kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Giải bài tập Đại cương văn hóa Việt Nam

ĐỀ BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM – KÌ II NĂM HỌC 2013 – 2014

  1. Nhu cầu của việc nghiên cứu văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
    2. Phân tích luận điểm sau: “Văn hóa học là một bộ môn khoa học nghiên cứu về văn hóa như một chính thể tự biến đổi và đã phát triển”.
    3. Quan điểm của bạn về cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa miêu tả liệt kê. Lấy ví dụ minh họa. Ưu, nhược điểm của cách tiếp cận đó.
    4. Quan điểm của bạn về cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa lịch sử. Lấy ví dụ minh họa. Ưu, nhược điểm của cách tiếp cận đó.
    5. Quan điểm của bạn về cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa giá trị, chuẩn mực. Lấy ví dụ minh hoạt. Ưu, nhược điểm của cách tiếp cận đó.
    6. Quan điểm của bạn về cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa tâm lí. Lấy ví dụ minh họa. Ưu, nhược điểm của cách tiếp cận đó.
    7. Quan điểm của bạn về cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa cấu trúc. Lấy ví dụ minh họa. Ưu, nhược điểm của cách tiếp cận đó.
    8. Quan điểm của bạn về cách tiếp cận văn hóa theo định nghĩa nguồn gốc. Lấy ví dụ minh họa. Ưu, nhược điểm của cách tiếp cận đó.
    9. Quan điểm của bạn về cách tiếp cận văn hóa theo định nghãi UNESCO. Lấy ví dụ minh họa. Ưu, nhược điểm của cách tiếp cận đó.
    10. Phân tích các đặc tính phổ quát của văn hóa. Lấy ví dụ minh họa.11. So sánh các khái niệm sau: Bản sắc, văn hóa, văn minh. Lấy ví dụ minh họa.
    12. Tại sao khi nghiên cứu về văn hóa phải sử dụng phương pháp hệ thống – chính thể? Lấy ví dụ minh họa.
    13. Tại sao khi nghiên cứu về văn hóa phải sử dụng phương pháp liên ngành? Lấy ví dụ minh họa.
    14. Tại sao khi nghiên cứu về văn hóa Việt Nam phải sử dụng phương pháp logic và phương pháp lịch sử? Lấy ví dụ minh họa.
    15. Nhân học văn hóa là gì? Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam đã sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu và trưng bầy như thế nào?
    16. Phân tích luận điểm sau: “Văn hóa vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế – xã hội”.
    17. Tại sao đại cương về văn hóa Việt Nam lại tập trung vào nghiên cứu văn hóa của các cộng đồng người sinh sống trong phạm vi lãnh thổ của nước CHXHCN Việt Nam hiện nay.
    18. Bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam chính là đối tượng nghiên cứu chủ đạo của bộ môn Văn hóa Việt Nam.
    19. Nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam có tác dụng giáo dục và bồi dưỡng nhân cách như thế nào? Liên hệ với đời sống văn hóa của sinh viên K36 hiện nay.
    20. Nghiên cứu văn học và văn hóa Việt Nam có ý nghĩa gì trong việc lý giải các khuynh hướng lựa chọn cách ứng xử, cách hành động và triết lý sống của người Việt Nam. Liên hệ đời sống văn hóa của sinh viên Luật hiện nay.
    21. …
    22. Phân tích văn hóa Việt Nam từ góc độ “Nhân học – văn hóa”. So sánh … Việt Nam với các nước trong khu vực từ cách tiếp cận này.
  2. Phân tích văn hóa Việt Nam từ góc độ “Tôn giáo”. Sự khác biệt này giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc như thế nào?
    24. Tại sao tôn giáo lại là trụ cột của văn hóa. Việc phân định các nền văn hóa dựa vào tôn giáo trên thế giới hiện nay như thế nào?
    25. Phân tích văn hóa Việt Nam từ góc độ “Giao lưu – tiếp hiến văn hóa”. Nêu những biểu hiện cụ thể trong tiến trình phát triển của văn hóa Việt Nam.
    26. Văn hóa Việt Nam chứa đựng những giá trị phổ quát chung của nhân loại như thế nào? Cần phải làm gì để văn hóa Việt Nam tiếp thu được những giá trị tinh hoa đó?
    27. Vị trí của tôn giáo trong đời sống con người? Bạn có suy nghĩ gì về vấn đề xung đột tôn giáo trước bối cảnh hiện nay?
    28. Phân tích đặc trưng của Phật giáo Việt Nam. Vai trò của Phật giáo đối với xã hội Việt Nam hiện nay?
    29. Phân tích đặc trưng cảu Nho giáo Việt Nam. Vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam hiện nay?
    30. So sánh tôn giáo và tín ngưỡng. Lấy ví dụ minh họa.
    31. Tín ngưỡng “phồn thực” là gì? Tại sao tín ngưỡng phồn thực lại là một yếu tố nổi trội trong văn hóa Việt Nam?
    32. Tại sao tín ngưỡng thờ cúng tổ tiện lại trở thành tín ngưỡng “bản sắc” của người Việt?
    33. Nội dung cơ bản của triết lí âm – dương. Người Việt đã vận dụng triết lí này trong cuộc sống như thế nào?
    34. Phân tích những đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt. Liên hệ những ưu và hạn chế trong văn hóa giao tiếp của sinh viên đại học Luật Hà Nội.
    35. Phân tích những đặc trưng của nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Chúng ta cần phát huy những giá trị nào để ngăn chặn những tác động tiêu cực trong quá trình hội nhập về đời sống văn hóa nghệ thuật ngày hôm nay?
    36. Phân tích kết cấu, ý nghĩa một lễ hội mà bạn đã tham gia.
    37. Phân tích ưu và khuyết của phẩm chất “linh hoạt với mọi tình thế và ứng xử mềm dẻo”. Lấy ví dụ minh họa.
    38. Tâm lí “sống lâu lên lão làng” đề cao chủ nghĩa kinh nghiệm, biểu hiện trong văn hóa nhân cách người Việt như thế nào? Làm gì để khắc phục hạn chế đó?
    39. “Cái tôi” trong nhân cách người Việt có ảnh hưởng gì đến quá trình hình thành “tư cách công dân” ở Việt Nam hiện nay?
    40. Chủ nghĩa “cục bộ địa phương” có ảnh hưởng gì trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay?
    41. Để xây dựng văn hóa đô thị văn minh, hiện đại, chúng ta cần phải vượt qua những trở lực nào trong văn hóa đô thị truyền thống?
    42. Nhà nước – dân tộc là gì? Toàn cầu hóa tác động đến Nhà nước – dân tộc như thế nào?
    43. Phân tích những yếu tố cấu thành chủ nghĩa yêu nước của người Việt.

BÀI TẬP HỌC KỲ ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VN – VĂN HÓA LÀ MỘT BỘ MÔN KHOA HỌC NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA NHƯ MỘT CHỈNH THỂ TỰ BIẾN ĐỔI VÀ PHÁT TRIỂN

LỜI MỞ ĐẦU.

 

Việt Nam là một đất nước đã được hình thành từ hơn bốn nghìn năm trong lịch sử, trong quá trình hình thành và phát triển của mình chúng ta đã tạo nên cho mình một nền văn hóa riêng biệt mang đậm nét Á Đông. Để hiểu hơn về sự biến đổi cũng như phát triển qua thời gian của văn hóa học em xin chọn đề bài: “Văn hóa là một bộ môn khoa học nghiên cứu về văn hóa như một chỉnh thể tự biến đổi và phát triển”, làm đề tài cho bài tiểu luận này!

 

NỘI DUNG

 

  1. Văn hóa học- một bộ môn khoa học nghiên cứu về văn hóa.

 

Cho tới hiện nay người ta thống kê có tất cả hơn 400 định nghĩa về văn hóa, như vậy có thể thấy văn hóa là một khái niệm rất rộng, và để xác định được định nghĩa văn hóa một cách cụ thể thì không hề đơn giản, vì mỗi tác giả, mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những quan điểm riêng của mình về định nghĩa văn hóa dựa trên vấn đề mà họ đã nghiên cứu.

 

Theo GS. Trần Ngọc Thêm :“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.

 

Còn các học giả Mỹ thì lại cho rằng: “ văn hóa là tấm gương nhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”. Và còn rất nhiều các định ngĩa khác về văn hóa.

 

Từ các định nghĩa trên có thể rút ra một khái niệm chung nhât về văn hóa đó là: “ văn hóa là những khuôn mẫu ứng xử chung cho con người và nó do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn hoặc đã có từ trước và nay họ tiếp thu và phát triển hơn”.

 

Hoạt động nghiên cứu về văn hóa là văn hóa là văn hóa học, văn hóa rất đa dạng và phong phú do đó nghiên cứu về văn hóa là vô cùng khó khăn và phức tạp vì nó liên quan tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

 

Văn hóa học là một bộ môn khoa học tương đối mới, nó nghiên cứu văn hóa nói chung và các hiện tượng văn hóa riêng biệt như văn hóa gia đình, tôn giáo, nghệ thuật, lối sống, chính trị, kinh tế, giáo dục v.v… Mục đích của văn hóa học là nghiên cứu để tìm ra tính quy luật của những biến đổi văn hóa- xã hội.

 

 

Ví dụ như văn hóa làng nghề, văn học, ca hát, ăn mặc, ẩm thực…và nhiệm vụ của văn hóa học là nghiên cứu tìm ra những điểm chung, tạo thành 1 thể thống nhất cho văn hóa dân tộc.

 

 

  1. Văn hóa là một chỉnh thể thống nhất.

 

Văn hóa có chủ thể và khách thể là con người nên vô cùng đa dạng và phông phú cho nên phải nhìn nhận văn hóa từ một chỉnh thể thống nhất ta mới có thể lí giải mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội từ đó sẽ hiểu sâu hơn về văn hóa.

 

Văn hóa Việt Nam là cộng đồng văn hóa dân tộc/quốc gia, đây là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người.Khái niệm dân tộc/quốc gia chỉ một quốc gia có chủ quyền, trong đó phần lớn công dân gắn bó với nhau bởi những yếu tố tạo nên một dân tộc.Quan niệm này hiện nay đang là quan niệm chiếm số đông bởi các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong lĩnh vực văn hóa Việt Nam.

 

Văn hóa Việt Nam dưới quan niệm là văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa sắc thái văn hóa tộc người được thể hiện ở ba đặc trưng chính:

 

Đặc trưng thứ nhất: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc anh em có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật.

 

Đặc trưng thứ hai: Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây bắc và Đông bắc. Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ. Từ những vùng đất mới ở Nam Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên.

 

Đặc trưng thứ ba: Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàng nghìn năm nay. Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21. Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

 

Ví dụ:4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam gắn với bao thăng trầm của lịch sử, đất nước, bao cung điện, lầu son gác tía được xây dựng rồi bị tàn phá, mai một, quên lãng. Trong hoàn cảnh đó, một loại hình kiến trúc vẫn sống mãi với thời gian – ngôi nhà sàn mang vẻ bình dị, mộc mạc đã góp thêm nét độc đáo vào kiến trúc Việt Nam.

 

Từ thời vua Hùng khởi nghiệp, nhà sàn đã là nơi cư trú, che nắng, che mưa, ngăn thú dữ, là nơi sum họp gia đình. Ðây là ngôi nhà thích hợp với địa thế dốc và nền đất còn lầy lội. Có hai kiểu nhà sàn được sử dụng ở vùng đất của các vua Hùng (thuộc tỉnh Vĩnh Phú), đó là kiểu nhà có mái cong hình mui thuyền, sàn thấp, không có vách tường ngăn che, đuôi mái gối sát sàn nhà đảm đương nhiệm vụ của tường ngoài. Kiểu thứ hai có mái dốc đổ về hai phía, nghiêng thẳng xuống sàn, phần giữa của mái võng xuống và được trang trí hình chim, thú đẹp mắt.Hai đầu nóc nhà uốn cong, cửa được bố trí ở hai đầu.

 

Ngày nay, thói quen sinh sống trong nhà sàn của người dân miền núi vẫn không thay đổi, hầu như mọi hoạt động đều diễn ra ở đây: thờ cúng tổ tiên, tiếp khách, nấu nướng, ăn uống và đồng thời cũng là nơi thêu thùa, dệt vải, dệt chăn, dệt thổ cẩm… Ngay cả sân phơi cũng được bố trí trên sàn, nó là một phần của ngôi nhà và ở vị trí thấp hơn sàn nhà chính từ 1 đến 2 bậc lên xuống, nhằm cách biệt với không gian chính. Phía dưới nhà sàn thường để trống hoặc chỉ quây lại một phần nhỏ để nhốt gia súc, gia cầm.

 

Nhìn chung, vật liệu để xây cất nhà sàn rất đơn giản, thường là gỗ, song, mây, tre, bương, vầu… được khai thác trong các rừng nhiệt đới. Tuy được dựng từ những vật liệu đơn sơ như vậy, nhưng nhà sàn vẫn rất vững chãi nhờ sự hợp lý trong việc tạo tỉ lệ trong kết cấu khung gỗ. Mái của nhà sàn thường có độ dốc lớn, có dạng 2 mái, 3 mái hay 4 mái với vật liệu để lợp thường là lá gồi, tranh hay ngói âm dương… Việc tạo độ dốc lớn như vậy nhằm tạo điều kiện cho nước mưa thoát đi nhanh nhất, đồng thời tận dụng không gian trong bằng cách gác thêm các tấm ván để chứa ngô, khoai, thóc, lúa.Trong nhà sàn, một trong những bộ phận được coi là quan trọng nhất là bếp. Ngoài việc phục vụ cho đun nấu, bếp còn là nơi đốt lửa sưởi ấm cho toàn bộ ngôi nhà, giữ cho mọi thứ được khô ráo, tránh được ẩm thấp của khí hậu miền rừng núi. Thường trong nhà sàn, bếp được đặt ở chính giữa, đây cũng chính là nơi cả gia đình tụ họp sau một ngày lao động, bởi thế bếp trở nên thân thương gần gũi, song cũng vô cùng thiêng liêng đối với mỗi con người.

 

Nhà sàn của người Tày, Nùng ở Tây Bắc Việt Nam (Lạng Sơn, Cao Bằng) thường được làm tựa lưng vào đồi núi, mặt hướng ra phía ruộng đồng và cảnh trí thiên nhiên thoáng đãng, rộng rãi, tránh núi non, sông ngòi, bụi cây có hình thù kỳ bí. Ðiều này xuất phát từ quan niệm của người Tày, Nùng cho rằng, mỏm núi hình mũi tên hướng vào nhà thì mọi người trong nhà sẽ hay gặp phải tai nạn, thương vong; bụi cây có hình thù của thú dữ sẽ làm cho gia cầm chăn nuôi hay bị chết, bị bắt; còn một dòng suối chảy qua nhà sẽ làm gia đình bị mất của… Mặt bằng nhà sàn của người Tày, Nùng thường có bề ngang hẹp và lòng nhà sâu, trong nhà có từ 7 đến 9 hàng cột. Các ngôi nhà trong bản thường được dựng song song với nhau và chạy theo triền đồi.

 

Với người Việt, các ngôi nhà của họ lại dàn trải theo chiều ngang do được làm ở vùng đất bằng phẳng hơn. Nhà sàn của người Việt có thang chính lên sàn ở bên phải, và một thang phụ ở bên trái. Tường vách của nhà bằng ván mỏng hoặc phên nứa với kết cấu vì kèo có cột chống thẳng lên nóc, xen giữa 2 cột là 1 hay 2 trụ hình quả bầu, còn mái nhà phần lớn có dạng 4 mái. Việc phân định khu vực trong nhà sàn cũng rõ rệt, phần nhà ngoài bên phải là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, nơi tiếp khách và là nơi ở của nam giới, còn nữ giới thường ở phần bên trái.

 

Nhà sàn của người Mường mang đặc điểm của cả 2 loại nhà sàn của người Việt và Tày, Nùng.Người Thái lại có kiểu nhà sàn riêng. Tất cả các ngôi nhà trong bản làng người Thái đều hướng về một ngọn núi vút cao, cây cối tươi xanh, thể hiện cho sức sống mãnh liệt, bất diệt, đồng thời rất kiêng ngôi nhà của mình hướng vào khoảng giữa của 2 quả núi. Cũng như các dân tộc khác nhà của người Thái cũng có hướng Bắc – Nam. Tuy nhiên, nét khác biệt là mặt bằng được chia làm 2 phần, phần trên là nơi khách lạ không bao giờ được đặt chân tới, đây là nơi thờ cúng tổ tiên và là nơi ngủ, nghỉ ngơi của tất cả các thành viên trong gia đình. Phần dưới là nơi tiếp khách, nấu nướng, ăn uống và làm các công việc khác: dệt vải, quay sợi…

 

Nhà sàn của người Thái thường có 2 cửa ra vào, được bố trí ở 2 đầu hồi, cửa ở đầu hồi bên trái được gọi là cửa “chán”, còn cửa ở đầu hồi bên phải được gọi là cửa “quản”. Người nhà thì được qua lại ở cả 2 cửa, nhưng với khách thì lại khác, nếu khách là nam thì qua lại bằng cửa “quản”, còn nữ thì ở cửa “chán”, rể mới đến ở thì được bố trí ngủ dưới mái đầu hồi phía phải được gọi là “táng quản”. Ở đầu hồi còn lại, người Thái bố trí một sàn phơi ngô, sắn, quần áo gọi là “táng chán”, xung quanh có lan can bằng gỗ chắc chắn. Nhà sàn của người Thái còn có hệ thống cửa sổ hay còn gọi là “tủ tang” rất đẹp mắt, được bố trí ngay sát sàn nhà, thường có kích thước 60cm x 100cm, có chấn song gỗ cao 60cm và có 2 cánh. Mái nhà sàn của Thái cũng được làm hết sức độc đáo, thường là 4 mái, 2 mái phẳng hình chữ nhất, đổ nghiêng sang hai bên và 2 mái cong hình quạt ở 2 đầu hồi.

 

Còn ở Tây Nguyên, các bản làng người Bana, Xêđăng, Giarai… có nhà Rông với mái vút cao, dốc tựa hình lưỡi rìu ngửa lên trời; bờ nóc hình cung có nhiều hình trang trí rất đẹp, là nơi tụ họp, sinh hoạt của cả buôn làng, tựa như ngôi đình làng của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ. Trước nhà rông là một sàn gỗ dài và rộng không lợp mái, như một tiền sảnh của ngôi nhà. Người Êđê ở Ðắk Lắk lại không có nhà Rông, họ sống theo kiểu “mẫu hệ” trong các ngôi nhà sàn thường được gọi là nhà dài, với nhiều gia đình nhỏ. Người Êđê quan niệm phía Ðông là phía trên, là nơi bố trí các phòng ngủ, chỗ ngồi của chủ nhà… còn phía Tây là phía dưới. Nhà sàn của người Êđê không có vì kèo, chỉ có các hàng cột, 2 đầu mái nhô ra 1 – 1,5m, mái nhà hình thang cân, phần dài ở trên, phần ngắn ở dưới. Trong nhà của người Êđê, gian khách thường chiếm một không gian rất rộng, có 4 cây cột chính là cột chủ, cột khách, cột trống và cột chiêng, trong gian khách thường có các ghế khách làm bằng những cây đại thụ dài 27 – 30m được trang trí nhiều hoa văn đẹp.

 

Dù chỉ là những ngôi nhà ở dung dị, nhưng nhà sàn lại gắn kết với thiên nhiên, chở che con người và mang đến vẻ đẹp của sự bình yên giữa thiên nhiên hùng vĩ.

 

III. Văn hóa tự biến đổi và phát triển.

 

Văn hóa không thể tồn tại vĩnh cửu cùng thời gian mà nó luôn luôn có sự biến đổi. Như đã nói ở trên văn hóa trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau và cho tới hiện nay sản phẩm của thời gian là những nền văn hóa tiến bộ mà chúng ta đang tiếp thu, cũng không đồng nghĩa rằng chúng ta chỉ tiếp thu mà không sáng tạo, vì nói rộng ra thì văn hóa gắn liền với hoàn cảnh kinh tế và xã hội cho nên nó luôn biến đổi và phát triển.

 

Ta không thể mang nền văn hóa từ thời kì phong kiến vào đời sống hiện tại, ví dụ thời phong kiến phụ nữ nhuộm răng đen là một nét đẹp, nhưng ngày nay chúng ta không chấp nhận điều đó, bây giờ phải là răng trắng mới là đẹp.

 

Năm quan mua lấy miệng cười

Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen.

 

Xã hội biến đổi phát triển thì kéo theo một quy luật tất yếu là các sản phẩm tinh thần cũng biến đổi theo. Hiện nay trong thời kì giao lưu tiếp biến văn hóa, văn hóa Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội như quảng bá văn hóa Việt Nam với bạn bè thế giới, tiếp thu những nền văn hóa tiến bộ…nhưng bên cạnh đó thì cũng có vô vàn khó khăn thử thách đó là sự sâm lăng của nền văn hóa dẫn tới mất dần đi bản sắc văn hóa dân tộc, hòa nhập mà không hòa tan!

 

KẾT LUẬN

 

Như vậy có thể thấy văn hóa Việt Nam là một chỉnh thể có tính thống nhất tương đối cao. Tuy mỗi vùng miền trên đất nước lại có những phong tục tập quán riêng, nhưng nó không phá vỡ đi tính thống nhất mà nó làm cho nền văn hóa của chúng ta càng đa dạng và phong phú hơn, và văn hóa sẽ biến đổi theo thời gian.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

 

  1. Cơ sở văn hóa Việt Nam- Trần Quốc Vượng-nxb Giáo Dục năm 1997
  2. Cơ sở văn hóa Việt Nam- Trần Ngọc Thêm-nxb Giáo Dục.
  3. http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/van-hoa-va-phat-trien/2228-nguyen-ngoc-hoa-nhung-thach-thuc-trong-giao-luu-van-hoa-va-hoi-nhap-hien-nay.html
  4. http://www.cuocsongviet.com.vn/index.asp?act=detail&mabv=5491
  5. http://www.slideshare.net/phamvantam245/vn-ha-vit-nam-thng-nht-trong-a-dng

 

NHU CẦU CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY – BÀI TẬP HỌC KỲ ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM

Toàn cầu hóa là xu thế không thể cưỡng lại đối với tất cả các quốc gia. Chủ động để hội nhập là một thái độ tích cực, khôn ngoan. Chủ động hội nhập là khẳng định đường hướng có chiến lược, có chiến thuật, có kế hoạch cho từng bước đi. Đồng thời có thể khai thác được nhiều nhất những thuận lợi, những cơ hội để dân tộc có nhiều lợi ích nhất và có thể hạn chế được mức thấp nhất những thách thức, những tiêu cực nảy sinh.

 

Văn hóa là hồn cốt của một dân tộc. Vậy nên nhu cầu nghiên cứu văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa trở nên quan trọng và cấp thiết. Nó có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội như: Chính trị, kinh tế, khoa học…

 

NỘI DUNG

 

  1. KHÁI NIỆM CƠ BẢN

 

  1. KHÁI NIỆM VĂN HÓA

 

Ngay từ giữa thế kỉ, năm 1952, hai nhà văn hóa học Hoa Kì A.Kroeber và C.Kluckholn đã thống kê được 150 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Ngày nay, số lượng các định nghĩa đó đã tăng lên rất nhiều( trên 300 định nghĩa). Gần đây, UNESCO đã đưa ra định nghĩa chính thức về văn hóa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống( của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó các dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.”

 

  1. KHÁI NIỆM TOÀN CẦU HÓA

 

Thuật ngữ toàn cầu hóa đã được xuất hiện vào những năm 1950, với sự phổ biến của các phương tiện giao thông vận tải có động cơ và sự gia tăng các trao đổi thương mại, nó được chính thức sử dụng rộng rãi từ những năm 1990.

 

“Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa ,kinh tế…trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hóa hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay “ tự do thương mại” nói riêng. Cũng ở góc độ kinh tế , người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kĩ thuật, công nghệ, thông tin, văn hóa…”

 

  1. KHÁI NIỆM TOÀN CẦU HÓA VĂN HÓA

 

Dưới tác động của toàn cầu hóa, cùng với những thay đổi mang tính cách mạng trong khoa học công nghệ, thì sự giao lưu, mức độ tác động qua lại giữa các nền văn hóa đã thay đổi về chất, đến độ, không ít học giả coi sự tương tác và giao lưu văn hóa trong thời đại ngày nay là toàn cầu hóa văn hóa.

 

Toàn cầu hóa văn hóa vẫn còn là vấn đề đang gây nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu. Bởi lẽ, có không ít người cho rằng : xu hướng của mọi quá trình toàn cầu hóa là đi đến nhất thể hóa. Nói cách khác, chỉ những quá trình nào dẫn đến sự kiến tạo nên các hệ chuẩn mực chung cho toàn nhân loại thì mới được gọi là toàn cầu hóa. Và một khi toàn cầu hóa được hiểu như vậy thì sẽ không thể có toàn cầu hóa văn hóa. Vì rằng, thế giới trong đó chúng ta đang sống là một di sản văn hóa đặc biệt, ràng buộc chúng ta với tổ tiên và con cháu chúng ta, và phân biệt chúng ta với các thành viên của nền văn hóa khác.

 

Tuy nhiên, nhiều học giả lại có quan điểm khác. Theo đó, toàn cầu hóa chỉ đơn giản là quá trình mở rộng phạm vi giao tiếp và trao đổi giữa người với người đạt đến cấp độ toàn thế giới. Với quan niệm này thì toàn cầu hóa là khái niệm hoàn toàn co thể chấp nhận được và có thể hiểu như sau: “ Toàn cầu hóa văn hóa phản ánh không chỉ xu hướng nhất thể hóa các chuẩn giá trị mà còn bao hàm tất cả những hậu quả khả dĩ do giao lưu và tương tác văn hóa đem lại, cụ thể như: sự dung nạp lẫn nhau giữa các yếu tố của các nền văn hóa khác nhau để hình thành nên hệ giá trị chuẩn chung cho toàn nhân loại; sự va chạm và đụng độ giữa các nền văn hóa ở cấp độ toàn cầu; xu hướng bài ngoại, chủ nghĩa biệt lập văn hóa…”

 

  1. TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI

 

VĂN HÓA VIỆT NAM

 

  1. TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC

 

Nhờ sự mở rộng giao lưu văn hóa, Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp thu một cách có chọn lọc những tinh hoa của nền văn hóa , văn minh nhân loại để làm giàu kho tàng văn hóa dân tộc. Bằng cách đó, những yếu tố văn hóa tiến bộ được dung nạp và những yếu tố văn hóa lạc hậu lỗi thời đang kìm hãm sự phát triển bị loại bỏ _ trong khi diện mạo văn hóa riêng của Việt Nam vẫn được khẳng định.

 

Toàn cầu hóa tạo nên cơ sở để chúng ta tăng cường đầu tư nhiều hơn nữa vào giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, củng cố ý thức cộng đồng, đẩy mạnh dân chủ và đa dạng hóa văn hóa để chuẩn bị chuyển sang một nền kinh tế mới _ nền kinh tế dựa vào tri thức.

 

  1. TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC

 

Trong quãng thời gian hội nhập văn hóa thế giới quả là cuộc đấu tranh quyết liệt. Đánh giá về thành tựu hội nhập văn hóa có nhiều ý kiến khác nhau, không được đồng thuận như khi chúng ta đánh giá về thành tựu đổi mới kinh tế. Điều này chứng tỏ quá trình hội nhập văn hóa của chúng ta có nhiều vấn đề non yếu . Không ai phủ nhận sau những năm đổi mới, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta được nâng cao, được mở rộng phong phú, đa dạng và giàu có hơn nhiều. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, bên cạnh những mặt tích cực đó thì nhiều mặt hạn chế của đời sống xã hội cũng nảy sinh . Đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, đồi sống văn hóa bị lai căng, nhiều chuẩn mực xã hội không còn được tôn trọng, một số mặt xấu được duy trì công khai, nhiều tệ nạn không ngăn chặn được…

 

Riêng về lĩnh vực văn học – nghệ thuật, văn chương nghệ thuật thế giới ồ ạt tràn vào nước ta, cả những tác phẩm hay lẫn những tác phẩm dở. Văn hóa bạo lực, tình dục hiên ngang thách thức những tuần phong mĩ tục của văn hóa dân tộc. Những món hàng ăn liền rẻ tiền tấn công những giá trị sâu sắc, thâm nghiêm. Những tính chất văn chương ngoại lai đó đôi khi có sức mạnh chiếm lĩnh hẳn được bộ phận làm nhiệm vụ sáng tạo, biểu diễn và bộ phận công chúng đông đảo. Nhiều khi nó lại đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu khá rầm rộ.

 

III. NHU CẦU NGHIÊN CỨU VĂN HÓA TRONG

 

BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA

 

TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ

 

Nói tới chính trị chúng ta đề cập tới vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm. Nó có thể gây bất đồng nơi nhiều người từ những lý thuyết, quan điểm và thực tiễn. Bất đồng về tư tưởng, về các đường lối chính sách và việc phân chia quyền lực. Chính trị nhiều lúc cũng bị thao túng và biến tướng. Nó tạo lập những tập đoàn quyền lực làm khuynh đảo cuộc sống xã hội . Gần đây nhiều nhà trí thức cũng như một vài tổ chức văn học nghệ thuật chủ trương rằng: Hoạt động văn hóa phải hoàn toàn tách khỏi môi trường chính trị. Một điều đáng chú ý là có nhiều diễn đàn, hội văn hóa thường lên tiếng cổ vũ cho vấn đề này.

 

Hai lĩnh vực văn hóa và chính trị bất luận dưới thời kì nào cũng phải được kết hợp dung hòa, đồng thời bổ túc lẫn nhau để đưa đời sống con người đến Chân – Thiện – Mĩ( nhân bản, tự do) hoặc phục vụ tối đa cho quyền lực nhà nước.

 

Vậy dựa vào chế độ chính trị để làm nền tảng phát triển văn hóa hay dùng văn hóa để cải tạo và xây dựng chế độ. Dù hiểu cách nào thì văn hóa và chính trị là hai hành động luôn song hành mật thiết với nhau. Đất lành sinh trái ngọt hoặc nói ngược lại, cây tốt khó mọc từ bùn nhơ. Vậy chế độ chính trị tốt tự nhiên sẽ nảy sinh nền văn hóa tự do và nhân bản và ngược lại, nếu một nền văn hóa nô bộc chắc chắn sẽ khiến chế độ ngày càng độc tài, thối nát. Qua điều này, có thể chứng minh hai lĩnh vực văn hóa và chính trị có mối liên hệ mật thiết với nhau. Do đó, chính trị không thể tách rời khỏi văn hóa. Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay văn hóa có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống chính trị.

 

Khi hội nhập nền văn hóa của dân tộc với nền văn minh nhân loại, chúng ta tiếp thu được hiều thành tựu rực rỡ, tiến bộ. Đây là điều kiện cơ sở cần thiết để xây dựng thiết chế chính trị tiến bộ

 

Không thể hạn chế nền văn hóa của một dân tộc vỏn vẹn chỉ nằm trong phạm vi van chương, ngôn ngữ và nghệ thuật mà cần phải đề cập đến truyền thống, phong tục tập quán, tôn giáo, ẩm thực…Tương tự đối với hoạt động chính trị, không nên gò bó bằng những hình thức bên ngoài, hội họp, xuống đường hô hào mà phải nghĩ đến những mục đích tối hậu của các hành động trên. Vậy để được khách quan ,cần nghiên cứu nhiều chi tiết và lĩnh vực khác nhau trong đường hướng phục vụ đời sống tinh thần lẫn vật chất của con người để những người làm chính trị có lối nhìn bao quát hơn. Ngoài ra, cũng nên tìm hiểu những hành động chính trị một cách rộng rãi trong các chương trình tranh đấu, xây dựng, bảo vệ lý tưởng, sự toàn vẹn quê hương và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam để những suy ngĩ của người làm văn hóa khỏi bị lệch lạc.

 

Chúng ta không thể khách quan xem việc bảo tồn văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá mộtcách đơn giản, vì nền văn hóa của tổ tiên để lại đã bị tổn hại. Việc bảo tồn văn hóa của chúng ta không thuận buồm xuôi gió mà phải đương đầu trực diện trước một cuộc chiến khốc liệt, không ranh giới, không quy ước…Không thể thuần túy và đơn giản kêu gọi giới trẻ theo học Tiếng Việt, nghe một buổi thuyết trình hay đọc vài cuốn sách là xong viêc bảo tồn và phát triển văn hóa như chương trình của một vài tổ chức đã đề ra. Nếu chỉ có thế thì không khác gì chúng ta mời giới trẻ đến xem một cuộc triển lãm, nghe một chương trình ca nhạc rồi ai lại về nhà nấy. Như vậy, làm văn hóa trong tình hình chính trị hiện nay thì chẳng đi đến đâu mà còn mang lại một kết quả ngược chiều. Điều quan trọng là phải biết tạo cho mọi người, nhất là thành phần trẻ có một tinh thần yêu nước, biết đâu là nguồn gốc dân tộc, đâu là lịch sử oai hùng, đâu là di sản của tổ tiên. Phải làm thế nào cho giới trẻ hiểu được nỗi khổ tâm kẻ ra đi, cũng như cảm thông thân phận của người ở lại, phải biết đâu là chinh nghĩa , đâu là con đường phải tiến tới để mai kia quay về phục vụ quê hương.

 

Trước các chương trình đầu độc ru ngủ qua văn hóa của các tổ chức phản động, chúng ta phải mượn con đường chính trị để phát huy tính nhân bản, chống lại văn hóa phản động, dùng tôn giáo đối đầu văn hóa vô thần, lấy tình người cải tạo văn hóa loài thú.

 

Trong lúc địch ru ngủ chúng ta bằng thứ văn hóa phản động, mà những người làm trong cộng đồng làm văn hóa bằng hình thức thụ động chống đỡ hoặc chạy theo chiêu bài loại chính trị ra khỏi văn hóa thì không khác gì chưa ra trận chúng ta đã đầu hàng vô điều kiện. Tóm lại, trong hoàn cảnh hiện tại chúng ta không thể tách rời “chiến tranh văn hóa” ra khỏi “chiến tranh chính trị”. Hai mặt trận phải song song hỗ trợ cho nhau để đối đầu với lực lượng phản động khi chúng dùng văn hóa để phục vụ mưu đồ chính trị bất chính.

 

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc là mục tiêu hướng tới của văn hóa Việt Nam. Đó cũng là cơ sở để Việt Nam xây dựng được nền chính trị tiến bộ, ổn định trước những thay đổi to lớn trong quá trình toàn cầu hóa.

 

TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ

 

Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa ngày càng mở rộng, kinh tế và văn hóa có thể được xem là hai nguồn lực lớn nhất quy định hành vi của con người. Mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa không chỉ thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu mà còn của nhiều Chính phủ và các tổ chức quốc tế. Ở nước ta, trong mối quan hệ này, Đảng cộng sản Việt Nam cũng khẳng định kinh tế phát triển là cơ sở để xây dựng và phát triển nền văn hóa. Đồng thời, Đảng ta đã đưa ra quan điểm: “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội”.

 

Sự phát triển kinh tế phải hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp để phục vụ con người, phục vụ nhân dân. Mặt khác, cần khai thác văn hóa như một động lực, như một nguồn lực để phát triển , điều tiết nền kinh tế. Ở nước ta, sự khởi sắc của nền kinh tế hàng hóa trong những năm vừa qua và cả nhũng hiện tượng tiêu cực nảy sinh từ sự khởi sắc ấy càng làm chúng ta nhận thức rõ hơn tính hai mặt của kinh tế thị trường khi xét từ góc độ văn hóa đạo đức. Vậy chốt an toàn cho sự phát triển nền kinh tế hàng hóa dưới chủ nghĩa xã hội là ở đâu? Phải chăng là ở chỗ: sức lao động của con người có thể trở thành hàng hóa, nhưng bản thân con người – với lý tưởng, niềm tin, phẩm chất và nhân cách, “vốn là quả tim đích thực của một nền văn hóa” không thể coi như hàng hóa. Bởi vì giá trị của con người, giá trị của văn hóa không thể đo bằng giá trị sức lao động làm ra nó. Trong kinh tế, “ tiền nào của ấy”. Trong văn hóa không hẳn như vậy. Gía trị đích thực của một sản phẩm văn hóa phụ thuộc chủ yếu vào tâm hồn và tài năng của người sáng tạo ra nó. Sản phẩm văn hóa không phải bao giờ cũng hao mòn vô hình và hữu hình như kinh tế. Có những kiệt tác văn hóa nghệ thuật mà thời gian tồn tại càng dài thì giá trị của chúng càng được nhân lên cùng với sự phát triển trình đọ cảm thụ thẩm mĩ của con người.

 

Vì thế không thể đồng nhất giản đơn “cái kinh tế” và “cái văn hóa” , mặc dù chúng có mối quan hệ với nhau. Từ đó, không thể máy móc đòi hỏi trong văn hóa cũng phải hạch toán toàn bộ như trong nền kinh tế. Nếu kinh tế hóa, thương mại hóa nền văn hóa thì tất yếu sẽ dẫn đến xu thế chạy theo những thị hiếu tầm thường, có thể nhất thời thu được một số lợi ích kinh tế nào đó, nhưng về lâu dài thì sẽ thua lỗ lớn về mặt đạo đức xã hội, có khi của cả một thế hệ.

 

Tóm lại, bên cạnh luật pháp, văn hóa phải đóng vai trò điều tiết tinh thần cho sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng chủ nghĩa xã hội. Nó phải định hướngcho việc khai thác những nhân tố tích cực và hạn chế những nhân tố tiêu cực trong nền kinh tế. Theo chuẩn mực của cái đúng , cái tốt, cái đẹp, văn hóa phải dùng sức mạnh đạo lí để hạn chế khả năng đồng tiền xuất hiện với tính cách là lực lượng có tác dụng xuyên tạc ấy đối với cá nhân, cũng như đối với những liên hệ xã hội và những liên hệ khác. Làm được như thế thì đồng tiền không thể mua được tất cả. Trái lại, tình yêu chỉ có thể đáp ứng bằng tình yêu, người hiền tài mới có thể sử dụng được người hiền tài. Sự cao quý trong xã hội phải dựa trên phẩm giá và tài năng. Cái đẹp chỉ có thể được sáng tạo và cmr thu bằng bộ óc và trái tim của người được giáo dục về thẩm mĩ….

 

TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC

 

Theo nhiều dự báo, với những phát minh, sáng chế kì diệu của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại về điện tử, vi điện tử, tin học, năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học,công nghệ vật liệu mới…loài người sẽ bước vào ngưỡng cửa của một nền văn minh mới trong thế kỉ sau. Tùy theo hệ quy chiếu, người ta gọi đó là “ văn minh trí tuệ” , “văn minh tin học hóa” , “văn minh hậu công nghiệp”….

 

Tình hình ấy đặt nước ta và các nước đang phát triển trước những thách

 

thức to lớn , đồng thời cũng có những thời cơ thuận lợi.

 

Chậm chễ, không nắm bắt và ứng dụng được những thành quả khoa học và công nghệ hiện đại vào các lĩnh vực sản xuất và đời sống, thì khoảng cách về trình độ phát triển cơ sở vật chất – kĩ thuật giữa nước ta và các nước công nghiệp tiên tiến ngày càng được dãn ra. Khoảng cách này cũng không thể euts ngắn được nếu chúng ta định đuổi kịp các nước đó bằng chính con đường mà họ đã đi qua.

 

Chẳng hạn, trong lĩnh vực công nghiệp, trí thức mới và sự khôn ngoan đoi hỏi chúng ta phải dứt khoát từ bỏ con đường hiện đại hóa theo kiểu cũ, dẫn đến chỗ làm cạn kiệt tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường sinh thái, để sớm chuyển sang con đường công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa bằng cách khai thác lợi thế của nước đi sau, tranh thủ tiếp nhận và ứng dụng nhanh những tiến bộ kĩ thuật và công nghệ thích hợp của thế giới. Đồng thời chúng ta phải ra sức phát huy trí thông minh, óc sáng tạo của con người Việt Nam để có thể đi tắt đón đầu một số hướng ưu tiênmaf chúng ta có khả năng về công nghệ cao nhằm đuổi kịp các nước đi trước

 

Trong nông nghiệp, với cách tiếp cận của khoa học hiện đại, chúng ta có thể kế thừa những nhân tố tích cực những kinh nghiệm quý báu của nền văn minh lúa nước cổ truyền của ông cha ta để tiến lên nền văn minh công nghiệp mới. Nền văn minh này định hướng chủ yếu vào sự tận dụng không gian sinh thái ba chiều, sử dụng các nguồn năng lượng và tài nguyên tái sinh, khai thác kho gen vô tận của giới động vật và thực vật trên cơ sở những thành tựu của công nghệ sinh học

 

Nhân đây cũng cần nói thêm rằng, theo truyền thống văn hóa của nhiều nước phương Đông và cũng là theo quan điểm hiện đại, trong phát triển công nghiệp, nông nghiệp và tổ chức đời sống của mình, con người cần đối xử nhân hậu với thiên nhiên, yêu thiên nhiên như yêu chính bản thân mình, bởi thiên nhiên là thân thể mở rộng của con người

 

Thái độ ứng xử có văn hóa ấy phải được quán triệt trong việc quy hoạch đô thị và nông thôn, khôi phục lại cân bằng sinh thái ở các vùng dân cư , thiết kế và thi công nhà ở, trường học, xí ngiệp, cơ quan…nhằm tạo nên sự hài hòa giữa môi trường xã hội và môi trường thiên nhiên, qua đó bồi dưỡng thêm lòng yêu quê hương đất nước, tăng thêm giá trị nhân bản của tâm hồn và lối sống Việt Nam.

 

KẾT LUẬN

 

Nền văn hóa Việt Nam trong bốn nghìn năm lịch sử tồn tại và phát triển đã thể hiện sức sống mãnh liệt. Âm mưu đồng hóa của những nền văn hóa lớn hết đợt sóng này đến đợt sóng khác cũng không xóa được bản lĩnh văn hóa Việt Nam. Có thể nói, nền văn hóa Việt Nam đã được tôi luyện và có sức đề kháng cao. Điều này cho chúng ta tin tưởng vào chặng đường phát triển sắp tới của văn hóa dân tộc, ho chúng ta bình tĩnh và tự tin trong vườn hoa cỏ dại và nấm độc. Tuy cỏ dại và nấm độc tường nảy nở và sinh sôi rất nhanh nhưng nếu có người làm vườn tinh mắt và chăm chỉ sẽ phát hiện và nhổ được tận gốc, để vườn hoa văn hóa Việt Nam chỉ còn hoa thơm đua sắc

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Phạm Thái Việt, Đào Ngọc Tuấn. Đại cương về văn hóa Việt Nam. Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội 2004.

 

Phạm Xuân Nam. Văn hóa vì phát triển. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998.

 

Bùi Đình Phong. Mấy suy nghĩ về văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tạp chí văn Nghệ số 12, 2001.

PHÂN TÍCH KẾT CẤU, Ý NGHĨA MỘT LỄ HỘI MÀ BẠN ĐÃ THAM GIA

Bài tập học kỳ Đại cương văn hóa Việt Nam.

 

Đã từ bao đời nay, câu ca dao quen thuộc vang mãi trong tâm khảm của mọi người mỗi khi về thăm viếng Mộ Tổ và dự lễ hội Đền Hùng:

 

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba

Khắp miền truyền mãi câu ca

Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.”

Cây có gốc. Nước có nguồn. Chim tìm tổ. Người tìm tông. Người Việt Nam vốn có truyền thống, đạo lý sâu sắc về cách ứng xử với các bậc tiền nhân và thế hệ đi trước bằng triết lý: “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”…

 

Chính vì vậy mà các thế hệ nối tiếp nhau luôn tôn kính và biết ơn những người đã có công khai sinh ra đất nước, dân tộc, biết ơn Tổ tiên, gia đình và dòng họ. Từ truyền thống, đạo lý đó đã phát triển thành một hệ ý thức văn hóa tinh thần của tín ngưỡng dân tộc độc đáo đó là tín ngưỡng thờ cũng Tổ tiên của mỗi dòng họ và thờ cúng Tổ tiên chung của cả dân tộc: Tín ngưỡng thờ tự các Vua Hùng – những người đã có công tạo dựng cơ đồ Việt Nam ngày nay.

 

Lễ hội Đền Hùng là một trong những lễ hội mà tôi đã được trực tiếp tham gia, bằng những hiểu biết của mình sau đây tôi xin phân tích lễ hội Đền Hùng qua đề tài: “Phân tích kết cấu, ý nghĩa một lễ hội mà bạn đã tham gia”.

 

B,Nội dung của Lễ hội Đền Hùng

 

I, Lịch sử hình thành của lễ hội Đền Hùng

 

Lễ hội Đền Hùng và giỗ Tổ Hùng Vương được bắt nguồn từ thời đại Hùng Vương dựng nước, là thời kỳ lịch sử có thật trong tiến trình dựng nước và giữ nước hàng mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Sự ra đời và tồn tại lâu dài của Đền Hùng và lễ hội Đền Hùng cùng với tín ngưỡng giỗ Tổ Hùng Vương là sự khẳng định niềm tin vào truyền thống dựng nước và giữ nước đối với các thế hệ cha ông đi trước đã đổ biết bao công sức và xương máu để có đất nước ta như bây giờ. Chính từ ý nghĩa tâm linh thiêng liêng ấy mà lễ hội Đền Hùng đã trường tồn với thời gian, trường tồn cùng lịch sử dân tộc trong suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước.

 

Lễ hội Đền Hùng là một lễ hội lớn mang tính quốc gia để tưởng nhớ các vua Hùng đã có công dựng nước. Phong tục giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành truyền thống văn hoá lâu đời ở nước ta. Đó là ngày hội toàn quốc, toàn dân và trong tâm thức dân gian Việt Nam nó mang tính thiêng liêng cao cả nhất. Vì thế mà lễ hội được tổ chức long trọng hàng năm với nghi thức đại lễ quốc gia, với sự hành hương “trở về cội nguồn dân tộc” của hàng chực vạn người từ khắp các nơi trong nước và kiều bào sống ở nước ngoài.. Hội đền Hùng kéo dài từ mùng 8 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch, trong đó mùng 10 là chính hội. Lễ hội diễn ratại đền Hùng, Phú Thọ.

 

II, Kết cấu của lễ hội Đền Hùng

 

Cũng như mọi lễ hội khác ở đồng bằng Bắc Bộ, ở lễ hội đền Hùng gồm có 2 phần : Phần lễ và phần hội.

 

  1. a) Phần tế lễ được cử hành rất trọng thể mang tính quốc lễ. Lễ vật dâng cúng là “lễ tam sinh” (1 lợn, 1 dê và 1 bò), bánh chưng, bánh dày và xôi nhiều màu, nhạc khí là trống đồng cổ. Sau khi một hồi trống đồng vang lên, các vị chức sắc vào tế lễ dưới sự điều khiển của chủ lễ. Tiếp theo đến các cụ bô lão của làng xã sở tại quanh đền Hùng vào tế lễ. Sau cùng là nhân dân và du khách hành hương vào tế lễ trong các đền thờ, tưởng niệm các vua Hùng.

 

  1. b) Phần hội là phần tiếp theo của lễ tế. Ở lễ hội đền Hùng năm nào cũng tổ chức cuộc thi kiệu của các làng xung quanh. Với sự xuất hiện của các đám rước linh đình mà không khí lễ hội trở nên tưng bừng náo nhiệt hơn. Các cỗ kiệu của các làng phải tập trung trước vài ngày thì mới kịp cuộc thi. Nếu như cỗ kiệu nào đoạt giải nhất của kỳ thi năm nay, thì đến kỳ hội sang năm được thay mặt các cỗ kiệu còn lại, rước lên đền Thượng để triều đình cử hành quốc lễ. Vì vậy, cỗ kiệu nào đoạt giải nhất thì đó là niềm tự hào và vinh dự lớn lao của dân làng ấy. Bởi họ cho rằng, đã được các vua Hùng cùng các vị thần linh phù hộ cho nhiều may mắn, nhân khang, vật thịnh… Tuy nhiên, để có được đám rước các cỗ kiệu đẹp lộng lẫy phải chuẩn bị rất công phu và chu đáo từ trước. Những khó khăn vất vả của dân làng đã thôi thúc họ vượt qua được để đến với cái linh thiêng cao thượng và hướng về Tổ tiên giống nòi. Đó là đời sống tâm linh của dân chúng, được biểu hiện rõ nét qua một hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian cổ truyền mang tính cộng cảm với cộng mệnh sâu sắc. Sinh hoạt văn hóa dân gian này đã thành nhu cầu không thể thiếu được đối với các cộng đồng làng xã cư trú quanh đền Hùng.

 

Mỗi một đám rước kiệu có 3 cỗ kiệu đi liền nhau. Chúng đều được sơn son thiếp vàng, chạm trổ rất tinh xảo. Sự bày biện trang trí trên cỗ kiệu cũng rất khéo léo và đẹp mắt. Cỗ kiệu đi đầu bày hương hoa, đèn nhang, trầu cau, chóe nước và bầu rượu. Cỗ kiệu thứ 2 có đặt hương án, bài vị của Thánh, có lọng và quạt cho với nhiều sắc màu trang hoàng tôn nghiêm. Cỗ thứ 3 rước bánh chưng và bánh dày, 1 cái thủ lợn luộc để nguyên, đi sau 3 cỗ kiệu này là các vị quan chức và bô lão trong làng. Các vị chức sắc thì mặc áo thụng theo kiểu các bá quan triều đình, còn các cụ bô lão cũng mặc áo thụng đỏ, hoặc mặc quần trắng, áo the, đầu đội khăn xếp. Trong hội đền Hùng, nhân ngày giỗ Tổ có tiến hành nghi lễ hát thờ (tục gọi là hát Xoan). Đây là một lễ thức rất quan trọng và độc đáo. Dân gian truyền rằng hát Xoan xưa kia gọi là hát Xuân và điệu múa hát Xoan có từ thời Hùng Vương và được lưu truyền rộng rãi trong dân cư của các làng xã quanh vùng. Điệu múa hát Xoan này được nhiều người ưa thích, đặc biệt là bà Lan Xuân, vợ của vua Lý Thần Tông. Bà đã cảm nhận được âm hưởng dân ca đặc biệt và độc đáo của nó, nên bà đã cho sưu tầm và cải biên thành điệu hát thờ tại một số đền, đình làng thờ các vua Hùng.

 

Mở đầu, ông trùm phường Xoan Kim Đức – phường nổi tiếng – cùng chủ tế đứng trước hương án hát chúc bằng bài khấn nguyện. Sau đó là một kép trẻ đeo trống nhỏ trước ngực ra làm trò giáo trống, giáo pháo. Tiếp theo, bốn cô đao ra hát thơ nhang và dâng hương bằng giọng hát lề lối. Rồi đến những bài ca ngợi thánh thần kết thúc phần nghi lễ của Xoan.

Ở đền Hạ có hát ca trù (gọi là hát nhà tơ, hát ả đào) Đây cũng là loại hát thờ trước cửa đinh, mừng dâng thành trong dịp hội làng, do phường hát Do Nghĩa trình diễn.

 

Ngoài sân đền Hạ, ở nơi thoáng đãng có đu tiên. Mỗi bàn đu có hai cô tiên (cô gái Mường trẻ mặc đẹp) ngồi. Đu quay được là do các cô luân phiên lấy chân đạp đất. Đu tiên là trò chơi đẹp mắt, nhịp nhàng của phụ nữ. Xung quanh khu vực dưới chân núi Hùng là các trò diễn và trò chơi dân gian cổ truyền, diễn ra rất sôi động, được nhiều người tham dự như trò chơi ném côn, chơi đu, đầu vật, chọi gà,… Những trò đánh cờ người và tổ tôm điếm được các cụ cao niên tâm đắc. Còn các đám trai gái tụm năm, tụm ba trên các đồi đó trổ tài hát ví, hát trống quân hoặc hát đối đáp giao duyên…Tối đến có tổ chức hát chèo, hát tuồng ở các bãi rộng ngay cửa đền Hạ hoặc đền Giếng…

 

Lễ hội Đền Hùng là phong tục đẹp trong truyền thống của người dân đất Việt. Và từ rất lâu đời trong tâm thức dân gian, vùng đất Tổ đã trở thành “Thánh địa linh thiêng” của cả nước, nơi phát nguyên nguồn gốc dân tộc. Trải qua bao thời đại lịch sử tuy có lúc thịnh, lúc suy nhưng lễ hội đền Hùng vẫn được tổ chức. Điều này đã thể hiện rõ bản lĩnh phi thường và nền văn hiến rực rỡ, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Người dân hành hương về đất Tổ không hề có sự phân biệt tôn giáo, chỉ cần là người Việt Nam thì trong tâm khảm họ đều có quyền tự hào là con cháu muôn đời của vua Hùng. Bởi vậy, hễ ai là người Việt Nam nếu có sẵn tâm thành và lòng ham muốn hành hương về đất Tổ thì tự mình có thể thực hiện ước nguyện chính đáng đó một cách dễ dàng và thuận tiện.

 

Hội đền Hùng hay giỗ tổ Hùng Vương là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của nòi giống, là biểu tượng của tinh thần cộng đồng. Người đến hội mang theo lòng ngưỡng mộ sâu đậm về quê cha đất tổ, một tín ngưỡng đã ăn sâu vào tâm thức người Việt Nam cho dù họ sống ở bất cứ phương trời nào.

 

III, Ý nghĩa của lễ hội Đề Hùng

 

Cứ ngày 10 tháng 3 âm lịch người người trẩy hội đến với Đền Hùng – tìm về nguồn cội của mình. Lễ hội là dịp để con Lạc, cháu Hồng hành hương về nơi đã sinh ra dân tộc Việt Nam anh hùng – một dân tộc chưa biết cúi đầu khuất phục bất kỳ một tên giặc ngoại xâm nào, kể cả những tên hùng mạnh nhất trên thế giới như Pháp và Mỹ. Đây không chỉ thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc của mỗi người Việt Nam mà còn trở thành niềm kiêu hãnh đối với các dân tộc đã, đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập, tự do và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới; bạn bè khắp năm châu cảm phục, kính nể dân tộc Việt Nam anh hùng.

 

Có thể nói ngày 10 tháng 3 hàng năm là ngày duy nhất có được của toàn thể người Việt mà sự hân hoan tự nhiên phát ra từ đáy lòng, là ngày giờ linh thiêng khiến giữa tất cả người Việt với nhau thực sự không có sự ngăn cách nào dù mong manh nhất.

 

Ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm đã trở thành “điểm hẹn” tâm linh trong mỗi người dân nước Việt. Cứ đến ngày này, dù ai ở xa, dù ai đang bận rộn, dù đi đâu về đâu, cũng tìm đường về chân núi Nghĩa Lĩnh dâng hương tưởng nhớ các vua Hùng đã có công dựng nước.

 

Ngày 6/1/2001, chính phủ ban hành Nghị định số 82/2001/NĐ-CP, quy định về quy mô, nghi lễ tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng hàng năm. Ngày 10 tháng 3 trở thành ngày Quốc Giỗ của cả dân tộc.

 

Lễ hội đền Hùng với phần tế lễ và phần hội luôn mang đậm văn hóa truyền thống. Phần tế lễ được cử hành trọng thể mang tính Quốc lễ. Lễ vật dâng cúng là “lễ tam sinh”, là bánh chưng, bánh dày, xôi nhiều màu… Nhạc khí cử hành là trống đồng cổ. Với những nghi lễ văn hóa đậm nét, cả dân tộc trong một khoảnh khắc linh thiêng cùng nhau hướng về nguồn cội của mình.

 

Người dân ở khắp mọi miền đất nước dâng lên vua Hùng những sản vật tiêu biểu của văn hóa truyền thống, đó là bánh chưng, bánh dày, xôi nhiều màu…

 

Tháng 12/2012, tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng của dân tộc Việt Nam đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sự công nhận của thế giới trước tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng chính là sự đánh giá tầm quan trọng bậc nhất việc một dân tộc luôn biết gìn giữ văn hóa nguồn cội trong “vòng xoáy” hội nhập.

 

C, Kết luận

 

Thời đại của chúng ta hôm nay đang ngày càng góp sức tô điểm và phát huy sức sống trường tồn của giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng. Ý nghĩa tâm linh của cuộc hành hương trẩy hội Đền Hùng đã trở thành nếp nghĩ, nét văn hóa truyền thống không thể thiếu được của mỗi con người Việt Nam. Tất cả mọi người, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, dân tộc, tôn giáo đang sinh sống trên mọi miền Tổ quốc đều bình đẳng trước Mộ Tổ, đều có quyền tự hào mỗi khi về dự giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng.

 

“Dù ai đi ngược về xuôi

 

Nhớ ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3”

KHÁI NIỆM, NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ VAI TRÒ CỦA HƯƠNG ƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LÀNG XÃ – BÀI TẬP NHÓM ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM

Trong kho tàng văn hóa đa dạng, đặc sắc của dân tộc Việt Nam còn ẩn dấu một di sản văn hóa vô cùng quý giá, đó chính là các hương ước cổ mà nhân dân ta vẫn quen gọi nôm na là lệ làng. Hương ước là tập hợp những quy tắc xử sự chung nhất, là nếp sống đã đi vào tiềm thức của mỗi người dân làng. Trong cuộc sống hiện đại, hương ước đang dần bị lãng quên, lớp trẻ ít hai biết về nó nữa. Vì thế, khi bắt gặp đề tài: “Hương ước của làng là gì? Nội dung cơ bản của hương ước? Vai trò ảnh hưởng của hương ước đối với sự phát triển của làng xã hôm nay”, chúng em đã quyết định chọn làm, với hi vọng những kiến thức mà mình tìm hiểu được sẽ góp phần giúp bản thân và các bạn hiểu thêm về một khía cạnh của văn hóa làng xã, một phần của văn hóa Việt.

 

NỘI DUNG

 

 

  1. Hương ước của làng là gì?

 

 

– Định nghĩa: Hương ước là thuật ngữ gốc Hán, khi du nhập vào Việt Nam nó vẫn được giữ nguyên nghĩa. Hương ước xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XV,  là bản pháp lí đầu tiên, ghi nhận các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc đối với các thành viên trong làng xã, nhằm góp phần điều hòa các mối quan hệ xã hội cộng đồng vốn phức tạp. Các điều lệ này được hình thành dần trong lịch sử, được bổ sung, điều chỉnh mỗi khi cần thiết.

 

Hương ước là văn bản pháp lý của mỗi làng, trong đó bao gồm  các  điều  ước về dân sự, hình sự, các điều ước về giữ gìn đạo lý, phong tục tập quán… Hương  ước  là hệ  thống  luật  tục  tồn  tại  song song với pháp luật mà cơ bản  không đối lập với pháp luật. Hương ước do các vị chức sắc của làng soạn thảo trên cơ sở thống nhất với dân làng.

 

GS.Đinh Gia Khánh viết: “Hương ước là bản ghi chép các điều lệ liên quan đến tổ chức xã hội cũng như đến đời sống xã hội trong làng, các điều lệ hình thành dần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung mỗi khi cần thiết”.

 

– Thời điểm xuất hiện: Về thời điểm xuất hiện hương ước, các nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học từ trước đến nay vẫn chưa khẳng định. Dựa vào các thư tịch cổ, chúng ta mới chỉ biết rằng đến triều đại vua Lê Thánh Tông triều đình đã ra sắc lệnh thể chế hoá hương ước. Bộ luật Hồng Đức đã ghi lại chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông về việc biên soạn và thi hành hương ước như sau:

 

– Các làng xã không nên có khoản ước riêng vì đã có luật chung của nhà nước.

 

– Riêng làng xã nào có những tục khác lạ thì có thể lập khoán ước và cấm lệ

 

– Trong trường hợp đó, thảo ra hương ước phải là người có trình độ nho học, có đức hạnh, có chức và có tuổi tác.

 

– Thảo xong, phải được quan trên kiểm duyệt và có thể bị bác bỏ.

 

–  Khi đã có khoán ước rồi, mà vẫn có người không chịu tuân theo, cứ nhóm họp riêng, thì những kẻ ấy sẽ bị quan trên trị tội.

 

Như vậy, có thể thấy rằng, đến đời vua Lê Thánh Tông đã có hương ước rồi nhưng hiện nay chúng ta vẫn chưa tìm thấy bản hương ước nào được soạn thảo vào thế kỷ XVI chứ chưa nói gì đến thế kỷ XV.

 

Tìm hiểu các văn bản hương ước có thể thấy chúng luôn được điều chỉnh sửa đổi qua các thời kỳ. Xét một trong những bản hương ước thành văn cổ nhất mà chúng ta hiện có là hương ước làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thương Hồng (nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) ra đời từ năm 1665 sau đó đã được sửa đổi, bổ sung tới 16 lần, từ 30 điều ban đầu lên tới 82 điều ở bản cuối cùng.

 

– Tên gọi: Hương ước có khoảng 50 tên gọi khác nhau, như: hương tục, hương lệ, hương biên, hương khoán, lệ  tục, phe khoán, phiên khoán, sự  lệ, tục lệ, ước lập, văn ước, khoán ước, khoán lệ, khoán bạ… Các văn bản Hán Nôm liên quan đến hương ước hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ yếu được gọi là tục lệ. Những văn bản hương ước, tục lệ hay khoán lệ này có thể được gọi chung là hương ước làng xã  truyền  thống,  tục lệ cổ truyền hay hương ước cổ truyền.

 

Trong xã hội hiện nay, hương ước khá xa lạ với nhiều người. Nhiều nhà nghiên cứu đều khẳng định, hương ước là nguồn tư liệu cực kỳ phong phú để nghiên cứu văn bản học, sử học, dân tộc học và luật học. TS. Vũ Duy Mền đã từng nhận định: “Dù không phải là một bộ luật hoàn chỉnh, hương ước, với những điều qui định về một số nét sinh hoạt riêng của làng xã vẫn đóng một vai trò “cương lĩnh”, có thể còn khá chung chung, nhưng dù sao cũng đáng xem là một nếp sống hàng ngày của làng xã mà mọi cá nhân, mọi tổ chức, trong làng, trong xã phải tuân thủ”.

 

  1. Nội dung của hương ước.

 

  1. Kết cấu:

 

Tìm hiểu nội dung các bản hương ước mới ở một số địa phương khu vực đồng bằng Bắc Bộ, có thể thấy cấu trúc của nó, ngoài phần mở đầu và kết luận, văn bản được chia thành các chương (hoặc các phần)

 

Chương 1: Nguyên tắc  chung,

 

Chương 2: Các quy định về lễ nghi, tôn giáo (chủ yếu là quy định về lễ hội)

 

Chương 3: Quy định về nếp sống văn hoá nói chung (chủ yếu là xây dựng Gia đình văn hoá, việc cưới, việc tang)

 

Chương 4:  Đạo lý gia đình và xã hội,

 

Chương 5: An ninh trật tự, bảo vệ môi trường,

 

Cuối cùng là Điều khoản thi hành.

 

Một số bản Quy ước làng văn hóa chỉ chia thành 3 phần lớn, đó là: Nguyên tắc chung, Những quy định cụ thể, Điều khoản thi hành.

 

Nguyên tắc chung nêu khái quát tình hình lịch sử, quá trình hình thành, truyền thống văn hoá, cách mạng của địa phương, tình hình hiện tại, những thuân lợi, khó khăn trong xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời nêu nguyên tắc chung khi soạn thảo, giá trị pháp líý và phạm vi hiệu lực của văn bản.

 

Những quy định cụ thể: Là quy định về xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng nếp sống văn hoá trong các sinh hoạt hàng ngày, giữ gìn trật tự an ninh, quy định về ngày lễ, ngày giỗ, ngày hội, việc cưới, việc tang, về bảo vệ và phát triển sản xuất, bảo vệ các công trình công cộng, vệ sinh môi trường và các quy định khác (về khuyến học, khuyến nông…)

 

Về điều khoản thi hành:  Việc theo dõi thi hành quy ước của các thôn làng thường giao cho trưởng thôn, trưởng làng chịu trách nhiệm cùng với sự phối hợp với các đoàn thể của địa phương. Các hoạt động diễn ra đều có sự chỉ đạo của cấp uỷ đảng địa phương, sự theo dõi, quản lí.

 

  1. Nội dung

 

Nội dung của hương ước thường gồm 4 loại quy ước:

 

Quy ước về chế độ ruộng đất: Những điều kiện tự nhiên đặc trưng đã quy định nước ta là một nước nông nghiệp. Nền nông nghiệp được thể hiện rõ nét nhất ở nông thôn, đặc biệt là ở các làng xã. Hương ước các làng đều khẳng định”việc nhà nông là cái gốc lớn” để bảo vệ, phát triển sản xuất và đề ra một số quy định khuyến khích mọi người, mọi nhà tận dụng đất đai để sản xuất và quy định về việc sử dụng ruộng đất. Như Hương ước của làng Quỳnh Đôi – Nghệ An có tới 4 điều khoản nói về vấn đề này, trong đó điều 9 quy định “làng xét các nơi trong đồn điền không cày bừa để ruộng hoang thì phải phạt”. Hay như ở làng Quýt Lâm, khoản thứ 25 hương ước quy địnhvề ruộng đất của làng: “Một sở vườn đình giao cho tự thừa coi giữ. Một sở vườn nghĩa từ giao cho phu trường coi giữ. Một sở vườn nhà nhóm giao cho giáp làng coi giữ. Một sở vườn đình giao cho từ thừa cày làm…”. Tuy nhiên, ngày nay việc sử dụng đất đai trong các làng xã phải tuân theo quy định của luật đất đai Việt Nam.

 

Quy ước về khuyến nông, bảo vệ sản xuất, môi trường và các danh lam thắng cảnh đền chùa, miếu mạo: Về công tác khuyến nông bảo vệ sản xuất được chú trọng nhằm tận dụng diện tích đất. Điều 113 Hương ước làng Quỳnh Đôi – Nghệ Tĩnh quy định: “Nguyên làng ta có một dải ruộng hoang ở xứ đập Bản và Vụng Cầu, Làng nên cho khai khẩn thành ruộng trồng trọt để làm mối lợi them cho dân làng, nay làng bản hễ người nào có sức phá vỡ cày cấy được khoảng 4 năm thì cứ lấy lúa trên ruộng, được bao nhiêu làng chia 3, làng chỉ lấy 1 phần, làng àm như thế trong 20 năm, hết hạn phải giao ruộng cho làng”. Điều thứ 1,khoản thứ 5, hương ước của làng Long Phụng quy định: “Các nhà trong làng hè vách đều phải sạch sẽ, những ao rãnh trong vườn và các hồ ở noài ngõ vườn, chứa nước dơ dáy là chỗ sanh loại độc trùng và độc khí thì hội hào mục mỗi kỳ hội đồng trong hương kiểm, tộc biểu và hương dịch đi biểu các nhà người lấp liền mấy chỗ lũng ấy như ao hồ khỏi các vi trùng sanh đẻ, người nào ở đàng tư ích, cấm không dược ném đồ đơ dáy, hoặc xác thú vật chết hai bên đàng cái hay nơi ao hồ, phải chon sâu cho khỏi truyền nhiễm”.

 

Hương ước các làng còn quy định về những điều xử phạt rất nghiêm khắc đối với hành vi làm ô nhiễm không khí, làm nhiễm bẩn nguồn nước, làm lây lan dịch bệnh trong xóm làng. Như Điều 46 Hương ước Làng Thanh Liệt (nay thuộc huyện Thanh Trì) ghi: “Người ta ai có mạnh khỏe thì sống mới lâu, muốn dân làng được mạnh khỏe thì ai cũng phải biết giũ gìn vệ sinh chung và vệ sinh riêng”.

 

Quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm các chức dịch của làng: Thành viên trong làng chịu sự chỉ huy của người đứng đầu, phải tuân theo những quy tắc do làng đặt ra và đều bình đẳng lẫn nhau trên cơ sở tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau. Những người đứng đầu phải có trách nhiệm chỉ huy việc thực hiện các quy định của làng và giải quyết các sự việc xảy ra trong làng. Như tiết kế 1 trong Hương ước của làng Quýt Lâm, phủ Mộ Đức có ghi: “Sở đình hay nhà hội trong làng, nơi căn giữa, thì chức sắc ngồi từng trước, mấy người kỳ lão có danh vọng ngồi từng sau, chức sắc nhượng theo chức hàm, kỳ lão nhượng theo niên xỉ, thủ thứ mà ngồi”.

 

Quy ước về văn hoá tinh thần và tín ngưỡng: Hầu như các Hương ước của các làng xã đều có những quy định về văn hóa ứng xử, tín ngưỡng, các lễ khao vọng, cưới hỏi,… nhằm đặt ra những quy tắc xử sự chung phù hợp với phong tục tập quán của làng xã.

 

Ở mỗi làng đều có quy định về tín ngưỡng của riêng mình. Điều đó được ghi trong các Hương ước của các làng. Như Hương ước làng Quýt Lâm, phủ Mộ Đức có ghi các tế tự gồm: Lễ Nguyên đán, Lễ tế Xuân thủ, Lễ cúng Hành khiển, Thượng điền, Hạ điền,… Trong đó, Khoản 3, Tiết thứ 2 ghi rõ: Mỗi năm đến sớm mai ngày 15 tháng giêng, thì tế xuân thủ tại đình, thường dùng một con heo và phẩm vật, lựa một người kỳ cực đứng vai cứng, lễ ấy chi bạc năm đồng năm giác”.

 

Trong làng thường xuyên có tổ chức các lễ cưới hỏi, rước dâu hay mừng thọ, và những lễ này cũng được quy định trong Hương ước rất chi tiết về các khoản lệ phí phải nộp, thời gian và quy mô tổ chức. Bên cạnh đó, các quy định về văn hóa ứng xử trong làng xã cũng được quy định rất rõ ràng, chi tiết và khá chặt chẽ (quy tắc “kính lão đắc thọ”, “tôn sư trọng đạo”,…)

 

Trong làng, ai làm việc tốt, việc có lợi cho dân làng, cho cộng đồng thì được thưởng. Ngược lại, ai làm điều sai trái gây hại cho làng thì sẽ phải chịu phạt. Chúng ta có thể lấy dẫn chứng cụ thể trong hương ước làng Diên Trương:

 

“Tiết 18: thưởng phạt trong làng:

 

+ Thưởng: trong làng người nào có công đức với làng, làm nhiều điều lợi ích cho công chúng trong làng, hưởng chức tận tâm làm việc, người nhiệt thành cứu giúp tai nạn thời làng đem cao tọa thứ lên hạng người có công lao…

 

+ Phạt: những người trong gia đình cư xử với nhau không được hòa thuận, không lo làm ăn; những kẻ thấy tai nạn không cứu vớt…phạt truất tọa thứ, truất phần biếu và tùy từng trường hợp mà phạt bạc từ 3 đồng đến 5 đồng, hoặc phạt dịch từ một ngày rưỡi đến bảy ngày rưỡi…”

 

Nhiều quy định trong các bản hương ước cổ trước đây thường có các hình phạt khá nặng nề, chủ yếu đánh vào danh dự của cá nhân hay cả gia đình, dòng họ người phạm tội, gây thiệt hại và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thậm chí gây thiệt mạng. Tuy nhiên, đa số các bản hương ước hiện nay đều bãi bỏ hoặc thay thế những hình phạt như vậy để phù hợp với chính sách mới.

 

Trong các quy ước trên thì quy ước về chế độ ruộng đất có vị trí quan trọng nhất, bởi vì đại đa số người dân của các làng đều làm nông nghiệp là chủ yếu.

 

Ngoài 4 loại quy ước cơ bản trên, có làng lại ghi thêm vào hương ước những điều khoản về sự đóng góp các loại công quỹ, về tổ chức khao vọng, về các lễ hội…

 

III. Ảnh hưởng của hương ước đối với sự phát triển của làng xã hiện nay.

 

Trong cuộc sống hiện tại, khi nhà nước ngày càng phát triển thì vai trò của hương ước đã mất đi ít nhiều, để thay vào đó là các văn bản, các điều luật. Thế nhưng vai trò cũng như  sức ảnh hưởng của hương ước, nhất là đối với các làng xã ở nước ta vẫn còn hết sức sâu đậm. Ảnh hưởng của hương ước có thể nhìn nhận một cách khách quan trên hai khía cạnh đó là mặt tích cực và mặt tiêu cực.

 

– Mặt tích cực:

 

+ Hương ước với ý nghĩa là văn bản pháp lý đầu tiên của làng xã, đã đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư. Cho đến ngày nay, nhiều điều lệ tốt đẹp, phù hợp với ý chí Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn tiếp tục được bảo tồn và phát triển. Hương ước có giá trị rất lớn trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, bảo tồn các phong tục tập quán của làng xã. Nhiều điều lệ trong hương ước có giá trị pháp lý cao, được người dân thừa nhận và chấp hành tốt, với ý thức tự giác cao. Bên cạnh đó, các quy định tốt đẹp của hương ước cũng góp phần bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa Việt. Những lễ hội của mỗi làng, những phần thưởng khuyến học trong mỗi dòng họ… đều góp phần làm nên bức tranh làng xã Việt Nam.

 

Hương ước đi sâu vào tâm khảm, phản ánh tâm lý của dân làng. Sức mạnh cưỡng chế của hương ước dựa vào lề thói, nếp sống quen thuộc của cộng đồng làng. Đó là sức mạnh có tính chất tâm lí nằm sâu trong tiềm thức của mọi dân làng. Hương ước vừa uốn người ta vào khuôn phép, động viên người ta hành động, gắn bó dân làng thành một cộng đồng chặt chẽ, vừa điều tiết các trách nhiệm và các quyền lợi của mọi thành viên trong làng. Do đó hương ước có ý nghĩa trong việc bổ sung cho pháp luật khi cần xử lí những vấn đề rất cụ thể nảy sinh từ nếp sống đặc thù của làng. Hương ước không chỉ có ý nghĩa như là một thứ pháp luật mà còn có ý nghĩa như là một hệ thống tiêu chuẩn đạo đức. Vì vậy, nó chứa đựng những giá trị văn hóa dân gian, hàm chứa nhiều yếu tố tích cực. Song, hương ước cũng tồn tại không ít các yếu tố tiêu cực.

 

–  Mặt tiêu cực:

 

Cùng với mặt tích cực, chúng ta cũng không thể không nhắc tới những mặt tiêu cực của hương ước.

 

Từ xưa dân gian ta đã có câu “phép vua thua lệ làng”. Câu nói đó đã phần nào phản ánh vai trò quan trọng của hương ước. Nếu ưu điểm của hương ước là có thể điêu chỉnh những mối quan hệ mà pháp luật khó có thể với tay tới thì đây cũng là nhược điểm lớn nhất của hương ước.

 

Vì sức ảnh hưởng lớn như thế nên việc muốn điều chỉnh, chế tài những hương ước trái với ý chí nhà nước và pháp luật luôn là một bài toán khó đối với Nhà nước ta. Điều này càng khó khăn hơn ở những vùng quê nghèo nàn lạc hậu, người dân vốn chỉ biết đến lệ làng. Đối với người dân những vùng như thế, sức ảnh hưởng, đe dọa của hương ước lớn hơn nhiều cái gọi là pháp luật. Hơn nữa, lệ làng từ bao đời đã có, từ ông bà, tổ tiên đều chịu chế tài của hương ước nên hương ước đã bám rễ sâu trong tâm hồn họ. Thậm chí họ sợ điều tiếng với dân làng còn hơn cả sợ ngồi tù. Và vì vậy, nếu muốn điều chỉnh, hay đả phá những lệ làng cổ hủ, lạc hậu, Nhà nước, chính quyền cần có một quá trình lâu dài, “mưa dầm thấm lâu” để người dân tự giác rời bỏ các điều lệ trái với pháp luật mà không thể ép buộc họ từ bỏ những hương ước ây. Để thực hiện điều này thì cần đến sự kiên trì, nhiệt huyết của Chính quyền trong khu vực. Cho đên tận ngày nay, chính phủ, Đảng, Nhà nước ta vẫn luôn áp dụng chính sách vận động tuyên truyền cổ vũ xóa bỏ hương ước lạc hậu, cổ hủ và đã giành được những thành công nhất định. Có điều quá trình này vẫn còn cần không ngừng tiếp tục thực hiện để sao cho hương ước chính là một bản luật pháp đơn giản hóa, được nhân dân hiểu và tự giác chấp hành.

 

KẾT LUẬN

 

Thời gian qua đi, sau lũy tre xanh, có biết bao nhiêu biến cố, đổi thay đã xảy ra nhưng dường như sức mạnh thời gian không thể xóa nhòa được những gì đã là bản sắc người Việt. Trước những cám dỗ của thời cuộc, có thể trong một khoảnh khắc nào đó chúng ta tưởng chừng như đã nhòa đi nhưng không: chỉ một thời gian sau những sóng gió ấy chúng ta đang dần dần khôi phục lại gần như nguyên vẹn tất cả. Có thể bây giờ khi nhắc đến hương ước đến lệ làng không còn thấy khắt khe như trước nữa, mà trong lòng lại cảm thấy tự hào xiết bao về bản sắc của chính ta, cha ông ta, dân tộc ta.

TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT – BÀI TẬP NHÓM ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM

Phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt có từ rất lâu đời. Đó là một phong tục đẹp, giàu bản sắc, có tính chất giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Tự bản thân phong tục thờ cúng tổ tiên đã mang trong nó những giá trị văn hoá nhân bản. Cùng với thờ cúng tổ tiên thì thờ “thành hoàng làng” và thờ “vua hùng” cũng là những phong tục lâu đời của người Việt nam ta. Trong khuân khổ bài viết này, nhóm chúng em sẽ làm rõ những phong tục này qua đề tài:” Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt? Ý nghĩa của việc thờ “thành hoàng làng” và thờ “vua hùng”?

 

  1.  NỘI DUNG

 

 

  1. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.

 

 

  1. Cơ sở hình thành việc thờ cúng.

 

1.1. Khái niệm tín ngưỡng.

 

Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo. Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì không mang tính dân tộc. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo

 

1.2. Tại sao người việt thờ cúng tổ tiên?

 

Tổ tiên theo quan niệm của người Việt Nam, trước hết là những người cùng huyết thống, như cha, mẹ, ông, bà, cụ, kỵ v.v… là người đã sinh ra mình. Tổ tiên cũng là những người có công tạo dựng nên cuộc sống hiện tại như các vị “Thành hoàng làng” các “Nghệ tổ”. Không chỉ thế, tổ tiên còn là những người có công bảo vệ làng xóm, quê hương, đất nước khỏi nạn ngoại xâm như Trần Hưng Đạo đã thành “Cha” được tổ chức cúng, giỗ vào tháng 8 âm lịch hàng năm. “Tháng 8 giỗ cha” ở rất nhiều nơi trong cộng đồng người Việt. Ngay cả “Thành hoàng” của nhiều làng cũng không phải là người đã có công tạo dựng nên làng, mà có khi là người có công, có đức với nước được các cụ xa xưa tôn thờ làm “thành hoàng”. Tổ tiên trong tín ngưỡng của người Việt Nam còn là “Mẹ Âu Cơ”, còn là “Vua Hùng”, là người sinh ra các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam.

 

*Cơ sở tâm linh: Cơ sở quan trọng đầu tiên cho việc hình thành bất cứ tôn giáo tín ngưỡng nào cũng là quan niệm tâm linh của con người về thế giới. Cũng như nhiều dân tộc khác, người Việt xuất phát từ nhận thức “vạn vật hữu linh” – mọi vật đều có linh hồn, và bắt đầu từ giới tự nhiên xung quanh mình, và linh hồn trở thành đầu mối của tín ngưỡng. Từ quan niệm đó hình thành nên niềm tin về sự tồn tại của linh hồn và mối liên hệ giữa người đã chết và người sống (cùng chung huyết thống). Người đã chết bằng linh hồn trở về chứng kiến, theo dõi hành vi của con cháu, quở trách hoặc phù hộ cuộc sống của họ.

 

Ngoài lí do tin vào những người đã khuất, ý thức tôn trọng cội nguồn và đức tính hiếu thảo của người Việt cũng là cơ sở quan trọng hình thành nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc sinh thành, lúc họ đã chết cũng như khi còn sống đồng thời cũng thể hiện trách nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối với nhu cầu của tổ tiên. Trách nhiệm được biểu hiện không chỉ trong các hành vi sống (giữ gìn danh dự và tiếp tục truyền thống của gia đình, dòng họ, đất nước) mà còn ở trong các hành vi cúng tế cụ thể. Từ đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên dần được hình thành.

 

Tín ngưỡng của tục thờ cúng tổ tiên tồn tại ở nhiều dân tộc Đông Nam Á song nó vẫn được xem như là tín ngưỡng đặc trưng cho người Việt về tính phổ biến của nó đối với cộng đồng, hầu như trong mỗi gia đình người Việt đều có bàn thờ gia tiên.

 

Người phương Đông vốn có thói quen tâm lý duy tình nhưng biểu hiện này ở người Việt càng trở nên sâu sắc hơn. Con người vừa chịu quan niệm “sống vì mồ mả, ai sống vì bát cơm” mong được nhận “phúc ấm của tổ tiên” nhưng lại lo trách nhiệm để phúc cho con cháu “đời cha ăn mặn đời con khát nước”. Bởi vậy mà khi cúng lễ tổ tiên, một mặt con người hướng về quá khứ, định hướng cho hiện tại (giáo dục truyền thống gia đình, đạo lý làm người cho con cháu) và mặt khác đã chuẩn bị cho tương lai.

 

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có nội dung bình dị và giàu tính thực tiễn, không cực đoan như nhiều tôn giáo khác. Bằng việc thờ cúng tổ tiên, thế hệ trước nêu gương cho thế hệ sau không chỉ vì trách nhiệm đối với các bậc sinh thành mà còn để giáo dục dạy dỗ con cháu lưu truyền nòi giống. Trong khi tế lễ, lời khấn vái của họ cũng thật giản dị, rất thực tiễn: lời cầu xin che chở, phù trợ cho cuộc sống hàng ngày của họ được bình yên, suôn sẻ. Không biết sự cầu xin ấy hiệu quả như thế nào, nhưng trước hết, con người cảm thấy thanh thản về mặt tâm linh, điểm tựa tinh thần quan trọng cho cuộc sống. Do đó, khả năng phổ biến trong không gian và thời gian của tín ngưỡng này cũng là một điều dễ hiểu

 

Cơ sở xã hội: Khi bước vào chế độ  phụ quyền, vai trò của người đàn ông trở nên quan trọng trong họat động kinh tế và sinh họat của gia đình. Con cái mang họ cha và con trai kế tiếp ý thức về uy quyền trong gia đình của mình. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ đấy..

 

Không chỉ chịu ảnh hưởng từ chế độ phụ quyền, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn chịu ảnh hưởng từ ba dòng tôn giáo chính ở Việt Nam. Đó là:

 

Nho giáo: Theo như Khổng Tử, sự sống của con người không phải do tạo hóa sinh ra càng không phải do bản thân tự tạo ra mà nhờ cha mẹ, sự sống của cha mẹ lại gắn với ông bà và cứ như vậy thế hệ sau kế tiếp thế hệ trước, vì thế mà thế hệ sau phải biết ơn thế hệ trước. Cùng với tư tưởng tôn quân, quyền huynh thế phụ đã củng cố thêm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nước ta ngày một thể chế hóa.

 

Đạo giáo: Nếu như Khổng giáo đặt nền tảng lý luận về đạo đức, về trật tự kỉ cương xã hội cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt thì Đạo giáo góp phần củng cố niềm tin vào sự tồn tại và năng lực siêu nhiên của linh hồn những người đã chết thông qua một số nghi lễ thờ cúng như: gọi hồn, bùa chú, ma chay, tang lễ, mồ mả và đốt vàng mã.

 

Phật giáo: Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến sự giữ gìn và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam trước hết là quan niệm của Phật giáo về cái chết, kiếp luân hồi và nghiệp báo. Những tư tưởng cơ bản của Phật giáo có ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Việt nhưng không vì thế mà có sự sao chép y nguyên. Người Việt Nam quan niệm rằng cha mẹ tổ tiên luôn lo lắng, quan tâm  cho con cái ngay cả khi họ đã chết. Người sống chăm lo đến linh hồn người chết, vong hồn người chết sẽ quan tâm đến sự sống của người đang sống.

 

  1. Bản chất của việc thờ cúng

 

2.1. Thờ cúng tổ tiên để lưu giữ kí ức về tổ tiên: đặc trưng trong đời sống của người Việt là tính duy lí. Vì vậy trong gia đình hình ảnh của những người đã khuất luôn luân hiện hữu và không xa rời đời sống của những thành viên trong gia đình và làng xã. Chết không phải là mất đi tất cả mà là một dạng chuyển hóa vật chất từ dạng này sang dạng khác và tổ tiên cũng tồn tại ở một thế giới siêu hình mà con người không thể nhìn thấy được. Trong gia đình bàn thờ là nơi con cháu lưu gữ những hình ảnh thân thuộc nhất về những người đa khuất. Việc thờ cúng được lặp đi lặp lại như một công việc quen thuộc, khoi dậy trong con cháu những kí ức về tổ tiên.

 

2.2. Nhắc nhở ý thúc về cội nguồn: Với đạo lý uống nước nhớ nguồn nên thờ cúng tổ tiên thành cẩn là xuất phát từ lòng hiếu kính nhớ ân thâm nghĩa trọng, nó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người ngay từ lúc còn thơ bé:

 

Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn,

Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.

Người ta nguồn gốc từ đâu?

Có cha có mẹ rồi sau có mình.

 

  1. Các hình thức thờ cúng

 

3.1. Cúng cáo thường xuyên: Người Việt thường cúng Gia tiên vào ngày Sóc – Vọng (Sóc là ngày Mồng Một, Vọng là ngày Rằm hàng tháng), lễ Tết, giỗ hoặc bất kỳ lúc nào cần được gia tiên phù hộ như: sinh con, đẻ cái, kết hôn, làm nhà, lập nghiệp, có trục trặc về sức khỏe. Đây là cách để thể hiện đạo lý Uống nước nhớ nguồn.

 

Ngày cúng giỗTrong tục thờ cúng tổ tiên, người Việt coi trọng việc cúng giỗ vào ngày mất (còn gọi là kỵ nhật) thường được tính theo âm lịch (hay còn gọi là ngày ta). Họ tin rằng đó là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng. Không chỉ ngày giỗ, việc cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vào các ngày mồng một (còn gọi là ngày sóc), ngày rằm (còn gọi là ngày vọng), và các dịp lễ Tết khác trong một năm như: Tết Nguyên đán, Tết Hàn thực, Tết Trung thu, Tết Trùng cửu, Tết Trùng thập… Những khi trong nhà có việc quan trọng như dựng vợ gả chồng, sinh con, làm nhà, đi xa, thi cử…, người Việt cũng dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ, hay để tạ ơn khi công việc thành công. Bản chất việc thờ cúng tổ tiên của người Việt là từ niềm tin người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau. Con cháu thì thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân. Tổ tiên thì che chở, dẫn dắt hậu thế nên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm.

 

Đây là một lễ vô cùng quan trọng, bởi nhớ đến ông bà tổ tiên là đã thể hiện lòng thành kính với vong linh người đã khuất, không phụ thuộc vào việc làm giỗ lớn hay nhỏ. Chỉ với chén nước, quả trứng, nén hương cũng giữ được đạo hiếu.

 

3.2. Cách thức lễ

 

Nghi lễ thờ cúng: trước khi tiến hành nghi lễ thờ cúng gia chủ phải tắm rửa sạch sẽ bằng nước cây cỏ có mùi thơm. Sau đó người thực hiện việc cúng phải mặc quần áo chỉnh tề thường thì quần áo mà gia chủ mặc là đò trắng. tuy nhiên trong xã hội hiện đại ngày nay thì chỉ cần ăn mặc chỉnh tề và người ta ít quan tâm hơn đến cách ăn mặc trong những lễ cúng.

 

Cách thức vái lạy:

 

Vái thường được áp-dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường-hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái

 

Lạy là hành-động bày tỏ lòng tôn-kính chân-thành với tất-cả tâm-hồn và thể-xác đối với người trên hay người quá-cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý-nghĩa khác nhau.

 

Ở đàn ông và đàn bà có tư thế vái là lạy khác nhau. Thế lạy của đàn ông là cách đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và dơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ- phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang với đầu gối chân phải đang quì để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy (xem phần Ý-Nghĩa của Lạy dưới đây). Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra.

 

Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn-bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa-học và vững-vàng. Sở-dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng-bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn-bị đứng lên cũng vậy. Sở-dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững-vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.

 

Thế lạy của các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng-thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết (xem phần Ý Nghĩa của Lạy dưới đây). Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.

 

Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.

 

Cách khấn tổ tiên: Lời khấn vái là lời nói chuyện với người quá cố, do đó lời khấn là tấm lòng của người còn sống. thì muốn khấn sao cũng được.

 

Lễ khấn gồm các thủ tục như sau:

 

  1. Sau khi mâm cỗ đã đặt xong thì gia trưởng ăn mặc chỉnh tề (ngày xưa thì khăn đống áo dài) đi ra mở cửa chính. Ở xứ lạnh thì cũng phải ráng hé cửa chứ không đóng được cửa kín mít.

 

  1. Sau đó phải khấn xin Thành Hoàng Thổ địa để họ không làm khó dễ Linh về hưởng lễ giỗ.

 

Và sau đây là một đoạn khấn theo lối xưa:

 

Duy …..quốc…..Tỉnh/Thị xa…. trang/gia tại… (số nhà). Việt lịch thứ 488…, thử nhật … (ngày âm lịch) húy nhật  gia phụ/mẫu/Tằng tổ v.v. là Hiển khảo/Tỷ.. (tên) (cho đàn bà thì là hiển tỷ;  với ông nội ngọai thì thêm chữ tổ – hiển tổ khảo/tỷ), Hiếu tử/nữ/tôn v.v là (Tên) tâm thành kính cáo thành hoàng và thổ thần bản địa, tiền chủ tiếp dẫn gia phụ mẫu/cô di v.v. (Người được giỗ hôm nay) đồng cung thỉnh Cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỷ, liệt vị tổ tiên, hiển tổ khảo, hiển tổ tỷ, cô di tỷ muội, nội ngoại đồng giai lâm, tọa ngự linh sàn chứng giám. Cẩn cáo.

 

Đồ lễ dâng cúng gia tiên: Thịt động vật để cúng gia tiên là những động vật mà con người cho là “ thịt sạch”. Theo đó những con vật có đặc tính xấu bị loại bỏ trong cúng tế. Ví dụ con chuột tương ứng với loại người chuyên làm chuyện đục khoét, con rắn có nọc độc hình ảnh của người độc ác, con vịt lạch bạch không bay xa là so sánh của người chậm chạp… cá mè, cá trê, lươn, chạch vv… không được xem là những đồ lễ sạch vì chúng sống dưới bùn nhơ hoặc tanh tưởi hay có màu đen màu của tang tóc. Con chó – một con vật nuôi cực kì thân gần với người, nhưng đồ ăn từ thịt chó lại bị xem là những thứ không tinh sạch, bởi chó ăn chất thải không thể dùng trong tế lễ.

 

Những con vật được dùng là lễ cúng Gà và lợn là những đồ lễ quan trọng của người Việt trong mọi nghi lễ: tục thờ cúng tổ tiên, thành hoàng, thổ thần, cúng trời đất… Người Việt cũng dùng cá để dâng cúng, những loài cá được xem là sạch, được dâng cúng thường xuyên là cá chép, cá trắm

 

Với hoa quả cũng vậy hoa quả dâng lên tổ tiên là những loại quả mà gia đình trồng được. với ý nghĩa dang lên tổ tiên thành quả lao động của mình

 

Ý nghĩa sâu xa của việc cúng lễ là đạt dến dỉnh cao của Chân – Thiện – Mĩ. Việc cúng lễ không cần cầu kì, cốt yếu ở việc thành tâm

 

3.3. Bàn thờ tổ tiên

 

Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vải). Tuỳ theo từng nhà, cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng, phía sau 2 cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy, với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Cũng có nhà cắm “cành vàng lá ngọc” (một thứ hàng mã) với cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc, buôn bán lãi gấp 5 hoặc gấp 10 lần năm trước. Ở giữa có trục “vũ trụ” là khúc trầm hương dưới dạng khúc khuỷu, vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen giữa đèn và hương là hai cái đĩa để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó), phía trước bát hương để một bát nước trong, coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu, dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới…

 

Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt tại nơi cao ráo, sạch sẽ và trang trọng nhất trong nhà (gian giữa đối với nhà một tầng, tầng trên cùng đối với nhà tầng). Trên bàn thờ thì bày bát hương, chân đèn, bài vị hay hình ảnh người quá cố, chỗ thắp nến. Đồ cúng cơ bản không thể thiếu hương, hoa, chén nước lã. Ngoài ra có thể có thêm thức ăn, trà rượu, và có khi có cả đồ vàng mã (quần áo đồ dùng làm bằng giấy), tiền âm phủ… Sau khi tàn một nửa tuần hương, đồ vàng mã và tiền âm phủ được đem đốt, được gọi là hoá vàng, còn chén rượu cúng thì đem rót xuống đống tàn vàng. Tục truyền rằng phải làm như vậy người chết mới nhận được đồ cúng tế, vì hương khói bay lên trời, nước (rượu) hòa với lửa mà thấm xuống đất.

 

Cách bài trí

 

Lớp trong

 

Chiếc rương thật lớn, cao khoảng 1m, dài và rộng 2m. Mặt trước gồm ba ô, mỗi ô khắc một chữ đại tự (大佀). Đôi khi, chiếc rương được thay bằng chiếc bàn to, kê trên 2 chiếc mễ (1m). Có 2 chiếc mâm đặt phía trong bàn thờ. Mâm to đựng cỗ, mâm bé bày hương hoa trong ngày giỗ. Chiếc thứ 2 phải bé hơn chiếc thứ 1. Có một chiếc thần chủ đặt trong khám thờ kê trên chiếc bệ. Có thể thay thế bằng chiếc ngai (chiếc ỷ) để tổ tiên thuộc hàng cao có thể kiểm soát con cháu thờ cúng. Trước thần chủ thường có đĩa đựng trầu cau, 3 ly nước lã trong, chén (hoặc bình) rượu nhỏ, đĩa đồng hoặc sứ đặt 2 bên để đặt hoa quả, thức ăn để thờ…Bên trong đặt bài vị của tổ tiên bằng sứ, có thể thay thế bằng ảnh chân dung người mất được treo lên tường sau hoặc đặt trên mặt bàn thờ.

 

Lớp ngoài

 

Hương án thật cao. Bình hương lớn bằng sứ hoặc đồng, trong đó có để cát hoặc tro ở trong, ở giữa cắm trụ sắt cao để đặt hương vòng. Hai bên có 2 cây đèn, bật khi cúng lễ. Hai cây đồng để thắp nến, có thể thay thế bằng 2 con hạc đồng. Đồng có thể thay bằng sứ.. Có thể trang trí thêm đồ vật như hoành phi, câu đối… vào chính giữa bàn thờ hoặc hai bên.Việc thắp hương trên bàn thờ bao giờ cũng phải thắp theo số lẻ: 1, 3, 5, 7, 9, 11,… mà tránh thắp số chẵn như 2, 4, 6, 8, 10,… Người ta quan niệm rằng, số lẻ là dương nên nó phù hợp hơn với tổ tiên(người dương thắp cho người âm). Loại hương thẳng gồm 2 phần: chân hương màu hồng đỏ, bụi hương thơm. Có một loại hương vòng bao gồm nhiều vòng hương, có buộc dây, được đặt trên que sắt trong bình hương. Khi thắp hương, người ta phải để hương sao cho thật thẳng, tránh để hương bị nghiêng, méo hay siêu đổ khiến đốm lửa giữa các nén hương không đều nhau, làm hương bị tắt lửa, hương tàn xuống có thể gây cháy những đồ lễ vật trên bàn thờ hoặc gây Hỏa hoạn. Khi thắp hương, có thể trông coi khi cần thiết.

 

Bàn thờ người mới chết

 

Những người mới mất chưa được thờ chung với tổ tiên mà được lập một bàn thờ riêng tại gian thờ hoặc gian nhà ngang. Được bài trí tương đối sơ sài: một bát nhang, bài vị (hoặc ảnh), lọ hoa, chén nước, ngọn đèn… Trong vòng 100 ngày (tính từ ngày an táng xong), người ta đều thắp hương cơm canh trước khi gia đình ăn cơm, mời người mới mất thụ hưởng. Lúc này, linh hồn người chết còn quyến luyến người thân, “hồn vía còn nặng” chưa thể siêu thoát được, vẫn còn luẩn quẩn xung quanh nhà. Những người sống không muốn tin vào sự thật là họ vừa mới mất đi một người thân, làm vậy để dịu nỗi buồn. Nhưng có nơi chỉ cúng 49 ngày (tức lễ chung thất).

 

Sau 49 ngày, bát nhang người mới mất sẽ được rước lên bàn thờ tổ tiên. Sau lễ trừ phục (còn gọi là đàm tế) bàn thờ người mới mất sẽ được loại bỏ cùng những đồ thờ riêng, đưa ảnh chân dung và bát nhang lên bàn thờ tổ tiên, đặt hàng dưới. Trường hợp không có bàn thờ tổ tiên thì sẽ vẫn giữ lại như cũ, chỉ cần yết cáo tổ tiên lên bàn thờ tổ..Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người việt trong phạm vi làng nước

 

  1. Sự khác biệt giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam và một số nước trong khu vực

 

4.1 Những hình thức thờ cúng tổ tiên cơ bản

 

Ở Nhật Bản: Đạo Shinto (thần đạo) là tín ngưỡng bản địa của Nhật Bản. Đạo Shinto thờ bách thần. Nghi thức thờ cúng của Shinto cũng bao gồm cả tục thờ cúng tổ tiên. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của Nhật Bản mang màu sắc của Thần đạo. Trong các ngôi nhà truyền thống của Nhật Bản bao giờ cũng đặt một gian Bustrudan ở giữa. Đây là gian phòng để thờ Phật nhưng người Nhật cũng đặt một ban thờ để thờ cúng tổ tiên. Ngoài việc thiết lập các ban thờ tại gia, hầu hết các gia đình Nhật Bản có gửi tro cốt của những người đã khuất tại chùa. Do đó, bên cạnh việc thực hiện nghi thức cúng tế tổ tiên tại nhà họ cũng tổ chức làm lễ cúng tại chùa. Các nghi thức cúng tế tổ tiên tại chùa được các nhà sư thực hiện dựa trên yêu cầu của thân chủ. Tại các gia đình, vào ngày giỗ, họ dâng đồ cúng và đọc kinh trước ban thờ Phật và ban thờ tổ tiên.

 

Ở Hàn Quốc:  Căn cứ vào hình thức và đối tượng được thờ cúng của người Hàn, có thể thia làm ba hình thức thờ cúng tổ tiên cơ bản sau:

 

– Kije: nghi lễ nhằm tưởng nhớ những người mới mất.

 

– Ch’arye: lễ tưởng nhớ những người thân trong gia đình đã mất. Nghi lễ này được thực hiện vào buổi sáng của những ngày lễ đặc biệt nào đó.

 

– Myojje: lễ tưởng nhớ bên mộ. Nghi lễ này được thực hiện khi tiến hành thăm viếng mộ tổ tiên, ông bà.

 

Việc sắp xếp đồ lễ trên ban thờ đòi hỏi phải có một trật tự nhất định. Chẳng hạn, những đồ hoa quả có màu đỏ phải xếp riêng ở phía Đông, đến những hoa quả có màu trắng phải xếp ở phía Tây của bàn thờ. Tiếp theo đó là một hàng thức ăn, rồi đến hoa quả, rau, cháo đặc và một số loại thịt cá. Cuối cùng là những bát cơm, hoặc đôi khi là cháo cùng với thìa và đũa. Phía trước bàn thờ bày đồ cúng là một bàn để bát nhang và trước bát nhanh là khay rượu.

 

4.2.Những thời điểm thờ cúng tổ tiên

 

Nhật Bản: do đặc điểm tôn giáo, tín ngưỡng riêng của mình mà lễ cúng tổ tiên chỉ được hiện vào một dịp nhất định trong năm. Cho đến nay, người dân Nhật Bản thường tập trung tiến hành nghi thức cúng tế tổ tiên vào nhiều dịp nhưng bài viết chỉ đề cập đến 3 dịp quan trọng nhất trong năm như:

 

Ngày giỗ: không như các nước phương Tây là coi trọng ngày sinh, hầu hết các nước ở khu vực Đông Nam Á và Bắc Á lại coi trọng ngày mất của những người thân trong gia đình, dòng họ. Nghi thức cúng tế đều mang tính chất của đạo Shinto: “Ở Nhật Bản việc cúng giỗ trong gia đình rất đơn giản, nhưng cũng rất trang nghiêm. Vào ngày giỗ, mọi người trong gia đình phải tắm rửa sạch sẽ, làm lễ tẩy uế bằng cách vẩy nước (mishoghi)[2] hoặc khua một cành cây xanh (sakagi) hoặc khua đũa thờ (musa). Những động tác này làm ở ngoài cửa. Không lập các đàn tế cầu kỳ như ở Trung Hoa, có chăng chỉ là một tấm bài vị ghi tên cha mẹ, tổ tiên đã mất hoặc bầy một chậu cây, một phiến đá tượng trưng cho những kỉ niệm về người đã khuất”

 

Ngày Tết: Ngày tết cổ truyền của Nhật Bản diễn ra vào những ngày đầu thàng giêng âm lịch. Đây là dịp diễn ra lễ hội lớn nhất trong năm và quan trọng nhất với mỗi gia đình Nhật Bản. Vào thời điểm trước Tết, tại các đền thờ Shinto, các vị thầy tu làm lễ thanh tẩy những uế tạp của năm cũ cho dân chúng, còn trong mỗi ngôi nhà, chủ nhân của chúng lại dọn dẹp, trang hoàng lại cho mới hơn. Trong mối gia đình, người ta cũng làm lễ thanh tẩy nhưng mang tính chất tượng trưng. Ngoài ra, họ còn cắm những cành thông lên cổng và bện những dây rơm hoặc giấy treo trên lối vào nhà.

 

Hàn Quốc: Tín ngưỡng bản địa của người Hàn Quốc là đạo Shaman. Theo quan niệm của người Hàn Quốc thì các vị thần Shaman ngự trị khắp nơi trong căn nhà của họ: “các thần bay lượn khắp xung quanh và là một phần quan trọng trong cuộc sống của người Hàn giống như gạo và Kim chi”. Hàng ngày, người Hàn Quốc vẫn làm lễ Kosa để thờ cúng các vị thần, cầu xin họ ban phúc. Việc cúng tế tổ tiên ở Hàn Quốc lại chỉ mang tính tưởng nhớ nên nó diễn ra không thường xuyên mà chỉ được thực hiện ở một số dịp nhất định trong năm như:

 

Ngày giỗ: ở Hàn Quốc, ngày là lễ giỗ được gọi là Kije, được thực hiện đúng ngày mất với mục đích tưởng nhớ người đã mất. Trước đây, nghi lễ này được thực hiện vào nửa đêm trước ngày giỗ. Ngày nay, có rất nhiều gia đình đã chuyển sang làm giỗ vào sang sớm. Vào ngày ngày giỗ, các gia đình Hàn Quốc làm mâm cỗ cúng thịnh soạn.Trên bàn thờ bày biện các món ăn đặc biệt, hoa quả trước bài vị của người của người đã mất. Điều đặc biệt của nghi lễ này là người thực hành nghi lễ là những người đàn ông trong gia đình (kể con rể cũng được thực hành các nghi thức cúng tế trong nhà vợ). Sau khi hành lễ xong, mọi thành viên trong gia đình cùng tập trung ăn uống.Người Hàn Quốc quan niệm rằng: khi ăn uống những thức ăn dùng để cúng ông bà tổ tiên sẽ luôn được tổ tiên phù hộ, và gặp may mắn.

 

Ngày Tết cổ truyền:là thời điểm quan trọng nhất đối với người dân Hàn Quốc.Vào ngày này, họ làm lễ Cha’rye để tưởng nhớ về tổ tiên của gia đình. Họ chuẩn bị mọi thứ rất công phu và được bày biện lên ban thờ theo một quy tắc nhất định.Buổi lễ kết thúc khi người đàn ông cuối cùng hành lễ xong. Sau đó gia đình cùng thụ lễ và nói chuyện về truyền thống tốt đẹp của gia đình. Trong dịp Tết cổ truyền này, người dân Hàn Quốc cũng tổ chức viếng mộ tổ tiên. Nếu như lễ cúng tổ tiên tại nhà thường để cúng tổ tiên ở bốn đời gần nhất, từ đời thứ năm trở về trước được cúng tại mổ tổ mỗi năm một lần.

 

Ngày thức ăn lạnh (Hansic): là ngày thứ 105 sau ngày Đông chí, thường rơi vào khoảng đầu tháng 3 âm lịch. Vào ngày này, người Hàn Quốc chuẩn bị đồ cúng như rượu, hoa quả, rau, bánh, gạo, thịt, cá và nhiều loại thức ăn nữa để cúng tổ tiên.

 

Ngày 15 tháng 7 âm lịch: được coi là ngày trở về của các linh hồn đã khuất. Ở Việt Nam, Nhật Bản gọi là ngày xá tội vong nhân, trong tiếng Hàn cũng có nghĩa tương tự như vậy.

 

Ngày rằm tháng tám: Chusok – lễ hội mùa trăng): là dịp thờ cúng tổ tiên lớn nhất trong năm của người dân Hàn Quốc. Vào dịp này, mọi người đi làm xa đều cố gắng thu xếp công việc quay trở về gia đình để tham nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Đây là dịp để mọi người tập trung tại nhà người con trai trưởng và tổ chức một bữa tiệc lớn nhằm kỉ niệm một vụ mùa bội thu và quan trọng hơn cả là tưởng nhớ đền tổ tiên vì họ đã phù hộ cho con cháu trong năm qua.Trong ngày đầu tiên của dịp lễ, người ta sẽ dâng lên tổ tiên những sản phẩm của vụ mùa vừa thu hoạch. Họ thành kính dâng lên tổ tiên những đồ cúng bằng rượu, hoa quả, bánh chay và những loại hạt mới được thu hoạch như hạt dẻ, táo, hồng, và lê…Một loại bánh đặc trưng nhất trong ngày lễ này là bánh bột gạo hình bán nguyệt Songp’yon. Loại bánh này được làm từ gạo mùa mới xay nhỏ, mịn, mềm. Bên trong bánh có nhân đậu đỏ, vừng, hạt dẻ và được hấp trên lá cây thông mới hái.

 

Cũng trong dịp này, người Hàn Quốc cũng đi thăm viếng mộ, tỏ lòng thành kính với tổ tiên bằng việc dâng đồ cúng và thực hành nghi thức vái tạ. Vào dịp này, người ta còn tổ chức tu sửa mộ với mong muốn làm đẹp, sạch sẽ nơi an nghỉ của tổ tiên.

 

Việt Nam: Trong tục thờ cúng tổ tiên, người Việt coi trọng việc cúng giỗ vào ngày mất (còn gọi là kỵ nhật) thường được tính theo âm lịch (hay còn gọi là ngày ta). Họ tin rằng đó là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng. Không chỉ ngày giỗ, việc cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vào các ngày mồng một (còn gọi là ngày sóc), ngày rằm (còn gọi là ngày vọng), và các dịp lễ Tết khác trong một năm như: Tết Nguyên đán, Tết Hàn thực, Tết Trung thu, Tết Trùng cửu, Tết Trùng thập… Những khi trong nhà có việc quan trọng như dựng vợ gả chồng, sinh con, làm nhà, đi xa, thi cử…, người Việt cũng dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ, hay để tạ ơn khi công việc thành công. Bản chất việc thờ cúng tổ tiên của người Việt là từ niềm tin người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau. Con cháu thì thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân. Tổ tiên thì che chở, dẫn dắt hậu thế nên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm.

 

Ngày giỗ (kỵ nhật) là ngày kỷ niệm ngày mất của người thân trong gia đình hàng năm thường được tính theo âm lịch (hay còn gọi là ngày ta). Trong các ngày giỗ có ba ngày chú ý nhất: tiểu tường (giỗ đầu), đại tường (giỗ hết), trừ phục (lễ cởi bỏ đồ tang). Các ngày giỗ thường kỳ trong các năm sau được coi là cát kỵ (giỗ lành).

 

Trước lễ Tiểu tường, nhiều gia đình còn làm lễ Tiên thường (cáo giỗ) nhằm xin phép Thổ công để linh hồn người đã mất trở về gia đình nhận giỗ. Đồ lễ cúng trong giỗ đầu và giỗ hết phải chuẩn bị rất chu đáo. Theo quy định xưa, vào ngày giỗ đầu, trang phục tang lễ mũ gậy, áo xô lại được con cháu mang ra mặc. Đồ mã được gửi cho người chết cũng theo quy định: ở lễ tiểu đường đó là “mã biếu” vì người chết phải sử dụng để biếu các ác thần mong tránh sự quấy nhiễu (dân gian quan niệm cõi âm như cõi trần), ở lễ Đại tường và lễ Trừ phục (một ngày tốt được chọn sau lễ Đại tường để đốt bỏ tang phục) đồ mã còn cần nhiều hơn: mọi vật dụng sinh hoạt cho người chết ( quần áo, giầy dép, xe cộ), thậm chí cả các hình nhân bằng giấy để xuống cõi âm phục vụ cho họ. Sau khi hóa (đốt) những đồ mã này, đổ một chén rượu lên đống tàn vàng để vật mã trở thành vật thật, tiền thật dưới cõi âm. Người ta còn hơ một chiếc đòn gánh, gậy trên ngọn lửa hóa vàng, hoặc dựng một cây mía bên cạnh với lời giải thích “để các cụ gánh vác về”.

 

Đây là một lễ vô cùng quan trọng, bởi nhớ đến ông bà tổ tiên là đã thể hiện lòng thành kính với vong linh người đã khuất, không phụ thuộc vào việc làm giỗ lớn hay nhỏ. Chỉ với chén nước, quả trứng, nén hương cũng giữ được đạo hiếu.

 

Sau khi cúng giỗ, gia đình thường dọn thức ăn vừa cúng xong để cùng ăn, coi như hưởng lộc của tiền nhân. Bạn bè thân thuộc cũng được mời đến dùng bữa, tức là đi ăn giỗ.

 

Bên cạnh các nghi lễ cúng tế trong gia đình và gia tộc còn phải kể thêm vào hệ thống nghi thức tế lễ tổ tiên một hình thức Tảo mộ. Ngoài việc đắp thêm mộ trong ba ngày (sau khi người thân chết), các gia đình, dòng họ thường đi thăm mộ, cúng tế sửa sang mồ mả vào dịp Tết Thanh minh tháng ba. Việc cúng tế tại mộ thường diễn ra đơn giản hơn nhiều so với cúng tại nhà, nhưng trước khi cúng trước mộ người thân người ta phải khấn cáo xin phép thổ công. Thăm nom sang sửa mồ mả tổ tiên, một mặt là hình thức thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu, mặt khác bởi quan niệm mồ mả vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của cả gia đình, gia tộc. Người Việt cho rằng, nếu vị trí đặt mồ mả không tốt, hướng không đúng thì con cháu làm ăn sẽ lụi bại, không thể nào phát triển được.

 

  1. Ý nghĩa của việc thờ “thành hoàng làng” và thờ “vua hùng”?

 

  1. Ý nghĩa của việc thờ “thành hoàng làng”:

 

* Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng

 

Thành hoàng làng (Thành hoàng) là danh từ chung để chỉ vị thần được thờ trong một làng xã Việt Nam. Giống như Táo công và Thổ công, Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng và thường được thờ ở đình làng.

 

Tục thờ Thành hoàng vốn có nguồn gốc từ thời Trung Hoa cổ, sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng và thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”. Thành hoàng chính là vị chỉ huy tối linh của làng xã không chỉ về mặt tinh thần mà còn một phần về mặt đời sống sinh hoạt vật chất. Họ là vị thần tối linh, có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Cho nên sự thờ phụng thành hoàng xét cho cùng là sự thờ phụng luật lệ làng xã, lề thói gia phong của làng.  Thường mỗi làng chỉ thờ một Thành hoàng, song cũng có khi một làng thờ hai, ba hoặc hai ba làng thờ một vị. Thành hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tuỳ sự tích mỗi vùng. Đó có thể là một vị thần như Phù Đổng Thiên Vương, thần núi như Tản Viên Sơn thần, thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng… lại có khi là các yêu thần, tà thần… với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý. Nhưng có khi Thành hoàng chỉ là một người dân mà theo quan niệm đó là người được các vị thần ban cho sứ mệnh để sau này thay họ cai quản làng xã, được gọi là Thành hoàng sống.

 

* Ý nghĩa

 

Thành hoàng có sức toả sáng vô hình như một quyền uy siêu việt, khiến cho làng quê trở thành một hệ thống chặt chẽ. Chính sự thờ phụng này là sợi dây liên lạc vô hình, giúp dân làng đoàn kết, nếp sống cộng cảm hoà đồng, đất lề quê thói được bảo tồn. Vì lẽ đó, các hương chức cũng như các gia đình trong làng, mỗi khi muốn mở hội hoặc tổ chức việc gì đều phải có lễ cúng Thành hoàng để xin phép trước.

 

Dường như sự ngưỡng mộ Thành hoàng của người dân không kém gì sự ngưỡng mộ đối với tổ tiên của họ. Hàng năm, ngày giỗ Thành hoàng là ngày hội đông vui nhất của làng, của phố. Trong những ngày hội, ngoài việc làm cỗ, ăn uống còn rất nhiều nghi lễ như diễn lại sự tích về Thành hoàng, tế lễ, rước kiệu hay các trò vui: đấu võ, chọi gà, thổi cơm thi, bơi chải, đánh đu, đánh cờ người, hát chèo, diễn tuồng… Không khí vui vẻ cả ngày lẫn đêm (có nơi hai, ba ngày), từ các lão ông, lão bà đến mỗi cháu bé, và chờ đợi nhất, vui nhất là những trai gái đương lứa, đây là dịp để gặp gỡ, kết bạn, tỏ tình. Các thế hệ dân cứ tiếp tục sinh sôi nhưng Thành hoàng thì còn mãi, trở thành một chứng tích không thể phủ nhận được của mỗi làng qua những cơn chìm nổi.

 

  1. Ý nghĩa của việc thờ vua hùng

 

* Truyền thống thờ “vua Hùng”

 

Truyền thống thờ Vua Hùng gắn liền với truyền thống thờ tổ tiên của mỗi gia đình Việt Nam, là một tín ngưỡng sâu sắc, tồn tại từ lâu đời như một tôn giáo bản địa. Truyền thống này ra đời ngay trước khi xuất hiện ở Việt Nam những tôn giáo như: đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng và các tôn giáo khác sau này. Nói đến tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên thì không phải chỉ ở Việt Nam mới có mà tín ngưỡng này cũng tồn tại ở một số quốc gia khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên…nhưng ở Việt Nam lại có điểm khác biệt đó là cả dân tộc Việt Nam đều thừa nhận các Vua Hùng là Vị Quốc Tổ và lấy ngày 10-3 âm lịch hàng năm là ngày Giỗ Tổ.

 

Cùng với sự phát triển của đất nước qua mấy nghìn năm lịch sử, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã trở thành một loại hình sinh hoạt văn hoá đặc sắc trong đời sống tâm linh của dân tộc Việt. Chính vì thế mà tín ngưỡng Hùng Vương tồn tại và phát triển theo dọc chiều dài lịch sử Việt Nam.

 

* Ý nghĩa

 

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một tín ngưỡng thuộc dòng bản địa có sự giao thoa, hòa đồng của văn hóa Phật giáo và Nho giáo. Thờ cúng Hùng Vương gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Thờ vua Hùng là biểu hiện của sự biết ơn và tôn vinh công lao dựng nước của tổ tiên. Đây là một việc làm vừa mang ý nghĩa văn hóa, vừa thể hiện ý thức đạo đức cũng như chứa đựng những ý nghĩa tâm linh cao đẹp của mỗi còn người Việt Nam. Với sự linh thiêng và uy nghi của tín ngưỡng thờ Vua Hùng, ý thức cộng đồng dần được hình thành từ trong gia đình, củng cố làng xã rồi phát tiển trong toàn quốc theo quan hệ huyết thống: dòng máu lạc hồng, con cháu Lạc hồng…

 

Giỗ tổ Hùng Vương là biểu tượng tinh thần để quy tụ lòng người, quy tụ sự đoàn kết toàn dân tộc. Đó là biểu tượng văn hóa nói chung, văn hóa chính trị nói riêng; đồng thời trở thành nhu cầu văn hóa tinh thần của cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

 

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được Nhà nước tôn vinh, nhằm mục đích cố kết cộng đồng, thông qua các sinh hoạt văn hóa để giáo dục truyền thống lịch sử và ý thức đoàn kết dân tộc thành một khối thống nhất vì sự tồn vong của đất nước. Ý thức ấy được thấm vào máu thịt từng con người thông qua hoạt động văn hóa tâm linh. Biểu tượng Vua Hùng và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là điểm hội tụ của tinh thần đại đoàn kết dân tộc Việt Nam. Khi tâm thức nguồn cội của người Việt được nâng cao thì tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được lan tỏa và trở thành niềm tin thiêng liêng của mỗi người – niềm tin vào tổ tiên và sức mạnh thiêng liêng tiềm ẩn của các vua Hùng.

 

Về nơi thờ tổ tiên của dân tộc không chỉ là về với cội nguồn mà còn là cuộc hành hương về với đức tin truyền thống, vào sự linh thiêng huyền diệu của tổ tiên, của hồn thiêng sông núi. Cũng chính nhờ có đức tin và sự tôn thờ bất diệt trong tâm thức của mỗi người con đất Việt đối với tổ tiên ông bà, cha mẹ đến các vua Hùng, mà trong các thời kỳ lịch sử, sức mạnh của dân tộc đã được nhân lên gấp bội, vượt qua mọi khó khăn thử thách để tồn tại và không ngừng phát triển.

 

Ngày nay, trên đất nước ta, truyền thống thờ cúng Vua Hùng không mất đi ý nghĩa sâu sắc của nó. Ngược lại, nó cần được giữ gìn như một truyền thống tốt đẹp, một điều kiện tồn tại và phát triển của dân tộc. Từ uống nước nhớ nguồn, từ lòng biết ơn các thế hệ ông cha, biết ơn những anh hùng dân tộc, những danh nhân làm vẻ vang cho đất nước, nhân dân ta càng nâng cao niềm tự hào đối với Tổ quốc Việt Nam và tình yêu thương đối với nhân dân trong cả nước. Gần đây, những việc làm từ thiện, sự quan tâm đến những thành phần bất hạnh, những người nghèo túng, những nạn nhân của chất độc da cam, những người khuyết tật đang là những hành vi nuôi dưỡng truyền thống Vua Hùng, cần được cổ vũ và khuyến khích.

 

Đến nay cả nước đã có trên 1400 ngôi đền thờ vua Hùng và các tướng lĩnh thời Hùng Vương. Cứ đến dịp mùa xuân – Lễ hội Đền Hùng hàng năm có hàng triệu người con đất Việt về vùng đất cội nguồn linh thiêng để thắp nén tâm hương tri ân công đức tổ tiên. Những người ở xa không có điều kiện về nơi đất Tổ thì đến các đền thờ vọng để thắp hương bái Tổ.

 

Chúng ta sẽ tiếp tục tuyên truyền giáo dục để mỗi người dân đất Việt dù ở nơi đâu, làm bất cứ việc gì đều có ý thức kính hiếu tổ tiên, cùng nhau đoàn kết để xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng hùng cường sánh vai với các cường quốc năm châu như lời Bác Hồ căn dặn.

 

  1. Sự  kết nối giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên – thành hoàng làng – Vua hùng

 

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tồn tại ở ba cấp độ: gia đình – làng xã – quốc gia với mức độ đậm nhạt khác nhau. Thờ cúng tổ tiên còn là hình thái tín ngưỡng có ý nghĩa lớn về mặt tổ chức cộng đồng trong xã hội truyền thống. Sống trong xã hội, xét theo cả trục dọc và trục ngang, con người không thể sống biệt lập, đơn độc. Theo trục dọc phụ hệ, thờ cúng tổ tiên là sự nối tiếp liên tục các thế hệ: ông bà – cha mẹ – bản thân. Mỗi con người phải có trách nhiệm thờ phụng bốn đời trước: cao, tằng, tổ, khảo (kỵ, cụ, ông, bố) và họ cũng tin rằng sẽ được con cháu bốn đời kế tiếp cúng giỗ. Theo trục ngang, thờ cúng tổ tiên đã gắn bó con người trong mối liên kết Nhà – Làng – Nước. Với tư cách một tập thể – gồm cả người đang sống và người đã chết gắn bó với nhau về huyết thống và thờ chung một thủy tổ, có sức mạnh đảm bảo giá trị tinh thần cho mỗi thành viên của nó trong làng – nước

 

  1. KẾT LUẬN

 

Từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đến tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là sự kết tinh và phát triển các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Những giá trị ấy góp phần bồi đắp lòng yêu nước thương nòi, đạo lý uống nước nhớ nguồn, có trước có sau; xây dựng đời sống tinh thần phong phú trong thời đại mới. Không gì khác, chính từ những giá trị đó đã làm nên sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam trước bao biến cố của lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Tuổi trẻ chúng ta là những mầm non của đất nước, cần tiếp tục phát huy những tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và phong tục thờ Hoàng Thành cũng như thờ Vua Hùng của nhân dân ta, qua đó phần nào góp sức vào việc làm giàu vẻ đẹp văn hoá của đất nước Việt Nam ta.

NGHIÊN CỨU VĂN HÓA HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM CÓ Ý NGHĨA GÌ TRONG VIỆC LÝ GIẢI CÁC KHUYNH HƯỚNG LỰA CHỌN, CÁCH ỨNG XỬ, CÁCH HÀNH ĐỘNG VÀ TRIẾT LÝ SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM – BÀI TẬP HỌC KỲ ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM – 9 ĐIỂM

 

MỞ ĐẦU

 

Văn hóa là một trong bốn lĩnh vực rộng lớn có quan hệ mật thiết với kinh tế, chính trị và xã hội; có vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, văn hóa là đối tượng được nhiều bộ môn khoa học nghiên cứu trong đó có bộ môn khoa học tương đối mới là “văn hóa học”. Việc nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng giúp trang bị năng lực phản tư văn hóa, có tác dụng lớn trong giáo dục và bồi dưỡng nhân cách con người; đặc biệt quan trọng nghiên cứu đã giúp lý giải khuynh hướng lựa chọn,  cách ứng xử, cách hành động, triết lý sống của con người Việt Nam. Để hiểu thêm ý nghĩa quan trọng trên em xin lựa chọn đề 20: “Nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam có ý nghĩa gì trong việc lý giải các khuynh hướng lựa chọn, cách ứng xử, cách hành động và triết lý sống của người Việt Nam. Liên hệ đời sống văn hóa sinh viên luật hiện nay”.

 

NỘI DUNG

 

  1. Cơ sở lí luận

 

Văn hóa học là bộ môn khoa học tương đối mới, một văn hóa tích hợp, vừa nghiên cứu văn hóa nói chung, vừa nghiên cứu các hiện tượng văn hóa riêng biệt và nghiên cứu văn hóa như một chỉnh thể tự biến đổi và phát triển. Mục đích của Văn hóa học là phát hiện và phân tích quy luật của những biến đổi văn hóa xã hội.

 

 

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, gần đây UNESCO cũng đưa ra một định nghĩa chính thức như sau: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống giá trị truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”.

 

 

Có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau về văn hóa song nhìn chung với tư cách là một chỉnh thể, văn hóa có những đặc trưng cố hữu sau:

 

Thứ nhất, văn hóa là cái phân biệt con người với động vật. Văn hóa là đặc trưng riêng của xã hội loài người.

 

Thứ hai, văn hóa không được kế thừa về mặt sinh học mà qua học tập, giao tiếp.

 

Thứ ba, văn hóa là cách ứng xử đã được mẫu thức hóa.

 

  1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam trong việc lý giải các khuynh hướng lựa chọn, cách ứng xử, cách hành động và triết lý sống của người Việt.

 

  1. Khái quát về tình hình nghiên cứa văn hóa học và văn hóa Việt Nam.

 

Ở nước ta việc nghiên cứu và giảng dạy văn hóa học với tư cách một môn khoa học, mới chỉ bắt đầu. Cách đây hơn 60 năm, Đào Duy Anh đã  đặt viên gạch đầu tiên cho văn hóa học, khi cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” của ông được Quan Hải Tùng Thư ấn hành (năm 1938).

 

Cùng thời với Đào Duy Anh có tiễn sĩ Nguyễn Văn Huyên – người đã đi đầu trong việc khai phá xã hội học văn hóa và nhân học văn hóa ở Việt Nam. Rất tiếc rằng, những hướng nghiên cứu về văn hóa mà các ông mở ra đã không được tiếp tục trong một thời gian dài.

 

Gần đây có các công trình nghiên cứu của Phan Ngọc về “Văn hóa Việt Nam. Cách tiếp cận mới” (1994) và ” Bản sắc văn hóa Việt Nam” (1998). Năm 1993 Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia đã cho xuất bản hai công trình tập thể về “Văn hóa và phát triển” nhân thập kỷ quốc tế về văn hóa. Gần đây nhất là công trình ” Văn hóa Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Một số công trình về “Văn hóa học” và ” Xã hội học văn hóa” của Đoàn Văn Chúc, “Cơ sở văn hóa” của Trần Ngọc Thêm cũng được xuất bản. Những xuất bản phẩm đó đã đáp ứng được phần nào nhu cầu và giảng dạy văn hóa Việt Nam trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên trên thực tế có ít tài liệu lưu hành trong nước đề cập một cách có hệ thống các khái niệm và phương pháp của văn hóa học; nhiều ấn phẩm viết về văn hóa Việt Nam hiện nay vẫn mang tính dàn trải và nặng nề chất liệu lịch sử. Bởi vậy việc ứng dụng hệ thống và phương pháp của văn hóa Việt Nam đang là nhu cầu cấp bách hiện nay đối với giới nghiên cứu văn hóa trong nước. Chỉ trên cơ sở vận dụng văn hóa học vào văn hóa Việt Nam, mới có thể tạo dựng được nền móng của bộ môn Đại cương văn hóa Việt Nam.

 

  1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam trong việc lý giải các khuynh hướng lựa chọn, cách ứng xử, cách hành động và triết lý sống của người Việt.

 

Nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam không chỉ trang bị năng lực phản tư văn hóa, giáo dục, bồi dưỡng nhân cách con người mà còn giúp lý giải các khuynh hướng lựa chọn, cách ứng xử, cách hành động và triết lý sống của con người Việt Nam.

 

  1. Việc nghiên cứu đã cung cấp những kiến thức cần thiết giúp chúng ta hiểu biết về các nền văn hóa thế giới và văn hóa dân tộc, từ đó có cái nhìn đối sánh, giúp lý giải từ giác độ văn hóa, vì sao lại có sự khác biệt trong cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách lựa chọn triết lý sống của những cộng đồng khi đứng trước những tình huống (được giả định) là giống nhau.

 

Ví dụ như từ sự hiểu biết sâu sắc về bản chất văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây giúp chúng ta có cái nhìn đối sánh và lý giải vì sao có sự khác nhau trong cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề cách lựa chọn triết lý sống của phương Đông và phương Tây lại có sự khác nhau.

 

Sự khác nhau bắt đầu từ quan niệm con người. châu Âu chịu ảnh hưởng của Cơ đốc giáo coi con người là sản phẩm hoàn chỉnh nhất của Chúa, còn tự nhiên thì man rợ, con người phải sắp xếp lại. Do đó, châu Âu coi con người là trung tâm. Còn phương Đông gắn con người với tự nhiên, coi con người là một thành viên của vũ trụ. Về tự nhiên, Phương Đông sống hài hòa với thiên nhiên, kém phát triển khoa học kỹ thuật còn phương Tây thích nghi phát triển khoa học kỹ thuật, mất cân bằng môi trường. Về xã hội, phương Đông tính cộng đồng, tập thể cao, kém giải phóng cá nhân còn phương Tây cộng đồng lỏng lẻo, nhưng lại giải phóng cá nhân. Về tư duy, phương Đông tư duy biện chứng, kém phân tích, ít khoa học ngược lại phương Tây tư duy khoa học duy lý, phân tích theo lối tư duy cơ giới. Về lối sống, phương Đông coi trọng đời sống tinh thần ít thực dụng, nghèo; còn phương Tây  coi trọng kinh tế, giàu có và ít quan tâm đến đời sống tinh thần.

 

Việc nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong ứng xử với tự nhiên và xã hội, con người dù phương Đông hay phương Tây đều có ứng xử hai mặt cân bằng, nhưng tùy theo sự lựa chọn nghiêng về một phía nào đó mà mỗi nền văn hóa khác nhau có những mặt mạnh và mặt yếu riêng, rất đa dạng, phong phú. Giữa hai nền văn hóa có một sự tương ứng theo trật tự: cái gì phương Tây mạnh thì phương Đông yếu, ngược lại cái gì phương Đông mạnh thì phương Tây yếu. Do vậy trong quá trình hội nhập hai nền văn hóa phải bổ sung cho nhau, chứ không loại trừ nhau hay thay thế lẫn nhau. Vì vậy cần có sự hội nhập Đông – Tây và phải được tiến hành theo phương châm: mỗi bên đều phải giữ cái bản thể của mình và trên cơ sở đó mà tiếp nhận cái mới, cái tinh hoa của người khác với mục đích làm tăng thêm sức sống chứ không để mất đi bản sắc của mình.

 

Theo GS.TS Lê Văn Quán (2007), văn hóa truyền thống Việt Nam mang những đặc điểm cơ bản của văn hóa truyền thống phương Đông. Cội nguồn văn hóa là nền văn hóa gốc nông nghiệp. Việt Nam là một quốc gia có truyền thống văn hóa lâu đời. Việt Nam là xứ nóng (nhiều mưa), đồng bằng (ẩm thấp), có lối sống chủ yếu là trồng trọt, định cư, trọng tĩnh, hướng nội, khép kín; tư duy nhận thức là tổng hợp, biện chứng (trọng quan hệ), chủ quan, duy linh. Người Việt Nam ứng xử với môi trường tự nhiên theo cách thuận theo tự nhiên, hòa hợp với tự nhiên. Về xã hội, người Việt Nam  nặng về cộng đồng, đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm mềm dẻo, hiếu hòa, trọng tình, trọng đức, trọng phụ nữ. Tổ chức cộng đồng Việt Nam thì linh hoạt, trọng tập thể, ý thức cộng đồng cao. Người Việt Nam sống khiêm tốn và nhường nhịn. Cái lý cao nhất của văn hóa cộng đồng hay văn hóa làng là lấy tiêu chí đoàn kết, thống nhất, tinh thần đùm bọc, “thương người như thể thương thân”. Lối suy nghĩ của người Việt Nam phần lớn chịu ảnh hưởng của phương thức sản xuất nông nghiệp. Nét văn hóa cộng đồng – huyết thống, vùng miền, văn hóa làng đã tạo nên ý thức cộng đồng cao, trọng tập thể, cái tôi cá nhân ít được chú trọng. Trong quá trình phát triển, văn hóa Việt Nam đã có sự giao thoa, tiếp biến với những nền văn hóa bên ngoài Văn hóa Việt Nam đã tiếp thu những giá trị tiến bộ từ bên ngoài, đồng thời vẫn giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa của mình.

 

Về cách ứng xử: Việc nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam chỉ ra rằng văn hóa làm nền và định hướng cho cách ứng xử của con người Việt Nam hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ với người khác, với xã hội, với tự nhiên và với chính bản thân. Văn hóa làm cho con người biết cách ứng xử phù hợp với đạo lý truyền thống hướng tới một cộng đồng ngày một đổi mới, tiến bộ và văn minh hơn.

 

Về tiềm năng sáng tạo và mối quan hệ với môi trường tự nhiên: Văn hóa còn khơi dậy tiềm năng sáng tạo vô tận của nguồn lực con người. Tiềm năng sáng tạo này nằm trong văn hóa, nghĩa là trong sự hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý sống, thẩm mỹ và hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng đồng dân tộc. Từ đó con người biết khai thác tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đồng thời biết tiếp thu và vận dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ cho sự phát triển. Từ những kiến thức của văn hóa con người biết tránh lối sống vị kỷ, biết phê phán những ham muốn quá mức của “xã hội tiêu thụ” dẫn đến làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái, đe dọa của bản thân nền văn minh nhân loại. Từ đó con người biết sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tái sinh, đồng thời xây dựng lối sống chừng mực hơn, tạo nên sự cân bằng giữa ước muốn của con người với tài sản sinh thái của hành tinh chúng ta. Tính nhân văn và nền tảng đạo đức phải trở thành yếu tố xuyên suốt trong bảo vệ môi trường vì sự phát triển an toàn và bền vững của thế hệ nay và thế hệ mai sau.

 

Về đạo đức và lối sống là những giá trị cốt lõi của văn hóa. Thực tế, nước ta dù mức sống chưa cao nhưng có lẽ sống đẹp lành mạnh như câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách, đói cho sạch rách cho thơm”.

 

Như vậy từ sự hiểu biết về văn hóa qua nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam giúp chúng ta có cái nhìn đối sánh văn hóa Việt Nam với văn hóa khu vực và cả trên thế giới; qua đó cũng lý giải được vì sao có khác biệt với các nước về văn hóa, cách ứng xử với tự nhiên và xã hội, đạo đức, lối sống.

 

  1. Nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam còn là những kiến thức hết sức hữu ích cho việc hình thành nên triết lý kinh doanh, xây dựng ý thức pháp luật, định hướng tâm lý tiêu dùng, và biết tạo lập phong cách làm việc sao cho có hiểu quả cho con người Việt Nam.

 

Hình thành triết lý kinh doanh: Việc nghiên cứu văn hóa cung cấp những kiến thức hữu ích cho việc hình thành nên triết lý kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường do tác động của quy luật giá trị, cung- cầu, cạnh tranh… bên cạnh những mặt tích cực thì mặt trái của chế độ thị trường cũng nảy sinh và phát triển trong một bộ phận dân cư có tâm lý sùng bái hàng hóa, sùng bái tiền tệ chạy theo các giá trị vật chất, xem thường giá trị nhân văn. Do đó bên cạnh việc quản lý và điều tiêt vĩ mô bằng luật pháp và các chính sách khác của nhà nước, văn hóa đã điều tiết tinh thần cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, làm cho nó phát triển thành một nền kinh tế thị trường văn minh bằng việc người kinh doanh vận dụng  kiến thức về văn hóa mà hình thành nên triết lý kinh doanh phù hợp với giá trị nhân văn. Người kinh doanh lấy chữ tín và chữ tài làm trọng chứ không phải dựa trên sự gian dối và lừa đảo để đạt lợi nhuận cao nhất và trong thời gian ngắn nhất.

 

Mặc dù vốn là một nước chưa có truyền thống kinh doanh phát triển nhưng từ lâu người Việt Nam đã khuyên bảo nhau làm theo châm ngôn: “Thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Tu tại chợ là quan hệ đạo đức ngoài xã hội – vấn đề được đặt ra ở vị trí trung tâm vì đây là thử thách gay go nhất, các nhà kinh doanh Việt Nam muốn hướng tới tính trung thực, vượt lên sự giả dối, để cái thiện thắng cái bất lương trong trao đổi giữa tiền và hàng. Nhiều giới hạn mà đồng tiền không thể vươn tới được đó chính là hạnh phúc và niềm vui chân chính của con người. Vì vậy triết lý kinh doanh người Việt Nam là kiếm lời phải văn minh không chỉ dựa trên pháp luật mà còn cả lương tri của con người. Mở mang kinh doanh buôn bán làm giàu cho đất nước đồng thời phải biết tôn trọng những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Các nhà kinh doanh phấn đấu kết hợp làm giàu với việc làm điều nhân, giữa cái lợi và cái đẹp trong kinh doanh vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh đây là một xu hướng tiến bộ vừa phù hợp với truyền thống dân tộc vừa phù hợp với thời đại. Tóm lại, triết lý kinh doanh của những con người có lý tưởng đều mang nội dung nhân bản sâu sắc, vì nó được dựa trên một quan niệm đúng đắn vì hạnh phúc cá nhân không tách rời mà gắn bó mật thiết với hạnh phúc của cộng đồng. Đó chính là sự kết tinh những giá trị văn hóa vào trong kinh doanh.

 

Xây dựng ý thức pháp luật: Xã hội nào cũng cần pháp luật như một công cụ điều chỉnh hành vi của con người trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống nhưng trên thực tế, con người chịu sự điều chỉnh của văn hóa nhiều hơn là pháp luật vì con người luôn hành động theo tập quán, theo thói quen… Pháp luật là công cụ để nhà nước quản lý xã hội một cách thống nhất nên nó rất rành mạch. Vì vậy truyền thống duy tình ở nước ta làm cho ứng xử của con người dễ theo cảm tính khi cho rằng “trăm cái lý chẳng bằng một tý cái tình”. Bản thân pháp luật phải vận động và biến đổi theo các điều kiện kinh tế – xã hội nên sự trì trệ trong tâm lý “trọng tình, duy tình”của người Việt vốn ưa sự ổn định sẽ không thể đáp ứng kịp. Người Việt không có thói quen tuân theo pháp luật và quan niệm pháp luật gần với hình phạt hơn là gần với công lý nên sợ pháp luật, không coi pháp luật như một phương tiện để bảo vệ mình, cho rằng pháp luật là để thống trị chứ không phải là công cụ để điều tiết xã hội và bảo vệ con người. Quan hệ quần cư bền vững có nhiều điểm tốt là tạo ra sức mạnh cho cộng đồng nhưng làm cho người ta dễ bao che cho nhau vì sợ điều tiếng hoặc bị tẩy chay. Do vậy, các hành vi tố giác tội phạm gần như không diễn ra mặc dù đó là hành vi phạm tội đã được luật hình sự quy định. Trong trường hợp này thì người ta còn sợ dư luận hơn cả hình phạt. Vì vậy Nhà nước ta phải xây dựng pháp luật phù hợp với phong tục tập quán với văn hóa, để cho người Việt tiếp nhận pháp luật một cách tự nguyện và tích cực.

 

Văn hóa có một ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với pháp luật. Văn hóa chính là cuộc sống, do đó để pháp luật được thực hiện hiểu quả thì xây dựng ý thức pháp luật của người dân là chưa đủ mà phải xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp với thực tiễn. Kinh nghiệm văn hóa là nền tảng quan trọng nhất để xây dựng pháp luật chứ không phải chỉ là những kinh nghiệm pháp lý. Nếu pháp luật được xây dựng trên những kinh nghiệm văn hóa, tức là thừa nhận cuộc sống chứ không áp đặt lên cuộc sống, thì tốc độ thâm nhập của pháp luật vào trong cuộc sống sẽ nhanh hơn, khi đó việc tuân thủ pháp luật trở thành thói quen có chất lượng văn hóa của con người. Pháp luật càng gần với tập quán cũng như thói quen của con người, càng có chất lượng văn hóa bao nhiêu thì pháp luật càng dễ được chấp nhận bấy nhiêu.

 

Định hướng tâm lý tiêu dùng: Ngày nay với sự mở cửa và hội nhập, người tiêu dùng có rất nhiều sự lựa chọn. Xu hướng tiêu dùng, tâm lý tiêu dùng đã cao hơn. Tuy nhiên hiện nay người Việt có tâm lý sính ngoại hoặc chưa hiểu biết nhiều về hàng Việt. Từ việc nghiên cứu, chúng ta biết được nguyên nhân cũng như đưa ra các giải pháp khắc phục, đồng thời cũng định hướng tiêu dùng cho người Việt là “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” để phù hợp văn hóa cũng như định hướng phát triển kinh tế của đất nước.

 

Các lý do chính làm người Việt thiếu lòng tin vào các sản phẩm trong nước là thông tin, quảng bá ít và không rõ ràng, minh bạch, thiếu đa dạng, chất lượng không ổn địn, không có quy định hoặc thực hiện bảo hành không nghiêm túc, không tận tình. Bên cạnh đó, chính sách khuyến mãi không rõ ràng, tính chuyên nghiệp thấp… Ngoài ra những rào cản để hàng Việt khó đến gần hơn với người tiêu dùng chính là tình trạng hàng ngoại nhập giá rẻ, hàng lậu diễn ra ngày càng phức tạp và gia tăng. Dù các doanh nghiệp trong nước đã tích cực đổi mới hoạt động, nâng cao chất lượng và đa dạng sản phẩm nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng phong phú của người tiêu dùng.

 

Vì vậy, chúng ta phải củng cố và tăng lòng tin của người tiêu dùng vào các sản phẩm Việt. Mấu chốt vẫn là chất lượng. Do vậy, doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng với giá cả hợp lý, mở rộng kênh phân phối hàng hóa trên thị trường nội địa qua các kênh bán lẻ hiện đại và kênh bán lẻ truyền thống. Đồng thời, Nhà nước và doanh nghiệp cần phải cần phải có một chiến lược lâu dài và bền vững, cần phải có những chính sách, văn bản kịp thời rõ ràng, minh bạch nhằm cổ động cho việc ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Từ đó tăng lòng tin của người tiêu dùng tin cậy, sử dụng hàng Việt, thực hiện thành công định hướng tiêu dùng “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”  để vừa thúc đẩy nền kinh tế  cũng như duy trì, phát triển nền văn hóa Việt Nam.

 

Tạo lập phong cách làm việc có hiểu quả: Trong bối cảnh công cuộc đổi mới, nhiều chuẩn mực và giá trị mới cũng đã được hình thành. Đặc biệt con người Việt Nam biết học hỏi từ nền văn hóa phương Tây biết tạo lập phong cách làm việc mới trên cơ sở phát huy những mặt mạnh vốn có và khắc phục những hạn chế để xây dựng tác phong công nghiệp thể hiện trước nhất ở việc tuân thủ và biết quý trọng thời gian để khắc phục có thói quen “giờ cao su”. Đồng thời xây dựng tính chuyên nghiệp, để biết cách điều tiết công việc phù hợp với tiến độ và môi trường xung quanh để tạo nên hiệu quả tốt nhất. Phát triển khả năng độc lập và tự chủ trong công việc để cho phép chúng ta phát huy được tính sáng tạo của mình, sẽ giúp chúng ta tránh khỏi việc lúng túng và bối rối trước bất kỳ sự tình huống thay đổi những biến đổi bất ngờ từ môi trường làm việc năng động và hiện đại như ngày nay. Qua đó không ngừng học hỏi và nâng cao kiến thức chuyên môn trang bị cho mình những kiến thức phù hợp với thời đại để tránh khỏi việc bị đào thải. Con người Việt Nam còn tiến tới tăng cường ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến cho mỗi bản thân xem việc của công ty như là việc của chính mình và dốc hết sức để hoàn thành nó một cách hiệu quả nhất. Học hỏi cách giao tiếp hiệu quả đó là chiếc chìa khóa vàng đối với sự thành công; còn giúp chia sẻ, học tập được nhiều kinh nghiệm trong công việc, mở rộng các mối quan hệ xã hội và nắm bắt nhanh chóng các cơ hội để đi đến thành công. Từ đó tác phong công nghiệp, tính năng động xã hội của con người Việt Nam đã được khơi dậy thay cho thái độ ỷ lại, trông chờ. Đầu óc cải tiến, sáng tạo dần dần vượt lên thái độ bảo thủ, giáo điều. Sở trường năng lực tài giỏi được cộng đồng khuyến khích, công nhận. Ý thức cá nhân trong tập thể được xác định rõ ràng.

 

Qua việc nghiên cứu, hiểu biết về văn hóa, con người Việt Nam đã  khắc phục nhiều mặt hạn chế tiến tới tạo lập phong cách làm việc hiểu quả phù hợp với thời đại. Các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc đã được kế thừa đổi mới và phát huy để làm động lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội .

 

  1. Nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam, đặc biệt còn cung cấp những kiến thức giúp người học đánh giá đúng mức các cơ hội cũng như thách thức mà thời đại đang đặt ra đối với bản sắc văn hóa dân tộc.

 

Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là tài sản vô giá, là linh hồn của dân tộc được hun đúc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với bao biến cố thăng trầm của lịch sử được viết lên bằng máu, nước mắt và mồ hôi của cả dân tộc Việt Nam.Trong bối cảnh quốc tế đầy biến động như hiện nay, dân tộc Việt Nam với tư cách một chủ thể văn hóa càng phải thể hiện rõ cốt cách, tư chất, khí phách của mình để bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam trước những khó khăn, phức tạp mới trong xu thế giao lưu, hội nhập toàn cầu. Để thực hiện điều này, chúng ta cần đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử, truyền thống yêu nước, lòng tự tôn, tự hào dân tộc… để hun đúc khí phách, cốt cách và tư chất con người Việt Nam trong thế ứng xử với xu thế giao lưu, hội nhập ngày càng sâu rộng. Đồng thời, nêu cao tính chủ động để sẵn sàng giao lưu, hội nhập, tiếp thu những giá trị văn hóa nhân loại với tư thế, tư chất và khí phách con người Việt Nam.

 

Giao lưu văn hóa là quy luật tồn tại và phát triển của mọi nền văn hóa và mọi xã hội từ xưa đến nay. Từ việc nghiên cứa văn hóa học và văn hóa Việt Nam còn giúp chúng ta hiểu vai trò của việc giao lưu văn hóa; đặc biệt còn giúp “đánh giá đúng mức các cơ hội cũng như thách thức mà thời đại đang đặt ra đối với bản sắc văn hóa dân tộc”.Qua đó cũng làm chúng ta suy nghĩ về biện pháp khắc phục. Việc mở rộng giao lưu quốc tế văn hóa đứng trước nhiều thách thức và cơ may.

 

Cơ may là khả năng mở rộng giao lưu trên thế giới, qua đó những giá trị ưu tú của văn hóa dân tộc có dịp tỏa sáng bên ngoài, đồng thời có thể tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc văn hóa Việt Nam.

 

Thách thức là đó là sự khác biệt về dân tộc, sắc tộc, niềm tin… những tiền đề đó có thể là tiền đề giao lưu hợp tác thì nó cũng chứa đựng những nguy cơ biến thành mâu  thuẫn và xung đột, nếu chúng ta không biết cảnh giác ngăn ngừa, khắc phục thái độ kỳ thị văn hóa trong quan hệ giữa các  nước. Có lẽ nguy cơ và thách thức lớn nhất đối với nước ta là sự lan tràn những sản phẩm văn hóa phương Tây. Đó không phải là loại sản phẩm chứa đựng các giá trị nhân bản bắt nguồn từ những lý tưởng cao đẹp mà đó là sự xâm nhập ồ ạt những phim ảnh, sách báo, băng nhạc, băng hình,…cổ vũ những quan niệm cá nhân cực đoan, thái độ vô trách nhiệm với gia đình và xã hội. Gây ảnh hưởng đến khuynh hướng lựa chọn, cách ứng xử, cách hành động và triết lý sống của người Việt Nam đặc biệt là giới trẻ. Từ đó nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc.

 

Do vậy chỉ có chấn hưng văn hóa dân tộc theo yêu cầu của thời đại thì bản thân văn hóa mới có khả năng  tự điều chỉnh vượt qua thách thức và nắm lấy cơ may vì sự phát triển nhanh lành mạnh của đất nước. Để phát huy những thuận lợi, tranh thủ thời cơ, khắc phục những khó khăn thì việc giao lưu văn hóa phải được thực hiện trên tinh thần khoan dung tích cực và đúng đắn, không phân biệt, đối xử trong quan hệ giữa các nền văn hóa, trái lại phải biết đánh giá một cách khách quan và biết cách tiếp nhận những giá trị tinh hoa của các nền văn hóa khác làm giàu thêm hương sắc của nền văn hóa Việt Nam trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc.

 

Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và giao lưu quốc tế không chỉ là chức năng của nền văn hóa, mà là nhiệm vụ của tất cả các cấp, các nghành. Sự hiện diện nhân tố văn hóa ở mọi hoạt động , mọi cách ứng xự đối ngoại trong quá trình giao lưu hợp tác với các nước là biểu hiện của tự trọn, tự hào dân tộc, đồng thời sự tôn trọng các dân tộc khác. Vì vậy cần làm tốt việc mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế, trên cơ sở giữu gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

 

III. Liên hệ với đời sống văn hóa của sinh viên luật hiện nay.

 

Văn hóa đời sống sinh viên trước hết phải được coi là một bộ phận không tách rời của văn hóa dân tộc. Vì vậy, đời sống văn hóa của sinh viên trước hết cũng phản ánh bản sắc văn hóa của dân tộc với những đặc điểm chung của văn hóa dân tộc. Đặc biệt là đời sống văn hóa sinh viên Luật vừa kế thừa văn hóa truyền thống của dân tộc ta vừa biết kết hợp văn hóa hiện đại để hình thành nên một phong cách sinh viên Luật riêng biệt có lối sống có mục đích, với tính năng động là nơi thể nghiệm những kiến thức nhận được từ thế hệ đi trước, tiếp thu được từ thế giới bên ngoài tạo ra những hệ giá trị mới, mô thức ứng xử mới, với những lựa chọn sống mới.

 

Nhiều phong trào tình nguyện mà sinh viên luật tham gia vì cộng đồng đã làm nên truyền thống và tạo nên dấu ấn rất riêng như: Chiến dịch Mùa hè xanh, Tiếp sức mùa thi… từ nhiều năm qua, đông đảo sinh viên còn quan tâm đến các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta. Đời sống văn hóa sinh viên luật thể hiện ở những mặt sau:

 

Đối với các vấn đề chính trị – xã hội: sinh viên luật quan tâm nhiều đến các vấn đề chính trị – xã hội, có những quan điểm đúng đắn, có thái độ rõ ràng, dứt khoát với những hành vi sai lệch của các thế lực thù địch.

 

Về mục đích sống: Đa phần sinh viên luật đều có mục đích sống rõ ràng, luôn có ý thức xây dựng cho mình một nếp sống, giá trị sống có mục đích. Bên cạnh đó, các giá trị khác của cuộc sống mang những nét đặc trưng của tuổi trẻ cũng rất được sinh viên quan tâm, mong muốn thành đạt muốn có cuộc sống ý nghĩa để tự khẳng định được giá trị, khả năng của chính mình.

 

Sinh viên luật ngày nay tham gia tích cực các phong trào xã hội, có nhu cầu giải trí lành mạnh, đã tham gia các phong trào “mùa hè xanh tình nguyện” và thu được nhiều  kết quả, góp phần làm cho thành phố xanh, sạch, đẹp. Chương trình “tiếp sức mùa thi” đã tư vấn và hỗ trợ thông tin cho các thí sinh và người nhà về giới thiệu chỗ ở giá rẻ, chỗ ở miễn phí, phát nhiều bản đồ…

 

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, mức sống, mức thu nhập của đại bộ phận người dân đang ngày càng nâng cao, các nhu cầu giải trí của thanh thiếu niên hiện nay trong các đô thị lớn ngày càng đa dạng. Ở lĩnh vực này, hầu hết sinh viên Luật cũng đã thể hiện được xu hướng tích cực, chủ động trong lựa chọn các nhu cầu giải trí của mình: đọc sách, báo, xem tivi, làm việc vặt trong nhà, đi chơi với bạn bè, chơi thể thao,…

 

Cách ứng xử và ăn mặc : Cách ứng xử, cách ăn mặc của thanh thiếu niên cũng là một khía cạnh trong đời sống văn hóa, lối sống văn hóa. Ở khía cạnh này, sinh viên Luật nói chung, phần đông có ứng xử tốt trong quan hệ gia đình, cộng đồng, ăn mặc phù hợp với phong cách của người Việt.

 

Ứng xử trong các mối quan hệ xã hội, đặc biệt trong quan hệ gia đình và cộng đồng là một biểu hiện của đời sống văn hóa, lối sống văn hóa sinh viên Luật ngày càng nhận thức được những lối sống văn hóa cần được thể hiện trong cách ứng xử của mình.

 

Ăn mặc góp phần tạo nên phong cách và đó cũng là một biểu hiện của đời sống văn hóa, lối sống văn hóa của con người nói riêng, một cộng đồng xã hội nói chung. Ở lĩnh vực này, sinh viên luật hầu hết ăn mặc phù hợp với truyền thống của người Việt, tất nhiên ở họ cũng có sự cách điệu cho phù hợp với phong cách của giới trẻ.

 

Về học tập: Học tập đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đời sống văn hóa tốt, lối sống lành mạnh. Những biểu hiện trong học tập cũng là những nét cơ bản trong đời sống văn hóa, lối sống văn hóa. Ở khía cạnh này, hầu hết sinh viên luật thể hiện sự năng động, sáng tạo, ham học hỏi. Điều này được minh chứng ở các điểm sau: trình độ học vấn, ý chí tự lực tự cường, nỗ lực vươn lên trong cuộc sống…

 

Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, đời sống văn hóa, lối sống văn hóa của một số bộ ít phận sinh viên cũng bộc lộ những vấn đề cần quan tâm. Trước hết, quan niệm về cuộc sống của một bộ phận sinh viên còn lệch lạc, có lối sống thực dụng, không có lý tưởng, coi trọng giá trị vật chất hơn giá trị tinh thần. Một bộ phận sinh viên ăn mặc phản cảm,đua đòi, có cách ứng xử, lối sống xa lạ với đạo lý truyền thống và văn hóa dân tộc”. Một số sinh viên chưa có ý thức tự giác trong việc tham gia giao thông…Những hạn chế nêu trên là hệ quả của rất nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân sâu xa cần phải kể đến là trách nhiệm của gia đình, của các bậc phụ huynh ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành nhân cách cũng như lối sống văn hoá cho thanh niên. Do đó hơn ai hết các bậc cha mẹ cần nhận thức đúng trách nhiệm của mình để giữ gìn hạnh phúc gia đình, xây dựng gia đình văn hóa: no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Bên cạnh việc giáo dục của gia đình, sự cần thiết phải có sự quan tâm hơn nữa của nhà trường và xã hội.

 

Đối với mỗi người sinh viên Luật, không chỉ phải chấp hành các nội quy, quy chế nhà trường, phải học, hiểu luật, mà còn phải gương mẫu thực hiện luật, đồng thời biết tuyên truyền đến địa phương nơi đang sinh sống những tư tưởng của Đảng của Nhà nước ta. Phải có “phong cách sinh viên Luật” đưa ra những tiêu trí để hoàn thành như: Sinh viên Luật học tập nghiêm túc, chất lượng. Sinh viên Luật ứng xử văn hóa, văn minh. Sinh viên Luật đi đầu trong chấp hành và tuân thủ pháp luật. Tham gia tích cực vào những chương trình mang ý nghĩa lớn như: cùng chung tay bảo về môi trường, hiến máu nhân đạo, tiếp sức mùa thi,… nâng tầm hình ảnh Sinh viên Luật thiết thực trong các hoạt động chung tay vì cộng đồng.

 

KẾT LUẬN

 

Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, để xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thì việc bồi dưỡng, khai thác và phát huy mọi tiềm năng trí tuệ, tiềm năng sáng tạo văn hóa của mỗi con người Việt Nam và cả cộng đồng dân tộc có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc nghiên cứu văn hóa học và văn hóa Việt Nam cung cấp kiến thức về văn hóa cho mỗi con người Việt Nam, đặc biệt là học sinh sinh viên – thế hệ tương lai của đất nước, góp phần thành công trong cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Giáo trình
  2. TS. Phạm Thái Việt, TS. Đào Tuấn Ngọc, Đại cương về văn hóa Việt Nam, NXB văn hóa – thông tin 2004
  3. Trần Ngọc Thêm, cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB giáo dục 2000
  4. Hồ Sĩ Vịnh, Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới, NXB chính trị quốc gia
  5. Gs. Phạm Xuân Nam, Văn hóa vì phát triển, NXB chính trị quốc gia

 

  1. Website
  2. http://www.vanhoahoc.vn/

2.http://luatminhkhue.vn/bai-viet/anh-huong-cua-van-hoa-doi-voi-phap-luat.aspx

3.http://luanvan.net.vn/luan-van/tac-dong-cua-yeu-to-van-hoa-viet-nam-den-hoat-dong-kinh-doanh-quoc-te-cua-tap-doan-honda-tai-viet-nam-1822/

PHÂN TÍCH VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ GIAO LƯU – TIẾP BIẾN VĂN HÓA – BÀI TẬP HỌC KỲ ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM

 

Toàn cầu hóa hiện nay không chỉ là xu thế mà đã trở thành dòng chảy lôi cuốn mọi quốc gia dân tộc. Một mặt đây là cơ hội lớn để mọi quốc gia dân tộc tiếp thu và hưởng dụng những thành quả văn minh của toàn nhân loại và nhanh chóng tự biến đổi cho theo kịp trình độ phát triển chung của thế giới, một mặt có thể v là nguy cơ đối với một số dân tộc tự đánh mất bản sắc của mình trong quá trình hội nhập. Vì vậy, để hoàn thiện một cái nhìn tổng quát nhất về văn hoá Việt Nam, trong bài tập cuối kì này em xin chọn đề tài: “Phân tích văn hóa Việt Nam từ góc độ “Giao lưu – tiếp biến văn hóa”. Nêu những biểu hiện cụ thể trong tiến trình phát triển của văn hóa Việt Nam”. Qua đó sẽ giúp chúng ta có thể nhìn thấy chính xác hơn những nét riêng biệt đã có làm nên giá trị muôn đời của văn hoá Việt. Một nền văn hóa luôn được bảo tồn, gìn giữ cho muôn đời sau những giá trị văn hoá qúy giá của dân tộc.

 

 

NỘI  DUNG

 

I.Một số khái niệm cơ bản

 

  1. Khái niệm văn hóa.

 

  1. Định nghĩa

 

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Theo tổ chức UNESCO: “Văn hóa là tập hợp các hệ thống biểu tượng quy định hành vi và đảm bảo sự trao đổi thông tin lẫn nhau của một quần thể người làm họ thành một tập thể đặc biệt và khác biệt”.

 

  1. Đặc điểm

 

Với tư cách là một chỉnh thể, văn hóa mang trong nó những đặc trưng cố hữu sau:

Văn hóa là cái phân biệt con người với động vật; văn hóa là đặc trưng riêng của xã hội loài người.

Văn hóa không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền), mà phải học tập, giao tiếp.

Văn hóa là cách ứng xử được mẫu thức hóaa.

 

  1. Khái niệm giao lưu văn hóa.

 

Giao lưu văn hóa bao hàm trong đó sự chung sống của ít nhất hai nền văn hóa (của hai cộng đồng, hai dân tộc, hai đất nước) và giao lưu là hình thức quan hệ trao đổi văn hóa cùng có lợi, giúp đáp ứng một số nhu cầu không thể tự thỏa mãn của mỗi bên, giúp tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa để từ đó làm nẩy sinh nhiều nhu cầu mới thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát triển. Do đó giao lưu văn hóa là dạng cộng sinh giữa các nền văn hóa.

 

  1. Khái niệm tiếp biến văn hóa.

 

Tiếp biến văn hóa – một hình thức biến nhiều lợi ích tiềm năng mà giao lưu văn hóa đem lại thành những lợi ích thực tế – là hiện tượng tiếp nhận có chọn lựa một số yếu tố văn hóa ngoại lai và biến đổi chúng cho phù hợp với điều kiện sử dụng bản địa, tức phù hợp với văn hóa bản địa, và sau một thời gian sử dụng và biến đổi tiếp thì chúng trở thành những yếu tố văn hóa bản địa ngoại sinh.

 

“Tiếp biến văn hóa” thể hiện qua hai phương thức: Phương thức bạo lực (qua chiến tranh, xâm lược, đế quốc chủ nghĩa thực dân): đối đầu (xung đột) văn hóa và phương thức hòa bình (qua buôn bán truyền bá tôn giáo tư tưởng, trao đổi văn hóa nghệ thuật), tức là đối thoại văn hóa (văn minh).

 

  1. Khái niệm “Giao lưu – tiếp biến văn hóa”.

 

Giao lưu – tiếp biến văn hóa là phương pháp định vị văn hóa dựa trên lý thuyết các trung tâm và sự lan tỏa văn hóa hay còn gọi là thuyết khuếch tán văn hóa với các đại biểu như F. Rasel, L. Frobenius, F. Giabner, W. Schmidt, G. Elliot Smith, W. Riers,…

 

Thuyết này cho rằng, sự phân bổ văn hóa mang tính không đồng đều; văn hóa tập trung ở một số khu vực sau đó lan tỏa ra các khu vực kế cận. Càng xa trung tâm, ảnh hưởng của văn hóa gốc càng giảm – cho tới khi mất hẳn (lan tỏa tiên phát). Cơ chế này tạo ra các vùng giao thoa văn hóa – nơi chịu ảnh hưởng đồng thời nhiều trung tâm văn hóa, và cả vùng tối nơi sức lan tỏa không tới.

 

Đến lượt mình các vùng giao thoa văn hóa cũng có khả năng phát sáng, để hình thành nên các trung tâm văn hóa mới và tiếp tục ảnh hưởng đến các khu vực kế cận.

 

Thuyết lan tỏa văn hóa giúp lý giải vì sao trong cùng một khu vực địa lyslaij có sự tương đồng về văn hóa,  và vì sao ở những khu vực giáp ranh giữa các nền văn hóa lớn thường tồn tại các nền văn hóa hỗn dung.

 

Giao lưu – tiếp biến văn hóa ( acculturation) được hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài với nhau gây ra sự biến đổi mô thức văn hóa của các bên.

 

Trong giao lưu có thể xảy ra hiện tượng những yếu tố của nền văn hóa này xâm nhập vào nền văn hóa kia ( tiếp thu thụ động); hoặc nền văn hóa này vay mượn những yếu tố của nền văn hóa kia tiếp chủ động ); rồi trên cơ sở những yếu tố nội sinh và ngoại sinh mà điều chỉnh, cải biên cho phù hợp, gây ra sự giao thoa văn hóa.

 

Giao lưu – tiếp biến văn hóa không chỉ là một phương pháp định vị văn hóa, mà còn là một phương pháp được văn hóa sử dụng khá thường xuyên khi tiến hành phân xuất kết cấu của một nền văn hóa cụ thể. Với phương pháp này, nội dung của một nền văn hóa cụ thể được phân thành: yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh.

 

Tuy nhiên, việc phân biệt như vậy chỉ mang tính tương đối. Cùng với thời gian, yếu tố ngoại sinh có thể chuyển biến thành yếu tố nội sinh, hoặc bị biến đổi một cách căn bản để trở nên phù hợp với nền văn hóa đã tiếp nhận nó. Việc hấp thụ Nho giáo, Phật giáo,… của một số nước Đông Nam Á là một thí dụ về sự chuyển hóa nói trên.

 

  1. Phân tích văn hóa Việt Nam từ góc độ “ giao lưu – tiếp biến văn hóa”

 

Văn hóa Việt Nam có ba cuộc tiếp xúc lớn: Lần thứ nhất là với văn hóa Đông Nam Á, chủ yếu thông qua sự truyền bá hòa bình của đạo Phật từ Ấn Độ sang. Lần thứ hai là từ với Trung Hoa, mà thời kì đầu thông qua sự xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc bằng cả bạo lực và các yếu tố văn hóa Hán và thời kì sau chủ yếu thông qua sự giao lưu hòa bình theo sách lược vừa kiên cường vừa mềm dẻo của các triều đại phong kiến tự chủ Việt Nam. Lần thứ ba là với văn hóa phương Tây thông qua sự xâm lược và thống trị nhân danh sứ mạng “khai hóa văn minh” của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc.

 

Điều kì lạ là qua cả ba lần tiếp xúc ấy, dù bị áp đặt hay tự nguyện, văn hóa Việt Nam không những giữu được bản sắc văn hóa của mình mà còn trở nên giàu đẹp thêm nhờ biết tiếp thu và cải biến thành của mình(Việt hóa) nhiều yếu tố mới từ bên ngoài, đáp ứng yêu cầu của sư nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước qua các giai đoạn lịch sử, đồng thời cũng phù hợp với hệ giá trị tinh thần cốt lõi của văn hóa dân tộc.

 

Vậy thực chất của các cách thức lựa họn, tiếp thu đó lá gì? Có thể sơ bộ nêu lên một số cách thức chủ yếu sau:

 

  1. Văn hóa Việt Nam không tiếp nhận toàn bộ hệ thống mà chỉ lựa chọn những giá trị nào phù hợp

 

Ví dụ: Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam có ba giá trị đạo đức cơ bản từ bi, vô ngã, vị tha nhằm cứ độ và giải thoát chúng sinh mọi đau khổ trần thế. Nhưng để thưc hiện được những điều  ấy thì tín đồ Phật giáo phải tuân theo những điều răn , tức những giá trị phái sinh như  trì giới, nhẫn nhục,…

 

Trong hệ giá trị liên hoàn ấy (theo cách hiểu thông thường chứ không phải theo ý nghĩa triết học sâu xa), người Việt Nam dễ dàng tiếp thu những giá trị cơ bản đầu tiên vì chúng phù hợp với đạo lí truyền thống của dân tộc là “ăn hiền ở lành”, “thương kẻ đói rét, cứu người hoạn nạn”, và khi cần thì sẵn sàng hy sinh quyên mình vì những lợi ích của cộng đồng.

 

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh phải thường xuyên chống chọi với những tai họa của thiên nhiênvà những thế lực ngoại xâam hùng mạnh để bảo vệ cuộc sống của mình, ngươi Việt Nam nói chung không chấp nhận trì giới và nhẫn nhục, nghĩa họ không thể khoanh tay nhồi nhìn sự tàn phá của thiên tai, cũng như không thể giữ giới (trong đó có giới sát) và nhẫn nhục cúi đầu làm nô lệ cho những kẻ xâm lược và thống trị nước ngoài.

 

Câu chuyên thần thoại đượm chất anh hùng ca về Lạc long Quân diệt Ngư tinh, Hồ tinh và Mộc tinh để cứu dân lành từ thời các vua hùng dựng nước, cũng như khẩu hiệu “sát Thát’ vang vọng trong suốt ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông TK XIII là những minh chứng điển hình.

 

Ngay trong giới cao tăng không hiểu triết lí sâu xa của Đạo pháp cũng có nhiều vi không chủ cchueowng di tìm cuộc sống hạnh phúc vĩnh hằng nơi cõi Niết Bàn mà muốn hòa mình với đời, làm những việc cần làm, tự tin vào bản thân, khôg cầu tìm tha lực. Đó chính là tư tưởng của Trần Nhân Tông, ông vua yêu nước và anh hùng, đồng thời là người sánh lập Thiền phái Trúc lâm Việt Nam tôn chỉ được thể hiện trong bốn câu của bài: “ Phú ở cõi trần vui đạo”:

“ Sống giữa phàm trần hãy tùy duyên mà vui với đạo,

Đói thì ăn, mệt thì ngủ

Trong nhà sẵn của báu đừng tìm nơi khác,

Đối diện với cảnh mà vô tâm thì không cần hỏi thiền nữa”.

 

  1. Văn hóa Việt Nam có khi dường như tiếp nhận cả hệ thống, nhưng thực tế đã sắp xếp lại các thang giá trị khác nhau

 

Tiêu biểu cho cách thức tiếp thu này là những nhà văn hóa lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi ở TK XV và Hồ Chí Minh ở TK XX.

 

Mọi người đều biết đạo khổng đã đề xướng tam cương, ngũ thường. Trong đó, trung với vua được xếp lên hàng đầu tột đỉnh của thang giá trị. Là người xuất thân Nho học, lại đỗ tới Thái học sinh (tiến sĩ), Nguyễn Trãi không thể không biết đến các phạm trù trung, hiếu, tiết, nghĩa,…của Khổng, Mạnh. Nhưng khi vận dụng vào sự nghiệp cứu nước cứu dân, trước sau Nguyễn Trãiđều xem nhân nghĩa là giá trị bao trùm, nhìn từ cả hai phía:

 

  1. Phía chính diện, để làm luận cứ cho những chủ chương, chiến lược

 

“Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc,

Nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.

 

  1. Phía phản diện, để phê phán ngăn ngừa

 

“Còn kẻ bất nhân, ăn ấy chớ;

Áo người vô nghĩa, mặc chẳng thà”

 

Ai nấy cũng biết “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ năm 1776 đã đưa ra mệnh đề nổi tiếng về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của cá nhân với tư cách mỗi cá nhâm. Từ mệnh đề đó, Hồ Chí Minh đã suy rộng ra để khẳng định một chân lý mới trong thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành giải phóng: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, không phủ nhận quyền của mỗi cá nhân, Hồ Chí Minh đã đặt quyền của các dân tộc vào vị trí trung tâm. Đó là một sự sắp xếp lại các bậc thang giá trị phù hợp với đạo lí truyền thống của nhân dân ta, luôn xem lợi ích của cá nhân trong lợi ích của cộng đồng, và cũng đúng với lẽ phải thông thường của nhân loại. Bởi lẽ, nếu dân tộc bị  nô lệ, thì mọi cá nhân trong cộng đồng dân tộc cũng không thể có do.

 

Như vậy, cả Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều chú ý tiếp thu những giá trị mới từ các nềm văn hóa khác, nhưng lại vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh của đất nước trên cơ sở những giá trị nền tảng của văn hóa Việt Nam.

 

  1. Tiếp thu và cải biến các hình thức mới về văn hóa, nghệ thuật của thế giới để biểu đạt nội dung các giá trị văn hóa Việt Nam

 

Việc mô phỏng chữ Hán để tạo thành chữ Nôm do ông cha ta thực hiện từ ngàn năm trước là ví dụ điển hình về một trong nhiều cách thức tiếp thu có sáng tạo thành tựu văn hóa nước ngoài. Không có chữ Nôm thì thế hệ ngày nay chưa chắc được biết đến những áng văn thơ tuyệt tác, hàm chứa biết bao triết lý sâu xa, quan điểm thẩm mĩ độc  và sự điêu luyện của ngôn từ Quốc âm thi tậpcủa Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du, bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, tài nghệ sử dụng Tiếng việt có một không hai của “Bà chúa thơ nôm” Hồ Xuân Hương và nhiều tác phẩm khác.

 

Đặc biệt, trong cuộc tiếp xúc văn hóa với phương Tây thời cận đại, nhờ có bản lĩnh và truyền thống tiếp biến các giá trị văn hóa ngoại lai từ lâu đời, cho nên chỉ trong một thời gian lịch sử ngắn, chủ yếu từ sau Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất thì hàng loạt loại hình văn hóa, nghệ thuật Việt Nam từ văn tự, giáo dục, báo chí, tiểu thuyết, thơ văn đến kiến trúc, hội họa, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh,…đã chuyển mạnh theo hướng canh tân.

 

Mặc dù tiếp thu gần như toàn bộ những loại hình văn hóa, nghệ thuật  phương Tây, song tâm hồn, đạo lý, thị hiếu thẩm mĩ, phong tục tập quán, lỗi sống của dân tộc vẫn là dòng chủ lưu được truyền tải trong đó. Dĩ nhiên, bên cạnh việc truyền tải những giá trị cội nguồn, nhiều giá trị mới ấy cũng đã được tiếp thu và được biểu đạt một cách tinh tế, sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

 

Tóm lại, trải qua mấy nghìn năn lịch sử, nhìn chung nền văn hóa Việt Nam đã liên tục phát triển, ngày càng trở nên phong phú, đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức. Bí quyết là ở chỗ ông cha ta đa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trên tinh thần độc lập tự chủ cao và với lòng tự hào sâu sắc về những giá trị nền tảng của con người Việt Nam, của truyền thống lịch sử và văn hóa Việt Nam. Chính với tinh thần ấy, mà khi tiếp xúc với các nền văn hóa lớn, ông cho ta đã không bị rơi vào mặc cảm tự ti, không có thái độ vong bản, sùng ngoại, mà luôn luôn có các ứng xử linh hoạt, biến hóa, sáng tạo không ngừng. Nhờ vậy, dân tộc ta vẫn giữ được độc lập mà không hề biệt lập, học hỏi bên ngoài mà không bị sao chép, hội nhập với thế giới mà không bị hòa tan.

 

III. Những biểu hiện cụ thể trong tiến trình phát triển của văn hóa Việt Nam.

 

Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa của một quốc gia đa tộc người bởi vậy, nền văn hoá ấy được thể hiện một cách đa dạng trên mọi lĩnh vực cả về vật chất lẫn tinh thần. Mỗi khía cạnh của cuộc sống lại có những thành tựu văn hóa đặc sắc riêng, được tiếp thu phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác và lưu truyền đến ngày nay. Việt Nam gồm có tất cả 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số. Chỉnh thể văn hóa Việt Nam được thể hiện bởi một nền văn hóa thống nhất của một quốc gia dân tộc bao gồm 54 sắc thái của 54 tộc người, với đặc điểm là một nền văn hóa đa tộc người vừa có tính thống nhất, vừSa có tính đa dạng. Chính vì vậy, khi tiếp cận văn hóa Việt Nam chúng ta nên khám phá ở góc độ lịch sử phát triển để có thể đưa ra một cái nhìn tổng thể chính xác nhất. Việt Nam có một nền văn hoá đặc sắc, lâu đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc.

 

Dưới giác độ “giao lưu – tiếp biến văn hóa”, Văn hóa Việt Nam là kết quả của các cuộc gặp gỡ văn hóa lớn trong khu vực: gốc Đông Nam Á, tương tác với văn hóa Ấn Độ, tương tác với văn hóa Trung Hoa và  tương tác với văn hóa phương Tây (chủ yếu là Pháp). Cụ thể:

 

1.Gốc Đông Nam Á

 

Các nhà sử học đã thống nhất một ý kiến: Việt Nam có một cộng đồng văn hoá khá rộng lớn được hình thành vào khoảng nửa đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước Công nguyên và phát triển rực rỡ vào giữa thiên niên kỉ này. Đó là cộng đồng văn hoá Đông Sơn. Cộng đồng văn hoá ấy phát triển cao so với các nền văn hoá khác đương thời trong khu vực, có những nét độc đáo riêng nhưng vẫn mang nhiều điểm đặc trưng của văn hoá vùng Đông Nam Á, vì có chung chủng gốc Nam Á (Mongoloid phương Nam) và nền văn minh lúa nước. Những con đường phát triển khác nhau của văn hoá bản địa tại các khu vực khác nhau (lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả…) đã hội tụ với nhau, hợp thành văn hoá Đông Sơn. Đó là kết quả của sự kết hợp nhiều yếu tố: địa lý, chủng tộc, kinh tế, ngôn ngữ, văn hóa trong một quá trình lịch sử gắn bó cộng đồng đấu tranh chống ngoại xâm phương Bắc và thiên tai (lụt sông Hồng)…. Đây cũng là thời kỳ ra đời nhà nước “phôi thai” đầu tiên của Việt Nam dưới hình thức cộng đồng liên làng và siêu làng (để chống giặc và đắp giữ đê trồng lúa), từ đó các bộ lạc nguyên thuỷ phát triển thành dân tộc.

 

2.Giao lưu với văn hóa Ấn Độ

 

Văn hóa Ấn Độ thẩm thấu rất sâu vào trong tâm thức người việt vì bản tính hòa bình, giá trị nhân đạo và con đường du nhập tự nhiên, phi cưỡng chế của nền văn hóa này. Có thể phân ảnh hưởng của văn hóa ấn độ thành các đợt sóng lan tỏa: tiên phát và thứ phát.

 

– Lan tỏa tiên phát biểu hiện ở sự du nhập của Phật giáo vào phía bắc Việt Nam theo đường biển.Bằng chứng là sự hiện diện của Luy Lâu ( Bắc Ninh) – một trung tâm phật giáo tồn tại vào khoảng thế kit thứ nhất sau công nguyên.

– Lan tỏa thứ phát: Đợt thứ nhất là sự gặp gỡ với văn hóa Ấn Độ một cách gián tiếp thông qua văn hóa Trung Hoa vào thời kì bắc thuộc( từ thế kỉ I – X và từ 1407 – 1427); Cùng với Nho giáo, Đạo giáo, người Trung quốc đã mang đến Việt NamPhật giáo dòng Đại thừa, mà chủ yếu là Thiền tông và Tịnh độ tông. Đợt thứ hai, trong quá trình mở mang bờ cõi vào phía nam, người Việt đã gặp gỡ với văn hóa Ấn Độ thông qua văn hóa của người Chăm ( vương quốc Champa/Chiêm thành thế kỉ II – XV ( trung bộ) và giao lưu với văn hóa Óc eo ( Nam bộ).

 

Văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng nhiều mặt đến văn hóa Việt Nam cả về tôn giáo, kiến trúc, văn tự… nhưng có thể nhận ra Phật giáo là mẫu số chung của những đợt sóng giao lưu với văn hóa Ấn. Phật giáo truyền vào Việt Nam qua 2 con đường: theo đường biển, các nhà sư Ấn Độ đã đến nước ta từ đầu Công nguyên, sau đó Luy Lâu sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng; con đường thứ hai, từ Trung Hoa có ba tông phái được truyền vài Việt Nam: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông. Đến thời Lí – Trần, Phật giáo phát triển tới mưc cực thịnh, rất nhiều tháp chùa quy mô lớn hoặc kiến trúc độc đáo được xây dựng trong thời kì này như: chùa Phật Tích, chùa Dạm ( chùa Đại Lãm), chuà Một Cột, chùa Yên Tử… Cho đến nay, Phật giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất ở Việt Nam. Đạo Phật thân thiết đến nỗi dương như mỗi người Việt Nam nếu không theo tôn giáo nào khác thì ắt là theo Phật hoặc là chí ít là có cảm tình với đạo Phật. Theo số liệu của ban Tôn giáo Chính phủ thì tín đồ Phật tử xuất gia vào khoảng 3 triệu người, số thường xuyên đến chùa tham gia các Phật sự vào khoảng 10 triệu người, số chịu ảnh hưởng của Phật giáo cũng khoảng vài chục triệu người.

 

Sự giao thoa – tiếp biến văn hóa với Ấn Độ mà đỉnh cao là Phật giáo biểu hiện rõ nét qua các công trình kiến trúc đặc sắc, trong đó tiêu biểu là tháp Chàm ( Ninh Thuận ). Tháp được xây dựng vào đầu thế kỷ IX, trên mảnh đất hình chữ nhật dài 200m, rộng 125m. Trước đây cụm di tích này gồm có 3 tháp nhưng hiện nay chỉ còn lại 2 là tháp Bắc và tháp Nam. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu mỹ thuật, khu tháp Hoà Lai là một trong những cụm di tích Chăm cổ nhất và đẹp nhất hiện còn tồn tại.Nơi đây hiện còn ba tháp cổ là tháp Hòa Lai, tháp Pôklông Garai và tháp Pôrômê được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Bên cạnh đó còn nhiều công trình khác ở các tỉnh, thành phố trên cả nước khẳng định Phật giáo được truyền bá rộng rãi và giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt.

 

3.Tương tác với văn hóa Trung Hoa

 

Giao lưu với văn hóa Trung Hoa đã diễn ra trong tời gian rất dài thông qua con đường cưỡng bức và cả phi cưỡng bức. Ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đối với văn hóa Việt Nam là rất lớn. Điều này được thể hiện qua nhiều bình diện khác nhau trong đời sống của người Việt. Có thể   kể ra các yếu tố cơ bản từ nền văn hóa Trung Hoa đã được người Việt hấp thụ và chuyển hóa:

 

– Về tôn giáo và đời sống tâm linh: người Việt hấp thụ từ văn hóa Trung Hoa các tôn giáo lớn như Phật giáo đại thừa, đạo giáo.

– Về thế giới quan : triết lí âm dương ngũ hành, lịch âm, thuyết tam tài.

– Về chuẩn mực đạo đức xã hội: Chịu ảnh hưởng của nho gia với những chuẩn mực “tam cương, ngũ thường”.

– Về ngôn ngữ: các từ Hán việt chiếm tỉ trọng đáng kể trong ngôn ngữ người Việt; chữ Nôm – một biến thể của Hán tự.

– Về kiến trúc, ăn, mặc, ở và một số kĩ năng canh tác nông nghiệp người Việt cũng thừa hưởng từ nền văn hóa Trung Hoa.

– Về mặt chủng tộc: người Việt hiện đại là kết quả của sự hòa huyết của những chủng tộc người Bách Việt của người Hán.

 

Một trong những ảnh hưởng nổi bật của văn hóa Trung Hoa vào văn hóa Việt Nam là chuẩn mực đạo đức với quan điểm của Nho giáo như tam cương (đạo đức xã hội gồm ba mối quan hệ cơ bản là vua-tôi, cha-con, chồng-vợ), ngũ thường (gồm năm chuẩn mực đạo đức cá nhân bất di bất dịch là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Với việc đề cao tu thân, coi đây là cái gốc trong rèn luyện nhân cách, Nho giáo đã tạo nên một lớp người sống có đạo đức. Trong lịch sử dân tộc Việt nam đã có nhiều tấm gương sáng ngời về đạo đức của các vị vua, của các anh hùng hào kiệt và cho tới ngày nay đã tạo cho con người nếp sống trên kính dưới nhường. Tư tưởng chính danh giúp cho con người xác định được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình để từ đó suy nghĩ và xử thế đúng trong các quan hệ xã hội.  Ảnh hưởng cho tới xã hội hiện đại còn tồn tại, bên cạnh các yếu tố tích cực thì tư tưởng trọng nam khinh nữ, đề cao địa vị coi thường lớp trẻ, tư tưởng gia trưởng hay quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ”…đang hạn chế sự văn minh, tiến bộcủa đất nước.

 

4.Giao lưu với văn hóa phương Tây

 

Trong lịch sử, sự giao lưu này diễn ra chủ yếu thông qua các kênh : buôn bán đường biển, sự đô hộ của thực dân Pháp và sau đó là đế quốc MĨ ( miền Nam Việt Nam). Ngày nay, giao lưu ăn hóa với phương tây đã có thêm nhiều hình thức mới như: ngoại giao, du học, di cư, hội nhập quốc tế, tham dự vào mạng truyền thông – liên lạc toàn cầu, ứng dụng các chuẩn mực kinh tế, xã hội, công nghệ mang tính quốc tế.

 

Văn hóa phương Tây ảnh hưởng nhiều mặt đến văn hóa Việt Nam, trong đó phải kể đến như: sự xuất hiện của Kitô giáo, phát triển hệ thống đô thị còn tồn tại đến ngày nay, kiến trúc (Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn, chợ Bến Thành…), du nhập nghệ thuật kiến trúc, điện ảnh, sân khấu phương Tây….và đặc biệt là ra đời của chữ quốc ngữ.Chữ Quốc ngữ được phổ biến sâu rộng và định chế vào khoảng thế kỷ 19 và 20 nhưng đã xuất hiện phôi thai từ lâu vào khoảng thế kỷ 16 khi các giáo sĩ Tây phương đầu tiên đến Việt Nam và giao tiếp với người Việt rồi vì nhu cầu học hỏi ngôn ngữ Việt (lúc đó còn dùng chữ Hán và chữ Nôm) để giao tiếp với người bản xứ mà bắt đầu ghi lại bằng cách phiên âm tiếng Việt dưới dạng chữ La tinh. Sự kiện này là bước ngoặt quan trọng trong tiến tình phát triển của văn hóa Việt Nam, nó đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc hội nhập của văn hóa Việt Nam vào nền văn minh chung của toàn nhân loại.

 

Tóm lại, sự ra đời và phát triển của văn hóa Việt Nam là kết quả của quá trình giao lưu ở cấp độ khu vực, châu lục và toàn cầu. Văn hóa Việt Nam là kiểu văn hóa hỗn dung điển hình, do nằm tại vùng giao thoa giữa các trung tâm văn hóa lớn. Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, chúng ta cần chung sống giữa truyền thống và hiện đại, vừa gìn giữ, phát huy giá trị truyền thống của dân tộc vừa tiếp tục quá trình “giao lưu –  tiếp biến văn hóa” để xây dựng một nền văn hóa độc đáo và hiện đại.

 

KẾT LUẬN

 

Việt Nam nằm trên “ngã tư đường của các nền văn minh”, mang trong mình cơ tầng văn hóa Đông Nam Á và trong lịch sử Việt Nam chịu ảnh hưởng của những làn gió văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, Pháp, và sau này thêm cả văn hóa Nga, Đông Âu, Nhật, Mỹ, cùng tràn đến với một số dòng văn hóa bên ngoài là những cuộc xâm lược bành trướng. Do đó, sự ra đời và phát triển của văn hóa Việt Nam là kết quả quả quá trình giao lưu ở cấp độ khu vực, châu lục và toàn cầu. Lịch sử đã cho thấy sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt Nam, thể hiện ở năng lực tiếp biến văn hóa tài tình dù  trong hoàn cảnh bị áp đặt hay tự nguyện tiếp nhận văn hóa ngoại lai, đến mức tiếp biến văn hóa trở thành phương tiện để người Việt chống lại đồng hóa văn hóa, làm giàu và phát triển mạnh mẽ nền văn hóa với bản sắc riêng của mình, tạo ra sức mạnh giải phóng và bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước trước những thế lực xâm lược bành trướng to lớn. Với tính dung chấp cao như vậy, văn hóa Việt Nam trong thời kì toàn cầu hóa có lợi thế lo lớn trong công cuộc hội nhập đời sống quốc tế hiện nay.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Phạm Thái Việt – Đào Ngọc Tuấn, Đại cương về văn hoá Việt Nam, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2004
  2. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001.
  3. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb. TP Hồ Chí Minh, 2001.
  4. Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2002.

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

 

Leave a Reply