kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Bài tập học kì Công pháp quốc tế có đáp án sưu tầm P2

PHÂN TÍCH SỰ THAM GIA VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG MỘT SỐ KHUÔN KHỔ HỢP TÁC KHU VỰC VÀ LIÊN KHU VỰC – BÀI TẬP HỌC KÌ CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người.  Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập. Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao. Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia. Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển. Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ, Việt Nam mở rộng ngoại giao, hội nhập quốc tế: tham gia nhiều tổ chức quốc tế, hợp tác với nhiều nước trên thế giới…Điều này càng ngày càng khẳng định vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế, để có thể hiểu biết thêm sự tham gia của Việt nam và tầm quan trọng của Việt Nam trong khu vực và thế giới. Em xin chọn đề tài số 05: “Phân tích sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong một số khuôn khổ hợp tác khu vực và liên khu vực (SV chọn hai hoặc ba khuôn khổ hợp tác để phân tích)”.

 

NỘI DUNG

 

  1. Phân tích sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác kinh tế, hợp  tác chính trị – an ninh của ASEAN

 

ASEAN là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á được thành lập 8/8/1967 trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc, với 5 nước thành viên ban đầu là In-đô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po và Thái Lan. Sau 40 năm tồn tại và phát triển với nhiều thăng trầm, ASEAN ngày nay đã trở thành một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á (thêm 5 nước là Brunei, Cămpuchia, Lào, Mianma và Việt Nam), là một thực thể chính trị-kinh tế quan trọng ở Châu Á – Thái Bình Dương và là đối tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước lớn và các trung tâm quan trọng trên thế giới. Hiện nay, ASEAN đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu bao trùm là hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN. Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN (28/7/1995).

 

1.1. Sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác chính trị – an ninh của ASEAN (Cộng đồng chính trị – an ninh ASEAN( APSC))

 

– Ngay sau khi gia nhập, Việt Nam đã thúc đẩy mở rộng ASEAN, lần lượt kết nạp 3 quốc gia Lào, Myanmar và Capuchia, giúp ASEAN trở thành một khối thống nhất, quy tụ 10 quốc gia khu vực Đông Nam Á.

 

– Việt Nam đã thực hiện đủ mọi nghĩa vụ cam kết và trách nhiệm của một thành viên đồng thời tích cực, chủ động đề xuất và thúc đẩy xây dựng nhiều quyết sách, định hướng quan trọng cho hợp tác ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác; tham gia soạn thảo nhiều văn bản và chủ trì thành công nhiều hoạt động của ARF nhằm tăng cường đối thoại, xây dựng lòng tin, tạo sức mạnh chung để cùng nhau ứng phó những thách thức đang đặt ra hiện nay, nhất là các thách thức an ninh phi truyền thống, bảo vệ an ninh, hòa bình cho khu vực và quốc tế. Cụ thể:

 

Trong đối thoại về an ninh – chính trị, Việt Nam đã tham gia đóng góp sáng kiến làm phong phú thêm các biện pháp đối thoại như xây dựng đường dây nóng giữa các nước ASEANViệt Nam tích cực đóng góp sáng kiến của mình trong quá trình soạn thảo các văn bản quan trọng của ASEAN….

Việt Nam chủ động tham gia, đóng góp sáng kiến trong quá trình soạn thảo và đi đến ký kết Hiến chương ASEAN, văn kiện quan trọng tạo khung pháp lý và khuôn khổ thể chế hỗ trợ ASEAN thực hiện mục tiêu xây dựng Cộng đồng.

Việt Nam đã đề nghị ASEAN đưa vào chương trình hành động APSC các nội dung về quan điểm an ninh toàn diện cũng như nguyên tắc không can thiệp quân sự từ bên ngoài dưới bất kì hình thức nào, đặc biệt không cho phép dùng lãnh thổ của một nước vào mục đích chống phá các nước thành viên khác(1) và được ASEAN chấp nhận và đưa vào chương trình hành động APSC.

Việt Nam tích cực tham gia các hoạt động đối thoại và hợp tác về các vấn đề an ninh – chính trị như: Việt Nam đã cùng các quốc gia thành viên tích cực vận động các nước ngoài khu vực tham gia Hiệp ước thân thiện và hợp tác (TAC) đề Hiệp ước này trở thành “ Quy tắc ứng xử” chỉ đạo quan hệ giữa các quốc gia khi tham gia các họat động tại khu vực. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia đầy đủ quá trình kí kết và phê duyệt Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) nhằm xây dựng Đông Nam Á thành khu vực không có vũ khí hạt nhân, Việt Nam đã đề ra sáng kiến và tổ chức thành công cuộc họp tham khảo ý kiến giữa các nước ASEAN và 5 quốc gia có vũ khí hạt nhân. Việt Nam và các nước thành viên ASEAN thúc đẩy việc tuân thủ và thực hiện tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)…

Vai trò:Việt Nam đã thúc đẩy nhanh chóng đưa ASEAN trở thành một khối thống nhất. Bên cạnh đó, Việt Nam chủ động tích cực tham gia, xây dựng và triển khai chương trình của APSC nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng thành công APSC – tạo dựng một môi trường hòa bình và an ninh cho phát triển ở khu vực Đông Nam Á thông qua việc nâng hợp tác chính trị-an ninh ASEAN lên tầm cao mới, với sự tham gia và đóng góp xây dựng của các đối tác bên ngoài; không nhằm tạo ra một khối phòng thủ chung. Sự chủ động của Việt Nam đã thể hiện rõ vai trò Việt Nam là một nhân tố quan trọng góp phần giữ vững các nguyên tắc cơ bản, định hướng phát triển đúng của APSC, duy trì và tăng cường đoàn kết, nhất trí trong Hiệp hội. Sự tham gia của Việt Nam đóng góp tích cực vào việc mở rộng quan hệ đối ngoại và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong quá trình hình thành cấu trúc ở khu vực vì hòa bình, an ninh và phát triển thịnh vượng; đóng vai trò động lực và là hạt nhân mở rộng liên kết và kết nối ở khu vực Đông Á; giữ vai trò quan trọng trong công cuộc giữ gìn bảo hòa bình, ổn định khu vực.

 

1.2. Sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác kinh tế (Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC) của ASEAN

 

– Việt Nam tham gia trong việc hình thành ý tưởng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Xuất phát từ ý tưởng hình thành AEC bắt đầu được hình thành cùng Tuyên bố tầm nhìn 2020 là thiết lập một khu vực kinh tế ổn định, thịnh vượng và có tính cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư được di chuyển tự do,…Thực tế, Việt Nam đã chủ động tham gia, thúc đẩy việc soạn thảo “Tầm nhìn ASEAN 2020” – nền tảng tư tưởng cho sự thiết lập cộng đồng ASEAN, Việt Nam đưa ra sáng kiến xây dựng “ Chương trình hành động Hà Nội” nhằm khắc phục nhanh chóng hậu quả khủng hoảng tài chính – tiền tệ, khôi phục lại vị thế và sức mạnh của ASEAN sau khủng hoảng, đặc biệt là thực hiện “Tầm nhìn 2020” vì một ASEAN năng động, hợp tác và phát triển bền vững… Đây là một đóng ý tưởng cho Cộng đồng kinh tế sau này.

 

– Việt Nam đã tích cực triển khai các nội dung của AEC, nhằm triển khai có hiệu quả lộ trình tự do hóa về thương mại, dịch vụ, đầu tư đồng thời tham gia hợp tác toàn diện các lĩnh vực như bảo hộ trí tuệ…Ví dụ: Để thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa, tháng 6/2006 Việt Nam công bố lộ trình giảm thuế để thực hiện CEPT/AFTA giai đoạn 2006- 2013, theo đó 10.342 mặt hàng đã được đưa vào danh mục cắt giảm thuế…

 

– Sự tham gia của Việt Nam trong việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên của ASEAN và làm sống động lại mối quan hệ của ASEAN và một số quốc gia ngoài khu vực. Ví dụ: Tháng 6/2007 Việt Nam đăng cai tổ chức diễn đàn sáng kiến hội nhập ASEAN (AIA) lần thứ hai, Việt Nam đã đưa ra sáng kiến quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội qua chương trình hợp tác phát triển tiểu vùng sông Mê Công, các vùng nghèo dọc hành lang Đông  – Tây (WEC). Việt Nam giúp cải thiện quan hệ kinh tế ASEAN và EU (bị đóng băng từ năm 2008), xử lý khôn khéo mối quan hệ giữa Trung Quốc, Nhật Bản và các nước tham gia khuôn khổ hợp tác Đông Á đồng thời mở thêm kênh đối thoại cấp Bộ trưởng kinh tế lần đầu tiên với Cộng hòa Liên Bang Nga.

 

Vai trò: Từ sự tham gia tích cực chủ động của Việt Nam và hiệu quả đạt được từ những hoạt động đó đã cho thấy Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò mình. Tuy là nước có thể chế chính trị khác với các thành viên trong khu vực nhưng Việt Nam luôn đặt lợi ích khu vực ở vị trí quan trọng, trên cơ sở đó cùng ASEAN bàn bạc và tìm kiếm hình thái, bước đi phù hợp để xây dựng Cộng đồng. Việt Nam đã đề ra những sáng kiến mới nhằm khắc phục những yếu kém, trì trệ trong ASEAN, thúc đẩy hợp tác khu vực phát triển trên nguyên tắc hài hòa lợi ích quốc gia và lợi ích khu vực và các quyết định của Việt Nam được ASEAN chấp nhận và không tạo ra mâu thuẫn, đối kháng trong tổ chức. Việt Nam đã giúp ASEAN xây dựng những quy định chung, tích cực tham gia vào tất cả các hội nghị và có những đóng góp rất lớn vào những quyết định chung của khối ASEAN.

 

  1. Sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác kinh tế, khuôn khổ hợp tác văn hóa – xã hội của Hội nghị Á – Âu (ASEM)

 

ASEM (Hội nghị Á – Âu) là diễn đàn đối thoại và hợp tác không chính thức, được sáng lập vào năm 1996 mà thành viên là các quốc gia ở các khu vực địa lý khác nhau hợp tác để tạo sự tăng trưởng hơn nữa ở cả châu Á và châu Âu. Thành viên ban đầu bao gồm 15 nước Liên minh châu Âu và 7 nước ASEAN, 3 nước Đông Bắc Á và Uỷ ban châu Âu. Sau đó, kết nạp thêm 10 nước thành viên EU mới cùng với 3 nước thành viên ASEAN (Campuchia, Lào và Mianma).

 

2.1. Sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác kinh tế của ASEM

 

– Trong quá trình tham gia ASEM, Việt Nam đã cùng các nước châu Á nhấn mạnh hợp tác kinh tế là cơ sở vững chắc cho quan hệ đối tác giữa hai châu lục. Việt Nam cho rằng ASEM cần tính đến trình độ phát triển khác nhau giữa các nước, quan tâm thích đáng đến sự phát triển giữa các nước thành viên, hỗ trợ các nước đang phát triển trong chuyển giao công nghệ, giải quyết chênh lệch về trình độ khoa học – kỹ thuật, thu hẹp khoảng cách phát triển, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, để giúp những nước này trở thành đối tác lâu dài, ổn định, đưa sự hợp tác ASEM thực sự trở thành quan hệ đối tác cùng có lợi.

 

– Việt Nam tích cực tham gia các Hội nghị, cuộc họp của ASEM và tổ chức đăng cai nhiều sự kiện quan trọng thể hiện sự chú trọng của Việt Nam tới mọi họat động của ASEM trong khuôn khổ hợp tác kinh tế. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia xây dựng và triển khai các họat động của ASEM. Cụ thể:

 

Việt Nam đã tham gia xây dựng và triển khai “Kế hoạch Hành động Xúc tiến đầu tư” (IPAP), “Kế hoạch hành động thuận lợi hóa thương mại” (TFAP). Việt Nam đã thúc đẩy Hội nghị Cấp cao ASEM 5 thông qua “Tuyên bố Hà Nội về tăng cường hợp tác kinh tế ASEM chặt chẽ hơn”. Đây là văn kiện có tính định hướng hợp tác kinh tế ASEM.

 

Việt Nam đã cử đoàn tham gia tất cả các hội nghị cấp Bộ trưởng các ngành kinh tế và tài chính, và các cuộc họp các quan chức cao cấp Thương mại và Đầu tư trong khuôn khổ ASEM. Việt Nam tổ chức thành công Diễn đàn Doanh nghiệp Á-Âu lần thứ 9 liền kề với Hội nghị Cấp cao ASEM 5, một mặt góp phần thúc đẩy kênh đối thoại giữa cộng đồng doanh nghiệp với Chính phủ, thu hút sự quan tâm của doanh nghiệp đối với ASEM; mặt khác tạo khuôn mẫu cho tổ chức các Diễn đàn doanh nghiệp về sau. Trong lĩnh vực tài chính, đến năm 2006 (thời điểm kết thúc), các Bộ ngành của Việt Nam đã tranh thủ Quỹ Tín thác ASEM (ATF) trợ giúp triển khai có hiệu quả  21 dự án với giá trị gần 13,35 triệu đô la trên các lĩnh vực cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp, xóa đói giảm nghèo và cải cách hệ thống an sinh xã hội, được đánh giá cao. Tại FMM 9 (Hà Nội, tháng 5/2009), sáng kiến “Diễn đàn Á-Âu về hợp tác kinh tế và phát triển” của ta đã được Hội nghị hoan nghênh và thông qua.

 

Vai trò, với sự tham gia chủ động và nỗ lực của mình Việt Nam đã dần khẳng định tầm quan trọng của mình trong khuôn khổ hợp tác kinh tế của ASEM và được các quốc gia thành viên đánh giá cao. Cụ thể, Việt Nam đã tham gia và đưa ra những đề xuất, sáng kiến giúp các quốc gia thành viên thu hẹp khoảng cách phát triển, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, để giúp những nước này trở thành đối tác lâu dài, ổn định, đưa sự hợp tác ASEM thực sự trở thành quan hệ đối tác cùng có lợi. Bên cạnh đó với việc Việt Nam đưa hợp tác kinh tế ASEM lên một tầm cao mới thể hiện ở sự chủ động đề xuất và chuẩn bị tích cực cho việc đưa ra một Tuyên bố về hợp tác kinh tế ASEM trong thời kỳ mới, đưa hợp tác ASEM, nhất là hợp tác kinh tế ASEM chặt chẽ hơn tại Hội nghị Cấp cao ASEM 5. Đây là một dấu ấn quan trọng, định hình khuôn khổ hợp tác kinh tế ASEM trong thời kỳ mới, đưa hợp tác ASEM, nhất là hợp tác kinh tế đi vào thực chất và hiệu quả hơn, phản ánh đầy đủ mối quan tâm và lợi ích của tất cả các thành viên.

 

2.2. Sự tham gia và vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác chính trị của ASEM

 

– Kể từ khi tham gia ASEM, Việt Nam đã tham gia đầy đủ các sinh hoạt chính trị, hoạt động của ASEM. Cụ thể: Việt Nam đã cử đoàn tham dự các Hội nghị Bộ trưởng, các cuộc họp ASEM SOM, họp điều phối viên…Việt Nam là một trong các nước thành lập ASEM năm 1988 nên việc tham gia đầy đủ các hoạt động của ASEM thể hiện Việt Nam rất chú trọng tới quan hệ hợp tác của mình với ASEM và để các quốc gia thành viên thấy được sự thiện chí của Việt Nam trong quan hệ hợp tác.

 

– Bên cạnh đó, Việt Nam còn đăng cai nhiều chương trình, Hội thảo của ASEM và đã tích cực đề xuất và triển khai nhiều sáng kiến, họat động của ASEM trong khuôn khổ hợp tác chính trị. Cụ thể: Việt Nam nỗ lực chuẩn bị và tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEM 5, đưa ra những quyết định mở ra hướng mới cho hợp tác ASEM, đẩy mạnh hợp tác về kinh tế và văn hoá. Việt Nam đã thể hiện tốt vai trò tích cực của nước chủ nhà, chủ động dàn xếp điều hòa lợi ích giữa các thành viên ASEM, giải quyết tốt vấn đề mở rộng thành viên của Mi-an-ma, góp phần quan trọng duy trì sự phát triển của tiến trình, đoàn kết trong khối các nước ASEAN. Vào ngày 25-26/5/2009, tại Hà Nội, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEM lần thứ chín (FMM 9) đã thành công tốt đẹp. Đây là Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEM chính thức đầu tiên với 45 thành viên. Quán triệt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và lường trước được những vấn đề có thể phát sinh, ta đã sớm đề xuất chủ đề “Tăng cường quan hệ đối tác Á-Âu nhằm ứng phó với khủng hoảng tài chính –

kinh tế và các thách thức toàn cầu”, chương trình nghị sự và các nội dung thảo luận thoả đáng, đáp ứng quan tâm và lợi ích của các thành viên; kiên trì, khéo léo vận động để các bên đi đến đồng thuận ủng hộ kết nạp đồng thời cả Nga và Ô-xtrây-li-a, hai nước lớn và có quan hệ chiến lược với Việt Nam, và giao cho các Quan chức Ngoại giao cao cấp trao đổi về thể thức để hai nước này chính thức tham gia tại Cấp cao ASEM 8 năm 2010. Trong quá trình chuẩn bị và tại Hội nghị, ta đã xử lý khéo léo, linh hoạt nhiều vấn đề phức tạp, nhạy cảm, để các bên liên quan trực tiếp đạt được đồng thuận chung, không áp đặt hay gây căng thẳng, nhất là đối với việc CHDCND Triều Tiên thử hạt nhân ngày 25/5, bà Aung San Suu Kyi bị đưa ra xét xử và tình hình Xri-lan-ca. Liên quan tình hình Mi-an-ma, ta đã chủ động thúc đẩy để cuộc gặp đầu tiên ở cấp Bộ trưởng giữa Troika EU với Mi-an-ma diễn ra thành công.

 

Vai trò: Việt Nam đã góp vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển và làm phong phú thêm nội dung hợp tác giữa hai châu lục. Trong khi Á-Âu có sự khác biệt về quan tâm và thứ tự ưu tiên hợp tác, Việt Nam đã phối hợp cùng các thành viên châu Á khác kiên trì nguyên tắc đối thoại bình đẳng, dành ưu tiên cao nhất cho hợp tác cùng có lợi; bảo đảm đối thoại chính trị tiến hành trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tạo bầu không khí ngày càng thuận lợi cho đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực khác.

 

Thực hiện vai trò điều phối viên, Việt Nam đăng cai nhiều cuộc họp các cấp và phối hợp với các thành viên điều hành tốt, đồng chủ trì và đóng góp vào nhiều chủ đề thảo luận tại tất cả các cuộc họp ASEM. Việt Nam đã chú trọng tham khảo trong ASEAN, đề cao tiếng nói chung của châu Á, cơ bản xử lý nhanh chóng và tốt các vấn đề, đưa ra nhiều đề xuất giải quyết các vấn đề chung để duy trì tiến trình ASEM phù hợp với lợi ích của các nước trong khu vực cũng như của ASEM.

 

KẾT LUẬN

 

Sự tham gia chủ động, tích cực của Việt Nam trong những khuôn khổ hợp tác khu vực và liên khu vực đã cho thấy được vai trò quan trọng của Việt Nam trong những khuôn khổ hợp tác này như thúc đẩy hoàn thành mục tiêu của khuôn khổ hợp tác khu vực và liên khu vực. Bên cạnh đó, sự hợp tác này có vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đảm bảo chủ quyền quốc gia và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong bối cạnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.

 

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Giáo trình Luật quốc tế, Trường đại học Luật Hà Nội. Nxb Công an nhân dân, Hà Nội – 2004.

 

  1. Giáo trình Luật quốc tế (Dùng cho các trường đại học, chuyên ngành luật, ngoại giao). ThS. Nguyễn Thị Kim Ngân – ThS. Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên). Nxb giáo dục Việt Nam. Hà Nội – 2010.

 

  1. Giáo trình Pháp luật Cộng đồng ASEAN, Trường Đại học Luật Hà Nội. Nxb Công an nhân dân. Hà Nội – 2012.

 

  1. Website: chinhphu.vn

 

  1. Trích bài: “Việt Nam & ASEM, một số nét cơ bản” trên website Bộ ngoại  giao Việt Nam.

 

  1. Trích bài: “Hội nhập quốc tế” Sở ngoại vụ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: http://dofabrvt.gov.vn/vn/WEB/162.nhung_thanh_tuu_trong_tien_trinh_hoi_nhap_kinh_te_….html

CHỨNG MINH RẰNG TRONG CÁCH XÁC ĐỊNH VÀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA MỘT VÙNG BIỂN THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982 LUÔN THỂ HIỆN SỰ DUNG HÒA VỀ LỢI ÍCH GIỮA CÁC QUỐC GIA – BÀI TẬP HỌC KỲ CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Biển và đại dương đóng một vai trò quan trọng trong đời sống con người do nhu cầu phát triển kinh tế thương mại, hàng hải và khoa học kỹ thuật (trong đó có khoa học quân sự) việc xây dựng các quy phạm pháp lý quốc tế về biển ngày càng cấp bách, yêu cầu đặt ra là: một mặt phải đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển, mặt khác phải đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các mước khác cũng như quyền lợi của cộng đồng Quốc tế.

 

Liên Hợp Quốc đã triệu tập hội nghị Luật Biển tai Gionever năm 1958 đưa ra công ước Về thềm lục địa, và tới hội nghị lần thứ 3 Liên Hợp Quốc thông qua Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển Quốc tế (1982).

 

 

Chình vì lẽ đó, để hiểu và vận dụng linh hoạt những quy định của Luật quốc tế về vấn đề Thềm lục địa là hết sức cần thiết. Việc nghiên cứu đề tài: “Chứng minh rằng trong cách xác định và quy chế pháp lý của một vùng biển theo quy định của công ước Luật Biển 1982 luôn thể hiện sự dung hòa về lợi  ích giữa các quốc gia” sẽ làm sáng tỏ vấn đề trên đặc biệt trong việc thể hiện sự bình đẳng giữa các quốc gia trong quá trình khai thác và sử dụng biển.

 

 

1/ Cách xác định thềm lục địa theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển quốc tế  – 1982:

 

  • Theo Công ước Gionever 1958:

 

Công ước 1958 đã định nghĩa thền lục địa là: “Đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của phần ngập nước tiếp giáp với bờ biển nhưng nằm ở ngoài lãnh hải, đến độ sâu 200 mét hoặc sâu hơn nữa, tới một độ sâu có thể cho phép khai thác tài nguyên thiên nhiên ở đó”( Điều 1).

 

Khái niệm thềm lục địa được xuất hiện trong thực tế khai thác và xuất hiện lần đầu tiên tại công ước Gionever về thềm lục địa năm 1958 (Công ước 1958). Công ước thừa nhận Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc vùng biển tiếp giáp với bờ biển nhưng nằm ngoài lãnh hải. Đây là những quyền riêng biệt mà nếu quốc gia ven biển không tiến hành khai thác thì không một quốc gia nào được phép khai thác mà không có sự đồng ý của quốc gia ven biển. Điều này cũng có nghĩa là không một quốc gia nào được phép cướp đoạt, phá hoại hoặc làm phương hại đến quy chế pháp lý của vùng nước thuộc biển cả nằm trên thềm lục địa. Hoạt động của quốc gia ven biển không được gây ra những cản trở vô căn cứ đối với tự do trên biển cả.

 

Theo công ước, thềm lục địa là một phần của đáy biển, tiếp giáp với bờ biển, nhưng nằm ngoài lãnh hải. Như vậy là ranh giới thía trong của thềm lục địa là ranh giới phía ngoài của lãnh hải và tùy thuộc vào chiều rộng của Lãnh hải. Nhưng có một hạn chế là Công ước 1958 không quy định chiều rộng tối đa của lãnh hải. Từ đó pháp luật quốc gia quy định rất khác nhau về chiều rộng của Lãnh hải 3 hải lý, 6 hải lý, 12 hải lý, và thậm chí 60 hay 200 hải lý. Hậu quả tùy thuộc vào lợi ích của từng quốc gia khác nhau mà ranh giới phía trong của thềm lục địa được quy định như thế nào. Việc xác đinh ranh giới phía ngoài như trên, được xác định theo hai tiêu chí rõ rệt là “độ sâu 200m” và “khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên” hay chính là “lợi thế kỹ thuật” của mỗi quốc gia.

 

Với tiêu chuẩn độ sâu 200m, xác định được rõ ràng chiều rộng của thềm. Nhưng tiêu chuẩn này lại bộc lộ nhiều điểm không hợp lý: đối với những quốc gia có thền lục địa rộng và nông, nếu áp dụng tiêu chuẩn này thì vùng thềm lục địa được mở rộng tối đa. Ngược lại các quốc gia có thềm lục địa  dốc và sâu mà áp dụng tiêu chuẩn này sẽ thu hẹp thềm lục địa của quốc gia đó lại, có thể gây thiệt hại cho quốc gia ven biển này. Như thế những quy định của công ước về tiêu chuẩn độ sâu trên thực tế đã đưa đến tình trạng không công bằng giữa các quốc gia ven biển trong việc quy định chiều rộng của thềm lục địa.

 

Hơn nữa khoa học kỹ thuật ngày càng đạt được những thành tựu mới. Nếu cứ căn cứ vào lợi thế kỹ thuật thì ranh giới phía ngoài sẽ thay đổi từng ngày theo thành tựu mới của khoa học kỹ thuật và chiều rộng của thềm cũng tăng lên hằng ngày cùng với khả năng kỹ thuật cho phép của quốc gia ven biển lấn tới những vùng sâu hơn ở đại dương, bất kể nó có thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa hay thuộc địa phận của đáy đại dương.

 

Rõ ràng quy định này của công ước Gionever về thực chất đã giành lợi thế cho các nước ven biển đã được công nghiệp hóa. Do vậy tiêu chuẩn khả năng khai thác rõ ràng là không công bằng, bởi nó tạo ra một tình trạng bất bình đẳng giữa các quốc gia ven biển đối với thềm lục địa.

 

  • Công ước Luật Biển 1982:

 

Công ước luật biển năm 1982 ra đời đã đưa ra những quy định rõ ràng và công bằng về phương pháp xác định thềm lục địa của quốc gia.

 

Thềm lục địa theo tên gọi phổ biến để chỉ đáy và lòng đất dưới đáy của những vùng nước phía trên mà về cấu trúc địa chất địa mạo, vốn là phần kéo dài tự nhiên của lục địa ra biển, có mối quann hệ với lãnh thổ đất tự nhiên. Căn cứ vào đó, công ước luật biển 1982 đã nêu: “Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn” . (khoản 1 Điều 76 Công ước luật biển năm 1982)

 

Công ước 1982 quy định kết hợp hài hòa tiêu hai tiêu chí cơ bản để xác định ranh giới thềm lục địa pháp lý, đó là tiêu chuẩn địa chất (dựa vào ranh giới ngoài rìa lục địa, vào chân dốc lục địa và đường đẳng sâu 2500m) và tiêu chuẩn khoảng cách (chủ yếu căn cứ vào đường cơ sở). Mục đích của việc kết hợp này là để có được kết quả phân định phù hợp giữa điều kiện tự nhiên của nước ven bờ với sự tồn tại của vùng di sản chung, sao cho không ảnh hưởng một cách thái quá đến sự hiện hữu của vùng di sản mà vẫn đảm bảo để nước ven biển có được một vùng thềm lục địa vốn thuộc về nước này. Như vậy, thềm lục địa quốc gia ven biển theo Điều 76 Công ước 1982 được xác định:

 

Trong mọi trường hợp, ranh giới bên trong của thềm lục địa pháp lý chính là biên giới quốc gia trên biển, cũng chính là ranh giới phía ngoài của lãnh hải. Ngoài ra, chiều rộng tối đa của lãnh hải là 12 hải lý tính từ đường cơ sở, và trong mọi trường hợp ranh giới phía trong của thềm lục địa không được nằm ngoài giới hạn 12 hải lý. Như vậy ranh giới phía trong của thềm lục địa pháp lý và thềm lục địa địa chất không trùng hợp nhau.

 

Đối với việc xác định ranh giới phía ngoài của thềm lục địa pháp lý, do điều kiện tự nhiên của bờ biển và cấu trúc thềm lục địa địa chất của các quốc gia hoặc thậm chí ngay tại từng vùng trong một quốc gia có thể không giống nhau nên Công ước 1982 đã đưa ra các cách xác định như sau:

 

  • Thứ nhất: Đối với các quốc gia ven biển khoảng cách từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải đến bờ ngoài của rìa lục địa nhỏ hơn 200 hải lý:

 

Nếu bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia ven biển cách đường cơ sở chưa tới 200 hải lý thì thềm lục địa của nước đó được tính đến 200 hải lý, tức là đến ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế. Nói cách khác, khi bờ ngoài của rìa lục địa gần hơn, hoặc chỉ cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải một khoảng cách là 200 hải lý (370,4 km) thì ranh giới ngoài của thềm lục địa pháp lý nước này sẽ bằng hoặc mở rộng đến khoảng cách không quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở. Như vậy, Công ước đã mặc định một ranh giới thềm lục địa pháp lí tối thiểu để đảm bảo cho quốc gia ven biển có được lợi ích công bằng nhất tại những nơi mà thềm lục địa địa chất được xem là bất lợi (tức là ở nơi mà thềm lục địa hẹp hơn so với khoảng cách trung bình).

 

  • Thứ hai: Khi bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở và dao động ở khoảng cách từ ngoài giới hạn 200 hải lý ra đến các khoảng cách 250 hải lý; 300 hải lý; 350 hải lý hoặc rộng hơn thế.

 

Đối với những trường hợp này, Công ước 1982 đã cụ thể hóa cách thức xác định thềm lục địa bằng việc dùng Công thức Gardiner, kết hợp với tiêu chuẩn khoảng cách (tức dựa vào đường cơ sở hoặc đường đẳng sâu) để hiện thực hóa những ranh giới pháp lý này. Công thức Gardiner (sơ đồ công thức Gardiner) đưa ra hai khả năng xác định bờ ngoài của thềm lục địa địa chất như sau:

 

+ Hoặc theo bề dày trầm tích: Đường vạch nối các điểm cố định (bằng hệ tọa độ kinh vĩ độ) tận cùng nào mà bề dày lớp đá trầm tích ít nhất cũng bằng 1% khoảng cách từ điềm được xét cho tới chân dốc lục địa (điểm nhỏ i điểm a khoản 4 Điều 79 Công ước luật biển 1982).

 

+ Hoặc theo khoảng cách: Đường vạch nối các điểm cố định ở cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lý (111,1 km) (điểm nhỏ ii điểm a khoản 4 Điều 79 Công ước luật biển 1982).

 

Tuy nhiên, theo khoản 5 Điều 76 Công ước luật biển 1982 thì thềm lục địa pháp lý mở rộng ngoài giới hạn 200 hải lý kể từ đường cơ sở được tính từ đường ranh giới phía ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, nhưng không được vượt quá 350 hải lý (648,2 km) tính từ đường cơ sở hoặc cách đường thẳng sâu 2500m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý (185,2 km). Mặc dù đã có khoản 5 Điều 76 thì theo khoản 6 Điều 76: “Một dải núi ngầm, ranh giới ngoài của thềm lục địa không vượt quá một đường vạch ra ở cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 350 hải lý. Khoản này không áp dụng cho các địa hình nhô cao dưới mặt nước tạo thành các yếu tố tự nhiên của rìa lục địa, như các thềm, ghềnh, sông núi, bãi hoặc mỏm.”

 

Đối với các quốc gia có vùng biển tiếp giáp hoặc đối diện nhau thì khi các quốc gia này thực hiện yêu sách về các vùng biển danh nghĩa pháp lý của mình có thể dẫn đến thực tiễn là có sự chồng lần về các vùng này.

 

Căn cứ theo Điều 83 Công ước luật biển 1982: “Việc hoạch định ranh giới thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng luật pháp quốc tế như đã được nêu ở Điều 38 của Quy chế tòa án quốc tế, để đi tới một giải pháp công bằng…”

 

Những quy định trên đây của công ước 1982 chứng tỏ rằng tiêu chuẩn mới để vạch ranh giới phía ngoài của thềm lục địa chính xác, rõ ràng, rành mạch. Ranh giới pháp lý phía ngoài của thềm lục địa do công ước quy định, về mặt nguyên lý vạch căn cứ vào những đặc điểm địa chất của bản thân vùng đáy biển. Do vậy mà những tiêu chuẩn nói trên mang tính trác địa, khách quan. Bản thân chúng không bao hàm những yếu tố chủ quan. Đã đảm bảo cho quốc gia ven biển có một vùng thềm lục địa trung bình hoặc tối thiểu đối với bờ biển không thuận lợi và cũng là sự giới hạn cần thiết cho một yêu sách về vùng thềm lục địa rộng, để không quá lấn vào biển cả và vùng di sản chung của nhân loại. Cách quy định này khắc phục được nhược điểm của khái niệm thềm lục địa trong Công ước 1958 khi không thể hiện được đặc điểm cấu trúc của thềm lục địa ven biển ở từng nơi, từng đoạn.

 

Bằng những quy định như vậy Công ước mới không cho phép vạch ranh giới phía ngoài của thềm lục địa một cách tùy tiện hoặc theo sự nhìn nhận chủ quan của quốc gia ven biển. đảm bảo cho mỗi quốc gia ven biển được hưởng một vùng biển đúng và công bằng.

 

2/ Các quy chế pháp lý của thềm lục địa:

 

  • Theo công ước Giownever 1958:

 

Quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa được xác định là là nước đó có thăm dò hay không, có khai thác hay không, có thực sự chiếm hay không, có tuyên bố hay không đều không ảnh hưởng đến sự tồn tại của các quyền trên. Nó được biểu hiện ở việc quy định: “Quốc gia ven biển thực hiện quyền chủ quyền của mình đối với thềm lục địa nhằm thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên của vùng này”.(Điều 2 khoản 1 công ước 1958).Tính chất chủ quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa được khẳng định rõ ràng và dứt khoát là: “Các quyền nói ở khoản 1 là riêng biệt”.(Điều 2 khoản 2).

 

Khẳng định tính chất chủ quyền và các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa thể hiện ở việc không ai được tiến hành những hoạt động ở thềm lục địa hoặc đòi các quyền đó mà không có sự đồng ý của các nước ven biển. Trên cơ sở thừa nhận chủ quyền của nước ven biển về mặt thăm dò thềm lục địa và khai thác tài nguyên thiên nhiên như thế, Công ước 1958 thừa nhận cho quốc gia ven biển quyền xây dựng và bảo quản hoặc cho vận hành ở thềm lục địa các đảo nhân tạo, các công trình máy móc và thiết bị cần thiết (trong đó có cả các dàn khoan để thăm dò khai thác dầu khí) để phục vụ cho việc thăm dò thềm lục địa hoặc khai thác càc tài nguyên thiên nhiên ở đó và nêu rõ: “… Nước ven biển có quyền xây dựng và bảo quản hoặc cho hoạt động trên thềm lục địa những công trình và thiết bị khác cần thiết cho việc thăm dò thềm lục địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở đó vả thành lập khu vực an toàn xung quanh các công trình hoặc thiết bị, thi hành các biện pháp cần thiết để bảo vệ các công trình đó”.( Điều 5 Khoản2). Công ước đã thừa nhận nước ven biển có quyền tài phán cũng như trách nhiệm đối với các công trình thiết bị này để bảo vệ một cách có hiệu quả, cũng như vùng an toàn xung quanh các công trình và thiết bị đó. Những khu vực an toàn này có chiểu rộng theo tiêu chuẩn nhất định quy định chung, rộng khoảng là 500m xung quanh các công trình hoặc máy móc tính từ mỗi điển trên bờ phía ngoài của các công trình thiết bị đó (Điều 5 khoản 3) và phải tháo bỏ khi chúng không còn sử được sử dụng.

 

Quốc gia ven biển được thực hiện những quyền của mình đối với thềm lục địa chỉ trong khuôn khổ, giới hạn cho phép ở Điều 2 công ước. Tức là được giới hạn theo mục đích của việc thực hiện những quyền ấy là để thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa chứ không thoát ly khỏi mục đích này được.

 

Tài nguyên thiên của thềm lục địa bao gồm các tài nguyên khoáng sản, và các tài nguyên không sinh vật khác của đáy biển cũng như các sinh vật thuộc loại định cư, nghĩa là những sinh vất mà vào thời kỳ đánh bắt được thì hoặc là nằm bất động dưới đáy và lòng đất dưới đáy biển, hoặc là có thể di chuyển cùng với sự di chuyển của đáy biển hay lòng đất dưới đáy biển (Điều 2 khoản 4).

 

Nước ven biển khi thực hiện quyền chủ quyền của mình đối với thềm lục địa, có quyền quyết định việc có cho phép hay không cho phép các nước khác vào nghiên cứu khoa học biển, thềm lục địa của mình (Điều 5 khoản 8). Việc cho phép này tùy thuộc vào tính chất và mục đích của công trình nghiên cứu, thường thì nước ven biển không từ chối nếu công trình nghiên cứu khoa học đó phục vụ cho mục đích dân sự và có lợi cho quốc gia ven biển, còn nếu việc nghiên cứu nhằm phục vụ mục đích quân sự hoặc mục đích khác có thể gây nguy hại cho quốc gia ven  biển thì sẽ bị từ chối.

 

Công ước cũng quy định nghĩa vụ của nước ven biển trong khi thực hiện các quyền chủ quyền đối với việc thăm dò thềm lục địa và khai thác tài nguyên thiên nhiên, nước biển… không được “gây hại đến chế độ pháp lý vùng nước của biển cả nằm phía trên cũng như vùng trời chế độ pháp lý vùng trờ bên trên thềm lục địa”, tức là phải đảm bảo những tự do trên biển cả của các quốc gia khác như trong Điều 3 Công ước về biển cả 1958 đã quy định.

 

  • Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển – 1982:

 

Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (Công ước 1982) về cơ bản quy định giống với công ước Gionever về thềm lục địa 1958 về khối lượng quyền – các quyền chủ quyền của quốc gia ven biển với thềm lục địa; tính chất cả các quyền này – quyền thuộc chủ quyền riêng biệt; và cả mục đích thực hiện các quyền đó – nhằm thăn dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa.

 

Để vừa đảm bảo lợi ích của quốc gia ven biển ở thềm lục địa, vừa tôn trọng lợi ích của các quốc gia khác ở đáy đại dương (vùng) , Công ước 1982 đã quy định trong mọi trường hợp quốc gia ven biển không được thực hiện quyền chủ quyền của mình đối với phần thềm lục địa nằm ngoài giới hạn 350 hải lý kể từ đường cơ sở cho dù thềm lục địa có vượt quá giới hạn này.

 

+) Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển:

 

Thềm lục địa cũng là vùng mới hình thành trong Luật Biển quốc tế, xuất phát từ nhu cầu của các nước ven biển chính vì thế, quốc gia ven biển có một số đặc quyền sau: Nước ven biển không có nghĩa vụ bắt buộc phải chia sẻ những quyền với các quốc gia khác; Không phụ thuộc vào sự  chiếm hữu hay tuyên bố không rõ ràng nào. Quốc gia ven biển có quyền tài phán về tất cả các lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và giữ ghìn môi trường biển, thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên.

 

Quốc gia ven biển có nghĩa vụ nộp đơn cho cơ quan quốc tế về đáy biển một phần lợi nhuận bằng tiền hoặc hiện vật trích từ lợi nhuận khai thác tài nguyên không sinh vật của tthềm lục địa phần nằm ngoài 200 hải lý(Điều 82). Quốc gia ven biển chưa phải nộp lợi nhuận trong vòng 5 năm đầu kể từ khi bắt đầu khai thác, từ năm thứ 6 trở đi quốc gia ven biển phải nộp 1%. Sau đó, mỗi năm tiếp theo tỷ lệ này tăng lên 1% cho đến năm thứ 12 và từ năm thứ 12 trở đi, tỷ lệ cố định ở mức 7%.

 

Tuy nhiên, quốc gia đang phát triển nào chuyên nhập khẩu một loại khoáng sản được khai thác từ thềm lục địa của mình thì được miễn các khoản đóng góp đối với loại khoáng sản đó. (Điều 82, Khoản 3) Và phân phối các khoản đóng góp này cho các quốc gia thành viên trên cơ sở công bằng chú ý lợi ích của các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước chậm phát triển, nhất là các nước không có biển.(Điều 82 khoản 4).

 

Quốc gia ven biển ngoài việc có quyền tiến hành xây dựng, còn có quyền cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng không những các công trình và thiết bị, mà cả các đảo nhân tạo nữa (Điều 80). Các quyền này của các quốc gia ven biển là riêng biệt. Mục đích của việc xây dựng, khai thác và sử dụng các đảo nhân tạo, công trình và thiết bị để thăm dò thềm lục địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa và vào các mục đích kinh tế khác.

 

Nhằm đảm bảo điều kiện để quốc gia ven biển được thực hiện các quyền chủ quyền đối với thềm lục địa, công ước mới quy định thêm: Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất cứ vào mục đích gì (Điều 81). Còn về đào đường hầm để khai thác lòng đất dưới đáy biển Công ước mới cũng quy định tương tự như công ước Gionever 1958.

 

Đối với các quyền tài phán: Quốc gia ven biển có quyền quy định cho phép và tiến hành nghiên cứu khoa học ở thềm lục địa của mình (Điều 246 khoản 1);

 

– Đối với việc bảo vệ môi trường biển ở thềm lục địa của mình (Điều 208), bằng cách tiến hành các bện pháp nhắm gữi gìn và bào vệ môi trường biển trong phạm vi thềm lục địa của mình, thi hành những biện pháp cần thiết riêng biệt hoặc tập thể nhằm ngăn ngừa và chế ngự việc làm nhiễm bẩn môi trường do những tác động ở thềm lục địa nói chung và do các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị, dây cáp và ống dẫn ngầm nói riêng gây nên, Những biện pháp này không được kém hiệu quả hợn so với nhưng quy phạm pháp lý quốc tế đã được thừa nhận chung.

 

– Đối với việc làm bẩn môi trường biển do việc nhận chìm các chất thải ở thềm lục địa  (Điều 210). Bằng cách: thông qua các luật lệ, quy tắc và các biện pháp cần thiết khác nhằm phòng ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm do sự nhận chìm nói trên gây ra (Điều 10, khoản 1 và 2). Mọi vụ nhận chìm chất thải trên thềm lục địa chỉ được tiến hành khi được sự đồng ý rõ ràng trước của quốc gia ven biển và quốc gia ven biển có quyền cho phép quy định và kiểm soát sự nhận chìm này (Điều 210, khoản 3 và 5). Cuối cùng công ước quy định rằng các luật lệ, quy tắc cũng như các biện pháp di quốc gia ven biển thông qua về việc nhận chìm chất thải không được kém hiệu lực hơn các quy phạm có tính chất thế giới về vấn đề này (Điều 210 khoản 6).

 

  • Đối với các quốc gia khác: Để thấy việc xác định thềm lục địa theo công ước 1982 ta xem xét các quyền mà các quốc gia khác được hưởng ở thềm lục địa:

 

– Các quốc gia khác hoàn toàn có quyền đối với vùng nước và vùng trời phía trên thềm lục địa của. Việc quy định và thực hiện quyền tài phán của các quốc gia ven biển không làm ảnh hưởng đến quyền tự do của các quốc gia khác.

 

– Theo Điều 79, Công ước 1982 tất cả các quốc gia có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa. Tuy nhiên, Điều 79 cũng quy định một số điều kiện mà các quốc gia phải tuân theo khi thực hiện quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của quốc gia ven biển. Trước hết, quốc gia ven biển có thể không đồng ý cho quốc gia khác lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa của mình khi việc lắp đặt ấy cản trở việc quốc gia ven biển thực hiện quyền của mình tiến hành những biện pháp hợp lý để thăm dò thềm lục địa và để ngăn ngừa hạn chế và chế ngự ô nhiễm do dây cáp và ống dẫn ngầm gây ra (Khoản 2 Điều 79). Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm theo tuyến phải được sự thỏa thuận của quốc gia ven biển (Điều 79 khoản 3). Những quy định này chứng tỏ rằng quyền của tất cả các quốc gia lắp đặt dây cáp và ống dẫn ở thềm lục địa của quốc gia ven biển không phải là quyền tự do vô điều kiện. Các khoản 2 và 3 của Điều 70 dành quyền quyết định cho quốc gia ven biển.

 

Ngoài ra, theo Điều 79 khoản 5, khi lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm các quốc gia phải tiến hành những biện pháp phòng ngừa cần thiết đối với dây cáp và ống dẫn ngầm đã được lắp đặt từ trước, đặc biết là không làm cho chúng phải sửa chữa lại.

 

– Ngoài ra Luật này còn quy định về việc NCKH do các quốc gia khác, thể nhân và pháp nhân nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế có thẩm quyền tiến hành ở thềm lục địa của quốc gia ven biển thì công ước quy định rằng điều đó về nguyên tắc chỉ có thể xảy ra khi có sự chấp thuận của quốc gia ven biển. Trong những điều kiện bình thường, quốc gia ven biển cần đồng ý cho nước ngoài và tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu khoa học ở thền lục địa của mình, nếu việc nghiên cứu này được thực hiện vì mục đích hòa bình và thỏa bãn được các điều kiện khác như công ước quy định. Vì mục đích đó, quốc gia ven biển ban hành các quy tắc, thủ tục và luật lệ để đảm bảo sẽ cho phép trong một thời hạn hợp lý và sẽ không khước từ một cách phi lý (Điều 246 khoản 3).

 

Để tránh tình trạng quốc gia ven biển lạm dụng quyền tài phán để từ chỗ trì hoãn đi đến khước từ cho phép nước ngoài và các tổ chức quốc tế nghiên cứu ở thềm lục địa. Điều 252 của Công ước quy định về sự cho phép “mặc nhiên” (sau thời gian 6 tháng để từ ngày nộp đơn và cung cấp tin tức).

 

Các đề án công trình nghiên cứu chỉ nhằm mục đích hòa bình, không làm bẩn môi trường biển và không được gây trở ngại cho việc sử dụng đáy biển một cách chính đáng (Điều 240) Quốc gia hoặc tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu phải vô tư, có nghĩa là không được yêu sách về tài nguyên hay về một vùng biển nào đó (Điều 241). Quốc gia ven biển có quyền được tham gia nghiên cứu, nhận các báo cáo thông tin, mẫu vật và kết quả nghiên cứu (Điều 249). Quốc gia ven biển có quyền yêu cầu đình chỉ việc nghiên cứu nếu nó không được tiến hành theo đúng các quy định ở Điều 248 hoặc quy định ở Điều 249 không được tôn trọng (Điều 253).

 

Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 còn xây dựng một hệ thống toàn bộ các quy phạm pháp lý quốc tế về bảo vệ và gìn giữ môi trường của thềm lục địa. Trước hết là các điều khoản chung ở phần XII của công ước. Lần đầu tiên được xây dựng như là những quy phạm pháp lý chung, những điều khoản ở phần XII quy định nghĩa vụ cho tất cả các quốc gia bảo vệ và giữ gìn môi trường biển (Điều 192).

 

Kết luận:

 

Với quy định của Công ước 1982 và luật quốc tế hiện đại, thì Quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển chỉ tồn tại trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển. Thực thi pháp luật bảo vệ quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển là hoạt động đấu tranh chống lại mọi hành vi xâm phạm đến tài nguyên thiên nhiên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, khai thác, thăm dò và các hoạt động khai thác vì mục đích kinh tế khác trên vùng đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa, Đồng thời đảm bảo lợi ích của các quốc gia khác cùng tham gia quá trình nghiên cứu và bảo vệ biển.

 

Tài liệu tham khảo:

Ø Công ước của liên hợp quốc về luật biển 1982.

Ø Thềm lục địa tầm quan trọng và vai trò to lớn đối với kinh tế biển trong cơ chế đổi mới kinh tế của Việt Nam : Luận văn / Đỗ Quang Hưng . – H.: Trường đại học Luật Hà Nội, 1994 .

Ø Giáo trình Luật quốc tế – ĐH Luật Hà Nội 2008 , nxbCAND

Ø Hiến chương liên hơp quốc

Ø Tạp chí luật học số 9/2007

Ø http://www.wikipedia.org/

Ø Một số bải viết tham khảo tạp chí khác.

CÁC NGUYÊN TẮC ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC – BÀI TẬP HỌC KỲ CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Biên giới quốc gia là một vấn đề quan trọng hàng đầu của bất cứ quốc gia nào. Đường biên giới của mỗi quốc gia là cơ sở để phân chia lãnh thổ của các quốc gia với nhau. Tuy nhiên trên thực tế vẫn nảy sinh rất nhiều tranh chấp giữa các quốc gia láng giềng về đường biên giới, đặc biệt là các đường biên giới trên bộ. vì vậy, vấn đề hoàn thiện đường biên giới trên bộ luôn được các quốc gia hết sức quan tâm. Đối với Việt Nam, chúng ta có cả đường biên giới trên bộ và trên biển. vấn đề hoạch định đường biên giới trên bộ với các nước láng giềng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt trong những thập niên qua. Hiện nay, đường biên giới trên bộ của nước ta đã tương đối hoàn thiện, phần lớn đã được phân giới, cắm mốc trên thực địa. tuy vậy, việc tiếp tục về các nguyên tắc phân định biên giới trên bộ cũng như thực tiễn áp dụng để có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về biên giới trên bộ của nước ta vẫn là công việc hết sức cần thiết không chỉ đối với các nhà khoa học mà còn đối với cả sinh viên nói chung và sinh viên Luật nói riêng. Vì vậy, em xin lựa chọn đề tài “ Phân tích các nguyên tắc được áp dụng trong phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với các nước” để hiểu thêm về vấn đề này.

 

NỘI DUNG

 

  1. KHÁI QUÁT VỀ BIÊN GIỚI TRÊN BỘ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.

 

 

Việt Nam là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, trên bán đảo Đông Dương. Nước ta có diện tích khoảng 330.000 km² thuộc nhóm nước có diện tích trung bình trên thế giới. lãnh thổ Việt Nam gồm các bộ phận: đất liền, hải đảo, vùng biển, vùng trời. vùng biển nước ta rộng khoảng 1 triệu km² nằm ở khu vực biển Đông cùng với đó là hệ thống các đảo ven bờ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.

 

 

Lãnh thổ trên đát liền của nước ta hình chữ S nằm ở rìa bán đảo Đông Dương và tiếp giáp với biển Đông. Việt nam có biên giới chung với Trung Quốc ở phía Bắc, tiếp giáp với Lào ở phía Tây, tiếp giáp với Cam- Pu- Chia ở phái Tây Nam. Đường biên giới trên bộ của nước ta dài khoản 4.510 km , đi qua 25 tỉnh, 90 huyện, khoảng 390 xã với trên 50 dân tộc sinh sống. Đường biên giới với Trung Quốc dài khoảng 1.400 km; đường biên giới với Lào dài khoảng 2.067 km; đường biên giới với Cam- Pu- Chia dài khoảng 1.137 km. Đất nước ta với địa hình 3/4 là đồi núi vì vậy, đường biên giới trên đất liền của nước ta với các nước láng giềng chủ yếu chạy dọc theo các dãy núi cao, rừng rậm.

 

Đất nước ta trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với bao thăng trầm, biến cố lớn. Tuy nhiên, phải đến cuối thể kỷ XVIII đường biên giới trên bộ của nước ta mới hình thành gần giống với ngày nay, nhưng vẫn chưa được hoạch định bằng bất cứ điều ước nào. Đến khi Thực dân Pháp xâm lược nước ta, vầ cơ bản đưườg biên giới trên bộ của nước ta cũng không có sự thay đổi đáng kể. sau khi giành được độc lập, nước ta cùng với các nước láng giềngđã thống nhất duy trì đường biên giới từ thời Pháp thuộc, đồng thời điều chỉnh những đoạn còn chưa rõ ràng.

 

Hiện nay, về cơ bản đường biên giới trên bộ của nước ta đã được hoạch định xong. Ta cùng các nước láng giềng đã tiến hành phân giới, cắm mốc thực địa. phần lớn biên giới của nước ta với các nước đã được phân định bằng hệ thống cột mốc kiên cố, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân ta và cá dân tộc anh em. Việt nam và các nước láng giềng đang cố gắng giải quyết nhanh chóng các vấn đề biên giới còn tồn tại trên cơ sở các nguyên tắc mà các bên đã thống nhất.

 

  1. NGUYÊN TẮC TRONG PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC.

 

  1. Nguyên tắc phân định biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và thực tiễn áp dụng.

 

Ngày 19/10/1993Việt Nam và Trung Quốc đã ký “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước”. thỏa thuận này đã xác định các nguyên tắc cơ bản trong việc xác định và giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước.

 

Nguyên tắc kế thừa các hiệp ước quốc tế về biên giới lãnh thổ: Theo thỏa thuận ngày 19/10/1993 thì hai bên đồng ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa Pháp và Trung Quốc ngày 26/6/1887 và Công ước bổ sung, công ước hoạch định biên giới ngày 20/6/1895 cùng các văn kiện và bản đồ hoạch định, cắm mốc kèm theo đã được công ước và công ước bổ sung nói trên xác nhận hoặc quy định; đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới trên bộ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc.

 

Theo nguyên tắc này, trong quá trình đàm phán hai bên đã tự xác định đường biên giới theo cách hiểu hai Công ước và các văn bản kèm theo rồi trao đổi cho nhau bản đồ thể hiện đường biên giới này để so sánh. Qua đối chiếu thì phần lớn đường biên giới hai bên có cách hiểu và cách xác định trùng nhau chỉ có một bộ phận nhỏ là có cách hiểu và cách xác định khác nhau đãn đén sự sai khác giữa hai bên, cụ thể: Trên toàn bộ đường biên giới dài 1400 km, nhận thức của hai bên trùng nhau đến 970 km, còn khoảng 480 km còn lại do không có văn bản hoặc văn bản và bản đồ chưa rõ ràng nên nhận thức của hai bên có khác nhau. Do đó, nếu chỉ áp dụng nguyên tắc kế thừa hai công ước 1887 và 1895 là chưa đủ để xác định đường biên giới Việt – Trung một cách rõ ràng, chính xác và đầy đủ.

 

Có nhiều nguyên nhân như do kỹ thuật, không còn văn bản hoặc các công ước trước đó chưa xác định được mà vẫn còn khoảng 480 km mà hai bên có cách hiểu khác nhau dẫn đến tranh chấp. Vì vậy, đối với bộ phận này hai bên cần áp dụng nguyên tắc xác lập các đoạn biên giới mới và thực tế hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã vận dụng một cách sáng tạo nguyên tắc  xác lập các đoạn biên giới mới trong trường hợp này. Thực chất, việc xác lập các đoạn biên giới mới là dựa trên cơ sở của hai công ước 1887 và 1895.

 

Nguyên tắc xác lập các đoạn biên giới mới có thể hiểu như sau: Trong quá trình đối chiếu, xác định hướng đi của đường biên giới đối với những khu vực sau khi đã đối chiếu nhiều lần mà vẫn không đi đến nhất trí, hai bên sẽ cùng nhau khảo sát thực địa, suy tính mọi tình huống tồn tại trong khu vực với tinh thần thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau, thương lượng hữu nghị để tìm giải pháp công bằng, hợp lý.

 

Các khu vực hai công ước quy định không rõ ràng hoặc chưa có đường biên giới, hai bên xem xét tổng hợp các yếu tố: cơ sở pháp lý của các Công ước Pháp- Thanh còn có thể vận dụng được, quản lý, lịch sử, địa hình, bản đồ, nếu cần chuyên gia hai bên đi thực hiện khảo sát, thương lượng hữu nghị trên tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau để tìm giải pháp công bằng, hợp lý. Đối với số ít khu vực hai bên không thể đạt được thỏa thuận thì giải quyết trên tinh thần hiệp thương hữu nghị, thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau, công bằng, hợp lý.

 

Sau hàng chục năm đàm phán với nhiều cấp khác nhau kéo dài từ năm 1993 đến năm 1999 hai bên đã giải quyết được các khu vực còn tranh chấp. kết quả đàm phán đã xác định 2,6 km² thuộc hai khu vực( vì lý do kỹ thuật: vẽ chồng lấn lên nhau; hai bên chưa vẽ tới)  thuộc về Việt Nam, còn lại 2,4 km² của hai khu vực này thuộc về Trung Quốc. đối với 227 km² của khu vực có tranh chấp hoặc có nhận thức khác nhau của hai bên được giải quyết  như sau: 113 km² thuộc về Việt Nam, 114 km² thộc về Trung Quốc. Trong đó, đáng chú ý một số khu vực được coi là nhạy cảm trên tuyến biên giới này cũng được giải quyết phù hợp với lợi ích của hai bên.

 

Ngày 30/12/1999. Hiệp ước biên giới trên đât liền giữa Việt Nam và Trung Quốc được ký kết. đây được coi là bước ngoạt lịch sử đồng thời là cơ sở cho việc xác lập đường biên giới trên bộ và cũng là cơ sở để các bên thực hiện chủ quyền của mình một cách hợp pháp, đầy đủ trên lãnh thổ quốc gia. Hiệp ước này mở màn cho việc cắm mốc trên thực địa giữa hai nước. Để thực hiện việc cắm mốc hai bên đã cùng thỏa thuận và áp dụng sáng tạo nguyên tắc “cả gói” để giải quyết các khu vực còn tồn đọng với mục đích tìm giải pháp tổng thể, công bằng, hợp lý, hợp tình hai bên có thể chấp nhận được. Nguyên tắc này thể hiện nội dung chủ yếu là giải quyết trên cơ sở công bằng lợi ích. Biên giới đi qua tât cả các mốc cũ, giấu tích lịch sử, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng đến đời sống dân cư biên giới. Trên cơ sở thực hiện theo các nguyên tắc nêu trên, việc phân định biên giới giữa nước ta với Trung Quốc đã hoàn thành, hai nước đã có một đường biên giới hoàn chỉnh phù hợp với pháp luật quốc tế cũng như nguyện vọng của nhân dân hai nước.

 

  1. Nguyên tắc phân định biên giới với Lào và thực tiễn áp dụng.

 

Trước năm 1945 cả Việt Nam và Lào đều là thuộc địa của Pháp. Pháp sát nhập hai nước vào “ Đông Dương thuộc Pháp”, sau đó lại chia hai nước thành các lãnh thổ hành chính để cai trị, bao gồm: Xứ Ai Lao, xứ Bắc Kỳ, xứ Trung kỳ và xứ Nam kỳ. Biên giới giữa hai nước Việt Nam và Lào trước kia biến thành ranh giới hành chính giữa các Xứ Ai Lao và hai xứ Bắc kỳ và Trung kỳ. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, vấn đề biên giới giữa hai nước Việt Nam và Lào đã không được đặt ra.

 

Sau khi hai nước đã giành được độc lập hoàn toàn năm 1976 vấn đề biên giới giữa hai nước mới có điều kiện để giải quyết. Đầu năm 1976, hai Bộ Chính trị hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã họp để thống nhất các nguyên tắc trong việc xác định đường biên giới giữa hai quốc gia.

 

Trên cơ sở thỏa thuận của hai Bộ Chính trị hai nước, có thể thấy nguyên tắc được áp dụng để giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước là nguyên tắc “ Uti possidetis” – Hãy tiếp tục sở hữu cái gì mà anh đang sở hữu. Nguyên tắc Uti possidetis là một trong những nguyên tắc cơ bản trong việc xác định đường biên giới quốc gia được pháp luật quốc tế thừa nhận. Việc áp dụng nguyên tắc này chính là việc công nhận, duy trì và tiếp tục sử dụng các đường ranh giới đã có.

 

Việc áp dụng nguyên tắc Uti possidetis để giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước hoàn toàn phù hợp với thực tiễn tình hình biên giới lúc bấy giờ. Nếu như đường biên giới Việt- Trung đã là đường biên giới quốc tế hình thành trên cơ sở Điều ước quốc tế đã được thừa nhận thì đường biên giới Việt- Lào chưa được xây dựng bằng bất kỳ điều ước quốc tế nào giữa các bên. Đường biên giới Việt – Lào tuy đã được hình thành từ lâu đời và mang tính lịch sử, tuy nhiên mới chỉ được thực dân Pháp ghi nhận với tư cách là ranh giới hành chính giữa xứ Ai Lao với Bắc kỳ và Trung kỳ. Việc thừa nhận đường ranh giới hành chính này để chuyển thành đường biên giới quốc gia là cơ sở quan trọng để hai nước giải quyết tốt vấn đề biên giới chung.

 

Trên cơ sở nguyên tắc Uti possidetis, hai nước đã cùng nhau xây dựng đường biên giới dựa trên đường ranh giới hành chính được thể hiện trên bản đồ của Sở Địa dư Đông Dương in năm 1945. Nơi nào không có bản đồ của Sở Địa dư Đông Dương in năm 1945 thì dùng bản đồ in trước đó hoặc sau đó vài năm. Thực hiện nguyên tắc này, hai Bộ Chính trị hai nước đã họp để tiến hành hoạch định biên giới, cùng thời điểm đó Việt Nam tuyên bố trả một số vùng đất trước kia đã mượn của Lào như Sa Môi, Tà Vi….

 

Trên thực tế có những đoạn biên giới không có bản đồ hoặc chưa được quy định trên bản đồ của Pháp, do đó việc xác định biên giới theo nguyên tắc Uti possidetis là chưa đủ. Hai nước Việt – Lào sử dụng một cách xác định nữa đó là vạch các đoạn biên giới mới. Trên cơ sở phiên họp của hai Bộ Chính trị hai nước năm 1976, nguyên tắc xác lập các đoạn biên giới mới có thể được hiêu như sau: Ở những nơi nào cả hai bên đều thấy là cần thiết phải điều chỉnh đường biên giới và ở những nơi đường biên giới chưa được vẽ trên bản đồ của Pháp. Hai bên hoạch định biên giới trên cơ sở hoàn toàn nhất trí, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước.

 

Để thực hiện hiệp ước đã ký năm 1976, hai nước đã thành lập Ủy ban Liên hợp phân giới cắm mốc Việt – Lào. Ủy ban đã thống nhất các nguyên tắc cũng như phương pháp cắm mốc. Ủy ban đã hoàn thành việc kết quả cắm mốc vào ngày 24/8/1984 trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước. Một số điều chỉnh về biên giới được hai nước ghi nhận trong Hiệp ước bố sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào ngày 24/1/1986. Từ đây hai nước đã có một đường biên giới chính thức được đánh dấu bằng hệ thống mốc quốc giới quy định trên thực địa.

 

Như vậy, với việc áp dụng một cách sáng tạo nguyên tắc Uti possidetis kết hợp với nguyên tắc xác lập các đoạn biên giớ mới, hai nước Việt – Lào đã xây dựng đường biên giới chung, hoàn chỉnh, một đường biên giới của tình đoàn kết hữu nghị Việt – Lào.

 

  1. Nguyên tắc phân định biên giới với Cam Pu Chia và thực tiễn áp dụng.

 

Đường biên giới giữa Việt Nam và Cam Pu Chia đã hình thành từ lâu. Đến khi thực dân Pháp xâm lược ba nước Đông Dương và thành lập “ Đông Dương thuộc Pháp” thì cả ba nước Việt Nam, Lào và Cam Pu Chia đều là các xứ của Liên bang Đông Dương. Sau khi giành được độc lập, các ranh giới hành chính của các xứ được thực dân Pháp sử dụng trở thành đường biên giới lịch sử giữa ba nước.

 

Cũng giống như đường biên giới với Lào, đường biên giới Việt Nam – Cam Pu Chia trước kia chưa được xác định bởi bất cứ điều ước quốc tế nào. Ngày 20/7/1983 hai nước ký hiệp ước về nguyên tắc giải quyết các vấn đề biên giới. Theo đó, nguyên tắc được hai nước sử dụng trong phân định biên giới trên bộ là nguyên tắc Uti possidetis. Hai nước công nhận đường ranh giới hành chính do Pháp xác định trước kia là biên giới lịch sử giữa hai quốc gia, đồng thời tôn trọng và tuân thủ đường biên giới đó.

 

Ngày 27/12/ 1985 hai nước ký “ Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Hòa Nhân Dân Cam Pu Chia” trên cơ sở đó, một một số nguyên tắc điều chỉnh, xác định các đoạn biên giới được thể hiện như sau:

 

Lấy theo đường đỉnh núi hoặc đường phân thủy trong trường hợp đường biên giới đi theo núi; lấy đường lãnh sâu trong trường hợp đường biên giới đi theo song suối mà tàu thuyền đi lại được; phải tính đến tình hình quản lý thực tế đối với những vùng nhân dân cư trú lâu đời. Sau một thời gian gián đoạn trong việc tiến hành phân giới cắm mốc do tình hình chính trị không ổn định của Cam Pu Chia. Năm 1999 hai nước thành lập Ủy ban Liên hợp về biên giới để tiếp tục thực hiện những công việc gián đoạn. Trên cơ sở Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 2005, một số khu vực cụ thể của biên giới hai nước được xác định theo nguyên tắc “Biên giới theo sông suối”, cụ thể: Đối với những đoạn sông suối biên giới mà tàu thuyền không đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của dòng chảy chính. Đối với những đoạn sông suối biên giới tàu thuyền đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của dòng chảy chính.

 

Tiêu chuẩn để xác định dòng chảy chính là lưu lượng dòng chảy ở mực nước trung bình. Tiêu chuẩn để xác định luồng chảy chính để tàu thuyền đi lại được là độ sâu của luồng tàu thuyền đi lại được, kết hợp với chiều rộng và bán kính độ cong của luồng tàu thuyền đi lại được để xem xét tổng hợp. Trung tuyến của luồng chính tàu thuyền đi lại được là trung tuyến mặt nước giữa hai đường đẳng sâu tương ứng đánh dấu tàu thuyền đi lại được.

 

Trường hợp không có sự thỏa thuận của hai bên ký kết, bất kỳ sự thay đổi nào có thể xảy ra đối với sông suối được lấy làm biên giới cũng không làm thay đổi hướng đi của đường biên giới, không ảnh hưởng đến vị trí của đường biên giới cũng như sự quy thuộc các cồn, bãi, những cồn bãi mới xuất hiện trên song suối được lấy làm biên giới sau khi đường biên giới đã được xác định trên thực địa sẽ được hoạch định quy thuộc theo đường biên giới đã được xác định trên thực địa. Đối với các cồn bãi mới xuất hiện và nằm trên đường biên giới đã được xác định, hai bên ký kết sẽ bàn bạc nhằm xác định sự quy thuộc của các cồn bãi nói trên trên cơ sở công bằng và hợp lý. Trường hợp nảy sinh khó khăn trong việc áp dụng các nguyên tắc quy định, hai bên sẽ trao đổi hữu nghị nhằm tìm gia một giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được.

 

Trên cơ sở những nguyên tắc điều chỉnh đã được thỏa thuận bổ sung năm 2005. Hai nước tiếp tục tiến hành việc hoạch định biên giới trên bộ và đã đạt được một số thành quả nhất định: Năm 2008, hoàn thành việc hoạch định biên giới trên bản đồ. Tháng 3 năm 2010, hai bên đã xác định được 80% vị trí mốc trên bản đồ và 40% vị trí mốc trên thực địa. Hai nước khẳng định quyết tâm hoàn thành toàn bộ công tác cắm mốc vào cuối năm 2012.

 

III. BIỆN PHÁP HOÀN CHỈNH HỆ THỐNG BIÊN GIỚI.

 

Trên cơ sở thực hiện các nguyên tắc đã nêu ở trên, phần lớn đường biên giới trên bộ của Việt Nam với các nước láng giềng đã được phân định, cắm mốc trên thực địa. Đối với đoạn biên giới Viêt – Trung, việc hoạch định, cắm mốc đã hoàn thành. Tuy nhiên, để bảo vệ chủ quyền và quản lý tốt khu vực biên giới Nhà nước ta cần tăng cường công tác các công trình biên giới với sự phối hợp của tát cả các lực lượng chức năng trên toàn tuyến biên giới phức tạp và nhạy cảm này. Đồng thời Nhà nước ta cũng cần phối hợp chặt chẽ với phía Trung Quốc trong việc quản lý các công trình biên giới, thống nhất về việc tự do đi lại của tàu thuyền tại khu vực cửa sông Bắc Luân, hợp tác phát triển du lịch tai khu vực thác Bản Giốc. Đối với tuyến biên giới Việt – Lào, với khoảng cách trung bình giữa hai cột mốc là 10 Km như hiện nay là quá xa, rất khó cho công tác quản lý biên giới. Vì vậy, cần phải tăng dầy số cột mốc, đồng thời tôn tạo các cột mốc biên giới quốc gia đã có. Phải tăng cường bổ sung thiết bị, phương tiện, cơ sở vật chất khác phục vụ cho lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ canh gác, bảo vệ biên giới của mình. Đối với tuyến biên giới Việt Nam – Cam Pu Chia, Nhà nước ta cần phối hợp chặt chẽ với nước bạn để đẩy nhanh tiến độ phân giới, cắm mốc trên thực địa. Tăng cường các lực lượng, cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện để thực hiện việc phân giới, cắm mốc cho những đoạn biên giới còn chưa hoàn thành việc cắm mốc. Đối với những đoạn biên giới đã cắm mốc, phải tăng cường bảo vệ và tôn tạo các công trình biên giới. Một khó khăn hiện nay diễn ra trên toàn tuyến biên giới trên bộ của nước ta đó là lực lượng bộ đội biên phòng còn quá ít so với chiều dài của đường biên, chúng ta cần phải tăng cường về số lượng cũng như trang thiết bị, nhu yếu phẩm cần thiết đẻ đảm bảo cuộc sống và điều kiện làm việc cho các cán bộ, chiến sĩ làm công tác bảo vệ biên giới.

 

Tuy nhiên công tác quan trọng nhất cần phải tiến hành ngay đó là tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các tầng lớp nhân dân, nhất là người dân địa phương vùng biên giới về vai trò, tầm quan trọng của đường biên giới. Đây là biện pháp đầu tiên và cũng là quan trọng nhất phải thực hiện. Trong chính sách an ninh quốc phòng, Nhà nước ta cần chú trọng đến vai trò của nhân dân trong vấn đề an ninh biên giới bên cạnh các lực lượng chuyên trách như: bộ đội biên phòng, công an, hải quan… thì nhân dân là lực lượng đông đảo có khả năng nắm thông tin, tạo điều kiện giúp các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ của mình.

 

KẾT LUẬN

 

Tuyến biên giới trên bộ của nước ta được tạo thành bởi ba bộ phận tiếp liền nhau là đoạn biên giới Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Lào, Việt Nam – Cam Pu Chia. Xuất phát từ yếu tố lịch sử để lại, đồng thời để phù hợp với pháp luật quốc tế, trong qúa trình hoạch định biên giới quốc gia. Việt Nam và mỗi nước đã áp dụng những nguyên tắc khác nhau để hoạch định. Đối với Trung Quốc là nguyên tắc “kế thừa các điều ước quốc tế” cụ thể là Hiệp ước Pháp – Thanh năm 1887 và Hiệp ước bổ sung năm 1895. Đối với Lào và Cam Pu Chia, Sử dụng nguyên tắc Uti possidetis bằng việc thừa nhận đường biên giới lịch sử được hình thành trong thời Pháp thuộc. các nguyên tắc này được vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với tình hình Việt Nam và các nước láng giềng, đồng thời việc hoạch định biên giới với các nước còn kết hợp sử dụng nguyên tắc “ xác lập các đoạn biên giới mới” để tạo nên đường biên giới trên bộ như hiện nay. Tuy nhiên trên tuyến biên giới giữa nước ta với Cam Pu Chia, vẫn còn nhiều đoạn chưa được phân giới, cắm mốc. Đảng và Nhà nước ta cần phối hợp chặt chẽ với nước bạn để thúc đẩy tiến độ phân giới, cắm mốc trên các đoạn biên giới này.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007;
  2. Lê Mai Anh & Trần Văn Thắng, Luật quốc tế – Lí luận và thực tiễn, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001;
  3. Nguyễn Thị Kim Ngân & Chu Mạnh Hùng, Giáo trình Luật quốc tế, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2010;
  4. Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1979;
  5. Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký ngày 19/10/1993;
  6. Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký ngày 30/12/1999;
  7. Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, ký ngày 18/7/1977;
  8. Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, ký ngày 24/1/1986;
  9. Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân CamPuChia, ký ngày 20/7/1983;
  10. Hiệp ước giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc CamPuChia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giwosi quốc gia năm 1985, ký ngày 10/10/2005;
  11. Nguyễn Xuân Quang, Hệ thông biên giới trên bộ của Việt Nam với các nước láng giềng – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2010;
  12. Phạm Thị Kiều My, Biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc những vấn đề pháp lý và thực tiễn, Khoá luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2010;
  13. Lưu Ngọc Tố Tâm, Đường biên giới quốc gia trên đất liền trong luật pháp quốc tế và thực tiễn biên giới của Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội, 1995;

NGUYÊN TẮC ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC – BÀI TẬP HỌC KỲ CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Biên giới quốc gia là một vấn đề quan trọng hàng đầu của bất cứ quốc gia nào. Đường biên giới của mỗi quốc gia là cơ sở để phân chia lãnh thổ của các quốc gia với nhau. Tuy nhiên trên thực tế vẫn nảy sinh rất nhiều tranh chấp giữa các quốc gia láng giềng về đường biên giới, đặc biệt là các đường biên giới trên bộ. vì vậy, vấn đề hoàn thiện đường biên giới trên bộ luôn được các quốc gia hết sức quan tâm. Đối với Việt Nam, chúng ta có cả đường biên giới trên bộ và trên biển. vấn đề hoạch định đường biên giới trên bộ với các nước láng giềng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt trong những thập niên qua. Hiện nay, đường biên giới trên bộ của nước ta đã tương đối hoàn thiện, phần lớn đã được phân giới, cắm mốc trên thực địa. tuy vậy, việc tiếp tục về các nguyên tắc phân định biên giới trên bộ cũng như thực tiễn áp dụng để có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về biên giới trên bộ của nước ta vẫn là công việc hết sức cần thiết không chỉ đối với các nhà khoa học mà còn đối với cả sinh viên nói chung và sinh viên Luật nói riêng. Vì vậy, em xin lựa chọn đề tài “ Phân tích các nguyên tắc được áp dụng trong phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam với các nước” để hiểu thêm về vấn đề này.

 

NỘI DUNG

 

  1. KHÁI QUÁT VỀ BIÊN GIỚI TRÊN BỘ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.

 

Việt Nam là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, trên bán đảo Đông Dương. Nước ta có diện tích khoảng 330.000 km² thuộc nhóm nước có diện tích trung bình trên thế giới. lãnh thổ Việt Nam gồm các bộ phận: đất liền, hải đảo, vùng biển, vùng trời. vùng biển nước ta rộng khoảng 1 triệu km² nằm ở khu vực biển Đông cùng với đó là hệ thống các đảo ven bờ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.

 

 

Lãnh thổ trên đát liền của nước ta hình chữ S nằm ở rìa bán đảo Đông Dương và tiếp giáp với biển Đông. Việt nam có biên giới chung với Trung Quốc ở phía Bắc, tiếp giáp với Lào ở phía Tây, tiếp giáp với Cam- Pu- Chia ở phái Tây Nam. Đường biên giới trên bộ của nước ta dài khoản 4.510 km , đi qua 25 tỉnh, 90 huyện, khoảng 390 xã với trên 50 dân tộc sinh sống. Đường biên giới với Trung Quốc dài khoảng 1.400 km; đường biên giới với Lào dài khoảng 2.067 km; đường biên giới với Cam- Pu- Chia dài khoảng 1.137 km. Đất nước ta với địa hình 3/4 là đồi núi vì vậy, đường biên giới trên đất liền của nước ta với các nước láng giềng chủ yếu chạy dọc theo các dãy núi cao, rừng rậm.

 

 

Đất nước ta trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với bao thăng trầm, biến cố lớn. Tuy nhiên, phải đến cuối thể kỷ XVIII đường biên giới trên bộ của nước ta mới hình thành gần giống với ngày nay, nhưng vẫn chưa được hoạch định bằng bất cứ điều ước nào. Đến khi Thực dân Pháp xâm lược nước ta, vầ cơ bản đưườg biên giới trên bộ của nước ta cũng không có sự thay đổi đáng kể. sau khi giành được độc lập, nước ta cùng với các nước láng giềngđã thống nhất duy trì đường biên giới từ thời Pháp thuộc, đồng thời điều chỉnh những đoạn còn chưa rõ ràng.

 

Hiện nay, về cơ bản đường biên giới trên bộ của nước ta đã được hoạch định xong. Ta cùng các nước láng giềng đã tiến hành phân giới, cắm mốc thực địa. phần lớn biên giới của nước ta với các nước đã được phân định bằng hệ thống cột mốc kiên cố, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân ta và cá dân tộc anh em. Việt nam và các nước láng giềng đang cố gắng giải quyết nhanh chóng các vấn đề biên giới còn tồn tại trên cơ sở các nguyên tắc mà các bên đã thống nhất.

 

  1. NGUYÊN TẮC TRONG PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI TRÊN BỘ GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC.

 

  1. Nguyên tắc phân định biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và thực tiễn áp dụng.

 

Ngày 19/10/1993Việt Nam và Trung Quốc đã ký “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước”. thỏa thuận này đã xác định các nguyên tắc cơ bản trong việc xác định và giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước.

 

Nguyên tắc kế thừa các hiệp ước quốc tế về biên giới lãnh thổ: Theo thỏa thuận ngày 19/10/1993 thì hai bên đồng ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa Pháp và Trung Quốc ngày 26/6/1887 và Công ước bổ sung, công ước hoạch định biên giới ngày 20/6/1895 cùng các văn kiện và bản đồ hoạch định, cắm mốc kèm theo đã được công ước và công ước bổ sung nói trên xác nhận hoặc quy định; đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới trên bộ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc.

 

Theo nguyên tắc này, trong quá trình đàm phán hai bên đã tự xác định đường biên giới theo cách hiểu hai Công ước và các văn bản kèm theo rồi trao đổi cho nhau bản đồ thể hiện đường biên giới này để so sánh. Qua đối chiếu thì phần lớn đường biên giới hai bên có cách hiểu và cách xác định trùng nhau chỉ có một bộ phận nhỏ là có cách hiểu và cách xác định khác nhau đãn đén sự sai khác giữa hai bên, cụ thể: Trên toàn bộ đường biên giới dài 1400 km, nhận thức của hai bên trùng nhau đến 970 km, còn khoảng 480 km còn lại do không có văn bản hoặc văn bản và bản đồ chưa rõ ràng nên nhận thức của hai bên có khác nhau. Do đó, nếu chỉ áp dụng nguyên tắc kế thừa hai công ước 1887 và 1895 là chưa đủ để xác định đường biên giới Việt – Trung một cách rõ ràng, chính xác và đầy đủ.

 

Có nhiều nguyên nhân như do kỹ thuật, không còn văn bản hoặc các công ước trước đó chưa xác định được mà vẫn còn khoảng 480 km mà hai bên có cách hiểu khác nhau dẫn đến tranh chấp. Vì vậy, đối với bộ phận này hai bên cần áp dụng nguyên tắc xác lập các đoạn biên giới mới và thực tế hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã vận dụng một cách sáng tạo nguyên tắc  xác lập các đoạn biên giới mới trong trường hợp này. Thực chất, việc xác lập các đoạn biên giới mới là dựa trên cơ sở của hai công ước 1887 và 1895.

 

Nguyên tắc xác lập các đoạn biên giới mới có thể hiểu như sau: Trong quá trình đối chiếu, xác định hướng đi của đường biên giới đối với những khu vực sau khi đã đối chiếu nhiều lần mà vẫn không đi đến nhất trí, hai bên sẽ cùng nhau khảo sát thực địa, suy tính mọi tình huống tồn tại trong khu vực với tinh thần thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau, thương lượng hữu nghị để tìm giải pháp công bằng, hợp lý.

 

Các khu vực hai công ước quy định không rõ ràng hoặc chưa có đường biên giới, hai bên xem xét tổng hợp các yếu tố: cơ sở pháp lý của các Công ước Pháp- Thanh còn có thể vận dụng được, quản lý, lịch sử, địa hình, bản đồ, nếu cần chuyên gia hai bên đi thực hiện khảo sát, thương lượng hữu nghị trên tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau để tìm giải pháp công bằng, hợp lý. Đối với số ít khu vực hai bên không thể đạt được thỏa thuận thì giải quyết trên tinh thần hiệp thương hữu nghị, thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau, công bằng, hợp lý.

 

Sau hàng chục năm đàm phán với nhiều cấp khác nhau kéo dài từ năm 1993 đến năm 1999 hai bên đã giải quyết được các khu vực còn tranh chấp. kết quả đàm phán đã xác định 2,6 km² thuộc hai khu vực( vì lý do kỹ thuật: vẽ chồng lấn lên nhau; hai bên chưa vẽ tới)  thuộc về Việt Nam, còn lại 2,4 km² của hai khu vực này thuộc về Trung Quốc. đối với 227 km² của khu vực có tranh chấp hoặc có nhận thức khác nhau của hai bên được giải quyết  như sau: 113 km² thuộc về Việt Nam, 114 km² thộc về Trung Quốc. Trong đó, đáng chú ý một số khu vực được coi là nhạy cảm trên tuyến biên giới này cũng được giải quyết phù hợp với lợi ích của hai bên.

 

Ngày 30/12/1999. Hiệp ước biên giới trên đât liền giữa Việt Nam và Trung Quốc được ký kết. đây được coi là bước ngoạt lịch sử đồng thời là cơ sở cho việc xác lập đường biên giới trên bộ và cũng là cơ sở để các bên thực hiện chủ quyền của mình một cách hợp pháp, đầy đủ trên lãnh thổ quốc gia. Hiệp ước này mở màn cho việc cắm mốc trên thực địa giữa hai nước. Để thực hiện việc cắm mốc hai bên đã cùng thỏa thuận và áp dụng sáng tạo nguyên tắc “cả gói” để giải quyết các khu vực còn tồn đọng với mục đích tìm giải pháp tổng thể, công bằng, hợp lý, hợp tình hai bên có thể chấp nhận được. Nguyên tắc này thể hiện nội dung chủ yếu là giải quyết trên cơ sở công bằng lợi ích. Biên giới đi qua tât cả các mốc cũ, giấu tích lịch sử, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng đến đời sống dân cư biên giới. Trên cơ sở thực hiện theo các nguyên tắc nêu trên, việc phân định biên giới giữa nước ta với Trung Quốc đã hoàn thành, hai nước đã có một đường biên giới hoàn chỉnh phù hợp với pháp luật quốc tế cũng như nguyện vọng của nhân dân hai nước.

 

  1. Nguyên tắc phân định biên giới với Lào và thực tiễn áp dụng.

 

Trước năm 1945 cả Việt Nam và Lào đều là thuộc địa của Pháp. Pháp sát nhập hai nước vào “ Đông Dương thuộc Pháp”, sau đó lại chia hai nước thành các lãnh thổ hành chính để cai trị, bao gồm: Xứ Ai Lao, xứ Bắc Kỳ, xứ Trung kỳ và xứ Nam kỳ. Biên giới giữa hai nước Việt Nam và Lào trước kia biến thành ranh giới hành chính giữa các Xứ Ai Lao và hai xứ Bắc kỳ và Trung kỳ. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, vấn đề biên giới giữa hai nước Việt Nam và Lào đã không được đặt ra.

 

Sau khi hai nước đã giành được độc lập hoàn toàn năm 1976 vấn đề biên giới giữa hai nước mới có điều kiện để giải quyết. Đầu năm 1976, hai Bộ Chính trị hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã họp để thống nhất các nguyên tắc trong việc xác định đường biên giới giữa hai quốc gia.

 

Trên cơ sở thỏa thuận của hai Bộ Chính trị hai nước, có thể thấy nguyên tắc được áp dụng để giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước là nguyên tắc “ Uti possidetis” – Hãy tiếp tục sở hữu cái gì mà anh đang sở hữu. Nguyên tắc Uti possidetis là một trong những nguyên tắc cơ bản trong việc xác định đường biên giới quốc gia được pháp luật quốc tế thừa nhận. Việc áp dụng nguyên tắc này chính là việc công nhận, duy trì và tiếp tục sử dụng các đường ranh giới đã có.

 

Việc áp dụng nguyên tắc Uti possidetis để giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước hoàn toàn phù hợp với thực tiễn tình hình biên giới lúc bấy giờ. Nếu như đường biên giới Việt- Trung đã là đường biên giới quốc tế hình thành trên cơ sở Điều ước quốc tế đã được thừa nhận thì đường biên giới Việt- Lào chưa được xây dựng bằng bất kỳ điều ước quốc tế nào giữa các bên. Đường biên giới Việt – Lào tuy đã được hình thành từ lâu đời và mang tính lịch sử, tuy nhiên mới chỉ được thực dân Pháp ghi nhận với tư cách là ranh giới hành chính giữa xứ Ai Lao với Bắc kỳ và Trung kỳ. Việc thừa nhận đường ranh giới hành chính này để chuyển thành đường biên giới quốc gia là cơ sở quan trọng để hai nước giải quyết tốt vấn đề biên giới chung.

 

Trên cơ sở nguyên tắc Uti possidetis, hai nước đã cùng nhau xây dựng đường biên giới dựa trên đường ranh giới hành chính được thể hiện trên bản đồ của Sở Địa dư Đông Dương in năm 1945. Nơi nào không có bản đồ của Sở Địa dư Đông Dương in năm 1945 thì dùng bản đồ in trước đó hoặc sau đó vài năm. Thực hiện nguyên tắc này, hai Bộ Chính trị hai nước đã họp để tiến hành hoạch định biên giới, cùng thời điểm đó Việt Nam tuyên bố trả một số vùng đất trước kia đã mượn của Lào như Sa Môi, Tà Vi….

 

Trên thực tế có những đoạn biên giới không có bản đồ hoặc chưa được quy định trên bản đồ của Pháp, do đó việc xác định biên giới theo nguyên tắc Uti possidetis là chưa đủ. Hai nước Việt – Lào sử dụng một cách xác định nữa đó là vạch các đoạn biên giới mới. Trên cơ sở phiên họp của hai Bộ Chính trị hai nước năm 1976, nguyên tắc xác lập các đoạn biên giới mới có thể được hiêu như sau: Ở những nơi nào cả hai bên đều thấy là cần thiết phải điều chỉnh đường biên giới và ở những nơi đường biên giới chưa được vẽ trên bản đồ của Pháp. Hai bên hoạch định biên giới trên cơ sở hoàn toàn nhất trí, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước.

 

Để thực hiện hiệp ước đã ký năm 1976, hai nước đã thành lập Ủy ban Liên hợp phân giới cắm mốc Việt – Lào. Ủy ban đã thống nhất các nguyên tắc cũng như phương pháp cắm mốc. Ủy ban đã hoàn thành việc kết quả cắm mốc vào ngày 24/8/1984 trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước. Một số điều chỉnh về biên giới được hai nước ghi nhận trong Hiệp ước bố sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào ngày 24/1/1986. Từ đây hai nước đã có một đường biên giới chính thức được đánh dấu bằng hệ thống mốc quốc giới quy định trên thực địa.

 

Như vậy, với việc áp dụng một cách sáng tạo nguyên tắc Uti possidetis kết hợp với nguyên tắc xác lập các đoạn biên giớ mới, hai nước Việt – Lào đã xây dựng đường biên giới chung, hoàn chỉnh, một đường biên giới của tình đoàn kết hữu nghị Việt – Lào.

 

  1. Nguyên tắc phân định biên giới với Cam Pu Chia và thực tiễn áp dụng.

 

Đường biên giới giữa Việt Nam và Cam Pu Chia đã hình thành từ lâu. Đến khi thực dân Pháp xâm lược ba nước Đông Dương và thành lập “ Đông Dương thuộc Pháp” thì cả ba nước Việt Nam, Lào và Cam Pu Chia đều là các xứ của Liên bang Đông Dương. Sau khi giành được độc lập, các ranh giới hành chính của các xứ được thực dân Pháp sử dụng trở thành đường biên giới lịch sử giữa ba nước.

 

Cũng giống như đường biên giới với Lào, đường biên giới Việt Nam – Cam Pu Chia trước kia chưa được xác định bởi bất cứ điều ước quốc tế nào. Ngày 20/7/1983 hai nước ký hiệp ước về nguyên tắc giải quyết các vấn đề biên giới. Theo đó, nguyên tắc được hai nước sử dụng trong phân định biên giới trên bộ là nguyên tắc Uti possidetis. Hai nước công nhận đường ranh giới hành chính do Pháp xác định trước kia là biên giới lịch sử giữa hai quốc gia, đồng thời tôn trọng và tuân thủ đường biên giới đó.

 

Ngày 27/12/ 1985 hai nước ký “ Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Hòa Nhân Dân Cam Pu Chia” trên cơ sở đó, một một số nguyên tắc điều chỉnh, xác định các đoạn biên giới được thể hiện như sau:

 

Lấy theo đường đỉnh núi hoặc đường phân thủy trong trường hợp đường biên giới đi theo núi; lấy đường lãnh sâu trong trường hợp đường biên giới đi theo song suối mà tàu thuyền đi lại được; phải tính đến tình hình quản lý thực tế đối với những vùng nhân dân cư trú lâu đời. Sau một thời gian gián đoạn trong việc tiến hành phân giới cắm mốc do tình hình chính trị không ổn định của Cam Pu Chia. Năm 1999 hai nước thành lập Ủy ban Liên hợp về biên giới để tiếp tục thực hiện những công việc gián đoạn. Trên cơ sở Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 2005, một số khu vực cụ thể của biên giới hai nước được xác định theo nguyên tắc “Biên giới theo sông suối”, cụ thể: Đối với những đoạn sông suối biên giới mà tàu thuyền không đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của dòng chảy chính. Đối với những đoạn sông suối biên giới tàu thuyền đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của dòng chảy chính.

 

Tiêu chuẩn để xác định dòng chảy chính là lưu lượng dòng chảy ở mực nước trung bình. Tiêu chuẩn để xác định luồng chảy chính để tàu thuyền đi lại được là độ sâu của luồng tàu thuyền đi lại được, kết hợp với chiều rộng và bán kính độ cong của luồng tàu thuyền đi lại được để xem xét tổng hợp. Trung tuyến của luồng chính tàu thuyền đi lại được là trung tuyến mặt nước giữa hai đường đẳng sâu tương ứng đánh dấu tàu thuyền đi lại được.

 

Trường hợp không có sự thỏa thuận của hai bên ký kết, bất kỳ sự thay đổi nào có thể xảy ra đối với sông suối được lấy làm biên giới cũng không làm thay đổi hướng đi của đường biên giới, không ảnh hưởng đến vị trí của đường biên giới cũng như sự quy thuộc các cồn, bãi, những cồn bãi mới xuất hiện trên song suối được lấy làm biên giới sau khi đường biên giới đã được xác định trên thực địa sẽ được hoạch định quy thuộc theo đường biên giới đã được xác định trên thực địa. Đối với các cồn bãi mới xuất hiện và nằm trên đường biên giới đã được xác định, hai bên ký kết sẽ bàn bạc nhằm xác định sự quy thuộc của các cồn bãi nói trên trên cơ sở công bằng và hợp lý. Trường hợp nảy sinh khó khăn trong việc áp dụng các nguyên tắc quy định, hai bên sẽ trao đổi hữu nghị nhằm tìm gia một giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được.

 

Trên cơ sở những nguyên tắc điều chỉnh đã được thỏa thuận bổ sung năm 2005. Hai nước tiếp tục tiến hành việc hoạch định biên giới trên bộ và đã đạt được một số thành quả nhất định: Năm 2008, hoàn thành việc hoạch định biên giới trên bản đồ. Tháng 3 năm 2010, hai bên đã xác định được 80% vị trí mốc trên bản đồ và 40% vị trí mốc trên thực địa. Hai nước khẳng định quyết tâm hoàn thành toàn bộ công tác cắm mốc vào cuối năm 2012.

 

III. BIỆN PHÁP HOÀN CHỈNH HỆ THỐNG BIÊN GIỚI.

 

Trên cơ sở thực hiện các nguyên tắc đã nêu ở trên, phần lớn đường biên giới trên bộ của Việt Nam với các nước láng giềng đã được phân định, cắm mốc trên thực địa. Đối với đoạn biên giới Viêt – Trung, việc hoạch định, cắm mốc đã hoàn thành. Tuy nhiên, để bảo vệ chủ quyền và quản lý tốt khu vực biên giới Nhà nước ta cần tăng cường công tác các công trình biên giới với sự phối hợp của tát cả các lực lượng chức năng trên toàn tuyến biên giới phức tạp và nhạy cảm này. Đồng thời Nhà nước ta cũng cần phối hợp chặt chẽ với phía Trung Quốc trong việc quản lý các công trình biên giới, thống nhất về việc tự do đi lại của tàu thuyền tại khu vực cửa sông Bắc Luân, hợp tác phát triển du lịch tai khu vực thác Bản Giốc. Đối với tuyến biên giới Việt – Lào, với khoảng cách trung bình giữa hai cột mốc là 10 Km như hiện nay là quá xa, rất khó cho công tác quản lý biên giới. Vì vậy, cần phải tăng dầy số cột mốc, đồng thời tôn tạo các cột mốc biên giới quốc gia đã có. Phải tăng cường bổ sung thiết bị, phương tiện, cơ sở vật chất khác phục vụ cho lực lượng chức năng thực hiện nhiệm vụ canh gác, bảo vệ biên giới của mình. Đối với tuyến biên giới Việt Nam – Cam Pu Chia, Nhà nước ta cần phối hợp chặt chẽ với nước bạn để đẩy nhanh tiến độ phân giới, cắm mốc trên thực địa. Tăng cường các lực lượng, cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện để thực hiện việc phân giới, cắm mốc cho những đoạn biên giới còn chưa hoàn thành việc cắm mốc. Đối với những đoạn biên giới đã cắm mốc, phải tăng cường bảo vệ và tôn tạo các công trình biên giới. Một khó khăn hiện nay diễn ra trên toàn tuyến biên giới trên bộ của nước ta đó là lực lượng bộ đội biên phòng còn quá ít so với chiều dài của đường biên, chúng ta cần phải tăng cường về số lượng cũng như trang thiết bị, nhu yếu phẩm cần thiết đẻ đảm bảo cuộc sống và điều kiện làm việc cho các cán bộ, chiến sĩ làm công tác bảo vệ biên giới.

 

Tuy nhiên công tác quan trọng nhất cần phải tiến hành ngay đó là tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các tầng lớp nhân dân, nhất là người dân địa phương vùng biên giới về vai trò, tầm quan trọng của đường biên giới. Đây là biện pháp đầu tiên và cũng là quan trọng nhất phải thực hiện. Trong chính sách an ninh quốc phòng, Nhà nước ta cần chú trọng đến vai trò của nhân dân trong vấn đề an ninh biên giới bên cạnh các lực lượng chuyên trách như: bộ đội biên phòng, công an, hải quan… thì nhân dân là lực lượng đông đảo có khả năng nắm thông tin, tạo điều kiện giúp các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ của mình.

 

KẾT LUẬN

 

Tuyến biên giới trên bộ của nước ta được tạo thành bởi ba bộ phận tiếp liền nhau là đoạn biên giới Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Lào, Việt Nam – Cam Pu Chia. Xuất phát từ yếu tố lịch sử để lại, đồng thời để phù hợp với pháp luật quốc tế, trong qúa trình hoạch định biên giới quốc gia. Việt Nam và mỗi nước đã áp dụng những nguyên tắc khác nhau để hoạch định. Đối với Trung Quốc là nguyên tắc “kế thừa các điều ước quốc tế” cụ thể là Hiệp ước Pháp – Thanh năm 1887 và Hiệp ước bổ sung năm 1895. Đối với Lào và Cam Pu Chia, Sử dụng nguyên tắc Uti possidetis bằng việc thừa nhận đường biên giới lịch sử được hình thành trong thời Pháp thuộc. các nguyên tắc này được vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với tình hình Việt Nam và các nước láng giềng, đồng thời việc hoạch định biên giới với các nước còn kết hợp sử dụng nguyên tắc “ xác lập các đoạn biên giới mới” để tạo nên đường biên giới trên bộ như hiện nay. Tuy nhiên trên tuyến biên giới giữa nước ta với Cam Pu Chia, vẫn còn nhiều đoạn chưa được phân giới, cắm mốc. Đảng và Nhà nước ta cần phối hợp chặt chẽ với nước bạn để thúc đẩy tiến độ phân giới, cắm mốc trên các đoạn biên giới này.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007;
  2. Lê Mai Anh & Trần Văn Thắng, Luật quốc tế – Lí luận và thực tiễn, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001;
  3. Nguyễn Thị Kim Ngân & Chu Mạnh Hùng, Giáo trình Luật quốc tế, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2010;
  4. Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1979;
  5. Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký ngày 19/10/1993;
  6. Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký ngày 30/12/1999;
  7. Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, ký ngày 18/7/1977;
  8. Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, ký ngày 24/1/1986;
  9. Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân CamPuChia, ký ngày 20/7/1983;
  10. Hiệp ước giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc CamPuChia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giwosi quốc gia năm 1985, ký ngày 10/10/2005;
  11. Nguyễn Xuân Quang, Hệ thông biên giới trên bộ của Việt Nam với các nước láng giềng – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2010;
  12. Phạm Thị Kiều My, Biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc những vấn đề pháp lý và thực tiễn, Khoá luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2010;
  13. Lưu Ngọc Tố Tâm, Đường biên giới quốc gia trên đất liền trong luật pháp quốc tế và thực tiễn biên giới của Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội, 1995;

BÀI TẬP HỌC KỲ CÔNG PHÁP QUỐC TẾ – CHỦ THỂ LUẬT QUỐC TẾ

  1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ

 

  1. Khái niệm chủ thể của Luật Quốc tế

 

Dưới góc độ lý luận khoa học pháp lý, để xác định được đối tượng của Luật Quốc tế cần phải dựa vào các dấu hiệu cơ bản sau: Có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế do Luật Quốc tế điều chỉnh; Có ý chí độc lập trong sinh hoạt quốc tế; Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế; Có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể gây ra.

 

 

Cùng với quá trình phát triển khách quan của xã hội thì sự tồn tại và phát triển của Luật Quốc tế cũng đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, do đó trong từng giai đoạn lịch sử mà phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế có sự thay đổi dẫn tới chủ thể của Luật Quốc tế cũng có sự khác nhau nhất định. Trong giai đoạn chiếm hữu nô lệ thì chủ thể của Luật Quốc tế là các quốc gia chủ nô, các liên đoàn chính trị tôn giáo của các quốc gia thành thị. Trong thời kỳ phong kiến, chủ thể Luật Quốc tế là các quốc gia phong kiến, các nhà thờ thiên chúa giáo. Đến giai đoạn tư bản chủ nghĩa thì chủ thể của Luật Quốc tế là các quốc gia có chủ quyền và các tổ chức quốc tế ….

 

Từ những cơ sở trên, chúng ta có thể định nghĩa tổng quát khái niệm chủ thể của Luật Quốc tế như sau: Chủ thể của Luật Quốc tế là những thực thể đang tham gia  hoặc có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ quốc tế và khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế từ những hành vi mà chính chủ thể thực hiện .

 

  1. Đặc điểm của chủ thể

 

Xét về vị trí, tính chất, vai trò chức năng và bản chất pháp lý… thì các chủ thể của Luật Quốc tế có sự khác nhau, tuy nhiên chúng bao giờ cũng có chung các đặc điểm cơ bản và đặc trưng sau:

 

  • Là thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia quan hệ pháp Luật Quốc tế.
  • Độc lập về ý chí, không chịu sự tác động của các chủ thể khác.
  • Được hưởng quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế.
  • Có  khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể đó gây ra.
  • Không có một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế.

 

  1. Phân loại chủ thể

 

Hiện nay, trong quan hệ pháp Luật Quốc tế hiện đại thì chủ thể của Luật Quốc tế bao gồm:

 

  • Các quốc gia, đây là chủ thể cơ bản và chủ yếu của Luật Quốc tế.
  • Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, đây là chủ thể tiềm tàng của Luật Quốc tế.
  • Các tổ chức quốc tế liên chính phủ, đây là chủ thể phái sinh của Luật Quốc tế, được hình thành bởi sự hợp tác của các quốc gia trên nhiều lĩnh vực hướng đến lợi ích của các quốc gia và lợi ích chung của cộng đồng.
  • Các chủ thể đặc biệt khác.

 

Tuy nhiên trong trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, vai trò của các cá nhân, tập đoàn, công ty đa quốc gia, các hiệp hội phi chính phủ trong quan hệ quốc tế ngày càng tăng cho nên việc thừa nhận các chủ thể có sự tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế ở một số lĩnh vực nhất định, do đó có quan điểm cho rằng đây cũng là chủ thể của Luật Quốc tế.

 

  1. THỰC TIỄN CÁ NHÂN THAM GIA VÀO QUAN HỆ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

 

  1. Khái niệm Cá nhân

 

Cá nhân là chủ thể mang tính tự nhiên, là một thực thể sinh học chiếm số lượng lớn nhất trong xã hội. Cá nhân là chủ thể thường xuyên và quan trọng nhất của nhiều ngành luật như: pháp luật dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật đất đai… bởi đây là chủ thể đầu tiên và cơ bản trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia chưa công nhận cá nhân là chủ thể của Luật Quốc tế.

 

  1. Đặc điểm chủ thể của cá nhân

 

Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng có quyền và nghĩa vụ. Đây là những quyền do nhà nước quy định và không ai được tự hạn chế nghĩa vụ của mình cũng như quyền và nghĩa vụ của người khác. Mọi cá nhân sinh ra không phân biệt giới tính, thành phần dân tộc, giàu nghèo, tôn giáo… đều có năng lực pháp luật như nhau và được nhà nước đảm bảo thực hiện. Điều này được công nhận tại Điều 6 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948 (Ở bất kì nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật).

 

Năng lực hành vi của cá nhân là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí cũng như độc lập chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Khả năng này được xác định dựa theo độ tuổi và khả năng nhận thức của con người. Năng lực hành vi của cá nhân ở các quốc gia khác nhau và ở nhiều thời điểm khác nhau là khác nhau.

 

  1. Quyền năng chủ thể luật quốc tế của cá nhân

 

Tính chủ thể pháp lý của cá nhân được thể hiện ở chỗ cá nhân cũng gánh vác trách nhiệm và nghĩa vụ cũng như hưởng các quyền lợi mà Luật Quốc tế quy định, bởi suy cho cùng hành vi của từng cá nhân trong một quốc gia là cách thức quốc gia đó thực hiện quyền và nghĩa vụ quốc tế. Ngoài ra, để pháp điển hóa các quy định của pháp luật quốc tế, các quốc gia phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tạo khung pháp lí cho việc áp dụng các quy định đó trong đời sống xã hội. Như vậy, việc này đã gián tiếp công nhận các cá nhân của quốc gia đó, chính là những người trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ quốc tế của quốc gia mình.

 

Mặt khác, trong rất nhiều văn bản pháp luật quốc tế, cá nhân được đem ra xem xét như là một chủ thể của quan hệ pháp luật này và phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình.Theo Điều 1 Quy chế Tòa án hình sự quốc tế thì Tòa án có quyền xét xử đối với những cá nhân về những tội phạm hình sự quốc tế nguy hiểm nhất được quy định trong Quy chế. Cũng theo Điều 5 Quy chế này thì Tòa án sẽ xét xử đối với hầu hết những tội phạm nguy hiểm nhất do cá nhân thực hiện, đó là tội diệt chủng, tội ác chống loài người, tội ác chiến tranh và tội gây chiến tranh xâm lược. Điều lệ của Tòa án binh 1945 ở Nurnberge và Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948 cũng thừa nhận như trên.

 

  1. Ví dụ điển hình

 

Chúng ta cùng thử đánh giá khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế của cá nhân với tư cách là chủ thể của Luật Quốc tế thông qua một ví dụ điển hình sau:

 

Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam

 

Tranh chấp về chủ quyền biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra ngày càng gay gắt. Như chúng ta đã biết, Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974 và mới đây, bằng hành động ban hành cấm đánh bắt cá từ ngày 16/5/2008 đến 1/8/2008 thì Trung Quốc như càng muốn khẳng định chủ quyền của  mình đối với quần đảo có đầy lợi thế về mặt kinh tế lẫn mặt chính trị này.

 

Chính vì vậy, 21/6/2009 lực lượng tuần tra Trung Quốc đã bắt ba tàu cá gồm 37 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi Việt Nam, khi họ đang hành nghề đánh cá bình thường tại khu vực vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Sau đó, 1/8/2009, 13 ngư dân Việt Nam khác vào tránh bão tại Hoàng Sa cũng bị Trung Quốc bắt giữ.

 

Ngày 21/3/2010, một thuyền cá của ông Tiêu Viết Là bị Trung Quốc bắt giữ khi đang đánh bắt ở gần quần đảo Hoàng Sa. Phía Trung Quốc đã buộc ông Là gọi điện về nhà, đòi gửi tiền chuộc thì mới trả tự do cho ông và các thuyền viên. Họ cũng giải thích ông bị bắt và phải nộp phạt vì “xâm phạm lãnh hải” Trung Quốc.

 

Gia đình ông Tiêu Viết Là thì cho hay đây là lần thứ hai tàu của ông bị bắt khi hoạt động tại khu vực gần Hoàng Sa. Được biết số tiền chuộc Trung Quốc đòi hỏi là khoảng 180 triệu đồng, được cho là “quá lớn” so với hoàn cảnh tài chính eo hẹp của gia đình ông. Chính quyền sở tại và cơ quan biên phòng đã có báo cáo, kiến nghị lên Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu can thiệp.

 

Quan điểm chính thức của phía Việt Nam là không nộp tiền phạt, vì điều đ́ó đồng nghĩa với thừa nhận chủ quyền và quyền chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng tranh chấp ở Biển Đông.

 

Các cuộc tranh chấp như thế này thì những ngư dân Việt Nam không thể tự mình giải quyết cũng như tự đứng ra để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình được mà đều phải thông qua các cơ quan có thẩm quyền (thường là Bộ ngoại giao) giải quyết bằng con đường ngoại giao. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, trong các vụ tranh chấp về biển – tranh chấp quốc tế, thì mặc dù là người trực tiếp liên quan đến vụ việc nhưng bản thân cá nhân các ngư dân không thể tham gia vào quan hệ pháp lý quốc tế này cũng như không thể có ý chí độc lập mà phải phụ thuộc vào các chủ thể khác. Mà những điều kiện trên đều là những dấu hiệu cơ bản, đặc trưng của chủ thể của luật quốc tế. Vì vậy, qua ví dụ trên phần nào chúng ta đã biết được cá nhân khó có thể trở thành chủ thể của Luật Quốc tế.

 

III. CÁ NHÂN KHÔNG PHẢI CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ

 

  1. Cá nhân không có ý chí độc lập khi tham gia quan hệ pháp  luật quốc tế

 

Rõ ràng, cá nhân có thể có nhiều quyền mà luật quốc tế ấn định, như quyền xuất ngoại, du nhập vào nước khác, quyền thụ đắc tài sản, quyền hoạt động thương mại,… nhưng cá nhân luôn phải nhờ quốc gia mình can thiệp với nước ngoài, để nước ngoài công nhận những quyền đó của cá nhân. Như thế, rõ ràng là khi tham gia vào tất cả các quan hệ của đời sống xã hội thì cá nhân vẫn chịu một sự chi phối rất lớn từ ý chí, từ quyền lực chính trị của chủ thể đặc biệt – đó là Nhà nước.

 

Ví dụ: Điều 6 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948 quy định: “Những kẻ phạm tội diệt chủng sẽ bị 1 Tòa án có thẩm quyền của quốc gia nơi hành vi phạm tội được thực hiện xét xử hoặc một tòa án hình sự quốc tế có thể phán quyết trên cơ sở các quốc gia thanh viên sẽ chấp nhận thẩm quyền của Tòa án quốc tế đó”

 

Với quy định này có thể thấy, một cá nhân phạm tội diệt chủng, tùy thuộc vào ý chí của các quốc gia, có thể bị xét xử bởi 1 tòa án của quốc gia hoặc bị xét xử bởi 1 tòa án quốc tế do các quốc gia thỏa thuận thành lập. Cá nhân không có quyền lựa chọn, tức là không có ý chí trong một quan hệ pháp luật quốc tế mà mình tham gia.

 

Như vậy, cá nhân không  có ý chí độc lập khi tham gia các quan hệ quốc tế, và như vậy cá nhân không thể là một chủ thể của luật quốc tế.

 

  1. Cá nhân không có quyền và nghĩa vụ riêng biệt so với các chù thể khác của Luật Quốc tế

 

Không thể phủ nhận rằng, trên thực tế, có một số trường hợp luật quốc tế trao các quyền và nghĩa vụ trực tiếp cho cá nhân. Đặc biệt là sự ra đời của Bản tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/2948 đã công nhận mọi cá nhân, bất luận là người dân quốc gia độc lập hay bị trị đều được hưởng các quyền và tự do trong bản tuyên ngôn.

 

Các quyền và tự do căn bản trong bản tuyên ngôn có thể được chia thành 4 loại: (1) Các quyền về tự do cá nhân (Từ điều 3 đến điều 13) như các quyền sống tự do và an toàn, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được được bảo vệ chống lại mọi sự bắt bớ giam giữ trái phép, mọi sự tran tấn, trừng phạt dã man, quyền tự do đi lại, xuất ngoại, hồi hương; (2) Các quyền về tự do trong mối liên lạc với người khác (Điều 14 đến Điều 16) như quyền tị nạn, quyền có quốc tịch, quyền lập gia đình; (3) Các quyền tự do tinh thần và tự do chính trị (từ Điều 17 đến Điều 21) như quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, tự do bầu cử, ứng cử, quyền tham gia các công việc công; (4) Các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (Điều 22 đến Điều 27) như quyền có việc làm, quyền tự do chọn việc làm, tự do lập nghiệp đoàn, được hưởng các chế độ an ninh xã hội, tự do học tập, hưởng một nền giáo dục căn bản và miễn phí, tự do tư tưởng về khoa học,…

 

Một số nhà luật học đã dựa vào những căn cứ như trên đã đề cập, họ chứng minh rằng cá nhân vẫn được hưởng quyền và các nghĩa vụ như các chủ thể khác của luật quốc tế. Tuy nhiên, theo quan điểm của em thì dù các Điều ước Quốc tế trên là hướng tới con người, hướng tới cá nhân thì những quyền, nghĩa vụ cá nhân tồn tại trong Điều ước quốc tế đó chỉ với ý nghĩa là khách thể của các quan hệ pháp luật điều ước quốc tế về quyền con người, hình thành từ sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau hay với tổ chức quốc tế. Cá nhân trong các mối quan hệ như vậy chỉ có thể là đối tượng của những thỏa thuận hay cam kết quốc tế mà không thể là chủ thể của những mối quan hệ đó được.

 

Như vậy, cần phải thấy rằng việc cá nhân tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế về quyền con người là do sự thỏa thuận của các chủ thể luật quốc tế. Cá nhân chỉ là chủ thể của quyền con người chứ không phải chủ thể của luật quốc tế về quyền con người.

 

Trên đây mới bàn đến những quyền, nghĩa vụ của cá nhân có thể gây nhầm lẫn trong việc xác định tư cách chủ thể luật quốc tế của cá nhân. Một điều quan trọng nữa là, trên thực tế có rất nhiều quyền và nghĩa vụ cá nhân không hề có. Theo tập quán quốc tế, những cá nhân không có những quyền hạn do Luật quốc tế ấn định mà những quyền này được dành cho quốc gia. Chẳng hạn như cá nhân không thể thưa kiện trước tòa án quốc tế, không thể kí kết các hiệp ước quốc tế,…

 

Như vậy, có thể khẳng định cá nhân không các quyền, nghĩa vụ ngang bằng, riêng biệt với các chủ thể khác của luật quốc tế mà phải chịu sự tác động của quốc gia.

 

  1. Cá nhân không thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý một cách độc lập

 

Có thể thấy rằng không một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế, trên nó không tồn tại quyền lực chính trị nào chi phối hoạt động của nó và khi tham gia vào các quan hệ quốc tế thì các chủ thể có vị trí độc lập, bình đẳng với nhau. Khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi của mình gây ra có quan hệ mật thiết với khả năng có sự tự do ý chí tham gia các quan hệ quốc tế.

 

Do đó, một điều tất yếu từ việc cá nhân không có các quyền, nghĩa vụ riêng biệt theo quy định của luật quốc tế là cá nhân sẽ không có sự tự do ý chí tham gia các qan hệ quốc tế, đồng thời cá nhân cũng không có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi của mình gây ra 1 cách độc lập. Một khi không có vị trí độc lập bình đẳng với các chủ thể khác, cá nhân sẽ không thể độc lập gánh chịu trách nhiệm pháp lý do những hành vi của mình gây ra.

 

Thực tiễn ta thấy rằng, trong mối tương quan về địa vị pháp lý trong Luật quốc gia thì nhà nước luôn có quyền tài phán đối với công dân nước mình, phần lớn các quan hệ phát sinh giữa cá nhân với nhà nước đều được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy, mệnh lệnh phục tùng. Mặt khác, chúng vẫn có thể bị tài phán bởi các cơ quan quốc tế khác (ví dụ như Tòa án binh Quốc tế) theo Luật Quốc tế.

 

Vì vậy, khi tham gia vào các hoạt động, cá nhân luôn bị chi phối ảnh hưởng bởi quyền lực chính trị và khi tham gia vào quan hệ với các chủ thể khác của Luật Quốc tế thì chủ thể này khó có thể có được vị trí độc lập và bình đẳng.

CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ CÒN CÓ CÁ NHÂN, CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA, TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ

ĐỀ TÀI 6: ĐÔI ĐIỀU ĐÁNH GIÁ VỀ QUAN ĐIỂM CHO RẰNG: CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ CÒN CÓ CÁ NHÂN, CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA VÀ TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ.

 

LỜI MỞ ĐẦU

 

Trong bất cứ quan hệ pháp luật nào thì chủ thể luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng và là một trong những dấu hiệu để xác định mối quan hệ nào đó thuộc sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật nào. Luật Quốc tế là hệ thống pháp luật được tập hợp từ nhiều văn bản từ nhiều nguồn khác nhau. Việc nghiên cứu về chủ thể là rất cần thiết vì giúp tìm ra đâu là nguồn của luật, quan hệ nào thuộc sự điều chỉnh của luật.

 

Thực tế trên thế giới hiện nay ngoài quan điểm truyền thống cho rằng quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh, tổ chức liên chính phủ, chủ thể đặc biệt khác là chủ thể của luật thì còn có quan điểm (hiện đại) cho rằng cá nhân, các công ty xuyên quốc gia, tổ chức phi chính phủ cũng nên được xem là chủ thể của luật Quốc Tế. Đây là quan điểm mới và cũng được một số nước trên thế công nhận. Hiện tại ở Việt Nam mặc dù cũng có nhiều ý kiến về vấn đề mới này nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về quan hiện đại. Câu hỏi được đặt ra là: Chúng ta có suy nghĩ gì về vấn đề này? Có nên công nhận quan niệm hiện đại?

 

Đây là đề tài được xem là khá mới mẻ và còn nhiều vấn đề cần phải làm rõ nên chúng ta cần phải nghiên cứu sâu hơn để tìm ra lời giải đáp phù hợp với thực tiễn hiện nay.

 

Đề tài áp dụng phương pháp thống kê để thu thập những bài viết có liên quan, đồng thời phân tích, so sánh, đối chiếu để làm rõ các vấn đề có liên quan đến chủ thể của Luật. Tổng hợp những nhận định, ý kiến của nhiều người để từ đó đưa ra quan điểm chung về vấn đề này.

 

Việc nghiên cứu sẽ giúp chúng ta nắm được những vấn đề cơ bản về chủ thể của luật Quốc Tế đồng thời giúp mọi người tìm ra được sự khác biệt giữa chủ thể của luật Quốc tế với các ngành Luật khác. Giúp người đọc có cái nhìn rộng hơn về chủ thể của Luật Quốc tế, tiếp xúc với nhiều quan điểm, ý kiến mới để từ đó có cái nhìn bao quát hơn. Việc nên  hay không nên công nhận thêm các chủ thể khác vào Luật Quốc tế hiện nay là chuyện rất dài và tốn nhiều thời gian.

 

Đề tài này mong muốn giúp đọc giả có được nhiều cách nhìn nhận hơn về chủ thể của Luật Quốc Tế. Nếu có sự thay đổi đáng kể về chủ thể của luật có thể sẽ có nhiều vấn đề được giải quyết hiệu quả hơn.

 

CHƯƠNG I – LÝ LUẬN CHUNG.

 

Luật Quốc tế là một hệ thống pháp luật độc lập, do đó khi nghiên cứu Luật Quốc tế chúng ta cần phải xác định được đâu là quan hệ pháp luật thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Quốc tế và chủ thể của Luật Quốc tế là những đối tượng nào. Việc xác định chủ thể của Luật Quốc tế tưởng như đơn giản nhưng trên thực tế hiện nay vẫn còn nhiều sự tranh luận xoay quanh vấn đề này. Vì vậy trước hết chúng ta cần  xem xét  nội dung của khái niệm chủ thể của Luật Quốc tế.

 

  1. KHÁI NIỆM:

 

 

Dưới góc độ lý luận khoa học pháp lý, để xác định được đối tượng của Luật Quốc tế cần phải dựa vào các dấu hiệu cơ bản sau:

  • Có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế do Luật Quốc tế điều chỉnh.
  • Có ý chí độc lập trong sinh hoạt quốc tế.
  • Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế.
  • Có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể gây ra.

 

Cùng với quá trình phát triển khách quan của xã hội thì sự tồn tại và phát triển của Luật Quốc tế cũng đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, do đó trong từng giai đoạn lịch sử mà phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế có sự thay đổi dẫn tới chủ thể của Luật Quốc tế cũng có sự khác nhau nhất định. Trong giai đoạn chiếm hữu nô lệ thì chủ thể của Luật Quốc tế là các quốc gia chủ nô, các liên đoàn chính trị tôn giáo của các quốc gia thành thị. Trong thời kỳ phong kiến, chủ thể Luật Quốc tế là các quốc gia phong kiến, các nhà thờ thiên chúa giáo. Đến giai đoạn tư bản chủ nghĩa thì chủ thể của Luật Quốc tế là các quốc gia có chủ quyền và các tổ chức quốc tế… ( Một số vấn đề lý luận cơ bản về Luật Quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia 1994, tr 30).

 

Từ những cơ sở trên, chúng ta có thể định nghĩa tổng quát khái niệm chủ thể của Luật Quốc tế như sau: chủ thể của Luật Quốc tế là những thực thể đang tham gia  hoặc có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ quốc tế và khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế từ những hành vi mà chính chủ thể thực hiện.

 

  1. ĐẶC ĐIỂM:

 

Xét về vị trí, tính chất, vai trò chức năng và bản chất pháp lý… thì các chủ thể của Luật Quốc tế có sự khác nhau, tuy nhiên chúng bao giờ cũng có chung các đặc điểm cơ bản và đặc trưng sau:

  • Là thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia quan hệ pháp Luật Quốc tế.
  • Độc lập về ý chí, không chịu sự tác động của các chủ thể khác.
  • Được hưởng quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế.
  • Có  khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể đó gây ra.
  • Không có một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế.

 

  1. QUYỀN NĂNG CHỦ THỂ:

 

Quyền năng chủ thể Luật Quốc tế là thuộc tính cơ bản, là khả năng pháp lý đặc biệt của những chủ thể được hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý trong quan hệ pháp Luật Quốc tế. Quyền năng chủ thể bao gồm hai phương diện và chỉ khi có đầy đủ hai phương diện này thì mới được coi là chủ thể của Luật Quốc tế.

 

Năng lực pháp luật quốc tế: là khả năng chủ thể của Luật Quốc tế được mang những quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế, khả năng này được ghi nhận trong  các quy phạm  pháp luật Quốc tế.

 

Năng lực hành vi quốc tế: là khả năng chủ thể được thừa nhận trong Luật Quốc tế bằng những hành vi  pháp lý độc lập của mình tự tạo ra cho bản thân quyền năng chủ thể và có khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế do các hành vi của mình gây ra.

 

 

  1. PHÂN LOẠI:

 

Hiện nay, trong quan hệ pháp Luật Quốc tế hiện đại thì chủ thể của Luật Quốc tế bao gồm:

  • Các quốc gia, đây là chủ thể cơ bản và chủ yếu của Luật Quốc tế.
  • Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, đây là chủ thể tiềm tàng của Luật Quốc tế.
  • Các tổ chức quốc tế liên chính phủ, đây là chủ thể phái sinh của Luật Quốc tế, được hình thành bởi sự hợp tác của các quốc gia trên nhiều lĩnh vực hướng đến lợi ích của các quốc gia và lợi ích chung của cộng đồng.
  • Các chủ thể đặc biệt khác.

 

Tuy nhiên trong trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, vai trò của các cá nhân, tập đoàn, công ty đa quốc gia, các hiệp hội phi chính phủ trong quan hệ quốc tế ngày càng tăng cho nên việc thừa nhận các chủ thể có sự tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế ở một số lĩnh vực nhất định, do đó có quan điểm cho rằng đây cũng là chủ thể của Luật Quốc tế.

 

CHƯƠNG II – CÁC QUAN ĐIỂM VỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ VÀ ĐÁNH GIÁ.

 

  1. QUAN ĐIỂM TRUYỀN THỐNG:

 

1.1. Chủ thể của luật quốc tế bao gồm 4 loại:

 

1.1.1. Quốc Gia:

1.1.1.1. Các yếu tố cấu thành quốc gia:

 

Quốc gia là một khái niệm địa lý và chính trị, trừu tượng về tinh thần, tình cảm và pháp lý, để chỉ về một lãnh thổ có chủ quyền, một chính quyền và những con người của các dân tộc có trên lãnh thổ đó, họ gắn kết với nhau bằng luật pháp, quyền lợi, văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo… họ cùng nhau xây dựng một tương lai chung trên vùng lãnh thổ có chủ quyền. Những yếu tố chính dẫn đến sự hình thành quốc gia:

 

Có lãnh thổ xác định: đây là yếu tố cơ bản để hình thành nên quốc gia. Nếu không có lãnh thổ thì sẽ đồng nghĩa với việc không có quốc gia. Lãnh thổ được coi là cơ sở vật chất cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia, nó cũng là ranh giới để xác định chủ quyền đối với dân cư của mình.

 

Có cộng đồng dân cư ổn định: có nghĩa là những người sinh sống ổn định (không phải là những người du canh) trên lãnh thổ một quốc gia và chịu sự quản lý theo hệ thống pháp luật của quốc gia đó.

 

Có hệ thống chính quyền: với tư cách là đại diện cho quốc gia. Chủ quyền của quốc gia phát sinh cùng với sự hình thành của quốc gia là thuộc tính không thể tách rời đối với quốc gia. Vì thế khi một quốc gia mới được thành lập thì quốc gia đó là chủ thể của quan hệ pháp lý quốc tế mà không phụ thuộc vào ý chí hoặc hành vi của bất kỳ chủ thể nào khác. Quyền năng chủ thể của nó tồn tại trên tất cả các lĩnh vực hoạt động và quá trình tồn tại của quốc gia, nó chỉ chấm dứt cùng với sự chấm dứt tồn tại trên thực tế của quốc gia đó mà thôi (VD: một quốc gia đang tồn tại gia nhập vào một quốc gia khác theo hình thức liên minh hoặc liên bang, hoặc một quốc gia đang tồn tại chia thành hai hay nhiều quốc gia độc lập).

 

Có khả năng độc lập tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế: được xuất phát từ chủ quyền quốc gia khi thực hiện chức năng đối ngoại của mình.

 

1.1.1.2. Quyền năng chủ thể luật Quốc tế của quốc gia:

 

Quyền năng chủ thể Luật Quốc tế của quốc gia bao gồm quyền và nghĩa vụ mà quốc gia có được khi tham gia vào quan hệ pháp lý quốc tế. Nội dung các quyền và nghĩa vụ quốc tế cơ bản của quốc gia được hình thành và phát triển tương ứng với sự phát triển ngày càng tiến bộ của Luật Quốc tế.

 

Các quyền quốc tế cơ bản của quốc gia bao gồm:

  • Quyền bình đẳng về chủ quyền và quyền lợi.
  • Quyền được tự vệ cá nhân hoặc tự vệ tập thể.
  • Quyền được tồn tại trong hòa bình và độc lập.
  • Quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ.
  • Quyền được tham gia vào các quy phạm của Luật Quốc tế.
  • Quyền được tự do quan hệ với các chủ thể khác của Luật Quốc tế.
  • Quyền được trở thành hội viên của tổ chức quốc tế phổ biến.

Các nghĩa vụ quốc tế cơ bản của quốc gia bao gồm:

  • Nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác.
  • Nghĩa vụ tôn trọng sự bất khả xâm phạm lãnh thổ của các quốc gia khác.
  • Nghĩa vụ không dùng sức mạnh và đe dọa dùng sức mạnh trong quan hệ quốc tế.
  • Nghĩa vụ không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.
  • Nghĩa vụ tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ quốc tế.
  • Nghĩa vụ tôn trọng những quy phạm mang tính chất mệnh lệnh và những cam kết quốc tế.

Các quốc gia có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản trong sinh hoạt quốc tế một cách độc lập theo ý chí của mình hoặc bằng cách hợp tác với các quốc gia khác.

 

1.1.2. Dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết:

 

1.1.2.1. Khái niệm:

 

Từ “ dân tộc” ở đây được hiểu là bộ phận dân tộc đại diện cho một quốc gia chứ không phải dân tộc là chủng tộc hay một sắc tộc đơn lẻ. Dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết là dân tộc mới có chủ quyền dân tộc chứ chưa có chủ quyền quốc gia. Khi tham gia vào quan hệ quốc tế và thực hiện các chức năng chính trị của mình, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết được Luật Quốc tế hiện đại thừa nhận là những chủ thể đang trong giai đoạn quá độ để tiến lên thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Tuy vậy nhưng nó vẫn là chủ thể được bình đẳng với các quốc gia khác về mặt pháp lý.

 

1.1.2.2.  Quyền năng chủ thể Luật Quốc tế của dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết:

 

Đặc trưng quyền năng chủ thể luật quốc tế của các dân tộc đang đấu tranh có những điểm riêng biệt so với các chủ thể khác của Luật Quốc tế. Mặc dù nếu xuất phát từ chỗ chủ thể pháp luật là các bên không chỉ đang tham gia mà còn là những thực thể có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật, thì các dân tộc như một thực thể mang quyền tự quyết là chủ thể Luật Quốc tế, không phụ thuộc vào việc dân tộc đó đã độc lập hay chưa. Quyền năng chủ thể Luật Quốc tế được thể hiện rõ qua các điểm sau đây:

 

– Không phụ thuộc vào sự công nhận của các quốc gia khác.

– Được pháp luật quốc tế bảo vệ và bảo đảm trong phạm vi và mức độ nhất định như việc Luật Quốc tế đang bảo vệ và bảo đảm cho quyền năng chủ thể như những quốc gia độc lập khác.

– Nó bao trùm lên toàn bộ các lĩnh vực đối nội và đối ngoại của các dân tộc đó.

 

Việc không can thiệp vào công việc nội bộ của các dân tộc đang đấu tranh nói trên cũng như không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác đã trở thành nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế hiện đại và buộc các chủ thể Luật Quốc tế phải tuân theo.

 

Chủ quyền dân tộc theo khái niệm chung nhất là một thuộc tính khách quan của dân tộc, là quyền tối cao của dân tộc trong việc quyết định số phận mình, được thể hiện trong luật quốc tế dưới hình thức là tổng hợp các quyền chủ quyền của mỗi dân tộc.

 

1.1.3. Tổ chức quốc tế liên chính phủ:

 

1.1.3.1. Khái niệm:

 

Trong thời đại ngày nay, tổ chức quốc tế giữ vai trò quan trọng trong việc hợp tác quốc tế, giải quyết các vấn đề quốc tế quan trọng, duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Tổ chức quốc tế là chủ thể của Luật Quốc tế được hiểu là tổ chức quốc tế liên chính phủ, là tổ chức do các quốc gia thành lập trên cơ sở một điều ước quốc tế nhằm thực hiện các quyền năng nhất định theo mụch đích thành lập của tổ chức đó, phù hợp với pháp luật quốc tế hiện đại.

 

1.1.3.2 Quyền năng chủ thể Luật Quốc tế của tổ chức quốc tế liên chính phủ:

 

Các tổ chức quốc tế liên chính phủ có được quyền năng chủ thể Luật Quốc tế không phải căn cứ vào “những thuộc tính tự nhiên” vốn có như quốc gia mà do thỏa thuận của những quốc gia thành viên trao cho. Các tổ chức quốc tế liên chính phủ xuất hiện vào khoảng giữa thế kỉ XIX nhưng vấn đề quyền năng chủ thể luật quốc tế của thực thể này chỉ được đặt ra trong lý luận và thực tiễn sinh hoạt quốc tế từ nửa đầu thế kỷ XX. Quyền năng chủ thể Luật Quốc tế của tổ chức quốc tế liên chính phủ dựa trên điều kiện (hiến chương, quy chế…) của mỗi tổ chức, trong đó quy định rõ phạm vi quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức này. Như vậy, các tổ chức quốc tế liên chính phủ khác nhau thì sẽ có những phạm vi quyền năng chủ thể Luật Quốc tế không giống nhau.

 

Trên đây là các chủ thể của Luật Quốc tế theo quan điểm của các nước XHCN; trong đó có Việt Nam. Nhưng không có quan điểm nào là hoàn hảo hay đúng tuyệt đối, do đó quan điểm trên cũng có những ưu nhược điểm như sau :

 

1.2. Ưu nhược điểm của quan điểm truyền thống:

 

1.2.1. Ưu điểm:

 

Đây được coi là quan điểm chính thống của các nước XHCN, chủ thể của Luật Quốc tế chỉ là Quốc gia, các Tổ chức Quốc tế Liên Chính Phủ, các Dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và các chủ thể đặc biệt khác.

 

Đưa ra được các tiêu chí để đánh giá đâu là chủ thể của Luật Quốc tế, phân định rõ ràng giữa các chủ thể, không mơ hồ hay gây nhầm lẫn.

 

Quốc gia là chủ thể cơ bản của Luật Quốc tế có một số lượng xác định, sự thay đổi về số lượng các quốc gia không lớn, mặt khác Quốc gia “không di động” giúp dễ dàng kiểm soát trong việc Quốc gia tuân thủ các Điều ước quốc tế đa phương như Hiến chương Liên Hợp Quốc, Luật biển Quốc tế…

 

Các chủ thể của Luật Quốc tế có một địa vị pháp lí ngang bằng nhau trong các Điều ước Quốc tế song phương hay đa phương mà họ kí kết hay tham gia do đó khi thực hiện các Điều ước này họ ý thức được nghĩa vụ và quyền lợi của mình.

 

Về mặt hình thức theo quan điểm này thì chủ thể Luật Quốc Tế được định nghĩa rõ ràng, có những đặc điểm nhận biết riêng biệt tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc các chủ thể này kí kết ĐƯQT hoặc tham gia ĐƯQT; ta có thể nhận biết đâu là chủ thể Luật Quốc tế khi dựa vào các định nghĩa và đặc điểm này.

 

1.2.2. Nhược điểm:

 

Không đa dạng loại chủ thể, không công nhận cá nhân và pháp nhân là chủ thể của Luật Quốc tế nên dẫn đến một số vụ việc không giải quyết được làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những chủ thể này như vụ các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc màu da cam kiện các công ty hóa chất Mỹ.

 

Xã hội luôn vận động phát triển, đang thay đổi từng ngày mà quan điểm này là một quan điểm “cứng nhắc” nên có thể nó không còn phù hợp cho xã hội ngày nay nữa.

 

  1. QUAN ĐIỂM HIỆN ĐẠI:

 

2.1. Chủ thể của Luật Quốc tế ngoài 4 loại trên còn có thêm :

 

2.1.1. Cá nhân:

 

2.1.1.1. Khái niệm cá nhân:

 

Cá nhân là chủ thể mang tính tự nhiên, là một thực thể sinh học chiếm số lượng lớn nhất trong xã hội. Cá nhân là chủ thể thường xuyên và quan trọng nhất của nhiều ngành luật như: pháp luật dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật đất đai… bởi đây là chủ thể đầu tiên và cơ bản trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia chưa công nhận cá nhân là chủ thể của Luật Quốc tế.

 

2.1.1.2. Đặc điểm chủ thể của cá nhân:

 

Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng có quyền và nghĩa vụ. Đây là những quyền do nhà nước quy định và không ai được tự hạn chế nghĩa vụ của mình cũng như quyền và nghĩa vụ của người khác. Mọi cá nhân sinh ra không phân biệt giới tính, thành phần dân tộc, giàu nghèo, tôn giáo… đều có năng lực pháp luật như nhau và được nhà nước đảm bảo thực hiện. Điều này được công nhận tại Điều 6 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948 (Ở bất kì nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật).

 

Năng lực hành vi của cá nhân là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí cũng như độc lập chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Khả năng này được xác định dựa theo độ tuổi và khả năng nhận thức của con người. Năng lực hành vi của cá nhân ở các quốc gia khác nhau và ở nhiều thời điểm khác nhau là khác nhau.

 

2.1.1.3 Quyền năng chủ thể luật quốc tế của cá nhân:

 

Tính chủ thể pháp lý của cá nhân được thể hiện ở chỗ cá nhân cũng gánh vác trách nhiệm và nghĩa vụ cũng như hưởng các quyền lợi mà Luật Quốc tế quy định, bởi suy cho cùng hành vi của từng cá nhân trong một quốc gia là cách thức quốc gia đó thực hiện quyền và nghĩa vụ quốc tế. Ngoài ra, để pháp điển hóa các quy định của pháp luật quốc tế, các quốc gia phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tạo khung pháp lí cho việc áp dụng các quy định đó trong đời sống xã hội. Như vậy, việc này đã gián tiếp công nhận các cá nhân của quốc gia đó, chính là những người trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ quốc tế của quốc gia mình.

 

Mặt khác, trong rất nhiều văn bản pháp luật quốc tế, cá nhân được đem ra xem xét như là một chủ thể của quan hệ pháp luật này và phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình.Theo Điều 1 Quy chế Tòa án hình sự quốc tế thì Tòa án có quyền xét xử đối với những cá nhân về những tội phạm hình sự quốc tế nguy hiểm nhất được quy định trong Quy chế. Cũng theo Điều 5 Quy chế này thì Tòa án sẽ xét xử đối với hầu hết những tội phạm nguy hiểm nhất do cá nhân thực hiện, đó là tội diệt chủng, tội ác chống loài người, tội ác chiến tranh và tội gây chiến tranh xâm lược. Điều lệ của Tòa án binh 1945 ở Nurnberge và Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948 cũng thừa nhận như trên.

 

2.1.2. Pháp nhân (công ty xuyên quốc gia):

 

2.1.2.1 Khái niệm:

 

Pháp nhân ở đây được hiểu là các công ty quốc tế, công ty đa quốc gia và các công ty xuyên quốc gia. Xét về mặt tài chính hay kinh tế, các khái niệm này có sự khác nhau rõ rệt. Tuy nhiên, khi đặt chúng trong quan hệ quốc tế thì việc hoạt động trên quy mô quốc tế cho phép ta dùng thuật ngữ công ty xuyên quốc gia để gọi chung cho loại  pháp nhân này. Vì vậy, từ đây về sau xin được sử dụng cụm từ công ty xuyên quốc gia với tư cách là chủ thể của Luật Quốc tế. Công ty xuyên quốc là khái niệm để chỉ những tổ chức kinh doanh có quyền sở hữu sản xuất, hoạt đông và cung cấp dịch vụ trên địa bàn nhiều quốc gia. Các công ty này thường có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia và có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và nền kinh tế toàn cầu. Các công ty này cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa.

 

2.1.2.2. Đặc điểm chủ thể của công ty xuyên quốc gia:

 

Với tư cách là pháp nhân, năng lực chủ thể của công ty xuyên quốc gia phát sinh và kết thúc đồng thời với thời điểm công ty này thành lập và chấm dứt. Các công ty xuyên quốc gia hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế và thường có mục đích lợi nhuận. Chúng  thường có sự gắn bó đáng kể với chính trị. Nếu như trong quá khứ, các công ty xuyên quốc gia có quan hệ mật thiết với chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc thì trong thời hiện đại, việc các công ty xuyên quốc gia can thiệp vào công việc nội bộ của các nước đã không còn xa lạ. Ngược lại, các công ty xuyên quốc gia lại khá độc lập với quốc gia do chúng có sự chủ động về tổ chức, tài lực và nhân lực. Các công ty xuyên quốc gia được tự do định đoạt quy mô, đối tượng và phương án thực hiện hoạt động kinh doanh mà ít có sự can thiệp của nhà nước. Sự độc lập còn được tăng lên bởi những quy định pháp lý của nhà nước và thế lực tài chính khổng lồ.

 

2.1.2.3. Quyền năng chủ thể luật quốc tế của các công ty xuyên quốc gia:

 

Các công ty xuyên quốc gia, đang ngày càng chiếm được vị thế vững chắc trong quan hệ quốc tế. Không thể phủ nhận những ảnh hưởng của chúng trong việc kiến tạo các quan hệ xuyên quốc gia và khả năng gây ảnh hưởng cho nền kinh tế quốc gia hay thế giới. Thông qua quá trình hoạt động và mạng lưới kinh doanh quốc tế của mình, các công ty xuyên quốc gia đã mở rộng quan hệ quốc tế, phát triển quan hệ kinh tế quốc tế, làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy toàn cầu hóa, hình thành luật lệ trong quan hệ quốc tế, chuyển tải các giá trị xuyên biên giới và củng cố hệ thống quốc tế, thúc đẩy xu hướng thống nhất thế giới. Việc các công ty này hợp tác với các quốc gia hay các tổ chức khác để thực hiện các dự án kinh doanh đã không còn quá mới mẻ. Như vậy, việc tiếp tục lờ đi các công ty xuyên gia, đặt chúng nằm ngoài pháp luật quốc tế liệu có còn là sự lựa chọn khôn ngoan nữa không? Và nếu không công nhận chúng, thì văn bản pháp luật nào sẽ điều chỉnh quan hệ giữa các công ty này với quốc gia hay các chủ thể của luật quốc tế khác khi nguồn gốc quốc tế là một yếu tố cơ bản của loại hình công ty này.

 

 

2.1.3. Các tổ chức phi chính phủ:

 

2.1.3.1 Khái niệm:

 

Tổ chức phi chính phủ là thuật ngữ dùng để chỉ tổ chức, hiệp hội, ủy ban văn hóa xã hội, hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác theo quy định của pháp luật, được thành lập hợp pháp và tự nguyện, không phụ thuộc vào Nhà nước và không hoạt động vì mục đích lợi nhuận.

 

2.1.3.2 Đặc điểm chủ thể của tổ chức phi chính phủ:

 

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của tổ chức phi chính phủ khá tương đồng với công ty xuyên quốc gia bởi chúng đều có tư cách pháp nhân. Năng lực chủ thể của các tổ chức này phát sinh đồng thời và tồn tại tương ứng cùng với thời điểm thành lập và chấm dứt nó. Năng lực chủ thể của tổ chức phi chính phủ được quyết định bởi mục đích hoạt động của tổ chức đó. Các tổ chức phi chính phủ ra đời nhằm mục đích khác nhau, thông thường nhằm đẩy mạnh các mục tiêu chính trị hay xã hội như bảo vệ môi trường thiên nhiên, khuyến khích việc tôn trọng quyền con người, cải thiện mức phúc lợi cho những người bị thiệt thòi, hoặc đại diện cho một nghị trình đoàn thể. Có rất nhiều tổ chức như vậy và mục tiêu của chúng bao trùm nhiều khía cạnh chính trị, xã hội, triết lý và nhân văn.

 

Các tổ chức phi chính phủ trên thế giới hiện nay chủ yếu nằm trong 3 dạng sau :

 

–   Tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc gia: là tổ chức mà thành viên đều mang một quốc tịch. Phạm vi hoạt động là trong cộng đồng một quốc gia.

–   Tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc tế: là tổ chức mà thành viên của nó mang nhiều quốc tịch sáng lập ra. Phạm vi hoạt động của tổ chức này rộng khắp trên thế giới nhưng phải tuân theo luật pháp của quốc gia nhận hỗ trợ.

–   Tổ chức phi chính phủ mang tính chất chính phủ: là một tổ chức do chính phủ lập ra hoặc là một tổ chức phi chính phủ dựa hoàn toàn vào nguồn ngân sách của chính phủ.

 

Như vậy, năng lực chủ thể của các tổ chức phi chính phủ sẽ do quốc gia nơi nó được hình thành hoặc hoạt động công nhận.

 

2.1.3.3. Quyền năng chủ thể luật quốc tế của các tổ chức phi chính phủ:

 

Ngày nay, tiếng nói của các tổ chức phi chính phủ đối với các vấn đề thuộc mối quan tâm của cộng đồng quốc tế càng được các nước và các tổ chức quốc tế lớn (như Liên Hiệp quốc) quan tâm. Hàng năm, Ngân hàng thế giới (WB) đều tổ chức các hội nghị tư vấn với các tổ chức phi chính phủ. Còn với Liện Hiệp quốc, Theo Điều 71 Hiến chương Liên Hiệp quốc, Hội đồng Kinh tế và Xã hội có thể ký kết các hiệp ước phù hợp để tư vấn cho các tổ chức phi chính phủ có liên hệ với các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình. Các hiệp ước đó có thể được ký kết với các tổ chức quốc tế và cả các tổ chức quốc gia, nếu thích hợp, sau khi đã tham vấn Thành viên hữu quan của Liên Hiệp Quốc. Như vậy, ở phương diện nào đó Liên Hiệp quốc đã có quan hệ cũng như đã tác động đến hoạt động của các tổ chức này thông qua các hiệp ước. Hơn nữa, chương 27 của chương trình nghị sự 21 về vấn đề phát triển bền vững, đã công nhận vai trò to lớn của các tổ chức này, từ đó sắp xếp lại vai trò tư vấn giữa Liên Hiệp quốc với các tổ chức phi chính phủ.

 

Chương 27 đã đề cập đến một số vấn đề như sau:

 

Điều 1: các tổ chức phi chính phủ, nên được công nhận là đối tác của chương trình nghị sự 21.

 

Điều 3: các tổ chức phi chính phủ, bao gồm cả các tổ chức phi lợi nhuận đại diện cho các nhóm tham gia vào chương trình nghị sự, phải là những tổ chức đã tồn tại lâu bền và có kinh nghiệm phong phú, cũng như chuyên môn và năng lực trong các lĩnh vực; sẽ được tham gia vào việc thực hiện và đánh giá môi trường và sự phát triển bền vững của xã hội. Cộng đồng của các tổ chức phi chính phủ sẽ cung cấp một mạng lưới toàn cầu, phục vụ cho việc khai thác và tăng cường hỗ trợ trong nỗ lực đạt được mục tiêu chung.

 

Việc công nhận các tổ chức phi chính phủ trong hoạt động xây dựng và phát triển một thế giới bền vững đã chứng tỏ vị trí của các tổ chức này trong các mối quan hệ quốc tế. Từ đó cho thấy, các tổ chức phi chính phủ không còn giữ vai trò là người được tư vấn nữa mà là một chủ thể quan trọng trong việc hiện thực hóa các chính sách của Liên Hiệp quốc.

 

2.2. Ưu nhược điểm của quan điểm hiện đại:

 

Như đã phân tích ở trên, việc đáp ứng đủ các tiêu chí là chủ thể Luật Quốc tế: cá nhân, pháp nhân, tổ chức phi chính phủ có khả năng đóng vai trò của một chủ thể quan hệ quốc tế. Các chủ thể này đang tác động ngày một nhiều tới nền kinh tế, văn hóa, chính trị quốc tế. Nhưng việc công nhận một chủ thể là chủ thể của Luật Quốc tế sẽ làm phát sinh rất nhiều quan hệ phức tạp cần giải quyết trên thực tế vì thế việc có công nhân cá nhân, pháp nhân, tổ chức phi chính phủ có phải là chủ thể Luật Quốc tế hay không phải dựa trên những tác động tích cực hay tiêu cực của từng chủ thể trên đến quan hệ quốc tế trên thực tiễn. Sau đây chúng tôi đưa ra những ưu cũng như nhược điểm mà theo chúng tôi nếu cá nhân, pháp nhân, tổ chức phi chính phủ được công nhận là chủ thể Luật Quốc tế trong tương lai sẽ xuất hiện.

 

2.2.1. Cá nhân:

 

Nếu công nhận cá nhân là chủ thể Luật Quốc tế đồng nghĩa sẽ thể chế những quy định về quyền con người được ghi nhân trong Hiến chương Liên hợp quốc là tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Khi đó, cá nhân không những có quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế được nảy sinh từ điều Luật Quốc tế mà còn có quyền và khả năng yêu cầu quốc gia thực hiện các quyền con người và trong trường hợp cần thiết thỉnh cầu lên các Toà án Quốc tế để đảm bảo cho các quyền đó. Và lẽ tất nhiên những viện dẫn vào nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ của nước khác để cản trở sự điều tiết của Luật Quốc tế đối với vấn đề quyền con người sẽ không còn tồn tại nhiều như hiện nay. Nhưng đứng ở góc độ quốc gia thì sẽ phát sinh hiện tượng dựa vào con bài nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền và sẽ lại vi phạm nguyên tắc chủ quyền quốc gia.

 

Mặt khác việc cá nhân ngày càng tích cực tham gia vào hoạt động trên trường quốc tế làm cho các hoạt động này phức tạp hơn, khó điều khiển hơn, như một số ý kiến cho rằng “thật là vô ích nếu như xếp cá nhân vào hàng ngũ những chủ thể của Luật Quốc tế, bởi vì làm như vậy là vô hình chung công nhận một số quyền của cá nhân mà trên thực tế không có, phủ nhận tính tất yếu của sự khác biệt giữa cá nhân và các chủ thể khác trong luật quốc tế”.[1]

 

Thiết nghĩ ở đây nên có một cách nhìn đúng đắn và những việc làm cụ thể để quyền con người được thực hiện mà chủ quyền của quốc gia vẫn được toàn vẹn. Và cũng cần nhấn mạnh rằng chủ yếu không phải là tuyên bố một cách hình thức về tính chủ thể pháp lý cá nhân, về quyền con người mà tìm các biện pháp hữu hiệu để cho quyền con người được đảm bảo trong mối tương hỗ giữa nội Luật và Công pháp Quốc tế, trong sự hợp tác quốc tế giữa các tổ chức, quốc gia với nhau.

 

2.2.2. Pháp nhân và các tổ chức phi chính phủ:

 

Từ những phân tích trên ta thấy pháp nhân tổ chức phi chính phủ có tác động  đáng kể trong quan hệ quốc tế. Và đó là tác động có tính hai mặt. Thông qua quá trình hoạt động và mạng lưới quốc tế của mình, các pháp nhân, tổ chức phi chính phủ góp phần mở rộng quan hệ quốc tế, phát triển quan hệ kinh tế, văn hóa quốc tế, làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau, thúc đẩy toàn cầu hoá, hình thành Luật lệ trong quan hệ quốc tế, chuyển tải các giá trị xuyên biên giới và củng cố hệ thống quốc tế. Các đóng góp tích cực nhất của pháp nhân, tổ chức phi chính phủ là phát triển kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho hợp tác và hội nhập quốc tế, thúc đẩy xu hướng thống nhất của thế giới.

 

Ngược lại, pháp nhân, các tổ chức phi chính phủ cũng gây ra những tác động tiêu cực đối với quan hệ quốc tế. Pháp nhân, tổ chức phi chính phủ góp phần tạo ra hình thức thống trị và lệ thuộc mới trong quan hệ quốc tế. Trong tác phẩm “Chủ nghĩa Đế quốc – giai đoạn tột cùng của Chủ nghĩa Tư bản”, Lênin đã chỉ ra và phân tích những hậu quả to lớn do các pháp nhân độc quyền gây ra cho quốc gia và quan hệ. Một số lý luận khác như Lý thuyết về sự phụ thuộc của Raul Prebish, Lý thuyết về hệ thống thế giới của Immanuel Wallerstein cũng chỉ ra tác động tiêu cực của pháp nhân, tổ chức phi chính phủ đối với sự phân hoá thế giới.

 

Nắm công cụ tài chính và công nghệ trong tay, các pháp nhân, tổ chức phi chính phủ đang tác động lên Luật lệ Quốc tế và chi phối sự phân công lao động quốc tế mới có lợi cho chúng. Trong đó, các nước đang phát triển có nguy cơ ngày càng phụ thuộc vào các nước công nghiệp phát triển khi trở thành nơi cung cấp nguyên liệu, lao động và sản phẩm sơ chế giá rẻ cũng như nơi tiêu thụ hàng hoá giá cao của các pháp nhân. Các pháp nhân, tổ chức phi chính phủ được cho rằng đang khoét sâu thêm mâu thuẫn Bắc-Nam khi duy trì sự bóc lột các nước đang phát triển, chèn ép nền sản xuất nội địa, duy trì bất bình đẳng về cơ hội và thu nhập, trói buộc bằng nợ nần, chuyển giao công nghệ lạc hậu, thủ phạm tàn phá tài nguyên và môi trường, gây ra đụng độ giá trị Văn hoá Phương Tây và bản địa, tiếp tục sự can thiệp chính trị vào công việc nội bộ các nước dưới nhiều hình thức khác nhau… Nói chung, pháp nhân, các tổ chức phi chính phủ vẫn tiếp tục gây lo ngại cho các nước đang phát triển và hoàn toàn có thể tạo ra những vấn đề lớn trong quan hệ quốc tế bởi khả năng can thiệp chính trị và lũng đoạn kinh tế của chúng. Vì thế, đã có những cố gắng trong quan hệ quốc tế nhằm ngăn chặn các khả năng này[2]. Các tác động hai mặt của pháp nhân, tổ chức phi chính phủ đối với quan hệ quốc tế là một thực tế. Và đó cũng là cơ sở để khẳng định thêm tư cách chủ thể quan hệ quốc tế của pháp nhân, tổ chức phi chính phủ.

 

  1. ĐÁNH GIÁ:

 

Như ta đã biết, các nước TBCN trước nay vẫn xem Tư pháp Quốc tế là một bộ phận của Luật Quốc tế cùng với Công pháp Quốc tế. Trong đó, Tư pháp Quốc tế điều chỉnh các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài. Quan hệ dân sự ở đây tùy thuộc vào quan điểm lập pháp của mỗi nước mà có thể chỉ là quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản hoặc còn có thêm quan hệ hôn nhân gia đình, tố tụng dân sự, lao động, kinh doanh – thương mại… Yếu tố nước ngoài có thể là chủ thể tham gia quan hệ là cá nhân, pháp nhân  nước ngoài hoặc có khách thể là tài sản, công việc ở nước ngoài hoặc có sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi chấm dứt các quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài. Điểm đáng chú ý là chủ thể của Tư pháp Quốc tế có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc bao gồm cả Nhà nước nước ngoài (ví dụ như quan hệ thừa kế tài sản giữa công dân Việt Nam và Nhà nước nước ngoài là quan hệ mang tính chất dân sự thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế). Như vậy có thể thấy rằng trong Tư pháp Quốc tế, một cá nhân hoàn toàn có thể ngang hàng, bình đẳng về địa vị pháp lý với Nhà nước và Nhà nước hoàn toàn có thể đối mặt với một đơn kiện từ cá nhân.

 

Mặc khác, Công pháp Quốc tế điều chỉnh các quan hệ quốc tế phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể khác của Công pháp Quốc tế (không bao gồm cá nhân, pháp nhân) trong mọi lĩnh vực mà chủ yếu là các quan hệ chính trị, liên quan đến chính trị. Nó không trực tiếp điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa cá nhân, tổ chức nước này với cá nhân tổ chức nước khác và kể cả với Nhà nước. Những hành vi vi phạm Công pháp quốc tế của cá nhân, tổ chức thì quốc gia có công dân, tổ chức bị vi phạm có thể giải quyết vi phạm này thông qua con đường ngoại giao.

 

Như vậy, trong trường hợp này thì cá nhân và pháp nhân vẫn được coi là chủ thể của Luật Quốc tế.

 

Trong khi đó, quan điểm của các nước XHCN trước đây không công nhận cá nhân, pháp nhân là chủ thể của Luật Quốc tế, chỉ xem Tư pháp Quốc tế thuộc Luật quốc gia và Luật Quốc tế chỉ gồm có Công pháp Quốc tế. Việt Nam cũng theo quan điểm này. Theo đó, cá nhân, pháp nhân không được coi là chủ thể của Công pháp Quốc tế và kéo theo đương nhiên là cũng không được coi là chủ thể của Luật Quốc tế.

 

Tóm lại, có 2 vấn đề được đặt ra ở đây: Một là vị trí của Tư pháp Quốc tế trong hệ thống pháp luật. Nó có nên được coi là một nhánh của Luật Quốc tế hay không? Bởi vì nếu ta xem Tư pháp quốc tế là một nhánh của Luật Quốc tế thì vấn đề chủ thể  Luật Quốc tế có phải là cá nhân và pháp nhân là không cần bàn cãi;hai là trong trường hợp không xem Tư pháp Quốc tế là một nhánh của Luật Quốc tế thì có nên xem cá nhân và pháp nhân là chủ thể của luật quốc tế (hay chính là Công pháp Quốc tế) hay không? (pháp nhân mà đặc biệt là các công ty đa quốc gia, liên quốc gia và các tổ chức quốc tế phi Chính phủ vì đây là những chủ thể có tầm ảnh hưởng lớn, có khả năng chi phối cao đối với đời sống kinh tế, chính trị của các quốc gia). Dưới đây, chúng ta sẽ đi xem xét cụ thể từng vấn đề một.

 

3.1. Vị trí của Tư pháp Quốc tế trong hệ thống pháp luật:

 

Ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới đều thừa nhận rằng bên cạnh hệ thống pháp luật quốc gia thì còn tồn tại hệ thống pháp luật quốc tế và trên thực tế chỉ tồn tại 2 hệ thống pháp luật này. Vì vậy mà Tư pháp Quốc tế nếu không thuộc Luật quốc gia thì chỉ có thể thuộc Luật Quốc tế và ngược lại. Đây là vấn đề quan điểm của mỗi nước, vì vậy có nhiều quan điểm trái ngược nhau về vấn đề này. Theo nhóm chúng tôi thì cần phải dựa trên những đánh giá toàn diện về tất cả các nội dung như nguồn Luật, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh, chủ thể, biện pháp chế tài để có thể có một cái nhìn chính xác về vị trí của Tư pháp Quốc tế trong hệ thống pháp luật.

 

Như đã nói, tùy thuộc vào quan điểm của mỗi quốc gia cho nên nếu xem Tư pháp Quốc tế là bộ phận của Luật Quốc tế thì cá nhân và pháp nhân cũng là chủ thể của Luật Quốc tế. Trong phạm vi của đề tài đặt ra, chúng tôi không đi sâu về vấn đề vị trí của Tư pháp Quốc tế nhưng chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng đây cũng là một trong các lý do chủ yếu dẫn đến sự khác biệt về quan điểm của các quốc gia trên thế giới về việc công nhận hay không công nhận cá nhân, pháp nhân là chủ thể của Luật Quốc tế. Một số quốc gia cho rằng cá nhân, pháp nhân là chủ thể của Luật Quốc tế vì quốc gia đó đang hiểu khái niệm Luật Quốc tế theo nghĩa rộng hơn, tức là bao hàm cả Công và Tư pháp Quốc tế.

 

3.2. Có nên xem cá nhân, pháp nhân là chủ thể của Công pháp Quốc tế (cũng chính là của Luật Quốc tế)?

 

Sau khi xem xét về ưu,nhược điểm của mỗi quan điểm (như đã trình bày ở phần các quan điểm) và trên các cơ sở về lý luận, pháp lý, thực tiễn về Luật Quốc tế ở Việt Nam hiện nay, nhóm chúng tôi  nghiêng về quan điểm  không  nên xem cá nhân và pháp nhân là chủ thể của Công pháp Quốc tế. Sau đây là những điểm cơ bản mà chúng tôi chứng minh cho quan điểm của mình:

 

3.2.1. Về đối tượng điều chỉnh của Luật Quốc tế:

 

Hiện nay, Luật Quốc tế điều chỉnh các quan hệ quốc tế phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế trên nhiều lĩnh vực, nhưng chủ yếu và quan trọng nhất vẫn là chính trị. Thật vậy, xu hướng tất yếu hiện nay đó là tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: từ kinh tế, văn hóa đến giáo dục, y tế,  xây dựng cơ sở hạ tầng… Nhưng ẩn sau hầu hết các quan hệ này đều ít nhiều có liên quan đến chính trị. Trong khi đó, các quan hệ mà cá nhân, pháp nhân tham gia lại chủ yếu là các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) – phi chính trị.

 

Vì thế có thể suy ra rằng các quan hệ xã hội mà cá nhân, pháp nhân tham gia với các quan hệ mà Luật Quốc tế điều chỉnh là không thống nhất với nhau.

 

3.2.2. Về các đặc điểm cơ bản để xác định một thực thể là chủ thể của Luật Quốc tế:

 

Ta có khái niệm về chủ thể của Luật Quốc tế: “chủ thể của Luật Quốc tế là những thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế một cách độc lập, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quốc tế cũng như thực hiện một cách độc lập các quyền và nghĩa vụ quốc tế đó trên cơ sở các quy phạm Luật Quốc tế”.

 

Theo như khái niệm trên, ta có thể rút ra được các dấu hiệu cơ bản của chủ thể Luật Quốc tế và theo quan điểm của nhóm chúng tôi thì cá nhân, pháp nhân không đáp ứng được các dấu hiệu cơ bản sau đây để trở thảnh chủ thể của Luật Quốc tế:

 

Thứ nhất, thực thể đang và có khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế.

 

Một số các tác giả đã viện dẫn các Điều ước Quốc tế về quyền con người (ví dụ như Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948), về vị thế pháp lý của một số nhóm cá nhân trong Luật Quốc tế (Công ước Quốc tế về quyền của người tị nạn 1951), hay quyền của cá nhân được thỉnh cầu lên các Tòa án Quốc tế (Điều 190 Công ước Quốc tế về Luật Biển 1982 cá nhân có quyền được đưa đơn kiện nhà nước tham gia Công ước và đòi hỏi được xét xử tại Toà án Quốc tế về biển), khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế ( ví dụ như Điều lệ Tòa án binh quốc tế 1945, Công ước Quốc tế về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948…).

 

Thực tế cho thấy rằng cá nhân, pháp nhân chỉ có khả năng tham gia “rất hạn hữu” vào một số các quan hệ quốc tế xác định hoặc tham gia các quan hệ này một cách gián tiếp thông qua Nhà nước. Điều này xuất phát từ những quyền tự nhiên của con người, vị thế của công dân, pháp nhân của quốc gia.

 

Thứ hai, chủ thể Luật Quốc tế có ý chí độc lập, không phụ thuộc vào các chủ thể khác.

 

Hiện nay, khi tham gia vào tất cả các quan hệ của đời sống xã hội thì cá nhân, pháp nhân vẫn chịu một sự chi phối rất lớn từ ý chí, từ quyền lực chính trị của chủ thể đặc biệt đó là Nhà nước. Một mặt, cá nhân và pháp nhân không được làm trái, đi ngược lại các quy định của pháp luật quốc gia. Đồng thời hai loại chủ thể này không thể tự mình tham gia vào một số các quan hệ quốc tế mà phải thông qua nhà nước.

 

Thứ ba, được hưởng quyền và các nghĩa vụ pháp lý quốc tế và gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi của mình gây ra.

 

Một số nhà luật học đã dựa vào những căn cứ như trên đã đề cập, họ chứng minh rằng cá nhân vẫn được hưởng quyền và các nghĩa vụ cũng như gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế như các chủ thể khác của luật quốc tế. Tuy nhiên, theo quan điểm của nhóm chúng tôi thì dù các Điều ước Quốc tế trên là hướng tới con người, hướng tới cá nhân nhưng chúng tôi đồng ý với quan điểm của B.M Shurshaloff  rằng các Điều ước Quốc tế được ký kết giữa các quốc gia với nhau, quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các Điều ước này là dành cho nhà nước và nhà nước có phải đảm bảo cho cá nhân có những quyền trên, vì bản thân những Điều ước đó không thể nào được thực thi nếu không được nhà nước cụ thể hóa trong Luật quốc gia.

 

Thứ tư, không một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế, trên nó không tồn tại quyền lực chính trị nào chi phối hoạt động của nó và khi tham gia vào các quan hệ quốc tế thì các chủ thể có vị trí độc lập, bình đẳng với nhau.

 

Thực tiễn ta thấy rằng, trong mối tương quan về địa vị pháp lý trong Luật quốc gia thì nhà nước luôn có quyền tài phán đối với công dân, pháp nhân nước mình, phần lớn các quan hệ phát sinh giữa cá nhân, pháp nhân với nhà nước đều được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy, mệnh lệnh phục tùng. Mặt khác, chúng vẫn có thể bị tài phán bởi các cơ quan quốc tế khác (ví dụ như Tòa án binh Quốc tế) theo Luật Quốc tế. Vì vậy, khi tham gia vào các hoạt động, cá nhân pháp nhân luôn bị chi phối ảnh hưởng bởi quyền lực chính trị và khi tham gia vào quan hệ với các chủ thể khác của Luật Quốc tế thì chúng khó có thể có được vị trí độc lập và bình đẳng.

 

3.2.3. Về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế :

 

Nội dung các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện nay chủ yếu là tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chất điều chỉnh các quan hệ của các quốc gia xuất phát từ nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình.

 

Các nguyên tắc được coi như một cam kết, đã có sự tán thành của các nước hội viên và bắt buộc các nước phải tuân thủ theo.

 

Tóm lại :

 

Luật Quốc tế cũng như Luật quốc gia đều có sự phát triển, thay đổi theo quá trình phát triển khách quan của xã hội. Vì vậy với sự phát triển và hội nhập toàn cầu như hiện nay thì mở rộng khái niệm “Luật Quốc tế” là điều cần thiết nhưng cần có sự nhìn nhận phù hợp với khoa học pháp lý của từng chế độ, từng hình thức chính trị của mỗi quốc gia. Mặc dù các quan điểm vẫn chưa thống nhất về việc có nên công nhận Tư pháp Quốc tế với chủ thể cơ bản là các cá nhân, pháp nhân vào thành một nhánh nằm song  song với Luật Quốc tế để hoàn thiện Luật Quốc tế như đúng nghĩa của nó hay là công nhận nó thuộc hệ thống pháp luật quốc gia như hiện nay nhưng Tư pháp Quốc tế vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế nói riêng và xã hội nói chung.

 

Mặc khác, việc có nên đưa cá nhân, pháp nhân vào là chủ thể của Công pháp quốc tế hay không cũng đang còn là vấn đề gây tranh cãi lớn. Dù không ủng hộ quan điểm này nhưng chúng tôi vẫn mong muốn rằng trong tương lai cá nhân và pháp nhân có thể tham gia nhiều hơn nữa vào đời sống quốc tế.

 

CHƯƠNG III – THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUAN ĐIỂM Ở VIỆT NAM.

 

  1. THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM:

 

Những tổ chức được coi là chủ thể của Luật Quốc tế tham gia vào quan hệ quốc tế có những quyền và nghĩa vụ pháp lí quốc tế nhất định, những mối quan hệ đó sẽ được điều chỉnh bởi Luật Quốc tế. Các quốc gia là chủ thể cơ bản của Luật Quốc tế. Các dân tộc đang đấu tranh nhằm thực hiện quyền tự quyết dân tộc là chủ thể tiềm tàng, bình đẳng trong quan hệ Luật Quốc tế. Các dân tộc đó dần dần chuyển thành chủ thể cơ bản của Luật Quốc tế, trở thành các quốc gia, vì các dân tộc ấy thực hiện quyền tự quyết sẽ dẫn đến hình thành quốc gia độc lập. Các tổ chức quốc tế liên chính phủ là chủ thể đặc biệt của Luật Quốc tế. Đó là các tổ chức do các quốc gia thoả thuận thành lập ra để thực hiện những mục đích nhất định. Năng lực pháp luật của các tổ chức liên quốc gia được quy định trong điều lệ và phù hợp với mục đích thành lập của nó.

 

Ở Việt Nam, chủ thể của Luật Quốc tế vẫn theo quan điểm truyền thống. Nghĩa là chỉ công nhận những chủ thể sau là chủ thể của quan hệ pháp luật quốc tế:

  • Các quốc gia.
  • Các dân tộc đang đấu tranh nhằm thực hiện quyền dân chủ tự quyết.
  • Tổ chức quốc tế liên chính phủ.
  • Những chủ thể đặc biệt khác.

 

Tuy nhiên, do đặc thù của xu thế hợp tác và phát triển kinh tế trong thời đại toàn cầu như hiện nay, vai trò của các cá nhân, các tập đoàn, các công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia, các hiệp hội quốc tế phi chính phủ trong các quan hệ quốc tế ngày càng gia tăng. Dẫn đến khả năng thừa nhận có sự tham gia của các thực thể này vào một số lĩnh vực nhất định của quan hệ pháp luật quốc tế, ví dụ trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhân đạo, nhân quyền, môi trường quốc tế…

 

Trong bài viết “Cá nhân – chủ thể của Luật Quốc tế?” [3], tác giả Nguyễn Đức Lam đã nói: chúng ta có thể tạm thời cho rằng cá nhân là một trong những chủ thể của Luật Quốc tế. Cá nhân không những có quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế được nảy sinh từ điều Luật Quốc tế mà còn có quyền và khả năng yêu cầu quốc gia thực hiện các quyền con người và trong trường hợp cần thiết thỉnh cầu lên các Toà án Quốc tế để đảm bảo cho các quyền đó….

 

Trong bài viết: công ty xuyên quốc gia – chủ thể của quan hệ quốc tế trên tạp chí khoa học, ĐHQG Hà Nội, ngày 28/07/2008, tác giả Hoàng Khắc Nam [4] cũng cho rằng: Bên cạnh chủ thể quốc gia, sự nổi lên của các chủ thể phi quốc gia là một trong những nhân tố tạo nên những thay đổi ấn tượng của quan hệ quốc tế thời hiện đại. Công ty Xuyên quốc gia là một trong những chủ thể phi quốc gia quan trọng nhất, đó là những tổ chức kinh doanh có quyền sỡ hữu hoặc hoạt động kinh doanh diễn ra trên địa bàn nhiều quốc gia. Từ những năm 1980, nhất là sau chiến tranh Lạnh, các công ty xuyên quốc gia phát triển rất mạnh và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc tế.(…) các công ty xuyên quốc gia có khả năng đóng vai trò của một chủ thể quan hệ quốc tế. Do có tính độc lập tương đối với quốc gia nên các công ty xuyên quốc gia có thể được coi là chủ thể phi quốc gia…

 

Như vậy, ở Việt Nam hiện nay, các quan điểm coi cá nhân và các công ty xuyên quốc gia là chủ thể của quan hệ pháp luật quốc tế mặc dù chưa được bàn nhiều, nhưng đã được đề cập đến trong một số bài viết cụ thể. Tuy nhiên, để nghiên cứu vấn đề này, cần phải xem xét mọi khía cạnh, mọi góc độ của quan điểm cho rằng cá nhân, các công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia là chủ thể của Luật Quốc tế. Bởi vì đã là chủ thể của quan hệ pháp luật quốc tế thì sẽ có quyền năng chủ thể. Quyền năng chủ thể của tổ chức quốc tế không phải dựa trên cơ sở của “những thuộc tính tự nhiên” như các loại chủ thể có chủ quyền. Mà nó dựa trên thực chất của quyền năng chủ thể Luật Quốc tế, phát sinh và tồn tại trên cơ sở các văn bản pháp lý quốc tế thiết lập nên tổ chức quốc tế đó. Do đó, một số tác giả vẫn không đồng tình với quan điểm coi các thực thể này là chủ thể của Luật Quốc tế.

 

  1. VÍ DỤ ĐIỂN HÌNH:

Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam

 

Tranh chấp về chủ quyền biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra ngày càng gay gắt. Như chúng ta đã biết, Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974 và mới đây, bằng hành động ban hành cấm đánh bắt cá từ ngày 16/5/2008 đến 1/8/2008 thì Trung Quốc như càng muốn khẳng định chủ quyền của  mình đối với quần đảo có đầy lợi thế về mặt kinh tế lẫn mặt chính trị này.

 

Chính vì vậy, 21/6/2009 lực lượng tuần tra Trung Quốc đã bắt ba tàu cá gồm 37 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi Việt Nam, khi họ đang hành nghề đánh cá bình thường tại khu vực vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Sau đó, 1/8/2009, 13 ngư dân Việt Nam khác vào tránh bão tại Hoàng Sa cũng bị Trung Quốc bắt giữ.

 

Ngày 21/3/2010, một thuyền cá của ông Tiêu Viết Là bị Trung Quốc bắt giữ khi đang đánh bắt ở gần quần đảo Hoàng Sa. Phía Trung Quốc đã buộc ông Là gọi điện về nhà, đòi gửi tiền chuộc thì mới trả tự do cho ông và các thuyền viên. Họ cũng giải thích ông bị bắt và phải nộp phạt vì “xâm phạm lãnh hải” Trung Quốc.

 

Gia đình ông Tiêu Viết Là thì cho hay đây là lần thứ hai tàu của ông bị bắt khi hoạt động tại khu vực gần Hoàng Sa. Được biết số tiền chuộc Trung Quốc đòi hỏi là khoảng 180 triệu đồng, được cho là “quá lớn” so với hoàn cảnh tài chính eo hẹp của gia đình ông. Chính quyền sở tại và cơ quan biên phòng đã có báo cáo, kiến nghị lên Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu can thiệp.

 

Quan điểm chính thức của phía Việt Nam là không nộp tiền phạt, vì điều đ́ó đồng nghĩa với thừa nhận chủ quyền và quyền chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng tranh chấp ở Biển Đông. [5]

 

Các cuộc tranh chấp như thế này thì những ngư dân Việt Nam không thể tự mình giải quyết cũng như tự đứng ra để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình được mà đều phải thông qua các cơ quan có thẩm quyền (thường là Bộ ngoại giao) giải quyết bằng con đường ngoại giao. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, trong các vụ tranh chấp về biển – tranh chấp quốc tế, thì mặc dù là người trực tiếp liên quan đến vụ việc nhưng bản thân cá nhân các ngư dân không thể tham gia vào quan hệ pháp lý quốc tế này cũng như không thể có ý chí độc lập mà phải phụ thuộc vào các chủ thể khác. Mà những điều kiện trên đều là những dấu hiệu cơ bản , đặc trưng của chủ thể của luật quốc tế. Vì vậy, qua ví dụ trên phần nào chúng ta đã biết được cá nhân khó có thể trở thành chủ thể của Luật Quốc tế.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

  1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về Luật Quốc tế.
  2. Giáo trình Luật Quốc tế – Đại học luật Hà Nội.
  3. Hiến chương Liên Hiệp quốc.
  4. Các tổ chức phi chính phủ – bộ ngoại giao việt nam.
  5. Cá nhân, chủ thể của Luật Quốc tế, Nguyễn Đức Lam.
  6. Công ty xuyên quốc gia – chủ thể quan hệ quốc tế, Hoàng Khắc Nam.
  7. http://www.wattpad.com/116010-chuong-3-chu-the-luat-quoc-te?p=2.
  8.  http://habitat.igc.org/agenda21/a21-27.htm.
  9. http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com
  10. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/

[1] Brownlee A. Luật quốc tế. M. 1977. tr 117.

[2] Ví dụ, Liên Hợp Quốc đã lập ra một Trung tâm về các tập đoàn xuyên quốc gia. Trung tâm này đã đề ra “Những nguyên tắc ứng xử” nhằm hạn chế các hành động quá trớn của pháp nhân, tổ chức phi chính phủ. Tuy nhiên, nhiều khi các pháp nhân, tổ chức phi chính phủ đã không tuân theo nguyên tắc này mà họ thường đi tìm những thoả thuận riêng với nước sở tại.

[3] Nguồn:  http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com

[4] ĐHKHXH và NV, ĐHQG Hà Nội

[5] Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/

PHÂN TÍCH NỘI DUNG HỢP TÁC VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG MỘT KHUÔN KHỔ HỢP TÁC MANG TÍNH LIÊN KHU VỰC (APEC)

Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Economic Cooperation –APEC) được thành lập vào tháng 11/1989 là một khuôn khổ hợp tác mang tính liên khu vực của các quốc gia nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương với mục tiêu tăng cường mối quan hệ về kinh tế và chính trị. Việt Nam chính thức trở thành thành viên APEC vào ngày 14/11/1998. Thực hiện chủ trương tăng cường hội nhập kinh tế để mở đường cho thương mại phát triển, mục tiêu chính của việc tham gia APEC đối với Việt Nam được xác định là “Mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa của Việt Nam xâm nhập thị trường các nước, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho thu hút đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Việt Nam, bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững.”

 

  1. NỘI DUNG HỢP TÁC APEC.

 

Sau 15 năm tồn tại và phát triển, APEC đã dần mang những yếu tố và đặc điểm của một cộng đồng; quá trình xây dựng cộng đồng đã được bắt đầu trong nhiều lĩnh vực hợp tác của APEC. Sự mở rộng phạm vi nội dung hợp tác của APEC trong những năm gần đây cho thấy APEC đang hướng đến một cộng đồng theo nghĩa rộng hơn là một “cộng đồng kinh tế” đơn thuần.

  1. Về lĩnh vực thuế: với hai lĩnh vực thuế quan và phi thuế quan, mục tiêu cơ bản của MAG (Market Access Group – Nhóm tiếp cận thị trường) là tăng cường hợp tác giữa các thành viên APEC nhằm giảm thuế và tiến tới dỡ bỏ hoàn toàn các hàng rào phi thuế trong khu vực, tiến tới các mục tiêu của tuyên bố Bogor về tự do hóa về thương mại đầu tư. APEC đã xây dựng cơ sở dữ liệu thuế xuất nhập khẩu, lịch trình giảm thuế, những thông tin về thuế quan hữu ích của toàn bộ 21 nền kinh tế thành viên APEC nhằm cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp muốn tìm hiểu thông tin về thuế của các thành viên APEC.
  2. Về lĩnh vực dịch vụ:APEC tập trung hợp tác trong 4 lĩnh vực dịch vụ là viễn thông và thông tin, vận tải, du lịch và năng lượng. Để khuyến khích tăng trưởng và phát triển trong lĩnh vực này, nhóm Dịch vụ APEC (GOS) đã được thành lập năm 1997 nhằm giải quyết các vấn đề thuận lợi hóa và tự do hóa đầu tư và thương mại dịch vụ. Nội dung hợp tác tập trung vào việc trao đổi thông tin liên quán đến đàm phán dịch vụ WTO để giúp các nền kinh tế thành viên APEC tham gia tích vực vào vòng đàm phán và đóng góp vào sự phát triển của thương mại dịch vụ; xây dựng danh mục lựa chọn về Tự do hóa tự nguyện, thuận lợi hóa và thúc đẩy hợp tác kinh tế kỹ thuật trong thương mại dịch vụ; nghiên cứu về Chi phí và lợi ích của Tự do hóa thương mại dịch vụ, cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách về giá trị cảu việc tiến hành tự do hóa thương mại dịch vụ… Nội dung hợp tác này nhằm mục tiêu giảm dần các hạn chế về thâm nhập thị trường, đồng thời từng bước áp dụng đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia đối với thương mại dịch vụ.
  3. Về lĩnh vực bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ (SHTT): năm 1996, APEC đã thành lập Nhóm Chuyên gia về SHTT (IPEG) để điều phối và thực hiện những công việc có liên quan đến quyền SHTT. Hội nghị các nhà Lãnh đạo Kinh tế APEC lần thứ 12 và Hội nghị Bộ trưởng APEC tại Chilê tháng 11/2004 đã ghi nhận tầm quan trọng của việc tăng cường bảo hộ và thực thi quyền SHTT và sự cần thiết triển khai Chiến lược tổng thể của APEC về SHTT, trong đó có nội dung giảm vi phạm bản quyền tác giả và buôn bán hàng giả. Vì vậy, trong năm 2005, APEC đã thông qua Sáng kiến về “Chống Hàng giả và Vi phạm Bản quyền trong APEC”, cụ thể hóa các biện pháp được đề xuất đề các thành viên có thể áp dụng trong thực tế.
  4. Về lĩnh vực cạnh tranh: mục tiêu hoạt động của Nhóm công tác về chính sách cạnh tranh và nới lỏng cơ chế chính sáhc (CPDG) là tăng cường phát triển môi trường cạnh tranh trong khu vực; đánh giá tác động của các luồng thương mại và đầu tư; xác định những lĩnh vực hợp tác giữa các thành viên APEC. Hoạt động nổi bật của nhóm công tác này là xây dựng và cập nhật hàng năm cơ sở dữ liệu luật và chính sách cạnh tranh cho các thành viên APEC, đưa ra những chương trình xây dựng năng lực mới để hỗ trợ các nền kinh tế thành viên thực hiện các nguyên tắc APEC về tăng cường cải cách pháp luật và cạnh tranh, thực hiện Danh mục lựa chọn về chính sách cạnh tranh,…
  5. Về lĩnh vực đầu tư: Nhóm chuyên gia về đầu tư APEC (IEG) có nhiệm vụ thúc đẩy hợp tác APEC về tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư của khu vực như: triển khai thực hiện Danh mục các biện pháp đầu tư không ràng buộc; tổ chức các hội thảo về đầu tư;… Nhóm còn phối hợp và xuất bản cuốn “Sổ tay hướng dẫn về các chính sách đầu tư của các thành viên APEC” nhằm cung cấp những thông tin mới nhất về chế độ, chính sách đầu tư của toàn bộ 21 nền kinh tế thành viên APEC dành cho các doanh nghiệp quan tâm tới lĩnh vực này.
  6. Về lĩnh vực du lịch: Nhóm công tác về Du lịch của APEC (TWG) được thành lập vào năm 1993 với vai trò xây dựng chiến lược chung về du lịch thông qua việc phối hợp 4 mục tiêu chính sách về du lịch của APEC bao gồm: (i) Dỡ bỏ rào cản đối với thương mại và đầu tư trong ngành du lịch; (ii) Tăng cường việc đi lại của du khách và nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ du lịch; (iii) Quản lý bền vững các tác động và hiệu quả của du lịch; (iv) Tăng cường nhận thức và hiểu biết về du lịch như là một phương tiện phát triển kinh tế xã hội vào chiến lược du lịch của từng nền kinh tế và phát triển công nghiệp du lịch trong toàn khu vực. Các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực chủ yếu là nghiên cứu các trở ngại trong du lịch khu vực; xây dựng dự án Thông lệ thực hành tốt nhất và ý tưởng về an toàn, an ninh đối với các nền kinh tế APEC nhằm chống khủng bố trong lĩnh vực du lịch; thành lập trung tâm quốc tế APEC về du lịch bền vững (AICST); xây dựng dự án Nhu cầu phát triển kinh doanh du lịch của doanh nghiệp vừa và nhỏ; xây dựng Chiến lược phục hồi sau thảm họa;…
  7. Về lĩnh vực viễn thông: nhóm công tác về viễn thông và thông tin (TEL) được thành lập năm 1990 bao gồm 4 tiểu nhóm chính: tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại, hợp tác phát triển và phát triển nguồn nhân lực. Nhóm chịu trách nhiệm đề xuất, thực hiện và định hướng các dự án hoạt động để đạt được mục tiêu tổng thể của APEC là phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông và thông tin trong khu vực, tạo thuận lợi cho việc hợp tác hiệu quả, tự do thương mại và đầu tư và phát triển bền vững. Chương trình hành động của nhóm bao gồm việc thực hiện chiến lược e-APEC, thực hiện kế hoạch hành động để rút ngắn khoảng cách kỹ thuật số, thúc đẩy phát triển các chính sách và các biện pháp nhằm tự do hóa thương mại và đầu tư trong lĩnh vực viễn thông và thông tin, an toàn điện tử, chính phủ điện tử, các chương trình thừa nhận lẫn nhau về các sản phẩm viễn thông, xây dựng năng lực và đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp.
  8. Về lĩnh vực khoa học và công nghệ: nhóm công tác về Khoa học Công nghệ Công nghiệp (ISTWG) tập trung nghiên cứu 6 chủ đề ưu tiên sau: tăng cường cập nhật và trao đổi thông tin; tăng cường phát triển nguồn nhân lực; cải thiện môi trường kinh doanh; đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững của khu vực; tăng cường đối thoại trao đổi và rà soát chính sách; phát triển hệ thống mạng và quan hệ đối tác.
  9. Về lĩnh vực kỹ thuật nông nghiệp: nhóm chuyên gia về hợp tác kỹ thuật nông nghiệp (ACTEG) được thành lập năm 1996 nhằm tăng cường hợp tác giữa các thành viên trong lĩnh vực này, nâng cao năng lực của ngành nông nghiệp và các ngành liên quan khác nhằm góp phần vào tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội. Các hoạt động ưu tiên của nhóm bao gồm: sử dụng và bảo tồn các nguồn gien động thực vật; nghiên cứu, phát triển và mở rộng công nghệ ính học nông nghiệp; sản xuất, chế biến, tiếp thị, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; kiểm soát dịch bệnh và kiểm dịch động thực vật; hợp tác phát triển hệ thống tài chính nông nghiệp; chuyển giao công nghiệp và đào tạo;…
  10. Về lĩnh vực xúc tiến thương mại: nhóm Xúc tiến Thương mại APEC (WGTP) được thành lập năm 1990 với các hoạt động tập trung vào xúc tiến thương mại, đầu tư, kỹ năng thương mại, đào tạo thông tin và mạng lưới thương mại, hợp tác giữa các khu vực tư nhân và các tổ chức xúc tiến thương mại nhà nước. Nhóm đã cung cấp cho cộng đồng doanh nghiệp những thông tin quan trọng thông qua việc xuất bản cuốn “Hướng dẫn triển lãm thương mại APEC” và tổ chức hội thảo về tư bản rủi ro và hệ thống đảm bảo tín dụng nhằm trao đổi thông tin về việc cung cấp tài chính cho thương mại.

 

  1. VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG APEC

 

Tháng 11/1998 các thành viên của APEC đã thông qua việc kết nạp Việt Nam làm thành viên chính thức của APEC, đánh dấu bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. 10 năm gia nhập APEC, Việt Nam đã đóng góp tích cực vào các hoạt động chung của APEC, qua đó khẳng định vai trò của Việt Nam trong APEC, cụ thể là:

 

– Thực hiện nghiêm túc các cam kết hợp tác thường niên của APEC như cập nhật Chương trình Hành động Quốc gia và Báo các tiến độ thực hiện Chương trình Hành động tập thể về Thuận lợi hóa Thương mại; cập nhật Kế hoạch Hành động Chống khủng bố; cung cấp các thông tin về chính sách trong một số lĩnh vực khác theo yêu cầu của APEC.

 

– Việt Nam là thành viên tích cực tại nhiều nhóm công tác của APEC như nhóm bạn của Chủ tịch về An ninh lương thực; Đối phó với tình trạng khẩn cấp; Chống khủng bố;…, có tiếng nói độc lập và thuyết phục.

 

– Việt Nam đã chủ động đề xuất nhiều sáng kiến hợp tác, trong đó gồm nhiều đề xuất tổ chức Hội thảo, Khóa đào tạo trong hàng loạt lĩnh vực như thuận lợi hóa thương mại, sở hữu trí tuệ, chống tham nhũng, phòng chống dịch bệnh và đối phó với tình trạng khẩn cấp. Những sáng kiến này nhằm chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao năng lực cho các nền kinh tế thành viên APEC cụ thể như Hội thoại “Đối thoại giữa các nền kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp và các đối tác khu vực và quốc tế quan trọng của APEC về đối phó với tình trạng khẩn cấp”; Hội thảo về “Chính sách quản lý xã hội đối với người di cư nhằm hạn chế sự lây nhiễm của HIV/AIDS”, Hội thảo Đối tác Công – Tư..

 

– Kể từ khi gia nhập APEC cho tới nay, Việt Nam đã xây dựng và vận động được APEC tài trợ khoảng gần 30 dự án xây dựng năng lực, với tổng giá trị hơn 2 triệu USD nhằm vào các nội dung chính như: Đàm phán các thỏa thuận thương mại tự do khu vực và song phương (RTAs/FTAs), Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Đầu tư, Hải quan, Chính sách cạnh tranh, Tiêu chuẩn và hợp chuẩn, Vệ sinh dịch tễ, Khoa học Công nghệ, Thủy sản, Sở hữu trí tuệ,… Điều này đã góp phần tăng thêm nguồn kinh phí đào tạo nhân lực, quản lý, học tập trao đổi kinh nghiệm của Việt Nam nói chung cũng như của các cán bộ tham gia APEC nói riêng trong quá trình hội nhập quốc tế.

 

– Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trong hoạt động thuận lợi hoá thương mại APEC là thúc đẩy phát triển quan hệ đối tác giữa chính phủ và khu vực tư nhân trong tiến trình thuận lợi hoá thương mại. Kể từ khi chương trình thuận lợi hoá thương mại APEC được triển khai, Việt Nam là thành viên APEC đầu tiên đưa ra Sáng kiến tổ chức phiên đối thoại công – tư về thuận lợi hoá thương mại.

 

– Trong năm 2011, nhằm hướng tới Hội nghị cấp cao APEC 19, Việt Nam đã tổ chức thành công hai hội thảo APEC về đối phó với lũ lụt bất thường (ngày 28 và 29-7 tại Đà Nẵng), và về tự chứng nhận xuất xứ (ngày 28 và 29-7 tại Hà Nội). Triển khai mạnh mẽ chủ trương mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra về chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tăng cường quan hệ với các đối tác và tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong các khuôn khổ hợp tác ở châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam sẽ tiếp tục tham gia một cách tích cực, chủ động và có trách nhiệm trong APEC, qua đó phát huy hơn nữa vai trò và vị thế của nước ta tại Diễn đàn cũng như tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới.

 

KẾT LUẬN

 

Có thể nói, việc tham gia APEC của Việt Nam thời gian qua, đã mang lại nhiều tác động tích cực đối với tăng trưởng, phát triển của đất nước trên nhiều phương diện, góp phần củng cố hình ảnh và vị thế của Việt Nam trong khu vực, thúc đẩy hợp tác song phương với các nền kinh tế trong khu vực. APEC cũng chính là điều kiện để Việt Nam khẳng định quá trình hội nhập kinh tế đầy đủ của mình.

 

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007.
  2. Giáo trình Luật quốc tế, Thạc sĩ Nguyễn T Kim Ngân, Thạc sĩ Chu Mạnh Hùng, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010.
  3. Hỏi đáp về diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) – Bộ Thương mại – Vụ chính sách thương mại đa biên – Hà Nội, tháng 1 năm 2006.

PHÂN TÍCH NỘI DUNG HỢP TÁC KINH TẾ – THƯƠNG MẠI CỦA ASEAN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY VÀ SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM

Trong bối cảnh hiện nay khi hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hợp tác quốc tế là xu thế chung của các quốc gia trên thế giới. Trong quá trình hợp tác quốc tế đã hình thành nên các tổ chức quốc tế khu vực cũng như toàn cầu quan trọng như ASEAN, Liên hợp Quốc, EU… Trong khu vực Đông Nam Á, ASEAN là tổ chức đại diện cho tinh thần hữu nghị hợp tác của các quốc gia trong khu vực. Và Việt Nam cũng là một trong số các thành viên của tổ chức. Từ lâu hợp tác kinh tế – thuơng mại đã được các quốc gia thành viên của tổ chức chú trọng, quan tâm và coi là lĩnh vực hợp tác then chốt của tổ chức. Với tầm quan trọng như vậy, trong giới hạn bài tập này, nhóm 02 chúng em xin đi vào tìm hiểu đề tài “Phân tích nội dung hợp tác kinh tế – thương mại của ASEAN trong giai đoạn hiện nay và sự tham gia của Việt Nam”. Do hiểu biết và tầm nhìn còn nhiều hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong các thầy cô giáo góp ý để kiến thức của chúng em thêm hoàn thiện. Chúng em xin chân thành cảm ơn!

 

NỘI DUNG


  1. Khái quát về sự hình thành ASEAN.

  2. Quá trình hình thành: 

Từ sau năm 1945, nhiều quốc gia đã ra đời dưới những hình thức khác nhau ở Đông Nam Á (1). Sau khi giành được độc lập, nhiều nước Đông Nam Á đã có dự định thành lập một tổ chức khu vực nhằm tạo nên sự hợp tác phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa; đồng thời hạn chế ảnh hưởng của các nước lớn đang tìm cách biến Đông Nam á thành “sân sau” của họ. Trong quá trình tìm kiếm sự hợp tác giữa các nước Đông Nam Á, nhiều tổ chức khu vực đã xuất hiện và một số hiệp ước giữa các nước trong khu vực được ký kết như: Hiệp ước Hữu nghị và Kinh tế Đông Nam Á (SEAFET), Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) tổ chức MAPHILINDO (2). Tuy nhiên, những tổ chức và Hiệp ước đó đều không tồn tại được lâu do những bất đồng giữa các nước về vấn đề lãnh thổ và chủ quyền. ASA, MAPHILINDO không thành công, nhưng nhu cầu về một tổ chức hợp tác khu vực rộng lớn hơn ở Đông Nam Á ngày càng lớn. Trong khi đó, sau Chiến tranh Thế giới thứ II, các trào lưu hình thành “chủ nghĩa khu vực” trên thế giới đã xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC); Khu vực Thương mại Tự do Mỹ Latin (LAFTA); Thị trường chung Trung Mỹ (CACM)….Việc thành lập các tổ chức khu vực này đã tác động đến việc hình thành ASEAN(3). Sau nhiều cuộc thảo luận, ngày 8/8/1967, Bộ trưởng Ngoại giao các nước Indonesia, Thái Lan, Philippines, Singapore và Phó Thủ tướng Malaysia ký tại Bangkok bản Tuyên bố thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations –  ASEAN). Từ 5 nước thành viên ban đầu, đến nay ASEAN đã có 10 quốc gia thành viên (4). Thực tiễn đã chứng minh rằng, một Đông Nam Á thống nhất đã thúc đẩy cho hợp tác và vị thế ASEAN ngày càng lớn mạnh, là tiền đề quan trọng để ASEAN trở thành một cộng đồng.

  1. Mục tiêu hoạt động của ASEAN:

Mục tiêu phát triển của ASEAN được nêu trong Hiến chương ASEAN gồm: Thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và sự tiến bộ xã hội của các nước thành viên; Xây  dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, ổn định có nền kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển; Giải quyết những nội bộ liên quan đến mối quan hệ giữa ASEAN với các nước, các khối nước và các tổ chức quốc tế khác; Đoàn kết hợp tác vì một ASEAN hòa bình, ổn định, cùng phát triển. Sự ra đời của ASEAN đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử khu vực và thế giới, là cầu nối của các quốc gia trong khu vực. Trải qua bốn thập kỷ hoạt động và phát triển, từ một tổ chức non trẻ, sự hợp tác trong khu vực còn lỏng lẻo, chưa có vị thế trên trường quốc tế, ASEAN đã lớn mạnh thành một trở thành một thực thể chính trị – kinh tế gắn kết, có vai trò quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và là đối tác không thể thiếu của các nước và các tổ chức lớn trên thế giới.

 

  1. Nội dung hợp tác kinh tế – thương mại của ASEAN trong giai đoạn hiện nay.

 

Với tổng thể nền kinh tế có quy mô lớn và dân số hơn nửa tỷ người, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN được nhận định có nhiều tiềm năng trở thành một trung tâm kinh tế sánh ngang với Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga. Hiện nay, ASEAN đang tăng cường hội nhập để tối ưu hóa khả năng hiệp lực trong khu vực và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế, cam kết thúc đẩy nhanh kế hoạch thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 bất chấp những thách thức từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Cụ thể hợp tác kinh tế – thương mại của ASEAN trong giai đoạn hiện nay bao gồm những nội dung sau đây:

 

  1. Hợp tác nội khối: 

 

Nội dung hợp tác chủ yếu và đặc biệt quan trọng của ASEAN là thúc đẩy tự do hóa kinh tế – thương mại và hợp tác kinh tế nội khối. ASEAN nhận thức rằng không thể hợp tác kinh tế có hiệu quả nếu không thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên trong khu vực. Vì vậy, ASEAN đã thực sự bắt tay vào việc tiến hành các chương trình hợp tác nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, điều này thể hiện rõ trong sáng kiến hội nhập ASEAN và thể hiện ở một số chương trình chiến lược hợp tác kinh tế – thương mại nội khối nổi bật sau:

 

Về Tự do hóa thương mại hàng hóa:

 

Nội dung của tự do thương mại hàng hóa chính là hoàn thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). ASEAN sẽ tự do hóa thương mại dựa trên việc thúc đẩy hoàn thành cơ chế đã có – AFTA. Các biện pháp mà bản kế hoạch tổng thể AEC đã đề ra và đang được thực hiện là: xóa bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan; thực hiện các quy định về xuất xứ; thuận lợi hóa thương mại liên kết trong lĩnh vực hải quan; cơ chế hải quan một cửa; áp dụng các tiêu chuẩn và hàng rào kỹ thuật với thương mại… Theo lộ trình cam kết của các nước thành viên ASEAN, thuế quan sẽ được  xóa bỏ hoàn toàn với các sản phẩm vào năm 2010 với ASEAN-6 và 2015 với các nước ASEAN-4, hàng rào phi thuế quan được xóa bỏ vào năm 2015. ASEAN sẽ đẩy nhanh tiến trình xóa bỏ các rào cản phi thuế và nâng cao các biện pháp tạo thuận lợi cho thương mại bằng việc: Xem xét lại các sản phẩm chưa được đưa vào danh mục ưu đãi của AFTA để nhưng sản phẩm này phù hợp với những quy định của CEPT, Thực hiện các quá trình kiểm tra và thông báo chéo, Cập nhật các biện pháp phi thuế quan cho các nước ASEAN… Cuối cùng sẽ tiến tới loại bỏ tất cả các biện pháp phi thuế quan. Ngoài ra, các nguyên tắc xuất xứ (ROO) và các quy định về công nhận lẫn nhau (OCP) sẽ tiếp tục cải thiện, đồng thời với việc thực hiện các chương trình thuận lợi hóa thương mại như hài hòa hóa thuế quan, sáng kiến cửa sổ ASEAN duy nhất… Năm 2009, Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 14 tại Thái Lan đã thông qua hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) để thay thế CEPT và đã có hiệu lực từ ngày 17/05/2010. Đây là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối, được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết trong CEPT và các hiệp định, nghị định thư có liên quan. Mục tiêu của hiệp định này là đạt được sự lưu chuyển tự do của hàng hóa trong ASEAN như một trong những công cụ chính để xây dựng thị trường và cơ sở sản xuất chung hướng tới hội nhập kinh tế sâu sắc hơn trong khu vực và hướng tới thực hiện cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015.

 

Tự do hóa thương mại dịch vụ và tự do di chuyển lao động lành nghề: 

 

 Tự do lưu chuyển thương mại dịch vụ là một trong những yếu tố quan trọng để thực hiện hóa AEC. Mục tiêu mà AEC hướng tới là căn bản sẽ không có sự hạn chế nào với những nhà cung cấp dịch vụ ASEAN trong việc cung cấp dịch vụ và trong việc thành lập những công ty xuyên quốc gia trong khu vực. Nội dung của tự do dịch vụ theo AFAS được tiến hành thông qua những vòng đàm phán chủ yếu của Ủy ban phối hợp về dịch vụ. Đàm phán trong những khu vực dịch vụ đặc biệt như dịch vụ tài chính, hàng không được tiến hành bởi hội đồng bộ trưởng tương ứng của khu vực. Ngoài ra AFAS cũng bao gồm một nội dung khác là các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRAs) nhằm tạo thuận lợi cho tự do hóa dịch vụ. Để hỗ trợ cho việc thực hiện AFAS, một nội dung quan trọng đã được bổ sung là tự do di chuyển lao động có tay nghề. Nội dung này được thực hiện thông qua việc tạo thuận lợi hơn trong cấp visa, giấy phép hành nghề, tăng cường hợp tác trong khuông khổ mạng lưới các trường đại học ASEAN, xây dựng các kỹ năng, tiêu chuẩn nghề nghiệp cơ bản; tăng cường năng lực nghiên cứu của các nước, xây dựng mạng lưới thông tin về thị trường lao động khu vực.

 

Tự do hóa đầu tư và tự do di chuyển vốn hơn. 

 

Tự do hóa đầu tư sẽ được thực hiện bằng nỗ lực hoàn thành khu vực đầu tư ASEAN, thông qua việc thực hiện hiệp định khung về khu vực đầu từ ASEAN (AIA). Tuy nhiên, tại hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 14, ASEAN đã ký hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) để thay thế cho hiệp định AOA và hiệp định khuyến khich và bảo hộ đầu tư (IGA). So với AIA và IGA, ACIA có các quy định rõ ràng hơn và cam kết cao hơn ở một số nội dung như: cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư; chuyển vốn, lợi nhuận, cổ tức minh bạch trong tịch biên tài sản và bồi thường. Khu vực đầu tư ASEAN gồm ba nội dung chính là: Chương trình hợp tác và tạo thuận lợi cho đầu tư; Chương trình xúc tiến và quảng bá đầu tư; Chương trình tự do hóa đầu tư.

 

Xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)(5)

 

Năm 2009, để hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), các nước thành viên ASEAN đã tập trung thực hiện 3 biện pháp chính sau: Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế pháp lý cho AEC; Thứ hai, tăng cường cơ chế giám sát, thực thi các thỏa thuận kinh tế đã đạt được thông qua Biểu đánh giá AEC (AEC Scorcard); Thứ ba, nâng cao nhận thức của cộng đồng về AEC thông qua chương trình truyền thông ASEAN. Biện pháp thứ nhất đã được hoàn thiện bằng việc ký kết 3 thỏa thuận quan trọng, bao gồm: Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) (6); Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) và Gói cam kết thứ 7 về dịch vụ trong khuôn khổ Hiệp định khung về dịch vụ ASEAN (AFAS). Biện pháp thứ hai về cơ bản đã phát huy hiệu quả thực chất, có 87/124 văn kiện pháp lý được ký kết liên quan tới AEC đã có hiệu lực (chiếm hơn 70%). Biện pháp thứ ba cũng đã được một số thành viên ASEAN áp dụng sáng tạo và có hiệu quả, cụ thể như phổ biến thông tin, kiến thức cập nhật về AEC, thiết lập thêm kênh trao đổi thường xuyên giữa các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp của ASEAN. ASEAN cũng nhất trí xác định 12 lĩnh vực ưu tiên đẩy nhanh liên kết với lộ trình hoàn thành đến năm 2010, đó là: Hàng nông sản; Ô tô; Điện tử; Nghề cá; Các sản phẩm từ cao su; Dệt may; Các sản phẩm từ gỗ; Vận tải hàng không; Thương mại điện tử ASEAN; Chăm sóc sức khoẻ; Du lịch; và Logistics. Để đẩy mạnh các nỗ lực hình thành Cộng đồng Kinh tế (AEC), ASEAN đã thông qua Kế hoạch tổng thể xây dựng trụ cột này, là một bộ phận trong Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN được thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN-14 (tháng 2/2009), với các quy định chi tiết về định nghĩa, quy mô, cơ chế và lộ trình thực hiện AEC.

 

Hiện nay, Hợp tác nội khối ASEAN hiện đang đứng trước không ít khó khăn. Mặc dù thương mại nội khối ASEAN đã duy trì ở mức ổn định 25% tổng khối lượng thương mại toàn khu vực, song nếu so với trao đổi thương mại nội khối của EU (hơn 70%), thì rõ ràng mức hội nhập và liên kết nội khối của ASEAN chưa cao. Điều quan trọng nữa là mức chênh lệch phát triển giữa các quốc gia phát triển ASEAN 6 (Brunei, Indonexia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore) với ASEAN 4 khá cao – được coi là yếu tố cản trở chính của sự liên kết kinh tế.  Chênh lệch phát triển trong ASEAN chủ yếu tập trung ở 4 lĩnh vực chủ yếu (4I), gồm kết cấu hạ tầng (Infrastructure); thu nhập (Income); liên kết (Integration) và thể chế (Institutional).

 

  1. Hợp tác ngoại khối:  

 

 Bên cạnh việc đẩy mạnh hội nhập kinh tế nội khối, ASEAN có khuynh hướng “mở” với các đối tác ngoài khối thông qua các hình thức hợp tác kinh tế, thương mại. Hợp tác kinh tế của ASEAN với các đối tác bên ngoài được triển khai từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX chủ yếu là với các đối tác lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Liên minh châu Âu (EU)… Hai nền kinh tế “đầu tàu” của khu vực – Nhật Bản và Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng – là những yếu tố thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế ASEAN. Hai chiến lược kinh tế cơ bản của AEC chính là hội nhập kinh tế khu vực và tăng cường hợp tác kinh tế bên ngoài, để đạt được mục tiêu trở thành một “khu vực hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu”, phù hợp với tính chất là một Cộng đồng kinh tế mở. Do vậy, tăng cường hợp tác kinh tế với các đối tác bên ngoài khu vực chính là một nội dung trọng tâm trong tiến trình xây dựng AEC, mà tập trung vào ba khía cạnh sau: Thứ nhất, tham gia tích cực vào hệ thống thương mại đa phương toàn cầu trong khuôn khổ tổ chức thương mại thế giới WTO (Các cam kết tự do hóa trong khuông khổ WTO chính là mục tiêu để tham chiếu cho hội nhập kinh tế khu vực. Hiện nay, cả 9 nước ASEAN đều là thành viên của WTO, chỉ còn Lào là đang trong quá trình đàm phán gia nhập. Tuy nhiên, cả Việt Nam và Campuchia là những thành viên mới gia nhập nên vẫn trong quá trình hoàn tất thực thi các cam kết với WTO); Thứ hai, tham gia tích cực vào hợp tác kinh tế Đông Á và diễn đàn Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) (Cơ chế hợp tác Đông Á của ASEAN là các cơ chế ASEAN +1, ASEAN +3 và hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Năm 2002, nhóm nghiên cứu Đông Á đã đưa ra 26 biện pháp để thúc đẩy hợp tác kinh tế Đông Á và tiến tới 1 khu vực thương mại toàn Đông Á cũng như sớm hình thành một cộng đồng kinh tế trong tương lai); Thứ ba, tham gia tích cực hợp tác với các bên đối thoại thông qua các AFTA. Hiện nay, ASEAN đã và đang tiếp tục đàm phàn khu vực mậu dịch tự do/hiệp định đối tác kinh tế toàn diện (FTA/CEP) với các đối tác khu vực là ASEAN đã ký kết các hiệp định FTA với một số đối tác lớn như Trung Quốc (đã có hiệu lực từ ngày 1-1- 2010), Nhật Bản (có hiệu lực từ năm 2008), Hàn Quốc (có hiệu lực từ tháng 6-2007), Ấn Độ (từ tháng 8-2009), Ô-xtrây-li-a và Niu Di-lân (từ ngày 27-2-2009 và có hiệu lực sau năm 2010). Năm 2010, thương mại giữa ASEAN và 3 nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản tăng 28,9%, đạt 533,3 tỷ USD, chiếm 26,1% tổng giá trị thương mại của ASEAN trong cùng kỳ.. ASEAN đã hoàn tất hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Úc – Niu Di-lân (AANZFTA) vào tháng 2/2009 tại hội nghị cấp cao ASEAN – 14 và hiệp định đầu tư ASEAN – Hàn Quốc tại Hội nghị cấp cao kỷ niệm ASEAN – Hàn Quốc ngày 1-2/6/2009. ASEAN cũng đã kết thúc đàm phán và ký kết hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Ấn Độ (AITIG) vào tháng 08/2009. Các hiệp định này cùng với các hiệp định đã ký trước của ASEAN với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản vẫn duy trì mức độ liên kết kinh tế thấp hơn các hiệp định trong nội bộ ASEAN. Ngoài ra, ASEAN cũng đẩy mạnh quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau với Hoa Kỳ, Canada, Nga, Pakistan…và đang tiến tới mục tiêu sớm hoàn thành các FTA với Hoa Kỳ và EU.

 

Nội dung Hợp tác kinh tế- thương mại giữa ASEAN và EU.

 

EU –bước đầu tạo cơ sở cho việc đàm phán một thoả thuận thương mại ưu đãi khu vực trong tương lai với ASEAN bằng việc đưa ra Sáng kiến Thương mại Liên khu vực ASEAN – EU (TREATI) như là một sáng kiến về hợp tác kinh tế trên cơ sở khu vực với khu vực gồm đối thoại và những hoạt động chung trong những lĩnh vực kinh tế đôi bên cùng có lợi (7). Việc EU đưa ra Sáng kiến Thương mại Liên khu vực ASEAN – EU  cho thấy EU nhìn nhận ASEAN là một khu vực kinh tế quan trọng, một thị trường tiềm năng, một đối tác chiến lược cần tăng cường hợp tác. Ước tính tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu từ ASEAN sang EU đạt 6,7% mỗi năm. Đáng chú ý là vị trí của EU luôn được giữ vững với tỷ trọng trong tổng xuất khẩu của ASEAN trong khoảng 14%-16%. Tính trung bình cả giai đoạn 1993-2003, thị trường EU chiếm tới 14,7% tổng xuất khẩu của ASEAN, giữ vững vị trí thứ hai sau Hoa Kỳ (18,5%) và đứng trên Nhật Bản (12,7%). Không chỉ trong lĩnh vực thương mại mà xét về đầu tư cũng có thể thấy được mối hợp tác chặt chẽ giữa EU và ASEAN(8).. Năm 2005, EU và ASEAN đã thành lập Nhóm Tầm nhìn về quan hệ đối tác kinh tế ASEAN-EU để nghiên cứu khả thi việc đàm phán và thiết lập Khu vực thương mại tự do ASEAN-EU nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác và liên kết kinh tế giữa hai bên. Dựa trên báo cáo và khuyến nghị của Nhóm Tầm nhìn, tháng 5 năm 2007, các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và Cao ủy Thương mại EC đã quyết định khởi động đàm phán Khu vực Thương mại Tự do giữa EU với cả khối ASEAN (cách tiếp cận khu vực-khu vực). Tuy nhiên, do một số nguyên nhân, quá trình đàm phán đã không đạt được tiến triển như mong đợi. Vì vậy, các bên đã quyết định tạm dừng các cuộc đàm phán khu vực-khu vực giữa EU và ASEAN. Tuy nhiên hiện nay, một số nước ASEAN như Ma-lai-xi-a, Singapore đang tiến hành đàm phán các Hiệp định Thương mại tự do song phương (FTA) với EU.

 

Nội dung Hợp tác kinh tế- thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc.

 

Kể từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX, kim ngạch buôn bán hàng năm Trung Quốc và ASEAN tăng bình quân 20%, riêng năm 2004, kim ngạch buôn bán hai chiều Trung Quốc  – ASEAN đạt 105,8 tỷ USD. ASEAN hiện nay là đối tác buôn bán lớn thứ 4 của Trung Quốc và Trung Quốc đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ 5 của ASEAN. Nhiều doanh nghiệp, công ty của ASEAN đã có đầu tư khá lớn vào Trung Quốc và ngược lại những năm gần đây dòng vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc vào ASEAN cũng tăng lên. Sự hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN phát triển từ giai đoạn thấp đến giai đoạn phân công ở trình độ cao, từ trao đổi thương mại hàng hóa đến hợp tác đầu tư, hợp tác lao động, thực hiện quyền sở hữu trí tuệ…. Trước đây mối liên hệ thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN chủ yếu thông qua đường biển, nay Trung Quốc và ASEAN mở thêm đường bộ, đường sắt nối thông với nhau làm cho tốc độ và phạm vi trao đổi hàng hóa tăng lên, thúc đẩy các địa phương ở Tây Nam Trung Quốc tăng cường hợp tác với ASEAN. Hai bên sẽ hình thành hành lang kinh tế xuyên quốc gia từ Côn Minh đi Singapore, hoặc từ Côn Minh đi thành phố Hồ Chí Minh. Hành lang kinh tế này sẽ có tác dụng thúc đẩy kinh tế của các địa phương nằm dọc theo hành lang, tiềm năng hợp tác kinh tế giữa hai bên sẽ được phát triển. Trao đổi thương mại giữa hai bên và trao đổi tiền tệ quốc tế đang thúc đẩy các bên hình thành một khung phân công hợp tác cao hơn với nhiều tầng lớp khác nhau. Sự phân công này từ trao đổi hàng hóa, cung cấp nguyên vật liệu đến hợp tác chuyên môn hóa về thành phẩm, sản xuất các sản phẩm mới có khả năng cạnh tranh cao, do có ưu thế về chi phí thấp nhất là nguồn lao động dồi dào, trình độ công nghệ từng bước hiện đại. Điều này tạo khả năng biến khu vực hợp tác kinh tế Trung Quốc – ASEAN và toàn bộ khu vực Đông Á sẽ trở thành cơ sở sản xuất lớn của thế giới, từ đó có thể hình thành các tập đoàn công ty xuyên quốc gia. Hiện nay do trình độ phát triển kinh tế của các nước ASEAN khác nhau, nên sự hợp tác kinh tế thương mại giữa các nước ASEAN và Trung Quốc cũng ở mức độ khác nhau, chia làm 2 nhóm. Trước hết là nhóm các nước có trình độ công nghệ còn lạc hậu, nền kinh tế quy mô nhỏ, có kim ngạch buôn bán với Trung Quốc còn ở mức thấp như Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia. Đối với những nước này, Trung Quốc thường xuất siêu trong quan hệ thương mại và phân công trong sản xuất, trao đổi các mặt hàng ở mức cấp thấp. Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu và xuất khẩu hàng thành phẩm sang các nước này. Hiện nay, Việt Nam xuất khẩu hơn 30% dầu thô sang Trung Quốc, ngoài ra có tới hơn 20% các mặt hàng khác như trái cây, cao su….. Mianma chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc mặt hàng gỗ. Trung Quốc xuất khẩu nhiều hàng nhiên liệu, hàng cơ điện và dệt may, phân hóa học… sang Việt Nam và nhiều nước. Nhóm nước thứ hai gồm 5 nước có kim ngạch buôn bán lớn với Trung Quốc, bao gồm Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonexia, Philippines. Tới nay Trung Quốc vẫn xuất siêu sang các nước này. Tuy nhiên sự phân công hợp tác của hai bên là sản xuất và trao đổi những mặt hàng cao cấp vì trình độ phát triển công nghiệp của nước này cũng cao hơn so với nhóm các nước trên. Trung Quốc có thể nhập các mặt hàng như dầu thô, hóa chất hoặc sản phẩm luyện kim…. Về hàng gia công, hiện nay 2 mặt hàng lớn nhất mà Trung Quốc có ưu thế là hàng dệt may và cơ điện. Trung Quốc là nước cung cấp chủ yếu hàng dệt may cho 5 nước này, hàng năm bình quân chiếm tới 10% hàng xuất khẩu của Trung Quốc. Đồng thời Trung Quốc cũng là nước xuất khẩu hàng cơ điện lớn cho thị trường các nước này. Khu vực tự do thương mại (FTA) giữa Trung Quốc và ASEAN (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thailand)  đã chính thức đi vào hoạt động ngày 1/1/2010, với khoảng 9.000 nhóm hàng hóa và dịch vụ được miễn giảm thuế. Theo đó, thúc đẩy thương mại toàn khu vực, song sự cạnh tranh ở một số ngành sẽ trở nên gay gắt hơn. Khu vực thương mại tự do Trung Quốc – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) gồm 1,9 tỷ dân, với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chung lên tới gần 6.000 tỷ USD. Theo các chuyên gia, với FTA này, các ngành được hưởng lợi nhiều nhất gồm ngành dịch vụ, xây dựng, cơ sở hạ tầng và sản xuất. Đây là khu vực thương mại lớn nhất thế giới về mặt dân số và lớn thứ 3 thế giới về khối lượng giao dịch, sau Liên minh châu Âu (EU) và khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Với việc thành lập khu vực thương mại này sau 8 năm đàm phán, thuế quan đối với khoảng 9.000 nhóm hàng hóa và dịch vụ, tương đương 90% tổng trao đổi thương mại song phương, sẽ được cắt giảm hoặc bãi bỏ. Zhang Kening, Tổng giám đốc Ban thương mại quốc tế và các vấn đề kinh tế Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết, mức thuế trung bình mà Trung Quốc áp lên các hàng hoá của ASEAN sẽ giảm xuống còn 0,1% kể từ mức 9,8%. Thuế trung bình mà các nước ASEAN đánh vào hàng hoá Trung Quốc sẽ giảm từ 12,8% xuống còn 0,6%. Theo thoả thuận, Trung Quốc và 6 nước sáng lập ASEAN là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thailand sẽ bỏ các rào cản đầu tư và thuế với 90% hàng hoá. Các nước thành viên ASEAN khác gồm Việt Nam và Campuchia sẽ có những bước đi tương tự vào 2015. Đặc biệt trong 4 năm qua, hoạt động thương mại đã tăng gấp đôi với việc ký kết các thỏa thuận về trao đổi hàng hóa, dịch dụ và một hiệp ước về khuyến khích đầu tư liên khu vực. Trung Quốc cũng đã chiếm chỗ của Mỹ để trở thành đối tác thương mại lớn thứ 3 của ASEAN và tiến tới sẽ vượt Nhật và EU để trở thành đối tác số 1 của khu vực này trong vòng vài năm đầu của FTA. ASEAN và Trung Quốc hy vọng FTA song phương sẽ mở rộng tầm với thương mại của châu Á trong khi tăng cường giao dịch trong khu vực, giúp hai bên bớt phụ thuộc vào thị trường bên ngoài (7). Tuy nhiên còn nhiều điều phải lo ngại. Bên cạnh Trung Quốc, Hàn Quốc cũng là một đối tác lớn của Việt Nam trong hợp tác kinh tế- thương mại (10).

 

III. Thực tế sự tham gia của Việt Nam đối với nội dung hợp tác kinh tế – thương mại của ASEAN trong giai đoạn hiện nay.

 

ASEAN là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu của nước ta và là một trong những động lực quan trọng giúp nền kinh tế nước ta duy trì tốc độ tăng trưởng và xuất khẩu trong nhiều năm qua. Với lợi thế là một khu vực phát triển năng động, gần gũi về địa lý, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và ASEAN có mức tăng trưởng cao. ASEAN hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, trên cả EU, Nhật Bản, Trung Quốc hay Hoa Kỳ (11). Điều đó cho thấy sự tích cực của Việt Nam trong việc tham gia các hoạt động hợp tác kinh tế – thương mại của ASEAN, trong những năm gần đây, quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam và các nước trong khu vực ASEAN không ngừng được đẩy mạnh, (điển hình như Malaysia (12)), bên cạnh đó Việt Nam còn tham gia vào một số nội dung hợp tác kinh tế – thương mại của ASEAN, đã góp phần quan trọng vào việc tăng cường hợp tác nội khối ASEAN:

 

*Hội nhập khu vực mậu dịch tự do của ASEAN: Về việc cắt giảm thuế quan: Năm 2003 là năm rất quan trọng trong tiến trình hội nhập AFTA, CEPT của Việt Nam. Việt Nam đã hoàn thành việc hiện đại hóa cơ cấu thuế quan và thực thi hầu hết các cam kết giảm thuế quan trọng trong khuôn khổ song phương phương và khu vực. Từ ngày 01/07/2003, Việt Nam thực hiện cắt giảm thuế quan đối với 750/14000 dòng thuế nhập khẩu từ các nước ASEAN xuống còn tối đa 20%. Từ năm 2003, Việt Nam đã cơ bản hoàn thành việc chuyển các loại hàng hóa thuộc Danh mục TEL sang danh mục IL cho tới thời điểm tháng 08/2006, Việt Nam đã hoàn thành việc chuyển toàn bộ các mặt hàng từ danh mục TLE và danh mục SL vào thực hiện CEPT. Mức thuế AFTA trung mình của Việt Nam vào năm 2003 là 9,3%, vào năm 2006 đã giảm xuống còn 2,48%. Việt Nam đã cam kết giảm thuế xuống 0 – 5% cho 6130 mặt hàng tới năm 2006, xuống 0% cho hầu hết các mặt hàng tới năm 2015. Theo danh mục hàng hóa và mức thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện CEPT/AFTA giai đoạn 2006 – 2013, có 10342 mặt hàng đã được đưa vào danh mục cắt giảm thuế, trong đó có 5478 mặt hàng có thuế xuất 0%; 10283 mặt hàng có thuế xuất 0 – 5%. -Về việc thực hiện chương trình thống nhất hoạt động hải quan ASEAN: Từ ngày 1/7/2003, Việt Nam áp dụng danh mục thuế quan hài hòa chung ASEAN (AHTN) thay cho Danh mục biểu thuế quan hiện hành để tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu. Theo đó, danh mục hàng hóa xuất, nhập khẩu được nâng lên 10.689 dòng thuế thay vì 6495 dòng thuế hiện hành. Trong số đó, danh mục cắt giảm thuế ngay sẽ nâng từ 5.559 lên 8.807, danh mục loại trừ tạm thời từ 755 lên 1376, danh mục nông sản nhạy cảm từ 52 lên 91 và danh mục loại trừ hoàn toàn từ 139 lên 415. Pháp luật Việt Nam hiện hành đã đáp ứng yêu cầu về điều hòa thống nhất hệ thống xác định giá trị hải quan làm căn cứ để tính thuế. Theo Điều 9 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005, giá tính thuế được quy định như sau:+ Giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu là giá bán tại cửa khẩu theo hợp đồng;+ Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả  tính đến cửa nhập khẩu đầu tiên theo hợp đồng, phù hợp với các cam kết quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đã ban hành Luật hải quan 2001, sửa đổi năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cơ bản, các văn bản này đã phù hợp với đòi hỏi của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. – Về hiệp định khung về Thương mại Dịch vụ trong ASEAN: Việt Nam đã đưa ra cam kết của mình trên cả 7 lĩnh vực dịch vụ ưu tiên. So với cam kết “đầy tham vọng” của các thành viên ASEAN khác, cam kết AFTA của Việt Nam đứng ở mức đảm bảo yêu cầu chung của ASEAN.

 

– Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN – AIA: Trong giai đoạn đầu thực hiện AIA, Việt Nam đã hoàn thành xây dựng danh mục nhạy cảm SL và danh mục loại trừ TEL đối với 5 ngành sản xuất là chế tạo, nông nghiệp khai thác mỏ, lâm ngư nghiệp và các ngành dịch vụ có liên quan đến 5 ngành này. Từ 1/1/2003, Việt Nam thực hiện AIA theo 2 hướng. Chuyển một số ngành SL sang TEL; Giảm bớt số ngành trong TEL bằng cách mở cửa ngành đó cho nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể Việt Nam cam kết thực hiện xóa hết danh mục TEL đối với ngành chế tạo từ 1/1/2010 và 1/1/2013 đối vơi các nhà cam kết còn lại; mở cửa tất cả các ngành nói trên cho các nhà đầu tư ASEAN từ ngày 1/1/2015.

 

*Hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) của Việt Nam: Về thương mại hàng hóa: trong những năm qua, Việt Nam đã tham gia xây dựng AEC với thái độ chủ động và tích cực. Đến năm 2010, nước ta đã giảm thuế nhập khẩu cho 10.054 dòng thuế xuống mức 0 – 5% theo CEPT/AFTA, chiếm 97,8%  số dòng thuế trong biểu thuế, trong đó có 5.488 dòng thuế ở mức thuế suất 0%. Nước ta cũng tham gia hợp tác một cách toàn diện cùng các nước ASEAN khác từ các lĩnh vực truyền thống như thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, nông nghiệp, giao thông vận tải, viễn thông đến các lĩnh vực mới như bảo hộ sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng. Dù trình độ phát triển chưa bằng một số nước trong khu vực, nhưng Việt Nam là một trong 4 thành viên ASEAN có tỷ lệ hoàn thành tốt nhất các cam kết trong lộ trình tổng thể thực hiện AEC. – Về tự do hóa thương mại dịch vụ: Việt Nam đã đưa ra cam kết của mình trên cả 7 ngành dịch vụ ưu tiên, tích cực tham gia vào các vòng đàm phán thương mại dịch vụ để kí kết các gói cam kết dịch vụ theo AFAS. – Về tự do hóa đầu tư: Việt Nam đã triển khai nhiều Chương trình thuận lợi hóa và xúc tiến đầu tư, hiện nay đang tiếp tục rà soát các danh mục loại trừ trong đầu tư, tăng cường hợp tác thu thập thông tin, thống kê đầu tư nhằm cải tiến hơn nữa môi trường đầu tư trong khu vực dịch vụ. Theo số liệu thống kê cho thấy, đến hết năm 2009, Việt Nam đã thu hút được hơn 40 tỉ USD (1.517 dự án) từ các nhà đầu tư ASEAN, bằng khoảng 13,8% về số dự án và trên 26% về số vốn so với tổng vốn FDI mà Việt Nam đã thu hút được. Trong khi đó, con số của Bộ ngoại giao cho biết, Việt Nam đã đầu tư trên 4,77 tỉ USD (269 dự án) vào các nước trong khu vực ASEAN. – Về thu hẹp khoảng cách phát triển: Việt Nam là một trong những nước tích cực nhất trong việc đề xuất và thực hiện các chương trình nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN. Việt Nam đã đưa ra chủ đề này thành chương trình nghị sự nổi bật tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 6 và dấu ấn để lại là sự ra đời của Chương trình hành động Hà Nội và tiếp sau đó là Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng cách phát triển. Đồng thời, Việt Nam đã tham gia tích cực vào các chương trình như: Chương trình hợp tác tiểu vùng sông MêKông mở rộng, Chương trình hành lang kinh tế Đông Tây,… – Về thực hiện hội nhập 12 lĩnh vực đầu tiên: Việt Nam tuy ở vị trí thế yếu khi phải cạnh tranh với các nước ASEAN – 6 song vẫn thực hiện hội nhập hợp lý và tránh đối đầu cạnh tranh trực tiếp mà tận dụng cơ hội hợp tác kinh doanh như liên kết với Thái Lan trong nhóm ngành nông – lâm – ngư sản hay ô tô, liên kết với Singapore trong ngành dịch vụ hàng không, y tế hay giao dịch điện tử,…

 

* Đẩy mạnh hợp tác ngoại khối ASEAN: Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các khuôn khổ hợp tác giữa ASEAN và các nước đối thoại như ASEAN+3 (với 3 nước Đông Bắc Á), ASEAN+1 (giữa ASEAN với Trung Quốc; với Nhật; Hàn Quốc; Ấn Độ,; Ôxtrâylia; Niu Dilân). Bên cạnh việc đẩy mạnh hợp tác kinh tế trong khối, ASEAN còn đẩy mạnh hợp tác kinh tế thương mại ra các nước ngoài khối ASEAN, Việt Nam là một trong số những nước ASEAN tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác kinh tế thương mại với các nước ngoài khối ASEAN cụ thể như việc Việt Nam đẩy mạnh hợp tác song phương với Hàn Quốc (13), hai bên hoan nghênh việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN-Hàn Quốc năm 2010 và nhất trí tăng cường hợp tác xây dựng Cộng đồng chung ASEAN và thực hiện một cách hiệu quả Kế hoạch Tổng thể ASEAN về Kết nối. Ngoài ra, một trong những đối tác quan trọng của Việt Nam ở khu vực Châu Á là Nhật Bản (14). Về quan hệ hợp tác ASEAN với EU hiện nay, việc tạm thời dừng đàm phán FTA khu vực-khu vực không đồng nghĩa với việc dừng các sáng kiến có thể nâng tầm hơn nữa quan hệ kinh tế, thương mại giữa EU với ASEAN cũng như giữa EU với từng nước ASEAN. Là nước điều phối quan hệ hợp tác kinh tế ASEAN – EU, Việt Nam đang nỗ lực hết sức để tăng cường hợp tác thương mại, đầu tư giữa hai bên. Tại Hội nghị tham vấn các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và Cao ủy Thương mại EC vào tháng 8 năm 2010, hai bên đã nhất trí triển khai “Sáng kiến về thương mại và đầu tư” nhằm thắt chặt quan hệ đối tác kinh tế, tăng cường trao đổi thông tin và đối thoại chính sách trong những lĩnh vực liên quan. Trên cơ sở sáng kiến này, Việt Nam đã phối hợp với các nước ASEAN và EU xây dựng “Chương trình làm việc về thương mại và đầu tư ASEAN-EU”. Chương trình làm việc này đã được các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và Cao ủy Thương mại EC thông qua tại Hội nghị Tham vấn AEM-Cao ủy Thương mại EC lần thứ 10 vào tháng 5 vừa qua (15). Mặt khác, tiềm năng về hợp tác song phương Việt Nam và EU rất lớn (16), nhất là trong bối cảnh Việt Nam và các nước ASEAN đang hướng đến sự hội nhập đầy đủ trong Cộng đồng kinh tế ASEAN cũng như vai trò đang ngày càng được khẳng định của EU tại khu vực Đông Nam Á. Việt Nam và EU cũng đang xem xét khả năng đàm phán Hiệp định FTA song phương trong thời gian tới. Hiệp định này không những góp phần khai thác tiềm năng hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và EU mà còn góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế giữa ASEAN và EU nói chung. Ngoài ra Việt Nam còn tham gia tích cực vào hệ thống thương mại đa phương toàn cầu trong khuôn khổ tổ chức thương mại thế giới WTO (cụ thể sau 4 năm hội nhập WTO, Việt Nam là những thành viên mới gia nhập nên vẫn trong quá trình hoàn tất thực thi các cam kết với WTO); tham gia tích cực vào APEC (kể từ khi trở thành thành viên chính thức của APEC (tháng 11-1998), Việt Nam luôn tham gia một cách tích cực, chủ động và có trách nhiệm với những đóng góp quan trọng cho Diễn đàn.).. (17).

 

Dù trình độ phát triển chưa bằng một số nước khác trong khu vực nhưng Việt Nam được đánh giá là một trong bốn thành viên ASEAN có tỷ lệ hoàn thành tốt nhất các cam kết trong lộ trình tổng thể thực hiện AEC. Một số khuyến nghị phát huy vai trò của Việt Nam trong việc tham gia của Việt Nam đối với nội dung hợp tác kinh tế – thương mại của ASEAN trong giai đoạn hiện nay – Hướng tới mục tiêu hoàn thành AEC năm 2015, Việt Nam cần tập trung vào các ưu tiên sau: Hoàn thành đúng hạn các cam kết Việt Nam đã ký kết để xây dựng AEC, Thúc đẩy đoàn kết và hợp tác ASEAN, đẩy mạnh liên kết khu vực nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN, hoàn tất việc đưa hiến chương ASEAN vào cuộc sống; Mở rộng và tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện giữa ASEAN với các bên đối tác; củng cố và duy trì vai trò quan trọng của ASEAN tại các khuông khổ hợp tác khu vưc, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương; Thông qua các hành động cụ thể đẩy nhanh tiến độ triển khai hiệu quả các chương trình, kế hoạch xây dựng 3 trụ cột cộng đồng ASEAN và kế hoạch công tác giai đoạn II về thu hẹp khoảng cách phát triển trong lộ trình xây dựng cộng đồng ASEAN, đảm bảo việc thực hiện mục tiêu hình thành cộng đồng ASEAN đúng lộ trình vào năm 2015; Tiếp tục triển khai hiến chương, hoàn thiện bộ máy tổ chức mới, cải thiện phương thức hoạt động của ASEAN, hoàn tất soạn thảo các văn kiện pháp lý bổ sung cho hiến chương, tạo khuôn khổ pháp lý cho ASEAN; Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ cùng các nước thành viên thúc đẩy vai trò và vị thế quốc tế của ASEAN thông qua củng cố và duy trì vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực; mở rộng hơn vai trò của ASEAN tại các thể chế, diễn đàn khu vực và quốc tế như APEC, ASEM, LHQ, G20…

 

KẾT LUẬN

Các chương trình hợp tác về kinh tế – thương mại của ASEAN cho thấy những nỗ lực của các quốc gia thành viên trong việc thúc đẩy hợp tác chặt chẽ nhằm mục tiêu tăng cường năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của ASEAN, thúc đẩy hiệu quả kinh tế trong một thị trường và cơ sở sản xuất đơn nhất. Đối với Việt Nam tuy chúng ta tiến hành hội nhập nền kinh tế khu vực muộn hơn so với khá nhiều nước nhưng bằng sự quyết tâm, những bước đi hợp lý và chủ động, trong những năm qua, Việt Nam đã cho các nước ASEAN thấy được sự năng động, nhiệt tình và cỏi mở trong quá trình hội nhập tự do hóa thương mại nội khối của mình. Những thành công của tự do hóa thương mại nội khối trong những năm qua phần nào ghi nhận những dấu ấn chủ chốt đầy ngưỡng mộ của Việt Nam. Trong những năm tiếp theo, chúng ta cần tiếp tục hơn nữa sự phát huy nhiệt tình và cởi mở đó, thúc đẩy thương mại phát triển, thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển, nâng cao vai trò của Việt Nam.

Thực tế trên thế giới hiện nay ngoài quan điểm truyền thống cho rằng quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh, tổ chức liên chính phủ, chủ thể đặc biệt khác là chủ thể của luật thì còn có quan điểm (hiện đại) cho rằng cá nhân, các công ty xuyên quốc gia, tổ chức phi chính phủ cũng nên được xem là chủ thể của luật Quốc Tế. Đây là quan điểm mới và cũng được một số nước trên thế công nhận. Hiện tại ở Việt Nam mặc dù cũng có nhiều ý kiến về vấn đề mới này nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về quan hiện đại. Câu hỏi được đặt ra là: Chúng ta có suy nghĩ gì về vấn đề này? Có nên công nhận quan niệm này?

 

Đây là đề tài được xem là khá mới mẻ và còn nhiều vấn đề cần phải làm rõ nên chúng ta cần phải nghiên cứu sâu hơn để tìm ra lời giải đáp phù hợp với thực tiễn hiện nay. Với đề tài : Bình luận quan điểm “Trong thực tiễn, cá nhân có thể tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế nhất định nhưng không vì thế mà thực thể này trở thành chủ thể của Luật quốc tế” em sẽ đưa ra cái nhìn của bản thân dựa trên nền tảng các kiến thức cơ bản, chính thống về Luật quốc tế.

  1. Khái niệm về chủ thể của luật quốc tế
  • Định nghĩa chủ thể luật quốc tế

Mỗi hệ thống pháp luật đều có những chủ thể nhất định của nó. Đối với Luật quốc tế, số lượng cũng như quyền năng của từng loại chủ thể bị chi phối bởi phạm vi các quan hệ được Luật quốc tế điều chỉnh và trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn phát triển.

 

Trong giai đoạn chiếm hữu nô lệ, quan hệ bang giao giữa các quốc gia còn hạn hẹp, chủ yếu là quan hệ giữa các quốc gia trong cùng khu vực, nên chủ thể của Luật Quốc tế trong giai đoạn này chỉ là các quốc gia chủ nô. Sang thời kỳ phong kiến, quan hệ giữa các quốc gia được mở rộng. Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng của tôn giáo (đặc biệt là thiên chúa giáo) đến các mặt của đời sống xã hội phong kiến khá rõ nét. Chính vì vậy, chủ thể Luật Quốc tế trong thời kì này bao gồm các quốc gia phong kiến, các nhà thờ thiên chúa giáo. Đến giai đoạn tư bản chủ nghĩa, đặc điểm của quan hệ quốc tế trong thời kỳ này mang tính chất “cá lớn nuốt cá bé”, chỉ có các quốc gia văn minh – quốc gia tư bản chủ nghĩa – mới được coi là chủ thể của luật quốc tế, còn các quốc gia kém phát triển, các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc không có tư cách này. Cách mạng tháng Mười năm 1917, chiến tranh thế giới và sự phát triển của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã dến sự ra đời của một loạt các quốc gia xã hội chủ nghĩa, cùng với đó là sự xuất hiện các dân tộc đấu tranh giành quyền tự quyết và các tổ chức liên chính phủ. Trước tình hình đó, trong luật quốc tế đặt ra vấn đề tồn tại nhiều loại chủ thể khác nhau bên cạnh chủ thể truyền thống là các quốc gia.

 

Dưới góc độ lý luận khoa học pháp lý, để xác định được đối tượng của Luật Quốc tế cần phải dựa vào các dấu hiệu cơ bản sau:

 

– Có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế do Luật Quốc tế điều chỉnh.

 

– Có ý chí độc lập trong sinh hoạt quốc tế.

 

– Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế.

 

– Có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể gây ra.

 

Từ những cơ sở trên, chúng ta có thể định nghĩa tổng quát khái niệm chủ thể của Luật Quốc tế như sau: Chủ thể của Luật Quốc tế là những thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ quốc tế và khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế từ những hành vi mà chính chủ thể thực hiện.

 

  • Đặc điểm của chủ thể luật quốc tế

 

Xét về vị trí, tính chất, vai trò chức năng và bản chất pháp lý… thì các chủ thể của Luật Quốc tế có sự khác nhau, tuy nhiên chúng bao giờ cũng có chung các đặc điểm cơ bản và đặc trưng sau: năng lực pháp luật, năng lực hành vi pháp luật và năng lực trách nhiệm pháp lý.

 

Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể luật quốc tế có những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định.

 

Năng lực hành vi pháp luật thể hiện qua sự thực hiện có ý thức các quyền và nghĩa vụ của chủ thể luật quốc tế.

 

Chủ thể của luật quốc tế có năng lực trách nhiệm pháp lý đối với những vi phạm pháp luật quốc tế của mình. Những tính chất trên được gọi là tính chủ thể pháp lý.

 

  • Phân loại chủ thể luật quốc tế

 

Hiện nay, trong quan hệ pháp Luật Quốc tế hiện đại thì chủ thể của Luật Quốc tế bao gồm:

 

– Các quốc gia, đây là chủ thể cơ bản và chủ yếu của Luật Quốc tế.

 

– Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, đây là chủ thể tiềm tàng của Luật Quốc tế.

 

– Các tổ chức quốc tế liên chính phủ, đây là chủ thể phái sinh của Luật Quốc tế, được hình thành bởi sự hợp tác của các quốc gia trên nhiều lĩnh vực hướng đến lợi ích của các quốc gia và lợi ích chung của cộng đồng.

 

– Các chủ thể đặc biệt khác.

  1. Có nên xem cá nhân là chủ thể của Luật quốc tế?

 

Thứ nhất: Về sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế do Luật Quốc tế điều chỉnh.

 

Sự tham gia của cá nhân vào các quan hệ pháp luật quốc tế được Luật quốc tế thừa nhận. Một số các tác giả đã viện dẫn các Điều ước Quốc tế về quyền con người (ví dụ như Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948), về vị thế pháp lý của một số nhóm cá nhân trong Luật Quốc tế (Công ước Quốc tế về quyền của người tị nạn 1951), hay quyền của cá nhân được thỉnh cầu lên các Tòa án Quốc tế (Điều 190 Công ước Quốc tế về Luật Biển 1982 cá nhân có quyền được đưa đơn kiện nhà nước tham gia Công ước và đòi hỏi được xét xử tại Toà án Quốc tế về biển), khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế ( ví dụ như Điều lệ Tòa án binh quốc tế 1945, Công ước Quốc tế về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948…).

 

Ngoài ra, theo quy định của pháp luật quốc tế, cá nhân có thể tham gia hạn chế trọng một số quan hệ pháp luật quốc tế đặc biệt, ví dụ, trong quan hệ tố tụng quốc tế, khi Tòa án quốc tế xét xử tội phạm chiến tranh.

 

Rõ ràng, không thể phủ nhận sự tham gia của cá nhân vào các quan hệ pháp luật quốc tế nhưng cá nhân chỉ có khả năng tham gia rất hạn chế vào một số các quan hệ quốc tế xác định hoặc tham gia các quan hệ này một cách gián tiếp thông qua Nhà nước. Điều này liên quan đến dấu hiệu thứ hai: Ý chí độc lập trong sinh hoạt quốc tế.

 

Thứ hai: Về ý chí độc lập trong sinh hoạt quốc tế.

 

Rõ ràng, cá nhân có thể có nhiều quyền mà luật quốc tế ấn định, như quyền xuất ngoại, du nhập vào nước khác, quyền thụ đắc tài sản, quyền hoạt động thương mại,… nhưng cá nhân luôn phải nhờ quốc gia mình can thiệp với nước ngoài, để nước ngoài công nhận những quyền đó của cá nhân. Như thế, rõ ràng là khi tham gia vào tất cả các quan hệ của đời sống xã hội thì cá nhân vẫn chịu một sự chi phối rất lớn từ ý chí, từ quyền lực chính trị của chủ thể đặc biệt – đó là Nhà nước.

 

Ví dụ: Điều 6 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948 quy định: “Những kẻ phạm tội diệt chủng sẽ bị 1 Tòa án có thẩm quyền của quốc gia nơi hành vi phạm tội được thực hiện xét xử hoặc một tòa án hình sự quốc tế có thể phán quyết trên cơ sở các quốc gia thanh viên sẽ chấp nhận thẩm quyền của Tòa án quốc tế đó”

 

Với quy định này có thể thấy, một cá nhân phạm tội diệt chủng, tùy thuộc vào ý chí của các quốc gia, có thể bị xét xử bởi 1 tòa án của quốc gia hoặc bị xét xử bởi 1 tòa án quốc tế do các quốc gia thỏa thuận thành lập. Cá nhân không có quyền lựa chọn, tức là không có ý chí trong một quan hệ pháp luật quốc tế mà mình tham gia.

 

Như vậy, cá nhân không  có ý chí độc lập khi tham gia các quan hệ quốc tế, và như vậy cá nhân không thể là một chủ thể của luật quốc tế

 

Thứ ba: Về việc có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế.

 

Không thể phủ nhận rằng, trên thực tế, có một số trường hợp luật quốc tế trao các quyền và nghĩa vụ trực tiếp cho cá nhân. Đặc biệt là sự ra đời của Bản tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/2948 đã công nhận mọi cá nhân, bất luận là người dân quốc gia độc lập hay bị trị đều được hưởng các quyền và tự do trong bản tuyên ngôn.

 

Các quyền và tự do căn bản trong bản tuyên ngôn có thể được chia thành 4 loại: (1) Các quyền về tự do cá nhân (Từ điều 3 đến điều 13) như các quyền sống tự do và an toàn, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được được bảo vệ chống lại mọi sự bắt bớ giam giữ trái phép, mọi sự tran tấn, trừng phạt dã man, quyền tự do đi lại, xuất ngoại, hồi hương; (2) Các quyền về tự do trong mối liên lạc với người khác (Điều 14 đến Điều 16) như quyền tị nạn, quyền có quốc tịch, quyền lập gia đình; (3) Các quyenf tự do tinh thần và tự do chính trị (từ Điều 17 đến Điều 21) như quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, tự do bầu cử, ứng cử, quyền tham gia các công việc công; (4) Các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (Điều 22 đến Điều 27) như quyền có việc làm, quyền tự do chọn việc làm, tự do lập nghiệp đoàn, được hưởng các chế độ an ninh xã hội, tự do học tập, hưởng một nền giáo dục căn bản và miễn phí, tự do tư tưởng về khoa học,…

 

Một số nhà luật học đã dựa vào những căn cứ như trên đã đề cập, họ chứng minh rằng cá nhân vẫn được hưởng quyền và các nghĩa vụ như các chủ thể khác của luật quốc tế. Tuy nhiên, theo quan điểm của em thì dù các Điều ước Quốc tế trên là hướng tới con người, hướng tới cá nhân thì những quyền, nghĩa vụ cá nhân tồn tại trong Điều ước quốc tế đó chỉ với ý nghĩa là khách thể của các quan hệ pháp luật điều ước quốc tế về quyền con người, hình thành từ sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau hay với tổ chức quốc tế. Cá nhân trong các mối quan hệ như vậy chỉ có thể là đối tượng của những thỏa thuận hay cam kết quốc tế mà không thể là chủ thể của những mối quan hệ đó được.

 

Như vậy, cần phải thấy rằng việc cá nhân tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế về quyền con người là do sự thỏa thuận của các chủ thể luật quốc tế. Cá nhân chỉ là chủ thể của quyền con người chứ không phải chủ thể của luật quốc tế về quyền con người.

 

Trên đây mới bàn đến những quyền, nghĩa vụ của cá nhân có thể gây nhầm lẫn trong việc xác định tư cách chủ thể luật quốc tế của cá nhân. Một điều quan trọng nữa là, trên thực tế có rất nhiều quyền và nghĩa vụ cá nhân không hề có. Theo tập quán quốc tế, những cá nhân không có những quyền hạn do Luật quốc tế ấn định mà những quyền này được dành cho quốc gia. Chẳng hạn như cá nhân không thể thưa kiện trước tòa án quốc tế, không thể kí kết các hiệp ước quốc tế,…

 

Như vậy, có thể khẳng định cá nhân không các quyền, nghĩa vụ ngang bằng, riêng biệt với các chủ thể khác của luật quốc tế mà phải chịu sự tác động của quốc gia.

 

Thứ tư: Về khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể gây ra.

 

Có thể thấy rằng không một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế, trên nó không tồn tại quyền lực chính trị nào chi phối hoạt động của nó và khi tham gia vào các quan hệ quốc tế thì các chủ thể có vị trí độc lập, bình đẳng với nhau. Khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi của mình gây ra có quan hệ mật thiết với khả năng có sự tự do ý chí tham gia các quan hệ quốc tế.

 

Do đó, một điều tất yếu từ việc cá nhân không có các quyền, nghĩa vụ riêng biệt theo quy định của luật quốc tế là cá nhân sẽ không có sự tự do ý chí tham gia các qan hệ quốc tế, đồng thời cá nhân cũng không có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi của mình gây ra 1 cách độc lập. Một khi không có vị trí độc lập bình đẳng với các chủ thể khác, cá nhân sẽ không thể độc lập gánh chịu trách nhiệm pháp lý do những hành vi của mình gây ra.

 

Thực tiễn ta thấy rằng, trong mối tương quan về địa vị pháp lý trong Luật quốc gia thì nhà nước luôn có quyền tài phán đối với công dân nước mình, phần lớn các quan hệ phát sinh giữa cá nhân với nhà nước đều được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy, mệnh lệnh phục tùng. Mặt khác, chúng vẫn có thể bị tài phán bởi các cơ quan quốc tế khác (ví dụ như Tòa án binh Quốc tế) theo Luật Quốc tế.

 

Vì vậy, khi tham gia vào các hoạt động, cá nhân luôn bị chi phối ảnh hưởng bởi quyền lực chính trị và khi tham gia vào quan hệ với các chủ thể khác của Luật Quốc tế thì chúng khó có thể có được vị trí độc lập và bình đẳng.

 

KẾT LUẬN

 

Hiện nay việc có nên đưa cá nhân vào là chủ thể của Công pháp quốc tế hay không cũng đang còn là vấn đề gây tranh cãi lớn. Dù không ủng hộ quan điểm này nhưng em vẫn mong muốn rằng trong tương lai cá nhâ có thể tham gia nhiều hơn nữa vào đời sống quốc tế. Luật Quốc tế cũng như Luật quốc gia đều có sự phát triển, thay đổi theo quá trình phát triển khách quan của xã hội. Vì vậy với sự phát triển và hội nhập toàn cầu như hiện nay thì mở rộng khái niệm “Luật Quốc tế” là điều cần thiết nhưng cần có sự nhìn nhận phù hợp với khoa học pháp lý của từng chế độ, từng hình thức chính trị của mỗi quốc gia.

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

Leave a Reply