

Hải đội Hoàng Sa thời kỳ này có tầm quan trọng như một lực lượng “đặc nhiệm” để bảo vệ chủ quyền nên được duy trì đều đặn. Đại Nam thực lục chính biên (1848) chép rõ một số việc làm của các vua nhà Nguyễn củng cố chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo như sau: cử đội Hoàng Sa đi khảo sát và đo đạc đường biển, vẽ bản đồ (1815-1816, 1834-1836); dựng miếu, lập bia, trồng nhiều cây cối ở Hoàng Sa (1833). Việc đo đạc, vẽ bản đồ được nhà Nguyễn yêu cầu rất chi tiết “Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến cũng xem xét xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào phải tường tận đo đạc, vẽ thành bản đồ…”. Ngoài việc quản lý, các vua Nguyễn còn đảm bảo an toàn cho tàu thuyền nước ngoài qua lại vùng biển của hai quần đảo đó. Đây chính là ý thức trách nhiệm cao của một Nhà nước thật sự làm chủ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đối với hàng hải quốc tế trong khu vực này.

 

– Nước Pháp nhân danh Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa:

Từ khi ký kết Hiệp ước Patơnốt 1884 với triều đình nhà Nguyễn, Pháp đại diện quyền lợi của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại và việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong khuôn khổ sự cam kết chung đó, Pháp tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Về hành chính: Pháp sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ vào địa phận tỉnh Bà Rịa. Năm 1938, vua Bảo Đại tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt tỉnh Nam Nghĩa đặt vào tỉnh Thừa Thiên. Về việc xác nhận chủ quyền trên các đảo: Pháp dự định xây dựng một cây đèn biển để hướng dẫn tàu biển qua lại vùng này (1899) nhưng kế hoạch không thực hiện được vì thiếu ngân sách; đưa các kỹ sư ra Hoàng Sa nghiên cứu chỗ xây dựng đèn biển, lập bãi thuỷ phi cơ (1937)…

 

Ngày 07/9/1951, Trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Bảo Đại là Trần Văn Hữu tuyên bố tại Hội nghị San Francisco về việc ký Hoà ước với Nhật Bản rằng: “Từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Tuyên bố không gặp sự chống đối hoặc bảo lưu nào của đại diện 51 quốc gia tham dự Hội nghị. Như vậy, các quốc gia (trong đó có Trung Quốc) đều chấp nhận Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, được Việt Nam chiếm hữu và quản lý lâu dài. Đây là sự kiện có ý nghĩa quốc tế quan trọng trong chuỗi các sự kiện minh chứng cho sự xác lập chủ quyền từ rất sớm về pháp lý cũng như về sự chiếm hữu thực tế một cách hòa bình, lâu dài và liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của người Việt Nam.

 

– Khẳng định chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa thời CQ Việt Nam Cộng hòa:

Năm 1956 Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (CQ VNCH) và chính quyền này đã cho quân ra tiếp quản, tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính (lập ở mỗi quần đảo một xã thuộc một huyện ở đất liền), xây các bia chủ quyền, duy trì các trạm khí tượng. Về quản lý hành chính, lực lượng hải quân của CQ VNCH tiếp quản các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy (1956), đặt quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hòa Vang. Ngày 6/9/1973, CQ VNCH sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ…và các đảo phụ cận vào xã Phước Hải (Phước Tuy). Về xác lập chủ quyền: Từ 1961 đến 1963, CQ VNCH lần lượt cho xây bia chủ quyền ở các đảo chính của quần đảo Trường Sa: Trường Sa, An Ban, Song Tử Đông…

 

– Sau khi nước Việt Nam thống nhất năm 1976, Chính phủ CHXHCN Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

 

Từ năm 1976, Nhà nước Việt Nam với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, có trách nhiệm duy trì việc bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã ban hành Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa. Các tài liệu này đã chứng minh một cách rõ ràng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo trên tất cả các khía cạnh: lịch sử, pháp lý và thực tiễn quốc tế.

Về quản lý hành chính, năm 1982 Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Nghị quyết ngày 06/11/1996 kỳ họp thứ X Quốc hội khoá IX đã quyết định tách huyện Hoàng Sa khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ, sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Tháng 4/2007, chính phủ đã quyết định thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa.

 

  1. Nhà nước Việt Nam bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa của mình trước mọi hành động xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

 

3.1. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ quần đảo Hoàng Sa với Trung Quốc

 

Thời điểm xảy ra tranh chấp là vào đầu thế kỷ XX (năm 1909), mở đầu là sự kiện Đô đốc Lý Chuẩn đem 3 pháo thuyền ra thăm chớp nhoáng một vài đảo và đổ bộ lên đảo Phú Lâm, rồi rút lui ngay. Năm 1946, lợi dụng việc giải giáp quân Nhật, chính quyền Trung Hoa dân quốc đưa lực lượng ra chiếm đóng nhóm phía đông Hoàng Sa và sau đó phải rút lui vào thời điểm Quốc Dân Đảng bị đuổi chạy ra Đài Loan. Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội thực dân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và chính quyền Việt Nam chưa tiếp quản Hoàng Sa, CHND Trung Hoa đưa quân ra chiếm nhóm phía đông Hoàng Sa và đến năm 1974, lợi dụng tình hình quân đội của chính quyền Sài Gòn đang trên đà suy sụp, quân đội viễn chinh Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, CHND Trung Hoa đưa quân ra chiếm nhóm phía tây Hoàng Sa đang do quân đội Sài Gòn đóng giữ.

 

Hành động chiếm đóng của Trung Quốc diễn ra khi tình hình cục bộ Việt Nam đang có nhiều chuyển biến phức tạp, việc quản lý các quần đảo gặp nhiều khó khăn. Những việc làm của Trung Quốc đã bị Việt Nam chống đối hoặc chính thức lên tiếng phản đối với tư cách nhà nước có chủ quyền đối với Hoàng Sa. Nhà nước Việt Nam luôn lấy phương thức giải quyết tranh chấp hòa bình làm trọng. Tuy nhiên, trước sự vi phạm nghiêm trọng của Trung Quốc khi sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm Hoàng Sa, chính quyền VNCH đã có hành động đáp trả bằng “Trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974”. Mặc dù quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng hoàn toàn từ năm 1974, nhưng Việt Nam không ngừng các hoạt động nhằm xác định chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa. Chính quyền VNCH liên tục đưa ra nhiều Tuyên bố phản đối hành động “xâm lăng trắng trợn bằng quân sự” của Trung Quốc và tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này. Năm 1979, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố Bị vong lục  về vấn đề biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Điều 9 đã tố cáo việc Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày nay, Nhà nước ta tiếp tục căn cứ vào Công ước Luật Biển năm 1982, các văn bản về vùng biển của Việt Nam: Tuyên bố 1977, 1982; Luật biển 2012 làm cơ sở pháp lý khẳng định hành vi chiếm đóng trái phép của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền Việt Nam và tranh thủ sự ủng hộ của dư luận thế giới.

 

3.2. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ quần đảo Trường Sa với các nước trong khu vực

 

Đối với quần đảo Trường Sa, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ không chỉ giữa Việt Nam với Trung Quốc mà còn giữa các nước trong khu vực như: Philippines, Malaysia…

 

Về phía Trung Quốc, tranh chấp được nhen nhóm bằng sự kiện Công sứ Trung Quốc ở Paris gửi công hàm cho bộ ngoại giao Pháp năm 1932 khẳng định các đảo Nam Sa là bộ phận lãnh thổ Trung Quốc. Cho đến nay Trung Quốc (kể cả Đài Loan) đã chiếm đóng 8 vị trí trên quần đảo Trường Sa. Tiêu biểu cho sự kiện bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa là trận chiến của hải quân Việt Nam với Trung Quốc trên đảo Gạc Ma năm 1988. Đây là một cuộc chiến không cân sức giữa hải quân ta và Trung Quốc. Tuy nhiên các chiến sỹ hải quân Việt Nam vẫn chiến đấu kiên cường để bảo vệ chủ quyền tại các đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma. Hành vi sử dụng vũ lực của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc của Luật quốc tế và đây là bằng chứng chống lại Trung Quốc khi  đưa ra các bằng chứng khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo này.

 

Về phía Philippines, tranh chấp bắt đầu bằng sự kiện Tổng thống Quirino lấy lý do quần đảo Trường Sa gần Philippines nên phải thuộc về nước này. Từ năm 1971-1978, Philippines đưa quân chiếm đóng 7 đảo. Năm 1979, Philippines coi toàn bộ quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa) là lãnh thổ của Philippines và đặt tên là Kalayaan. Về phía Malaysia, tranh chấp mở đầu bằng sự kiện năm 1971, Sứ quán Malaysia gửi công hàm cho Bộ ngoại giao chính quyền Sài Gòn hỏi rằng: Quần đảo Trường Sa hiện thuộc nước Cộng hòa Morac Songhrati Mead có thuộc Cộng hòa Việt Nam hay không? Chính quyền Sài Gòn trả lời quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, mọi sự xâm phạm đến chủ quyền Việt Nam tại quần đảo này đều được coi là vi phạm pháp luật quốc tế. Tuy nhiên bản đồ Malaysia vẫn gộp phía Nam Trường Sa vào lãnh thổ Malaysia và chiếm đóng một số đảo.

 

Những vụ xâm chiếm này đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam và các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Với những hành động bất hợp pháp nói trên, Nhà nước Việt Nam đã gửi Công hàm phản đối. Đồng thời khẳng định quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, mọi tranh chấp liên quan sẽ giải quyết thông qua thương lượng. Về phía Philippines và Malaisia là những nước láng giềng có quan hệ phát triển tốt đẹp. Việt Nam và hai nước này thống nhất giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai nước thông qua đàm phán, thương lượng hòa bình trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.

 

Hiện nay, ngoài việc đưa ra các tư liệu lịch sử, chứng cứ pháp lý để khẳng định chủ quyền biển Đông, Việt Nam còn căn cứ vào các nguyên tắc của luật quốc tế và tập quán quốc tế. Cụ thể là Công ước Luật Biển 1982; Hiến chương Liên hợp quốc và các văn bản pháp lý quốc gia như: Luật biển 2012; Luật Biên giới quốc gia 2003. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam góp phần xây dựng “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc năm 2002” trên cơ sở hòa bình, thương lượng.

 

TIỂU KẾT

 

Những sự kiện lịch sử, văn bản pháp lý đã nêu là cơ sở vững chắc để khẳng định việc xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng phương thức chiếm cứ hữu hiệu là phù hợp với thực tiễn và pháp luật quốc tế.

Thứ nhất, Nhà nước Việt Nam chiếm hữu thật sự và công khai hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa khi mà các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

Thứ hai, từ khi có hành vi chiếm hữu cho đến nay, suốt trong mấy thế kỷ, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự và liên tục chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ ba, Nhà nước Việt Nam đã tích cực, chủ động bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa khi các quần đảo này bị sự xâm phạm chủ quyền nghiêm trọng từ các quốc gia bên ngoài.

 

KẾT LUẬN

 

Có thể nói nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu thực sự có tác dụng to lớn trong việc phân chia biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia. Trong vấn đề giải quyết tranh chấp biển Đông, Nhà nước ta đưa ra các cơ sở pháp lý, chứng cứ để chứng minh việc chiếm hữu thực sự hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Việt Nam có chủ quyền với hai quần đảo này. Chính vì thế, bất cứ hành vi xâm chiếm liên quan đến chủ quyền lãnh thổ đều phải chịu sự trừng phạt của quốc tế./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHỤ LỤC

QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

 

Thứ nhất, một số nước chiếm đóng trái phép các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa áp dụng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ đã tồn tại trong lịch sử: quyền ưu tiên chiếm hữu (quyền phát hiện). Nguyên tắc này dành quyền ưu tiên chiếm hữu một vùng lãnh thổ cho quốc gia nào đã phát hiện ra vùng lãnh thổ mới đó. Tuy nhiên, để xác định ai là người đã phát hiện ra đầu tiên là hết sức khó khăn, phức tạp việc xảy ra tranh chấp chủ quyền là rất phổ biến. Tranh chấp chủ quyền chỉ được giải quyết triệt để khi áp dụng nguyên tắc “chiếm hữu thực sự”. Đối với vấn đề chủ quyền biển Đông bị xâm phạm nghiêm trọng, Nhà nước Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền thông qua nguyên tắc chiếm hữu thực sự đang phổ biến trong quốc tế hiện nay. Và Việt Nam hoàn toàn có đầy đủ chứng cứ pháp lý và các tư liệu lịch sử có giá trị pháp lý để chứng minh và bảo vệ chủ quyền của mình.

 

Hiện nay, những sự kiện lịch sử, bản đồ lịch sử được sưu tầm, phát hiện ra là những tư liệu rất đáng quý trong quá trình nghiên cứu khoa học, kể cả khoa học pháp lý. Tuy nhiên, theo quan điểm của em không phải bất cứ tư liệu lịch sử nào, bản đồ lịch sử nào cũng có giá trị với tư cách là những bằng chứng pháp lý để chứng minh và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của quốc gia. Nếu chỉ dựa vào lịch sử và bản đồ để xem xét về quyền thụ đắc lãnh thổ có lẽ hầu hết thế giới này sẽ phải thuộc về  Vương quốc Anh, vì đã có thời họ  từng tuyên bố: “Mặt trời không bao giờ lặn trên lãnh thổ của Anh quốc” và rồi sẽ có nhiều quốc gia  không còn tồn tại như hình thể hiện nay trên bản đồ quốc tế!

 

Vì thế, những sự kiện lịch sử, bản đồ pháp lý sẽ là nguồn bổ sung và hoàn thiện hồ sơ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với biển Đông chứ không nên tuyệt đối hóa về bằng chứng lịch sử, bản đồ lịch sử sẽ là cơ sở pháp lý chính thức, duy nhất để khẳng định chủ quyền.

Thứ hai, đối với tranh chấp biển Đông, gần đây Trung Quốc thể hiện mong muốn hòa bình và ổn định, đồng thời cam kết giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ thông qua sự đồng thuận với các bên liên quan. Tuy nhiên mong muốn “hòa bình và ổn định” mà Trung Quốc dường như không còn được sự tin cậy của Việt Nam nói riêng và cả thế giới nói chung. Phải chẳng “Nói một đường, làm một nẻo” là tố chất quan trọng của đội ngũ lãnh đạo Trung Quốc. Thực tế với sức mạnh kinh tế, quân sự, cùng với tham vọng và tính hiếu chiến đã ăn sâu vào gốc rễ đất nước này, rất khó để Trung Quốc đưa “hòa bình”, “thương lượng” đặt lên bàn đàm phán. Đồng thời, với  tư cách chủ quyền, Trung Quốc không có quyền “đề xuất đàm phán”; quyền phán xét thuộc các quốc gia khác. Bởi chính Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của các quốc gia này.

 

Chính vì thế, đối phó với “Ngụy quân tử” Trung Quốc, các quốc gia bị xâm phạm cần có sự chung sức đấu tranh quyết liệt và lâu dài, vừa mềm dẻo vừa cứng rắn. Phải luôn đề phòng bởi sự “trở mặt” nhanh chóng của cường quốc này./.

PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC CẤM SỬ DỤNG VŨ LỰC VÀ ĐE DỌA DÙNG VŨ LỰC TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

LỜI MỞ ĐẦU

 

 

Trước khi nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế ra đời, loài người đã phải trải qua những thảm họa kinh hoàng của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 –1945). Sau sự kiện đó, các quốc gia trên thế giới đã lập ra một tổ chức quốc tế lấy tên là Liên Hiệp Quốc (LHQ). Với mục tiêu cao cả là “phòng ngừa cho thế hệ mai sau khỏi thảm họa chiến tranh”, Khoản 2 Điều 4 Hiến chương LHQ quy định: “Tất cả các nước thành viên LHQ từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của LHQ”. Trong bài tập học kỳ của mình, em xin trình bày vấn đề “ Đánh giá thực tiễn thực hiện nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế” .

 

 

NỘI DUNG

 

I.Khái quát chung về nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế:

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các văn kiện của LHQ sau này đã góp phần bổ sung, làm sáng tỏ hơn những tư tưởng tiến bộ của nguyên tắc nói trên thông qua một số văn kiện như Tuyên ngôn 1970 của LHQ, Nghị quyết LHQ1974, Công ước Luật biển…

 

  1. Nội dung chủ yếu của nguyên tắc

Nội dung của nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế được ghi nhận cụ thể trong Tuyên bố 1970 của Đại hội đồng LHQ: “Mỗi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực để vi phạm biên giới quốc gia của các nước khác hoặc dùng nó làm phương tiện để giải quyết các tranh chấp quốc tế, kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề có liên quan đến biên giới các nước”.

 

2.Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc

Về nguyên tắc, mọi hành vi sử dụng và đe dọa sử dung vũ lực đều bị coi là bất hợp pháp trừ hai trường hợp ngoại lệ sau đây:

 

Trong trường hợp có hành vi xâm lược hoặc phá hoại hòa bình và an ninh quốc tế đã được đại hội đồng bảo an áp dụng các biện pháp phi vũ trang như cắt đứt toàn bộ hay từng phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường biển, hàng không,.. và các phương tiện thông tin khác, kể cả việc cắt đứt quan hệ ngoại giao nhưng HĐBA nhận thấy những biện pháp đó “… là không thích hợp, hoặc tỏ ra là không thích hợp, thì HĐBA có quyền áp dụng mọi hành động của hải, lục, không quân mà HĐBA xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế. Những hành động này có thể là những cuộc biểu dương lực lượng, phong tỏa và những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của các quốc gia thành viên LHQ thực hiện” (điều 42 Hiến chương LHQ).

 

Hành vi sử dụng vũ lực do HĐBA quyết định trong những trường hợp nói trên không bị coi là vi phạm nguyên tắc này.

 

Trong trường hợp các quốc gia bị xâm lược vũ trang, Hiến chương LHQ quy định: “không có một điều khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ cá nhận hay tập thể chính đáng trong trường hợp thành viên LHQ bị tấn công vũ trang cho đến khi HĐBA chưa áp dụng được các biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Những biện pháp mà các thành viên LHQ áp dụng trong việc bảo vệ quyền tự vệ chính đáng ấy phải được báo ngay cho HĐBA và không được gây ảnh hưởng gì đến quyền hạn và trách nhiệm của HĐBA, chiếu theo hiến chương này, đối với việc HĐBA áp dụng bất kỳ lúc nào những hành động mà HĐ thấy cần thiết để duy trì và khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế” (điều 51 Hiến chương LHQ).

 

Như vậy, khi bị xâm lược vũ trang, các quốc gia, các dân tộc có quyền tự vệ cá thể hoặc tập thể cho đến khi HĐBA áp dụng các biện pháp hữu hiệu để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế và phải báo ngay cho HĐBA.

 

Đồng thời không được cản trợ HĐBA hành động để thực hiện sứ mệnh bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế của mình. Về phương diện pháp lý, hành vi tự vệ của các quốc gia, các dân tộc dưới hình thức cá thể và tập thể là những hành vi hợp pháp, không vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Mức độ chống trả phải tương xứng với mức độ thiệt hại mà bên kia đã gây ra và phải báo với HĐBA.

 

  1. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc:

Ngày nay vẫn còn nhiều quốc gia vi phạm nguyên tắc này một cách trắng trợn nhưng bao giờ họ cũng cố tìm ra những lý do có vẻ chính đáng để biện hộ cho hành vi sai trái của mình và luôn giải thích rằng điều đó phù hợp với quy định của Hiến chương LHQ. Học thuyết Ri – Găn ( của Cựu Tổng thống Mỹ) cho rằng việc ủng hộ các chiến sĩ đấu tranh cho tự do là hình thức tự vệ và hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế. Theo học thuyết này thì các quốc gia có quyền mang quân vào nước khác để bảo vệ quyền con người ở đó. Thuyết này hoàn toàn trái với luật quốc tế, không phù hợp với các quyết định của tòa án quốc tế. Ngược lại việc sử dụng dùng vũ lực tất yếu dẫn đến vi phạm thô bạo quyền con người, trong đó có quyền được sống.

 

Chính phủ của các nước vi phạm thường viện dẫn những hoạt động của họ là thực hiện quyền tự vệ và họ lại có vẻ như khẳng định ý nghĩa của nguyên tắc không sử dụng vũ lực. Việc Mỹ mang quân vào Campuchia năm 1970, vào Grenada và Libia năm 1983, vào Panama năm 1989; việc các nước Nato không kích Nam Tư mùa thu năm 1999 thực chất là vi phạm nguyên tắc không dùng vũ lực và đe dọa bằng vũ lực trong quan hệ quốc tếNhững hành vi này bị cộng đồng quốc tế phản đối gay gắt vì nó vi phạm luật quốc tế, đi ngược lại xu thế chung của thời đại chúng ta.

 

Nguyên nhân dẫn đến những sự vi phạm đó chủ yếu xuất phát từ những lý do sau:

 

1.Chế độ xã hội và ý thức hệ khác nhau

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, có một số quốc gia vì thấy nước khác lựa chọn chế độ xã hội hoặc ý thức hệ không giống với nước mình nên họ tiến hành can thiệp, thậm chí sẵn sàng sử dụng vũ lực đối với nước đó. Ví dụ, hai siêu cường Mỹ và Liên Xô thường chọn cách làm này. Những kẻ cường quyền không chỉ giành quyền chọn cho mình một chế độ xã hội và ý thức hệ độc lập mà còn có thể đưa ra sự lựa chọn cho nước khác. Ví dụ, Mỹ đã khẳng định rõ quyền sử dụng vũ lực áp đặt, khôi phục nền dân chủ cho Grenada và Nicaragoa… Ngày nay, cộng đồng quốc tế đã cơ bản đạt được nhận thức chung đối với việc cấm các hành vi, vi phạm trắng trợn nguyên tắc “can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác”. Do vậy, biện pháp dùng vũ lực để truyền bá chế độ xã hội và ý thức hệ đã không còn là mối đe dọa chủ yếu nhất đối với nguyên tắc “cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực”.

 

2.Sự can thiệp về nhân quyền của chủ nghĩa nhân đạo:

Trong một tình huống nào đó, sự can thiệp về nhân quyền của chủ nghĩa nhân đạo có thể giải quyết được khủng hoảng về nhân quyền và cứu được rất nhiều sinh mạng vô tội. Nhưng việc dùng vũ lực để can thiệp vào nước khác đương nhiên là mâu thuẫn với nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực của luật quốc tế. Nhìn chung dư luận quốc tế đều cho rằng: trong trường hợp đặc biệt cấp bách, cần phải có sự can thiệp nhưng phải tiến hành trong khuôn khổ LHQ, nếu không sẽ là phi pháp. Điều đó có nghĩa là chỉ có LHQ mới có đủ uy quyền để thực hiện hành động này (trừ trường hợp được nước chủ nhà cho phép, thậm chí yêu cầu). Như vậy Luật quốc tế không cho phép áp dụng chủ nghĩa nhân đạo một cách bừa bãi, bởi nếu thế thì thế giới sẽ trở nên hỗn loạn, chiến tranh sẽ xảy ra khắp nơi. Thế nhưng con bài “nhân quyền” hiện nay vẫn được một số quốc gia dùng để đe dọa các quốc gia khác.

 

3.Chủ nghĩa khủng bố:

Hoạt động khủng bố quốc tế là một loại hoạt động phạm tội vô cùng nguy hiểm. Sự nguy hại và tính nghiêm trọng của nó không chỉ biểu hiện ở số lượng các vụ khủng bố ngày càng tăng mà còn biểu hiện ở việc dẫn đến sự biến động xã hội, hình thành không khí khủng bố trong cộng đồng quốc tế. Hoạt động của chủ nghĩa khủng bố là một hoạt động tội phạm mang tính chất quốc tế, bởi nó không chỉ vi phạm pháp luật của các quốc gia liên quan mà còn vi phạm pháp luật quốc tế. Vấn đề đặt ra là cần phải tiến hành chống khủng bố như thế nào?

 

Trong thực tiễn, nhiều quốc gia đã áp dụng hành động đơn phương khi bị chủ nghĩa khủng bố xâm hại. Do tính chất quốc tế của hoạt động khủng bố nên những nước bị khủng bố khi áp dụng hành động đơn phương thường nhắm vào các nước khác chứ không phải chỉ một cá nhân. Bởi vậy, hành động trả đũa đối với chủ nghĩa khủng bố thường được thể hiện ở sự can thiệp nào đó, thậm chí can thiệp bằng vũ trang đối với những nước bị coi là đã dung túng, khuyến khích, thực hiện những hoạt động khủng bố.

 

Vậy việc sử dụng vũ lực tấn công vào quốc gia khác để tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố có hợp pháp không? Điều 51 Hiến chương LHQ có quy định “quyền tự vệ” của các quốc gia, nhưng quyền này không cho phép tiến hành trả đũa đối với những cuộc tấn công trước đó. Như vậy, luật pháp quốc tế không cho phép các quốc gia sử dụng vũ lực đối với những nước đã tiến hành khủng bố. Bởi muốn tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố không chỉ đơn thuần dựa vào sự trả thù của một hoặc hai quốc gia, còn phát động chiến tranh để tiến hành trả đũa chủ nghĩa khủng bố là điều vô cùng nguy hiểm. Thực tế đã chứng minh, để trả đũa cho thảm họa khủng bố ngày 11/9, Mỹ đã tiến hành chiến tranh đánh Afghanistan, để ngăn ngừa chủ nghĩa khủng bố Mỹ đã sử dụng vũ trang tấn công Iraq; thế nhưng chủ nghĩa khủng bố mà Mỹ nhằm tiêu diệt vẫn chưa có kết quả.

 

Như vậy, tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố không nên tiến hành bằng cách dùng vũ lực đơn phương của các nước mà nên tiến hành thông qua sự hợp tác quốc tế trong khuôn khổ LHQ, phù hợp với nguyên tắc an ninh tập thể do LHQ đề ra. Nếu làm được điều này thì cuộc chiến chống khủng bố mới có tính hợp lý và hợp pháp, nó sẽ được đông đảo nhân dân trên thế giới ủng hộ, đồng thời sẽ giảm bớt được những cuộc xung đột vũ trang và những mâu thuẫn giữa các khu vực, giữa các quốc gia và giữa các dân tộc trên thế giới và điều cơ bản là thế giới sẽ trở nên hòa bình hơn.

 

III.Một số khuyến nghị:

“ Cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế” và “quyền tự vệ” được khẳng định trong Hiến chương LHQ là những nguyên tắc quan trọng nhất, mang tính căn bản nhất về hành vi sử dụng vũ lực. Nhưng thực tế đã chứng minh, sử dụng vũ lực vẫn là một hiện tượng thường thấy hiện nay. Cuộc chiến tranh Iraq gần đây càng thúc đẩy hành vi sử dụng vũ lực tới đỉnh điểm. Điều này khiến chúng ta cần phải xem xét lại vấn đề sử dụng vũ lực và luật quốc tế. Mặc dù đòi hỏi thực hiện pháp luật quốc tế đã được ghi nhận tại khoản 2 Điều 2 Hiến chương LHQ với nguyên tắc “Tận tâm thực hiện cam kết quốc tế” (hay còn gọi là nguyên tắc Pacta sun servanda), nhưng vấn đề quan trọng hơn chính là việc các thành viên của LHQ phải tự giác tuân thủ pháp luật. Lâu nay luật quốc tế vẫn bị coi là “luật mềm” bởi việc chấp hành pháp luật trong nước luôn được bảo đảm bằng quyền lực tối cao của nhà nước là chủ quyền quốc gia, còn cộng đồng quốc tế khó có một quyền lực có đủ sức mạnh tối cao như vậy để bảo đảm việc chấp hành pháp luật quốc tế. Do đó, tự giác tuân thủ là cách bảo đảm có hiệu quả nhất đối với luật quốc tế. Tự giác tuân thủ là một việc làm rất có ý nghĩa trong quan hệ quốc tế, tuy nhiên trong nhiều trường hợp cần phải giám sát sự chấp hành bởi vì đây là một biện pháp quan trọng để bảo đảm cho các cam kết quốc tế được thực hiện. Việc giám sát chấp hành có thể chia làm hai hình thức:

 

– Đơn phương: các nước lợi dụng ảnh hưởng quốc tế của mình, dùng ngoại giao làm biện pháp chủ yếu thúc giục các nước khác chấp hành nguyên tắc “cấm sử dụng vũ lực”.

 

– Đa phương: đa số các nước cùng nhau vận dụng những ảnh hưởng và sức mạnh tập thể để yêu cầu các thành viên khác trong cộng đồng quốc tế chấp hành nguyên tắc “cấm sử dụng vũ lực”.

 

Trong hai hình thức này thì hình thức đa phương mang lại hiệu quả cao hơn, tránh được sự độc đoán của các nước lớn biểu hiện dưới hình thức đơn phương. Tuy nhiên, biện pháp thích hợp nhất vẫn là thực hiện sự giám sát thông qua LHQ. Trong thời gian qua Hội đồng Bảo an LHQ đã có những nỗ lực rất lớn khi thực hiện sự giám sát đối với nguyên tắc này. Tuy nhiên trong tình hình một số siêu cường đang thực thi chủ nghĩa bá quyền với nguyên tắc “các nước lớn nhất trí” thì vai trò của Hội đồng Bảo an trong một số trường hợp đã không phát huy hết hiệu lực của mình khi giám sát việc thực hiện nguyên tắc “cấm sử dụng vũ lực”. Vì vậy, hiện nay, đối với những trường hợp tương tự, theo chúng tôi, cần phải có một tổ chức cao hơn Hội đồng Bảo an, cụ thể là Đại hội đồng của LHQ, đứng ra tổ chức, thực hiện sứ mạng giám sát này.

 

KẾT LUẬN

Ngày nay, trong các mối quan hệ quốc tế, với xu thế toàn cầu hóa, các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau, không một quyết định chính trị nào có thể trở thành niềm hy vọng và mang ý nghĩa trong đời sống quốc tế nếu nó không được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Tuy nhiên vấn đề làm thế nào để nguyên tắc đó thực sự đi vào đời sống, được chấp hành nghiêm chỉnh là vấn đề đáng quan tâm. Do bất cứ lĩnh vực nào trong quan hệ giữa các quốc gia hiện nay đều có thể bị đe dọa bởi việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực nên việc tuân thủ nguyên tắc không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế là điều hết sức cần thiết cho sự ổn định, phát triển trong hòa bình an ninh của thế giới ngày nay. Với vốn hiểu biết hạn chế của mình, em đã trình bày quan điểm của mình về vấn đề trên, em mong được sự góp ý của thầy cô giáo.

 

Em xin chân thành cảm ơn!

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Giáo trình Công pháp quốc tế. Đại học Luật Hà Nội. NXB Công an nhân dân. (Trang 44).

 

Luật Quốc tế, lí luận và thực tiễn. Ths. Trần Văn Ánh, Ths. Lê Mai Anh. NXB Giáo dục. ( Trang 114, 115, 116).

ĐIỀU 14 CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM 1969 – BÀI TẬP CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Bài làm

 

Công ước giơnevơ 1958 không phát sinh hiệu lực với Đức, vì Công ước giơnevơ 1958 về Thềm lục địa là công ước chỉ phát sinh hiệu lực đối với quốc gia đã ký khi quốc gia đó phê chuẩn. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Công ước Viên năm 1969: “ Một quốc gia chịu sự ràng buộc của một điều ước biểu thị bằng việc phê chuẩn:

 

  1. Khi điều ước quy định là sự đồng ý này biểu thị bằng việc phê chuẩn;

 

  1. Khi có sự quy định rằng các quốc gia tham gia đàm phán đã thỏa thuận là sẽ phải dùng hình thức phê chuẩn;

 

  1. Khi đại diên của quốc gia đó đã ký điều ước bắt buộc phải phê chuẩn;

 

 

  1. Khi quốc gia đó có ý định ký điều ước bắt buộc phải có sự phê chuẩn, thì ý định này được thể hiện trong thư ủy quyền của đại diện quốc gia đó hoặc được bày tỏ trong quá trình đàm phán.” ¹

 

 

Căn cứ theo điều 9 Công ước Gơnevơ 1958 về thềm lục địa: “ Công ước này phải được phê chuẩn. các văn kiện phê chuẩn được lưu với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.”²

 

Căn cứ vào quy định tại điều 9 công ước Giơnevơ 1958 thì công ước này bắt buộc phải có sự phê chuẩn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 14 Công ước Viên năm 1969 thì một quốc gia chỉ chịu sự ràng buộc của một điều ước biểu thị bằng việc phê chuẩn khi điều ước quy định là sự đồng ý này biểu thị bằng việc phê chuẩn. Theo đó, Công ước 1958 về Thềm lục địa chỉ có hiệu lực với Đan Mạch và Hà Lan vì Đan Mạch và Hà Lan là hai quốc gia đã ký và phê chuẩn Công ước. Đối với Cộng hòa Liên bang Đức, mặc dù đã ký, tuy nhiên Đức chưa phê chuẩn công ước do đó, theo quy định của Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969 và Công ước Giơnevơ về thềm lục địa 1958 thì Công ước Giơnevơ không phát sinh hiệu lực đối với Đức.

 

Để chứng minh nguyên tắc “ đường cách đều” là một tập quán quốc tế, Đan Mạch và Hà Lan phải dựa vào cơ sở hình thành tập quán để chứng minh điều đó. Phải có sự thừa nhận và sự áp dụng của các quốc gia là quy phạm pháp lý bắt buộc thì tập quán mới được hình thành. Như vậy, cần lưu ý rằng cả hai yếu tố này phải được bảo đảm trước khi một tập quán có giá trị ràng buộc toàn cầu, khu vực hoặc giữa một số quốc gia liên quan đến tiến trình hình thành tập quán. Trong trường hợp không thể hiện rõ ràng ý định thừa nhận, sự áp dụng thường xuyên của Đức phải được xem xét có xuất phát từ sự tán thành của Đức hay không.

 

* Sự thừa nhận quy phạm pháp lý bắt buộc

 

Yếu tố tâm lý rất cần thiết trong quá trình hình thành tập quán cũng như phản ánh một nghĩa vụ pháp lý. Trong việc chứng minh nguyên tắc “ Đường cách đều” là tập quán quốc tế, nội dung và vai trò của yếu tố này cần được làm rõ như sau:

 

Quốc gia không chỉ thực hiện hành vi nhiều lần, mà còn phải hành động theo một cách thức cho thấy rằng họ nhận thức được đó là nghĩa vụ luật định. Sự nhận thức này được ngầm hiểu rằng quốc gia xem hành vi đó là một quy phạm pháp lý bắt buộc. Như vậy, quốc gia phải ý thức rằng họ đang thực hiện một nghĩa vụ pháp lý. Sự áp dụng thường xuyên, hay thậm chí là thói quen thực hiện hành vi, không phải là điều kiện đủ. Có rất nhiều hành vi trong quan hệ quốc tế, ví dụ nghi thức ngoại giao, được thực hiện theo những cách thức khác nhau, nhưng hầu hết bị chi phối bởi truyền thống, xã giao hay sự thông dụng, chứ không phải là nghĩa vụ pháp lý.

 

Để làm rõ yếu tố tâm lý của cả một quốc gia không nhất thiết phải trực tiếp chứng minh quốc gia thừa nhận những quy phạm bắt buộc, mà có thể suy luận một cách gián tiếp thông qua những xử sự thực tế của quốc gia. Như vậy, Đan mạch và Hà Lan không cần phải chứng minh rằng Đức tuyên bố chính thức thừa nhận nguyên tắc “ Đường cách đều” mà có thể chúng minh sự thừa nhận nguyên tắc trên của Đức thể thông qua hành vi hoặc bất hành vi.

 

Một vấn đề đặc biệt đó là “tập quán giây lát”, tập quán này đã phủ nhận tầm quan trọng của sự áp dụng thường xuyên của quốc gia, mà chỉ thể hiện trong các nghị quyết hoặc tuyên bố không mang tính ràng buộc. Hơn nữa, khái niệm tập quán ngầm chứa đựng yếu tố thời gian, và tập quán giây lát thể hiện sự mâu thuẫn ngay trong thuật ngữ. Trong tranh chấp thềm lục địa biển Bắc, Đan Mạch và Hà Lan cần nhấn mạnh sự áp dụng nguyên tắc “ đường cách đều” của Đức phải bảo đảm tính phổ biến và thống nhất trong suốt thời gian tranh chấp, dù có thể rút ngắn. Nói cách khác, nếu rút ngắn thời gian thì sự áp dụng của quốc gia phải được mở rộng phạm vi và phải bảo đảm tính thường xuyên.

 

* Sự áp dụng thường xuyên của quốc gia

 

Để được công nhận là tập quán quốc tế, một quy tắc phải được các quốc gia thừa nhận và áp dụng thường xuyên, mà sự áp dụng thường xuyên thì hiếm khi có thể chứng minh rõ ràng. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, có thể chứng minh thông qua tài liệu chuẩn bị cho các thủ tục khác, ví dụ việc ký Điều ước của Đức; phát biểu của bộ trưởng và đại diện chính phủ hoặc ngoại giao…

 

Là một yếu tố hình thành tập quán quốc tế, sự áp dụng thường xuyên này phải phổ biến, nhưng không đòi hỏi sự thừa nhận áp dụng của tất cả quốc gia trên thế giới hoặc tại một khu vực. Nếu Đức không thừa nhận áp dụng không có nghĩa là quy tắc này sẽ không có giá trị ràng buộc đối với Đức. Điều này có thể hiểu là các quốc gia không cần thiết phải chính thức hoặc ngầm thừa nhận bị ràng buộc vào quy tắc tập quán, bởi vì sự hình thành tập quán luôn luôn phải xuất phát từ một cách thức thừa nhận bất kỳ.

 

Tuy nhiên, một quốc gia có thể không bị ràng buộc vào quy tắc tập quán trong trường hợp liên tục phản đối quy tắc đó. Nếu Đức không phản đối sự thừa nhận áp dụng một quy tắc của quốc gia khác, Đức sẽ không có quyền, hoặc không đủ tư cách tiếp tục phản đối khi quy tắc đã được luật quốc tế cho phép áp dụng rộng rãi, thậm chí khi quy tắc đó ảnh hưởng đến quyền lợi của mình.

 

Thực tế là tập quán và điều ước quốc tế có mối quan hệ tương hỗ với nhau. Một điều ước quốc tế có thể tập hợp hóa hoặc pháp điển hóa quy tắc tập quán, như Công ước Luật biển 1982. Ngược lại, việc ký kết và thực thi điều ước quốc tế có thể phản ánh sự tồn tại của một quy tắc tập quán. Trong tranh chấp thềm lục địa Biển Bắc, hành vi ký kết và phê chuẩn Công ước Geneva 1958 về thềm lục địa của các quốc gia cũng có thể hình thành quy tắc tập quán quốc tế.

PHÂN TÍCH SỰ THAM GIA VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG MỘT SỐ KHUÔN KHỔ HỢP TÁC KHU VỰC VÀ LIÊN KHU VỰC

Bài tập học kỳ Công pháp quốc tế có đáp án.

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người.  Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập. Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao. Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia. Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển. Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ, Việt Nam mở rộng ngoại giao, hội nhập quốc tế: tham gia nhiều tổ chức quốc tế, hợp tác với nhiều nước trên thế giới…Điều này càng ngày càng khẳng định vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế, để có thể hiểu biết thêm sự tham gia của Việt nam và tầm quan trọng của Việt Nam trong khu vực và thế giới. Em xin chọn đề tài số 05: “Phân tích sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong một số khuôn khổ hợp tác khu vực và liên khu vực (SV chọn hai hoặc ba khuôn khổ hợp tác để phân tích)”.

 

NỘI DUNG

 

  1. Phân tích sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác kinh tế, hợp  tác chính trị – an ninh của ASEAN

 

ASEAN là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á được thành lập 8/8/1967 trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc, với 5 nước thành viên ban đầu là In-đô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po và Thái Lan. Sau 40 năm tồn tại và phát triển với nhiều thăng trầm, ASEAN ngày nay đã trở thành một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á (thêm 5 nước là Brunei, Cămpuchia, Lào, Mianma và Việt Nam), là một thực thể chính trị-kinh tế quan trọng ở Châu Á – Thái Bình Dương và là đối tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước lớn và các trung tâm quan trọng trên thế giới. Hiện nay, ASEAN đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu bao trùm là hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN. Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN (28/7/1995).

 

1.1. Sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác chính trị – an ninh của ASEAN (Cộng đồng chính trị – an ninh ASEAN( APSC))

 

– Ngay sau khi gia nhập, Việt Nam đã thúc đẩy mở rộng ASEAN, lần lượt kết nạp 3 quốc gia Lào, Myanmar và Capuchia, giúp ASEAN trở thành một khối thống nhất, quy tụ 10 quốc gia khu vực Đông Nam Á.

 

– Việt Nam đã thực hiện đủ mọi nghĩa vụ cam kết và trách nhiệm của một thành viên đồng thời tích cực, chủ động đề xuất và thúc đẩy xây dựng nhiều quyết sách, định hướng quan trọng cho hợp tác ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác; tham gia soạn thảo nhiều văn bản và chủ trì thành công nhiều hoạt động của ARF nhằm tăng cường đối thoại, xây dựng lòng tin, tạo sức mạnh chung để cùng nhau ứng phó những thách thức đang đặt ra hiện nay, nhất là các thách thức an ninh phi truyền thống, bảo vệ an ninh, hòa bình cho khu vực và quốc tế. Cụ thể:

 

Trong đối thoại về an ninh – chính trị, Việt Nam đã tham gia đóng góp sáng kiến làm phong phú thêm các biện pháp đối thoại như xây dựng đường dây nóng giữa các nước ASEANViệt Nam tích cực đóng góp sáng kiến của mình trong quá trình soạn thảo các văn bản quan trọng của ASEAN….

 

Việt Nam chủ động tham gia, đóng góp sáng kiến trong quá trình soạn thảo và đi đến ký kết Hiến chương ASEAN, văn kiện quan trọng tạo khung pháp lý và khuôn khổ thể chế hỗ trợ ASEAN thực hiện mục tiêu xây dựng Cộng đồng.

 

Việt Nam đã đề nghị ASEAN đưa vào chương trình hành động APSC các nội dung về quan điểm an ninh toàn diện cũng như nguyên tắc không can thiệp quân sự từ bên ngoài dưới bất kì hình thức nào, đặc biệt không cho phép dùng lãnh thổ của một nước vào mục đích chống phá các nước thành viên khác(1) và được ASEAN chấp nhận và đưa vào chương trình hành động APSC.

 

Việt Nam tích cực tham gia các hoạt động đối thoại và hợp tác về các vấn đề an ninh – chính trị như: Việt Nam đã cùng các quốc gia thành viên tích cực vận động các nước ngoài khu vực tham gia Hiệp ước thân thiện và hợp tác (TAC) đề Hiệp ước này trở thành “ Quy tắc ứng xử” chỉ đạo quan hệ giữa các quốc gia khi tham gia các họat động tại khu vực. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia đầy đủ quá trình kí kết và phê duyệt Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) nhằm xây dựng Đông Nam Á thành khu vực không có vũ khí hạt nhân, Việt Nam đã đề ra sáng kiến và tổ chức thành công cuộc họp tham khảo ý kiến giữa các nước ASEAN và 5 quốc gia có vũ khí hạt nhân. Việt Nam và các nước thành viên ASEAN thúc đẩy việc tuân thủ và thực hiện tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)…

 

Vai trò:Việt Nam đã thúc đẩy nhanh chóng đưa ASEAN trở thành một khối thống nhất. Bên cạnh đó, Việt Nam chủ động tích cực tham gia, xây dựng và triển khai chương trình của APSC nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng thành công APSC – tạo dựng một môi trường hòa bình và an ninh cho phát triển ở khu vực Đông Nam Á thông qua việc nâng hợp tác chính trị-an ninh ASEAN lên tầm cao mới, với sự tham gia và đóng góp xây dựng của các đối tác bên ngoài; không nhằm tạo ra một khối phòng thủ chung. Sự chủ động của Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò Việt Nam là một nhân tố quan trọng góp phần giữ vững các nguyên tắc cơ bản, định hướng phát triển đúng của APSC, duy trì và tăng cường đoàn kết, nhất trí trong Hiệp hội. Sự tham gia của Việt Nam đóng góp tích cực vào việc mở rộng quan hệ đối ngoại và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong quá trình hình thành cấu trúc ở khu vực vì hòa bình, an ninh và phát triển thịnh vượng; đóng vai trò động lực và là hạt nhân mở rộng liên kết và kết nối ở khu vực Đông Á; giữ vai trò quan trọng trong công cuộc giữ gìn bảo hòa bình, ổn định khu vực.

 

1.2. Sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác kinh tế (Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC) của ASEAN

 

– Việt Nam tham gia trong việc hình thành ý tưởng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Xuất phát từ ý tưởng hình thành AEC bắt đầu được hình thành cùng Tuyên bố tầm nhìn 2020 là thiết lập một khu vực kinh tế ổn định, thịnh vượng và có tính cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư được di chuyển tự do,…Thực tế, Việt Nam đã chủ động tham gia, thúc đẩy việc soạn thảo “Tầm nhìn ASEAN 2020” – nền tảng tư tưởng cho sự thiết lập cộng đồng ASEAN, Việt Nam đưa ra sáng kiến xây dựng “ Chương trình hành động Hà Nội” nhằm khắc phục nhanh chóng hậu quả khủng hoảng tài chính – tiền tệ, khôi phục lại vị thế và sức mạnh của ASEAN sau khủng hoảng, đặc biệt là thực hiện “Tầm nhìn 2020” vì một ASEAN năng động, hợp tác và phát triển bền vững… Đây là một đóng ý tưởng cho Cộng đồng kinh tế sau này.

 

– Việt Nam đã tích cực triển khai các nội dung của AEC, nhằm triển khai có hiệu quả lộ trình tự do hóa về thương mại, dịch vụ, đầu tư đồng thời tham gia hợp tác toàn diện các lĩnh vực như bảo hộ trí tuệ…Ví dụ: Để thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa, tháng 6/2006 Việt Nam công bố lộ trình giảm thuế để thực hiện CEPT/AFTA giai đoạn 2006- 2013, theo đó 10.342 mặt hàng đã được đưa vào danh mục cắt giảm thuế…

 

– Sự tham gia của Việt Nam trong việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên của ASEAN và làm sống động lại mối quan hệ của ASEAN và một số quốc gia ngoài khu vực. Ví dụ: Tháng 6/2007 Việt Nam đăng cai tổ chức diễn đàn sáng kiến hội nhập ASEAN (AIA) lần thứ hai, Việt Nam đã đưa ra sáng kiến quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội qua chương trình hợp tác phát triển tiểu vùng sông Mê Công, các vùng nghèo dọc hành lang Đông  – Tây (WEC). Việt Nam giúp cải thiện quan hệ kinh tế ASEAN và EU (bị đóng băng từ năm 2008), xử lý khôn khéo mối quan hệ giữa Trung Quốc, Nhật Bản và các nước tham gia khuôn khổ hợp tác Đông Á đồng thời mở thêm kênh đối thoại cấp Bộ trưởng kinh tế lần đầu tiên với Cộng hòa Liên Bang Nga.

 

Vai trò: Từ sự tham gia tích cực chủ động của Việt Nam và hiệu quả đạt được từ những hoạt động đó đã cho thấy Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò mình. Tuy là nước có thể chế chính trị khác với các thành viên trong khu vực nhưng Việt Nam luôn đặt lợi ích khu vực ở vị trí quan trọng, trên cơ sở đó cùng ASEAN bàn bạc và tìm kiếm hình thái, bước đi phù hợp để xây dựng Cộng đồng. Việt Nam đã đề ra những sáng kiến mới nhằm khắc phục những yếu kém, trì trệ trong ASEAN, thúc đẩy hợp tác khu vực phát triển trên nguyên tắc hài hòa lợi ích quốc gia và lợi ích khu vực và các quyết định của Việt Nam được ASEAN chấp nhận và không tạo ra mâu thuẫn, đối kháng trong tổ chức. Việt Nam đã giúp ASEAN xây dựng những quy định chung, tích cực tham gia vào tất cả các hội nghị và có những đóng góp rất lớn vào những quyết định chung của khối ASEAN.

 

  1. Sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác kinh tế, khuôn khổ hợp tác văn hóa – xã hội của Hội nghị Á – Âu (ASEM)

 

ASEM (Hội nghị Á – Âu) là diễn đàn đối thoại và hợp tác không chính thức, được sáng lập vào năm 1996 mà thành viên là các quốc gia ở các khu vực địa lý khác nhau hợp tác để tạo sự tăng trưởng hơn nữa ở cả châu Á và châu Âu. Thành viên ban đầu bao gồm 15 nước Liên minh châu Âu và 7 nước ASEAN, 3 nước Đông Bắc Á và Uỷ ban châu Âu. Sau đó, kết nạp thêm 10 nước thành viên EU mới cùng với 3 nước thành viên ASEAN (Campuchia, Lào và Mianma).

 

2.1. Sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác kinh tế của ASEM

 

– Trong quá trình tham gia ASEM, Việt Nam đã cùng các nước châu Á nhấn mạnh hợp tác kinh tế là cơ sở vững chắc cho quan hệ đối tác giữa hai châu lục. Việt Nam cho rằng ASEM cần tính đến trình độ phát triển khác nhau giữa các nước, quan tâm thích đáng đến sự phát triển giữa các nước thành viên, hỗ trợ các nước đang phát triển trong chuyển giao công nghệ, giải quyết chênh lệch về trình độ khoa học – kỹ thuật, thu hẹp khoảng cách phát triển, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, để giúp những nước này trở thành đối tác lâu dài, ổn định, đưa sự hợp tác ASEM thực sự trở thành quan hệ đối tác cùng có lợi.

 

– Việt Nam tích cực tham gia các Hội nghị, cuộc họp của ASEM và tổ chức đăng cai nhiều sự kiện quan trọng thể hiện sự chú trọng của Việt Nam tới mọi họat động của ASEM trong khuôn khổ hợp tác kinh tế. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia xây dựng và triển khai các họat động của ASEM. Cụ thể:

 

Việt Nam đã tham gia xây dựng và triển khai “Kế hoạch Hành động Xúc tiến đầu tư” (IPAP), “Kế hoạch hành động thuận lợi hóa thương mại” (TFAP). Việt Nam đã thúc đẩy Hội nghị Cấp cao ASEM 5 thông qua “Tuyên bố Hà Nội về tăng cường hợp tác kinh tế ASEM chặt chẽ hơn”. Đây là văn kiện có tính định hướng hợp tác kinh tế ASEM.

 

Việt Nam đã cử đoàn tham gia tất cả các hội nghị cấp Bộ trưởng các ngành kinh tế và tài chính, và các cuộc họp các quan chức cao cấp Thương mại và Đầu tư trong khuôn khổ ASEM. Việt Nam tổ chức thành công Diễn đàn Doanh nghiệp Á-Âu lần thứ 9 liền kề với Hội nghị Cấp cao ASEM 5, một mặt góp phần thúc đẩy kênh đối thoại giữa cộng đồng doanh nghiệp với Chính phủ, thu hút sự quan tâm của doanh nghiệp đối với ASEM; mặt khác tạo khuôn mẫu cho tổ chức các Diễn đàn doanh nghiệp về sau. Trong lĩnh vực tài chính, đến năm 2006 (thời điểm kết thúc), các Bộ ngành của Việt Nam đã tranh thủ Quỹ Tín thác ASEM (ATF) trợ giúp triển khai có hiệu quả  21 dự án với giá trị gần 13,35 triệu đô la trên các lĩnh vực cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp, xóa đói giảm nghèo và cải cách hệ thống an sinh xã hội, được đánh giá cao. Tại FMM 9 (Hà Nội, tháng 5/2009), sáng kiến “Diễn đàn Á-Âu về hợp tác kinh tế và phát triển” của ta đã được Hội nghị hoan nghênh và thông qua.

 

Vai trò, với sự tham gia chủ động và nỗ lực của mình Việt Nam đã dần khẳng định tầm quan trọng của mình trong khuôn khổ hợp tác kinh tế của ASEM và được các quốc gia thành viên đánh giá cao. Cụ thể, Việt Nam đã tham gia và đưa ra những đề xuất, sáng kiến giúp các quốc gia thành viên thu hẹp khoảng cách phát triển, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, để giúp những nước này trở thành đối tác lâu dài, ổn định, đưa sự hợp tác ASEM thực sự trở thành quan hệ đối tác cùng có lợi. Bên cạnh đó với việc Việt Nam đưa hợp tác kinh tế ASEM lên một tầm cao mới thể hiện ở sự chủ động đề xuất và chuẩn bị tích cực cho việc đưa ra một Tuyên bố về hợp tác kinh tế ASEM trong thời kỳ mới, đưa hợp tác ASEM, nhất là hợp tác kinh tế ASEM chặt chẽ hơn tại Hội nghị Cấp cao ASEM 5. Đây là một dấu ấn quan trọng, định hình khuôn khổ hợp tác kinh tế ASEM trong thời kỳ mới, đưa hợp tác ASEM, nhất là hợp tác kinh tế đi vào thực chất và hiệu quả hơn, phản ánh đầy đủ mối quan tâm và lợi ích của tất cả các thành viên.

 

2.2. Sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác chính trị của ASEM

 

– Kể từ khi tham gia ASEM, Việt Nam đã tham gia đầy đủ các sinh hoạt chính trị, hoạt động của ASEM. Cụ thể: Việt Nam đã cử đoàn tham dự các Hội nghị Bộ trưởng, các cuộc họp ASEM SOM, họp điều phối viên…Việt Nam là một trong các nước thành lập ASEM năm 1988 nên việc tham gia đầy đủ các hoạt động của ASEM thể hiện Việt Nam rất chú trọng tới quan hệ hợp tác của mình với ASEM và để các quốc gia thành viên thấy được sự thiện chí của Việt Nam trong quan hệ hợp tác.

 

– Bên cạnh đó, Việt Nam còn đăng cai nhiều chương trình, Hội thảo của ASEM và đã tích cực đề xuất và triển khai nhiều sáng kiến, họat động của ASEM trong khuôn khổ hợp tác chính trị. Cụ thể: Việt Nam nỗ lực chuẩn bị và tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEM 5, đưa ra những quyết định mở ra hướng mới cho hợp tác ASEM, đẩy mạnh hợp tác về kinh tế và văn hoá. Việt Nam đã thể hiện tốt vai trò tích cực của nước chủ nhà, chủ động dàn xếp điều hòa lợi ích giữa các thành viên ASEM, giải quyết tốt vấn đề mở rộng thành viên của Mi-an-ma, góp phần quan trọng duy trì sự phát triển của tiến trình, đoàn kết trong khối các nước ASEAN. Vào ngày 25-26/5/2009, tại Hà Nội, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEM lần thứ chín (FMM 9) đã thành công tốt đẹp. Đây là Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEM chính thức đầu tiên với 45 thành viên. Quán triệt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và lường trước được những vấn đề có thể phát sinh, ta đã sớm đề xuất chủ đề “Tăng cường quan hệ đối tác Á-Âu nhằm ứng phó với khủng hoảng tài chính – kinh tế và các thách thức toàn cầu”, chương trình nghị sự và các nội dung thảo luận thoả đáng, đáp ứng quan tâm và lợi ích của các thành viên; kiên trì, khéo léo vận động để các bên đi đến đồng thuận ủng hộ kết nạp đồng thời cả Nga và Ô-xtrây-li-a, hai nước lớn và có quan hệ chiến lược với Việt Nam, và giao cho các Quan chức Ngoại giao cao cấp trao đổi về thể thức để hai nước này chính thức tham gia tại Cấp cao ASEM 8 năm 2010. Trong quá trình chuẩn bị và tại Hội nghị, ta đã xử lý khéo léo, linh hoạt nhiều vấn đề phức tạp, nhạy cảm, để các bên liên quan trực tiếp đạt được đồng thuận chung, không áp đặt hay gây căng thẳng, nhất là đối với việc CHDCND Triều Tiên thử hạt nhân ngày 25/5, bà Aung San Suu Kyi bị đưa ra xét xử và tình hình Xri-lan-ca. Liên quan tình hình Mi-an-ma, ta đã chủ động thúc đẩy để cuộc gặp đầu tiên ở cấp Bộ trưởng giữa Troika EU với Mi-an-ma diễn ra thành công.

 

Vai trò: Việt Nam đã góp vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển và làm phong phú thêm nội dung hợp tác giữa hai châu lục. Trong khi Á-Âu có sự khác biệt về quan tâm và thứ tự ưu tiên hợp tác, Việt Nam đã phối hợp cùng các thành viên châu Á khác kiên trì nguyên tắc đối thoại bình đẳng, dành ưu tiên cao nhất cho hợp tác cùng có lợi; bảo đảm đối thoại chính trị tiến hành trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tạo bầu không khí ngày càng thuận lợi cho đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực khác.

 

Thực hiện vai trò điều phối viên, Việt Nam đăng cai nhiều cuộc họp các cấp và phối hợp với các thành viên điều hành tốt, đồng chủ trì và đóng góp vào nhiều chủ đề thảo luận tại tất cả các cuộc họp ASEM. Việt Nam đã chú trọng tham khảo trong ASEAN, đề cao tiếng nói chung của châu Á, cơ bản xử lý nhanh chóng và tốt các vấn đề, đưa ra nhiều đề xuất giải quyết các vấn đề chung để duy trì tiến trình ASEM phù hợp với lợi ích của các nước trong khu vực cũng như của ASEM.

 

KẾT LUẬN

 

Sự tham gia chủ động, tích cực của Việt Nam trong những khuôn khổ hợp tác khu vực và liên khu vực đã cho thấy được vai trò quan trọng của Việt Nam trong những khuôn khổ hợp tác này như thúc đẩy hoàn thành mục tiêu của khuôn khổ hợp tác khu vực và liên khu vực. Bên cạnh đó, sự hợp tác này có vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đảm bảo chủ quyền quốc gia và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong bối cạnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Giáo trình Luật quốc tế, Trường đại học Luật Hà Nội. Nxb Công an nhân dân, Hà Nội – 2004.
  2. Giáo trình Luật quốc tế (Dùng cho các trường đại học, chuyên ngành luật, ngoại giao). ThS. Nguyễn Thị Kim Ngân – ThS. Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên). Nxb giáo dục Việt Nam. Hà Nội – 2010.
  3. Giáo trình Pháp luật Cộng đồng ASEAN, Trường Đại học Luật Hà Nội. Nxb Công an nhân dân. Hà Nội – 2012.
  4. Website: chinhphu.vn
  5. Trích bài: “Việt Nam & ASEM, một số nét cơ bản” trên website Bộ ngoại  giao Việt Nam.

 

  1. Trích bài: “Hội nhập quốc tế” Sở ngoại vụ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: http://dofabrvt.gov.vn/vn/WEB/162.nhung_thanh_tuu_trong_tien_trinh_hoi_nhap_kinh_te_….html

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

Leave a Reply