kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học

CÁ NHÂN – CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ? – BÀI NGHIÊN CỨU LUẬT – CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

CÁ NHÂN – CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ?

NGUYỄN ĐỨC LAM

 

Từ khi mới xuất hiện đến nay chức năng chính của Luật quốc tế là điều chỉnh các mối quan hệ giữa các nhà nước với nhau, bởi vậy chủ thể chính của luật quốc tế trong lịch sử phát triển của nó là các quốc gia. Nhưng từ những năm 20 của thế kỷ XX, đặc biệt là sau Đại chiến thế giới thứ hai trong khuôn khổ của luật quốc tế xuất hiện một ngành mới là luật về quyền con người. Quyền con người không còn là đối tượng điều chỉnh của hệ thống luật của từng quốc gia nữa đã làm nảy sinh ra vấn đề: cá nhân con người có phải là chủ thể của luật quốc tế hay không?

 

Khẳng định cá nhân là chủ thể của luật quốc tế, nhiều tác giả thậm chí đưa ra đề nghị đổi thuật ngữ Luật quốc tế thành “Luật thế giới”, “Luật hoàn cầu”, “Luật toàn cầu”… Một số khác lại phủ định tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân trong luật quốc tế. Để chia sẻ quan điểm với các nhà nghiên cứu, chúng tôi xin nêu một vài suy nghĩ về vấn đề này.

 

1- Khái niệm về chủ thể của luật quốc tế

 

Chủ thể chiếm vị trí trung tâm trong luật quốc tế với nhiệm vụ chính là phục vụ các quyền lợi của chủ thể, điều tiết các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Bản tính của luật quốc tế gắn liền với tính chất của chủ thể và mối quan hệ đó. Chủ thể luật quốc tế không những là chủ các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ quốc tế, mà còn là những chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình thiết lập và thi hành các qui tắc của luật quốc tế. Như vậy chủ thể của luật quốc tế là những thực thể độc lập có những quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế, tham gia vào quá trình thiết lập và thực hiện các quy tắc của luật quốc tế nhờ những đặc điểm và bản chất của mình. Đó là các quốc gia có chủ quyền- chủ thể chính của luật quốc tế; các tổ chức liên Chính phủ; các quốc gia đang đấu tranh cho nền độc lập của mình; các tổ chức tương đương với nhà nước; và cuối cùng- trong phạm vi nào đó là cá nhân con người.

 

Một số tác giả khi nói đến chủ thể của luật quốc tế thì cho rằng chúng cần phải tham gia vào quá trình thiết lập các quy tắc của luật quốc tế. Trong trường hợp đó dĩ nhiên cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế. Nhưng cũng có thể định nghĩa một cách khác rằng chủ thể của luật quốc tế là bất kỳ một thực thể nào có quyền và nghĩa vụ pháp lý từ các điều luật của công pháp quốc tế.

 

Như vậy trong luật quốc tế có ít nhất hai dạng chủ thể. Dạng thứ nhất là các tổ chức không những có quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế mà còn trực tiếp tạo ra các điều luật quốc tế, thực hiện các biện pháp để đảm bảo cho việc áp dụng các điều luật đó trên thực tế. Đó là các quốc gia có chủ quyền- chủ thể chính của luật quốc tế. Dạng thứ hai là các tổ chức mà các hoạt động của chúng được điều tiết bởi luật quốc tế nhưng không có những đặc điểm của dạng thứ nhất. Vậy cá nhân có thuộc dạng chủ thể này không? Chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn vấn đề này ở các phần sau của bài viết.

 

Chủ thể của luật quốc tế có những đặc điểm sau: năng lực pháp luật, năng lực hành vi pháp luật và năng lực trách nhiệm pháp lý. Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể luật quốc tế có những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định. Năng lực hành vi pháp luật thể hiện qua sự thực hiện có ý thức các quyền và nghĩa vụ của chủ thể luật quốc tế. Chủ thể của luật quốc tế có năng lực trách nhiệm pháp lý đối với những vi phạm pháp luật quốc tế của mình. Những tính chất trên được gọi là tính chủ thể pháp lý. Chủ thể của luật quốc tế có tính chủ thể pháp lý chung, tính chủ thể pháp lý ngành và tính chủ thể đặc biệt.

 

Tính chủ thể pháp lý chung là khả năng của tổ chức được công nhận là chủ thể của luật quốc tế theo ipso facto. Chỉ có các quốc gia có chủ quyền mới có tính chủ thể chung.

 

Tính chủ thể ngành là khả năng của tổ chức được công nhận là chủ thể của luật quốc tế ở một lĩnh vực nhất định trong quan hệ quốc tế. Ví dụ Tổ chức hàng hải quốc tế có quyền tham gia vào các vấn đề vận chuyển đường biển quốc tế; hoặc UNESCO tham gia vào việc điều tiết những vấn đề liên quan đến giáo dục, khoa học và văn hoá thế giới.

 

Tính chủ thể đặc biệt là khả năng của chủ thể tham gia hoạt động pháp lý trong khuôn khổ nhất định ở một lĩnh vực riêng biệt của luật quốc tế. Đó chính là cá nhân con người. Tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân được công nhận trong nhiều văn bản, tư liệu của luật quốc tế như Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948 (Điều 6), Công ước quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị 1966 (Điều 2), Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của kiều dân và gia đình, thành viên gia đình của họ 1990 (Điều 8).

 

2- Những quan điểm khác nhau về tính chủ thể của cá nhân trong công pháp quốc tế

 

Trong suốt lịch sử phát triển của mình, luật quốc tế, trong một thời gian dài, đã phủ nhận cá nhân con người và chỉ quan tâm đến những vấn đề có liên quan đến quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, đặc biệt là sau Đại chiến thế giới thứ hai tình thế đã thay đổi, công pháp quốc tế hiện đại gắn chặt với vấn đề nhân quyền. Hiến chương Liên hợp quốc xác định một trong những mục đích chính của mình là tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Nhiều điều ước, quốc tế về quyền con người đã được ký kết. Thế nhưng điều đó có đồng nghĩa với tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân con người hay không? Cá nhân là chủ thể của công pháp quốc tế là một vấn đề đang được tranh cãi chưa ngã ngũ.

 

Một số tác giả phủ định tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân, nhưng số khác lại công nhận rằng ở cá nhân có những đặc thù của chủ thể luật quốc tế. Ví dụ như A.Phedross (Áo) cho rằng “cá nhân con người trên nguyên tắc không phải là chủ thể của luật quốc tế bởi vì luật quốc tế bảo vệ quyền lợi của cá nhân nhưng nó đảm bảo những quyền và nghĩa vụ không phải cho từng cá nhân, mà cho quốc gia mà cá nhân là công dân của quốc gia đó“(1).

 

Một số tác giả cho rằng cá nhân chỉ có thể là chủ thể của các quan hệ pháp lý quốc tế. “Cá nhân do chịu sự cai trị của quốc gia không thể thay mặt mình hoạt động trên trường quốc tế như một chủ thể của luật quốc tế – B.M Shurshaloff V.M viết- Tất cả các Công ước quốc tế về quyền và bảo vệ quyền con người được ký kết giữa các quốc gia với nhau. Vì vậy những quyền và nghĩa vụ cụ thể được phát sinh ra từ những Công ước này là dành cho nhà nước chứ không cho từng cá nhân. Cá nhân được quốc gia bảo trợ, và những qui tắc của luật quốc tế về quyền và bảo vệ quyền con người được thực hiện chủ yếu qua hoạt động của quốc gia”(2).

 

Vào đầu thế kỷ XX nhà luật học nổi tiếng Martence cũng có quan điểm như vậy. Ông cho rằng cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế nhưng có những quyền nhất định trong quan hệ quốc tế. Những quyền đó được nảy sinh từ bản chất tự nhiên của con người, từ tình thế họ là công dân của một quốc gia(3).

 

Nhà luật học quốc tế người Anh A.Brownlee có những quan điểm trái ngược nhau về vấn đề này. Một mặt ông cho rằng theo điều luật chung cá nhân không thể là chủ thể của luật quốc tế được, nhưng trong một số lĩnh vực nhất định cá nhân được xem xét như chủ thể của luật quốc tế; mặt khác theo ý kiến của Brownlee thì “thật là vô ích nếu như xếp cá nhân vào “hàng ngũ” những chủ thể của luật quốc tế, bởi vì làm như vậy là vô hình chung công nhận một số quyền của cá nhân mà trên thực tế không có, phủ nhận tính tất yếu của sự khác biệt giữa cá nhân và các chủ thể khác trong luật quốc tế”(4).

 

Ngành luật của Liên Xô cũ một thời gian dài đã phủ nhận tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân trên trường quốc tế. Điều đó được giải thích như là hậu quả tất yếu của việc quá nâng cao vai trò quan trọng của nhà nước không chỉ trong lĩnh vực luật quốc tế và quan hệ quốc tế, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà trên cả trường quốc tế. Nhưng cùng với thời gian mọi vật đều thay đổi. Từ việc công nhận cá nhân là chủ thể của luật quốc tế đi đến những đề nghị xa hơn mà theo đó Công pháp quốc tế có khả năng điều tiết cả những quan hệ trong một quốc gia, có cả mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân(5).

 

Về các tác giả khác, E.Arechaga (Uruguay) có quan điểm ôn hoà hơn. Ông cho rằng: “theo cơ cấu của luật quốc tế thì không có gì có thể cản trở nhà nước đảm bảo cho cá nhân một số quyền nhất định đã được nảy sinh từ một Công ước quốc tế, hoặc xem xét một số biện pháp quốc tế để bảo vệ những quyền đó“(6).

 

L.Oppenhame từ năm 1947 đã để ý rằng: “Mặc dù chủ thể chính của luật quốc tế là quốc gia nhưng nhà nước có thể xem cá nhân như một chủ sở hữu các quyền và nghĩa vụ quốc tế và trong khuôn khổ đó công nhận cá nhân là một chủ thể của luật quốc tế“(7). Tiếp đó ông đã làm rõ ý kiến của mình bằng ví dụ: Những cá nhân làm nghề cướp biển trước hết chịu trách nhiệm pháp lý theo những qui tắc của luật quốc tế, chứ không phải nội luật của nhiều quốc gia khác nhau.

 

Giáo sư người Nhật Sh.Oda cho rằng “Sau Đại chiến thế giới thứ nhất hình thành một quan điểm mới theo đó cá nhân là chủ thể các trách nhiệm về những vi phạm chống trật tự pháp luật thế giới và cá nhân phải bị truy tố và trừng phạt theo luật quốc tế“(8).

 

Tổng hợp lại cá nhân có thể là chủ thể của luật quốc tế bởi vì:

 

  1. a) Trách nhiệm pháp lý quốc tế

 

Điều lệ của Toà án binh quốc tế 1945 khẳng định cá nhân là chủ thể của trách nhiệm pháp lý quốc tế. Theo Điều 6 thì kẻ lãnh đạo, chủ mưu, tòng phạm, tham gia vào việc soạn thảo hay trực tiếp thực hiện kế hoạch, âm mưu chống hoà bình, chống loại người, tội phạm chiến tranh phải chịu trách nhiệm về những hành động đó. Các công chức cao cấp thậm chí là người đứng đầu các nhà nước cũng không thể được miễn truy tố trách nhiệm pháp lý hay được giảm nhẹ mức độ hình phạt (Điều 8). Kẻ bị xét xử nếu hành động theo lệnh của cấp trên hay của Chính phủ cũng không được miễn trách nhiệm pháp lý.

 

Trong lời buộc tội của Toà án binh quốc tế 1945 ở Nurnberge cũng có nói : “Tội phạm chống Công ước quốc tế được thực hiện bởi những con người cụ thể chứ không phải do các tổ chức trìu tượng, bởi vậy chỉ cách trừng phạt những cá nhân đã gây ra những tội phạm đó thì qui tắc của luật quốc tế mới được thực hiện đúng đắn”.

 

Theo Công ước quốc tế 1968 về việc không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những tội phạm chiến tranh và tội phạm chống loài người, trong trường hợp các tội phạm chiến tranh và tội phạm chống loài người, không phụ thuộc vào việc các tội phạm đó diễn ra vào thời bình hay thời chiến, không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm.

 

Theo Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948, những cá nhân gây nên nạn diệt chủng, đồng phạm diệt chủng, âm mưu, kích động và những ý định thực hiện việc diệt chủng sẽ bị trừng phạt mà không phụ thuộc vào việc kẻ đó là lãnh đạo một quốc gia hay tư nhân. Tội phạm diệt chủng bị xử bởi toà án quốc gia bị diệt chủng hoặc Toà án hình sự quốc tế. Toà do các nước thành viên tham gia Công ước hoặc Liên hợp quốc lập ra.

 

  1. b) Quyền của cá nhân được thỉnh cầu lên toà án quốc tế

 

Theo Điều 25 của Công ước Châu Âu về bảo vệ quyền con người 1950 bất kỳ cá nhân nào đều có quyền gửi đơn thỉnh cầu đến Hội đồng Châu Âu về quyền con người. Đơn cần phải đưa ra những dẫn chứng cụ thể, thuyết phục về việc vi phạm nhân quyền đối với người làm đơn do Nhà nước tham gia Công ước gây ra. Đơn được lưu trữ tại Ban thư ký của Hội đồng Châu Âu và được xem xét chỉ sau khi mọi biện pháp, phương tiện pháp lý đã được áp dụng trong nước theo khuôn khổ của luật quốc tế nhưng không có tác dụng, trong thời hạn sáu tháng kể từ khi các cơ quan pháp lý trong nước có quyết định cuối cùng về vụ việc này.

 

Theo Điều 190 Công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982 cá nhân có quyền được đưa đơn kiện nhà nước tham gia Công ước và đòi hỏi được xét xử tại Toà án quốc tế về biển.

 

Quyền của cá nhân được thỉnh cầu lên các toà án quốc tế cũng được công nhận ở nhiều tài liệu khác của luật quốc tế.

 

  1. c) Vị thế pháp lý (status) của một số nhóm cá nhân trong luật quốc tế

 

Theo Công ước về vị thế của người tị nạn 1951, vị thế pháp lý của người dân bị nạn được xác định bởi pháp luật của nước mà họ đang sống. Công ước quy định cho người tị nạn có những quyền như quyền lao động theo hợp đồng, quyền lựa chọn nghề nghiệp, quyền tự do di chuyển…

 

Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của các kiều dân và thành viên trong gia đình họ 1990 tuyên bố: Mỗi kiều dân lao động và thành viên trong gia đình có quyền được công nhận là chủ thể pháp lý, trước hết là những chủ thể pháp lý quốc tế. Theo Điều 35 của Công ước thì Nhà nước không được cản trở sự di dân quốc tế của nhân dân lao động và các thành viên trong gia đình họ. Công pháp quốc tế cũng được xác định vị thế pháp lý quốc tế của người phụ nữ có chồng, của trẻ em và nhiều nhóm cá nhân khác.

 

Qua những chứng cứ và ví dụ trên đây chúng ta có thể tạm cho rằng Nhà nước trong một số lĩnh vực (mặc dù không nhiều lắm) đã tạo cho cá nhân một số đặc thù của tính chủ thể pháp lý quốc tế. Phạm vi của tính chủ thể pháp lý đó ngày càng được mở rộng hơn bởi vì mỗi thời đại lịch sử lại sản sinh ra những chủ thể mới của luật quốc tế.

 

Những người phản đối việc công nhận cá nhân là chủ thể của luật quốc tế thường dựa vào chứng cứ chính là cá nhân không thể ký kết các điều ước quốc tế. Vì vậy không thể tham gia vào quá trình lập pháp quốc tế. Thế nhưng trong bất kỳ lĩnh vực nào của luật học các chủ thể đều có những quyền và nghĩa vụ không tương ứng lắm. Ví dụ như trong luật quốc tế tính chủ thể pháp lý quốc tế hiểu theo nghĩa đầy đủ, chính xác chỉ có ở quốc gia mà thôi. Những chủ thể khác như các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức tương đương với nhà nước, các quốc gia đang đấu tranh cho nền độc lập dân tộc chỉ có tính chủ thể pháp lý ở mức độ tương đối, trong một phạm vi nhất định mà thôi.

 

Cá nhân có những quyền và nghĩa vụ quốc tế nhất định, có khả năng bảo đảm sự chấp hành các điều luật quốc tế (ví dụ như qua các cơ quan toà án quốc tế). Điều đó đủ để chứng tỏ ở cá nhân những đặc thù của một chủ thể quốc tế. Chúng ta sẽ thấy rõ hơn vấn đề này khi đi sâu xem xét mối quan hệ giữa quyền con người và luật quốc tế.

 

3- Tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân trong mối tương quan giữa luật quốc tế và vấn đề nhân quyền

 

Hiện nay quyền con người được khẳng định trong nhiều công ước quốc tế khác nhau. Đó là Công ước Geneva về cải thiện điều kiện của thương binh, bệnh binh trong quân đội 1949; Công ước Geneva về việc đối xử với tù binh 1949; Công ước Geneva về việc bảo vệ dân lành trong thời chiến 1949; Điều lệ của Toà án binh quốc tế 1945; Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948; Công ước về việc ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948; Công ước bổ sung về xoá bỏ chế độ nô lệ, buôn bán nô lệ, những tập tục giống với chế độ nô lệ 1956; Công ước về quyền chính trị của phụ nữ 1952; Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội, văn hoá 1966; Công ước quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị 1966; Công ước chống tra tấn và những biện pháp mang tính dã man vô nhân đạo 1984…

 

Trong số các công ước khu vực nổi bật là Công ước Châu Âu về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do 1950 và 11 Nghị định thư bổ sung; Công ước các nước SNG về nhân quyền và tự do 1995…

 

Các quyền quốc tế của cá nhân xuất phát từ những nguyên tắc và điều luật chung của luật quốc tế được công nhận và khẳng định trong 20 Công ước đa phương và trong một loạt các điều ước song phương khác.

 

Ví dụ như theo Điều 4 của Công ước bổ sung về chế độ nô lệ 1956, nô lệ được phát hiện có mặt trên tàu của nước tham gia Công ước thì iso facto được tự do. Hay Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá 1966 công nhận quyền mỗi cá nhân được: a) Tham gia vào đời sống văn hoá; b) Sử dụng các thành tựu của tiến bộ khoa học và ứng dụng thực tiễn; c) Bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần liên quan đến các công trình khoa học, các tác phẩm văn học- nghệ thuật mà họ là tác giả.

 

Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế khẳng định: “Mỗi cá nhân con người dù ở đâu đều có quyền yêu cầu công nhận tính chủ thể pháp lý của mình” (Điều 6). Điều 23 Công ước của các nước SNG cũng có tuyên bố tương tự.

 

Ở đây cần làm sáng tỏ thêm về tính chủ thể pháp lý của cá nhân trong các điều luật quốc tế về quyền con người. Một mặt những điều luật này nói đến quyền của cá nhân, điều đó chứng tỏ chính cá nhân là chủ thể của những điều luật đó. Nhưng mặt khác các Công ước quốc tế về quyền con người đều đòi hỏi nhà nước phải đảm bảo cho cá nhân những quyền hạn trên. Bản thân phần lớn các quyền được nói đến trong các điều luật quốc tế về nhân quyền không được đảm bảo trực tiếp bởi Công pháp quốc tế mà thông qua các điều luật của nội luật. Trong trường hợp này có thể nói đến tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân đặt trong mối tương quan với các điều luật quốc tế về nhân quyền và tự do của con người được không?

 

Phần lớn các điều luật quốc tế trong lĩnh vực quyền con người là những điều luật được tạm gọi là bất tự thi. Bản thân chúng không đảm bảo cho cá nhân các quyền, tự do (thậm chí nếu hiến pháp của nước đó công nhận chúng là một phần của nội luật) nếu như không có bộ máy thực thi thích hợp. Bởi vậy nhiều điều luật, ví dụ như Công ước quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị 1966, bắt buộc nhà nước phải đảm bảo cho cá nhân những quyền đã được công nhận và khẳng định trong công ước.

 

Toà án Hiến pháp của Ý trong phán quyết ra ngày 6/2/1978 về việc áp dụng một số điểm của công ước trên đã từ chối áp dụng một số điều khoản trong Công ước vì “luật pháp chỉ chấp nhận những điểm tự thi của Công ước mà thôi“(9). Ở Anh trong quá trình thảo luận ở Viện quý tộc, người đại diện cho Chính phủ tuyên bố về Công ước quốc tế được áp dụng với nhiều nước có các hệ thống pháp lý và hành chính khác nhau khó có thể thích hợp để các Công ước đó thâm nhập thẳng vào nước Anh…(10).

 

Phải chăng điều đó có nghĩa là cá nhân con người không liên quan gì đến các chuẩn mực quốc tế về quyền con người và chỉ có quyền đó qua các điều luật của nội luật? Theo chúng tôi nghĩ thì không hẳn là như vậy. Điều luật của Công pháp quốc tế về nhân quyền một mặt bắt buộc quốc gia đảm bảo cho cá nhân các quyền đã được quy định, đồng thời mặt khác quy định cho cá nhân quyền đòi hỏi ở quốc gia việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế, hơn nữa cá nhân còn có quyền thỉnh cầu lên toà án quốc tế nếu mọi biện pháp của luật không đáp ứng đòi hỏi pháp lý của cá nhân. Có thể nói khi chấp nhận với các điều luật quốc tế về quyền con người, quốc gia tự nhận trách nhiệm pháp lý không chỉ trước các quốc gia tham gia Công ước mà còn trước các công dân của mình.

 

Thậm chí nếu bản thân điều luật quốc tế không đảm bảo những quyền được quy định, điều luật đó vẫn có khả năng cản trở việc áp dụng những điều luật của nội luật trái với nó. Ví dụ nếu như luật pháp của một nước nào đó không đảm bảo quyền được hội họp (đã nhắc đến trong Công ước về quyền công dân và quyền chính trị, Điều 20) thì bản thân Điều khoản này là cơ sở để đòi hỏi nhà nước đảm bảo quyền đó. Các chuẩn mực quốc tế trong những trường hợp đó là cơ sở pháp lý cho những đòi hỏi của cá nhân.

 

Những điều vừa nói chứng minh vai trò ngày càng tăng của tính chủ thể pháp lý cá nhân trong lĩnh vực quyền con người và công pháp quốc tế, về mối quan hệ trực tiếp giữa cá nhân và công pháp quốc tế. Trong đó -theo chúng tôi đối với việc xác định tính chủ thể pháp lý quốc tế của cá nhân thì không có ý nghĩa khi các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền phần lớn được thi hành qua các điều của nội luật. Nhân đây cũng xin dẫn ra ví dụ: các điều khoản liên quan đến quyền con người của Hiến pháp các nước cũng có nhiều điều không đảm bảo trực tiếp các quyền này. Đòi hỏi phải có sự thông qua những điều luật khác, thậm chí cả các biện pháp hành chính. Nhưng điều đó không có nghĩa cá nhân phải là chủ thể của luật hiến pháp. Ngoài ra sự phát triển của các tổ chức quốc tế có nhiệm vụ theo dõi, hỗ trợ cho việc chấp hành quyền và tự do của con người, việc tiếp nhận các cá nhân vào những tổ chức đó chứng minh rằng cá nhân ngày càng gắn liền với luật quốc tế.

 

Kết luận

 

Đến đây chúng ta có thể tạm thời cho rằng cá nhân là một trong những chủ thể của luật quốc tế. Cá nhân không những có quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế được nảy sinh từ điều luật quốc tế mà còn có quyền và khả năng yêu cầu quốc gia thực hiện các quyền con người và trong trường hợp cần thiết thỉnh cầu lên các toà án quốc tế để đảm bảo cho các quyền đó.

 

Thế nhưng một mặt khác việc những chủ thể khác của luật quốc tế ngày càng tích cực tham gia vào hoạt động trên trường quốc tế làm cho các hoạt động này phức tạp hơn, khó điều khiển hơn. Kết quả là vai trò của quốc gia – chủ thể chính của luật quốc tế, không những không giảm đi mà ngày càng tăng lên. Điều đó được các nhà luật học trên thế giới khẳng định, nhất là những ai đó hoạt động thực tế, chẳng hạn như nguyên Tổng thư ký liên hợp quốc, giáo sư luật quốc tế B.Butros Galli nhấn mạnh đến “sự quan trọng và tính không thể thay thế của quốc gia có chủ quyền như chủ thể chính của luật quốc tế“(11).

 

Do tính chưa ngã ngũ của vấn đề thường xuất hiện hai thái cực khi xem xét quyền con người trong thực tế: hoặc dựa vào con bài nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền, hoặc dựa vào nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ của nước khác để cản trở sự điều tiết của luật quốc tế đối với vấn đề quyền con người. Thiết nghĩ ở đây nên có một cách nhìn đúng đắn và những việc làm cụ thể để quyền con người được thực hiện mà chủ quyền của quốc gia vẫn được toàn vẹn. Và cũng cần nhấn mạnh rằng chủ yếu không phải là tuyên bố một cách hình thức về tính chủ thể pháp lý cá nhân, về quyền con người mà tìm các biện pháp hữu hiệu để cho quyền con người được đảm bảo trong mối tương hỗ giữa nội luật và công pháp quốc tế, trong sự hợp tác quốc tế giữa các tổ chức, quốc gia với nhau.

 

———————————————–

(1)Phedross A. Luật quốc tế. M. 1959.tr. 130.

 

(2) Shurshaloff V.M.Quan hệ pháp lý quốc tế. M. 1971. tr 77.

 

(3) Martence F.F. Luật quốc tế hiện đại. T.I. M 1996. tr. 220-221.

 

(4) Brownlee A. Luật quốc tế. M. 1977. tr 117.

 

(5) Zakharova N.V. Cá nhân- chủ thể của luật quốc tế. Tạp chí pháp luật số 11 1989.M

 

(6) Arechaga E..Luật quốc tế hiện đại. M. 1983. tr 259

 

(7) Oppenhame L.Luật quốc tế T.I.M. 1893. tr 259

 

(8) Oda Sh.The Individual in International Law. London. 1978. p. 471

 

(9) The Italian Yearbook of International Law 1978-1979, Napoli, 1980. p 187.

 

(10) The British Yearbook of International Law 1978, Oxford,1979.p.936.

 

(11) Butross Galli B. Bản báo cáo hàng năm của tổng thư ký liên hợp quốc. Tạp chí của Bộ ngoại giao Cộng hoà Liên bang Nga 1992 số 13-14, tr.46.

TỔNG QUAN VỀ ASEAN – TÀI LIỆU MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Được đăng bởi Hieu Vo vào lúc 19:23 
Nhãn: Công pháp quốc tế

TỔNG QUAN VỀ ASEAN

(Cập nhật đến tháng 10/2009)

 

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc, với 5 nước thành viên ban đầu là In-đô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po và Thái Lan. Sau 40 năm tồn tại và phát triển với nhiều thăng trầm, ASEAN ngày nay đã trở thành một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á (thêm 5 nước là Brunei, Cămpuchia, Lào, Mianma và Việt Nam), là một thực thể chính trị-kinh tế quan trọng ở Châu Á-Thái Bình Dương và là đối tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước lớn và các trung tâm quan trọng trên thế giới. Hiện nay, ASEAN đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu bao trùm là hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN.

 

Tài liệu này nhằm cung cấp một số thông tin khái quát về hợp tác ASEAN trong 40 năm qua và chiều hướng phát triển đến năm 2015.

 

  1. KHÁI QUÁT VỀ ASEAN TRONG 40 NĂM QUA

 

1/.Bản chất: ASEAN được thành lập với mục tiêu công khai là hợp tác kinh tế và văn hoá-xã hội, nhưng thực chất là một tập hợp chính trị nhằm đối phó với tác động của cuộc chiến tranh ở Việt Nam khi đó và ngăn chặn nguy cơ chủ nghĩa cộng sản (cả từ bên ngoài và bên trong).

 

Sau 40 năm, ASEAN đã chuyển hóa căn bản về chất, thành viên, hình thức và nội dung hợp tác ; đến nay mang bản chất là sự tập hợp lực lượng không thể thiếu của các nước nhỏ và vừa, nhằm duy trì hòa bình và an ninh khu vực, tạo thế cho quan hệ của ASEAN với các đối tác bên ngoài, tạo điều kiện để các nước thành viên mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế.

 

2/. Đặc trưng : ASEAN luôn có 2 mặt: vừa có thành công và vừa có hạn chế, cơ hội và thách thức, « hướng tâm » và « ly tâm »,  … , nhưng về tổng thể là một tổ chức khá năng động và linh hoạt, luôn tự điều chỉnh để kịp thích nghi với tình hình đã thay đổi, khẳng định được giá trị tồn tại và vị thế quốc tế.

 

ASEAN luôn bảo đảm được « sự thống nhất trong đa dạng » trên cơ sở những lợi ích cơ bản chung cũng như các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội, nhất là « đồng thuận » và « không can thiệp » ; biết tận dụng tối đa các ưu thế về địa – chính trị, địa-chiến lược và địa-kinh tế, giữ vai trò cân bằng và điều hòa lợi ích của các nước lớn ở khu vực.

 

ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực mở, hướng nhiều ra ngoài; đến nay hợp tác nội khối chưa phải là

ưu tiên cao nhất của các nước thành viên, chỉ đạt mức độ và hiệu quả nhất định.

 

3/. Những thành tựu và hạn chế của ASEAN trong 40 năm qua :

 

3.1. Thành tựu:

 

a/. Thành tựu quan trọng và nổi bật nhất của Hiệp hội là đã hoàn tất ý tưởng về một ASEAN bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á, đưa đến những thay đổi căn bản về Hiệp hội cũng như đối với tình hình khu vực.

 

ASEAN-10 đã giúp chấm dứt sự chia rẽ và đối đầu giữa các nước Đông Nam Á; tạo dựng mối quan hệ mới về chất giữa các nước thành viên, trên cơ sở hữu nghị, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, hợp tác toàn diện và ngày càng chặt chẽ cả về song phương và đa phương. Đoàn kết và hợp tác ASEAN ngày càng được củng cố và tăng cường theo phương châm bảo đảm sự “thống nhất trong đa dạng”, trên cơ sở các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội, nhất là nguyên tắc đồng thuận và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

 

ASEAN-10 đã làm cho Hiệp hội trở thành một tổ chức hợp tác khu vực thực sự, mang tính toàn diện và năng động hơn; và là nhân tố quan trọng bảo đảm hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển ở khu vực Đông Nam Á và Châu Á-TBD. ASEAN cũng đã hình thành được cách tiếp cận và phương thức giải quyết riêng đối với những vấn đề của khu vực và quốc tế, đó là “Phương cách ASEAN”, trong đó chú trọng đối thoại và hợp tác, năng động và linh hoạt để tìm được tiếng nói chung và đồng thuận.

 

b/. Hợp tác nội khối ngày càng được đẩy mạnh cả về chiều sâu và bề rộng; và đã đạt được những kết quả to lớn. Sự hình thành ASEAN-10 cùng với kết quả hợp tác nội khối trong 40 năm qua đã hỗ trợ tích cực cho các nước thành viên phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời tạo ra những tiền đề vật chất quan trọng để ASEAN gia tăng liên kết khu vực sâu rộng hơn trong giai đoạn tiếp theo.

 

+ Về chính trị-an ninh: Đây là lĩnh vực có nhiều hoạt động hợp tác nổi trội và là nhân tố quan trọng bảo đảm hòa bình và ổn định ở khu vực. Trước hết, sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa các nước thành viên ASEAN ngày càng gia tăng thông qua nhiều hoạt động đa dạng, trong đó có việc duy trì tiếp xúc thường xuyên ở các cấp, nhất là giữa các vị Lãnh đạo Cấp cao.

 

ASEAN chủ động đề xướng và tích cực phát huy tác dụng của nhiều cơ chế bảo đảm hòa bình và an ninh khu vực, như : Tuyên bố Đông Nam Á là Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN) năm 1971 ; Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) ký năm 1976 và đến nay đã trở thành Bộ quy tắc ứng xử chỉ đạo mối quan hệ không chỉ giữa các nước Đông Nam Á mà cả giữa các nước ASEAN và các đối tác bên ngoài; Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) năm 1995 ; Tuyên bố của các bên liên quan về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC) năm 2002, là bước quan trọng tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) nhằm duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông, …

 

ASEAN khởi xướng lập Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) để tạo khuôn khổ thích hợp cho ASEAN và các đối tác bên ngoài tiến hành đối thoại và hợp tác về các vấn đề chính trị-an ninh ở Châu Á-TBD. ASEAN cũng tích cực đẩy mạnh hợp tác với nhau và với các đối tác bên ngoài thông qua nhiều khuôn khổ, hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm đối phó với những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống như khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, thiên tai, bệnh dịch, …

 

+ Về kinh tế: là lĩnh vực có những bước tiến quan trọng và hiện là động lực đẩy nhanh tiến trình liên kết khu vực. Đến nay, ASEAN đã cơ bản hoàn tất các cam kết về hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA), với hầu hết các dòng thuế đã được giảm xuống mức 0-5%. Tiếp đó, ASEAN đã xác định 12 lĩnh vực ưu tiên hội nhập sớm để đẩy mạnh hơn nữa thương mại nội khối. Kim ngạch thương mại nội khối hiện đạt khoảng 300 tỷ USD và chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch thương mại của ASEAN.

Việc thực hiện các thỏa thuận về Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) đạt những tiến triển quan trọng. Hợp tác ASEAN cũng được đẩy mạnh và mở rộng trong nhiều lĩnh vực kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, giao thông vận tải, hải quan, thông tin viễn thông, tiêu chuẩn đo lường chất lượng… ASEAN cũng coi trọng đẩy mạnh thực hiện mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN, nhất là thông qua việc triển khai Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) về hỗ trợ các nước thành viên mới (Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam).

 

Mặt khác, ASEAN tích cực tăng cường hợp tác kinh tế-thương mại với các đối tác bên ngoài, nhất là việc đàm phán thiết lập các khu vực mậu dịch tự do (FTA) với hầu hết các nước đối thoại của ASEAN, như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ôt-xtrây-lia và Niu Di-lân, ….

 

+ Về văn hóa-xã hội:  các hoạt động hợp tác chuyên ngành ngày càng được mở rộng với rất nhiều chương trình/dự án khác nhau trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục-đào tạo, khoa học – công nghệ, môi trường, y tế, phòng chống ma tuý, buôn bán phụ nữ và trẻ em, HIV/AIDS, bệnh dịch…

 

Các hoạt động hợp tác này đã hỗ trợ cho các nước thành viên nâng cao khả năng giải quyết các vấn đề liên quan, đồng thời giúp tạo dựng thói quen hợp tác khu vực, nâng cao nhận thức và ý thức cộng đồng ASEAN.

c/. Về quan hệ đối ngoại, ASEAN đã tạo dựng được quan hệ hợp tác nhiều mặt với nhiều đối tác quan trọng trên thế giới, khởi xướng thành công và giữ vai trò chủ đạo trong một số khuôn khổ hợp tác khu vực ở Châu Á-TBD. Hợp tác ASEAN rất đa dạng và phức tạp, không chỉ bó hẹp trong phạm vi khu vực Đông Nam Á và 10 nước thành viên ASEAN, mà còn kể cả quan hệ đối ngoại của ASEAN thông qua các khuôn khổ hợp tác khu vực do ASEAN lập ra và giữ vai trò chủ đạo như ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF). Ngoài ra, ASEAN còn là nhân tố quan trọng của các khuôn khổ hợp tác khu vực và liên khu vực khác như Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á-TBD (APEC), Hội nghị Á-Âu (ASEM) và Diễn đàn Hợp tác Đông Á-Mỹ Latinh (FEALAC).

 

Thông qua quan hệ đối ngoại, ASEAN đã tranh thủ được sự hợp tác và hỗ trợ thiết thực từ các đối tác bên ngoài, phục vụ mục tiêu an ninh và phát triển của Hiệp hội ; đồng thời góp phần quan trọng thúc đẩy và kết nối các mối liên kết khu vực với nhiều tầng nấc khác nhau ở Châu Á-TBD.

 

3.2. Hạn chế.

 

+ Đến nay, ASEAN vẫn là một hiệp hội khá lỏng lẻo, tính liên kết khu vực còn thấp; sự đa dạng vẫn còn lớn, nhất là về chế độ chính trị-xã hội và trình độ phát triển giữa các nước thành viên.

 

+ ASEAN đề ra nhiều chương trình và kế hoạch hợp tác nhưng kết quả thực hiện còn hạn chế; tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động cồng kềnh, kém hiệu quả, nhất là việc tổ chức và giám sát thực hiện cam kết.

 

+ Việc duy trì đoàn kết và thống nhất ASEAN cũng như vai trò chủ đạo của Hiệp hội ở khu vực thường gặp

không ít khó khăn và thách thức, do tác động của nhiều nhân tố khác nhau.

 

+ Tình hình nội bộ của một số nước cũng như quan hệ giữa các nước thành viên với nhau thường nảy sinh những vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến đoàn kết, hợp tác và uy tín của ASEAN.

 

  1. MỤC TIÊU XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG ASEAN

 

1/. Quá trình hình thành.

 

1.1. Tháng 12/1997, nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập ASEAN và sau khi Hiệp hội đã bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á, Lãnh đạo các nước ASEAN đã thông qua văn kiện quan trọng Tầm nhìn ASEAN 2020, với mục tiêu tổng quát là đưa Hiệp hội trở thành “một nhóm hài hoà các dân tộc Đông Nam Á, gắn bó trong một cộng đồng các xã hội đùm bọc lẫn nhau”. Để triển khai Tầm nhìn 2020, Hội nghị Cấp cao ASEAN 6 (Hà Nội, tháng 12/1998) đã thông qua Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) cho giai đoạn 1999-2004, trong đó đề ra các biện pháp/hoạt động cụ thể để thúc đẩy hợp tác ASEAN trên các lĩnh vực chính trị-an ninh, kinh tế, văn hóa-xã hội và quan hệ đối ngoại. Do chịu tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997-1998, nên hợp tác ASEAN nói chung và việc thực hiện các dự án trong khuôn khổ HPA nói riêng giai đoạn này chủ yếu tập trung vào khôi phục và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong khu vực cũng như khắc phục những hậu quả về mặt xã hội của cuộc khủng hoảng đối với các nước thành viên.

 

1.2. Tháng 10/2003, Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Ba-li II), nhất trí đề ra mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với ba trụ cột chính: Cộng đồng An ninh (ASC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC); đồng thời khẳng định ASEAN sẽ tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài, vì mục tiêu chung là hòa bình, ổn định và hợp tác cùng có lợi ở khu vực. Để triển khai và kế tục Chương trình Hành động Hà nội (HPA), ASEAN đã đề ra Chương trình Hành động Viên Chăn (VAP) cho giai đoạn 2004-2010 và các Kế hoạch hành động (KHHĐ) để xây dựng ba trụ cột Cộng đồng về chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-xã hội, trong đó có hợp phần quan trọng là thực hiện Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI) nhằm giúp thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN với kế hoạch hành động và các dự án cụ thể.

 

1.3. Để kịp thích ứng với những chuyển biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình quốc tế và khu vực cũng như trên cơ sở những thành tựu của ASEAN trong 40 năm qua nhất là kết quả thực hiện Chương trình Hành động Viên Chăn  (VAP), Lãnh đạo các nước ASEAN tháng 1/2007 đã quyết tâm đẩy nhanh tiến trình liên kết nội khối dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN, nhất trí mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 (thay vì vào năm 2020 như thỏa thuận trước đây).

 

Theo đó, ASEAN đã khẩn trương xúc tiến xây dựng các Kế hoạch tổng thể (Blueprint) để xây dựng Cộng đồng Chính trị-An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC), trong đó đề ra mục tiêu và thời hạn hoàn thành đối với từng biện pháp/hoạt động cụ thể.

 

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-13 (tháng 11/2007), Lãnh đạo các nước đã ký Hiến chương ASEAN nhằm tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho gia tăng liên kết khu vực, trước mắt là hỗ trợ mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Hiến chương đã chính thức có hiệu lực ngày 15/12/2008.

 

1.4. Hội nghị Cấp cao ASEAN-14 (tháng 2/2009) đã thông qua Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN kèm theo 3 Kế hoạch tổng thể xây dựng 3 trụ cột Cộng đồng ASEAN và Kế hoạch công tác về IAI giai đoạn 2 (2008-2015), đây là một văn kiện quan trọng như một chương trình hành động tổng thể đề ra khuôn khổ và các bước triển khai cụ thể để ASEAN tiếp tục đẩy mạnh nỗ lực thực hiện mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, kế tục Chương trình Hành động Viên Chăn (VAP).

 

  1. Nội dung chính của Cộng đồng ASEAN.

 

2.1. Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN là xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ liên kết sâu rộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; nhưng không phải là một tổ chức siêu quốc gia và không khép kín mà vẫn mở rộng hợp tác với bên ngoài.

 

Cộng đồng ASEAN sẽ được hình thành dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội. Quan hệ đối ngoại của ASEAN cũng như mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN (nhất là IAI) được lồng ghép vào nội dung của từng trụ cột Cộng đồng ASEAN.

 

2.2. Cộng đồng Chính trị-An ninh ASEAN (APSC)  nhằm mục tiêu là tạo dựng một môi trường hòa bình và an ninh cho phát triển ở khu vực ĐNA thông qua việc nâng hợp tác chính trị-an ninh ASEAN lên tầm cao mới, với sự tham gia và đóng góp xây dựng của các đối tác bên ngoài ; không nhằm tạo ra một khối phòng thủ chung.

Kế hoạch hành động xây dựng APSC (được thông qua tại Cấp cao ASEAN-10, tháng 11/2004) đã khẳng định lại các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội và đề ra 6 lĩnh vực (thành tố) hợp tác chính gồm: (i) Hợp tác chính trị;  (ii) Xây dựng và chia sẻ chuẩn mực ứng xử; (iii) Ngăn ngừa xung đột; (iv) Giải quyết xung đột; (v) Kiến tạo hòa bình sau xung đột; và (vi) Cơ chế thực hiện. Kèm theo đó là danh mục 75 hoạt động cụ thể để xây dựng APSC. Tuy nhiên, KHHĐ về APSC cũng như Chương trình hành động Viên Chăn (VAP) không quy định mục tiêu cụ thể và lộ trình thực hiện đối với các hoạt động thuộc 6 thành tố nói trên. Kế hoạch tổng thể về APSC mà ASEAN đang soạn thảo sẽ tập trung vào khía cạnh này, cụ thể hóa các hoạt động hợp tác về chính trị-an ninh.

 

Việc thực hiện VAP và KHHĐ về APSC đã đạt được những tiến triển tích cực. Hầu hết các biện pháp/hoạt động đã hoàn tất và đang được triển khai nằm trong 3 lĩnh vực đầu (Hợp tác chính trị; Hình thành và chia sẻ các chuẩn mực và Ngăn ngừa xung đột), trong đó tiến triển mới đáng chú ý là hoàn tất xây dựng Hiến chương ASEAN, hình thành cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN, ký kết Công ước ASEAN về chống khủng bố, … Tuy nhiên, đối với 2 lĩnh vực còn lại (Giải quyết xung đột và Kiến tạo hòa bình sau xung đột) hầu như chưa có hoạt động nào được triển khai chủ yếu do các nước còn dè dặt, vì đây là những lĩnh vực mới và có phần phức tạp, nhạy cảm.

 

Trên cơ sở tiếp nối KHHĐ về APSC và Chương trình hành động Viên-chăn (hợp phần ASC) và phù hợp với quyết tâm rút ngắn xây dựng Cộng đồng ASEAN, ASEAN đã thông qua Kế hoạch tổng thể về APSC, nằm trong Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN vào 2015 được thông qua tại Cấp cao ASEAN-14 (tháng 2/2009).  Các nội dung hợp tác trong Kế hoạch tổng thể cơ bản dựa trên các nội dung đã nêu trong Kế hoạch hành động ASC, bổ sung thêm mục hợp tác với bên ngoài và được sắp xếp lại, hướng tới xây dựng Cộng đồng Chính trị – An ninh với ba đặc trưng chính: một Cộng đồng hoạt động theo luật lệ với các giá trị, chuẩn mực chung; một Khu vực gắn kết, hoà bình và tự cường, có trách nhiệm chung bảo đảm an ninh toàn diện; và một Khu vực năng động, rộng mở với bên ngoài trong một thế giới ngày càng gắn kết và tuỳ thuộc lẫn nhau.

Để triển khai Kế hoạch tổng thể, Hội đồng APSC họp lần thứ hai tháng 7/2009 tại Phuket, Thái Lan, đã nhất trí tập trung thực hiện 13 lĩnh vực ưu tiên, trong đó có triển khai DOC và triển khai SEANWFZ.

 

2.3. Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) nhằm mục tiêu tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề; từ đó nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo sự hấp dẫn với đầu tư – kinh doanh từ bên ngoài.

 

Trên cơ sở kết quả thực hiện VAP (phần về AEC) nhất là việc đã cơ bản hoàn thành Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), ASEAN đã nhất trí thông qua Kế hoạch tổng thể về AEC với những đặc điểm và nội dung sau :

 

Đến năm 2015, ASEAN sẽ trở thành : (i) một thị trường duy nhất và một cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề ; (ii)  Một khu vực kinh tế có sức cạnh tranh cao; (iii) Một khu vực phát triển kinh tế đồng đều, nhất là thực hiện có hiệu quả Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI); (iv) Một khu vực ASEAN hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu. Đồng thời, ASEAN nhất trí đề ra Cơ chế thực hiện và Lộ trình chiến lược thực hiện Kế hoạch tổng thể.

 

ASEAN cũng nhất trí xác định 12 lĩnh vực ưu tiên đẩy nhanh liên kết với lộ trình hoàn thành đến năm 2010, đó là: Hàng nông sản; Ô tô; Điện tử; Nghề cá; Các sản phẩm từ cao su; Dệt may; Các sản phẩm từ gỗ; Vận tải hàng không; Thương mại điện tử ASEAN; Chăm sóc sức khỏe; Du lịch; và Logistics.

 

Để đẩy mạnh các nỗ lực hình thành Cộng đồng Kinh tế (AEC), ASEAN đã thông qua Kế hoạch tổng thể xây dựng trụ cột này, là một bộ phận trong Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN được thông qua tại HNCC ASEAN-14 (tháng 2/2009), với các quy định chi tiết về định nghĩa, quy mô, cơ chế và lộ trình thực hiện AEC.

2.4. Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC) với mục tiêu là phục vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ASEAN, sẽ tập trung xử lý các vấn đề liên quan đến bình đẳng và công bằng xã hội, bản sắc văn hóa, môi trường, tác động của toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ.

 

Chương trình hành động Viên chăn (VAP) và KHHĐ về ASCC đã xác định 4 lĩnh vực hợp tác (thành tố) chính là : (i) Tạo dựng cộng đồng các xã hội đùm bọc; (ii) Giải quyết những tác động xã hội của hội nhập kinh tế; (iii) Phát triển môi trường bền vững; (iv) Nâng cao nhận thức và bản sắc ASEAN. Hàng loạt biện pháp/hoạt động cụ thể đã được đề ra trong từng lĩnh vực hợp tác này.

 

Theo đó, hợp tác ASEAN đã và đang được đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực khác nhau như : văn hóa, giáo dục-đào tạo, khoa học – công nghệ, môi trường, y tế, phòng chống ma tuý, buôn bán phụ nữ và trẻ em, HIV/AIDS, bệnh dịch, … Khó khăn lớn nhất trong việc thực hiện KHHĐ về ASCC là thiếu nguồn lực. Đây là vấn đề ASEAN đang phải tập trung xử lý trong thời gian tới. Quá trình xây dựng Kế hoạch tổng thể về ASCC cũng phải tính đến việc huy động nguồn lực.

 

Tương tự như các trụ cột Cộng đồng Chính trị-An ninh và Kinh tế, Kế hoạch tổng thể xây dựng Cộng đồng Văn hóa-xã hội (ASCC), một bộ phận của Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, đang được ASEAN đẩy mạnh triển khai, tập trung vào một số lĩnh vực ưu tiên như: phát triển nguồn nhân lực, phúc lợi và bảo trợ xã hội, quyền và công bằng xã hội, đảm bảo môi trường bền vững, xây dựng bản sắc ASEAN…

Hội đồng Cộng đồng Văn hóa xã hội sẽ nhóm họp lần đầu tiên trong tháng 8/2009 để điều phối việc triển khai thực hiện Kế hoạch tổng thể này cũng như tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tham gia trụ cột ASCC.

 

  1. Triển vọng của ASEAN đến 2015.

 

Trên cơ sở phân tích các nhân tố tác động đến triển vọng của ASEAN trong 10-15 năm tới, dự báo khả năng hiện thực nhất là ASEAN sẽ chuyển hóa dần từ một Hiệp hội khá lỏng lẻo thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ có mức độ ràng buộc pháp lý cao hơn và liên kết sâu rộng hơn, nhưng không trở thành một tổ chức siêu quốc gia; sẽ trở thành một thực thể chính trị-kinh tế gắn kết hơn, một cộng đồng “thống nhất trong đa dạng”; tiếp tục là một tổ chức hợp tác khu vực mở và có vai trò quan trọng ở Châu Á-Thái Bình Dương.

Liên kết ASEAN sẽ sâu rộng hơn, nhưng mức độ liên kết sẽ không đồng đều trong ba lĩnh vực chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-xã hội, do sự đa dạng khá lớn giữa các nước thành viên, nhất là về khoảng cách phát triển, chế độ chính trị – xã hội cũng như những tính toán chiến lược và lợi ích quốc gia.

 

III. HIẾN CHƯƠNG ASEAN

 

1/. Quá trình hình thành Hiến chương ASEAN

 

Việc xây dựng Hiến chương ASEAN đã được Lãnh đạo các nước ASEAN nhất trí tại Cấp cao ASEAN-10 tháng 10/2004. Cấp cao ASEAN-11 (năm 2005) đã đề ra các nguyên tắc chỉ đạo cho việc xây dựng Hiến chương và quyết định lập Nhóm các nhân vật nổi tiếng (EPG) để tư vấn cho việc xây dựng Hiến chương. Nhóm này bao gồm cựu Lãnh đạo các nước ASEAN (đại diện của Việt Nam là nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm), đã hoạt động tích cực trong cả năm 2006 và đã đề xuất nhiều khuyến nghị cụ thể cho việc soạn thảo Hiến chương.

 

Cấp cao ASEAN-12 (tháng 1/2007) đã quyết định giao Nhóm Đặc trách cao cấp (HLTF) soạn thảo Hiến chương ASEAN, dựa trên ý kiến chỉ đạo của Cấp cao ASEAN-11 và những khuyến nghị của Nhóm EPG về Hiến chương ASEAN; và phải hoàn tất Dự thảo để trình Cấp cao ASEAN-13. Theo đó, việc soạn thảo Hiến chương đã được tiến hành khẩn trương trong suốt năm 2007 với 13 vòng thương lượng của Nhóm HLTF; và 3 cuộc họp của các Ngoại trưởng để cho ý kiến chỉ đạo về hướng xử lý những vấn đề lớn.

 

Tại Cấp cao ASEAN-13 (tháng 11/2007), Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Hiến chương ASEAN và ra Tuyên bố chung khẳng định quyết tâm hoàn tất việc phê chuẩn Hiến chương trong vòng một năm.

 

Ngày 15/12/2008, sau khi được cả 10 quốc gia thành viên phê chuẩn, Hiến chương đã chính thức có hiệu lực.

 

2/. Nội dung chính của Hiến chương ASEAN.

 

Hiến chương ASEAN là một văn kiện pháp lý quan trọng nhất của ASEAN, gồm Lời nói đầu và 13 Chương, 55 Điều, với các nội dung lần lượt là: Mục đích – Nguyên tắc hoạt động; Tư cách pháp nhân; Quy chế thành viên; Cơ cấu tổ chức; Các thể chế liên quan tới ASEAN; Các ưu đãi miễn trừ; Ra quyết định; Giải quyết tranh chấp; Tài chính-ngân sách; Các vấn đề hành chính-thủ tục; Biểu trưng và Biểu tượng; Quan hệ đối ngoại và Các điều khoản chung.

 

2.1. Nội dung Hiến chương có một số điểm đáng chú ý sau:

 

– Về Mục đích – nguyên tắc (Chương I): Khẳng định lại các mục đích và nguyên tắc cơ bản của ASEAN, nhất là mục đích hòa bình, an ninh, ổn định và hợp tác khu vực cũng như nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; đồng thời bổ sung một số mục đích và nguyên tắc mới cho phù hợp với tình hình, trong đó có những mục tiêu về liên kết ASEAN, thu hẹp khoảng cách phát triển, hướng về nhân dân và vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực, có nguyên tắc về việc các nước không tham gia và không cho phép bất kỳ quốc gia/đối tượng nào được sử dụng lãnh thổ của một nước thành viên để chống lại một nước thành viên khác.

 

– Về tính chất (Chương II): ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ và có tư cách pháp nhân.

 

– Về cơ cấu tổ chức (Chương IV): Bộ máy chính sẽ bao gồm Hội nghị Cấp cao (là cơ quan quyết định chính sách cao nhất, họp 2 lần một năm); 4 Hội đồng cấp Bộ trưởng, trong đó 3 Hội đồng về từng trụ cột của Cộng đồng ASEAN (Chính trị-An ninh, Kinh tế, Văn hoá-Xã hội) và 1 Hội đồng Điều phối chung (gồm các Ngoại trưởng); các Hội nghị Bộ trưởng chuyên ngành; Ủy ban các Đại diện Thường trực của các nước tại ASEAN (CPR), thường trú tại Gia-các-ta, In-đô-nê-xia; Ban Thư ký ASEAN và Tổng Thư ký ASEAN; Ban Thư ký ASEAN Quốc gia. Ngoài ra, ASEAN cũng sẽ lập Cơ quan nhân quyền ASEAN và quy định Cơ quan này sẽ phải hoạt động phù hợp với Điều khoản tham chiếu (TOR) do các Ngoại trưởng quyết định sau, trong đó xác định rõ tính chất, chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc của Cơ quan này.

 

– Về cách thức ra quyết định (Chương VII): nguyên tắc chủ đạo là đồng thuận; khi không đạt đồng thuận, Cấp cao sẽ quyết định về cách thức ra quyết định phù hợp. Về thực thi các quyết định trong lĩnh vực kinh tế, có thể áp dụng công thức linh hoạt ASEAN-X, theo đó sẽ cho phép các nước có điều kiện, thực hiện việc mở cửa kinh tế, thị trường trước, nhưng phải trên cơ sở có đồng thuận về việc áp dụng phương thức đó.

 

– Giải quyết tranh chấp, bất đồng (Chương VIII): thực hiện nguyên tắc giải quyết hòa bình, thông qua thương lượng các tranh chấp, bất đồng giữa các nước thành viên và dựa trên các thỏa thuận đã có của ASEAN. Trường hợp bất đồng không giải quyết được hoặc có vi phạm nghiêm trọng Hiến chương, vấn đề sẽ được trình lên Cấp cao quyết định.

 

– Qui định về ký, phê chuẩn, hiệu lực và thực hiện (Chương XIII): Hiến Chương ASEAN sẽ do những người đứng đầu Nhà nước hoặc Chính phủ nhân danh Nhà nước các nước thành viên ký; Hiến chương sẽ phải được phê chuẩn và sẽ có hiệu lực 30 ngày sau khi tất cả các quốc gia thành viên ASEAN phê chuẩn. Hiến chương sẽ được xem xét, bổ sung, sửa đổi để phù hợp với tình hình thực tế 5 năm một lần.

 

2.2. Nhận xét chung về nội dung Hiến chương:

 

+ Về cơ bản, nội dung Hiến chương là sự đúc kết và hệ thống hóa những mục tiêu, nguyên tắc và thỏa thuận đã có của ASEAN trong một văn kiện pháp lý, có bổ sung và cập nhật cho phù hợp với tình hình mới trên cơ sở đồng thuận.

 

+ Những điểm mới chủ yếu là: (i) trao tư cách pháp nhân cho tổ chức ASEAN (vì Hiệp hội ra đời trên cơ sở một tuyên bố chính trị, chứ không phải là một văn kiện pháp lý); (ii) tổ chức bộ máy; (iii) phương thức hoạt động của ASEAN.

 

+ Điều quan trọng hàng đầu là Hiến chương khẳng định lại tính chất của ASEAN là một tổ chức hợp tác khu vực liên chính phủ và nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các nước thành viên (không phải là tổ chức siêu quốc gia như Liên minh Châu Âu). Tính chất liên Chính phủ của ASEAN là nền tảng và sẽ quyết định nhiều vấn đề cơ bản của ASEAN.

 

+ Hiến chương đã không đề cập đến một số ý tưởng hay khuyến nghị cấp tiến của Nhóm EPG như Liên minh ASEAN (ASEAN Union), Quốc hội ASEAN, Tòa án ASEAN, trừng phạt hoặc treo tư cách thành viên khi có vi phạm, ra quyết định bằng bỏ phiếu, …

 

+ Nhìn chung, nội dung Hiến chương là kết quả của quá trình thảo luận nghiêm túc và kỹ lưỡng, đã thể hiện khá cân bằng và dung hòa quan điểm của các nước thành viên, phản ánh mức độ “thống nhất trong đa dạng” của ASEAN vào thời điểm hiện nay, phù hợp với các mục tiêu và lợi ích chung của các nước ASEAN.

 

  1. Ý nghĩa của Hiến chương ASEAN.

 

Hiến chương ASEAN sẽ tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho Hiệp hội gia tăng liên kết khu vực, trước hết là thực hiện mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015.

 

Hiến chương ASEAN là một nhu cầu tất yếu khách quan và là bước chuyển giai đoạn quan trọng của Hiệp hội sau 40 năm tồn tại và phát triển, phản ánh sự trưởng thành của ASEAN. Hiến chương ASEAN sẽ làm cho tổ chức ASEAN có tư cách pháp nhân và đưa đến những thay đổi lớn về tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của ASEAN.

 

Việc xây dựng và ký kết Hiến chương thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của các nước ASEAN, nhất là của các vị Lãnh đạo về mục tiêu xây dựng một ASEAN liên kết chặt chẽ hơn và vững mạnh hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương, để hỗ trợ cho mục tiêu hòa bình và phát triển của cả khu vực cũng như từng nước thành viên.

 

4/. Tác động của Hiến chương đối với ASEAN.

 

Hiến chương ASEAN và tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN sẽ có tác động nhiều mặt, cả mặt thuận và thách thức đối với tương lai phát triển của Hiệp hội cũng như sự tham gia của từng nước thành viên, trong đó mặt thuận là cơ bản.

 

Sự ràng buộc về pháp lý cùng với sự đổi mới về bộ máy tổ chức và phương thức hoạt động của ASEAN sẽ giúp việc thực hiện các thỏa thuận nghiêm túc và kịp thời hơn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác. Một ASEAN ngày càng liên kết chặt chẽ và vững mạnh trên cơ sở pháp lý là Hiến chương sẽ giúp duy trì môi trường hòa bình và ổn định ở khu vực, hỗ trợ đắc lực cho từng nước thành viên phát triển kinh tế-xã hội cũng như hội nhập khu vực và quốc tế, gia tăng vị thế quốc tế trong quan hệ với các đối tác bên ngoài.

 

Mặt khác, với Hiến chương ASEAN, mỗi nước thành viên phải nghiêm túc hơn trong việc tham gia đàm phán và thực hiện các quyết định, thỏa thuận hợp tác của ASEAN, quan tâm hơn đến các mục tiêu chung của ASEAN nhằm bảo đảm sự gắn kết và lồng ghép hài hòa giữa các ưu tiên/chương trình quốc gia với các ưu tiên/chương trình hợp tác khu vực, điều chỉnh tổ chức tổ chức bộ máy trong nước cũng như đầu tư nguồn lực và nhân lực thích đáng hơn, để tham gia hợp tác ASEAN một cách chủ động và có hiệu quả.

 

Những tác động nói trên sẽ luôn tác động lẫn nhau và có thể thay đổi mức độ tùy theo kết quả hợp tác trong ASEAN; và mặt thuận là cơ bản và sẽ gia tăng dần trong tiến trình liên kết ASEAN.

 

  1. Các hoạt động triển khai đưa Hiến chương vào cuộc sống.

 

Ngày 15/12/2008, Hiến chương đã chính thức có hiệu lực.

 

Hiện nay, ASEAN đang tích cực triển khai đưa Hiến chương vào cuộc sống, chủ yếu tập trung trên 2 mảng việc chính là xây dựng và hoàn thiện bộ máy tổ chức mới theo quy định tại Hiến chương cũng như các văn kiện pháp lý liên quan đến tư cách pháp nhân và cơ chế giải quyết tranh chấp bổ sung cho Hiến chương. Tới nay, cơ bản, bộ máy tổ chức mới của ASEAN đã đi vào hoạt động với việc nhóm họp của các Hội đồng Cộng đồng cấp Bộ trưởng theo dõi 3 trụ cột, Hội đồng Điều phối và Ủy ban các Đại diện thường trực ASEAN tại Gia-các-ta. Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền đã được Lãnh đạo ASEAN công bố thành lập tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-15 (tháng 10/2009).

 

Về khía cạnh pháp lý, các Ngoại trưởng ASEAN đã ký thông qua Hiệp định về Ưu đãi Miễn trừ của ASEAN nhằm cụ thể hóa các khía cạnh liên quan đến tư cách pháp nhân của ASEAN được quy định trong Hiến chương, đồng thời đang khẩn trương hoàn chỉnh các dự thảo văn kiện còn lại, trong đó có Nghị định thư về

 

Cơ chế giải quyết tranh chấp theo Điều 25 của Hiến chương.

 

  1. QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA ASEAN

 

  1. Khái quát chung.

 

Quan hệ đối ngoại của ASEAN là một mảng lớn trong các hoạt động của Hiệp hội; được hình thành từ năm 1973 và đã phát triển mạnh trong hơn 40 năm qua, phản ánh tính chất mở của Hiệp hội và đã hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu an ninh và phát triển của ASEAN. Đế khẳng định tầm quan trọng của quan hệ đối ngoại, Hiến chương ASEAN đã có riêng một chương đề cập đến quan hệ đối ngoại của Hiệp hội, trong đó đã xác định các mục tiêu, nguyên tắc, định hướng, cơ chế và các vấn đề liên quan khác nhằm đẩy mạnh quan hệ đối ngoại của ASEAN.

 

Các đối tác bên ngoài nhìn chung đều coi trọng và tranh thủ quan hệ với ASEAN cũng như tác động đến Hiệp hội cả về đa phương và song phương nhằm hỗ trợ chính sách và lợi ích của họ ở khu vực. Các đối tác đều cam kết ủng hộ và hỗ trợ ASEAN xây dựng Cộng đồng, thu hẹp khoảng cách phát triển và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong các tiến trình khu vực ASEAN khởi xướng như ASEAN+3, EAS và ARF; hỗ trợ đáng kể về tài chính ở mức độ khác nhau. Gần đây, các đối tác này ngày càng quan tâm đến việc lồng ghép chính sách song phương và đa phương trong quan hệ với ASEAN do Hiệp hội ngày càng trở thành một thực thể chính trị-kinh tế gắn kết hơn. Đến nay đã có 27 nước cử Đại sứ về ASEAN.

 

Quan hệ đối ngoại của ASEAN bao gồm các khuôn khổ ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á (EAS) và

 

Diễn đàn Khu vực ASEAN. Cụ thể gồm:

 

1/. Khuôn khổ ASEAN + 1 (với từng đối tác bên ngoài). ASEAN hiện có quan hệ đối thoại và hợp tác với 10 nước (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn độ, Pakistan, Ôt-xtrây-lia, Niu Di lân, Nga, Hoa Kỳ và Canada), 1 tổ chức khu vực là Liên minh Châu Âu (EU) và 1 tổ chức quốc tế là Liên Hợp Quốc.  ASEAN hiện là quan sát viên của LHQ và có quan hệ với nhiều tổ chức khu vực khác trên thế giới.

 

Về cơ chế hợp tác, đã hình thành ở nhiều cấp khác nhau từ quan chức đến Bộ trưởng và Lãnh đạo Cấp cao. Hiện nay, ASEAN có cơ chế họp Cấp cao hàng năm với Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc và Ấn độ (nhân dịp Cấp cao ASEAN thường niên); đã họp Cấp cao lần đầu tiên nhân dịp đặc biệt với Úc và Niu Di-lân (tháng 11/2004), với Nga (tháng 12/2005), với EU (tháng 11/2007), với LHQ (năm 2000 và 2005), với Hàn Quốc (tháng 6/2009), với Mỹ (11/2009). Hiện ASEAN đang thu xếp để có thể họp Cấp cao ASEAN-Nga lần thứ 2 và Cấp cao Kỷ niệm 35 năm lập quan hệ ASEAN-Niu Di lân trong năm 2010.

 

Đến nay, ASEAN cùng với hầu hết các đối tác nói trên đã nhất trí hình thành các khuôn khổ đối tác chiến lược hoặc toàn diện mang  tính lâu dài, kèm theo các chương trình và kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện. Các chương trình/kế hoạch hành động đang được triển khai tích cực với nhiều biện pháp/hoạt động khác nhau, kể cả thỏa thuận lập các Khu vực mậu dịch tự do (FTA/CEP) giữa ASEAN với nhiều đối tác quan trọng như Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc, EU, Ấn Độ, Ôx-trây-lia và Niu Di-lân. ASEAN đã lập các Trung tâm ASEAN-Hàn Quốc, ASEAN-Nhật Bản nhằm thúc đẩy đầu tư, thương mại và du lịch và đã ký MOU lập Trung tâm ASEAN-Trung Quốc.

 

2/. Tiến trình ASEAN+3 (với ba nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn quốc). Khuôn khổ này được hình thành năm 1997 với việc họp Cấp cao không chính thức lần đầu tiên giữa ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, và được chính thức hóa năm 1999 với việc thông qua Tuyên bố chung về Hợp tác Đông Á. ASEAN+3 ra đời xuất phát từ nhu cầu hợp tác của các nước khu vực nhằm đối phó với tác động của khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997.

 

Sau 10 năm, hợp tác ASEAN+3 đang phát triển nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu, với sự hình thành 52 cơ chế hợp tác ở các cấp khác nhau, kể cả Cấp cao hàng năm (nhân dịp Cấp cao ASEAN). Các lĩnh vực hợp tác được mở rộng bao gồm cả an ninh-chính trị, kinh tế, tài chính-tiền tệ, nông nghiệp, khoa học và công nghệ, giao thông vận tải, năng lượng, môi trường, du lịch, công nghệ thông tin, y tế, lao động, văn hóa, tội phạm xuyên quốc gia và an sinh xã hội.

 

Tháng 1/2007, Lãnh đạo các nước liên quan đã ra Tuyên bố chung về Hợp tác Đông Á và (lần 2) và Kế hoạch hành động thực hiện kèm theo nhằm đề ra phương hướng và biện pháp gia tăng hợp tác, hướng tới mục tiêu lâu dài là xây dựng cộng đồng Đông Á; và ASEAN+3 được coi là khuôn khổ chính để tiến tới mục tiêu này. Các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN+3 đã thông qua Định hướng triển khai Chương trình công tác ASEAN+3 thực hiện Tuyên bố chung và Kế hoạch hành động.

 

Hợp tác kinh tế, tài chính-tiền tệ ASEAN+3 là lĩnh vực đạt kết quả tích cực, nhất là trong hợp tác xử lý hiệu quả tác động của Khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu. Với việc ra Tuyên bố về đối phó với khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu vào 2/6/2009, ASEAN+3 đã thể hiện quyết tâm của các nước tăng cường hợp tác thông qua các biện pháp cụ thể xử lý hiệu quả tác động tiêu cực của khủng hoảng đối với kinh tế khu vực. ASEAN+3 cũng nhất trí triển khai đa phương hóa Sáng kiến Chiềng Mai (đề xuất năm 2000) với quy mô vốn tăng từ 80 tỉ USD lên 120 tỉ USD trong năm 2009 và lập một cơ chế giám sát khu vực độc lập. Cơ chế Bảo hiểm tín dụng và Đầu tư trong Sáng kiến Thị trường trái phiếu Châu Á (đề xuất năm 2003) nhằm hỗ trợ phát hành trái phiếu bằng đồng bản tệ với khoản vốn ban đầu 500 triệu USD đã bắt đầu đi vào triển khai. Ngoài ra, ASEAN+3 đang xem xét khả năng lập Khu vực Mậu dịch tự do Đông Á (EAFTA) trên cơ sở Báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 2 về EAFTA của Kênh II.

 

ASEAN+3 cũng quyết tâm đẩy mạnh hợp tác đối phó với các thách thức toàn cầu như khủng hoảng lương thực, năng lượng, suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu, dịch bệnh truyền nhiễm… Cấp cao ASEAN+3 lần thứ 12 (Thái Lan, 24/10/2009) đã thông qua Tuyên bố chung về Hợp tác An ninh lương thực và Phát triển năng lượng sinh học nhằm thể hiện quyết tâm trên. ASEAN+3 cũng tăng cường hợp tác thông qua một loạt sáng kiến và hoạt động như lập Quỹ Dự trữ gạo khẩn cấp ASEAN+3, hợp tác tìm kiếm các nguồn năng lượng sạch thay thế, giảm lượng khí thải, tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển giao công nghệ sản xuất vắc-xin/thuốc giá rẻ và tăng lượng vắc-xin dự trữ phòng chống các dịch bệnh truyền nhiễm, chia sẻ và cập nhật thông tin về dịch cúm…

 

Quỹ Hợp tác ASEAN+3 (APTCF) đã được lập với số vốn ban đầu là 3 triệu USD nhằm tập trung nguồn lực hỗ trợ triển khai các biện pháp trong Kế hoạch Công tác ASEAN+3 (2007-2017) và tài trợ cho các dự án hợp tác khác trong khuôn khổ ASEAN+3.

 

3/. Cấp cao Đông Á (EAS). EAS ra đời tháng 12/2005 với sự tham gia của 16 thành viên gồm 10 nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Ấn Độ, Ôt-xtrây-lia và Niu Di-lân. Tại Hội nghị EAS đầu tiên, Lãnh đạo các nước đã ký Tuyên bố chung về Cấp cao Đông Á, trong đó đề ra mục tiêu, nguyên tắc, lĩnh vực và các phương thức chính cho hoạt động của EAS. Theo đó, EAS sẽ là diễn đàn của các Lãnh đạo đối thoại về các vấn đề chiến lược nhằm hỗ trợ mục tiêu xây dựng cộng đồng ở khu vực Đông Á; là một tiến trình mở và thu nạp, trong đó ASEAN giữ vai trò chủ đạo; bổ sung và hỗ trợ cho các diễn đàn khu vực khác hiện có, họp hàng năm do ASEAN chủ trì nhân dịp Cấp cao ASEAN.

 

Lãnh đạo các nước đã nhất trí xác định 5 lĩnh vực hợp tác ưu tiên gồm năng lượng, tài chính, giáo dục, thiên tai và bệnh dịch, tiến hành tiệm tiến và tận dụng các cơ chế hiện có của ASEAN (ASEAN+1, +3…). Đến nay, Cấp cao Đông Á đã họp 4 lần; chưa lập cơ chế hỗ trợ chính thức, nhưng đã tổ chức một số cuộc họp không thức ở kênh ngoại giao (Bộ trưởng Ngoại giao và cấp Quan chức cao cấp) và một số kênh khác thuộc các lĩnh vực ưu tiên như Hội nghị Bộ trưởng Môi trường EAS, Hội nghị Bộ trưởng Năng lượng EAS. Báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 2 về lập Đối tác Kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA) của Kênh II đã hoàn tất và trình lên Cấp cao Đông Á lần thứ 4 (Thái Lan, 25/10/2009)

 

ASEAN chưa quyết định về việc mở rộng EAS cũng như Quy chế quan sát viên của EAS. Hội nghị hẹp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (4/2005) đề ra 3 tiêu chí tham gia EAS là: (i) là đối thoại đầy đủ của ASEAN; (ii) tham gia TAC; (iii) hợp tác hiệu quả với ASEAN.

 

4/. Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF).

 

Diễn đàn này được thành lập năm 1994, tạo ra khuôn khổ thích hợp cho ASEAN và các đối tác bên ngoài tiến hành đối thoại và hợp tác về các vấn đề chính trị-an ninh ở Châu Á-TBD ở cấp quan chức và Bộ trưởng Ngoại giao. Với 17 thành viên ban đầu, đến nay ARF đã có 27 thành viên, và đang có thêm nhiều quốc gia khác xin tham gia. ARF dự kiến sẽ trải qua ba giai đoạn phát triển theo tuần tự là : Xây dựng lòng tin (CBM) ; Ngoại giao phòng ngừa (PD) ; và Xem xét cách thức giải quyết xung đột. Đến nay, ARF đang chuyển giai đoạn từ CBM sang PD trong lúc vẫn tiếp tục thực hiện CBM. Các lĩnh vực đối thoại và hợp tác bao gồm cả các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống. Cùng với các quan chức ngoại giao, sự tham gia của các quan chức quốc phòng vào tiến trình ARF ngày càng sâu rộng và được nâng cấp dần (hiện ở cấp Thứ trưởng Quốc phòng).

 

Hội nghị Bộ trưởng Diễn đàn ARF lần thứ 16 (tháng 7/2009) đã thông qua Tuyên bố Tầm nhìn ARF, văn kiện định hướng phát triển của ARF đến năm 2020. Nội dung của tài liệu này bao hàm các nguyên tắc cơ bản của ARF, định hướng và một số bước đi cụ thể xây dựng Diễn đàn.

 

  1. Quan hệ cụ thể với các Bên Đối thoại

 

  1.  Quan hệ ASEAN-Úc và Niu Di-lân:

 

ASEAN thiết lập quan hệ đối thoại với Úc từ năm 1974 và với Niu Di-lân từ năm 1975 với cơ chế đối thoại cấp Tổng Vụ trưởng. Cho đến nay quan hệ đối thoại và hợp tác đã và đang phát triển nhanh và tích cực. Tháng 11/2004 tại Viên-chăn, ASEAN đã tổ chức Cấp cao Kỷ niệm 30 năm quan hệ với Úc và Niu Di-lân, ký Tuyên bố chung, khẳng định ý chí chính trị và quyết tâm thúc đẩy quan hệ đối tác nhiều mặt, từ đó tạo đà thúc đẩy hơn nữa quan hệ trong tương lai. Niu Di-lân cũng đề nghị tổ chức Cấp cao ASEAN-Niu Di lân kỷ niệm 35 thiết lập quan hệ trong năm 2010 tại Việt Nam.

 

Năm 2005, Úc và Niu Dilân đã tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC). Năm 2007, ASEAN và Úc ký Tuyên bố chung Đối tác Toàn diện và Chương trình Hành động thực hiện Tuyên bố chung. Úc và Niu Dilân đều cam kết mạnh mẽ hỗ trợ ASEAN xây dựng cộng đồng, thu hẹp khoảng cách phát triển…

 

ASEAN duy trì cơ chế họp Bộ trưởng Ngoại giao hàng năm với Úc và Niu Di-lân trao đổi về các vấn đề chính trị – an ninh khu vực. Hợp tác kinh tế phát triển nhanh; ASEAN và Úc và Niu Di-lân đã lập cơ chế tham vấn giữa các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và CER từ năm 1995. Năm 2000, các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN-Úc+Niu Di-lân đã quyết định lập Khuôn khổ Đối tác Kinh tế gần gũi AFTA-CER CEP với mục tiêu chính là tăng gấp đôi thương mại và đầu tư hai bên vào năm 2010. Hai bên đã ký Hiệp định thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Úc+Niu Di-lân (AANZFTA) bên lề Cấp cao ASEAN-14 (Thái Lan, 27/2/2009).

 

Chương trình Hợp tác Phát triển ASEAN-Úc giai đoạn hai (AADCP II, 2008-2015) với mục tiêu hỗ trợ ASEAN thúc đẩy xây dựng Cộng đồng, liên kết kinh tế, thu hẹp khoảng cách và triển khai Hiến chương ASEAN, được thông qua tháng 2/2008, trong đó AusAID cam kết đóng góp 57 triệu đôla Úc. Tháng 7/2009, ASEAN và Úc đã ký MOU triển khai AADCP II. Úc cũng đóng góp 13 triệu đô la Úc cho Ủy hội sông Mê-kông và 1,2 triệu đô la Úc nhằm thúc đẩy thương mại trong Tiểu vùng Mêkông mở rộng. Với Niu Di-lân, hai bên nhất trí sẽ xây dựng dự thảo Khuôn khổ Hợp tác ASEAN-Niu Di-lân giai đoạn 2010-2015 nhằm hỗ trợ ASEAN xây dựng cộng đồng.

 

  1. Quan hệ ASEAN-Ca-na-đa:

 

Quan hệ đối thoại ASEAN-Ca-na-đa được lập năm 1977. Năm 1981, ASEAN và Ca-na-đa đã ký Hiệp định Hợp tác Kinh tế ASEAN-Ca-na-đa (ACECA), đặt nền tảng cho hợp tác thương mại và công nghiệp giữa hai bên, và năm 1993 lập cơ chế họp Ủy ban Hợp tác chung (JCC) để thúc đẩy các hoạt động hợp tác.

 

Quan hệ ASEAN-Ca-na-đa hiện đang có những tiến triển tích cực. Hai bên đã lập cơ chế Cuộc họp đối thoại thường kỳ ASEAN-Ca-na-đa để bàn về các biện pháp tăng cường quan hệ đối thoại hai bên. Hai bên đã thực kiện có kết quả Kế hoạch Công tác chung ASEAN-Ca-na-đa 2005-2007 gồm 17 lĩnh vực hợp tác về chính trị-an ninh, kinh tế và hợp tác phát triển. Tháng 7/2007, các Ngoại trưởng đã thông qua Kế hoạch Công tác chung ASEAN-Ca-na-đa lần thứ 2 cho giai đoạn 2007-2010. Hai bên cũng đang xúc tiến việc đàm phán nhằm ký kết Thoả thuận khung về Hợp tác Thương mại và Đầu tư ASEAN-Ca-na-đa (TIFA) để tạo khuôn khổ pháp lý nhằm tăng cường hợp tác thương mại và đầu tư giữa hai bên.

 

Tháng 7/2009, ASEAN và Canada đã thông qua Tuyên bố về Quan hệ Đối tác tăng cường để định hướng quan hệ hợp tác cho giai đoạn mới. Dự kiến Kế hoạch Hành động 2010-2015 triển khai Tuyên bố sẽ sớm được hai bên xây dựng để thông qua tại PMC 2010. Canada cũng bày tỏ nguyện vọng sớm tham gia Hiệp ước TAC.

 

  1. Quan hệ ASEAN-Trung Quốc:

 

Quan hệ đối thoại ASEAN-Trung Quốc được thiết lập năm 1991 và đang phát triển mạnh, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị-an ninh, kinh tế và hợp tác chuyên ngành. Năm 2003, ASEAN và Trung Quốc đã thông qua Tuyên bố chung về Quan hệ Đối tác Chiến lược vì Hòa bình và Thịnh vượng, nâng quan hệ đối thoại và hợp tác lên một tầm cao mới và hiện đang tích cực triển khai Tuyên bố chung thông qua Chương trình Hành động cụ thể.

 

ASEAN và Trung Quốc xác định 11 lĩnh vực hợp tác ưu tiên (gồm nông nghiệp, công nghệ thông tin và truyền thông, phát  triển nguồn lực, đầu tư hai chiều, phát triển Lưu vực Sông Mê Công, giao thông, năng lượng, văn hóa, du lịch, y tế cộng đồng và môi trường) và đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong triển khai thực hiện, nhất là về kinh tế-thương mại.

 

Về chính trị-an ninh, ASEAN và Trung Quốc đã ký một loạt thỏa thuận hợp tác, trong đó có Tuyên bố chung về Ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) ký năm 2002 và Tuyên bố chung ASEAN-Trung Quốc về Hợp tác trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống ký năm 2004. Trung Quốc là nước Đối thoại đầu tiên tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở khu vực Đông Nam Á (TAC) tháng 10/2003; Đồng thời, Trung Quốc cũng tích cực tham gia các tiến trình hợp tác do ASEAN khởi xướng và dẫn dắt như ARF, ASEAN + 3, EAS. Nhiều sáng kiến do Trung Quốc khởi xướng đã trở thành thông lệ như tổ chức Hội nghị Chính sách An ninh hàng năm, xây dựng quy chuẩn về phòng chống thiên tai trong ARF…

 

Về kinh tế-thương mại, ASEAN và Trung Quốc hiện là bạn hàng mậu dịch lớn thứ 4 của nhau với giá trị thương mại 2 chiều tăng từ 59,6 tỉ USD năm 2003 lên 171,1 tỉ USD năm 2007 và đạt 192,5 tỉ USD năm 2008; đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc vào ASEAN đạt 3,6 tỉ USD năm 2007; tổng đầu tư 2 chiều đến năm 2008 là 60 tỉ USD. Tháng 11/2002, hai bên đã ký Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện nhằm lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) vào năm 2010 đối với Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippine, Xinh-ga-po và Thái lan và vào năm 2015 đối với 4 thành viên mới của ASEAN là Campuchia, Lào, Mianma và Việt Nam. Theo lộ trình lập ACFTA, ASEAN và Trung Quốc đã ký Hiệp định Thương mại Hàng hóa và Hiệp định về Cơ chế Giải quyết Tranh chấp (11/2004) và từ đầu năm 2005 đã thực hiện chương trình “Thu hoạch sớm” trong khuôn khổ ACFTA. Hai bên đã ký Hiệp định Thương mại Dịch vụ tháng 1/2007 và Hiệp định Đầu tư tháng 8/2009. Hai bên cũng tích cực triển khai nhiều hoạt động xúc tiến trao đổi thương mại-đầu tư như tổ chức các Hội chợ EXPO ASEAN-Trung Quốc thường niên; lập Trung tâm ASEAN-Trung Quốc tại Bắc Kinh nhằm thúc đẩy thương mại, đầu tư và du lịch.

 

Về hợp tác phát triển, ASEAN và Trung Quốc tích cực thúc đẩy hợp tác nông nghiệp, công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, phát triển nguồn nhân lực, văn hóa-xã hội, y tế cộng đồng, giao lưu nhân dân v.v… Hai bên đã ký các MOU và xây dựng các Chương trình/chiến lược hợp tác trong từng lĩnh vực cụ thể.

 

  1. Quan hệ ASEAN-Nhật:

 

Quan hệ đối thoại và hợp tác ASEAN-Nhật được tạo dựng năm 1973 và chính thức thiết lập từ năm 1977 với việc tổ chức diễn đàn ASEAN-Nhật lần đầu tiên. Quan hệ đối tác ASEAN-Nhật nhìn chung phát triển nhanh, toàn diện và thực chất. Tháng 12/2003 tại Tokyo, ASEAN và Nhật đã tổ chức Cấp cao kỷ niệm 30 năm quan hệ và Lãnh đạo hai bên đã ký “Tuyên bố chung Tokyo về Quan hệ Đối tác ASEAN-Nhật Năng động và Bền vững trong Thiên niên kỷ mới” cùng với Kế hoạch hành động kèm theo, đánh dấu một bước phát triển mới trong quan hệ đối tác và tạo tiền đề cho quan hệ đối tác toàn diện ASEAN-Nhật.

 

Về chính trị-an ninh, hai bên đã ký Tuyên bố chung về hợp tác chống khủng bố quốc tế (11/2004) và triển khai nhiều hoạt động hợp tác trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Nhật đã tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC); tham gia tích cực khuôn khổ hợp tác ASEAN+3, EAS và ARF.

 

Hợp tác kinh tế ASEAN-Nhật ngày càng phát triển mạnh mẽ. Nhật Bản hiện là đối tác thương mại lớn nhất và là một trong những nhà đầu tư lớn nhất của ASEAN. Tháng 10/2003, các nhà Lãnh đạo ASEAN và Nhật đã ký Khuôn khổ Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN-Nhật (CEP) nhằm tăng cường liên kết kinh tế giữa ASEAN và Nhật, thúc đẩy tự do hóa, tạo thuận lợi trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa ASEAN và Nhật cũng như tạo khuôn khổ đầu tư minh bạch và tự do hơn. Khuôn khổ này cũng bao gồm việc thành lập khu vực mậu dịch tự do (FTA) giữa ASEAN và Nhật với mục tiêu dự kiến hoàn thành trước năm 2012, riêng các nước CLMV được lùi thêm 5 năm (2017). Trên cơ sở đó, ASEAN và Nhật Bản đã đàm phán và ký Hiệp định khung về Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản (AJCEP) ngày 14/4/2008.

 

Về hợp tác phát triển, Nhật là một trong những nước đối thoại hỗ trợ lớn nhất cho ASEAN trong việc xây dựng cộng đồng và thu hẹp khoảng cách phát triển  thông qua Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI) và Kế hoạch Hành động Viên Chăn (VAP) cũng như các sáng kiến phát triển tiểu vùng và các chương trình hợp tác phát triển như Chương trình trao đổi ASEAN-Nhật (JAEP), Quỹ trao đổi ASEAN-Nhật, Quỹ liên kết ASEAN-Nhật (JAIF)…

 

  1. Quan hệ ASEAN-Hàn Quốc:

 

ASEAN và Hàn Quốc lập quan hệ đối thoại theo lĩnh vực từ năm 1989 và chính thức lập quan hệ đối thoại đầy đủ từ năm 1991. Quan hệ đối thoại và hợp tác ASEAN-Hàn Quốc hiện đang phát triển nhanh cả về chiều rộng và chiều sâu, với nhiều chương trình, dự án cụ thể và có hiệu quả. ASEAN và Hàn Quốc đã ký Tuyên bố chung về Quan hệ Đối tác Hợp tác toàn diện (Viên-chăn, 11/2004) nhằm tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế thương mại cũng như giúp ASEAN thu hẹp khoảng cách phát triển. Hai bên đã họp Cấp cao kỷ niệm 20 năm lập quan hệ (tháng 6/2009), cam kết thúc đẩy quan hệ đối thoại phát triển hơn nữa.

 

Hợp tác ASEAN-Hàn Quốc trên lĩnh vực chính trị -an ninh tiến triển thuận lợi, tập trung vào hợp tác trên các vấn đề an ninh phi truyền thống với nhiều dự án tăng cường năng lực, chia sẻ thông tin và hợp tác công nghệ. ASEAN và Hàn Quốc đã ký Tuyên bố chung về Hợp tác chống khủng bố quốc tế (7/2005). Hàn Quốc cũng đã tham gia Hiệp ước TAC năm 2004.

 

Về thương mại và đầu tư, Hàn Quốc hiện là đối tác thương mại lớn thứ 4 của ASEAN và là một trong 10 nước đầu tư lớn nhất vào ASEAN. ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ 5 của Hàn Quốc. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Hàn Quốc (tháng 12/2005), hai bên đã nhất trí thành lập Khu vực mậu dịch tự do (FTA) ASEAN-Hàn Quốc với lộ trình cụ thể là năm 2010 với Brunei, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philipin, Xinh-ga-po và Thái Lan; năm 2016 với Việt Nam; và 2018 với Campuchia, Lào, và Myanma. Tháng 8/2006, các Bộ trưởng Kinh tế hai bên đã ký Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN-Hàn Quốc. Hai bên đã ký Hiệp định Thương mại Hàng hóa (2006), Thương mại Dịch vụ (2007), và Đầu tư (tháng 6/2009). Trung tâm ASEAN-Hàn Quốc (AKC) cũng đã chính thức hoạt động từ tháng 3/2009 nhằm góp phần thúc đẩy đầu tư, thương mại và du lịch hai bên.

 

Hợp tác phát triển giữa ASEAN và Hàn Quốc tập trung vào các lĩnh vực giao thông, du lịch, nông nghiệp, khoa học công nghệ, môi trường, sức khoẻ, phát triển nguồn nhân lực, văn hóa, giao lưu nhân dân và thu hẹp khoảng cách.

 

  1. Quan hệ ASEAN-Mỹ:

 

Quan hệ đối thoại ASEAN-Mỹ chính thức bắt đầu từ 1977 ;. Bắt đầu từ năm 2009, hai bên đã lập thêm cơ chế họp Ủy ban Hợp tác chung (cấp Tổng Vụ trưởng). Hàng năm Ngoại trưởng Mỹ tham dự các cuộc họp PMC/ARF. Các Nhà Lãnh đạo ASEAN và Mỹ đã họp Cấp cao đầu tiên tại Xinh-ga-po vào ngày 15/11/2009.

Quan hệ đối thoại ASEAN-Mỹ nhìn chung hiện đang tiến triển tích cực. Ngày 17/11/2005, Lãnh đạo Cấp cao các nước ASEAN và Mỹ đã thông qua Tuyên bố Tầm nhìn chung về Quan hệ đối tác tăng cường với nội dung khá toàn diện và tích cực, nhằm tạo khuôn khổ cho quan hệ đối tác lâu dài giữa ASEAN và Mỹ; đồng thời cũng thông qua Kế hoạch Hành động với nhiều biện pháp cụ thể để triển khai Tuyên bố. Hai bên cũng ký kết nhiều thoả thuận hợp tác quan trọng như Tuyên bố chung về hợp tác chống khủng bố quốc tế, Thoả thuận khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA)…

 

Mỹ cũng chủ động đề xuất Sáng kiến vì sự Năng động ASEAN (EAI) về kinh tế – thương mại và Kế hoạch Hợp tác ASEAN (ACP) về hợp tác phát triển. Hai bên cũng đang xây dựng Chương trình Hỗ trợ và Đào tạo Kỹ thuật ASEAN-Mỹ giai đoạn 2 (TATF) trị giá 20 triệu USD để hỗ trợ ASEAN xây dựng cộng đồng vào năm 2015; triển khai các hoạt động hợp tác trong Chương trình Viễn cảnh Phát triển ASEAN (ADVANCE) trị giá 150 triệu USD nhằm hỗ trợ các chương trình khu vực và song phương của ASEAN cũng như hỗ trợ nỗ lực liên kết kinh tế và xây dựng cộng đồng của ASEAN. Hai bên đang tiếp tục đàm phán hoàn tất Hiệp định Hợp tác Khoa học và Công nghệ ASEAN-Mỹ.

 

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác, Mỹ đã điều chỉnh 8 lĩnh vực ưu tiên hợp tác phù hợp với tiến trình xây dựng Cộng đồng của ASEAN; các lĩnh vực ưu tiên gồm: chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia; xây dựng năng lực; kinh tế và tài chính; khoa học kỹ thật, quản lý thiên tai, môi trường và giáo dục.

Chính quyền mới của Tổng thống Obama có một số động thái, quan tâm hơn đến ASEAN và khu vực Đông Á; Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã thăm 4 nước châu Á, trong đó có In-đô-nê-xi-a và Ban thư ký ASEAN; tham gia Hiệp ước TAC và họp Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ-4 nước Mê công (CLTV) lần đầu tiên nhân dịp họp PMC/ARF-16 tháng 7/2009 tại Thái Lan. Mỹ cũng cam kết lập Phái đoàn Thường trực của Mỹ tại ASEAN cũng như xem xét khả năng họp Cấp cao kỷ niệm ASEAN-Mỹ và duy trì tập quán gặp gỡ giữa Tổng thống Mỹ và Lãnh đạo 7 nước Đông Nam Á là thành viên APEC bên lề Cấp cao APEC hàng năm.

 

  1. Quan hệ ASEAN-Nga:

 

Quan hệ ASEAN-Nga chính thức được thiết lập vào tháng 7/1996 và đã hình thành các cơ chế đối thoại thường kỳ ở cấp quan chức và Bộ trưởng Ngoại giao. ASEAN và Nga đã ký Tuyên bố chung về Quan hệ Đối tác vì Hoà bình, An ninh, Thịnh vượng và Phát triển tại khu vực châu Á-TBD (tháng 6/2003) đặt khuôn khổ cho việc tăng cường hợp tác giữa hai bên trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và chuyên ngành. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Nga lần thứ nhất (Malaysia, 12/2005), ASEAN và Nga đã ký Tuyên bố chung xác định phương hướng và các biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai bên, đồng thời thông qua Chương trình Hành động triển khai Tuyên bố chung.

 

Quan hệ chính trị ASEAN-Nga phát triển khá thuận lợi. Nga đã chính thức tham gia Hiệp ước TAC (2004). Hai bên đã nhất trí sẽ họp Cấp cao ASEAN-Nga lần thứ 2 trong năm 2010 để thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối thoại. Tuy nhiên, hợp tác ASEAN-Nga về kinh tế-thương mại và hợp tác phát triển nhìn chung vẫn chưa như mong muốn của ASEAN. Hai bên đã ký Bản ghi nhớ thành lập Trung tâm ASEAN-Nga tại Học viện Quan hệ Quốc tế Mát-xcơ-va (MGIMO) vào tháng 7/2009 và đang đàm phán hoàn tất Hiệp định Hợp tác Văn hóa ASEAN-Nga nhằm tăng cường hợp tác trong lĩnh vực du lịch, giao lưu văn hóa, nghiên cứu…

 

  1. Quan hệ ASEAN-Ấn Độ:

 

Ấn Độ trở thành Đối tác đối thoại đầy đủ của ASEAN từ tháng 12/1995. Hiện hai bên có các cơ chế hợp tác ở nhiều cấp khác nhau, kể cả họp Cấp cao hàng năm. Quan hệ đối thoại ASEAN-Ấn Độ hiện đang phát triển khá nhanh trên cả 3 lĩnh vực chính trị-an ninh, kinh tế và văn hoá xã hội. Ấn Độ luôn bày tỏ coi trọng vai trò của ASEAN trong khu vực và tích cực thúc đẩy quan hệ với ASEAN.

 

Tại Cấp cao ASEAN-Ấn Độ (tháng 11/2004), hai bên đã ký “Tuyên bố ASEAN-Ấn Độ về Đối tác vì Hoà bình, Phát triển và Thịnh vượng” và thông qua Kế hoạch Hành động kèm theo. Hai bên cũng đã ký Tuyên bố chung về chống Khủng bố, Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện nhằm tự do hóa hàng hóa, dịch vụ và đầu tư (RITA).

 

Về hợp tác kinh tế, ASEAN và Ấn Độ đã ký kết Hiệp định Thương mại Hàng hóa ký vào tháng 8/2009; hiện đang đàm phán hoàn tất các Hiệp định Thương mại Dịch vụ và Đầu tư. Ấn Độ cũng tích cực hỗ trợ các nước thành viên mới của ASEAN trong khuôn khổ Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI), nhất là về phát triển nguồn nhân lực. Hai bên đang xem xét thêm các lĩnh vực hợp tác khác để đẩy mạnh sự gắn kết.

 

  1. Quan hệ ASEAN-Liên minh Châu Âu (EU):

 

Quan hệ ASEAN-EU được chính thức hóa vào năm 1977; đến nay đã đạt được nhiều kết quả tích cực trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị và hợp tác phát triển. Hai bên đã lập các cơ chế đối thoại và hợp tác ở nhiều cấp, kể cả họp Ngoại trưởng hàng năm. Tháng 11/2007, hai bên đã họp Cấp cao kỷ niệm 30 năm quan hệ (lần đầu tiên họp Cấp cao). Quan hệ ASEAN-EU cũng được tăng cường bởi tiến trình hợp tác Á-Âu (ASEM).

Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia, và đã thông qua Tuyên bố chung ASEAN-EU về hợp tác chống khủng bố quốc tế (2003).

 

Thời gian gần đây, trước những chuyển biến mới ở khu vực, EU ngày càng tỏ ra quan tâm hơn tới ASEAN, muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác với ASEAN. EU đã đề xuất Chiến lược Quan hệ Đối tác mới với Đông Nam Á, thúc đẩy triển khai nhiều sáng kiến, chương trình hợp tác như: Chương trình hỗ trợ Hội nhập ASEAN (APRIS), Sáng kiến thương mại liên khu vực (TREATI – trong lĩnh vực thương mại) và Cơ chế đối thoại khu vực ASEAN – EU (READI – về các lĩnh vực khác). Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-EU lần thứ 16 (2007), hai bên đã thông qua Tuyên bố Nuremberg về Quan hệ Đối tác tăng cường,  và Cấp cao Kỷ niệm ASEAN-EU đã thông qua Kế hoạch Hành động thực hiện Tuyên bố Nuremberg. Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-EU lần thứ 17 (5/2009), các Bộ trưởng đã thông qua Chương trình Nghị sự Phnompênh về triển khai Kế hoạch hành động giai đoạn 2009-2010, với ưu tiên hỗ trợ ASEAN triển khai Hiến chương, xây dựng Cộng đồng và thu hẹp khoảng cách phát triển, đẩy mạnh hợp tác kinh tế-thương mại…; EU cũng đã chính thức đề nghị tham gia Hiệp ước TAC.

 

Về kinh tế-thương mại, EU là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của các nước ASEAN. Hai bên đang xem xét linh hoạt việc các nước ASEAN có điều kiện có thể tiến hành đồng thời đàm phán FTA song phương với EU.

 

Hợp tác về văn hóa-xã hội cũng được đẩy mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực việc làm, chính sách xã hội và xã hội dân sự…

 

  1. Quan hệ ASEAN-Liên Hợp quốc:

 

Quan hệ hợp tác giữa ASEAN và Liên Hợp quốc (LHQ) được thiết lập từ sớm, thông qua quan hệ đối tác và các chương trình trợ giúp kỹ thuật giữa ASEAN và Chương trình Hợp tác Phát triển LHQ (UNDP) từ năm 1977. UNDP là tổ chức duy nhất của LHQ hưởng quy chế Bên đối thoại đặc biệt của ASEAN. ASEAN và LHQ đã tổ chức Hội nghị Cấp cao lần đầu tiên vào ngày 12/02/2000 tại Băng-cốc bên lề Khóa họp lần thứ 10 Hội nghị LHQ về Thương mại và Phát triển (UNCTAD). Năm 2005 tại New York, nhân dịp ĐHĐ/LHQ, hai bên cũng đã tổ chức Cấp cao lần 2.

 

Quan hệ ASEAN-LHQ hiện đang tiến triển thuận lợi. Tháng 11/2002, Đại hội đồng LHQ khóa 56 đã thông qua Nghị quyết khuyến khích ASEAN tăng cường tiếp xúc và đẩy mạnh hợp tác với LHQ trong những lĩnh vực phù hợp. Trên cơ sở đó, nhiều chương trình, thỏa thuận giữa ASEAN và các tổ chức LHQ đã được xây dựng, tạo khuôn khổ và định hướng cho các hoạt động hợp tác giữa hai bên. Các tổ chức của LHQ cũng hỗ trợ ASEAN thực hiện nhiều chương trình, hoạt động quan trọng, trong đó có Hội nghị Cấp cao ASEAN về HIV/AIDS (2001), các chương trình hành động khu vực phòng chống HIV/AIDS, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, chăm sóc y tế… LHQ cũng tham gia hỗ trợ ASEAN triển khai một số dự án trong Chương trình Hành động Viên-chăn và các Kế hoạch hành động xây dựng Cộng đồng ASEAN.

 

Tháng 12/2006, Đại hội đồng LHQ thông qua Quy chế Quan sát viên cho ASEAN, theo đó ASEAN được tham gia các phiên họp của Đại hội đồng LHQ với tư cách Quan sát viên. Tháng 2/2007, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã nhất trí nâng cấp quan hệ ASEAN-LHQ lên mức đối thoại đầy đủ. Theo đó, bên lề ĐHĐ/LHQ ở New York (27/9/2007), hai bên đã ký Hiệp định khung hợp tác ASEAN-LHQ thiết lập quan hệ đối tác giữa ASEAN và LHQ về chính trị, an ninh, kinh tế, văn hoá-xã hội.

 

  1. Quan hệ ASEAN-Pakistan:

 

Pakistan là bên đối thoại theo lĩnh vực của ASEAN (ở mức thấp hơn đối thoại đầy đủ). Theo đó, hợp tác ASEAN-Pakistan chủ yếu trên các lĩnh vực kinh tế và văn hóa-xã hội. Cơ chế hợp tác cũng mới được hình thành ở cấp quan chức, chưa họp ở cấp Bộ trưởng hay Cấp cao.

Trong quan hệ ASEAN-Pakistan hiện nay có 11 lĩnh vực hợp tác, trong đó 8 lĩnh vực ưu tiên là thương mại, công nghiệp, đầu tư, khoa học công nghệ, ma túy và các chất gây nghiện, môi trường, du lịch và phát triển nguồn nhân lực.

 

  1. Quan hệ ASEAN và các tổ chức khu vực:

Mở rộng quan hệ, tăng cường đối thoại, phát triển hợp tác với bên ngoài nhằm tranh thủ tối đa sự ủng hộ cả về chính trị lẫn nguồn vốn cho các chương trình hợp tác mới là một trong những ưu tiên hàng đầu của ASEAN. Các tổ chức, diễn đàn, tiến trình quốc tế tầm cỡ khu vực và thế giới, bởi vậy, là những đối tượng quan trọng để ASEAN thúc đẩy quan hệ.

 

12.1. ASEAN-MERCOSUR:

 

Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-MERCOSUR lần đầu tiên đã diễn ra ngày 24/11/2008 tại Braxilia, Braxin, đánh dấu mốc quan trọng hai bên chính thức lập quan hệ (trước năm 2008, ASEAN và MERCOSUR chưa có quan hệ chính thức; trao đổi thông tin chủ yếu thông qua Diễn đàn Đông Á-Mỹ Latinh FEALAC). Hội nghị đã tạo cơ sở và thúc đẩy tiến trình hợp tác giữa hai nhóm nước vì lợi ích chung của cả hai bên cũng như góp phần thúc đẩy hợp tác Nam-Nam. Các Bộ trưởng đã giao các quan chức hai bên xây dựng Kế hoạch Hành động triển khai các lĩnh vực hợp tác ưu tiên như kinh tế-thương mại, năng lượng, nông nghiệp, giao thông vận tải, du lịch, giao lưu nhân dân và các thách thức xuyên quốc gia.

 

12.2. ASEAN-GCC:

Quan hệ ASEAN-GCC được bắt đầu năm 1990 và được triển khai thông qua 2 Ban Thư ký; năm 2000, ASEAN lập Uỷ ban ASEAN tại Riyadh; các Bộ trưởng hai bên cũng có cuộc gặp bên lề ĐHĐ/LHQ (troika) nhưng không thường xuyên. Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-GCC chính thức lần đầu tiên đã diễn ra ngày 29-30/6/2009 tại Manama, Ba-ranh; thông qua “Tầm nhìn chung ASEAN-GCC” xây dựng quan hệ đối tác mới, xác định các lĩnh vực hợp tác cùng quan tâm (thương mại, đầu tư, tài chính, năng lượng, an ninh lương thực, nông nghiệp, lao động, du lịch, giao lưu nhân dân và lãnh sự), cơ chế hợp tác và biện pháp triển khai. Ban Thư ký hai bên đã ký Biên bản ghi nhớ (MOU) về hợp tác giữa hai Ban Thư ký.

 

12.3. ASEAN-các tổ chức khu vực khác:

ASEAN đã có quan hệ tham vấn với các tổ chức khu vực như Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), Tổ chức

Hợp tác Nam Á (SAARC), Nhóm RIO và ANDEAN… thông qua các Ban Thư ký. Ngoài ra, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN có cuộc gặp với Ngoại trưởng các Nhóm trên (không thường xuyên) nhân dịp ĐHĐ-LHQ hàng năm tại New York.

 

– ASEAN-SAARC: Quan hệ được thiết lập năm 1992. Đến nay hai bên đã có 8 cuộc họp giữa các Bộ trưởng Ngoại giao bên lề ĐHĐ/LHQ tại New York. Hai bên đã thông qua Quy tắc về quan hệ đối tác giữa BTK ASEAN và SAARC; xây dựng Kế hoạch công tác giai đoạn 2008-2009 về đối tác Ban Thư ký ASEAN và GCC, gồm các lĩnh vực Thương mại đầu tư, Năng lượng, Y tế (HIV/AIDS), Du lịch, Nông nghiệp, Ma tuý và Tội phạm xuyên quốc gia, Xóa đói giảm nghèo.

 

– ASEAN-SCO: Ngày 21/4/2005, tại Jakarta, hai bên đã ký Bản ghi nhớ (MOU) giữa BTK ASEAN và BTK SCO, trong đó nêu các lĩnh vực ưu tiên hợp tác là Tội phạm xuyên quốc gia (chống khủng bố, quản lý ma tuý và chất gây nghiện, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, buôn người), và các lĩnh vực hợp tác khác như: hợp tác kinh tế tài chính, du lịch, môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên, phát triển xã hội, hợp tác năng lượng, nhất là năng lượng thủy điện và năng lượng sinh học.

 

– Ngoài ra, ASEAN còn có quan hệ với Liên minh Ả rập (Arab League), Cộng đồng phát triển Nam Phi (SADC).

 

  1. Sáng kiến Hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng (Một trục hai cánh)

 

Trung Quốc nêu ý tưởng về chiến lược HTKT Trung Quốc – ASEAN, gọi tắt là “Một trục hai cánh” tại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng lần I tháng 7/2006. Hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng là trọng tâm của sáng kiến “Một trục hai cánh”, được Quảng Tây thúc đẩy mạnh trong 3 năm qua. Đây cũng là vấn đề liên quan trực tiếp đến chủ quyền lãnh thổ của ta ở Biển Đông.

 

Về cơ bản, khu vực hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng có thể chia thành ba vành đai kinh tế: (i) Vành đai kinh tế ven Vịnh Bắc Bộ bao gồm các khu vực ven biển của Quảng Tây, Hải Nam, Quảng Đông của Trung Quốc và các tỉnh ven Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam; (ii) Vành đai kinh tế gần kề là vành đai kinh tế kéo dài của khu vực trung tâm bao gồm Khu kinh tế Hoa Nam Trung Quốc và toàn bộ Việt Nam; và (iii) Vành đai mở rộng hay là vành đai kinh tế lớn gồm phần lớn các tỉnh ở miền Nam Trung Quốc và phần lớn các nước ASEAN.

Các lĩnh vực hợp tác chủ yếu bao gồm: du lịch, cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải, lưu thông hàng hóa, mậu dịch, nông-ngư nghiệp, năng lượng và kinh tế biển, tài chính, môi trường… Hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng được thúc đẩy trên các nguyên tắc: 1) Cùng có lợi, tự nguyện và phù hợp với khả năng thích ứng của các bên; 2) Thiết thực, tiệm tiến, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao; 3) Mở và minh bạch, thu hút rộng rãi các đối tác ngoài khu vực cùng tham gia.

 

Diễn đàn HTKT/VBB mở rộng lần thứ II tổ chức tại Nam Ninh tháng 7/2007. Cuộc họp lần thứ nhất của Diễn đàn trên được tỉnh Vân Nam tổ chức tại Côn Minh tháng 6/2008. Diễn đàn HTKT/VBB mở rộng lần III tổ chức tại Bắc Hải, Quảng Tây tháng 7/2008. Diễn đàn lần IV được tổ chức tại Nam Ninh, Quảng Tây ngày 6/8/2009. Trung Quốc cũng đã chủ trì tổ chức 3 phiên họp Nhóm chuyên gia hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng (tháng 7/2008, 10/2008 và tháng 8/2009) xây dựng dự thảo Báo cáo khả thi về hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng.

_____

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BIỂN: NHÌN TỪ THỰC TIỄN MỘT SỐ VỤ VI PHẠM CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 TRONG VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM

Th.S Nguyễn Ngọc Lâm

Trưởng khoa Luật quốc tế

Trường Đại học Luật TP. HCM

 

Với mục đích của Hội thảo đề ra, trong phạm vi bài viết chúng tôi chỉ đề cập đến cơ sở pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế về biển theo quy định của pháp luật quốc tế và một số kiến nghị của cá nhân, góp tiếng nói nhằm bảo vệ chủ quyền của về biển đảo của Việt Nam trong điều kiện hiện nay.

 

  1. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia – cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp quốc tế.

 

Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng của mỗi dân tộc, lãnh thổ là biểu hiện của nền độc lập dân tộc và bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia. Bảo vệ biên giới, lãnh thổ chính là bảo vệ chủ quyền quốc gia chống lại mọi hình thức ngoại xâm. Quyền này đã được pháp luật quốc tế công nhận. Vì vậy, khi giải quyết bất kỳ vấn đề gì liên quan đến biên giới và lãnh thổ chúng ta phải biết kết hợp các hình thức và biện pháp đấu tranh thích hợp đối với từng vụ việc phát sinh trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế; bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia; giữ gìn quan hệ hữu nghị với các nước trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, góp phần gìn giữ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

 

Việc xác định vùng biển theo pháp luật quốc tế bắt nguồn từ nguyên tắc sơ khai, mang tính cơ bản, đó là “Đất thống trị biển”. Nội hàm của nguyên tắc này thể hiện, một quốc gia không có bờ biển thì không thể có vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia đó và cũng từ nguyên tắc này cho chúng ta thấy chỉ khi đáp ứng được tiêu chí đầu tiên mang tính cơ bản là có bờ biển, thì quốc gia đó mới có thể có được các vùng biển thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối và các vùng biển quốc gia có quyền về chủ quyền theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982   như vùng lãnh hải; vùng tiếp giáp lãnh hải; vùng đặc quyền kinh tế.

 

Với thực tế địa lý của Trung Quốc, nhìn vào bản đồ ai cũng có thể thấy được Trung Quốc không thể có được vùng biển theo cách tự nhận của mình đó là đường “lưỡi bò”  thâu tóm một diện tích gần 80% diện tích của biển Đông, bao trùm lên các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam và các vùng biển của các quốc gia khác trong toàn bộ khu vực như Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines…

 

Từ cơ sở pháp lý này khi liên hệ đến vụ việc tàu hải giám của Trung Quốc có hành động ngang ngược cắt cáp và cản trở hoạt động của tàu Bình Minh 02 của Tổng công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí đang hoạt động trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam là một hành vi vi phạm nghiêm trọng các quy định của Công ước 1982 mà trong đó Trung Quốc cũng là một quốc gia thành viên, phải có nghĩa vụ tôn trọng các quy định của Công ước mà mình đã cam kết.

 

Theo các số liệu công bố, vào thời điểm xảy ra vụ việc, tàu Bình Minh 02 đang hoạt động ở tọa độ 12o48’25” Bắc và 111o26’48” Đông, cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) 116 hải lý, đây là vùng biển nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế   thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam, trong khi đó ở tọa độ này, nơi mà tàu Bình Minh 02 của Việt Nam hoạt động cách đảo Hải Nam của Trung Quốc đến 340 hải lý. Điều 57 của Công ước 1982 quy định thì “Vùng đặc quyền kinh tế không được mở rộng ra quá 200 hải lý, kể từ đường cơ sở dùng để tính chiếu rộng lãnh hải”. Chiểu theo quy định của Điều này thì phía Trung Quốc đã tự kẻ chiều rộng lãnh hải của mình nhiều hơn so với Công ước quy định 140 hải lý. So với quy định và thực tế xảy ra vụ vi phạm của tàu Hải giám Trung Quốc thì bất luận trong mọi tình huống và mọi cách giải thích, ngay cả những bộ óc giàu trí tưởng tượng nhất cũng khó có thể nghĩ ra được cơ sở pháp lý nào trong pháp luật quốc tế hiện đại về biển mà dựa vào đó Trung Quốc có thể đưa ra một yêu sách đối với khu vực mà tàu Bình Minh 02 hoạt động sáng ngày 26/5/2011 (Xem hình minh họa số 1).

 

Căn cứ vào quy định của Công ước 1982, đối chiếu với thực tế xảy ra chúng ta thấy trong trường hợp này tàu Hải giám Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng:

 

(i) Các quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế được quy định tại Điều 56 của Công ước 1982. Cụ thể, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển “có các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế…”

 

(ii) Trái với tinh thần và lời văn của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông được ký kết giữa các nước trong khối ASEAN và Trung Quốc năm 2002 và nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước là giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình.

 

(iii) Hành vi đi ngược lại với tuyên bố của Trung Quốc là giải quyết các tranh chấp liên quan bằng biện pháp hòa bình.

 

  1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp theo Công ước 1982

 

Như trên đã trình bày, hoạt động của các nước ở các vùng biển khác nhau như vùng nội thủy, vùng lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế… có quy chế pháp lý khác nhau được áp dụng để điều chỉnh và với những hoạt động trên biển của quốc gia luôn nhằm mục đích gắn với lợi ích của quốc gia đó. Do vậy, các tranh chấp về biển giữa các quốc gia xảy ra như là một yếu tố “khách quan”. Để giải quyết những tranh chấp quốc tế nói chung và tranh chấp về biển nói riêng, tại Điều 2.3 của Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định nghĩa vụ chung cho các quốc gia là phải giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình. Các bên có thể sử dụng bất kỳ phương pháp không cưỡng bức nào để giải quyết các vụ tranh chấp giữa các quốc gia đó. Điều 33 của Hiến chương liệt kê những cách thức giải quyết tranh chấp quốc tế chủ yếu như: thương lượng, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án và những thỏa thuận đàm phán, dàn xếp khu vực. Tất cả những cách thức giải quyết tranh chấp này phải tuân theo nguyên tắc nhất trí (đồng thuận).

 

Trên cơ sở của nguyên tắc bao trùm đó, Công ước về Luật biển 1982 đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản cho việc giải quyết tranh chấp trên biển là:

 

  1. Các quốc gia có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình, phù hợp với Điều 2.3 của Hiến chương Liên Hợp Quốc và nhằm mục đích đó, tìm giải pháp bằng những biện pháp được ghi nhận trọng Điều 33, khoản 1 của Hiến chương. (Điều 279).

 

  1. Các quốc gia trong vụ tranh chấp, trước hết tiến hành thương lượng ngoại giao để giải quyết những tranh chấp. (Điều 283)

 

  1. Các quốc gia trong vụ tranh chấp có quyền tự do chọn phương thức giải quyết tranh chấp. Điều 280 xác định đây là quyền của các quốc gia trong vụ tranh chấp mà không một điều khoản nào của Công ước có thể làm phương hại đến. Quốc gia có quyền tự do lựa chọn bất cứ phương thức giải quyết nào, và chọn vào bất cứ thời điểm nào, trước, trong hoặc sau khi tranh chấp xảy ra, miễn sao phương thức đó là phương thức hòa bình.

 

  1. Các quốc gia có nghĩa vụ phải giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia đó với nhau. Theo đó các quốc gia trong vụ tranh chấp có quyền thỏa thuận chọn phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả, nếu các phương thức đó không mang lại hiệu quả thì một trong các bên có thể đưa tranh chấp ra giải quyết trước tòa án có thẩm quyền giải quyết và tòa án có thẩm quyền này sẽ đưa ra phán quyết có tính chất bắt buộc các bên đương sự trong vụ tranh chấp phải thi hành. Những nội dung này được quy định tại Phần XV. Mục 2 (từ Điều 286 đến Điều 296).

 

Khi xem xét các nguyên tắc giải quyết tranh chấp theo quy định của Công ước 1982 chúng tôi thấy có một số thuận lợi và khó khăn về mặt pháp lý mà chúng ta cần xem xét, vận dụng khi đưa ra các giải pháp giải quyết tranh chấp về biển Đông.

 

Những thuận lợi: (i) Việt Nam là thành viên của Liên Hợp quốc; là thành viên của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982; tham gia ký kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002. Về mặt đối ngoại, đây là những điễn đàn quốc tế đa phương, có uy tín để chúng ta đưa vấn đề đưa vấn đề Trung quốc vi phạm chủ quyền của Việt nam trên biển ra công khai đấu tranh trên cơ sở pháp lý là Hiến chương Liên Hợp Quốc và Công ước 1982; (ii) Củng cố quốc phòng, liên minh chiến lược với bạn bè quốc tế có chung quyền lợi để bảo đảm an ninh quốc gia nói riêng và an ninh khu vực ở Đông Nam Á nói chung.

 

Những khó khăn khi vận dụng Công ước giải quyết các vụ việc trên thực tế: Phải thừa nhận rằng, ngày nay Công ước 1982 như là một “Hiến pháp” về biển. Ngoài những thuận lợi thì khi vận dụng Công ước 1982 để đấu tranh chúng ta cần dự liệu đến những nội dung bất cập, không có cách giải thích đến cùng của Công ước đễ bị các bên vận dụng và giải thích khác nhau khi chúng ta muốn đưa vụ việc ra giải quyết trước cơ quan tài phán như:

 

(i) Tại Điều 283 Công ước quy định “1. Khi có tranh chấp xảy ra giữa các quốc gia thành viên liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước, các bên tranh chấp phải tiến hành ngay một cuộc trao đổi quan điểm về cách giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hay bằng các phương pháp hòa bình khác”   và điều này chúng ta thừa biết Trung quốc không bao giờ chấp nhận ngay một cuộc trao đổi quan điểm về cách giải quyết tranh chấp và như vậy, tranh chấp vẫn tiếp tục tranh chấp.

 

(ii) Việc lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định tại Điều 287 là khi ký kết hay phê chuẩn Công ước… một quốc gia có quyền tự do lựa chọn một hay nhiều biện pháp để giải quyết tranh chấp như: Tòa án quốc tế về Luật biển; Tòa án quốc tế; Tòa án trọng tài; Tòa án trọng tài đặc biệt (được thành lập theo Phụ lục VIII) bằng một tuyên bố là chấp nhận giải quyết theo các phương thức được quy định theo quy định của Điều khoản này. Vấn đề đặt ra ở chổ là theo Điều 287 thì tuyên bố của một bên “không ảnh hưởng đến nghĩa vụ của một quốc gia thành viên chấp nhận”. Như vậy, chấp nhận giải quyết tranh chấp hay không là quyền của bên kia. Thực tế cho thấy, không một quốc gia nào lại chấp nhận khi mà việc giải quyết tranh chấp đó mình chưa muốn giải quyết và họ nhận thức được “tranh chấp” đó sẽ có lợi hơn cho họ. Trong trường hợp này, theo tôi, đối với Trung Quốc không phải là ngoại lệ.

 

(iii) Trong các nguyên tắc giải quyết tranh chấp được nêu, về mặt pháp lý trong thực tiễn giải quyết tranh chấp chúng ta cần lưu ý đến các giới hạn và ngoại lệ được quy định tại Phần XV, mục 3 của Công ước đó là không phải tất cả những vấn đề tranh chấp đều có thể đưa ra giải quyết trước tòa án. Điều 298 của Công ước 1982 quy định những ngoại lệ không bắt buộc đối với việc áp dụng Mục 2 trong các trường hợp liên quan đến vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, các trường hợp này không thể cho phép một bên thứ ba, hoặc một cơ quan tài phán quốc tế (tòa án, trọng tài) giải quyết. Điều 298 đã quy định rõ những trường hợp ngoại lệ đó và giành cho các bên trong vụ tranh chấp tự quyết định là có đưa hay không đưa ra giải quyết theo phương thức bắt buộc. Cụ thể các loại tranh chấp về:

 

  1. a) Việc hoạch định ranh giới lãnh hải giữa các quốc gia có bờ biển liền kề nhau hoặc đối diện nhau (Điều 15); hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển liền kề nhau hoặc đối diện nhau (Điều 74) và việc hoạch định ranh giới thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ biển liền kề nhau hoặc đối diện nhau (Điều 83); việc phân định các vùng biển, hay các vụ tranh chấp về vịnh, vùng nước lịch sử.

 

  1. b) Các hoạt động quân sự.

 

  1. c) Các vụ tranh chấp mà Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, trong khi thi hành các chức năng của mình do Hiến chương Liên Hợp Quốc giao phó có trách nhiệm giải quyết.

 

Theo tinh thần của Điều 298 này thì: khi xảy ra tranh chấp các quốc gia có liên quan, bằng cách này hoặc cách khác phải có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình như thương lượng, hòa giải, tòa án, trọng tài. Nhưng nếu các bên không giải quyết được tranh chấp bằng các phương pháp hòa bình và cũng không muốn đưa tranh chấp ra giải quyết trước tòa án thì con đường giải quyết tranh chấp đi vào ngõ cụt không lối thoát. Có thể xem đây là một quy định bất cập, tối nghĩa của Công ước có thể bị một bên trong vụ tranh chấp không có thiện chí vận dụng để giải thích theo kiểu có lợi cho mình nhất. Theo tôi, khi đặt vấn đề giải quyết tranh chấp về biển với các bên, trong đó nổi cộm là đối với Trung Quốc qua một số vụ việc gần đây, chúng ta cần phải dự liệu được các yếu tố này để sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp có hiệu quả nhất.

 

Các vấn đề liên quan biển Đông rất phức tạp, hệ trọng và nhạy cảm đối với nhiều quốc gia liên quan. Các nguồn lợi trong các vùng biển ở Biển Đông rất quan trọng đối với kế sinh nhai và đời sống hàng ngày của hàng trăm triệu con người của 9 quốc gia ven biển Đông. Các tài nguyên thiên nhiên ở đây là một điều kiện cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của các nước liên quan. Từ đây, một yêu cầu hết sức khách quan đặt ra cho tất cả các nước có hoạt động liên quan biển Đông là phải tuân thủ luật chơi chung mà trước hết là mình và cộng đồng quốc tế đã thừa nhận,  đó là Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc. Khi vận dụng Công ước để thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền đối với nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình như được quy định trong Công ước, quốc gia ven Biển Đông có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của các nước khác ven Biển Đông đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ. Sẽ là rất phi lý khi Trung Quốc tùy tiện vẽ ra một đường “lưỡi bò” bao trùm lên vùng biển của các quốc gia ở biển Đông, đây là một hành động ngang ngược của kẻ mạnh, trái với Công ước Luật Biển năm 1982, cách hành xử như vậy, rõ ràng là đã vi phạm những cam kết quốc tế của một quốc gia thành viên Liên hợp quốc theo Hiến chương của tổ chức này.

 

  1. Một số kiến nghị: Phải thừa nhận một thực tế khách quan là các tranh chấp liên quan đến biển Đông là hết sức phức tạp. Con đường đi đến giải pháp cuối cùng cho các tranh chấp mà các bên liên quan đều chấp nhận được sẽ không bằng phẳng và còn dài. Từ thực tế đó đòi hỏi chúng ta cần có một chiến lược và chiến thuật về giải quyết tranh chấp biển Đông, nơi gắn với nhiều quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước Việt Nam.

 

3.1. Về mặt pháp lý:

 

(i) Ngoài việc chúng ta tôn trọng và tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc; Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 thì bằng nhiều hình thức khác nhau chúng ta cần đấu tranh để buộc các bên liên quan, trong đó có Trung Quốc phải tuân thủ pháp luật quốc tế. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp quốc tế trong khu vực và trên thế giới chỉ ra rằng: các tranh chấp về chủ quyền cũng như các tranh chấp về các vùng biển chồng lấn giữa các nước ven biển Đông chỉ được giải quyết khi pháp luật quốc tế nói chung trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 nói riêng là nguồn cơ bản cần được các nước thành viên tôn trọng và tuân thủ. Dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực không phải là cách thức tốt nhất cho việc giải quyết tranh chấp biển Đông.

 

(ii)  Thông qua con đường ngoại giao và các hình thức khác, vận động các nước trong khu vực nhanh chóng hoàn thiện và thông qua Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông, làm cơ sở cho việc thực hiện các phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật quốc tế, tiến tới xây dựng biển Đông thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

 

3.2. Về thực tiễn: Theo quan điểm cá nhân, chúng tôi cho rằng vì lợi ích riêng của mỗi quốc gia, không dễ dàng một sớm một chiều, quốc gia đó nhanh chóng thay đổi chính sách về quyền lợi của mình ở biển Đông. Vì vậy, việc trước hết chúng ta cần phải thực thi đầy đủ quyền lực quốc gia trong việc bảo vệ chủ quyền đối với các vùng biển thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của Việt Nam và các vùng biển mà Việt Nam có chủ quyền trong lĩnh vực về kinh tế. Để thực hiện được vấn đề này theo tôi cần:

 

  1. Nhận thức đúng hơn về thực trạng tranh chấp để đưa ra các chính sách phù hợp và kịp thời cho từng thời điểm và cho từng vùng biển.

 

  1. Tuyên truyền rộng rải và kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giải quyết tranh chấp biển Đông, nhằm cung cấp cho nhân dân một cách nhìn nhận và đánh giá toàn diện hơn đối với tranh chấp trong khu vực, để nhân dân thực hiện đúng chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước và tự bảo vệ mình tốt hơn khi đối phó với tàu thuyền nước ngoài vi phạm pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam trên các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và các vùng biển Việt Nam có chủ quyền.

 

  1. Việc phổ biến kiến thức về chủ quyền biển đảo trong các nhà trường cần được đẩy mạnh hơn và cụ thể hơn. Không nên tuyên tuyền theo cách thức phát tờ rơi, như là cách thức tuyên tuyền cho một phong trào. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ quốc gia – là một hình thức pháp lý, đặc thù và hết sức quan trọng. Phải có nhận thức đúng theo quy định của pháp luật, không thể theo cảm nhận để từ đó suy ra theo ý chủ quan của mình. Ví dụ, do không nắm vững kiến thức pháp lý nên trên thực tế đã có những phát biểu không chính xác khi dùng thuật ngữ “tranh chấp” để chỉ tranh chấp về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa. Như chúng ta đã biết, thuật ngữ tranh chấp trong từ điển tiếng Việt được hiểu là “việc giành giật, giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào”.  Như vậy, vô tình khi nói Việt Nam có tranh chấp với các nước trong khu vực về hai quần đảo Hoàng và Trường sa là đồng nghĩa với việc chúng ta thừa nhận Hoàng sa và Trường sa không rõ thuộc về ai, của bên nào. Đây là một sai lầm hết sức nguy hiểm, trái với tuyên bố của Việt Nam là Hoàng sa và Trường sa là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng, không thể tách rời và bất khả xâm phạm của Việt Nam.

 

  1. Công khai chủ quyền về các vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam bằng nhiều hình thức (ngoài hình thức pháp lý – de Jure) hiệu quả khác cho toàn thế giới biết, từ đó họ có nhận thức rõ và đúng hơn về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa. Theo tôi, mỗi hình thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc có một thế mạnh riêng, không phải cứ việc các nhà khoa học, các chuyên gia pháp lý ngồi lại luận bàn, phân tích, đưa ra các chứng cứ về lịch sử, pháp lý là cách thức tối ưu. Con người, không phải ai cũng có cơ hội ngồi để đọc hết mọi sách vở, tuyên bố này tuyên bố kia. Do vậy, cách thức này chỉ phù hợp với một nhóm đối tượng này mà không hiệu quả đối với nhóm đối tượng khác.

 

Đồi với công chúng, theo tôi, việc các nhà hoạt động chính trị phải có những chuyến đi thăm đảo vì đây là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng, không thể tách rời và bất khả xâm phạm của Việt Nam, việc ra đảo như là một chuyến công tác bình thường về các vùng lãnh thổ của tổ quốc. Về mặt pháp lý, đây như là một hình thức tuyên bố đối với cộng đồng quốc tế rằng Việt Nam có chủ quyền và có quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình.

 

Ví dụ: trên thực tế các nhà lãnh đạo Malaysia đã từng đi thăm đảo gồm có Mahathir Mohamad, Abdullah Badawi, Najib Tun Razak, các vị bộ trưởng, các tư lệnh hải quân… Mục đích đi thăm đảo của các quan chức Malaysia là muốn tuyên bố với cộng đồng quốc tế rằng Malaysia có chủ quyền và có quyết tâm bảo vệ những lãnh thổ này. Hoặc một ví dụ khác như gần đây Tổng thống Nga cũng đến thăm đảo Kurin, nơi mà Nhật Bản cho là của họ…

 

Tóm lại: Quá trình giải quyết tranh chấp trên biển Đông phải được gắn với quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, biển Đông phải được gắn với vấn đề an ninh, hòa bình ổn định và thịnh vượng khu vực, các bên cần phải xây dựng lòng tin, trước hết đó là xây dựng bộ qui tắc ứng xử cho biển Đông (COC) cần được tiếp tục. Là người trong cuộc, chúng ta cần phải kiên quyết, nếu không sẽ gặp nhiều bất lợi, thực tế chứng minh rằng Luật quốc tế chỉ là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp, còn việc giải quyết tranh chấp đó có hiệu quả hay không thì Luật quốc tế không thể quyết định mà chính các bên trong tranh chấp mới là người quyết định tính hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp./.

VẤN ĐỀ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ TRONG LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

1.1. VẤN ĐỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ TRONG LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

 

1.1.1. Vấn đề chủ quyền lãnh thổ

 

Trong quá trình phát triển lâu dài của nhân loại, cùng với sự xuất hiện của các quốc gia, Luật pháp quốc tế đã dần dần hình thành và phát triển.

 

Luật pháp quốc tế là hệ thống những nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế (trước hết và chủ yếu là giữa các quốc gia). Quốc gia là một thực thể được cấu thành bởi 3 yếu tố: dân xư, lãnh thổ và chính quyền có chủ quyền. Nói đến quốc gia là nói đến chủ quyền quốc gia tức là nói đến quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế.

 

Lãnh thổ quốc gia – một trong những yếu tố cấu thành không thể thiếu được của quốc gia cho phép xác định một quốc gia có phải là chủ thể của quan hệ quốc tế và của luật pháp quốc tế hay không. “Lãnh thổ quốc gia được hiểu là một phần trái đất, bao gồm vung đất, vùng nước, vùng trời trên chúng và lòng đất dưới chúng thuộc về chủ quyền một quốc gia nhất định. Trong phạm vi này quốc gia thực hiện chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của mình” [17, tr. 1141]. Nói một cách cụ thể hơn: Lãnh thổ quốc gia là một phần trái đất bao gồm đất liền, hải đảo, vùng nước nội địa, vùng nội thuỷ, lãnh hải và vùng trời trên chúng cũng như lòng đất dưới chúng thuộc về chủ quyền một quốc gia nhất định.

 

Các quốc gia phát triển trong mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với lãnh thổ và lãnh thổ là cơ sở và nền tảng vật chất cho quốc gia tồn tại và phát triển. Lãnh thổ là một khái niệm cơ bản của Luật quốc tế. Người ta có thể ghi nhận vai trò trung tâm của lãnh thổ trong sơ đồ của Luật pháp quốc tế mà nó được thể hiện ở nguyên tắc tôn trọng sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia được khẳng định trong Hiến chương Liên hợp quốc và nhiều văn kiện quan trọng khác của Liên hợp quốc.

 

Theo luật pháp quốc tế hiện đại, lãnh thổ quốc gia thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia. Do đó chủ quyền lãnh thổ của quốc gia- một bộ phận của chủ quyền quốc gia là quyền lực tối cao, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ. Quốc gia là người chủ duy nhất và thực sự có quyền chiếm giữ, sử dụng và định đoạt một cách hoàn toàn độc lập lãnh thổ của mình. Vì vậy, trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ, xác định được chủ quyền lãnh thổ của quốc gia có một ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

 

Theo luật pháp quốc tế, để một bộ phận lãnh thổ được coi là thuộc một quốc gia nào đó, điều kiện pháp lý cần thiết là lãnh thổ này phải được đặt dưới chủ quyền của quốc gia đó.

 

Trong trường hợp có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ như phán quyết của Trọng tài Max Huber trong vụ Palmas ngày 4/4/1928 đã chỉ rõ: “Nếu có một tranh chấp về chủ quyền đối với một khu vực lãnh thổ, các toà án thường xem xét quốc gia yêu sách có chủ quyền nào có được một danh nghĩa – thông qua việc chiếm hữu, chuyển nhượng, chinh phục cao hơn danh nghĩa mà quốc gia khác có thể đưa ra đối chọi lại với nó” [86, tr. 163].

 

Như vậy khi có hai hay nhiều quốc gia đưa ra yêu sách, luận thuyết, chứng cứ pháp lý trái ngược nhau về chủ quyền trên cùng một khu vực lãnh thổ, ta cần xem xét quốc gia nào đã xác lập được một danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ phù hợp với các qui định của luật pháp quốc tế.

 

Thông thường, để xác định chủ quyền đối với vùng lãnh thổ tranh chấp, người ta thường phải trả lời câu hỏi: Lãnh thổ đó có phải là vô chủ không và ai là người đầu tiên xác lập chủ quyền trên lãnh thổ đó. Một câu hỏi cũng cần được trả lời là phương thức thụ đắc lãnh thổ nào đã được sử dụng để thiết lập chủ quyền lãnh thổ? Vì vậy, nghiên cứu các phương thức thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế là rất cần thiết.

 

1.1.2. Phân loại các phương thức thụ đắc lãnh thổ trong luật pháp quốc tế

 

Trong lịch sử phát triển lâu dài của Luật pháp quốc tế, những nguyên tắc và qui phạm pháp luật xác lập chủ quyền lãnh thổ đã được hình thành trên cơ sở thực tiễn quốc tế, trong đó có các phương thức thụ đắc lãnh thổ.

 

Hiện nay, trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa, vì vậy, các nguyên tắc, qui phạm pháp luật xác lập chủ quyền lãnh thổ chủ yếu được sử dụng để phân xử các trường hợp tranh chấp lãnh thổ, để chứng minh hay làm cơ sở chứng minh các quyền của quốc gia đối với lãnh thổ tranh chấp. Vì vậy nghiên cứu về các nguyên tắc thiết lập chủ quyền lãnh thổ, các phương thức thụ đắc lãnh thổ vẫn mang tính cấp thiết.

 

Sau đây, ta xem xét các vấn đề về thụ đắc lãnh thổ (Acquisition of territory):

 

“Thụ đắc lãnh thổ là việc mở rộng ranh giới địa lý của chủ quyền quốc gia ra một lãnh thổ mới”. [34, tr.49].

 

Trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ, học thuyết và thực tiễn quốc tế thường chia ra 5 phương thức thụ đắc lãnh thổ chính:

 

  • Thụ đắc bằng chiếm hữu
  • Thụ đắc do tác động của tự nhiên
  • Thụ đắc bằng chuyển nhượng
  • Thụ đắc bằng xâm chiếm
  • Thụ đắc theo thời hiệu

 

  1. Thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu ( Occupation)

 

Trong các phương thức thụ đắc lãnh thổ kể trên, đầu tiên phải kể đến phương thức thụ đắc bằng chiếm hữu. Đây là việc thiết lập và thực hiện chủ quyền của một quốc gia trên một vùng lãnh thổ vô chủ hoặc một vùng lãnh thổ vốn đã có chủ nhưng sau bị bỏ rơi và trở lại trạng thái vô chủ ban đầu.

 

Phương thức thụ đắc này sẽ được phân tích kỹ thêm trong phần sau để thấy phương thức này được sử dụng như thế nào trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ.

 

  1. Thụ đắc lãnh thổ do tác động của tự nhiên (Accretion)

 

Theo phương thức thụ đắc lãnh thổ này, một quốc gia có quyền mở rộng ranh giới địa lý của lãnh thổ thông qua việc bồi đắp tự nhiên vào lãnh thổ chính hoặc do sự xuất hiện của các hòn đảo mới trong phạm vi đường biên giới quốc gia. Ví dụ như việc một hòn đảo xuất hiện ở Thái Bình Dương do một núi lửa dưới biển phun lên

vào tháng 1/1986. Chính phủ Anh đã cho rằng: “Chúng tôi biết hòn đảo xuất hiện trong lãnh hải của đảo IWO TIMA của Nhật Bản. Do đó chúng tôi coi nó thuộc lãnh thổ Nhật Bản”. [70, tr.248].

 

Những vùng đất hoặc các hòn đảo mới xuất hiện trong phạm vi lãnh hải của một quốc gia bao gồm cả lãnh hải của lục địa và lãnh hải của các đảo nằm riêng biệt, không những chỉ trở thành một bộ phận lãnh thổ của quốc gia đó mà theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 còn cho phép quốc gia đó mở rộng thêm đường biên giới quốc gia trên biển và các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia.

 

  1. Thụ đắc lãnh thổ bằng chuyển nhượng ( Cession)

 

Là phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng sự chuyển giao một cách hoà bình chủ quyền lãnh thổ từ quốc gia này sang quốc gia khác. Hình thức chuyển nhượng thông thường được hợp thức thông qua các điều khoàn của một điều ước chính thức mà trong đó miêu tả rõ ràng về vùng đất được chuyển nhượng cũng như các điều kiện để việc chuyển nhượng được hoàn thành.

 

Do phương thức tụ đắc lãnh thổ bằng chuyển nhượng có tác dụng thay thế chủ quyền lãnh thổ từ quốc gia này sang cho quốc gia khác trên một bộ phận lãnh thổ, quốc gia chuyển nhượng không thể chuyển giao nhiều hơn những quyền mà bản thân nó có. Đây là một điểm quan trọng đã được đề cập tới trong vụ phân xử đảo Palmas. Vụ Palmas là vụ tranh chấp chủ quyền một đảo nằm ở phía nam quần đảo Phillippin giữa Hoa Kỳ và Hà Lan. Yêu sách của Hoa Kỳ dựa trên cơ sở Hiệp ước 1898, trong đó Tây Ban Nha nhượng quần đảo Phiplippin gồm cả đảo Palmas đã được Tây Ban Nha phát hiện từ thế kỷ XVI cho Hoa Kỳ. Đảo Palmas nằm trong đường Hiệp ước đó, nhưng sau đó, Tây Ban Nha đã bỏ rơi trên thực tế. Hà Lan đưa ra chứng cứ và lập luận rằng: Hà Lan đã thực thi các quyền có tính chất chủ quyền trên đảo bắt đầu từ thế kỷ thứ XVII. Trọng tài Max Huber đã có nhận xét và được các bên chấp nhận “Tây Ban Nha không thể chuyển giao cho Hoa Kỳ hơn các quyền mà bản thân mình có” [70, tr. 286]

 

  1. Thụ đắc lãnh thổ bằng xâm chiếm (Conquest)

 

Là phương thức thụ đắc lãnh thổ được tiến hành thông qua hành động sử dụng vũ lực của một quốc gia để sáp nhập lãnh thổ của nước khác vào lãnh thổ nước mình.

 

Sự phát triển của luật pháp quốc tế trong giai đoạn từ Hiệp ước Briand- Kellogg (Hiệp ước chung về việc không thừa nhận chiến tranh ngày 27/8/1928) tới chiến tranh thế giới thứ II đã tác động đến phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng xâm chiếm. Với sự xuất hiện nguyên tắc cấm đe doạ bằng vũ lực và sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các nước, việc xâm chiếm lãnh thổ nước khác bằng hành động vũ trang đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Do sự xuất hiện nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, việc thay đổi chủ quyền lãnh thổ quốc gia bằng vũ lực hay bằng các hành động như xâm chiếm, chinh phục khác đều trở nên bất hợp pháp. Chính vì vậy phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng xâm chiếm hiện nay đã hoàn toàn bị bác bỏ.

 

  1. Thu đắc lãnh thổ theo thời hiệu (Prescription aquisitive)

 

Phương thức thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu trong luật pháp quốc tế được hiểu là việc xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng việc chiếm hữu trên thực tế liên tục trong một thời gian dài và không có sự phản đối đối với một vùng lãnh thổ không phải là vô chủ, có nguồn gốc thuộc về một quốc gia khác hoặc một vùng lãnh thổ vốn rất khó xác định rõ đã thuộc về ai.

 

Hình thức thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu được hình thành vào thời kỳ mà việc gây chiến tranh xâm lược và xâm chiếm bằng vũ lực những vùng lãnh thổ của các nước khác chưa bị luật pháp quốc tế lên án và nghiêm cấm.

 

Người phân biệt hai trường hợp thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu diễn ra từ lúc bắt đầu chiếm hữu:

 

– Chiếm hữu một vùng lãnh thổ mà nguồn gốc không rõ ràng, vốn rất khó xác định rõ đã thuộc về ai hoặc khó chứng minh tính hợp pháp của việc chiếm hữu.

 

– Chiếm hữu một vùng lãnh thổ mà trước đó đã được coi là thuộc về một quốc gia khác. Theo Luật pháp quốc tế hiện đại việc chiếm hữu này nhằm mục đích tào ra chủ quyền đối với vùng lãnh thổ đó theo thời hiệu là bất hợp pháp.

 

Sự khác nhau giữa chiếm hữu thực sự và thụ đắc chủ quyền theo thời hiệu là ở chỗ: sự chiếm hữu thực sự hàm ý cả quyền sở hữu lãnh thổ về pháp lý và trên thực tế còn thụ đắc chủ quyền theo thời hiệu chỉ đòi hỏi sự thực hiện chủ quyền trên thực tế (de facto) đối với lãnh thổ đó mặc dù trong một thời gian dài, về mặt pháp lý (de jure) vùng lãnh thổ đó chưa phải là bộ phận lãnh thổ của quốc gia chiếm hữu. Còn sự giống nhau là ở chỗ việc thực hiện quyền lực quốc gia và các chức năng nhà nước thích hợp với các điều kiện của vùng lãnh thổ trong hai trường hợp đều như nhau.

 

Sự thụ đắc chủ quyền lãnh thổ theo thời hiệu đòi hỏi việc thực hiện chủ quyền trên thực tế đối với một vùng lãnh thổ trong một thời gian tương đối dài, nhưng thực tiễn luật pháp quốc tế chưa hề định ra một thời hạn chung nào cho tất cả mọi trường hợp.

 

Luật pháp quốc tế hiện đại không chấp nhận phương thức thụ đắc chủ quyền theo thời hiệu khi nó dùng để biện minh cho những hành động xâm lược. Một số nước đã dùng hành động quân sự xâm chiếm những vùng lãnh thổ vốn thuộc chủ quyền của một nước khác, thiết lập quyền kiểm soát ở đó rồi lợi dụng nguyên tắc thụ đắc chủ quyền theo thời hiệu, lâu dần biến lãnh thổ nước khác thành lãnh thổ của mình một cách bất hợp pháp. Sự chiếm đoạt lãnh thổ của nước khác một cách bất hợp pháp như vậy đã vi phạm cùng một lúc các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế hiện đại: nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực và nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

 

* Các cách phân loại phương thức thụ đắc lãnh thổ khác

 

Trong Luật pháp quốc tế còn có nhiều cách phân loại khác về các phương thức thụ đắc lãnh thổ. Một số học giả đã chia các phương thức thụ đắc lãnh thổ ra làm 2 loại: Phương thức cơ bản (originaires) bao gồm thụ đắc do “chiếm hữu”, thụ đắc do “tác động của tự nhiên” và phương thức thứ cấp (derivés) bao gồm thụ đắc do “chuyển nhượng”, “thời hiệu”, “xâm chiếm”.

 

Sự phân biệt này dựa trên tính chất đối tượng lãnh thổ được thụ đắc khác nhau. Các phương thức cơ bản có đối tượng là những lãnh thổ vô chủ hoặc vùng đất bị người chủ từ bỏ và những vùng đất mới xuất hiện chưa thuộc về quốc gia nào. Những phương thức thứ cấp có đối tượng là những lãnh thổ có nguồn gốc thuộc về một quốc gia khác.

 

Thực tế người ta còn có thể chia các phương thức để xác lập chủ quyền lãnh thổ theo 3 hình thức: pháp lý, lịch sử- chính trị và địa lý.

 

Trong đó đáng chú ý là hình thức pháp lý bao gồm: Phương thức chiếm hữu, chuyển nhượng, thời hiệu và phương thức thụ đắc lãnh thổ theo các quyết định của các cơ quan tài phán quốc tế. Trong thời đại ngày nay, do đòi hỏi của Luật pháp quốc tế về giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế, càng ngày càng có nhiều nước đồng ý sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế để phân xử cho các tranh chấp lãnh thổ của mình. Vì vậy phương thức thụ đắc lãnh thổ theo sự phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế càng được coi là một trong những phương thức thụ đắc lãnh thổ.

 

Trong khi có những phương thức thụ đắc lãnh thổ ngày càng được sử dụng thì ngược lại có rất nhiều phương thức thụ đắc lãnh thổ khác ngày nay không còn được áp dụng nữa. Ví dụ như thụ đắc lãnh thổ do hôn nhân, tặng… Trong lịch sử đã từng có nhiều trường hợp lãnh thổ được dùng làm lễ vật đám cưới như năm 1307 Vua Trần Nhân Tông gả Công chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm Thành Chế Mân, Vua Chiêm đã dâng 2 Châu Ô và Lý (vùng Quảng Trị- Thừa Thiên ngày nay) làm vật nạp trưng [1, tr. 228]. Anna de Bretagne đã mang vùng Bretagne cho nước Pháp sau 2 cuộc hôn nhân của bà với Vua Charles VIII ngày 6/12/1491 và với Vua Louis XII ngày 7/1/1499 [105, tr. 147].

 

Có sự chuyển dịch lãnh thổ do dâng tặng, làm lễ vật, của hồi môn đó là dưới chế độ phong kiến, khái niệm “Chủ quyền” chưa được phân biệt với “quyền sở hữu”, lãnh thổ được coi như “tài sản vật chất” thuộc quyền sở hữu của Vua chúa, do Vua chúa toàn quyền định đoạt. Phương thức thụ đắc lãnh thổ này đã mất đi vì “Thực tiễn cũng như học thuyết đã phân biệt được sở hữu và chủ quyền, từ đó các hình thức thụ đắc lãnh thổ xuất phát từ nguồn gốc di sản lỗi thời đã mất đi vì không còn sự đồng nhất giữa Quốc gia và Vua chúa” [105, tr. 147].

 

Qua đó ta có thể thấy:

 

– Các phương thức thụ đắc lãnh thổ do tác động của tự nhiên (accretion) không áp dụng cho việc xem xét chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì các đảo của hai quần đảo đó không phải mới xuất hiện.

 

– Với Hiến chương Liên hợp quốc và sự xuất hiện của các nguyên tắc cấm đe doạ dùng vũ lực và sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết, các phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng xâm chiếm đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và phương thức thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu đang còn bị tranh cãi.

 

Phương thức thụ đắc lãnh thổ cần được đề cập toàn diện để xem xét vấn đề chủ quyền lãnh thổ trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là phương thức thụ đắc bằng chiếm hữu. Sau đây ta sẽ đi sâu nghiên cứu phương thức cơ bản này để phân xử tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

 

1.2. PHƯƠNG THỨC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ BẰNG CHIẾM HỮU (OCCUPATION)

 

1.2.1. Định nghĩa

 

Phương thức thụ đắc bằng chiếm hữu là “hành động của một quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên một lãnh thổ vốn chưa thuộc chủ quyền của một quốc gia nao” [80, tr. 424].

 

Ta có thể phân tích rõ thêm: Chiếm hữu được đề cập đến trong định nghĩa này không phải là sự chiếm đóng trong chiến tranh hay chiếm đóng quân sự trong thời bình vì cả 2 hành động chiếm đóng đó đều không đem lại sự thụ đắc lãnh thổ do đối tượng chiếm đóng là lãnh thổ của quốc gia khác. Còn “chiếm hữu” trong định nghĩa trên có đối tượng là một lãnh thổ vô chủ hoặc có địa vị pháp lý như lãnh thổ vô chủ như vùng đất đã bị người chủ bỏ rơi không thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

 

Trong bản ghi nhớ năm 1909 do Chính phủ Pháp gửi cho Vua Italia Emmanuel III về vụ tranh chấp đảo Clipperton giữa Pháp và Mêhico đã định nghĩa: Chiếm hữu là “sự nắm quyền sở hữu thực sự bởi một chính ohủ đối với một lãnh thổ vô chủ với ý đồ qua đó thụ đắc chủ quyền” [105, tr. 151]/ Qua định nghĩa đó, ta có thể thấy muốn thụ đắc chủ quyền bằng phương thức chiếm hữu, quốc gia phải có hành động trên

thực tế, sở hữu lãnh thổ vô chủ và đồng thời phải có ý chí chiếm hữu lãnh thổ vô chủ đó.

 

1.2.2. Chủ thể thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu

 

Việc chiếm hữu lãnh thổ phải là hành động nhân danh quốc gia, được quốc gia uỷ quyền, không phải là hành động của tư nhân.

 

Bất kỳ hành động nào từ phía những người mang danh nghĩa cá nhân đều không đủ khẳng định chủ quyền lãnh thổ, không thể làm thay đổi tính chất chủ quyền ngay cả khi cá nhân hợp thành một tập thể hay một công ty. Trừ khi công ty được nhà nước uỷ quyền.

 

Nguyên tắc chỉ có nhà nước mới là chủ thể của việc thụ đắc lãnh thổ đã được thừa nhận chung. Nguyên tắc này đã được nêu ra trong bản án ngày 11/2/1902 của Toà án dân sự Libreville khi xét sử vụ tranh chấp giữa Societe de L’Ogioué và Hatton – Cookson rằng: “Một vấn đề có tính nguyên tắc trong luật pháp quốc tế là chủ quyền chỉ dành riêng cho Nhà nước và những cá nhân bình thường không thể thực hiện được một sự chiếm hữu” [34, tr. 43].

 

Quyền phát hiện cũng như chiếm hữu là một sự đòi hỏi đồng thời hai điều kiện: Corpus (yếu tố vật chất) và animus (yếu tố tinh thần) và chúng phải được thực hiện bởi nhà nước. Một nguyên tắc tập quán đã được xác định rõ trong Luật quốc tế là “việc chiếm cứ một lãnh thổ vô chủ chỉ có thể là hành động của một quốc gia; một cá nhân hay một công ty tư nhân không thể thụ đắc chủ quyền cho chính họ” [105, tr. 45]. Quốc gia thực hiện hành động chiếm hữu thông qua một số cơ quan trong bộ máy Nhà nước của mình: Ví dụ nước Anh đã giao cho Bộ Hải quân và Cao uỷ Anh ở các vùng. Nhưng trước đây trong nhiều trường hợp Quốc gia đã uỷ nhiệm việc chiếm hữu cho một số công ty. Các công ty này về hình thức là của tư nhân kinh doanh kiếm lời, vì lợi ích kinh tế là chính, nhưng được Nhà nước đầu tư để có quyền chi phối nhằm phát triển phạm vi hoạt động và quản lý các thuộc địa. Trong trường hợp đó, Công ty này được quyền thay mặt Nhà nước giành chủ quyền lãnh thổ cho quốc gia đã uỷ quyền, chứ không phải cho bản thân công ty dó. Đây là trường hợp xảy ra từ đầu thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Thời kỳ đó, các cường quốc như Anh, Pháp, Hà Lan thường lập những công ty như vậy. Vai trò của các Công ty này đã được công nhận trong một số bản án. Ví dụ trong vụ Palmas, trọng tài Max Huber ngày 4/4/1928 đã cho rằng: “Luật pháp quốc tế cần đồng nhất hoàn toàn những hành động của công ty Đông Ấn Hà Lan với những hành động của Chính bản thân Nhà nước Hà Lan” [86, tr. 170].

 

Trong vài trường hợp, khi cả hai bên tranh chấp lãnh thổ đều không có bằng chứng về việc thực hiện chủ quyền thì vai trò hoạt động của các cá nhân cũng có giá trị nhất định mặc dù cá nhân không có quyền hạn đích thực trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ. Chính vì vậy quan toà Mac Nair đã đưa ra một định nghĩa rất đáng lưu ý:

 

“Một nguyên tắc của luật mà tôi cho là có tính ổn định liên quan tới danh nghĩa lịch sử: nói chung cần phải biết được một bằng chứng nào đó của việc thực thi chủ quyền bởi quốc gia; hành động độc lập của một cá nhân có rất ít giá trị trừ khi chúng ta có thể chứng minh được rằng họ đã có các hành động căn cứ trên các giấy phép hoặc một quyền lực nào đó đồng ý bởi chính phủ của họ, hoặc chính phủ đó bằng một hình thức nào đó đã khẳng định chủ quyền của mình thông qua trung gian của họ” [75, tr. 52].

 

1.2.3. Đối tượng của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu

 

Như đã được nêu trong định nghĩa, đối tượng của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu là lãnh thổ vô chủ (Terra Nullius) hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi (Terra derelicta) không thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

 

Một trong những nội dung của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu phải là những lãnh thổ vô chủ, không nằm trong hệ thống địa lý, chính trị – hành chính của bất kỳ quốc gia nào. Nội dung này cũng là yêu cầu của các hình thức chiếm hữu bằng sắc lệnh của đức Giáo hoàng, chiếm hữu bằng cách phát hiện, chiếm hữu tượng trưng đã từng có trong lịch sử.

 

Khái niệm vùng đất vô chủ trong luật pháp quốc tế cũng như chính bản thân hình thức chiếm hữu được phát triển theo thời gian.

 

Theo cách hiểu của luật gia phương Tây thì một lãnh thổ tuy có người ở song nếu ở đó chưa có một tổ chức chính trị (tức là nhà nước) thì đó là lãnh thổ vô chủ [105, tr. 14] cách hiểu đó bắt nguồn từ trong lịch sử của hình thức chiếm hữu, phục vụ cho mục đích đi xâm lược, bành trướng lãnh thổ của chủ nghĩa thực dân. Từ thế kỷ 19 trở về trước, quan điểm của các luật gia tư sản về lãnh thổ vô chủ là bất kỳ lãnh thổ nào vốn không thuộc chủ quyền của một quốc gia văn minh (Etat civilisé) đều là vô chủ.

 

Như vậy, một lãnh thổ bị coi là vô chủ thậm chí trong trường hợp nó đã có cư dân bản địa (thổ dân) song không có một thiết chế nhà nước nào, hoặc có nhưng bị coi là có nền văn minh thấp hơn tiêu chuẩn lúc bấy giờ ở Châu Âu.

 

Ngày nay, các luật gia tiến bộ đều cho rằng việc giành chủ quyền trên một lãnh thổ có cư dân phải dựa trên nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết, một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại. Theo nguyên tắc này, mọi sự thay đổi lãnh thổ và tất cả hình thức giành chủ quyền đều phải dựa trên ý chí của cư dân sinh sống trên lãnh thổ đó, bởi lẽ: Sự phù hợp giữa quyền tối cao về lãnh thổ với ý chí chủ quyền của nhân dân là cơ sở pháp lý cao nhất để giải quyết tranh chấp những lãnh thổ đã được chiếm hữu từ lâu.

 

Trong luật pháp quốc tế, khái niệm lãnh thổ vô chủ còn bao gồm cả lãnh thổ bị bỏ rơi (Res derelicta) – Lãnh thổ bị bỏ rơi là vùng đất, đảo trước kia đã từng được chiếm hữu, thuộc chủ quyền của một quốc gia nhưng sau đó nhà nước chiếm hữu từ bỏ chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ đó. Trường hợp đảo Palmas là do Tây Ban Nha phát hiện từ thế kỷ XVI, năm 1666 rút bỏ hoàn toàn và không quan tâm đến đảo nữa. Năm 1677, Công ty Đông Ấn của Hà Lan đến chiếm đảo và ký một số Hiệp nghị và văn kiện với các tù trưởng người địa phương. Từ năm 1795, đảo Palmas do Hà Lan chiếm hữu. Trọng tài Max Huber đã bác bỏ lập luận về quyền thừa kế của Mỹ vì “Tây Ban Nha đã từ bỏ các quyền hạn của họ trên đảo Palmas trước khui Hà Lan thiết lập chủ quyền” [86, tr. 165].

 

  1. Cohen đã nhận xét khi nghiên cứu về các khía cạnh pháp lý của quần đảo Manvinat: “Trong luật quốc tế, tình trạng lãnh thổ bị bỏ rơi là kết quả của hai yếu tố: về mặt vật chất là sự không có mặt của chính quyền thực sự trên lãnh thổ được xét, về mặt tinh thần là sự chủ tâm từ bỏ lãnh thổ đó” [78, tr. 138].

 

Qua nhận xét đó ta thấy muốn kết luận một lãnh thổ bị từ bỏ phải có đủ 2 yếu tố:

 

– Nhà nước phải chấm dứt mọi hoạt động thực tế đối với lãnh thổ.

 

– Nhà nước không có một biểu hiện nào của ý chí khôi phục lại chủ quyền đối với lãnh thổ.

 

Thiếu một trong hai yếu tố này thì chỉ có thể kết luận là đã có “sự yếu đuối bất thần của chính quyền Nhà nước đối với vùng đất được nói đến” nó không phải là “một sự từ bỏ tự nguyện chủ quyền” [105, tr.158].

 

1.2.4. Quá trình hình thành và phát triển của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu.

 

Căn cứ vào những bước chuyển giai đoạn lớn mà trong mỗi giai đoạn có những đặc trưng khác nhau để xác lập chủ quyền lãnh thổ, có thể chia quá trình hình thành và phát triển của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu thành những thời kỳ sau:

 

1.2.4.1. Trước thế kỷ XV

 

Vấn đề tranh chấp lãnh thổ thường chỉ diễn ra theo quy luật mạnh được yếu thua. Đó là thời kỳ mà trên những vùng đất vô chủ (Terra nullius) sự phát kiến dẫn tới sự thụ đắc lãnh thổ. Thời gian này, vấn đề tranh chấp lãnh thổ thường chỉ diễn ra trong từng khu vực, và chưa xuất hiện những nguyên tắc pháp luật về xác lập chủ quyền lãnh thổ được thừa nhận rộng rãi.

 

1.2.4.2. Thời kỳ thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI – Thời kỳ “chỉ dụ của Giáo hoàng”

 

Thế kỷ XV được mệnh danh là thời kỳ của những phát kiến địa lý vĩ đại (mở đầu là sự kiện Crixtop Colomb – 1492 tìm ra Châu Mỹ). Các phát kiến đó đã tạo nên điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các quốc gia phát kiến dẫn tới việc thiết lập chủ quyền trên những vùng lãnh thổ mới được phát hiện. Hình thức thiết lập chủ quyền lãnh thổ bằng chiếm hữu đã hình thành và phát triển cùng với sự bắt đầu bành trướng của Châu Âu ra các châu lục khác. Do sự phát triển giao lưu thương mại và những tiến bộ về hàng hải đã dẫn tới sự hình thành các cường quốc hàng hải. Các cường quốc này bành trướng như vũ bão trên biển. Trước hết phải kể đến Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã đi tiên phong trong việc phát hiện ra những vùng đất mới.

 

Trong thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI, chủ quyền đối với lãnh thổ mới “phát hiện” được xác định theo các sắc lệnh của Giáo hoàng Alexandre VI về phân chia các vùng lãnh thổ mới “phát hiện” ngoài Châu Âu giữa hai quốc gia đứng đầu hai dòng đạo Thiên chúa là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Theo sắc lệnh này, tất cả các vùng lãnh thổ bao gồm “tất cả các đảo và đất liền đã tìm thấy và sẽ tìm thấy, đã phát hiện và sẽ phát hiện” ở phía Đông một đường tưởng tượng chạy từ địa cực này sang địa cực khác qua phía Tây đảo Cap Vert (Một quần đảo thuộc Châu Phi ở Đại Tây Dương, trước kia là thuộc Bồ Đào Nha, nay là nước Cộng hoà Cap Vert) 100 liên là thuộc Bồ Đào Nha, còn các vung lãnh thổ ở phía Tây là thuộc Tây Ban Nha. Theo Hiệp ước Tordesilla do Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trực tiếp thương lượng và ký kết với nhau ngày 7/6/1494 và được Giáo Hoàng Jules II xác nhận năm 1506 thì con đường tưởng tượng đó được dịch về phía Tây thêm 370 liên.

 

1.2.4.3. Thời kỳ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX: Thời kỳ phát hiện và chiếm hữu tượng trưng

 

Các quốc gia ở Châu Âu bị đụng chạm về quyền lợi đều không chịu chấp hành sắc lệnh nói trên ngay cả khi Giáo Hoàng đe doạ rút phép thông công đối với những kẻ không tôn trọng quyền lực thiêng liêng của mình. Từ thế kỷ XVI, các nước đã phải tìm ra những nguyên tắc về thiết lập chủ quyền trên những vùng lãnh thổ mà họ “phát hiện”. Thuyết “quyền ưu tiên chiếm hữu” dành cho quốc gia đã phát hiện ra vùng lãnh thổ đó đầu tiên, gọi tắt là thuyết quyền phát hiện.

 

– Thời kỳ “Chiếm hữu tượng trưng”

 

Trên thực tế, việc phát hiện chưa bao giờ tự nó đem lại cho quốc gia phát hiện chủ quyền lãnh thổ vì rất khó xác định thế nào là phát hiện, xác nhận việc phát hiện và xác định giá trị pháp lý của việc phát hiện ra một vung lãnh thổ mới. Sau đó các luật gia đã vận dụng quyền sở hữu tài sản trong luật cổ La Mã vào lĩnh vực chủ quyền, vì vậy, việc phát hiện đã mau chóng được bổ sung bằng việc chiếm hữu trên danh nghĩa, nghĩa là quốc gia phát hiện ra một vùng lãnh thổ phải để lại dấu vết của mình trên vùng lãnh thổ mà họ phát hiện, ví dụ như phải đặt một bia chủ quyền, một

mốc chủ quyền hoặc một dấu hiệu quốc gia có giá trị tượng trưng hoặc có thể thực hiện nghi lễ tượng trưng, thông báo cho các quốc gia khác biết thì mới có chủ quyền lãnh thổ. Thời kỳ này luật quốc tế công nhận các hành vi tượng trương của việc sáp nhập lãnh thổ do quốc gia phát hiện ra thực hiện như là danh nghĩa nguyên thuỷ của việc chiếm hữu. Thuyết này là thuyết quyền chiếm hữu tượng trưng được áp dụng từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX. Nhưng trước đà phát triển của chủ nghĩa tư bản, các cường quốc đấu tranh gay gắt để phân chia và phân chia lại toàn bộ thế giới thì việc chiếm hữu tượng trưng ngày càng bộc lộ nhược điểm của nó: Do chỗ các biểu hiện chủ quyền một cách thụ động như bia, mốc… không chịu nổi thử thách của thời gian, không xác định được phạm vị chủ quyền lãnh thổ nên có những quốc gia “vô tình” hay cố ý lại “phát hiện” và đặt dấu hiệu về chủ quyền trên những vùng lãnh thổ mà các quốc gia khác đã chiếm hữu. Do đó, rất nhiều vụ tranh chấp chủ quyền có nguồn gốc từ phương thức chiếm hữu này.

 

1.2.4.4. Thời kỳ sau Hội nghị Berlin (1885) – Thời kỳ “chiếm hữu thật sự”

 

Các luật gia ngày càng nhận thức rõ ràng việc phát hiện, kể cả việc phát hiện có để lại dấu vết trên một vung lãnh thổ chỉ đem lại cho quốc gia phát hiện một danh nghĩa phôi thai, tạm thời, chưa hoàn chỉnh. Danh nghĩa “phôi thai” này, về bản chất chưa được hoàn thiện, cuối cùng sẽ biến mất trừ trường hợp nó được hoàn thiện sau đó bởi sự chiếm hữu và quản lý hành chính thật sự lãnh thổ được phát hiện trong một khoảng thời gian hợp lý. Chủ quyền muốn được xác lập và được công nhận thì phải là thật sự có hiệu quả tức là đòi hỏi sự có mặt thực tế của quốc gia chiếm hữu trên vùng lãnh thổ đó.

 

Quan điểm này ngày càng chiếm ưu thế và sau Hội nghị Berlin về Châu Phi năm 1885 của 13 nước Châu Âu và Hoa Kỳ, sau khoá họp của Viện Pháp luật quốc tế ở Lausanne năm 1888 thì trở thành một trong những nguyên tắc của luật pháp quốc tế gọi là nguyên tắc chiếm hữu thật sự.

 

Định ước Berlin ký ngày 26/2/1885 xác định nội dung của nguyên tắc chiếm hữu thật sự và quy định “các điều kiện chủ yếu phải đáp ứng khiến cho những hành động chiếm hữu mới ở vùng duyên hải lục địa châu Phi được coi là thật sự”. Theo đó, việc chiếm hữu là thực sự nếu thoả mãn hai điều kiện:

 

1 – Việc chiếm hữu chủ quyền lãnh thổ mới của bất kỳ quốc gia nào ở Châu Phi cũng phải được thông báo cho các nước tham gia hội nghị.

 

2 – Các nước chiếm hữu phải đảm bảo có sự hiện diện của tổ chức chính quyền tại chỗ để thi hành pháp luật và có thể khi cần thiết bảo đảm các quyền lợi về tự do buôn bán, tự do quá cảnh trong các điều kiện được quy định.

 

(Điều 34 và 35 của Định ước Berlin ký ngày 26/2/1885) [90, tr. 287].

 

Định ước Berlin, tuy chỉ giải quyết vấn đề Châu Phi, và chỉ ràng buộc 14 quốc gia tham gia ký kết. Nhưng hai điều trên đã được luật pháp quốc tế chấp nhận làm cơ sở cho việc công nhận chủ quyền quốc gia trên một lãnh thổ nhất định. Nghĩa là:

 

– Có sự thông báo về việc chiếm hữu cho các nước ký Định ước.

 

– Phải “duy trì trên những vùng lãnh thổ mà họ chiếm hữu sự tồn tại của một quyền lực đủ để khiến cho các quyền mà mình đã giành được được tôn trọng…”.

 

Ba năm sau, Viện pháp luật quốc tế ra tuyên bố Lausanne nhấn mạnh: “mọi sự chiếm hữu muốn tạo nên một danh nghĩa sở hữu độc quyền, muốn có hiệu quả, tức là muốn có giá trị tác động có hiệu lực tới các cường quốc thứ ba thì phải là thật sự, tức là thực tế, không phải là danh nghĩa” [80, tr. 107].

 

Điều I của Tuyên bố Lausanne đã khẳng định lại và nói rõ thêm nội dung hai điều kiện mà Định ước Berlin đã thông qua.

 

Sau đó, với sự phát triển của Luật pháp quốc tế, nguyên tắc thật sự nói trong Định ước Berlin, vốn chỉ có giá trị đối với các vùng duyên hải lục địa Châu Phi và chỉ có giá trị đối với các quốc gia ký Định ước hoặc sau đó tham gia Định ước, trở thành một nguyên tắc có giá trị phổ biến của luật pháp quốc tế, có thể áp dụng cho mọi vùng lãnh thổ.

 

Trong điều kiện toàn bộ lãnh thổ thế giới được phân chia xong giữa các nước đế quốc chủ nghĩa, Công ước Saint Germain ngày 10/9/1919 tuyên bố huỷ bỏ Định ước Berlin năm 1885 với lý do là trên thế giới không còn có vùng lãnh thổ vô chủ nữa, từ nay Định ước không còn ràng buộc các quốc gia thành viên của Công ước Saint Germain nữa. Tuy vậy, ngay trong Công ước Saint Germain vẫn có Điều 10 còn mang dấu ấn rõ rệt của Định ước Berlin năm 1885: “các cường quốc ký kết công ước

thừa nhận nghĩa vụ phải duy trì trong những vùng thuộc quyền mình sự tồn tại của một quyền lực và các phương tiện cảnh sát để đảm bảo việc bảo vệ người và tài sản trong trường hợp cần thiết, việc tự do buôn bán và quá cảnh”.

 

Như vậy là trên văn kiện chính thức thì nguyên tắc thật sự không còn giá trị nữa. Việc đặt ra và huỷ bỏ các nguyên tắc thật sự đều do các cường quốc đế quốc thông qua xuất phát từ những quyền lợi riêng của các nước đế quốc trong việc tranh giành các lãnh thổ vô chủ hoặc lạc hậu. Nhưng so tính hợp lý của nguyên tắc đó mà sau khi có Công ước Saint Germain, các luật gia trên thế giới vẫn vận dụng nó trong lĩnh vực học thuật cũng như khi giải quyết các vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong đó có rất nhiều vụ tranh chấp chủ quyền trên các hải đảo.

 

Mặc dù Định ước Berlin chỉ có một giá trị tương đối về thời gian và không gian: nó chỉ liên quan đến bờ biển Châu Phi vì đó là mục đích Hội nghị, và mặt khác, nó lại bị điều I của Công ước Saint Germain (10/9/1919) huỷ bỏ. Nhưng trên những nét lớn, nguyên tắc thật sự được thể hiện trong Định ước vẫn có thể áp dụng vào tất cả các vùng lãnh thổ vô chủ và cho phép rút ra một số yếu tố về giải pháp cho vụ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Có thể nhận xét khái quát quá trình phát triển của luật pháp quốc tế về xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng phương thức chiếm hữu như sau:

 

Sự khám phá ở thế kỷ XV được tiếp theo bằng sự khẳng định công khai về chủ quyền vào thế kỷ XVIII, đã cung cấp một danh nghĩa sơ khai và đến thế kỷ XIX, đã được hoàn chỉnh bằng việc chiếm hữu thật sự.

 

1.3. NGUYÊN TẮC THẬT SỰ (PRINCIPE D’ EFFECTIVITÉ)

 

Nguyên tắc thật sự ra đời với Định ước Berlin năm 1885. Từ đó đã được áp dụng để giải quyết nhiều vụ tranh chấp quốc tế về chủ quyền lãnh thổ, như các vụ: đảo Palmas năm 1928 giữa Hoa Kỳ và Hà Lan (1928); Vụ đảo Clipperton giữa Mêhicô và Pháp (1931), vụ Đông Greenland (1933) giữa Na Uy và Đan Mạch, vụ Minquiers và Ecréhous (1953) giữa Anh và Pháp.

 

Các phán quyết của các vụ án nổi tiếng trên đã khẳng định nguyên tắc của luật pháp quốc tế về xác lập chủ quyền lãnh thổ đối với lãnh thổ vô chủ: đó là nguyên tắc thật sự.

 

Charles Rousseau, giáo viên trường Đại học Luật Paris, uỷ viên Viện pháp luật quốc tế viết: “nguyên tắc thật sự chủ yếu được dùng để chứng minh một trật tự đã được thiết lập. Được tập quán trọng tài thừa nhận trước năm 1885” và “được khẳng định lại trong luật pháp quốc tế cả trong lĩnh vực trọng tài cũng như lĩnh vực xét xử”, “nguyên tắc thật sự cũng được luật pháp quốc tế chấp nhận như một yếu tố chủ yếu của chủ quyền mà người ta yêu sách đối với các lãnh thổ vô chủ” [105, tr. 156].

 

Rousseau còn đánh giá tính chất của các điều kiện trong nguyên tắc thật sự:

 

– Điều kiện thứ nhất thuộc về nội dung, đó là tính thật sự, tức là đòi hỏi phải thiết lập trên vùng lãnh thổ chiếm hữu một quyền lực đủ để đảm bảo trật tự công cộng và tự do buôn bán.

 

– Điều kiện thứ hai thuộc về hình thức, đó là việc thông báo, tức là công bố chính thức việc chiếm hữu một vùng lãnh thổ.

 

Do tính chất nói trên mà mọi điều kiện có vị trí riêng, không thể coi là ngang nhau. Vì là nội dung, là thực chất của nguyên tắc nên điều kiện thứ nhất là điều kiện bắt buộc để được công nhận là đã thực hiện chiếm hữu thực sự một vùng lãnh thổ.

 

Qua thực tiễn quốc tế giải quyết tranh chấp lãnh thổ, và các công trình nghiên cứu bổ sung của nhiều luật gia có thể rút ra nội dung chính của nguyên tắc thật sự là:

 

1 – Chủ thể của việc thiết lập chủ quyền trên một vùng lãnh thổ phải là một quốc gia. Một cá nhân không có quyền thiết lập chủ quyền trên một vùng lãnh thổ, dù cho vùng lãnh thổ đó vô chủ vì cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế, không thể có chủ quyền, không có thẩm quyền về mặt quan hệ quốc tế là quan hệ giữa các quốc gia.

 

2 – Sự chiếm hữu phảỉ được tiến hành một cách hoà bình trên một vùng lãnh thổ thật sự là vô chủ hoặc đã được người chủ chủ động bỏ rơi hoặc mặc nhiên từ bỏ.

 

3 – Quốc gia chiếm hữu phải thực hiện trên thực tế các hành động chủ quyền ở mức độ tối thiểu phù hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó.

 

4 – Tính liên tục của sự thực hiện các hành đọng chủ quyền trên vùng lãnh thổ đó.

 

5 – Không có sự phản đối của nước khác.

 

– Tính thật sự của việc chiếm hữu

 

Tính thật sự đòi hỏi phải thiết lập một cơ chế nhà nước cần thiết để thi hành pháp luật nhằm mục đích kiểm soát, quản lý hoặc bảo vệ lãnh thổ chiếm hữu.

 

Tuy vậy, đối với những lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khó khăn, không có người ở hoặc ít khi có người đến, một số luật gia cho rằng việc chiếm hữu có hiệu lực nếu quốc gia chiếm hữu có phương tiện thường xuyên lui tới lãnh thổ để quản lý, kiểm soát… Đối với những vùng đất không có đại diện Nhà nước thường xuyên nhưng đã được các văn bản pháp lý chính thức xác nhận quyền chiếm hữu, được biên chế vào hệ thống địa lý hành chính của quốc gia và đã có những hành động thực hiện chủ quyền thực sự rõ ràng thì không thể coi là vùng đất vô chủ.

 

Trong vụ Đông Greenland giữa Đan Mạch và Na Uy, Toà án quốc tế đã công nhận chủ quyền của Đan Mạch đối với Đông Greenland mặc dù trước đó ở đây không có dân Đan Mạch. Toà kết luận: “Có ý định hành động với tư cách là người có chủ quyền lãnh thổ và có sự thực hiện trên thực tế quyền lực Nhà nước là đủ” [105, tr. 45].

 

Trong vụ Clipperton, Trọng tài tuyên bố: “Nếu một vùng lãnh thổ không có dân cư từ thời điểm chiếm hữu đầu tiên của một quốc gia mà thuộc chủ quyền hoàn toàn và không thể tranh cãi được của quốc gia đó, thì việc chiếm hữu có thể coi là đầy đủ” [74, tr. 1110].

 

Như vậy, ta thấy trong trương hợp hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa là các đảo đá có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, có những đảo dân cư không thể đến ở được thì luật pháp quốc tế cũng không đòi hỏi quốc gia chiếm hữu phải thường xuyên có mặt.

 

– Tính liên tục và hoà bình

 

Tính liên tục và hoà bình là hai thuộc tính quan trọng của nguyên tắc chiếm hữu thực sự. Trong vụ Palmas ngày 4/4/1928, Trọng tài Max Huber nhận xét: “Cả trên

phương diện thực tế lẫn học thuyết đều thừa nhận rằng việc thực hiện một cách liên tục và hoà bình chủ quyền lãnh thổ là một danh nghĩa tốt” [86, tr. 172].

 

Luật pháp quốc tế đòi hỏi thực hiện các chức năng Nhà nước trên vùng lãnh thổ chiếm hữu phải mang tính liên tục, bởi vì sự gián đoạn việc thực hiện các chức năng Nhà nước trong một khoảng thời gian dài mà không khôi phục lại nó có thể được coi là sự từ bỏ lãnh thổ này.

 

Tuy nhiên, yêu cầu về tính liên tục thường xuyên không có nghĩa phải có tính định kỳ đều đặn mà “khoảng cách giữa những hành động thực hiện chủ quyền đối với vùng lãnh thổ đã chiếm hữu có thể khác nhau phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể, kể cả vị trí của vùng lãnh thổ và tình hình dân cư ở đó” [20, tr. 25].

 

Yêu cầu về tính hoà bình của sự chiếm hữu có nghĩa là không được dùng vũ lực hay đe doạ vùng vũ lực để tước đoạt, xâm lấn, chiếm giữ lãnh thổ của nước khác, có nghĩa là không có sự tranh chấp.

 

Một mặt khác thể hiện tính hoà bình của sư chiếm hữu là việc chiếm hữu phải công khai và được dư luận đương thời chấp nhận.

 

Đối với các sự kiện xảy ra trong lịch sử khi quan hệ quốc tế chưa phát triển rộng rãi, phương tiện thông tin còn rất hạn chế, việc công khai hoá các sự kiện chỉ bằng gián tiếp hoặc tay đôi thì việc xem xét một quốc gia đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ người ta phải chú ý đến lãnh thổ này trước đó đã thuộc chủ quyền của nước nào chưa? Sự chiếm hữu có bị nước nào chống lại và dư luận đương thời ra sao?

 

– Mối quan hệ giữa quyền phát hiện đầu tiên và chiếm hữu thật sự. Về mối quan hệ này, Charles Rousseau đã chỉ ra rằng:

 

“Trong mọi trường hợp hiệu lực của quyền phát hiện chỉ là cung cấp sự khởi đầu của một danh nghĩa hoặc, theo cách diễn đạt của người Anh, tạo nên một danh nghĩa ban đầu (inchoate title), có nghĩa là một danh nghĩa phôi thai và chỉ có giá trị tạm thời đủ để gạt bỏ ngay lập tức – nhưng không phải là mãi mãi – các tham vọng tranh đua của một nước thứ ba trên cùng một lãnh thổ… Vì luật quốc tế không ấn định rõ khoảng thời gian trong đó quyền ưu tiên này có thể được viện dẫn, do đó,

chính quyền phát hiện này bản thân nó không thể được công nhận như là một danh nghĩa có tính hiệu lực quốc tế và tác động chống đối các quốc gia thứ ba… Đó chỉ có thể là các hành vi tượng trưng mà các quốc gia thứ ba từ chối không công nhận hiệu lực pháp lý trừ phi chúng được củng cố tiếp theo bởi một sự chiếm cứ lâu dai” [105, tr. 162].

 

Fuglsang viết:

 

“Nếu luật quốc tế đảm bảo danh nghĩa ban đầu cho quốc gia phát hiện, đó là nhằm dành cho Quốc gia đó có khả năng được tận hưởng các hiệu lực của việc phát hiện đó. Vì vậy, cần phải có một khoảng thời gian nhất định để xác minh xem liệu việc chiếm cứ thật sự có được thực thi và về mặt chính trị là khả thi hay không, và liệu có đáng giá hay không và cũng cần phải có thời gian để hoàn thiện việc chiếm cứ… Khoảng thời gian chính xác phụ thuộc vào các yếu tố của từng trường hợp cụ thể. Một năm như Fauchille đề nghị hay cũng có thể 25 năm như Field và Fiore đưa ra, nó có thể trong trường hợp này là rất ngắn, trong trường hợp khác là khá dài” [56, tr. 426].

 

Việc củng cố danh nghĩa phôi thai này đòi hỏi một khoảng thời gian mà độ dài phụ thuộc vào hai yếu tố: một mặt, sự khẳng định của quyền lực trong các vùng đó không chỉ đối với các chủ thể trong nước mà cả với các chủ thể ngoài nước, mặt khác, sự thiếu vắng tranh chấp từ phía quốc gia hữu quan. Danh nghĩa phôi thai của việc phát hiện có thể bị tranh cãi do sự phản đối được lặp lại nhiều lần đủ đến mức gạt bỏ nó nếu danh nghĩa này không được củng cố tiếp theo bằng các hoạt động của Nhà nước. Tóm lại, cần phải chứng minh được rằng việc chiếm hữu là rõ ràng, hoà bình, liên tục và không có tranh cãi.

 

Rõ ràng là riêng quyền phát hiện không được coi là đủ để đảm bảo quyền chiếm hữu xác định.

 

“Chưa khi nào yếu tố phát hiện một minh được coi như đủ để đảm bảo cho quyền chiếm hữu sau đó. Giống như cái được gọi là sự phân định của Giáo hoàng, quyền phát hiện dường như chỉ cho ta thành tố jus ad rem. Không có dấu hiệu thuyết phục nào có thể đưa ra là quyền phát hiện vào bất kỳ lúc nào cũng tỏ ra đủ để thiết lập một chút jus in re. Mỗi khi (quốc gia) tuyên bố suy diễn chủ quyền từ yếu tố đơn thuần của việc phát hiện đó không phải là vì họ không còn một luận cứ nào tốt hơn để ủng hộ yêu sách chính trị của họ. Cùng một quốc gia đặt yêu sách của họ trên quyền phát hiện đã từ chối không công nhận quyền phát hiện mang lại danh nghĩa chủ quyền mỗi khi địch thủ của họ viện dẫn nó”. Nó phải được củng cố bằng sự chiếm hữu thực tế” [56, tr. 452].

 

Vào thời kỳ trước 1885, yêu cầu của chiếm hữu thật sự không phải là khe khắt so với chiếm hữu theo Điều 35 của Định ước Berlin. Nhưng “ngoài yếu tố ý chí chiếm cứ (animus occupandi), việc sở hữu vật chất chứ không phải tưởng tượng là một điều kiện cần thiết của việc chiếm hữu” [74, tr/ 1110]. Phương pháp mà khoa học pháp lý theo đuổi trong các vụ án là chấp nhận chủ quyền lãnh thổ của quốc gia có thể chứng minh được một “sự sử dụng lâu dài đã được xác định”, có thể kết hợp được cả hai thành tố cơ bản của sở hữu một danh nghĩa có từ thời phong kiến: nguyện vọng của quốc gia và các hành vi gắn liền với việc thực thi các chức năng của nhà nước của nhà nước khẳng định trên thực tế nguyện vọng đặc biệt đó của họ trên lãnh thổ liên quan.

 

Yếu tố tinh thần (animus – ý chí – tính chủ tâm) và yếu tố vật chất (corpus).

 

Việc phân tích tầm quan trọng và mối quan hệ của hai yếu tố này có một ý nghĩa thực tiễn trong việc xem xét các hành động của quốc gia xác lập chủ quyền lãnh thổ theo nguyên tắc thật sự.

 

Nguyên tắc thật sự được xác nhận vào cuối thế kỷ XIX nhưng về nguồn gốc lý thuyết, nó đã nảy sinh từ quan điểm của luật La Mã vì hai yếu tố hợp thành của quyền sở hữu một vật: yếu tố thứ nhất là yếu tố tinh thần, luật La Mã gọi là Animus,… nói lên ý chí chiếm hữu vật đó, yếu tố thứ hai là yếu tố vật chất, gọi là Corpus nói lên việc thực hiện ý chí đó bằng hành động thực tế.

 

Trong mối quan hệ giữa hai yếu tố đó, yếu tố có giá trị của chế độ pháp lý chính là tính chủ tâm “animus”. Khác với yếu tố vật chất, nó không tự mất đi khi mà ý chí làm chủ lãnh thổ người chủ vẫn tồn tại.

 

Quy tắc này đã cũ nhưng vẫn còn hiệu lực, chúng được các trọng tài sử dụng trong nhiều vụ xét xử.

 

Trong vụ Minquiers và Ecréhous giữa Anh và Pháp, Toà án quốc tế đã coi vấn đề này là trọng tâm. Toà án quốc tế đã tính tới việc thực hiện các thẩm quyền tài phán hính sự đối với các sự kiện xảy ra tại Ecréhous, các điều tra về tử thi tìm thấy tại Ecréhous, việc đánh thuế các nhà ở, việc đăng ký các hợp đồng mua bán, việc thiết lập các trạm hải quan, các cuộc viếng thăm của chính quyền đảo Jersey, và cả một thông tư của ngân khố Anh năm 1875 để xét phần thắng cho lập luận của Vương quốc Anh. Ngược lại, Toà đã bác bỏ luận cứ của Pháp đưa ra, theo đó từ năm 1861 nước Pháp đã đảm bảo vấn đề thắp sáng và hệ thống cọc tiêu ở Minquiers. Toà tuyên rằng:

 

“Các hành vi khác nhau thực hiện trong thế kỷ XIX và thể kỷ XX được dẫn ở trên, kể cả việc đặt cọc tiêu xung quanh các đá của nhóm đảo, không thể được coi như bằng chứng đầy đủ vể ý chí (animus) của Chính phủ đó thiết lập chủ quyền trên các đảo đá nhỏ này; mặt khác, các hành vi này không thể hiện được tính chất cho phép coi chúng như là sự thể hiện công khai quyền lực của nhà nước trên các đảo đá nhỏ đó [ 59, tr.65].

 

1.4. LUẬT ĐƯƠNG THỜI (DTROIT INTERTEMPOREL)

 

Chúng ta không thể đòi hỏi các quốc gia tồn tại vào thế kỷ XVII phải tuân thủ pháp luật của thời đại ngày nay, vì vậy, xét các vụ việc tranh chấp lãnh thổ xảy ra vào thời điểm nào cần phải áp dụng luật đang tồn tại ở thời điểm đó.

 

Trọng tài Max Huber trong vụ Palmas đã đưa ra phán quyết dưới ánh sáng của luật đương thời.

 

Luật đương thời bao gồm 2 nguyên tắc cơ bản:

 

  1. Một sự kiện pháp lý phải được đánh giá dưới ánh sáng của Luật đương thời (đang tồn tại cùng thời điểm xảy ra sự kiện) chứ không phải dưới ánh sáng của Luật có hiện lực vào thời diểm mà tranh chấp nảy sinh hoặc được giải quyết.

 

  1. Một quy phạm pháp luật không thể được duy trì trong một hệ thống pháp luật mới trừ phi nó phù hợp với các yêu cầu của hệ thống đó.

 

Charles Rousseau nhận xét: “Được coi, lúc như là một nhân tố xây dựng nên luật quốc tế, lúc như một công cụ làm đảo lộn luật quốc tế, việc dựa vào các danh

nghĩa lịch sử đóng một vai trò không thể bỏ qua trong việc xác lập thẩm quyền lãnh thổ. Những lĩnh vực này của luật quốc tế là một trong những lĩnh vực ở đó các nhận thức thay đổi một cách đáng kể theo thời gian, một số không còn được sử dụng nữa trong thời kỳ đương đại (như việc phân chia quyền sử hữu bằng sắc chỉ của Giáo hoàng), số khác thì được đánh giá trong những điều kiện khác nhau (trường hợp của phát hiện và chiếm cứ). Vậy thì vấn đề đặt ra – và đó chỉ là một khía cạnh của một vấn đề rất chung của luật gọi là luật đương thời – là cần phải biết được trọng tài hay quan toà quốc tế thụ lý một vụ tranh chấp lãnh thổ sẽ đặt mình vào thời điểm nào để áp dụng cho vụ tranh chấp đưa kiện lên ông ta. Một cách chung nhất chúng ta chấp nhận là vấn đề cần phải được giải quyết với nghĩa áp dụng luật có hiệu lực vào thời điểm mà chủ quyền quốc gia được xác lập” [105, tr. 149].

 

Để áp dụng được luật đương thời, chúng ta cần nắm chắc quá trình lịch sử phát triển của luật pháp quốc tế về thiết lập chủ quyền lãnh thổ.

 

Quá trình lịch sử phát triển của phương thức chiếm hữu đã được phân tích ở phần trên. Ở đây chỉ tóm lược thêm một số nét chính của sự phát triển tiếp tục không những của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu nói riêng mà còn là sự phát triển của Luật pháp quốc tế nói chung về vấn đề chủ quyền lãnh thổ để vận dụng giải quyết các việc tranh chấp hai quần đảo xảy ra ở giai đoạn từ chiến tranh thế giới thứ II đến nay.

 

Sau chiến tranh thế giới thứ II, để đáp ứng với nhu cầu giữ gìn hoà bình an ninh thế giới, chống chiến tranh, khuyến khích phát triển, xây dựng mối quan hệ thân thiện và hợp tác giữa các quốc gia và hình thành cơ sở cho một trật tự pháp lý toàn diện, Liên hợp quốc đã được thành lập. Các quốc gia sáng lập Liên hợp quốc phát triển tinh thần của Hiệp ước Brian – Kellogg 1928 về việc đặt ra ngoài vòng pháp luật việc sử dụng chiến tranh như một công cụ của chính sách quốc gia [70, tr. 287], đã đưa vào bản Hiến chương một yếu tố hàng đầu, tạo ra một sự thay đổi thực sự cách mạng trong Luật quốc tế, đó là việc: Cấm dùng sức mạnh chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia: “Trong quan hệ quốc tế, tất cả các thành viên phải kiềm chế, không đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của bất cứ quốc gia nào hoặc dùng bất kỳ cách nào không phù hợp với các mục đích của Liên hợp quốc” [46, tr.6].

 

Từ nay về sau, không công nhận bất cứ một sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng việc đe doạ hay sử dụng vũ lực. Chiến tranh xâm lược để cướp đoạt lãnh thổ bị nghiêm cấm.

 

Hiến chương Liên hợp quốc cũng chứa đựng một nguyên tắc mới rất quan trọng trong Luật quốc tế. Đó là nguyên tắc các dân tộc có quyền bình đẳng và tự quyết [46, tr. 4].

 

Năm 1960 đánh dấu một bước mới trong sự phát triển của luật quốc tế, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã ra Tuyên bố về việc trao quyền độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa (Nghị quyết 1514 ngày 14/12/1960), trong đó có đoạn:

 

“Sẽ chấm dứt tất cả các hành động vũ trang và tất cả các biện pháp trấn áp được dùng để chống lại các dân tộc thuộc địa, để cho phép các dân tộc này thực hiện (quyền độc lập hoàn toàn của họ) một cách hoà bình và tự do và sự toàn ven lãnh thổ quốc gia của họ sẽ được tôn trọng”.

 

Câu cuối rất quan trọng, nó nhấn mạnh tới việc trao trả nền độc lập cho một dân tộc thuộc địa trong sự tôn trọng lãnh thổ quốc gia.

 

Trên cơ sở Hiến chương của Liên hợp quốc, năm 1970, Đại Hội đồng đã thông qua bản Tuyên bố liên quan tới các nguyên tắc của Luật quốc tế về các quan hệ hữu nghị và sự hợp tác giữa các quốc gia theo đúng Hiến chương Liên hợp quốc (Nghị quyết 26/25):

 

“Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự thụ đắc bởi một quốc gia khác đi liền với việc sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực. Không một sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng đe doạ sử dụng vũ lực hay vũ lực sẽ được công nhận là hợp pháp”.

 

“Mọi quốc gia có nghĩa vụ tránh sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực để xâm phạm các biên giới đang có của một quốc gia khác, hay làm phương tiện giải

quyết tranh chấp quốc tế, kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan tới các biên giới các quốc gia”.

 

Như vậy, Luật pháp quốc tế có thêm một nghị quyết đặc biệt quan trọng [33, tr. 124]. Nghị quyết này nhắc lại việc cấm sử dụng sức mạnh như một phương tiện để giải quyết tranh chấp lãnh thổ và không một sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng việc đe doạ hoặc sử dụng sức mạnh lại được công nhận là hợp pháp. Nguyên tắc này sẽ được áp dụng để xem xét việc Trung Quốc dùng vũ lực để thụ đắc lãnh thổ trên hai quần đảo.

 

Luật đương thời đòi hỏi xem xét các sự kiện ở thời đại nào thì phải áp dụng luật thời điểm đó. Trong cuộc tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, cả Việt Nam và Trung Quốc đều đã viện dẫn các danh nghĩa lịch sử xa xưa cũng như các danh nghĩa thời nay. Trong việc chồng lớp các sự kiện và các danh nghĩa, chúng ta cố gắng xem xét chúng dưới ánh sáng của Luật đương thời để tìm ra quốc gia nào là người có danh nghĩa chủ quyền thật sự ở hai quần đảo.

 

* *

*

 

Sự phát triển của Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ đã được trình bày ở trên là những nét tổng thể về phương thức, nguyên tắc của Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ ở các thời kỳ nối tiếp nhau, mà chúng ta có thể xem xét áp dụng việc xác lập chủ quyền lãnh thổ.

 

Qua sự phân tích trên có thể rút ra nhận xét tóm lược một số điều kiện được coi là cơ sở để xem xét việc xác lập chủ quyền trên 2 quần đảo.

 

Danh nghĩa về chủ quyền chỉ có thể đạt được từ sự kết hợp chặt chẽ giữa việc khám phá được tiếp theo bởi sự củng cố danh nghĩa bằng chiếm hữu thật sự được kèm theo ý chí hành động với tư cách của quốc gia làm chủ. Sự chiếm hữu thật sự này phải được đánh giá tuỳ theo điều kiện cụ thể của lãnh thổ về vị trí địa lý tự nhiên và tình hình dân cư và dù lãnh thổ bị tước đoạt về mặt vật chất cũng không thể làm mất được chủ quyền nếu như về ý chí không có một sự từ bỏ rõ ràng lãnh thổ đó.

 

Ứng với mỗi thời kỳ lịch sử có những quy phạm pháp luật được thừa nhận mà chúng ta có thể căn cứ vào đó để xem xét sự thụ đắc lãnh thổ, xác định danh nghĩa chủ quyền của các quốc gia đang tham gia vào việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Nguồn: Luận án phó tiến sỹ khoa Luật học- Hoàng Trọng Lập – Đề tài: “Tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa và Luật pháp quốc tế”.

KHỦNG BỐ HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ LÀ MỘT LOẠI HÌNH CỦA KHỦNG BỐ QUỐC TẾ

Ngày 13/9/1974 tại La Haye ( Hà Lan) đã xảy ra một sự kiện làm đau đầu các nhà chức trách: Ba người Nhật có vũ trang đã tấn công cơ quan đại diện ngoại giao của Pháp tại La Haye và bắt giữ một số người làm con tin tại cơ quan đại diện này. Chúng yêu cầu Chính phủ phải thả tù nhân và nộp tiền chuộc con tin. Nhà cầm quyền không những phải thỏa mãn các yêu sách của bọn khủng bố (thả tù nhân và nộp tiền chuộc) mà còn phải cung cấp cho bọn chúng tàu bay cùng phi hành đoàn, sau đó chúng hạ lệnh bay sang Siri.

 

Ở ví dụ trên, có thể tính đến tính chất “phụ” của hành vi phạm tội – hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp tàu bay, bên cạnh tính chất chủ yếu của hành vi là nhằm thả tù nhân và đòi tiền chuộc. Ở đây chúng ta thấy tổng thể các hành vi khác nhau đã hoàn thành và các hành vi này đã vượt ra ngoài giới hạn “truyền thống” của hiện tượng “bắt cóc tàu bay”. Từ đây, trong khoa học luật quốc tế, khái niệm “khủng bố hàng không quốc tế” đã được chú ý làm rõ.

 

 

Thuật ngữ “khủng bố hàng không quốc tế” được sử dụng dùng để xác định tổng thể các hành vi khủng bố quốc tế được thực hiện nhằm chống lại và đe dọa an ninh của các hoạt động hàng không dân dụng quốc tế. Thuật ngữ này bao gồm nhiều hành vi khác nhau, trong đó nổi bật nhất là hành vi bắt cóc hoặc cưỡng bức tàu bay mà thường được gọi bằng thuật ngữ pháp lý chung là “hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp tàu bay”.

 

 

Khủng bố hàng không quốc tế phải được hiểu là các hành vi khủng bố quốc tế, nghĩa là các hành vi đó thỏa mãn 4 điều kiện sau:

 

– Là tội phạm theo luật hình sự của các quốc gia.

 

– Hành vi này xâm hại đến khách thể kép (nó nhằm vào lợi ích của quốc gia hay tổ chức quốc tế, đồng thời gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tự do của con người).

 

– Có yếu tố quốc tế, yếu tố này phát sinh trong mối quan hệ tổng thể của các hành vi đối với nhau – từ góc độ quốc tế. Đó là mối quan hệ giữa chủ thể tội phạm với các thành phần khách thể của tội phạm.

 

– Các hành vi này bị truy cứu và trừng phạt trên cơ sở các điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc phổ cập quốc tế.

 

Như vậy, tội phạm hàng không quốc tế là các hành vi trái với các quy định của luật hàng không quốc tế và được điều chỉnh tại các điều ước quốc tế có liên quan tới an ninh hàng không quốc tế. Còn khủng bố hàng không quốc tế là các hành vi phải đáp ứng 4 điều kiện nêu trên, trong khi đó tội phạm hàng không quốc tế không nhất thiết phải đáp ứng. Chẳng hạn, hành vi cợt nhả, trêu ghẹo, khiếm nhã của hành khách đối với nữ tiếp viên hàng không trên máy bay không thể coi là hành vi khủng bố hàng không, bởi vì trong luật hình sự của một số nước không định danh cụ thể đây là hành vi phạm tội, song một số nước lại xác định đây là hành vi quấy rối tình dục. Nhưng hành vi này trái với các luật lệ, quy định về hàng không, vi phạm trật tự và kỷ luật hàng không “các hành vi phạm tội hay không phạm tội có thể gây nguy hiểm cho an toàn của tàu bay hoặc của người hay tài sản trên tàu bay hoặc nguy hiểm cho trật tự và kỷ luật trên tàu bay” (điểm b, khoản 1 Điều 1 Công ước Tokyo 1963 về an ninh hàng không). Hành vi trộm cắp hoặc đánh nhau giữa những hành khách trên tàu bay cũng không thể coi là những hành vi khủng bố hàng không quốc tế vì không thỏa mãn điều kiện (2) – Điều kiện ở khách thể kép của hành vi (vừa xâm hại đến lợi ích quốc gia (hay tổ chức quốc tế), vừa gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tự do của con người). Hành vi trộm cắp hoặc đánh nhau giữa các hành khách lại vi phạm “trật tự, kỷ luật” trên máy bay nên thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Tokyo 1963.

 

Các thuật ngữ “cướp máy bay”; “kẻ cướp hàng không”; “không tặc” xuất hiện trong thời gian đầu (những năm 30) khi kỹ nghệ hàng không phát triển và bắt đầu xuất hiện một số hành vi gây nguy hiểm cho tàu bay và hành khách. Khi tìm thuật ngữ để đặt tên những hành vi đó, hình như các học giả luật quốc tế đã mượn một số thuật ngữ trong lĩnh vực hàng hải như “cướp biển” hay “hải tặc” bởi luật hàng hải ra đời sớm hơn rất nhiều so với luật hàng không quốc tế.

 

Xem xét các quy định về tội phạm hàng không trong các điều ước quốc tế về an ninh hàng không, có thể thấy được sự phát triển của khái niệm khủng bố hàng không quốc tế: Trong công ước đầu tiên – Công ước Tokyo 1963 về an ninh hàng không – khủng bố hàng không được hiểu là hành vi cướp máy bay (không tặc). Đến các Công ước La Haye 1970 và Montreal 1971, khái niệm này đã được mở rộng, bao gồm những hành vi cưỡng đoạt tàu bay, làm hư hỏng tàu bay, những hành vi thực hiện đối với người, trang thiết bị tại các sân bay, ảnh hưởng đến an toàn bay. Ngay cả những hành vi đe dọa dùng vũ lực đối với một người trên tàu bay cũng bị coi là tội phạm khủng bố hàng không quốc tế. Nguyên nhân chủ yếu của việc mở rộng khái niệm này là do thời kỳ cuối những năm 60 thế giới trong tình trạng căng thẳng về nạn dịch đe dọa hàng không quốc tế như bắt cóc, đánh bom nhằm vào tổng thể hoạt động hàng không của ngành hàng không, trong khi đó Công ước Tokyo 1963 còn hạn chế, quy định chưa cụ thể, chưa rõ ràng, công ước ghi nhận hành vi chiếm đoạt tàu bay là hành vi bất hợp pháp nhưng lại không coi hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp tàu bay là hành vi tội phạm hay vi phạm hành chính. Đó cũng là kết quả của sự thỏa thuận giữa các quốc gia trong thời kỳ chiến tranh lạnh, là đặc trưng của luật quốc tế so với luật quốc gia – khi thỏa thuận xây dựng các quy định pháp luật quốc tế thường bị chi phối bởi tổng thể lợi ích giữa các quốc gia. Công ước La Haye 1970 và Công ước Montreal 1971 đã khắc phục được hạn chế của Công ước Tokyo 1963.

 

Như vậy, đến đây chúng ta có thể khẳng định rằng: Khủng bố hàng không quốc tế là các hành vi khủng bố quốc tế có liên quan tới các loại hình hoạt động của hàng không dân dụng quốc tế.

 

Khủng bố hàng không quốc tế được xem là hành vi cực kỳ nguy hiểm cho xã hội, là một trong những loại hình nghiêm trọng nhất của khủng bố quốc tế. Tính nguy hiểm cho xã hội của khủng bố hàng không quốc tế là gây thiệt hại lớn lao cho nhà nước, gây tử vong cho nhiều người không chỉ trên máy bay mà còn ở mặt đất. Nó làm chấn động môi trường hàng không, làm mất niềm tin của con người vào sự an ninh của ngành hàng không dân dụng quốc tế. Các quốc gia đều nhận thức được vấn đề này, vì vậy một trong những lĩnh vực mà cộng đồng quốc tế đã thành công nhất trong việc điều chỉnh bằng pháp luật quốc tế là phòng chống tội khủng bố hàng không, đảm bảo an ninh hàng không dân dụng quốc tế.

 

Trên cơ sở thực tiễn và dựa vào các công ước quốc tế về an ninh hàng không, có thể phân chia các hành vi khủng bố hàng không quốc tế thành hai loại:

 

* Loại thứ nhất: Bao gồm các hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp tàu bay. Loại này có thể chia thành 3 nhóm:

 

– Nhóm 1: Những tên cướp đe dọa phi hành đoàn và hành khách bằng vũ khí, bắt thay đổi đường bay, hạ cánh xuống lãnh thổ của nước khác nhằm trốn chạy khỏi sự truy tìm của nhà nước đối với hành vi phạm tội hoặc trốn chạy khỏi đồng bọn của chúng.

 

– Nhóm 2: Những vụ chiếm đoạt nhằm vào lợi ích vật chất, vụ lợi.

 

– Nhóm 3: Những vụ chiếm đoạt máy bay theo đuổi mục đích khiêu khích xung đột quốc tế hoặc làm phức tạp thêm mối quan hệ giữa các quốc gia.

 

* Loại thứ hai: gồm các hành vi khác đe dọa an ninh hàng không dân dụng như:

 

– Thực hiện hành vi bạo lực đối với một người trên tàu bay trong khi bay nếu như hành động này gây nguy hiểm đến an toàn của tàu bay đó.

 

– Đặt hoặc chỉ đạo đặt vào tàu bay đang bay, dù bằng bất cứ phương thức nào, một thiết bị hoặc chất sẽ phá hủy tàu bay hoặc gây thiệt hại cho tàu bay, dẫn đến làm mất khả năng bay, hoặc làm hỏng tàu bay dẫn đến mất an toàn của tàu bay đang bay.

 

– Phá hủy hoặc làm hỏng phương tiện dẫn đường hàng không hoặc cản trở hoạt động của các thiết bị đó, nếu bất kỳ một hành động nào như vậy sẽ gây mất an toàn của tàu bay đang bay.

 

– Chuyển những thông tin mà biết là sai trái, từ đó gây nguy hại đến an toàn của tàu bay đang bay.

 

– Sử dụng bạo lực chống lại người đang làm nhiệm vụ dịch vụ hàng không mà gây ra thương tích nặng hoặc tử vong.

 

– Phá hủy hoặc làm thiệt hại nghiêm trọng các trang thiết bị hàng không hoặc tàu bay đậu tại đó, nếu những hành vi này gây nguy hại hoặc có thể gây nguy hại tới an ninh của sân bay.

 

Danh mục các hành vi bị coi là khủng bố hàng không quốc tế kể trên cho thấy chúng rất đa dạng và phong phú không chỉ gây nguy hiểm tới an toàn của tàu bay, của người, tài sản trên tàu bay mà còn phá hoại sân bay, phá hoại mối quan hệ thân thiện giữa các quốc gia, dân tộc.

 

ThS. Nguyễn Thị Yên

Theo : Tạp chí Khoa học pháp lý số 08 (2002)

KHÁI NIỆM KHỦNG BỐ TỪ CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ

Hiện nay, trong khuôn khổ Liên hợp quốc và các tổ chức thành viên (ICAO, IMO, IAEA…) có 13 điều ước quốc tế đa phương về chống khủng bố đã được thông qua. Công ước chung về chống khủng bố quốc tế mặc dù được tiến hành xây dựng từ năm 1996( ) đến nay vẫn đang nằm dưới dạng dự thảo vì còn nhiều ý kiến bất đồng xung quanh vấn đề định nghĩa khủng bố. Ở cấp độ khu vực cũng có 8 điều ước quốc tế được kí kết. Ngoài ra còn rất nhiều các hiệp định quốc tế song phương và các nghị quyết của Đại hội đồng, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc về các biện pháp đấu tranh chống khủng bố. Mặc dù, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc tế về chống khủng bố tương đối lớn, tuy nhiên chưa văn bản nào đưa ra được định nghĩa rõ ràng, toàn diện về khủng bố. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay việc đưa ra định nghĩa chung về khủng bố là cấp thiết vì có như vậy mới nâng cao được hiệu quả hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm này.

 

  1. Định nghĩa khủng bố theo quy định tại các điều ước quốc tế

 

 

Có thể nói định nghĩa về khủng bố đầu tiên xuất hiện tại điều ước quốc tế đa phương là định nghĩa được nêu ra trong Công ước về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế năm 1937 (còn gọi là Công ước Giơnevơ 1937). Theo Công ước Giơnevơ 1937 thì khủng bố là việc thực hiện các hành vi phá hoại, hành vi gây nguy hiểm cho nhiều người, việc vận chuyển, chuyển giao, cố ý sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả mạo, các hành vi ám sát nguyên thủ quốc gia và các nhà lãnh đạo của quốc gia khác…( ). Tuy nhiên, do không hội đủ số lượng thư phê chuẩn nên Công ước đã không phát sinh hiệu lực.

 

 

Trong 13 điều ước quốc tế thuộc khuôn khổ Liên hợp quốc về đấu tranh chống khủng bố hiện nay chỉ có 3 công ước trực tiếp nhắc đến khái niệm “khủng bố” (terrorism) ngay tại tiêu đề, đó là: Công ước New York năm 1997 về trừng trị khủng bố bằng bom (International convention for the suppression of terrorist bombings); Công ước New York năm 1999 về trừng trị việc tài trợ khủng bố (International convention for the suppression of the financing of terrorism); Công ước New York năm 2005 về ngăn chặn các hành vi khủng bố hạt nhân (International convention for the suppression of acts of nuclear terrorism). Các công ước còn lại quy định về những tội phạm mà việc thực hiện các tội phạm đó được coi như biểu hiện của khủng bố quốc tế. Ví dụ tại phần mở đầu Công ước New York năm 1979 về chống bắt cóc con tin ghi nhận: “Xét rằng việc bắt cóc con tin là một tội phạm gây lo ngại sâu sắc cho cộng đồng quốc tế…; Nhận thấy rõ sự cấp thiết phải phát triển hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trong việc đưa ra các sáng kiến và sử dụng các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, truy tố và trừng trị tất cả các hành vi bắt con tin như là những biểu hiện của khủng bố quốc tế”; hay như Công ước Montreal năm 1991 về việc đánh dấu chất nổ dẻo để nhận biết ghi nhận tại phần mở đầu: “Bày tỏ mối lo ngại sâu sắc đối với các hành vi khủng bố nhằm phá hoại tàu bay, các phương tiện giao thông và các mục tiêu khác; Lo ngại rằng các vật nổ dẻo vẫn được sử dụng cho các hành vi khủng bố như vậy; Xét rằng việc đánh dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết sẽ góp phần quan trọng vào việc ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp đó”…

 

Trong 3 công ước quốc tế nhắc đến khái niệm “khủng bố” ngay tại tiêu đề chỉ có Công ước New York năm 1999 về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố đưa ra được định nghĩa chung về khủng bố, các công ước còn lại chỉ đưa ra định nghĩa về từng loại hành vi khủng bố cụ thể. Công ước New York năm 1999 bên cạnh việc định nghĩa hành vi tài trợ khủng bố đã gián tiếp quy định thế nào là khủng bố. Theo Công ước này thì khủng bố là: 1) “Bất kì hành vi nào cấu thành một tội phạm trong phạm vi và được định nghĩa tại một trong số các điều ước về đấu tranh chống khủng bố còn lại (được quy định tại phụ lục)” hoặc 2) “Bất kì hành vi nào khác với ý định giết hại hoặc làm bị thương nghiêm trọng đến thân thể thường dân, hoặc bất kì người nào khác không tham gia vào chiến sự trong bối cảnh xung đột vũ trang, nếu mục đích của hành vi này về bản chất hoặc bối cảnh xảy ra là nhằm hăm doạ dân chúng hay ép buộc một chính phủ hoặc một tổ chức quốc tế phải thực hiện hoặc không thực hiện bất kì hành vi nào” (Điều 2). Tuy nhiên, khó có thể coi quy định nêu ra tại Điều 2 Công ước New York năm 1999 là định nghĩa khủng bố hoàn chỉnh bởi: 1) Đây là định nghĩa gián tiếp được đưa ra thông qua định nghĩa khác; 2) Khoản 1 Điều này không nêu được dấu hiệu cấu thành tội khủng bố mà dẫn chiếu đến một số tội phạm được quy định tại các công ước khác cho nên chỉ thuần tuý mang tính chất liệt kê; 2) Khoản 2 có nêu được một số dấu hiệu của tội khủng bố (về hành vi, khách thể, mục đích…) nhưng cũng chỉ đề cập thêm được các hành vi xâm phạm tính mạng và sức khoẻ con người.

 

2 công ước quốc tế về chống khủng bố (trực tiếp nhắc đến khái niệm khủng bố tại tiêu đề) còn lại chỉ đưa ra định nghĩa về từng hành vi khủng bố cụ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của công ước, ví dụ khủng bố bằng bom là việc: “ném, đặt làm nổ hoặc kích nổ một cách bất hợp pháp và cố ý một thiết bị gây nổ hoặc gây chết người khác tại, vào, hoặc chống lại một địa điểm công cộng, một trang thiết bị của nhà nước hoặc Chính phủ, một hệ thống giao thông công cộng hoặc cơ sở hạ tầng” (Điều 2 Công ước New York năm 1997 về việc trừng trị khủng bố bằng bom); theo Công ước New York năm 2005 về ngăn ngừa các hành vi khủng bố hạt nhân thì “một người bị coi là phạm tội khủng bố hạt nhân nếu người đó, một cách có chủ định và bằng con đường bất hợp pháp sở hữu nguyên liệu phóng xạ, chế tạo hay sở hữu thiết bị hạt nhân với mục đích gây thương vong lớn hay nhằm phá hoại cơ sở hạ tầng hay môi trường; sử dụng nguyên liệu hay thiết bị phóng xạ, sử dụng hoặc phá hoại cơ sở hạt nhân để tạo ra sự rò rỉ phóng xạ gây thương vong lớn, nhằm phá hoại cơ sở hạ tầng hay môi trường để ép buộc thể nhân hay pháp nhân, tổ chức quốc gia hay quốc gia phải thực hiện hay không thực hiện hành động nào đó” (Điều 2 Công ước).

 

Các nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc về các biện pháp phòng, chống khủng bố cũng không đưa ra định nghĩa nào về vấn đề này. Đặc biệt Nghị quyết số 1373 ngày 28/9/2001 làm cơ sở ra đời Uỷ ban chống khủng bố thuộc Hội đồng bảo an Liên hợp quốc mặc dù kêu gọi “các quốc gia hợp tác khẩn thiết nhằm phòng và trấn áp các hành động khủng bố, thông qua sự tăng cường hợp tác và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế liên quan đến chủ nghĩa khủng bố” cũng không đưa ra định nghĩa khủng bố.

 

Hầu hết các điều ước quốc tế khu vực cũng không đưa ra được định nghĩa khủng bố. Các điều ước này trong phạm vi hợp tác đấu tranh chống khủng bố lại dẫn ra những hành vi được quy định tại 13 công ước quốc tế đa phương của Liên hợp quốc. Ví dụ, Công ước của châu Âu về chống khủng bố năm 1977 ngay tại Điều 1 đã đưa ra các hành vi thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước, yêu cầu các quốc gia thành viên phải tội phạm hoá, đó là các hành vi được nêu trong Công ước La Haye năm 1970 về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay; Công ước Montreal năm 1971 về việc trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng; Công ước New York năm 1973 về việc ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người dược hưởng bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao. Thời gian kí kết Công ước châu Âu năm 1977 thì Công ước về chống bắt cóc con tin năm 1979 hay Công ước trừng trị khủng bố bằng bom năm 1997… chưa ra đời, tuy nhiên các tội phạm nghiêm trọng liên quan đến bắt cóc, giam giữ trái phép, tội phạm nghiêm trọng liên quan đến việc sử dụng bom, lựu đạn, rocket, súng tự động, bom thư… đã được liệt kê trong Công ước. Gần đây nhất, vào tháng 11/2007 tại Cebu, các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN) đã kí Công ước chung về chống khủng bố (ASEAN Convention on Counter Terrorism). Tại Điều 2 Công ước này quy định về “Những hành vi phạm tội khủng bố” đã ghi nhận các hành vi theo 13 công ước đa phương về đấu tranh chống khủng bố trong khuôn khổ Liên hợp quốc: “Đối với các mục đích của Công ước này, tội phạm có nghĩa là bất kì hành vi phạm tội trong phạm vi được liệt kê như sau:

 

– Công ước La Haye năm 1970 về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay.

 

– Công ước Montreal năm 1971 về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng.

 

– Công ước New York năm 1973 về ngăn chặn và trừng trị các tội phạm chống lại những người được bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao.

 

– Công ước New York năm 1979 về chống bắt cóc con tin.

 

– Công ước Viên năm 1979 về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân.

 

– Nghị định thư Montreal năm 1988 về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp tại cảng hàng không dân dụng quốc tế.

 

– Công ước Rome năm 1988 về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải.

 

– Nghị định thư Rome năm 1988 về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại những công trình cố định trên thềm lục địa.

 

– Công ước New York năm 1997 về trừng trị khủng bố bằng bom.

 

– Công ước New York năm 1999 về trừng trị hành vi tài trợ cho khủng bố.

 

– Công ước Viên năm 2005 (sửa đổi Công ước Viên năm 1980) về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân.

 

– Công ước New York năm 2005 về ngăn ngừa các hành vi khủng bố bằng hạt nhân.

 

– Nghị định thư năm 2005 bổ sung Công ước về ngăn chặn các hành vi phi pháp chống lại an toàn hàng hải.

 

– Nghị định thư năm 2005 bổ sung Nghị định thư về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại những công trình trên thềm lục địa kí tại London ngày 14/10/2005”( ).

 

Như vậy, hiện nay cộng đồng quốc tế vẫn chưa đưa ra được định nghĩa chung hoàn chỉnh về khủng bố mà mới chỉ ghi nhận một số hành vi nhất định là khủng bố và các biện pháp để hợp tác đấu tranh chống lại các hành vi này.

 

  1. Vấn đề xây dựng định nghĩa chung về khủng bố

 

Việc xây dựng định nghĩa chung về khủng bố là vấn đề cấp thiết hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm này. Để xây dựng được định nghĩa về khủng bố cần xuất phát từ những vấn đề mang tính lí luận từ lâu được thừa nhận trong công pháp quốc tế, đó là xem xét khủng bố dưới giác độ tội phạm hình sự. Về nguyên tắc, tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ quốc gia nào thì quốc gia đó có thẩm quyền xét xử. Tuy nhiên, nhiều hoạt động tội phạm hiện nay vượt qua biên giới quốc gia và hậu quả cũng liên quan đến nhiều quốc gia mà khủng bố nằm trong số đó. Từ những năm đầu của thế kỷ XX, khủng bố đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành mối lo ngại của của cộng đồng quốc tế và vấn đề hợp tác đấu tranh chống khủng bố đã trở nên ngày càng cấp thiết. Tội phạm trong khoa học luật quốc tế được phân thành 3 loại đó là tội phạm quốc tế (còn gọi là tội ác quốc tế); tội phạm có tính chất quốc tế và tội phạm hình sự chung. Tội phạm có tính chất quốc tế là nhóm tội phạm mặc dù được thực hiện nhằm xâm phạm trật tự pháp luật quốc gia nhưng cũng xâm hại đến các quyền lợi của cộng đồng quốc tế. Xét về bản chất, khủng bố thuộc nhóm tội phạm có tính chất quốc tế cùng với các tội như cướp biển, buôn bán bất hợp pháp ma tuý và các chất hướng thần, tội buôn bán nô lệ, buôn bán phụ nữ và trẻ em( )… Các tội phạm này xâm phạm đến quyền lợi chung của cộng đồng quốc tế và để đấu tranh hiệu quả cần sự chung tay của tất cả các quốc gia.

 

Như đã phân tích ở trên, vì khủng bố là tội phạm có tính quốc tế nên định nghĩa phải bắt đầu từ hành vi và lấy hành vi làm trung tâm. Bên cạnh dấu hiệu hành vi cần xem xét các dấu hiệu khác của tội phạm như chủ thể, khách thể, động cơ, mục đích.

 

  1. Về hành vi

 

Trên thực tiễn cũng như qua nghiên cứu cho thấy hành vi khủng bố rất đa dạng, bao gồm các loại hành vi như xâm hại tính mạng, thân thể con người, tài sản hay tổng hợp các loại hành vi đó (như vụ khủng bố 11/9 tại Hoa Kì năm 2001). Phần lớn hành vi khủng bố là các hành vi sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực, tuy nhiên hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, hành vi khủng bố đã lan sang cả các hình thức không mang tính vũ lực như chống phá bằng công nghệ thông tin (tin tặc); làm ô nhiễm nguồn nước, phát tán mầm bệnh… Tội khủng bố xét về biểu hiện của hành vi rất giống với các tội phạm thông thường khác như tội giết người, tội huỷ hoại tài sản, bắt cóc đòi tiền chuộc, cướp biển nhưng khác nhau ở các dấu hiệu như mục đích, đối tượng tác động… Hành vi khủng bố cũng có biểu hiện giống các hành vi cấu thành tội ác quốc tế như diệt chủng, chống nhân loại, tội phạm chiến tranh nhưng khác nhau về mục đích và mức độ nghiêm trọng. Ví dụ: Cũng là hành vi giết người nhưng tội diệt chủng được thực hiện nhằm tiêu diệt toàn bộ hay một bộ phận nhóm dân tộc, sắc tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo. Cũng là hành vi giết người nhưng tội chống nhân loại được thực hiện một cách có hệ thống, trên diện rộng nhằm vào cộng đồng dân thường nào đó. Hiện nay, theo quy định của các công ước quốc tế về chống khủng bố, hành vi khủng bố bao gồm: các hành vi chống lại an toàn hàng không dân dụng, chống lại an toàn hành trình hàng hải và những công trình cố định trên thềm lục địa, tài trợ khủng bố, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ con người, tài sản bằng các thiết bị gây nổ; chống lại những người được hưởng bảo hộ quốc tế bao gồm viên chức ngoại giao, bắt cóc con tin, xâm phạm an toàn sức khoẻ, tính mạng, tài sản con người bằng thiết bị hạt nhân.

 

  1. Về mục đích

 

Theo quan điểm của tác giả thì mục đích là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội khủng bố vì nếu không có dấu hiệu mục đích thì tội khủng bố sẽ có cấu thành giống các tội phạm khác như tội giết người, cướp biển hay huỷ hoại tài sản… Không thể đánh đồng việc sát hại quan chức ngoại giao nhằm cướp tài sản với việc sát hại nhằm mục đích chính trị, cũng không thể đồng nhất việc bắt cóc vì động cơ vụ lợi (đòi tiền chuộc) với bắt cóc nhằm gây sức ép với chính phủ phải có hành động hoặc không được có hành động nào đó. Dấu hiệu mục đích cũng là một trong những dấu hiệu được nhắc đến trong hầu hết quan điểm của các học giả nghiên cứu về khủng bố và pháp luật hình sự của các nước trên thế giới. Hành vi khủng bố tuy xâm phạm tính mạng, tự do thân thể con người hoặc xâm phạm tài sản nhưng đó không phải là mục đích phạm tội. Người phạm tội muốn thông qua các hành vi đó gây hoảng loạn, khiếp đảm trong công chúng nhằm mục đích cuối cùng là chính trị. Có người cho rằng bên cạnh mục đích chính trị thì hành vi phạm tội khủng bố còn có các mục đích khác như lí tưởng, tôn giáo, tuy nhiên suy cho cùng thì lí tưởng hay tôn giáo cũng đều là các vấn đề chính trị hiểu theo nghĩa chính trị “là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh vấn đề trung tâm đó là giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước”( ). Trong một số công ước quốc tế về chống khủng bố thì mục đích chính trị cũng đã được nhắc đến, ví dụ Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin quy định hành vi thuộc phạm vi điều chỉnh công ước phải là hành vi bắt giữ, giam giữ, đe doạ sẽ giết chết, sẽ làm bị thương nhằm cưỡng ép bên thứ ba, cụ thể là quốc gia, tổ chức quốc tế liên chính phủ, pháp nhân hoặc thể nhân, nhóm người nào đó phải thực hiện hay không được thực hiện bất kì hành vi nào như một điều kiện rõ ràng hoặc điều kiện ngầm cho việc phóng thích con tin. Hay Công ước về trừng trị việc tài trợ khủng bố tại điểm b khoản 1 Điều 2 quy định tính mục đích của các hành vi khác được coi là khủng bố (ngoài các hành vi được đề cập trong công ước về chống khủng bố liệt kê tại phụ lục) là: nhằm hăm doạ dân chúng hay ép buộc một chính phủ hoặc một tổ chức quốc tế phải thực hiện hoặc không thực hiện bất kì hành vi nào. Công ước về trừng trị khủng bố bằng bom tuy không nêu tính mục đích của hành vi là yếu tố cấu thành tội phạm nhưng nhấn mạnh việc trừng trị các hành vi phạm tội có ý đồ gây hoảng loạn trong công chúng hoặc một nhóm người cụ thể với mục đích chính trị, triết học, tư tưởng, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hoặc có tính chất tương tự khác và yêu cầu về dẫn độ hoặc tương trợ tư pháp đối với tội phạm không thể bị từ chối vì lí do tội phạm có liên quan đến chính trị hoặc xuất phát từ động cơ chính trị.

 

Tính mục đích của hành vi trong cấu thành tội phạm cũng là tiêu chí để phân biệt tội khủng bố và các tội ác quốc tế thuộc thẩm quyền của Toà hình sự quốc tế (ICC). Ví dụ: Cũng là hành vi giết người nhưng mục đích của hành vi cấu thành tội diệt chủng là tiêu diệt toàn bộ hay một bộ phận nhóm dân tộc, sắc tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo…

 

  1. Về chủ thể

 

Hiện nay, có một số quan điểm cho rằng chủ thể thực hiện hành vi khủng bố bao gồm cả quốc gia – nhà nước khủng bố. Ví dụ: GS. La Cương – Đại học Vân Nam Trung Quốc cho rằng: “Quốc gia có thể trở thành chủ thể của tội phạm khủng bố quốc tế, chỉ có điều là phương thức mà quốc gia gánh trách nhiệm khác với cá nhân gánh trách nhiệm hình sự mà thôi”. Ông cũng chỉ ra các căn cứ pháp lí để chứng minh cho quan điểm này: “Trong thực tế, khái niệm chủ nghĩa khủng bố nhà nước đã được nêu ra tại Điều 30 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948); Điều 30 Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (1966); Điều 5 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966)… có thể khẳng định là những điều khoản của văn kiện đã nêu trên đều vừa thừa nhận cá nhân có thể là chủ thể tấn công vào tội phạm quốc tế vừa thừa nhận quốc gia có thể là chủ thể phạm tội tấn công. Theo đó, giữa những hành vi cá nhân và người thay mặt nhà nước thực hiện, được coi là chủ nghĩa khủng bố, theo văn bản này chúng đều như nhau cả thôi”( ). Tuy nhiên, quan điểm này mang nặng tính suy diễn chủ quan bởi Điều 30 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền chỉ khẳng định: “Không một điều nào trong bản tuyên ngôn này có thể được giải thích với hàm ý cho phép bất kì nhà nước, nhóm hoặc cá nhân nào được quyền tham gia vào bất cứ hoạt động nào hoặc thực hiện bất cứ hành động nào nhằm mục đích huỷ hoại bất kì quyền hoặc tự do đã được nêu trong Tuyên ngôn này”. Dưới giác độ pháp luật quốc tế thì cần phân biệt giữa hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của chủ thể luật quốc tế với hành vi vi phạm được xác định là tội phạm có tính chất quốc tế. Tội phạm có tính chất quốc tế là tội phạm hình sự do các cá nhân thực hiện xâm phạm tới trật tự pháp lí quốc tế hoặc quốc gia và có tính nguy hiểm trên phạm vi quốc tế mà tội khủng bố nằm trong nhóm này. Các hành vi xâm phạm luật quốc tế của quốc gia sẽ được giải quyết theo chế định trách nhiệm pháp lí quốc tế bao gồm hai loại là tội ác quốc tế và các vi phạm pháp lí thông thường khác. Chính vì lẽ đó mà chủ thể của tội phạm khủng bố chỉ có thể là cá nhân và các tổ chức tội phạm (các băng, nhóm phạm tội).

 

  1. Về khách thể

 

Khách thể của tội khủng bố là các quan hệ xã hội bị tội phạm này xâm hai. Tội khủng bố xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội do vậy khách thể của tội phạm này rất đa dạng bao gồm: quyền, tự do cơ bản của con người, trật tự an toàn công cộng, hoà bình và an ninh quốc tế, mối quan hệ tốt đẹp giữa các quốc gia vv… Tuy xâm phạm đến nhiều quan hệ xã hội nhưng khách thể trực tiếp, thể hiện đầy đủ nhất tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi khủng bố quốc tế chính là hoà bình và an ninh quốc tế. Để xâm hại quan hệ xã hội này thì hành vi khủng bố phải thông qua những đối tượng tác động nhất định. Đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này có thể là con người, tài sản. Tuy nhiên, có phải việc tấn công vào con người, tài sản trong trường hợp nào cũng bị coi là khủng bố không? Các công ước quốc tế về chống khủng bố đều loại trừ các đối tượng bị tấn công là tàu bay, tàu biển được sử dụng phục vụ quân đội, hải quan, cảnh sát ra khỏi phạm vi điều chỉnh của công ước (khoản 4 Điều 1 Công ước về các tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàu bay, khoản 2 Điều 3 Công ước về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay…). Một số công ước còn quy định cụ thể đối tượng tác động của hành vi cấu thành tội khủng bố bao gồm dân thường hoặc bất kì người nào khác không tham gia chiến sự trong bối cảnh xung đột vũ trang (điểm b khoản 1 Điều 2 Công ước quốc tế về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố). Công ước về trừng trị khủng bố bằng bom quy định đối tượng tác động của các hành vi cấu thành tội khủng bố gồm: địa điểm công cộng, hệ thống giao thông công cộng, cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị của nhà nước hoặc chính phủ. Địa điểm công cộng được giải thích là những thành phần của bất kì toà nhà, đất đai, đường phố, đường thuỷ nào hoặc địa điểm khác mà công chúng có thể đến hoặc mở cho công chúng liên tục, định kì hoặc vào dịp đặc biệt, và bao gồm cả các địa điểm thương mại, kinh doanh, văn hoá, lịch sử, giáo dục, tôn giáo của chính phủ, vui chơi, giải trí hoặc những địa điểm tương tự mà công chúng có thể đến hoặc mở cửa cho công chúng.( ) Như vậy, đối tượng tác động của hành vi cấu thành tội khủng bố là các mục tiêu dân sự, cộng đồng dân cư hoặc những người không trực tiếp tham gia chiến sự, những người được hưởng bảo hộ quốc tế. Trong thực tế có trường hợp sự tấn công nhằm vào mục tiêu hỗn hợp, có cả quân sự và dân sự, ví dụ toà nhà có cả cơ quan quân sự và các tổ chức thương mại hoặc tàu bay có cả các nhân viên quân sự và dân thường thì việc cố ý mở cuộc tấn công mặc dù biết rằng cuộc tấn công đó có khả năng gây thương vong cho thường dân hoặc gây hư hại cho các mục tiêu dân sự là hành vi khủng bố. Về đối tượng tác động hành vi khủng bố cũng cần phân biệt với tội phạm chiến tranh, ví dụ tại điểm a khoản 3 Điều 8 Quy chế Rome về Toà án hình sự quốc tế quy định đối tượng của các hành vi cấu thành tội phạm chiến tranh là cộng đồng dân cư hoặc những thường dân không trực tiếp tham gia chiến sự, tuy nhiên những hành vi này phải được thực hiện như một phần trong kế hoạch hoặc chính sách hoặc được thực hiện trên quy mô lớn và áp dụng trong “xung đột vũ trang có tính quốc tế”.

 

Từ sự phân tích ở trên, theo tác giả bài viết, khủng bố là hành vi tấn công hoặc đe doạ tấn công gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người dân và các mục tiêu dân sự khác gây hoảng loạn trong cộng đồng dân cư nhằm đạt được mục đích chính trị (ép buộc Chính phủ, tổ chức, cá nhân hành động hoặc không được thực hiện hành động nào đó; vì lí do tôn giáo; tư tưởng…) do các cá nhân hoặc tổ chức thực hiện.

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

 

Leave a Reply