kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Bài tập nhóm Công pháp quốc tế có đáp án sưu tầm

PHÂN TÍCH VIỆC ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC MỘT QUỐC TỊCH TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA, TRONG ĐÓ CÓ VIỆT NAM

Bài tập nhóm Công pháp quốc tế: Phân tích việc áp dụng nguyên tắc một quốc tịch trong pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia, trong đó có Việt Nam.

 

 

Cùng với sự phát triển của xã hội, mỗi quốc gia lại có một chế định riêng về vấn đề quốc tịch. Và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Trong hệ thống pháp luật của từng quốc gia quốc tịch là một chế định pháp lý bao gồm các qui định điều chỉnh hình thức và nội dung mối quan hệ pháp luật được thiết lập giữa một cá nhân với một nhà nước. Hiện nay, phần lớn các quốc gia áp dụng nguyên tắc một quốc tịch là chủ yếu. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc một quốc tịch giữa các quốc gia là rất khác nhau, trong đó có Việt Nam.

 

 

  1. Nội Dung

 

  1. Một số vấn đề pháp lý về quốc tịch

 

  1. Khái niệm

 

Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý hai chiều, được xác lập giữa cá nhân với một quốc gia nhất định, có nội dung là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người đó được pháp luật của quốc gia quy định và bảo đảm thực hiện.   2. Đặc điểm

 

Thứ nhất, Quan hệ quốc tịch có tính bền vững và ổn định, thể hiện ở cả thời gian và không gian.

 

Thứ hai, quan hệ quốc tịch mang tính cá nhân, chỉ có ý nghĩa với chính cá nhân đó.

 

Thứ ba, quan hệ quốc tịch mang tính hai chiều thể hiện ở quyền và nghĩa vụ của quốc gia đối với công dân của mình và ngược lại.

 

Thứ tư, quan hệ quốc tịch được điều chỉnh bằng cả hai hệ thống pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế.

 

Thứ năm, quan hệ quốc tịch là căn cứ để giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan tới một cá nhân.

 

  1. Việc áp dụng nguyên tắc một quốc tịch trong pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia trong đó có Việt Nam

 

  1. Nguyên tắc một quốc tịch

 

Là nguyên tắc phổ biến nhất, bao gồm nguyên tắc một quốc tịch triệt để và nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo. Luật quốc tịch các nước không quy định thành nguyên tắc cứng nhưng quan điểm một quốc tịch là quan điểm xuyên suốt toàn bộ nội dung của Luật Quốc tịch các nước nêu trên, chỉ trừ những trường hợp đặc biệt luật quy định thì công dân của nước đó mới được phép mang hai quốc tịch.

 

  1. Nguyên tắc một quốc tịch triệt để

 

Về nội dung, các quốc gia áp dụng nguyên tắc trên chỉ thừa nhận rằng một người có duy nhất một quốc tịch. Việc áp dụng chính sách một quốc tịch triệt để được coi là biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa, hạn chế hoặc loại bỏ những trường hợp hai hay nhiều quốc tịch.

 

Ưu điểm của nguyên tắc trên, đó là tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện chủ quyền quốc gia đối với dân cư.

 

Tuy nhiên, nguyên tắc trên cũng bộc lộ một số hạn chế, đó là tình trạng dân số già có xu hường ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, các quốc gia áp dụng nguyên tắc trên cũng phải đối mặt với nạn chảy máu chất xám, cũng như các vấn đề về nhân lực con người.

 

Các quốc gia tiêu biểu áp dụng nguyên tắc một quốc tịch triệt để, đó là: Nhật Bản, Indonesia, Malaysia,…

 

  1. Nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo.

 

Nội dung quan trọng của nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo, đó là hạn chế một cá nhân có thể có hai hay nhiều quốc tịch, mục đích chính là để bảo đảm nguyên tắc một quốc tịch vẫn được giữ vững. Tuy nhiên, việc hạn chế này chỉ có tính tương đối. Vì trong một số trường hợp đặc biệt, một cá nhân vẫn có thể có quốc tịch nước ngoài nếu họ thỏa mãn điều kiện nhất định.

 

Ưu điểm của nguyên tắc trên đó là vừa đảm bảo nguyên tắc một quốc tịch, vừa đảm bảo nguồn lực phát triển, giúp các quốc gia xử lý linh hoạt hơn đối với trường hợp hai hay nhiều quốc tịch, đặc biệt, nguyên tắc trên dung hòa giữa nguyên tắc một quốc tịch triệt để và nguyên tắc đa quốc tịch.

 

Các quốc gia tiêu biểu áp dụng nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo, đó là: Trung Quốc, Nga,…

 

  1. Việc áp dụng nguyên tắc một quốc tịch trong pháp luật quốc tế

 

Nguyên tắc một quốc tịch là nguyên tắc mà các điều ước quốc tế đa phương hiện nay hướng đến, hạn chế hoặc loại bỏ những trường hợp hai quốc tịch hoặc nhiều quốc tịch, nội dung chủ yếu bao gồm:

 

Thứ nhất, các quốc gia thành viên cam kết giảm các trường hợp cá nhân có hai hay nhiều quốc tịch (Định ước cuối cùng Hội nghị Lahaye 1930…).                                                                                                         Thứ hai, khuyến nghị hoặc đề ra các biện pháp nhằm giải quyết các trường hợp hai hay nhiều quốc tịch (Định ước cuối cùng Hội nghị Lahaye 1930, Công ước Lahaye 1930…).

 

Thứ ba, đưa ra biện pháp khác nhằm hạn chế trường hợp hai hay nhiều quốc tịch. Ví dụ, như Công ước Liên hợp quốc xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), trong trường hợp kết hôn mà chồng đổi quốc tịch, thì không làm mặc nhiên thay đổi quốc tịch của vợ. Hay theo các điều ước quốc tế hữu quan, những người có hai hoặc nhiều quốc tịch có quyền tự do lựa chọn quốc tịch của một trong các nước tham gia điều ước quốc tế, trong trường hợp không lựa chọn được quốc tịch thì họ được coi là công dân của nước nơi họ cư trú thường xuyên.

 

Đối với các điều ước quốc tế đa phương khu vực, các quốc gia thành viên tham gia soạn thảo và ký kết, nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc một quốc tịch được đầy đủ và toàn diện, ngoài ra, còn nhằm hạn chế hoặc loại bỏ những trường hợp hai quốc tịch hoặc nhiều quốc tịch. Ví dụ, như Công ước châu Âu 1963 quy định cho phép người hai hay nhiều quốc tịch được từ bỏ quốc tịch mà họ không muốn nếu họ thỏa mãn một số điều kiện, đồng thời, quốc gia bị chối bỏ quốc tịch không được từ chối yêu cầu đó.

 

  1. Việc áp dụng nguyên tắc một quốc tịch trong pháp luật một số quốc gia

 

  1. Các quốc gia áp dụng nguyên tắc một quốc tịch triệt để

 

Nhật Bản

 

Nhật Bản là quốc gia tiêu biểu trong việc áp dụng nguyên tắc một quốc tịch triệt để. Các quy định trong Luật quốc tịch Nhật Bản đều nhằm đảm bảo tối đa nguyên tắc trên.

 

Theo đó, điều kiện bắt buộc nếu một cá nhân muốn nhập quốc tịch Nhật Bản, đó là họ phải từ bỏ quốc tịch gốc của họ. Ngoài ra, một trong những căn cứ làm một cá nhân mất quốc tịch Nhật Bản là họ có quốc tịch nước ngoài.

 

Trong trường hợp một cá nhân có hai hay nhiều quốc tịch, thì cá nhân đó có nghĩa vụ lựa chọn quốc tịch. Nếu họ đã chọn quốc tịch Nhật Bản, nhưng vẫn giữ quốc tịch nước ngoài hoặc tự nguyện làm việc trong cơ quan nhà nước nước ngoài thì họ có thể bị tuyên bố mất quốc tịch.

 

Indonesia

 

Indonexia cũng là gia tiêu biểu khác trong việc áp dụng nguyên tắc một quốc tịch triệt để.

 

Luật quốc tịch Indonexia cũng có quy định về nghĩa vụ lựa chọn quốc tịch. Cũng như điều kiện bắt buộc để nhập quốc tịch Indonexia, đó là phải từ bỏ quốc tịch gốc. Đồng thời, còn đưa ra rất nhiêu căn cứ khác nhau có thể dẫn đến mất quốc tịch.

 

Tuy nhiên, khác với Nhật Bản, Luật quốc tịch Indonexia cho phép trẻ em dưới 18 tuổi và thỏa mãn điều kiện nhất định, có thể có hai quốc tịch trong một khoảng thời gian. Việc pháp luật Indonexia quy định như vậy, nhằm mục đích giúp trẻ em có đủ chín chắn để hiểu được tầm quan trọng của quốc tịch, đồng thời, có đủ thời gian đánh giá, cân nhắc trước khi đưa ra quyết định.

 

  1. Các quốc gia áp dụng nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo

 

Trung Quốc

 

Việc Trung Quốc áp dụng nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo, xuất phát từ nhu cầu đảm bảo lợi ích đất nước. Các quy định trong Luật quốc tịch Trung Quốc đều nhằm hạn chế tình trạng hai hay nhiều quốc tịch.

 

Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, một cá nhân có thể nhập quốc tịch Trung Quốc, mà vẫn giữ được quốc tịch gốc, nếu họ thỏa mãn điều kiện nhất định. Ngoài ra, một cá nhân có thể có hai hay nhiều quốc tịch, nếu trong quá trình nhập quốc tịch Trung Quốc, họ không thể cung cấp quyết định thôi quốc tịch gốc, và trong trường hợp đó họ không có lỗi.

 

Nga

 

Luật quốc tịch Nga có một số điểm khác biệt so với pháp luật của các quốc gia áp dụng nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo. Đó là trong trường hợp, nếu một cá nhân có quốc tịch Nga và quốc tịch nước ngoài, thì quyền và nghĩa vụ của họ được xác định theo pháp luật Nga, mà không tính tới pháp luật của quốc gia mà cá nhân đó mang quốc tịch. Trừ một số trường hợp ngoại lệ.

 

Bên cạnh đó, nếu một cá nhân nhập quốc tịch Nga, họ không bắt buộc phải từ bỏ quốc tịch gốc. Đồng thời, nếu một cá nhân gia nhập quốc tịch khác, thì họ cũng không bị mất quốc tịch Nga.

 

  1. Việc áp dụng nguyên tắc một quốc tịch trong pháp luật Việt Nam

 

Việt Nam là quốc gia áp dụng nguyên tắc một quốc tịch. Theo từng giai đoạn, Việt Nam chuyển dần từ áp dụng nguyên tắc một quốc tịch triệt để, sang nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo.

 

Có thể khẳng định rằng nguyên tắc cơ bản thể hiện trong Chương I của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 là nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo.

 

Nếu Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 có tên gọi là “nguyên tắc một quốc tịch” thì “nguyên tắc quốc tịch” là tên gọi của Điều 4 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008. Nguyên tắc quốc tịch được xác định trong Luật năm 2008 là: “Nhà nước CHXHCN Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trong trường hợp Luật này có quy định khác”. Như vậy có thể thấy khác với Luật quốc tịch năm 1998 được xây dựng trên nguyên tắc một quốc tịch triệt để, Luật quốc tịch năm 2008 được xây dựng trên nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo.

 

Nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo thể hiện ở chỗ một mặt Luật quốc tịch năm 2008 xác định ở nước CHXHCN Việt Nam mọi cá nhân đều có quyền có quốc tịch Việt Nam, mọi thành viên của các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam, Nhà nước thừa nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, Nhà nước cũng thừa nhận tình trạng một số người có hai hoac nhiêu quôc tịch.

 

  1. Kết Luận

 

Nguyên tắc một quốc tịch là nguyên tắc phổ biến nhất trên thế giới, và cũng là nguyên tắc được các điều ước quốc tế song phương và đa phương hướng đến. Trong áp dụng nguyên tắc một quốc tịch, nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo đang được ngày càng nhiều quốc gia lựa chọn, trong đó có Việt Nam vìi những ưu điểm nổi trội của nó.

 

Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo

 

  1. Giáo trình luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, Hà Nội, 2009.
  2. Giáo trình luật quốc tế, ThS.Nguyễn Thị Kim Ngân – ThS.Chu Mạnh Hùng (Đồng chủ biên), Nxb.GD, Hà Nội, 2010.
  3. Luật quốc tịch Việt Nam 2008.
  4. Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 – Bước tiến mới trong việc bảo vệ các quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam, PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng, Tạp chí luật học, 2009.
  5. Người hai hay nhiều quốc tịch – một số vấn đề pháp lý và thực tiễn, Phan Thị Kim Thủy, Hà Nội, 2011.

QUYỀN NĂNG CỦA TỔ CHỨC QUỐC TẾ LIÊN CHÍNH PHỦ LÀ QUYỀN NĂNG PHÁI SINH VÀ HẠN CHẾ – BÀI TẬP NHÓM CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

  1. LỜI MỞ ĐẦU

 

 

Mỗi một hệ thống pháp luật đều có những chủ thể nhất định của nó. Chủ thể của Luật Quốc tế là thực thể đang tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách độc lập, có đầy đủ quyền, nghĩa vụ quốc tế và có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do chính hành vi của chủ thể gây ra. Là một trong các chủ thể của Luật Quốc tế, tổ chức quốc tế liên chính phủ là một khuôn khổ hợp tác phổ biến hiện nay giữa các quốc gia, mang trong mình quyền năng chủ thể luật quốc tế đó là quyền năng phái sinh và hạn chế. Để làm rõ hơn về những quyền năng này của tổ chức liên chính phủ, nhóm xin được trình bày vấn đề: “Thông qua vấn đề lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng quyền năng của tổ chức quốc tế liên chính phủ là quyền năng phái sinh và hạn chế”.

 

 

  1. NỘI DUNG

 

  1. Khái quát chung về tổ chức quốc tế liên chính phủ

 

  1. Khái niệm tổ chức quốc tế liên chính phủ

 

Tổ chức quốc tế liên chính phủ là thực thể lien kết chủ yếu các quốc gia độc lập có chủ quyền, được thành lập và hoạt động trên cơ sở điều ước quốc tế, phù hợp với Luật quốc tế hiện đại, có quyền năng chủ thể riêng biệt và một hệ thống cơ cấu tổ chức phù hợp để thực hiện các quyền năng đó theo đúng mục đích và tôn chỉ của tổ chức.

 

  1. Đặc điểm cơ bản của tổ chức quốc tế liên chính phủ

 

_Thứ nhất, thành viên của các tổ chức quốc tế liên chính phủ chủ yếu là các quốc gia độc lập có chủ quyền. Trong một số tổ chức quốc tế liên chính phủ còn chấp nhận tư cách thành viên của các chủ thể khác của Luật Quốc tế như vùng lãnh thổ hay tổ chức quốc tế liên chính phủ.

 

_Thứ hai, tổ chức quốc tế liên chính phủ được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế được ký kết giữa các thành viên.

 

_Thứ ba, tổ chức quốc tế liên chính phủ có cơ cấu tổ chức chặt chẽ để duy trì quan hệ giữa các thành viên, giữa thành viên với tổ chức quốc tế,…

 

_Thứ tư, tổ chức quốc tế liên chính phủ hoạt động theo đúng tôn chỉ, mục đích đã được các thành viên thỏa thuận xác định khi thành lập tổ chức.

 

  1. Quyền năng của tổ chức quốc tế liên chính phủ là quyền năng phái sinh và hạn chế.

 

  1. Tính phái sinh trong quyền năng của tổ chức quốc tế liên chính phủ

 

1.1. Cơ sở lý luận

 

Để chứng minh quyền năng của tổ chức quốc tế liên chính phủ là quyền năng phái sinh, ta dựa vào các yếu tố sau đây:

 

_ Thứ nhất, quyền năng chủ thể của tổ chức liên chính phủ nó không dựa vào thuộc tính “tự nhiên” vốn có như quốc gia mà quyền năng này được ghi nhận ngay chính trong hiến chương, điều lệ thành lập nên tổ chức do các quốc gia thỏa thuận thành lập. Quyền năng này là quyền năng phái sinh từ quyền năng chủ thể Luật Quốc Tế của quốc gia.

 

_Thứ hai, điều ước quốc tế thành lập nên các tổ chức quốc tế, các quốc gia thành viên cùng thỏa thuân về tư cách chủ thể, quy định về quyền năng, thẩm quyền của tổ chức quốc tế đó.Nghĩa là, các thành viên thỏa thuận đến đâu thì tổ chức quốc tế liên chính phủ có quyền năng đến đó. Tư cách của tổ  chức quốc tế liên chính phủ có  từ thời điểm các văn bản, hiến chương, điều lệ phát sinh hiệu lực. Các tổ chức quốc tế liên chính phủ được thành lập nhằm những mục đích nhất định và trong những lĩnh vực họat động, phạm vi họat động của tổ chức đó do các quốc gia thành viên quy định cho nó. Vì mỗi tổ chức quốc tế liên chính phủ chỉ giải quyết một công việc cụ thể và trong khuôn khổ sự thỏa thuận của các quốc gia giao cho nó.

 

_ Thứ ba, quyền năng chủ thể của tổ chức quốc tế liên chính phủ không giống nhau.Mỗi tổ chức quốc tế liên chính phủ đều có quyền năng chủ thể quốc tế của riêng mình (quyền năng phái sinh), được các chủ thể là thành viên của tổ chức quốc tế thỏa thuận xây dựng lên và được ghi nhận trong điều ước quốc tế thành lập nên tổ chức quốc tế đó.Các quốc gia thỏa thuận thành lập cũng như thỏa thuận, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức quốc tế liên chính phủ phải dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản luật quốc tế hiện đại.Vì chỉ được xem là chủ thể của luật quốc tế hiện đại khi các tổ chức này được thành lập phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế hiện đại.

 

1.2. Cơ sở thực tiễn

 

Thông qua Tổ chức thương mại thế giới WTO, ta có thể thấy được rõ ràng tính phái sinh của tổ chức quốc tế liên chính phủ được thể hiện.

 

Tổ  chức  thương  mại  thế  giới  (WTO) được  thành  lập  ngày 1/1/1995, trên cơ sở Hiệp định Marrakesh. WTO hoạt động không chỉ trong lĩnh vực thương mại hàng hóa như GATT (Hiệp định chung về thuế quan và thương mại), mà còn trong cả lĩnh vực thương mại dịch vụ, đầu tư và thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ. Hiện nay, WTO có 153 thành viên và Việt Nam  chính  thức  trở  thành  thành  viên  của  tổ  chức  này  năm  2007.

nhất, quyền năng của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)  được hình thành từ sự thỏa thuận của các quốc gia thành viên.

 

WTO được thành lập do sự thỏa thuận của 153 nước thành viên và được ghi nhận trong Hiệp định Marrakesh. Quyền năng của WTO cũng được ghi nhận trong bản hiệp định này kể từ khi hiệp định có hiệu lực.Hiệp định Marrakesh thông qua 153 nước thành viên đã thỏa thuận quyền năng của tổ chức thương mại thế giới này. Các nước cùng thỏa thuận quyền năng cũng như thẩm quyền của tổ chức do chính mình thành lập ra.

 

Thứ hai, Hiệp định Marrakesh thong qua 153 nước thành viên đã thỏa thuận quyền năng của tổ chức thương mại thế giới này

 

Điều III Hiệp định đã nêu rất rõ 5 chức năng chính của WTO bao gồm: là khuôn khổ đồng  tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và điều hành các Hiệp định trong khuôn khổ WTO; là diễn đàn cho các cuộc đàm phán thương mại đa phương;  là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các thành viên; là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên và hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới nhằm tăng cường tính gắn kết trong xây dựng chính sách kinh tế toàn cầu.

 

Các quyền năng này không phải là thuộc tính vốn có của tổ chức thương mại thế giới WTO mà do các quốc gia thành viên thừa nhận trao cho. Trong Hiệp định thành lập tổ chức WTO, các quốc gia thành viên đã thỏa thuận về tư cách chủ thể, quy định về phạm vi thẩm quyền của WTO. Tư cách chủ của WTO có từ thời điểm hiệp ước trên có hiệu lực. Hay nói cách khác, tổ chức WTO có quyền năng chủ thể luật quốc tế của riêng mình (quyền năng phái sinh), được các quốc gia thành viên thỏa thuận xây dựng lên và được ghi nhận trong Hiệp định thành lập tổ chức thương mại thế giới.

 

Thứ ba, quyền năng của tổ chức thương mại WTO không giống với bất kì tổ chức quốc tế lien chính phủ nào. Trên thế giới, có rất nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hợp quốc ( UN), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ( ASEAN)…nhưng không có quyền năng của tổ chức quốc tế nào giống nhau bởi lẽ quyền năng đó được ghi nhận trong các Điều ước, hiến chương cũng như Hiệp định các nước thành viên cùng thỏa thuận thành lập. Theo đó, tổ chức thương mại WTO  quyền năng của nó được ghi nhận trong Điều III ghi nhận trong Hiệp định Marrakesh.

 

  1. Tính hạn chế trong quyền năng của tổ chức quốc tế liên chính phủ

 

2.1. Cơ sở lý luận

 

Tính hạn chế trong quyền năng chủ thể luật quốc tế của tổ chức quốc tế liên chính phủ được thể hiện là trong khi quốc gia có thể tự quyết định tham gia vào bất cứ quan hệ nào trên cơ sở chủ quyền thì tổ chức quốc tế liên chính phủ chỉ có thể tham gia vào các hoạt động thuộc những lĩnh vực mà thành viên của tổ chức đó trao cho, bị giới hạn trong phạm vi hoạt động thuộc lĩnh vực mà các thành viên của tổ chức cam kết hay thỏa thuận

 

Quyền năng chủ thể chủ thể luật quốc tế của tổ chức quốc tế liên chính phủ được thể hiện ở việc ngoài một số quyền năng chủ thể luật quốc tế cơ bản mà bất kì chủ thể luật quốc tế nào cũng được hưởng thụ như quyền năng kí kết các điều ước quốc tế, quyền ưu đãi và miễn trừ, quyền năng chủ thể của tổ chức quốc tế bị hạn chế trong vi điều lệ của tổ chức quốc tế.

 

_Tất cả các Quốc gia khi tham gia vào bất kì tổ chức Quốc tế nào đều có điều ước sáng lập và buộc Quốc gia đó phải tuân theo.

 

Thực tế cho thấy bất kì một tổ chức quốc tế nào ra đời đều có thành viên sáng lập và điều ước sáng lập. Quyền năng chủ thể của tổ chức liên chính phủ không dựa vào thuộc tính tự nhiên, vốn có như quốc gia mà quyền năng này được ghi nhận ngay chính trong hiến chương, điều lệ thành lập nên tổ chức do các quốc gia thỏa thuận thành lập. Do đó, quyền năng chủ thể của tổ chức liên chính phủ không giống nhau, quyền năng đó dựa trên các văn bản, hiến chương, điều lệ, quy chế của tổ chức đó. Nói cách khác, tổ chức quốc tế liên chính phủ chỉ hoạt động gói ghém trong phạm vi hiến chương, điều lệ của tổ chức đó quy định, nếu hoạt động ra ngoài điều lệ là vi phạm điều lệ, hiến chương, hoạt động trong một số lĩnh vực chuyên môn, lĩnh vực hoạt động nhất định.

 

_Quyền được ký kết các Điều ước quốc tế:

 

Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế của tổ chức quốc tế xuất phát từ quyền năng chủ thể của các tổ chức quốc tế và thường được ghi nhận trong Hiến chương và các văn bản pháp lý khác của tổ chức quốc tế.Tổ chức quốc tế có thể ký kết các điều ước quốc tế với các quốc gia, kể cả quốc gia thành viên.Tổ chức quốc tế cũng có thể ký kết các điều ước quốc tế với các tổ chức quốc tế khác.Tuy nhiên, do tính chất quyền năng chủ thể luật quốc tế của tổ chức quốc tế nên thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế của chủ thể này không giống như thẩm quyền của các quốc gia.Vì vậy, có những loại điều ước quốc tế quy định không có sự tham gia của các tổ chức quốc tế.Đối với nhiều điều ước quốc tế có ghi nhận rõ những loại quốc gia và tổ chức quốc tế nào có thể là thành viên của điều ước đó.

 

_Quyền được kế thừa:

 

Quyền được kế thừa tài sản, điều ước, tài liệu cũng là một vấn đề hạn chế của tổ chức Quốc tế liên chính phủ với tư cách là chủ thể luật Quốc tế: Nếu một quốc gia tan rã thì tài sản, điều ước,… sẽ do quốc gia đó kế thừa tất cả. Đây là một điều tất yếu.Một quốc gia có thể kế thừa được hưởng toàn bộ tài sản của quốc gia để lại kế thừa, kể cả tài sản trong và ngoài nước.Trong khi đó, khi một tổ chức quốc tế giải tán thì các quốc gia thành viên có thể kế thừa hoặc không kế thừa.

 

_Quyền được giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các thành viên với nhau và giữa thành viên với tổ chức quốc tế:

 

Một vấn đề nữa để tổ chức quốc tế được xem là chủ thể hạn chế của Luật Quốc tế đó là  vấn  đề  giải  quyết  tranh  chấp.  Khi  giải  quyết  tranh  chấp  cần  phải  lấy  được  sự thống nhất ý kiến của tất cả các nước thành viên trong tổ chức. Khi giải quyết xung đột và tranh chấp trong quốc gia thì đó là một vấn đề khá đơn giản. Nhưng khi giải quyết tranh chấp giữa các thành viên trong một tổ chức quốc tế thì nguyên tắc cơ bản nhất là phải lấy được sự thống nhất ý kiến thuộc tất cả các nước thành viên. Đây là một vấn đề nan giải vì số lượng thành viên thuộc các tổ chức quốc tế không phải là ít. Để được tất cả đồng ý là một công việc tốn rất nhiều thời gian, công sức và của cải.

 

2.2. Cơ sở thực tiễn

 

Thông qua Tổ chức thương mại thế giới WTO có thể dễ dàng thấy được tính hạn chế trong quyền năng của tổ chức quốc tế liên chính phủ.

 

Tổ chức thương mại thế giới chỉ giới hạn hoạt động trong phạm vi lĩnh vực về thương mại, hoạt động trong khuôn khổ tương ứng với năm chức năng chính đã được quy định tại Điều III Hiệp định Marrakesh.

 

Về thẩm quyền được ký kết các điều ước quốc tế, WTO không được tham gia ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề an ninh, quốc phòng,…theo thỏa thuận của các thành viên. Theo đó, WTO chỉ  tham  gia  các  điều  ước  quốc  tế  liên  quan  đến  lĩnh  vực  thương  mại  hành  hoá, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ,…

 

Về vấn đề giải quyết các tranh chấp,quy trình giải quyết tranh chấp thương mại WTO là một vấn đề khá phức tạp. Khi một nước thành viên WTO áp dụng một biện pháp chính sách thương mại và một hoặc một số thành viên khác coi là vi phạm các quyền của họ được quy định trong các hiệp định WTO thì xuất hiện tranh chấp. Khi một thành viên đưa tranh chấp ra kiện tại WTO, Hội đồng chung của WTO với vai trò là cơ quan giải quyết tranh chấp (OSB) sẽ bổ nhiệm một đoàn thẩm phám có quyền độc lập xem xét vụ kiện và đưa ra phán quyết dựa trên các hiệp định WTO và cam kết của từng nước thành viên. Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp của WTO là giải pháp công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và các bên đều chấp nhận được.WTO khuyến khích các bên tranh chấp tự tham khảo ý kiến và dàn xếp với nhau trước khi bắt đầu và kể cả trong quá trình xét xử. Việc xét xử phải theo một lộ trình rõ ràng gồm nhiều giai đoạn với thời gian cụ thể. WTO quy định các phán quyết tự động có hiệu lực trừ khi bị tất cả các nước bác bỏ

 

  1. KẾT LUẬN

 

Chính sự ra đời và phát triển của các tổ chức quốc tế lớn như Liên hợp quốc, Tổ chức thương mại thế giới, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á,… đã dẫn tới sự công nhận tư cách chủ thể của Luật Quốc tế của các tổ chức quốc tế liên chính phủ nói chung. Các tổ chức ngày càng hoàn thiện hơn về cơ cấu tổ chức, chức năng hoạt động.Thông qua lý luận và thực tiễn, từ những phân tích và chứng minh trên, ta có thể khẳng định quyền năng của tổ chức quốc tế liên chính phủ là quyền năng phái sinh và hạn chế. Do kiến thức còn hạn chế, nên bài làm của nhóm chắc chắn còn nhiều thiếu sót, mong thầy cô xem xét và góp ý kiến để bài làm được hoàn thiện hơn.

HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRỪNG PHẠT VŨ TRANG CỦA HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HIỆP QUỐC – BÀI TẬP NHÓM CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Trên cơ sở quy định tại điều 24 Hiến chương LHQ, Hội đồng bảo an là cơ quan lãnh đạo chính trị thường trực của LHQ, chịu trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới. HĐBA có thể áp dụng các biện pháp nhằm giải quyết các tranh chấp quốc tế hoặc xung đột.Khi cần thiết, có thể sử dụng hành động, kể cả việc cương chế và vũ lực nhằm loại trừ các mối đe dọa, phá hoại hòa bình và các hành động xâm lược. Sau đây là bài làm của nhóm 1 về vấn đề: “Phân tích cơ sở pháp lý và thực tiễn hoạt động áp dụng các biện pháp trừng phạt vũ trang của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc”

 

NỘI DUNG

 

  1. Khái quát chung.

 

  1. Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc

 

 

Điều 7, Hiến chương Liên hợp quốc quy định về cơ cấu tổ chức của Liên hợp quốc gồm 6 cơ quan chính và các cơ quan chuyên môn khác. Trong đó, Hội đồng Bảo an là cơ quan thường trực của Liên hợp quốc  có vai trò quan trọng nhất trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế trên phạm vi toàn cầu. Hội đồng Bảo an gồm 15 thành viên, trong đó có 5 ủy viên thường trực (Cộng hòa Liên bang Nga, Công hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Pháp, Liên hiệp Vương quốc Anh – Bắc Ailen và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) cà 10 ủy viên không thường trực được Đại hội đồng bầu ra với nhiệm kỳ 2 năm.

 

 

Để đảm bảo cho Liên Hiệp Quốc hoạt động nhanh chóng và hiệu quả, các thành viên Liên Hiệp Quốc trao cho Hội đồng bảo An trách nhiệm chính trong sự nghiệp duy trì hòa bình, an ninh quốc tế và thừa nhận rằng, khi làm những nghĩa vụ do trách nhiệm ấy đặt ra, thì Hội đồng bảo an hành động với tư cách thay mặt cho các thành viên của Liên Hiệp Quốc. Khi thực hiện những nghĩa vụ đó, Hội đồng bảo an được trao cho những quyền hạn nhất định để có thể làm tròn nghĩa vụ của mình. Các quyền hạn đó được quy định ở chương VI, VII, VIII và XII.

 

  1. Biện pháp trừng phạt của Hội đồng Bảo An LHQ.

 

Trong luật quốc tế nói chung và Hiến chương Liên hợp quốc nói riêng cho tới nay chưa có một khái niệm cụ thể về trừng phạt quốc tế hay khái niệm trừng phạt vũ trang quốc tế.

 

Biện pháp trừng phạt vũ trang của HĐBA LHQ có thể hiểu theo điều 42, Hiến chương Liên Hiệp Quốc: “Nếu HĐBA nhận thấy những biện pháp nói tại điều 41 là không phù hợp hoặc đã mất hiệu lực, thì HĐBA có thẩm quyền áp dụng mọi hành động của hải, lục, không quân mà HĐBA xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế. Những hành động này có thể là các cuộc biểu dương lực lượng, phong tỏa và những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của ác thành viên trong LHQ thực hiện.”

 

  1. Cơ sở pháp lý và thực tiễn hoạt động áp dụng các biện pháp trừng phạt vũ trang của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

 

  1. Cơ sở pháp lý áp dụng các biện pháp trừng phạt vũ trang của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

 

Trong Chương VII Hiến chương Liên hợp quốc, cụ thể tại quy định các Điều 42, Điều 43, Điều 44, Điều 45, Điều 46, Điều 47, Điều 49, Điều 50 là cơ sở pháp lý đảm bảo cho biện các biện pháp trừng phạt vũ trang của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

 

Theo Điều 42 Hiến chương Liên hợp quốc: “Nếu Hội đồng Bảo an nhận thấy những biện pháp nói ở Điều 41 là không thích hợp, hoặc đã mất hiệu lực, thì Hội đồng Bảo an có thẩm quyền áp dụng mọi hành đông của hải, lục, không quân mà Hội đồng bảo an xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế. Những hành động này có thể là những cuộc hành quân khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của các nước thành viên Liên hợp quốc thực hiện”. Như vậy, ta xác định:

 

– Về điều kiện để áp dụng biện pháp trừng phạt vũ trang, đó là: Trong trường hợp hòa bình bị đe dọa, bị phá hoại hoặc có hành vi xâm lược và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã áp dụng các biện pháp tạm thời không cho tình hình nghiêm trọng hơn như: yêu cầu các bên thi hành ngừng bắn, rút quân về vị trí ban đầu, … và trong trường hợp tình hình trở nên xấu đi, Hội đồng Bảo an tiếp tục áp dụng các biện pháp phi vũ trang khác như cắt đứt toàn bộ hay từng phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường biển… nhưng nhận thấy những biện pháp này không thích hợp hay tỏ ra không thích hợp hoặc mất hiệu lực thì Hội đồng Bảo an có quyền áp dụng các biện pháp vũ trang.

 

– Về nội dung của các biện pháp trừng phạt vũ trang: Khi thỏa mãn các điều kiện để tiến hành các biện pháp trừng phạt vũ trang, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có quyền tiến hành các biện pháp trừng phạt vũ trang bằng việc sử dụng lực lượng hải quân, lục quân, không quân để tiến hành những cuộc biểu dương lực lượng, những biện pháp phong tỏa hoặc những cuộc hành quân khác mà Hội đồng Bảo an xét thấy cần thiết cho việc duy trì hòa bình, an ninh quốc tế.

 

Những kế hoạch sử dụng lực lượng vũ trang sẽ do Hội đồng Bảo an đề ra với sự giúp đỡ của Ủy ban tham mưu quân sự (theo điều 46 Hiến chương LHQ)

 

Ủy ban tham mưu quân sự được quy định cụ thể tại Điều 47 Hiến chương Liên hợp quốc.

 

– Về mục đích của các biện pháp trừng phạt vũ trang: Tất cả các biện pháp vũ trang nêu trên của Hội đồng Bảo an nhằm mục đích trừng phạt các quốc gia đã thực hiện hành vi đe dọa, phá hoại hòa bình hoặc có hành vi xâm lược đồng thời qua đó hạn chế các điều kiện tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm của các quốc gia này.

 

– Ngoài ra, để hỗ trợ cho hoạt động trừng phạt vũ trang nhằm đảm vai trò của Hội đồng bảo an, Hiến chương Liên hợp quốc còn quy định: khi Hội đồng Bảo an quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc phải có nghĩa vụ cung cấp cho Hội đồng Bảo an lực lượng vũ trang cần thiết, sự yểm trợ và mọi phương tiện khác kể cả cho quân đội của Liên hợp quốc qua lãnh thổ nước mình (Điều 43), các thành viên cũng phải báo động cho một số phi đội không quân vào tư thế sẵn sàng chiến đấu khi Liên hợp quốc có ý định áp dụng những biện pháp quân sự khẩn cấp (Điều 45). Tuy nhiên, trước đó Hội đồng Bảo an cũng cần phải mời thành viên đó, nếu họ muốn, tham gia việc định ra những quyết định của Hội đồng Bảo an về sơ bộ sử dụng lực lượng vũ trang của thành viên ấy (Điều 44).

 

2.Thực tiễn hoạt động áp dụng các biện pháp trừng phạt vũ trang của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

 

Mặc dù hoạt động dựa trên quy định của Luật quốc tế, song thực tiễn hoạt động áp dụng các biện pháp trừng phạt vũ trang của HĐBA LHQmang những nét đặc trưng qua mỗi thời kì do chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh chung của thế giới ở mỗi giai đoạn khác nhau. Trong đó, tiêu biểu nhất là thời kì Chiến tranh lạnh (1946-1991) và sau năm 1991 đến nay. Việc sử dụng các biện pháp trừng phạt vũ trang của HĐBA về cơ bản vẫn trên quy định của luật chung nhưng cũng vì bối cảnh thực tế mà có những khác nhau qua mỗi thời kì.

 

Vào thời kì chiến tranh lạnh, nhằm mục đích cân bằng lực lượng, tiềm năng kinh tế và quân sự của hai cường quốc Mĩ và Liên Xô, sự phân cực đông tây, sự tranh giành của hai khối này đối với các nước mới giành độc lập, sự xuất hiện của vũ khí hạt nhân. Đòi hỏi phải có sự kiềm chế để tránh nguy cơ chiến tranh hủy diệt nhân loại. Lúc này Hội đồng bảo anLHQ  cần cấp bách đưa ra những biện pháp của mình, tuy nhiên lúc này hội đồng bảo an ít được sự đồng thuận đối với các vấn đề quốc tế. Vì thế trong suốt 46 năm hội đồng bảo an chỉ được áp dụng các biện pháp trừng trị vũ trang 2 lần, đó là với Inđônêxia năm 1966 và Nam Phi năm 1977.

 

Phải từ thập kỷ cuối cùng của thế kỷ trước, LHQ mới có những nghị quyết cho phép tiến hành những hoạt động quân sự để can thiệp vào các tình huống được coi là đe đọa đến hòa bình, chiến tranh hay hành vi xâm lược. Ví dụ điển hình nhất là NQ 678 của HĐBA cho phép các nước thành viên tấn công I rắc để trừng phạt hành vi xâm lược Cô oét (Chiến dịch bão táp sa mạc trong Cuộc chiến Vùng Vịnh năm 1991).Cụ thể, ngày 2/8/1990, I rắc xâm chiếm Cô oét.2 ngày sau đó, I rắc tuyên bố Cô oét là một phần của I rắc.Vào 9/8/1990, HĐBA tuyên bố trong NQ 660 rằng một sự phá vỡ hòa bình đã diễn ra và kêu gọi I rắc phải lập tức rút quân khỏi Cô oét. Sau đó, một loạt các biện pháp trừng phạt phi vũ trang được áp đặt đối với I rắc theo các NQ 661, NQ 662, NQ 665, và được tiếp tục tăng cường theo NQ 670 của HĐBA. Tuy nhiên, I rắc vẫn chưa thể hiện được cho cộng đồng quốc tế thấy những nỗ lực của mình trong việc cải thiện tình hình.Như vậy, đến thời điểm này, các điều kiện cho việc áp dụng biện pháp trừng phạt vũ trang của HĐBA đối với I rắc đã hình thành đầy đủ. Nhận thấy những biện pháp nói tại Điều 41 đã không còn phù hợp, tháng 11/1990, HĐBA đã ban hành NQ 678, cho phép các nước thành viên sử dụng mọi biện pháp cần thiết, kể cả hành động quân sự chống lại các lực lượng I rắc đang chiếm đóng Cô oét, và yêu cầu I rắc phải rút toàn bộ quân đội ra khỏi Cô oét trước ngày 15 tháng 1 năm 1991. Với NQ 678, HĐBA đã cho phép áp dụng các biện pháp trừng phạt vũ trang đối với I rắc.Hạn chót trôi qua, Mỹ đứng đầu liên quân tấn công I rắc.Trong vòng 100 ngày, Cô oét được giải phóng.Thái độ thù địch tạm thời chấm dứt bằng sự chấp thuận của I rắc đối với NQ 686.

 

Tăng lên về số lượng và chất lượng, các biện pháp vũ trang sau chiến tranh lạnh thể hiện tính trung lập, khách quan trong việc giải quyết các sự việc diễn ra trên thế giới.

 

Nhìn chung, các biện pháp & cách thức được HĐBA áp dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. cũng như khôi phục và giữ gìn hòa bình, an ninh thế giới. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy không phải tất cả các biện pháp và quy chế này trong mọi trường hợp đều có kết quả bởi việc áp dụng các biện pháp ấy ra sao, khi nào còn phụ thuộc vào bối cảnh quốc tế , sự hợp tác và thiện chí của các quốc gia.

 

III. Đánh giá chung về cơ sở pháp lý và thực tiễn hoạt động áp dụng các biện pháp trừng phạt vũ trang của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

 

  1. Về mặt tích cực.

 

Với tính chất là biện pháp cưỡng chế bằng vũ lực của LHQ các biện pháp trừng phạt vũ trang nhằm đảm bảo thi hành các nguyên tắc của LHQ.

 

Đây là biện pháp thực sự phù hợp và hiệu quả khi mà các biện pháp phi vũ trang không thích hợp, các quốc gia sẽ phải đối mặt với rất nhiều bất lợi khi có sự vi phạm.

 

Ngoài ra, đây là biện pháp có tác động tích cực tới ý thức và hành vi tôn trọng luật quốc tế của các chủ thể luật quốc tế.

 

  1. Một số hạn chế và kiến nghị.

 

Bên cạnh những ý nghĩa trong việc được áp dụng hoạt động trừng phạt vũ trang, HĐBA cũng đã phải nhận một số chỉ trích do không thể hoạt động một cách rõ ràng và kiên quyết khi đối đầu trước một cuộc khủng hoảng. Những ví dụ gần đây gồm chương trình hạt nhân của Iran và sự diệt chủng trong cuộc xung đột Darfur, Sudan.

 

Trong báo cáo tổng kết công việc của tổ chức LHQ, cựu Tổng thư kí Kofi Annan nhấn mạnh rằng nhiệm vụ cao cả nhất của ông hiện nay là khôi phục vai trò của LHQ trong việc đảm bảo hòa bình, an ninh và đoàn kết của các dân tộc trên thế giới. Các bài phát biểu của nhiều đại diên các nước đều đề cập đến vai trò của LHQ, trong đó có yêu cầu phải cải cách HĐBA. Do đó, HĐBA cần phải thay đổi cho phù hợp với những thay đổi của thế giới. Thế giới vẫn tiếp tục biến đổi mạnh mẽ, có thể nhận thấy dễ dàng vai trò của HĐBA ngày càng tăng, qua những hoạt động giữ gìn hòa bình của LHQ trong thời gian gần đây.

 

  • Kiến nghị:

 

Thứ nhất, Việc đánh giá tình hình thức tế và mức độ đe doạ của tình hình đối với hoà bình quôc tế và mức độ cần thiết phải áp dụng các biện pháp trừng phạt phi vũ trang phải được thự hiện một cách khách quan.Nếu không đánh giá được chính xác thời điểm áp dụng và mức độ áp dụng thì việc áp dụng các biện pháp này không những không hiệu quả mà còn gây ra những tác động tiêu cực. HĐBA khi quyết định áp dụng các biện pháp trừng phạt phi vũ trang cần lựa chọn phương án giải quyết thích hợp nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu  cực đối với dân thường.

 

Thứ hai, các biện pháp trừng phạt phải nhắm đến mục tiêu rõ ràng, tác động trực tiếp đến đúng đối tượng, cụ thể là các tổ chức, cá nhân có vai trò quyết định trong việc đe doạ, phá vỡ hoà bình và an ninh thế giới.

 

Thứ ba, cần thiết phải chuẩn bị các phương án dự phòng đi kèm với các biện pháp trừng phạt phi vũ trang nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức nhân đạo thực hiện công việc của mình. Các vấn đề liên quan đến việc đảm bảo trợ cấp nhân đạo phải được quy định cụ thể và làm cơ sở cho việc áp dụng khi các biện pháp trừng phạt được thì hành.

 

Thứ tư, cần tăng cường phối hợp giữa Liên Hợp Quốc và các quốc gia thành viên trong quá trình thi hành các biện pháp trừng phạt, yêu cầu các quốc gia thành viên báo cáo về tình hình triển khai các biện pháp trừng phạt. Điều này giúp kiểm soát quá trình thực thi các biện pháp một cách hiệu quả và đạt được những mục tiêu đề ra ban đầu.

 

KẾT LUẬN.

 

Về cơ bản, Hội đồng bảo an được tổ chức hoạt động thường xuyên nhằm ứng phó với các tình huống liên quan đến hòa bình và an ninh quốc tế đặt ra ở bất kì thời điểm nào và nhìn chung, cho tới thời điểm hiện tại các biện pháp trừng pháp vũ trang vẫn được xem là biện pháp thực sự hiệu quả khi mà các biện pháp phi vũ trang không thích hợp các quốc gia sẽ phải đối mặt với rất nhiều bất lợi khi có sự vi phạm. Đây là biện pháp có tác động tích cực tới ý thức và hành vi tôn trọng luật quốc tế của các chủ thể luật quốc tế.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Hiến chương Liên Hiệp Quốc (Bản tiếng Việt)
  2. “Hội đồng bảo an LHQ trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế” – Luận văn Th.s ngành Luật quốc tế – Nguyễn Thị Hoài Hương, bảo vệ năm 2008.
  3. Ths Đoàn Thành Nhân: “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc – yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay” – tạp chí Luật học 2005
  4. Nguyễn Thị Yên: “Một số vấn đề pháp lý về sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế quốc tế theo Hiến chương Liên hợp quốc” – tạp chí Luật học 2005.
  5. Giáo trình Luật quốc tế – Trường ĐH Luật Hà Nội.
  6. Website:

– http://m.vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/139429/can-thiep-quan-su-vao-syria–co-so-phap-ly-nao-.html

– http://www.vietnamplus.vn/hoi-dong-bao-an-ung-ho-can-thiep-quan-su-vao-trung-phi/233720.vnp

SỰ TƯƠNG THÍCH GIŨA CÁC QUY ĐỊNH VỀ CÁCH XÁC ĐỊNH VÀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CÁC VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN TRONG PHÁP LUẬT VỆT NAM VÀ QUY ĐỊNH CUÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982 – BÀI TẬP NHÓM CÔNG PHÁP QUỐC TẾ – KHOA LUẬT ĐH MỞ

Đề bài: bình luận sự tương thích giũa các quy định về cách xác định và quy chế pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền trong pháp luật Vệt Nam và quy định cuông ước luật biển năm 1982

 

  1. PHẦN MỞ ĐẦU

 

Việt Nam là một quốc gia ven biển với đường bờ biển dài  trên 3.200 km, có các vùng biển và thềm lục địa khoảng một triệu km2, gần 3.000 đảo nằm rải rác trên biển Đông từ Bắc chí Nam. Biển và đảo ngày càng có vai trò quan trọng về nhiều mặt kinh tế, quân sự, chính trị..Vì vậy, lịch sử phát triển của đất nước ta luôn gắn chặt với việc bảo vệ các vùng biển và hải đảo thuộc chủ quyền của đất nước.Vùng biển Việt Nam là các vùng thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quy chế tài phán của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định tại luật biên giới quốc gia ngày 17/06/2003 và the điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia kí kết.Vùng biển thuộc chủ quyền bao gồm nội thủy và lãnh hải.Việc Quốc hội thong qua luật Biển Việt Nam là một bước đi quan trong, tạo cơ sở pháp lý để quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo và các lợi ích liên quan đến biển của Việt Nam. Việc luật Biển Việt Nam được ban hành phù hợp và logic với UNCLOS năm 1982 càng khẳng định Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đòng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước. Các quy định về vùng bieent và chế đọ pháp lý các vùng biển thể hiện rõ tinh thần của UNCLOS năm 1982 và có phần phát triển làm rõ thêm.

 

 

Sau đây nhóm em sẽ làm rõ sự tương thích này qua việc phân tích cách xác định và quy chế pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền trong pháp luật Việt Nam và UNCLOS 1982

 

 

  1. PHẦN NỘI DUNG:

 

  1. Sự tương thích pháp luật Việt Nam và Công ước luật biển 1982 thời kì trước khi Luật biển Việt Nam 2012 có hiệu lực:

 

Khi Công ước luật biển 1982 chưa có hiệu lực, Việt Nam đã chủ động đưa các quy định của dự thảo Công ước vào pháp luật quốc gia dưới dạng tập quán để điều chỉnh những quan hệ phát sinh.Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đường cơ sở của Việt Nam là những đường thẳng gãy khúc nối liền 11 điểm, từ điểm A1 (hòn Nhạn thuộc quần đảo Thổ Chu, Kiên Giang) đến điểm A11 (đảo Cồn Cỏ, Quảng Trị). Trên đường cơ sở này, có điểm là mỏm đất liền nhô ra biển như điểm A8 (mũi Đại Lãnh, Phú Yên) cách xa bờ 74 hải lý; có điểm cách xa bờ hơn 80 hải lý. Ngoài ra còn có tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam năm 1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam; Bộ luật hàng hải Việt Nam 1990; Nghị định 30/CP ngày 29/1/1980 của Hội đồng chính phủ về Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của nước CHXHCN Việt Nam.

 

Sau khi Công ước có hiệu lực, Công ước trở thành một văn kiện quan trọng điều chỉnh các vấn đề về biển trên phạm vi toàn cầu. Năm 1994, nước ta chính thức trở thành thành viên của Công ước. Nhiều quy định của Công ước đã được nước ta nội luật hóa vào trong các văn bản dưới luật và các luật liên quan như LBGQG 2003, BLHH 2005…Việt Nam đã khảng định chủ quyền và quyền chủ quyền của đối với các vùng biển theo đúng tinh thần của Công ước.

 

Nhìn chung phần lớn nội dung các văn bản pháp luật thời kì này được xây dựng và ban hành có sự hài hòa nhất định với Công ước. Việc pháp luật quốc gia tương thích với Công ước quốc tế còn tạo cơ sở pháp lí vững chắc để Việt Nam tham gia các hoạt động thương mại quốc tế và giải quyết các tranh chấp về biển bởi Công ước là tập hợp những quy định tiến bộ, khoa học, tính thực tiễn cao và được nhiều quốc gia công nhận.

 

  1. Sự tương thích thể hiện qua cách xác định các vùng biển thuộc chủ quyền theo luật biển năm 2012 và UNCLOS 1982:

 

Sau khi có luật Biển Việt Nam sự tương thích giữa pháp luật về biển của Việt Nam và Công ước càng được nhấn mạnh.Việt Nam cũng như các quốc gia ven biển đánh giá cao UNCLOS 1982 như một Công ước khung quan trọng nhất thiết lập một trật tự pháp lý mới công bằng trên biển, bảo đảm tốt nhất quyền lợi biển của các quốc gia ven biển và các quốc gia khác. Vì vậy có thể nói, tính tương thích với UNCLOS 1982 là một trong những ưu tiên hàng đầu trong quá trình xây dựng luật Biển.Tính tương thích này thể hiện rõ trong điều khoản 2 điều 2của luật Biển: “ Trường hợp quy định của luật này khác với quy định của điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”. Mặt khác, theo luật quốc tế, khi phê chuẩn UNCLOS năm 1994, VN cũng như các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thực hiện đúng các cam kết của mình đối với các quy định của luật Biển. Để cụ thể hóa điều này ta phân tích cách xác định và quy chế pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền theo quy định luật Việt Nam và UNCLOS năm 1982: .Điều 8 luật Biển Việt Nam quy định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở được Chính phủ công bố ngày 12/11/1982, được xác định theo cả hai phương pháp đường cơ sở thẳng và đường cơ sở thông thường . Vì Công ước không đưa ra tiêu chí cụ thể mà chỉ nêu nguyên tắc chung xác định đường cơ sở nên về cơ bản đường cơ sở của Việt Nam phù hợp với Công ước. Các vùng biển và điểm cơ sở của Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt với đời sống kinh tế – xã hội của nhân dân và từ lâu đã gắn bó với các hoạt động trên đất liền. Do đó, đường cơ sở của Việt Nam phù hợp với khoản 5 Điều 7 Công ước quy định: “Trong những trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sở thẳng được áp dụng theo khoản 1, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng”.

 

Vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia thì bao gồm có nội thủy và lãnh hải.

 

+ Nội thủy: Điều 9 luật Biển Việt Nam quy định: “ Nội thuỷ là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam”. Vùng nước nội thủy bao gồm: các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửa sông, các vịnh, các vùng nước nằm giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Tương thích với UNCLOS 1982 qua điều 8: “ các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia”

 

Về chế độ pháp lí: Điều 10 luật Biển Việt Nam quy định:“Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên lãnh thổ đất liền”. Mọi sự ra vào nội thủy của tàu thuyển cũng như phương tiện bay nước ngoài trên bầu trời đều phải xin phép.Ví dụ như với các tàu thương mại khi vào nội thủy phải tuân theo chế độ xin phép trước Bộ giao thông vận tải Việt Nam.Điều này hoàn toàn tương thích với UNCLOS năm 1982. Các thẩm quyển về tài phán dân sự hay hình sự tại vùng nội thủy theo quy đinh của pháp luật Việt Nam cũng được thực hiện đúng như quy định của UNCLOS năm 1982.Đối với tàu quân sự  và tàu công vụ nước ngoài. Tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài chỉ được đi vào nội thủy, neo đậu tại một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu trong nội thuỷ theo lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam với quốc gia mà tàu mang cờ,vũ khí  phải để trạng thái bảo quản,giới hạn các tàu quân  sự thường là từ  3-5 tàu.Trong nội thủy, tàu ngầm của nước ngoài phải hoạt động ở trạng thái nổi trên mặt nước và phải treo cờ quốc tịch, trừ trường hợp được phép của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và chính phủ của quốc gia mà tàu thuyền đó mang cờ.Tổ chức, cá nhân và tàu thuyền khi ở trong các cảng, bến hay nơi trú đậu trong nội thuỷ của Việt Nam ở bên ngoài nội thủy Việt Nam chỉ được tiến hành thông tin liên lạc theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan.Phải xin phép tối thiểu 30 ngày trước khi vào nội thủy. Đối với tàu dân sự phải xin phép tối thiểu  7-10 ngày trước khi vào nội thủy và tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về các lĩnh vực như an ninh,trật tự,y tế,hàng hải.. Vùng nước nội thủy tại các cảng biển quốc tế theo chế độ tự do thông thương cho tàu thuyền thương mại.

 

+ Lãnh hải:

 

Về cách xác định: Điều 11 LBVN quy định: “ Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển, ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của VN” . Còn theo UNCLOS 1982 thì lãnh hải là lãnh thổ biển, nằm ở phía ngoài nội thủy. Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giói quốc gia ven biến. Luật Biển Việt nam đã đưa ra cách xác định lãnh hải cụ thể hơn nhưng vẫn dựa trên cơ sở của UNCLOS năm 1982.

 

Về quy chế pháp lý:điều 12 luật Biển Việt Nam quy địnhrõ ràng nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp UNCLOS năm 1982.Nhà nước có chủ quyền đối với mọi loại hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải Việt Nam.Các quy định về hành vi bị cấm khi đi qua lãnh hải, nghĩa vụ khi thực hiện quyền đi qua không gây hại; quy định với tàu thuyền chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở các chất phóng xạ, chất độc hại; quy định về tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải; quy định về hoạt động của tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác của nước ngoài trong nội thuỷ, lãnh hải trong LBVN tương đối giống với Mục 3, Phần II Công ước. Riêng việc quy định tàu quân sự nước ngoài thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền khi đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam quy định phù hợp với thực tiễn quốc tế và không trái với khoản 1 Điều 24 Công ước: “Quốc gia ven biển không được cản trở quyền đi qua không gây hại của các tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải, ngoài những trường hợp mà Công ước đã trù định. Đặc biệt khi áp dụng Công ước, quốc gia ben biển không được:

 

  1. a) Áp đặt cho các tàu thuyền nước ngoài những nghĩa vụ dẫn đến việc cản trở hay hạn chế việc thực hiện quyền đi qua không gây hại của các tàu thuyền này;

 

  1. b) Phân biệt đối xử về mặt pháp lý hay về mặt thực tế đối với các tàu thuyền chở hàng từ một quốc gia nhất định hay đến quốc gia đó hoặc nhân danh một quốc gia nhất định”.LBVN chỉ quy định thông báo trước chứ không yêu cầu phải xin phép như một số nước, do đó không cản trở hay hạn chế việc thực hiện quyền đi qua không gây hại của tàu quân sự nước ngoài”.

 

Như vậy, Luật Biển chỉ nội luật hóa các quy định của UNCLOS và bổ sung thêm những quan tâm chính đáng của VN về những vấn đề mà UNCLOS không đề cập đến như vấn đề chủ quyền. Sự nội luật hóa này là cần thiết để diễn giải các thành ngữ luật khô khan cho dễ hiểu hơn, dễ tiếp cận và giải thích hơn đối với các công dân VN và nước ngoài, đối tượng trực tiếp thực hiện các hoạt động biển và chịu tác động của luật Biển trên các vùng biển thuộc chủ quyền phù hợp với các quy định của luật quốc tế. Nó cũng là dịp để chúng ta xem xét lại hệ thống pháp luật về biển, loại bỏ các mâu thuẫn, chồng chéo trong các văn bản pháp luật.LBVN có sự phù hợp tương đối với Công ước về ranh giới và quy chế pháp lí các vùng biển chủ quyền quốc gia. Sở dĩ không phải là tuyệt đối bởi LBVN còn có bổ sung thêm những quy định mang tính đặc thù, phù hợp với yêu cầu riêng của công tác quản lí và bảo vệ biển ở nước ta. Tuy nhiên, sự bổ sung đó về cơ bản không đi ngược lại tinh thần của Công ước. Việc LBVN có sự tương thích với Công ước sẽ đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích mà trước mắt đó là cơ sở pháp lí vững chắc để giải quyết các tranh chấp đang hiện hữu trên biển Đông. Với việc ban hành LBVN, lần đầu tiên chúng ta có một văn bản pháp lý tổng hợp có hiệu lực cao quy định một cách tổng thể các vấn đề liên quan đến biển. Bên cạnh một số nội dung là sự kế thừa, tiếp nối các quy định đã có trước đây LBVN đã bổ sung, sửa đổi nhiều nội dung cho phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, cũng như yêu cầu phát triển của đất nước.

 

C: PHẦN KẾT LUẬN:

 

Biển,  đảo  là  một  bộ  phận  cấu  thành  phạm  vi  chủ  quyền  thiêng  liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta. Lấn biển để dựng nước và thông qua biển để giữ nước là một nét độc đáo Việt Nam trong quá khứ. Đó cũng chính là nét độc đáo của bản sắc văn hóa Việt Nam, cần được giữ vững và phát huy hơn nữa trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Càng tự hào và trân trọng di sản quá khứ, chúng ta càng phải khai thác, khơi dậy nguồn sức mạnh của bao thế hệngười Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo, thềm lục địathiêng liêng của Tổ quốc, thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh:”Ngàytrước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp. Ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Tóm lại, vì Việt Nam cũng là thành viên của Công ước luật biển năm 1982 nên các quy định của Việt Nam về cách xác định cũng như việc thực hiện chủ quyền trên các vùng biển tuân thủ theo Công ước này và đã được pháp luật Việt Nam cụ thể hóa trong tuyên bố 12/5/1977 và 12/11/1982của Chính phủ cũng như một số văn bản pháp luật có liên quan. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc khẳng định chủ quyền của dân tộc đối với vùng biển quốc gia.

 

Trong khuôn khổ của bài tập nhóm giữa kỳ, mặc dù đây là sự tổng hợp của cả nhóm nhưng không tránh khỏi những sai sót.Rất mong thầy cô giúp chúng em hoàn thiện kiến thức hơn.

 

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

BÀI TẬP NHÓM CÔNG PHÁP QUỐC TẾ – HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI ASEAN

 

  1. Khái quát chung về ASEAN1. Lịch sử hình thànhHiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á; được thành lập trên cơ sở Tuyên bố Băng Cốc ngày 8/8/1967 của Hội nghị ngoại trưởng 5 quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á là Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philipin, Indonesia. Hiện nay, ngoài 5 thành viên ban đầu, ASEAN đã kết nạp thêm 5 thành viên mới là Bruney (1985), Việt Nam (1995), Lào và Myanma (1997), Campuchia (1999).

    Hiến chương ASEAN (20/11/2007) ra đời là nhu cầu tất yếu của ASEAN sau hơn 40 năm thành lập, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tồn tại và phát triển.

 

  1. Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của ASEANa. Mục tiêu

Trải qua các thời kì phát triển, ASEAN luôn hướng tới những mục tiêu lớn như xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định, phi vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt, tăng cường hợp tác kinh tế, văn hóa, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao phúc lợi và đời sống nhân dân, đề cao bản sắc ASEAN, tạo dựng cho ASEAN giữ vững vai trò là động lực chính trong quan hệ và hợp tác với các bên đối tác bên ngoài trong một cấu trúc khu vực mở, minh bạch và thu nạp.


  1. Nguyên tắc hoạt động

 

Để đạt được mục tiêu đề ra, ASEAN và các quốc gia thành viên khẳng định tuân thủ các nguyên tắc: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các quốc gia thành viên; Không xâm lược, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hay các hành động khác dưới bất kì hình thức nào không phù hợp với luật pháp quốc tế; Dùng biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp; Tôn trọng quyền của mọi quốc gia thành viên được tồn tại mà không có sự can thiệp, lật đổ và áp đặt từ bên ngoài; Tăng cường tham vấn về các vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích chung của ASEAN…( )


  1. Cơ cấu tổ chức của ASEAN

 

Theo quy định tại Chương IV của Hiến chương ASEAN, cơ cấu tổ chức của ASEAN gồm các cơ quan sau: Cấp cao ASEAN; Hội đồng điều phối ASEAN; Các Hội đồng cộng đồng; Các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng; Tổng thư ký và Ban thư ký.

 

  1. Nội dung hợp tác ASEAN

 

ASEAN đã nhấn mạnh trên việc hợp tác trong “ba trụ cột” về an ninh, văn hoá xã hội và hội nhập kinh tế. Các nhóm trong khu vực đã có những thành tựu về các lĩnh vực này đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế – thương mại.

 

  1. Nội dung hợp tác kinh tế thương mại của ASEAN trong giai đoạn hiện nay.

 

Với tổng thể nền kinh tế có quy mô lớn và dân số hơn nửa tỷ người, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN được nhận định có nhiều tiềm năng trở thành một trung tâm kinh tế sánh ngang với Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga.

 

Hiện nay, ASEAN đang tăng cường hội nhập để tối ưu hóa khả năng hiệp lực trong khu vực và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế, cam kết thúc đẩy nhanh kế hoạch thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015 bất chấp những thách thức từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chính vì vậy mà ASEAN đã và đang đẩy mạnh hợp tác kinh tế thương mại nội khối và hợp tác kinh tế thương mại ngoại khối.

 

  1. Hợp tác kinh tế thương mại nội khối

 

Nội dung hợp tác chủ yếu và đặc biệt quan trọng của ASEAN là thúc đẩy tự do hóa kinh tế – thương mại và liên kết kinh tế nội khối.

 

Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập nhằm mục đích thực hiện bước đi cuối cùng của hội nhập kinh tế trong “Tầm nhìn ASEAN năm 2015” là hình thành khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có tính cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ và vốn đầu tư được luân chuyển thông thoáng hơn, kinh tế phát triển đồng đều, nghèo đói và phân hóa kinh tế – xã hội giảm bớt với 4 mục tiêu: Thị trường chung và cơ sở sản xuất gắn kết của khu vực (trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sự lưu chuyển tự do hơn các nguồn vốn và lao động lành nghề); khu vực kinh tế có tính cạnh tranh cao; khu vực kinh tế phát triển đồng đều thông qua việc họp tác, hỗ trợ thu hẹp khoảng cách phát triển; khu vực kinh tế hội nhập với nền kinh tế thế giới.( )

 

Như vậy, AEC thực chất chính là sự đẩy mạnh các cơ chế liên kết kinh tế thương mại hiện có của ASEAN để xây dựng ASEAN thành thị trường chung và cơ sở sản xuất gắn kết của khu vực. Thực tiễn cho thấy ASEAN đã đạt được không ít thành quả như:

 

– Kim ngạch nội khối ASEAN tăng gấp 2 lần trong 5 năm qua, đạt 1.710 tỉ USD (năm 2008).Thương mại nội khối tăng đồng nghĩa với việc hậu cần nhập khẩu và hậu cần xuất khẩu tăng, các dịch vụ hậu cần và giao thông vận tải sẽ ngày càng sinh ra nhiều lợi nhuận.

 

Tất cả 10 nước ASEAN đều đạt mức tăng trưởng kinh tế cao so với các khu vực khác trên thế giới (với nhịp độ tăng trung bình hằng năm từ 5-10%). Tuy nhiên, ASEAN nhận thức rằng không thể liên kết kinh tế có hiệu quả nếu không thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên trong khu vực. Thu hẹp khoảng cách phát triển vừa là yêu cầu cấp bách, vừa là mục tiêu lâu dài, phục vụ cho sự phát triển đồng đều của khu vực, biến ASEAN trở thành khu vực kinh tế năng động. Vì vậy, ASEAN đã bắt tay vào việc tiến hành các chương trình hợp tác nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển.

 

– Năm 2008, ASEAN đã thu hút được 60 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong khi đó, đầu tư nội khối cũng đạt con số tương đương. Các nhà đầu tư châu Á coi Indonesia và Việt Nam là những địa chỉ thay thế khi chi phí kinh doanh tại Trung Quốc ngày một tăng cao. Thực tế, xét về quy mô kinh tế, GDP của Trung Quốc lớn gấp 3 lần ASEAN, nhưng Trung Quốc chỉ thu hút được 108 tỷ USD vốn FDI (gấp 1,8 lần ASEAN).

 

– Năm 2009, để hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), các nước thành viên ASEAN đã tập trung thực hiện 3 biện pháp chính sau: Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế pháp lý cho AEC; Thứ hai, tăng cường cơ chế giám sát, thực thi các thoả thuận kinh tế đã đạt được thông qua Biểu đánh giá AEC (AEC Scorcard); Thứ ba, nâng cao nhận thức của cộng đồng về AEC thông qua chương trình truyền thông ASEAN.

 

– Nguồn vốn đầu tư nội khối chiếm 11,2% tổng vốn đầu tư vào ASEAN trong năm 2009.

 

Nhận xét: Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, quan trọng là giảm thuế quan, tự do hoá nền kinh tế ASEAN. Như vậy sẽ có thêm các luồng đầu tư nội khối – đảm bảo sự phát triển bền vững cho ASEAN.  Tóm lại, thúc đẩy hội nhập kinh tế nội khối sẽ giúp 10 thành viên ASEAN cạnh tranh với các nền kinh tế khổng lồ láng giềng, như Trung Quốc và ấn Độ. Sự hội nhập sâu hơn của ASEAN rất cần thiết để tối đa hoá sức mạnh hợp lực nội khối và giữ cho khu vực này gắn kết hơn với các nhà đầu tư và kinh tế quốc tế.( )

 

  1. Hợp tác kinh tế thương mại ngoại khối

 

Kinh tế- thương mại là trọng tâm của quan hệ giữa ASEAN và bên đối ngoại. Để điều phối quan hệ hợp tác kinh tế thương mại, ASEAN đã hình thành cơ chế Hội nghị sau Hội nghị ngoại trưởng ASEAN(PMC), Hội nghị các quan qua chức cao cấp(PMC-SOM), Diễn đàn quan hệ đối ngoại họp hoặc cuộc họp đối thoại. ASEAN cũng đã thành lập các ủy ban ASEAN tại bên đối thọai, bao gồm đại sứ các nước ASEAN với nhiệm vụ theo dõi, thúc đẩy và thực hiện các quyết định của ASEAN liên quan đến hợp tác các bên đối thoại.

 

Cụ thể nhóm xin đưa ra một số chủ thể chủ yếu trong quan hệ hợp tác kinh tế-thương mại của ASEAN và tổ chức – đây là những đối tác mang tính chiến lược lâu dài.

 

  • Quan hệ ASEAN – Australia

 

Australia là nước công nghiệp phát triển đầu tiên có quan hệ đối thoại chính thức với ASEAN. Quan hệ đối thoại ASEAN-Australia bắt đầu được thiết lập từ tháng 4/1974. Năm 1976,ASEAN và Astralia kí thỏa thuận về hợp tác thương mại,đánh dấu bước phát triển mới trong mối quan hệ này.

 

Với những nỗ lực của cả hai bên, quan hệ kinh tế-thương mại luôn trong xu thế tăng trưởng. Năm 2004,kim ngạch xuất khẩu giữa ASEAN-Astralia đạt 32,79 tỉ USD. Từ năm 1997 đến năm 2003, tổng số vốn đầu tư giữa ASEAN và Australia đã tăng gấp đôi từ 25,3 tỉ AUD lên 56,3 tỉ AUD. Năm 2007, trong khuôn khổ Hội nghị ngoại trưởng ASEAN +1 và ASEAN +10 hai bên đã cùng nhau kí kết Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện và Kế hoạch hành động triển khai Tuyên bố này trong giai đoạn này trong giai đoạn 2007-2012.

 

Hai bên không ngừng triển khai hợp tác trong khuôn khổ những thoả thuận mà hai bên đã kí kết. Hiện nay một số thỏa thuận ban đầu về nguyên tắc các loại hàng hóa được xếp vào “kênh bình thường” và được đánh thuế ưu đãi được các bên triển khai thực hiện.

 

  • Quan hệ giữa ASEAN- Hoa Kỳ.

 

Quan hệ đối thoại ASEAN-oa Kỳ được bắt đầu từ 9/1977.Trong quan hệ kinh tế-thương mại,Hoa Kỳ là thị trường hàng đầu và là nhân tố quyết định sự tăng trưởng của ASEAN. Khác với một số nước khác,Hoa Kỳ tiếp cận hợp tác kinh tế với ASEAN theo góc độ song phương vì Hoa Kỳ luôn muốn nhìn thấy một thị trường phát triển tiềm năng mà mỗi thành viên trong đó là một nền kinh tế năng động.

 

Bên cạnh những thỏa thuận song phương đó,việc hai bên ký kết Hiệp định khung về thượng mại(TIFA) năm 2006 mở ra bước ngoặt lớn để tiến tới thành lập Hiệp định thương mại tự do(FTA) toàn phần giữa ASEAN và Hoa kỳ.Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng,đưa ASEAN trở thành trung tâm của khu vực thương mại tự do toàn Đông Nam Á.

 

  • Quan hệ giữa ASEAN-Nga.

 

Việc phát triển quan hệ này xuất phát từ nhu cầu của cả hai phía, Nga muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế,thu hút nguồn nước ngoài còn ASEAN lại rất cần nguồn nguyên nhiên liệu, công nghệ và hàng hóa của Nga.

 

Nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác này, hai bên đã thỏa thuận thành lập Nhóm công tác về thương mại và kinh tế(ARWGTEC). Với dân số 150 triệu người và là thành viên chủ chốt của cộng đồng các quốc gia độc lập, Nga trở thành một thị trường đầy hứa hẹn của ASEAN trong hiện tại và tương lai.

  • ASEAN+3 (Trung Quốc – Hàn Quốc – Nhật Bản) – Đối tác quan trọng nhất

 

Tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN +3 lần thứ hai tổ chức vào tháng 5-2000 tại Chiềng Mai, các bên đã quyết định vấn đề hợp tác kinh tế tập trung vào 3 lĩnh vực sau: Đẩy mạnh buôn bán đầu tư và chuyển giao công nghệ; Khuyến khích hợp tác kỹ thuật trên các phương diện kỹ thuật tin học và thương mại điện tử; Tăng cường doanh nghiệp vừa và nhỏ và công nghiệp đồng bộ. Trong lĩnh vực hợp tác này, hai bên cũng đang hướng tới thành lập một Khu vực thương mại tự do Đông Á nhằm nhanh chóng thúc đẩy tự do thương mại. Điều này sẽ làm cho nền kinh tế của các bên phát triển từ tự phát lên tự giác và đưa lại những kết quả đáng khích lệ.

 

– Khu vực thương mại tự do ASEAN- Trung Quốc(ACFTA): Hiệp định khung về hợp tác toàn diện giữa ASEAN-Trung Quốc (11/2002) được hai bên ký kết. ASEAN và Trung Quốc sẽ thành lập khu vực thương mại tự do trong vòng 10 năm.Đây là mục tiêu chiến lược mà hai bên hướng tới và làm cho quan hệ hợp tác này ngày càng trở nên khăng khít.

 

– Khu vực thương mại tự do thương mại tự do ASEAN-Nhật Bản(AJFTA): tháng 10 năm 2003, các nhà lãnh đạo ASEAN và Nhật Bản đã ký thỏa thuận khung về đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản. tháng 4 năm 2008 ASAN và Nhật Bản ký kết hiệp định về đối tác kinh tế toàn diện (AJCEP). Đây là hiệp định toàn diện về phạm vi bao gồm thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và hợp tác kinh tế. Điều này đã tạo ra một thị trường lớn hơn, hiệu quả hơn và cơ hội lớn hơn trong khu vực Đông Nam Á.

 

– Khu vực thương mại tự do ASEAN và Hàn Quốc (AKFTA), năm 2005 tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hàn Quốc lần thứ 9 có đề cập đến việc hình thành khu vực thương mại tự do ASEAN- Hàn Quốc (AKFTA). Theo đó, AKFTA sẽ được hoàn thành vào năm 2010 đối với Hàn Quốc, năm 2012 đối với các nước ASEAN 6, vào năm 2016 đối với Việt Nam, và năm 2018 đối với các nước ASEAN còn lại.( )

 

Nhận xét:Qua việc tìm hiểu các hoạt động kinh tế thương mại giữa ASEAN và các đối tác của tổ chức này có thể khẳng định vấn đề hợp tác ngoại khối của ASEAN đã được hình thành ngay từ khi tổ chức này mới ra đời. Nó không ngừng được mở rộng và phát triển trên phạm vi toàn cầu. Quan hệ hợp tác ngoại khối này trên cơ sở luật pháp quốc tế hướng tới mục tiêu xây dựng một khu vực hòa bình an ninh ổn định lâu dài, kinh tế tăng trưởng bền vững, thịnh vượng chung và tiến bộ xã hội.

 

Tuy nhiên, vấn đề thành lập các khu vực tự do thương mại còn diễn ra khá chậm. Điều này cũng dễ hiểu bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế của các thành viên trong ASEAN là không đồng đều. Hi vọng trong tương lai hoạt động ngoại khối trong lĩnh vực kinh tế-thương mại tổ chức sẽ ngày càng phát triển, đưa tổ chức trở thành một trong những tổ chức kinh tế hàng đầu trên thế giới.


III. Sự tham gia của Việt Nam vào hợp tác kinh tế thương mại của Asean

1. Quá trình gia nhập vào ASEAN của Việt Nam

 

  • Giai đoạn trước 1975: Giai đoạn này ASEAN coi Việt Nam là đối tác thù địch. Một số nước ASEAN tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

 

  • Giai đoạn từ 1975 đến 1990: Thời kỳ này quan hệ Việt Nam – ASEAN có nhiều cải thiện nhưng một số nước ASEAN vẫn hoài nghi về Việt Nam. Bởi sau chiến tranh một số nước ASEAN e ngại Việt Nam sẽ trở thành tiểu bá khu vực.

 

  • Giai đoạn từ 1990 đến 1995: Là thời kỳ tiếp cận, bình thường hóa quan hệ hai bên.

 

Tháng 7/1995, tại Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 28, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN

 

  1. Quá trình tham gia của Việt Nam vào hợp tác kinh tế thương mại của ASEAN

 

Chủ động hội nhập kinh tế – thương mại quốc tế là nội dung quan trọng trong đường lối của Đảng và trong hoạt động đối ngoại của Nhà nước Việt Nam. Ngay sau khi trở thành thành viên của ASEAN, Việt Nam đã tích cực chủ động tham gia các hoạt động hợp tác trên mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực kinh tế thương mại như: tích cực tham gia các liên kết kinh tế đa phương trong khu vực, bao gồm cả những liên kết thể chế (ASEAN và các FTA) và phi thể chế APEC, tham gia Hiệp định về thương mại hàng hoá (CPT/AFTA), tham gia Hiệp định dịch vụ và hiệp định đầu tư  và cùng với các thành viên khác ký hiệp định mậu dịch tự do với các đối tác khác (ASEAN +).

 

Hướng tới xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) năm 2015, Việt Nam cũng có những đóng góp không nhỏ trong các lĩnh vực như: thương mại hàng hóa, đầu tư, dịch vụ, hợp tác công nghiệp…

 

  1. Thực tiễn sự tham gia của Việt Nam vào hợp tác kinh tế – thương mại của ASEANa. Thuận lợi

 

– Về thương mại: So với năm 2002, thương mại hai chiều giữa các nước ASEAN và Việt Nam đã tăng hơn ba lần, đạt gần 30 tỉ USD vào năm 2008, chiếm 25% tổng kim ngạch của nước ta. Cũng trong giai đoạn này, tốc độ xuất khẩu trung bình từ Việt Nam sang ASEAN là 28,4% và nhập khẩu là 27%. ASEAN giữ vững vị trí đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Vượt trên cả EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN tăng từ 2,9 tỉ USD năm 2003 lên tới 8,9 tỉ USD năm 2009.

 

– Về đầu tư: Trong 7 tháng đầu năm 2008, đã có hơn 45,49 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư vào Việt Nam. Về tổng vốn cam kết, 654 dự án đầu tư mới đăng ký tổng vốn 43,7 tỉ USD và 188 dự án đang hoạt động quyết định tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 788 triệu USD. Tổng kim ngạch buôn bán trong 7 tháng đầu năm 2008 đạt 88,77 tỉ USD. Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc chính là những nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam.( )

 

– Về mặt hàng xuất khẩu: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang các nước đối tác chuyển biến theo chiều hướng tích cực, được nâng cao cả về chất lượng và giá trị. Từ những mặt hành nông sản sơ chế và nguyên liệu như gạo, cà phê, cao su, dầu thô có hàm lượng chế tác thấp đến nay Việt Nam đã xuất khẩu những mặt hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp như linh kiện máy tính, dệt may, nông sản chế biến, mỹ phẩm với giá trị cao và ổn định.

 

Nhận xét: Tác động của quan hệ kinh tế thương mại góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế thương mại Việt Nam, tạo điều kiện cho Việt Nam nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thương mại toàn cầu nói chung cũng như khu vực nói riêng.

 

  1. Khó khăn và thách thức

 

Bên cạnh những thuận lợi đạt được, Việt Nam gặp không ít khó khăn, thách thức khi tham gia vào hợp tác kinh tế – thương mại của ASEAN:

 

– Mặc dù kinh tế mạnh, nhưng Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển, công nghiệp sơ khai vẫn còn mang tính chất thủ công, thiết bị, hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế – thương mại.

 

– Cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài gay gắt.

 

– Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu là mặt hàng nông sản chưa qua chế biến – là những mặt hàng giảm thuế chậm, trong khi đó những mặt hàng công nghiệp, xuất nguyên liệu là những mặt hàng giảm thuế nhanh thì đó lại là mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam.

 

– Một bộ phân dân cư bị tác động tiêu cực và dễ bị tổn thương do hội nhập, đặc biệt những người làm trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, trước sức ép của hàng nhập khẩu từ Thái Lan, Trung Quốc….

 

– Sự biến động của thị trường khu vực sẽ tác động rất nhanh, rất mạnh đến thị trường trong nước, đặc biệt là thị trường tài chính, thị trường dầu mỏ và dòng vốn đầu tư.

 

– Có nguy cơ ô nhiễm môi trường do các nước chuyển công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm môi trường vào nước ta, nếu không được kiểm soát tốt và nhận đầu tư bất cứ giá nào.

 

– Cơ cấu kinh tế chậm chuyển đổi làm hạn chế sự cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, Việt Nam không tận dụng được ưu thế về mức cắt giảm thuế để xuất khẩu.( )


  1. Giải pháp cho sự tham gia của Việt Nam vào hợp tác kinh tế – thương mại của ASEAN

 

  • Đối với Nhà nước: Bên cạnh việc thực hiện đúng, đủ các cam kết, Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi, tập trung hỗ trợ khu vực doanh nghiệp, giảm thiểu chi phí giao dịch kinh doanh, cung ứng dịch vụ nhanh chóng, hiệu quả.

 

Bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, công chức có năng lực tốt, trình độ ngoại ngữ cao, nâng cao ý thức, trách nhiệm, pháp luật cho họ cũng như người dân.

 

Trên cơ sở chỉ đạo tập trung thống nhất của Chính phủ, cần tăng cường sự phối hợp và điều phối hoạt động giữa các Bộ, ngành. Chúng ta cũng cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền rộng rãi về ASEAN và sự tham gia của Việt Nam trong ASEAN để tiếp tục nâng cao nhận thức của cán bộ các cấp, người dân, doanh nghiệp, qua đó huy động sự tham gia và đóng góp rộng rãi vào tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN.( )

 

  • Đối với Doanh nghiệp: Doanh nghiệp không được thụ động mà phải chủ động hoạt đinh các chính sách, chiến lược phát triển, những bước đi cụ thể để sẵn sang đối mặt với những thách thức.

 

Cần xây dựng một khuôn khổ cam kết thương mại hàng hóa và dịch vụ tự do lưu chuyển thông quan đàm phán tiến tới phi thuế quan.

 

Phải đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ kết hợp nâng cao quản lý và trình độ tay nghề. Từng bước cải thiện chất lượng, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp.

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

 

Leave a Reply