kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Tài liệu tham khảo Luật Công chứng

TRÌNH BÀY KHÁI NIỆM CÔNG CHỨNG – BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG CHỨNG CHỨNG THỰC

Công chứng xuất hiện tại Việt Nam là vào những năm 30 của thế kỷ XX, do người Pháp đưa vào Việt Nam. Nhưng mãi đến năm 1987, công chứng mới được đề cập lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tại thời điểm này, công chứng được hiểu là “Công quyền đứng ra làm chứng”, cụ thể là nhà nước trao thẩm quyền cho một tổ chức hành nghề công chứng và được phép nhân danh nhà nước để xác định các quan hệ giao dịch dân sự và thương mại. Công chứng được gọi là “trưởng khế”.

 

 

Trước Luật công chứng 2006, công chứng có có nhiều định nghĩa, trong đó có 4 định nghĩa cơ bản như định nghĩa được ghi nhận tại TT 1974 của BTP năm 1987; định nghĩa được ghi nhận tại Điều 1 NĐ 45/1991 của HĐBT; định nghĩa được ghi nhận tại NĐ 31/1996 của CP; định nghĩa được ghi nhận tại NĐ 75/2000 của CP.

 

Các định nghĩa trong các văn bản trên có sự khác nhau, nhưng đều có điểm chung, đó là: Công chứng là hoạt động của nhà nước, được ủy quyền cho một tổ chức, đó là các tổ chức hành nghề công chứng; Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các HĐ, giấy tờ theo quy định của pháp luật; Các hoạt động công chứng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các tổ chức khác; Các loại giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ.

 

Đến Luật công chứng ra đời năm 2006 khái niệm Công chứng ghi nhận tại Điều 2 Luật công chứng 2006, “Công chứng là việc công chứng viên công nhận tính xác thực, tính hợp pháp của HĐ, GD khác (sau đây gọi là  HĐGD) bằng văn bản mà quy định của pháp luật phái công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.

 

Dựa vào định nghĩa trên, có thể thấy công chứng có các đặc điểm:

 

– Hoạt động công chứng do công chứng viên thực hiện.

 

– Nội dung công chứng là xác định tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch. Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được công chứng viên xác nhận. Công chứng viên kiểm chứng và xác nhận các tình tiết, sự kiện có xảy ra trong thực tế, trong số đó có cả tình tiết, sự kiện chỉ xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau, đó do, nếu không có công chứng viên xác nhận thì về sau rất dễ xảy ra tranh chấp mà toà án không thể xác minh được. Đồng thời, công chứng viên cũng kiểm tra và xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch.

 

– Có hai loại hợp đồng giao dịch thực hiện hoạt động công chứng, đó là các loại hợp đồng giao dịch theo yêu cầu của pháp luật bắt buộc phải công chứng và các hợp đồng giao dịch do cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

 

– Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên có liên quan trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình, bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia HĐGD có thỏa thuận khác.

 

Đồng thời, văn bản công chứng có giai trị chứng cứ, những tình tiết sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố là vô hiệu.

 

– Ý nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là bảo đảm giá trị thực hiện cho các hợp đồng giao ý dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ nếu có tranh chấp xảy ra.

 

Như vậy có thể hiểu, Công chứng là hành vi của công chứng viên lập, chứng nhận tính xác thực của các giao dịch nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật. Văn bản công chứng có giá trị thực hiện và giá trị chứng cứ.

 

Để hiểu sau thêm khái niệm công chứng, ta xem xét tình huống:

 

Ngày 20/8/2011, chị Bình làm hợp đồng mua nhà của chị Vân với giá 300 triệu. Chị Bình đặt cọc trước 100 triệu, sau ba tháng chị Bình trả đủ tiền thì chị Vân giao giấy tờ nhà. Khi chị Bình đến giao thì quá ba ngày và chị Vân không bán nữa và cũng giữ lại 100 triệu tiền cọc (vì trong hợp đồng có thỏa thuận nếu một bên không thực hiện hợp đồng thì phải chịu cọc). Lúc này, nếu chị Bình muốn mua thì phải trả thêm 50 triệu nữa. Chị Bình không đồng ý, khởi kiện ra tòa yêu cầu một là chị Vân tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc phải trả lại tiền cọc.

 

Trước tòa cả hai đều đệ trình hợp đồng mua bán nhà nhưng có công chứng.

 

Theo quy định tại Điều 450 BLDS thì hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Vì vậy, hợp đồng mua bán hợp đồng trên có hiệu lực.

 

Khi giải quyết vụ việc, Tòa án sẽ coi hợp đồng mua bán nhà ở lập giữa chị Bình và chị Vân như một chứng cứ để giải quyết vụ việc.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

 

  1. Luật Công chứng 2006.
  2. Bộ luật dân sự 2005.
  3. Lê Thị Phương Hoa, “Đổi mới quan niệm về công chứng”, TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 12/2005.
  4. http://www.luatviet.org/Home/pho-bien-phap-luat/2008/6152/Luat-Cong-chung.aspx
  5. http://tuvanluat.com.vn/index.php/tin-du-an/dau-tu/phap-luat/giai-dap-phap-luat/mua-ban-doanh-nghiep/luat-dan-su5663
  6. Bài giảng môn Công chứng, chứng thực.

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – BÀI TẬP HỌC KỲ – CÔNG CHỨNG VÀ CHỨNG THỰC

Được đăng bởi Tú An vào lúc 19:47
Nhãn: Bài tập học kỳCông chứng chứng thực

  1. Mở bài

 

Tổ chức và hoạt động công chứng, chứng thực là một dịch vụ công ích cần thiết quan trọng, một thể chế không thể thiếu của Nhà nước pháp quyền để đảm bảo giá trị pháp lý, sự an toàn của các giao dịch, các quan hệ dân sự liên quan. Nhưng trên thực tế hoạt động này đang bị một số kẻ lợi dụng nhằm chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp, do đó việc quản lí của nhà nước về hoạt động công chứng, chứng thực là rất cần thiết. Trong bài tập học kì này, em xin trình bày vấn đề “Thực trạng quản lý của nhà nước về công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay” từ đó thấy được những mặt đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và giải pháp nào để nâng cao hoàn thiện .

 

  1. Thân bài

 

  1. Lý luận chung quản lý nhà nước về công chứng và chứng thực:

 

1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về công chứng và chứng thực:

 

Quản lý chính là hành vi tác động bằng sức mạnh quyền uy của chủ thể quản lý lên đối tượng chịu sự quản lý theo những mục tiêu, trật tự nhất định mà chủ thể quản lý hướng tới. Quản lý nhà nước là một loại hoạt động quản lý đặc thù do các cơ quan thuộc hệ thống hành chính có thẩm quyền tiến hành. Hoạt động quản lý công chứng, chứng thực giúp cho hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng và những cơ quan thực hiện hoạt động chứng thực đáp ứng nhu cầu của cá nhân, tổ chức trong xã hội làm cho hoạt động công chứng, chứng thực đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.

 

Hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta hiện này bào gồm:

 

Thứ nhất, sự chứng nhận của các tổ chức hành nghề công chứng về tính xác thực của hợp đồng giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, thương mại, và quan hệ xã hội khác.

 

Thứ hai, sự xác nhận của UBND cấp huyện, xã về việc sao y giấy tờ từ bản gốc và chứng thực chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của pháp luật.

 

1.2 Thẩm quyền của các cơ quan nhà nước về hoạt động công chứng, chứng thực:

 

Các cơ quan có thẩm quyền quản lý về công chứng, chứng thực được pháp luật quy định cụ thể có thẩm quyền và trách nhiệm cụ thể. Thẩm quyền và trách nhiệm này được giới hạn theo quy định của pháp luật. Phạm vi đó được xác định là giới hạn của thẩm quyền hay đó chính là quyền hạn của cơ quan quản lý về lĩnh vực này. Thông qua quyền hạn đó mà các cơ quan quản lý về công chứng, chứng thực không chồng chéo lên nhau, đảm bảo sự tách bạch và khoa học trong quản lý.

 

Theo quy định tại Luật Công chứng chứng 2006, nghị định 79/2007/ NĐ – CP, pháp luật vẫn giao cho tổ chức thuộc hệ thống cơ quan hành pháp đóng vai trò chủ đạo trong công tác quản lý công chứng và chứng thực. Về cơ bản, cơ chế quản lý công chứng, chứng thực hiện được xây dựng theo trục dọc Chính phủ – Bộ Tư pháp (Bộ Ngoại giao cũng như các bộ, cơ quan ngang bộ) – UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và UBND cấp huyện. Trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan nói trên được quy định tại Điều 11 Luật Công chứng 2006 và Điều 20 nghị định 79/2007/NĐ – CP.

 

  1. Thực trạng quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực:

 

2.1 Những kết quả đạt được:

 

Từ khi Luật công chứng và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP có hiệu lực thi hành và đi vào thực tiễn, công tác công chứng, chứng thực đã dần đi vào ổn định và đạt được kết quả khả quan, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu được công chứng, chứng thực. Theo đó, Luật công chứng cho phép các công chứng viên có quyền thành lập văn phòng công chứng; các phòng công chứng, văn phòng công chứng chỉ nhận công chứng các hợp đồng, giao dịch bằng văn bản mà không được chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký như trước đây. Việc xin cấp bản sao từ sổ gốc được giao cho chính cơ quan đã cấp bản chính, chứng thực bản sao từ bản chính bằng tiếng việt được phân cấp tới UBND cấp xã, phòng tư pháp cấp huyện có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính tiếng nước ngoài, chứng thực chữ ký trong các giấy tờ bằng tiếng nước ngoài. Sự tách bạch giữa công chứng và chứng thực đã đem lại hiệu quả cao trong công tác cải cách hành chính và cải cách tư pháp.

 

Việc phân cấp hoạt động chứng thực bản sao, chữ ký theo quy định tại Nghị định 79/2007/NĐ-CP đã được các cơ quan, tổ chức và người dân đánh giá là bước cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ giúp xóa bỏ tình trạng quá tải ở phòng công chứng, tiết kiệm thời gian công sức cho người dân. Bên cạnh đó, nghị định số 79/2007/NĐ-CP đã giao cho các cơ quan, tổ chức tiếp nhận hồ sơ tự mình đối chiếu bản sao với bản chính, đã khắc phục được tình trạng ỷ lại của các cơ quan này với cơ quan có thẩm quyền chứng thực, hạn chế xu hướng đời bản sao có chứng thực khi nộp hồ sơ gây tốn kém không cần thiết cho người dân.

 

2.1.1 Quản lý nhà nước về công chứng:

 

Nhìn chung, cũng giống như quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật trước đó về công chứng, vai trò quản lý nhà nước của Tòa án, một cơ quan tư pháp, đối với công chứng cũng chỉ dừng lại ở việc giải quyết yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được quy định tại văn bản công chứng của một trong các bên đương sự tham gia giao kết hợp đồng công chứng hoặc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (Điều 6 và Điều 45, Luật Công chứng ngày 29/11/2006). Điểm mới đáng kể nhất trong vai trò quản lý của Tòa án đối với công chứng chính là quy định “trong trường hợp giữa người yêu cầu công chứng và công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng có tranh chấp liên quan đến hoạt động hành nghề công chứng thì các bên có quyền khởi kiện vụ việc ra Tòa án để giải quyết tranh chấp đó” được ghi nhận tại Điều 64, Luật Công chứng ngày 29/11/2006.

 

2.1.2 Quản lý nhà nước về chứng thực:

 

Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, bên cạnh việc xác định nội dung quản lý nhà nước, Nghị định 79/2007/NĐ – CP phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý về hoạt động cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký theo hướng tăng cường vai trò quản lý trực tiếp của cấp tỉnh đối với cấp huyện, cấp huyện đối với cấp xã đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong việc quản lý nhà nước về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong phạm vi cả nước.

 

2.2 Những tồn tại, hạn chế:

 

Trong Luật Công chứng 2006, mặc dù công chứng đã chính thức được coi là một nghề nhưng ta không tìm thấy bất kỳ quy định nào về tổ chức và hoạt động của hiệp hội nghề nghiệp dành cho công chứng viên hay vị trí và vai trò của công chứng viên trong cơ chế quản lý công chứng. Nói theo cách khác, bên cạnh cơ chế quản lý nhà nước, các nhà làm luật chưa xác định cơ cấu tổ chức cũng như chức năng quản lý mang tính xã hội nghề nghiệp đối với hoạt động công chứng. Điều này khiến cho cơ chế quản lý công chứng được tổ chức và vận hành giống như cơ chế quản lý các hoạt động hành chính nhà nước thuần túy khác.

 

Hiện nay, pháp luật xếp công chứng là một chế định bổ trợ tư pháp còn về mặt tổ chức, các phòng công chứng lại được xếp vào hệ thống cơ quan hành chính sự nghiệp. Chúng ta dễ dàng nhận thấy công chứng gắn liền và song hành với cả hoạt động quản lý hành chính lẫn hoạt động tư pháp nói chung (tư pháp ở đây được hiểu theo nghĩa hoạt động xét xử của Tòa án). Tuy nhiên, cơ chế quản lý công chứng lại thuần túy chỉ do cá nhân, tổ chức thuộc hệ thống cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trong khi cá nhân, tổ chức thuộc hệ thống cơ quan tư pháp hoặc bổ trợ tư pháp lại không có bất kỳ một nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, rõ ràng trong công tác quản lý công chứng ngoài việc xem xét giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Như vậy, cơ chế quản lý hiện hành chưa phản ánh đúng bản chất công chứng. Khiếm khuyết này đã được khắc phục phần nào theo quy định tại Luật Công chứng ngày 29/11/2006 nhưng vai trò quản lý của Tòa án đối với công chứng vẫn còn thụ động. Mặc dù đã có những thay đổi nhất định, nhưng nhìn chung, cơ chế quản lý công chứng ở nước ta vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề từ cơ chế quản lý công chứng được quy định tại pháp luật công chứng của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cũ. Ngay cả khi mô hình tổ chức công chứng hành nghề tự do đã ra đời thì cơ chế quản lý công chứng của Việt Nam vẫn chưa thực sự có những thay đổi cho phù hợp.

 

  1. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực:

 

Cần phải có đầy đủ hệ thống văn bản pháp quy từ trung ương đến địa phương để điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực này. Việc thực thi kiểm tra phải thường xuyên, nghiêm túc, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật cũng phải rà soát, sửa đổi để tránh tình trạng chồng chéo hoặc mẫu thuẫn. Cần có sự tách biệt hoạt động công chứng với hoạt động chứng thực được thể hiện trong Luật công chứng và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP.

 

Trách nhiệm của Sở tư pháp trong việc quản lý, hướng dẫn công tác công chứng, chứng thực phải được để cao để giúp cho các cơ quan thực hiện đảm bảo được đúng theo quy định, tránh tình trạng không biết hướng dẫn công dân, tổ chức như thế nào vì chưa có quy định cụ thể. Hơn nữa, xuất phát từ sự khác nhau giữa mục đích hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng là tổ chức dịch vụ công đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên, còn UBND cấp huyện, xã là sự phục vụ tạo điều kiện của cơ quan công quyền cho tổ chức và công dân nên phải có các quy định phù hợp để thắt chặt việc quản lý đối với UBND cấp huyện, xã để đảm bảo thực hiện đúng theo tinh thần cải cách hành chính là tuân thủ các quy định và tạo điều kiện cho các tổ chức, công dân…

 

Mở các khóa đào tạo nghiệp vụ chứng thực và cung cấp thông tin cần thiết liên quan giúp người thực hiện công chứng, chứng thực nhận biết chính xác các loại giấy tờ, văn bản hợp pháp, hợp lệ trong hoạt động công chứng, chứng thực như quy định về mẫu dấu của các tổ chức, cơ quan, các tổ chức nước ngoài, thẩm quyền ban hành… Bên cạnh đó, cần có sự quan tâm đầu tư điều kiện cơ sở vật chất cho công tác chứng thực tại UBND các quận, huyện, xã, phường.

 

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật về công chứng, chứng thực tới các cơ quan, tổ chức, nhân dân để họ biết và hiểu thế nào là công chứng, chứng thực, các thủ tục cần thiết khi đến yêu cầu các thực hiện hoạt động này, tránh nhầm lẫn gây tốn kém thời gian, đi lại nhiều lần…

 

Tăng cường số lượng cán bộ tư pháp cho cơ sở phù hợp với khối lượng công việc theo thẩm quyền giúp giảm thiểu áp lực công việc, tình trạng quá tải; phục vụ nhu cầu của các cơ quan, tổ chức, người dân một cách chu đáo, nhanh chóng, thuận lợi hơn.

 

  1. Kết bài

 

Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công chứng, chứng thực ở Việt Nam đang chứng tỏ là một công cụ đắc lực phục vụ quản lý nhà nước có hiệu quả góp phần tích cực phòng ngừa tranh chấp, tạo ra sự an toàn cho các quan hệ pháp lý cho các quan hệ giao dịch trong xã hội. Do đó cần chú trọng nâng cao quản lý nhà nước về công chứng, chức thực để làm cho hoạt động công chứng, chứng thực để đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.

 

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật công chứng 2006.
  2. Nghị định của Chính phủ số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ kí.
  3. Thông tư của Bộ tư pháp số 03/2008/TT-BTP ngày 25/08/2008 hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ kí.
  4. Nguyễn Bá Dũng, Hỏi đáp về thủ tục công chứng, chứng thực, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2010.
  5. Đàm Thị Thu Thảo, Cải cách thủ tục công chứng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2010.
  6. Lê Thị Thu Hiền, Hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2011.
  7. Đặng Văn Tường, Thực trạng quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay, Tạp chí Quản lí nhà nước, Học viện hành chính, số 168 tháng 1/2010, tr. 47 – 50.
  8. Võ Đình Nho, Một số ý kiến về công chứng và quản lý nhà nước đối với công chứng từ sau khi có luật công chứng, Tạp chí Dân chủ và pháp luật. Bộ Tư pháp, số 4 (217) năm 2010, tr. 26 – 35.

9.http://luatsutuvan.com.vn/congchung/modules.php?name=Content&opcase=Details&mcid=140&id=120&menuid=

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG

Luật Công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 đến nay đã và đang thực sự đi vào đời sống xã hội. Hiện nay, ngoài loại hình Phòng Công chứng (trước đây là Phòng Công chứng nhà nước), loại hình Văn phòng công chứng đang phát triển khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương, nhất là ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố lớn. Hoạt động của các Văn phòng công chứng này giúp giảm thiểu sự quá tải tại các Phòng Công chứng Nhà nước trước đây, góp phần vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các quan hệ xã hội khác, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tăng cường pháp chế XHCN.

 

 

Tuy nhiên, sau hơn 01 năm Luật Công chứng có hiệu lực, hoạt động của các Văn phòng Công chứng đã bộc lộ khá nhiều bất cập. Trong đó đáng kể là sự non kém về nghiệp vụ và kinh nghiệm của không ít Công chứng viên dẫn đến tình trạng ẩu, ký xác thực mà không đọc kỹ văn bản, không thẩm định, xác minh tài sản, nhân thân của người ký hợp đồng giao dịch. Kết quả là có nhiều bản bị cơ quan chức năng trả lại, không chấp thuận hoặc gây ra tranh chấp trong giao dịch hợp đồng. Hệ thống các tổ chức hành nghề công chứng thiếu sự liên kết thông qua mạng nội bộ để chia sẻ thông tin, không có cơ sở dữ liệu chung để kiểm soát thực trạng các hợp đồng… Do vậy, đã có trường hợp một căn nhà đem bán cho hai người, mang đi công chứng hợp đồng tại 2 tổ chức hành nghề công chứng khác nhau, một tài sản đem thế chấp, bảo lãnh ở nhiều người, nhiều nơi, người đã chết nhưng vẫn “giao dịch”, công chứng cho người có tài sản đã bị cưỡng chế, kê biên, bán đấu giá thành, ký kết hợp đồng bán đấu giá thành trước khi tổ chức bán đấu giá tài sản, công chứng hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, công chứng hợp đồng chuyển nhượng dựa trên hợp đồng uỷ quyền giả, công chứng hợp đồng giao dịch không đúng người yêu cầu công chứng (do công chứng viên chấp nhận giấy chứng minh nhân dân photo, do nhầm người, do chứng minh nhân dân giả…), công chứng hợp đồng cho người không đủ năng lực hành vi dân sự… gây hậu quả pháp lý rất nghiêm trọng. Ngoài ra, chưa kể tới chuyện thù lao tại các tổ chức hành nghề công chứng này, mỗi nơi quy định một kiểu, mạnh ai nấy thu. Thậm chí, gần đây còn xảy ra hiện tượng tranh chấp giữa những người góp vốn cùng Công chứng viên để mở Văn phòng công chứng khiến dư luận xã hội rất quan tâm… Do đó, có thể nói quản lý nhà nước về giai đoạn hiện nay phải cần được tăng cường hơn nữa, trong đó thanh tra với vai trò là một khâu thiết yếu trong quản lý hành chính nhà nước cũng cần phải được tăng cường. Thanh tra nhằm mục đích đưa hoạt động đạt được các mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra. Qua thanh tra sẽ rà soát, đánh giá được thực trạng về tổ chức, hoạt động; nắm bắt được những bất cập, mâu thuẫn, khó khăn, vướng mắc về nghiệp vụ cũng như phát hiện được những vi phạm pháp luật trong hoạt động, từ đó có kết luận, kiến nghị cụ thể để cấp có thẩm quyền kịp thời xem xét, có biện pháp chấn chỉnh về tổ chức, hoạt động; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, giải quyết kịp thời những vướng mắc về nghiệp vụ, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật, từng bước đưa công tác vào nề nếp.

 

 

Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về công chứng, đòi hỏi các ngành, các cấp phải phối hợp đồng bộ những cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp phải là lực lượng chủ công, nòng cốt và là chủ thể chính trong việc xử phạt vi phạm hành chính. Chuyên đề này nhằm “bắt tay, chỉ việc” cho Thanh tra viên Tư pháp thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Tác giả xin trình bày nội dung xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng để bạn đọc cùng tham khảo:

 

Phần I

 

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG

 

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động công chứng nói riêng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật nhằm góp phần bảo đảm an toàn pháp lý trong hoạt động.

 

Tuy nhiên, trên thực tế việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động  công chứng vẫn chưa thực sự đi vào đời sống xã hội, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra là răn đe, phòng ngừa vi phạm để từ đó nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước. Cho đến nay, các địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động tư pháp chưa nhiều; cơ quan thanh tra chuyên ngành tư pháp còn rất ít khi thực hiện thẩm quyền đó. Thực tiễn, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng, một số người có thẩm quyền còn nhiều lúng túng khi vận dụng các quy định của pháp luật để xử phạt. Trong khi đó, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận lớn những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các hoạt động còn chưa cao. Để góp phần đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn; đưa những quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động vào thực tiễn đời sống xã hội, chuyên đề này sẽ đưa ra, thảo luận và phân tích một số nội dung cơ bản của việc xử phạt hành chính trong hoạt động công chứng như: cơ sở pháp lý, đối tượng xử phạt, nguyên tắc xử phạt, hành vi vi phạm hành chính và mức xử phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt cũng như cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực này.

 

  1. Cơ sở pháp lý

 

Vào những năm đầu của thập kỷ 90, các quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và các văn bản pháp luật có liên quan mới chỉ dừng lại ở mức quy định có tính chất định hướng cho việc xử phạt vi phạm hành chính. Thời điểm đó, chưa có quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể để tiến hành xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động nói riêng. Sau khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) ra đời, thay thế Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh được ban hành và đặc biệt Nghị định số 76/2006/NĐ-CP và Nghị định số 60/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp (sau đây gọi tắt là Nghị định 76 và Nghị định 60) được ban hành đã cụ thể hoá các hành vi bị xử phạt trong lĩnh vực Tư pháp. Đây là văn bản tạo cơ sở pháp lý chi tiết, cụ thể nhất và trực tiếp nhất hiện nay cho việc tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động.

 

Ngoài ra, còn phải kể đến một loạt các văn bản quan trọng khác liên quan đến những quy định về xử phạt vi phạm hành chính như Luật Thanh tra năm 2004, Nghị định số 74/2006/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp; Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và các văn bản có liên quan khác.

 

  1. Đối tượng xử phạt

 

Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Nghị định 60, đối tượng có thể bị xử phạt hành chính trong hoạt động là rất rộng, bao gồm các cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực mà không phải là tội phạm. Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng của các cá nhân, tổ chức mà không phải là tội phạm đều là đối tượng bị xử phạt. Cần nhấn mạnh rằng hành vi vi phạm hành chính phải được pháp luật quy định. Cụ thể trong hoạt động công chứng, chỉ có những hành vi được quy định từ Điều 21 đến hết Điều 27 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP mới bị xem xét, xử phạt theo quy định của pháp luật.

 

Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cũng bị xử phạt theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên có quy định khác thì thực hiện theo điều ước quốc tế đó.

 

Một điểm quan trọng, cần lưu ý nữa là những hành vi vi phạm chế độ công vụ của cán bộ, công chức đang làm nhiệm vụ trong lĩnh vực công chứng, Thanh tra viên tư pháp và những cán bộ, công chức có liên quan khác trong khi thi hành nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực công chứng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và không bị xử phạt như các cá nhân, tổ chức đề cập ở trên.

 

  1. Nguyên tắc xử phạt

 

Nguyên tắc 1, xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động trước hết phải tuân theo quy định tại khoản 1, Điều 3 của Pháp lệnh: “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo quy định của pháp luật”. Đây là quy định mang tính kế thừa của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995, thể hiện sự nhất quán trong chính sách xử lý hành chính của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay, đó là nguyên tắc chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh đối với mọi hành vi vi phạm hành chính, khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra. Theo đó, khi phát hiện vi phạm hành chính trong hoạt động, công việc đầu tiên mà người có thẩm quyền xử phạt phải thực hiện là đình chỉ ngay hành vi vi phạm hành chính đó.

 

Việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động  đồng thời cũng phải tuân theo các nguyên tắc quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 3 của Pháp lệnh và được cụ thể hoá tại Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP.

 

Nguyên tắc 2, cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.

 

Đây là quy định tại khoản 1, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP. Theo đó, cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính được quy định cụ thể trong các văn bản luật của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định của Chính phủ. Các văn bản do Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành để chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền không được quy định hành vi vi phạm hành chính và hình thức, mức xử phạt.

 

Nguyên tắc 3, một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần (khoản 2, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP). Nguyên tắc này đưa ra 03 trường hợp cụ thể sau đây:

 

– Một hành vi vi phạm đã được người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì không được lập biên bản, ra quyết định xử phạt lần thứ hai đối với chính hành vi đó nữa. Trong trường hợp hành vi vi phạm vẫn tiếp tục được thực hiện mặc dù đã bị người có thẩm quyền xử phạt ra lệnh đình chỉ thì bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 8 Điều 9 của Pháp lệnh;

 

– Một hành vi vi phạm hành chính đã được người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt thì không đồng thời áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác quy định tại Điều 22 của Pháp lệnh đối với hành vi đó;

 

– Trong trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm bị chuyển hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự mà trước đó đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì người đã quyết định xử phạt phải huỷ bỏ quyết định xử phạt; nếu chưa ra quyết định xử phạt thì không xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đó.

 

Nguyên tắc 4, nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi đó và người có thẩm quyền xử phạt căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà ra quyết định xử phạt đối với từng người cùng thực hiện vi phạm hành chính (khoản 3, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP).

 

Nguyên tắc 5, một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Pháp lệnh (khoản 4, Điều 3 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP).

 

  1. Hành vi vi phạm và hình thức xử phạt

 

Hành vi vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước do cá nhân, tổ chức thực hiện và vi phạm này không phải là tội phạm, tức là chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó yếu tố có tính chất quyết định là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm hành chính. Tương tự như hành vi phạm tội, hành vi vi phạm hành chính cũng là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước và thường là phạm vào các điều cấm của pháp luật, song tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính thấp hơn tội phạm. Đồng thời như đã trình bày ở trên, một trong những nguyên tắc cơ bản của xử lý vi phạm hành chính là hành vi vi phạm hành chính phải được pháp luật quy định, nói cách khác hành vi nào không được pháp luật về vi phạm hành chính quy định thì không bị coi là vi phạm hành chính.

 

Trong hoạt động công chứng, các hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt những hành vi vi phạm hành chính đó đã được quy định cụ thể tại Điều 17 đến Điều 21 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Theo quy định đó, hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng có áp dụng hình thức xử phạt tiền (thấp nhất là 500.000 đồng và cao nhất là 10.000.000 đồng), hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.

 

  1. Thẩm quyền xử phạt

 

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là một trong những vấn đề quan trọng của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nói chung, pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng nói riêng. Đây là vấn đề có nội dung tương đối phức tạp và nhạy cảm, bởi nó trực tiếp liên quan đến sự phân cấp trong quản lý hành chính nhà nước; đặc biệt trong bối cảnh hiện nay nó còn động chạm đến cái gọi là “quyền anh, quyền tôi” trong hoạt động chấp hành, điều hành, quản lý nhà nước, quản lý xã hội, xử lý vi phạm.

 

“Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính” được hiểu là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật xử phạt vi phạm hành chính quy định trong việc áp dụng các hình thức xử phạt chính, bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, thì hiện có 74 chức danh có thẩm quyền  xử phạt.

 

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng  hiện nay được quy định cụ thể từ Điều 45, 46, 48 của Nghị định 60/2009/NĐ-CP bao gồm: cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp, cơ quan công chứng, Uỷ ban nhân dân các cấp và người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài.

 

Thứ nhất, chủ thể giữ một vai trò quan trọng trong việc xử phạt các vi phạm hành chính trong hoạt động  trước hết phải kể đến đó là cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp. Vì vậy, Nghị định 60 đã dành hẳn một Điều 46 quy định về thẩm quyền xử phạt của cơ quan này như sau:

 

“Điều 46. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp

 

  1. Thanh tra viên chuyên ngành Tư pháp đang thi hành công vụ có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 500.000 đồng;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng;
  5. d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.

 

  1. Chánh thanh tra Sở Tư pháp có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
  5. d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.

 

  1. Chánh thanh tra Bộ Tư pháp có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
  5. d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.”

 

Từ những quy định tại khoản 2 và 3 Điều này có thể thấy rằng trong cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp thì có 2 chức danh có thẩm quyền xử phạt mà không bắt buộc phải trực tiếp phát hiện hành vi vi phạm, đó là: Chánh Thanh tra có quyền áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý hành vi vi phạm pháp luật khi cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 60; Phó Chánh Thanh tra có quyền áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý hành vi vi phạm pháp luật khi cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 60 và được Chánh Thanh tra uỷ quyền.

 

Riêng đối với Thanh tra viên chuyên ngành Tư pháp, ngoài thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong khi thi hành công vụ như quy định tại khoản 1 Điều 46 Nghị định số 60 này thì Điều 21, Nghị định 74/2006/NĐ-CP còn quy định thẩm quyền của Thanh tra viên trong trường hợp khẩn cấp: “Trường hợp khẩn cấp cần ngăn chặn, xử lý ngay hành vi vi phạm, Thanh tra viên được áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời báo cáo ngay với Chánh Thanh tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các biện pháp xử lý của mình.”.

 

Quy định trên có thể được hiểu là trong trường hợp khẩn cấp, Thanh tra viên Tư pháp có thẩm quyền xử phạt hoặc áp dung các biên pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật để xử lý các vi phạm hành chính. Mặc dù hiện nay chưa có quy định chi tiết nào về “trường hợp khẩn cấp”, tuy nhiên theo chúng tôi  “trường hợp khẩn cấp ở đây có thể được hiểu như sau:

 

– Thanh tra viên là thành viên Đoàn Thanh tra đang tiến hành thanh tra chuyên ngành theo Quyết định và kế hoạch thanh tra của người có thẩm quyền;

 

– Thanh tra viên được Chánh Thanh tra phân công độc lập tiến hành thanh tra chuyên ngành tại một cơ quan, tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của ngành Tư pháp;

 

– Thanh tra viên đang thực hiện nhiệm vụ không có liên quan đến lĩnh vực có hành vi vi phạm hành chính nhưng phát hiện cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 60 thì có quyền xử phạt tại chỗ theo thẩm quyền, sau đó phải báo cáo ngay với Chánh Thanh tra;

 

– Thanh tra viên của Thanh tra Tư pháp khi tham gia Đoàn thanh tra liên ngành mà phát hiện cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 60;

 

– Trong trường hợp Thanh tra viên được Chánh Thanh tra phân công thực hiện nhiệm vụ không có liên quan đến lĩnh vực có hành vi vi phạm hành chính nhưng có tin báo khẩn cấp về việc cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 60 thì báo cáo Chánh Thanh tra và đến ngay hiện trường để xem xét, xác minh nguồn tin. Nếu xác định được hành vi vi phạm thì xử phạt theo thẩm quyền và báo cáo Chánh Thanh tra;

 

– Trường hợp Thanh tra viên đang giải quyết việc riêng mà phát hiện có hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định 60 thì tiến hành lập biên bản tại chỗ và báo cáo ngay Chánh Thanh tra qua điện thoại để xin ý kiến chỉ đạo;

 

Thứ hai, một cơ quan có thẩm quyền chung cũng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đó là Ủy ban nhân dân các cấp được quy định tại Điều 45, Nghị định 60. Một trong những mục đích của quy định này là để xử phạt các trường hợp vượt quá thẩm quyền của cơ quan chuyên ngành, tránh trường hợp tồn đọng, chậm trễ trong việc giải quyết xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động.

 

Tuy nhiên, để hạn chế cái gọi là “quyền anh, quyền tôi” khi việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp nói chung, trong hoạt động  nói riêng, Nghị đinh 60 đã quy định tại Điều 45 như sau:

 

“Điều 45. Thầm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp

 

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 2.000.000 đồng;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng;
  5. d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.

 

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
  5. d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.

 

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quyền:
  2. a) Phạt cảnh cáo;
  3. b) Phạt tiền đến mức tối đa quy định tại Nghị định này;
  4. c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
  5. d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;

đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị định này.”.

 

  1. Thủ tục xử phạt

 

Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động  phải tuân theo quy định tại Chương VI Pháp lệnh Xử lý vi phạm hanh chính năm 2002, Chương IV Nghị định 134/2003/NĐ-CP và Chương IV Nghị định 60. Theo đó, thủ tục xử phạt được chia làm 02 loại: thủ tục đơn giản và thủ tục lập biên bản. Ý nghĩa của việc chia thủ tục làm hai loại là ở chỗ: đối với việc đơn giản thì người có thẩm quyền xử phạt có thể ra quyết định xử phạt ngay; cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền tại chỗ; vụ việc được giải quyết nhanh chóng, đơn giản, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan nhà nước, công chức khi thi hành công vụ và cho cả cá nhân, tổ chức vi phạm.

 

6.1 Thủ tục đơn giản

 

Theo quy định tại Điều 54 Pháp lệnh, Điều 19 Nghị định 134 và khoản 1, Điều 43 Nghị định 60 thì thủ tục đơn giản là loại thủ tục được áp dụng trong trường hợp xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức xử phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 100.000 đồng và người có thẩm quyền xử phạt có thể ra quyết định xử phạt ngay mà không phải lập biên bản. Nội dung quyết định xử phạt theo thủ tục đơn giản, ngắn gọn hơn so với thủ tục lập biên bản, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo những thông tin sau đây: họ, tên, địa chỉ của người vi phạm, hành vi vi phạm, địa điểm xảy ra vi phạm, điều, khoản, tên văn bản được áp dụng để xử phạt; ngày, tháng, năm ra quyết định, họ, tên, chức vụ người ra quyết định. Trong trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt. Ngưòi ra quyết định xử phạt phải giao cho nguời bi xử phạt quyết định xử phạt.

 

6.2 Thủ tục lập biên bản

 

Thủ tục xử phạt phải lập biên bản trong hoạt động  được quy định trực tiếp tại khoản 3, Điều 42, Nghị định 60 Quy định này dẫn chiếu tới các quy định tại Điều 55 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Điều 20 của Nghị định 134. Từ những quy định này có thể khái quát thủ tục lập biên bản như sau:

 

Một là, khi phát hiện vi phạm hành chính trong hoạt động, người có thẩm quyền xử phạt phải ra lệnh bằng văn bản hoặc bằng miệng, yêu cầu đình chỉ ngay hành vi vi phạm, đồng thời lập biên bản về hành vi vi phạm. Biên bản phải có những nội dung chính sau đây: ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, địa chỉ người vi phạm; ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm, tang vật, phương tiện vi phạm (nếu có). Biên bản phải được lập làm 02 bản, có chữ ký của nguời lập biên bản, của cá nhân, tổ chức vi phạm, của người làm chứng (nếu có); nếu cá nhân, tổ chức vi phạm từ chối ký thì người có thẩm quyền xử phạt hoặc người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản. Trong trường hợp biên bản có nhiều tờ thì người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm phải ký vào từng tờ biên bản.

 

Hai là, xem xét, quyết định xử phạt theo quy định tại Điều 56 Pháp lệnh và Điều 21 nghị định 134. Theo đó, đối với những vi phạm bình thường thì thời hạn để ra quyết định xử phạt là 10 ngày kể từ ngày lập biên bản, đối với những vụ việc phức tạp, thì thời hạn để ra quyết định xử phạt là 30 ngày; trong trường hợp cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trươngr trực tiếp bằng văn bản để ra hạn. Việc gia hạn thêm phải bằng văn bản và thời gian ra hạn thêm là 30 ngày. Nội dung quyết định xử phạt phải tuân theo quy định tại khoản 3, Điều 56 Pháp lệnh, bao gồm: ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, chức vụ người ra quyết định; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp người vi phạm hoặc tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm, điều khoản, tên văn bản được áp dụng, hình thức xử phạt chính và bổ sung, các biện pháp khắc phục hậu quả.

 

Đối với vụ vi phạm không thuộc thẩm quyền thì người lập biên bản chuyển biên bản đó cho người có thẩm quyền để quyết định xử phạt.

 

Ba là, thi hành quyết định xử phạt. Theo quy định tại Điều 64 của Pháp lệnh, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được giao quyết định xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm phải thi hành quyết định xử phạt. Quá thời hạn quy định mà cá nhân, tổ chức không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành.

 

Hoãn thi hành quyết định xử phạt: Trong truờng hợp cá nhân vi phạm chưa thể thi hành quyết định xử phạt không phải do họ chây ỳ mà do chưa có điều kiện thi hành như đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế; đồng thời mức bị xử phạt tiền từ 500.000 đồng trở lên, thì có thể được tạm hoãn thi hành quyết định xử phạt. Thời hạn tạm hoãn thi hành quyết định xử phạt không quá 03 tháng kể từ khi có quyết định tạm hoãn. Người có thẩm quyền quyết định phạt tiền, có quyền quyết định tạm hoãn. Để được hoãn, cá nhân, tổ chức vi phạm phải làm đơn đề nghị có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan.

 

  1. Một số lưu ý khác về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công chứng

 

7.1 Tình tiết tăng năng, giảm nhẹ

 

Một trong những yêu cầu cơ bản của việc xử lý vi phạm hành chính là việc xử lý phải tương xứng với tính chất mức độ của hành vi vi phạm và nhân thân người vi phạm. Đó cũng chính là một trong những cơ sở cho việc ban hành các quy định về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trong xử lý vi phạm hành chính. Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trong xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động được quy định tại khoản 2, Điều 3, Nghị định số 60 và dẫn chiếu đến Điều 8, Điều 9 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều 6 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP.

 

– Theo quy định tại Điều 8 Pháp lệnh, có bảy (07) tình tiết giảm nhẹ, bao gồm: (1) Người vi phạm hành chính đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; (2) Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; (3) Vi phạm trong tình trạng bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra; (4) Vi phạm do bị ép buộc hoặc bị lệ thuộc về vật chất hoặc tinh thần; (5) Người vi phạm là phụ nữ có thai, người già yếu, người có bệnh hoặc tàn tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; (6) Vi phạm vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra; và (7) Vi phạm do trình độ lạc hậu.

 

– Theo quy định tại Điều 9 Pháp lệnh, có chín (09) tình tiết tăng năng, bao gồm: (1) Vi phạm có tổ chức; (2) Vi phạm nhiều lần trong cùng lĩnh vực hoặc tái phạm trong cùng lĩnh vực; (3) Xúi giục, lôi kéo người chưa thành niên vi phạm, ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần vi phạm; (4) Vi phạm trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc các chất kích thích khác; (5) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm; (6) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm; (7) Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính; (8) Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó; và (9) Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính.

 

Cần phải lưu ý rằng, chỉ có chín tình tiết này mới là tình tiết tăng nặng, không ai có thể đặt ra bất cứ một tình tiết tăng nặng nào ngoài những tình tiết này để xử phạt nặng thêm cho công dân.

 

7.2 Thời hiệu xử phạt

 

Theo quy định tại khoản 1, Điều 4, Nghị định số 60, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động  nói riêng là một năm, kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện. Nếu quá thời hiệu nói trên mà vi phạm hành chính mới bị phát hiện thì không tiến hành xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này. Trong trường hợp quá thời hiệu xử phạt mà lỗi thuộc về người có thẩm quyền xử phạt thì người có thẩm quyền xử phạt bị xử lý theo quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh như sau : “Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, không đúng mức, xử lý vượt thẩm quyền quy định thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.”.

 

Khoản 2, Điều 4, Nghị định số 60 cũng quy định “Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự mà có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì bị xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi của người đó có dấu hiệu vi phạm hành chính; trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người đã ra quyết định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm..”.

 

Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4, Nghị định số 60 này, nếu người vi phạm thực hiện vi phạm hành chính mới trong hoạt động  hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu xử phạt như quy định ở trên mà thời hiệu xử phạt được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

 

Theo quy định tại Điều 6, Nghị định số 60 vấn đề “thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính” đã được quy định cụ thể. Theo đó, cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động , nếu qua một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt (tức là kể từ ngày thực hiện xong các nghĩa vụ, yêu cầu ghi trong quyết định xử phạt hoặc từ ngày quyết định xử phạt được cưỡng chế thi hành) hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

 

7.3 Biện pháp đảm bảo cho hình thức xử phạt tiền

 

Tại khoản 3, Điều 57 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đã quy định người lập biên bản vi phạm hành chính có thẩm quyền:

 

“Trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy phép lái xe hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan cho đến khi cá nhân, tổ chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có những giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm.”.

 

Theo đó, khi tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính có chế tài phạt tiền thì để đảm bảo cho việc thi hành quyết định xử phạt hành chính thì cán bộ lập biên bản có quyền tạm giữ 1 số giấy tờ có liên quan đến hoạt động của Công chứng viên như: thẻ Công chứng viên (nếu có), Quyết định bổ nhiệm Công chứng viên, Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng…Việc tạm giữ phải được ghi chi tiết vào biên bản, tạm giữ giấy tờ gì, số hiệu văn bản, ngày tháng năm, trích yếu giấy tờ bị tạm giữ, mô tả đặc điểm giấy tờ bị tạm giữ…

 

7.4 Khiếu nại, tố cáo

 

Khiếu nại, tố cáo về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động  được quy định tại Chương V của nghị định 76 và dẫn chiếu đến quy định tại Điều 118 của Pháp lệnh. Theo đó, có thể hiểu rằng chủ thể khiếu nại về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng là cá nhân, tổ chức bị xử phạt; chủ thể thực hiện quyền tố cáo là mọi công dân. Thẩm quyền, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Nội dung này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể, chi tiết tại chuyên đề “Giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác công chứng”.

 

Để phát hiện ra hành vi vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt đúng theo quy định của pháp luật thì người có thẩm quyền xử phạt phải nắm rõ nội dung nghiệp vụ công chứng, quy trình thanh tra chuyên ngành trên lĩnh vực công chứng. Tác giả xin trình bày cụ thể nội dung này ở phần II dưới đây để bạn đọc tham khảo. (Còn tiếp)

 

Theo Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – BÀI TẬP HỌC KỲ – BÀI 2

Công chứng, chứng thực có tầm ảnh hưởng rất lớn và quan trọng đến đời sống, xã hội và phát triển kinh tế. Bởi trong cuộc sống đời thường cũng như trong dân sự, kinh tế, thương mại diễn ra nếu không suôn sẻ thì các đương sự tìm kiếm chứng cứ, hoặc là để bênh vực cho lý lẽ của mình hoặc là bác bỏ lập luận của đối phương. Để phòng ngừa các tranh chấp, bảo đảm an toàn pháp lý cho các quan hệ giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại mà đương sự tham gia, họ cần đến chứng cứ công chứng, chứng thực loại chứng cứ xác thực, chứng cứ đáng tin cậy hơn hẳn các loại giấy tờ không có công chứng hoặc chỉ trình bày bằng miệng. Nhưng trên thực tế hoạt động này đang bị một số kẻ lợi dụng nhằm chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp, để hoạt động công chứng, chứng thực thực sự có ích cho sự phát triển xã hội thì việc quản lý nhà nước về hoạt động này là vô cùng quan trọng.

 

 

Nội dung

 

  1. Lý luận chung quản lý nhà nước về công chứng và chứng thực

 

1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về công chứng và chứng thực.

 

Nhìn một cách tổng quát nhất, quản lý là “tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định” (Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý biên soạn năm 2006). Nói cách khác, quản lý chính là hành vi tác động bằng sức mạnh quyền uy của chủ thể quản lý lên đối tượng chịu sự quản lý theo những mục tiêu, trật tự nhất định mà chủ thể quản lý hướng tới. Quản lý có thể được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau, bằng nhiều biện pháp cũng như hình thức tác động không giống nhau. Do đó, quản lý công chứng, chứng thực là hoạt động quản lý nhà nước được pháp luật quy định rất cụ thể về thẩm quyền quản lý của các chủ thể có thẩm quyền đó là các cơ quan nhà nước cụ thể là chính phủ, bộ tư pháp, bộ ngoại giao và các bộ ngành có liên quan ngoài ra có UBND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương cũng có thẩm quyền quản lý về hoạt động công chứng, chứng thực ở tại địa phương. Tiếp đó UBND huyện và các cấp tương đương cũng có thẩm quyền quản lý các hoạt động công chứng, chứng thực ở tại địa bàn. Các chủ thể này có thể sử dụng các biện pháp quản lý, dưới nhiều hình thức tác động khác nhau (ví dụ như ban hành chính sách, thực thi chính sách và thanh tra, kiểm tra…) nhằm đảm bảo hệ thống công chứng, chứng thực được tổ chức, vận hành theo đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định.

 

1.2. Tầm quan trọng của việc quản lý nhà nước về công chứng và chứng thực

 

Khoa học pháp lý chỉ ra rằng khách thể của quản lý chính là trật tự quản lý và trật tự này được xác định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật… Như vậy, quản lý công chứng, chứng thực chính là điều kiện và cũng là tiền đề để thiết chế này vận hành theo đúng trật tự quản lý đã được pháp luật quy định. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện những bước đi đầu tiên nhằm “xã hội hoá” hoạt động công chứng trong tình hình không mấy thuận lợi. Khó khăn thứ nhất là kinh nghiệm thực tế cũng như cơ sở lý luận đặt nền móng cho vấn đề “xã hội hoá” hoạt động công chứng vẫn còn trong quá trình hoàn thiện, tích luỹ. Khó khăn thứ hai là chúng ta hiện vẫn chưa “chuẩn hoá” được chất lượng của dịch vụ công chứng trên một số phương diện cơ bản như: chất lượng nhà cung cấp dịch vụ (bao gồm công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng), giá cả dịch vụ (cụ thể là mức chi phí và thù lao công chứng) và “nguyên liệu đầu vào” của văn bản công chứng (các giấy tờ, tài liệu mà người yêu cầu công chứng phải xuất trình cho công chứng viên khi đề nghị công chứng một giao dịch cụ  thể). Điều này có nghĩa cùng một yêu cầu công chứng nhưng sẽ có nhiều cách giải quyết khác nhau với một bộ hồ sơ không giống nhau trong khi giá cả lại có sự chênh lệch nhất định. Do đó, vai trò quản lý đối với hoạt động công chứng vốn dĩ đã không thể thiếu nay lại càng trở nên vô cùng quan trọng.

 

Như vậy, có thể thấy hoạt động quản lý nhà nước về công chứng và chứng thực giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống  xã hội: Nó đảm bảo cho hoạt động giao lưu dân sự ổn định và giúp các cơ quan tư pháp giải quyết các tranh chấp nhanh chóng, chính xác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khi xảy ra tranh chấp trong các giao lưu dân sự.

 

  1. Thực trạng quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay

 

Theo quy định tại Luật Công chứng chứng 2006, nghị định 79/2007/ NĐ – CP, pháp luật vẫn giao cho tổ chức thuộc hệ thống cơ quan hành pháp đóng vai trò chủ đạo trong công tác quản lý công chứng và chứng thực. Về cơ bản, cơ chế quản lý công chứng, chứng thực hiện được xây dựng theo trục dọc Chính phủ – Bộ Tư pháp (Bộ Ngoại giao cũng như các bộ, cơ quan ngang bộ) – UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và UBND cấp huyện. Trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan nói trên được quy định tại Điều 11 Luật Công chứng 2006 và Điều 20 nghị định 79/2007/NĐ – CP.

 

2.1. Quản lý nhà nước về công chứng

 

Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về công chứng, Luật công chứng 2006 phân định rõ nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan trong quản lý về tổ chức và hoạt động công chứng, theo hướng tăng cường vai trò của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với việc phát triển và quản lý hệ thống tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong việc quản lý nhà nước về công chứng trên phạm vi toàn quốc, trong đó Bộ Tư pháp là đầu mối giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này.

 

Tuy nhiên, qua các quy định về chức năng quản lý công chứng được ghi nhận tại Luật Công chứng ngày 29/11/2006, có thể dễ dàng nhận thấy hình thức quản lý nhà nước đối với công chứng vẫn được duy trì và cá nhân, tổ chức thực hiện chức năng quản lý chủ yếu vẫn nằm trong hệ thống cơ quan hành pháp. Cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về công chứng được quy định tại Điều 11 Luật công chứng 2006: “1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chứng. 2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ ….5. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện việc quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn …”.  Mặc dù không được quy định là một cấp quản lý độc lập nhưng Sở Tư pháp có nhiệm vụ giúp việc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công chứng trong phạm vi địa phương mình (Điều 2, Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/1/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng). Căn cứ quy định trên có thể thấy trách nhiệm quản lý công chứng của Sở Tư pháp rất rộng lớn bao gồm cả việc hoạch định chính sách, thực hiện chính sách cũng như thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo…

 

Nhìn chung, cũng giống như quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật trước đó về công chứng, vai trò quản lý nhà nước của Tòa án, một cơ quan tư pháp, đối với công chứng cũng chỉ dừng lại ở việc giải quyết yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được quy định tại văn bản công chứng của một trong các bên đương sự tham gia giao kết hợp đồng công chứng hoặc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (Điều 6 và Điều 45, Luật Công chứng ngày 29/11/2006). Điểm mới đáng kể nhất trong vai trò quản lý của Tòa án đối với công chứng chính là quy định “trong trường hợp giữa người yêu cầu công chứng và công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng có tranh chấp liên quan đến hoạt động hành nghề công chứng thì các bên có quyền khởi kiện vụ việc ra Tòa án để giải quyết tranh chấp đó” được ghi nhận tại Điều 64, Luật Công chứng ngày 29/11/2006. Tuy đã được cải thiện một cách đáng kể nhưng rõ ràng, vai trò quản lý nhà nước của Tòa án đối với công chứng vẫn còn mờ nhạt và ở trong thế bị động, hướng tới giải quyết tranh chấp nhiều hơn là phòng ngừa xảy ra tranh chấp. Ngoài ra, chúng ta có thể bắt gặp những quy định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về công chứng tại một số văn bản khác. Ví dụ, công tác thanh tra, kiểm tra công chứng được ghi rõ trong Nghị định số 74/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/8/2006 quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp. Nghiên cứu nội dung Khoản 2, Điều 7 và Khoản 2, Điều 10, Nghị định nói trên, cho thấy cả thanh tra Bộ Tư pháp và thanh tra Sở Tư pháp đều có nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra, kiểm tra công chứng.

 

2.2. Quản lý nhà nước về chứng thực

 

Về chứng thực để tăng cường công tác quản lý nhà nước về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, bên cạnh việc xác định nội dung quản lý nhà nước, Nghị định 79/2007/NĐ – CP còn phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý về hoạt động cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký theo hướng tăng cường vai trò quản lý trực tiếp của cấp tỉnh đối với cấp huyện, cấp huyện đối với cấp xã đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong việc quản lý nhà nước về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong phạm vi cả nước; cụ thể Điều 20 nghị định 79/2007/NĐ – CP quy định: “1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. 2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ … 6. Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong địa phương mình …”.

 

2.3. Những tồn tại trong quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực

 

Qua tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật về công chứng, chứng thực thì quản lý nhà nước về công chứng và chứng thực ở nước ta còn những hạn chế nhất định như:

 

Ngay tại Luật Công chứng 2006, mặc dù công chứng đã chính thức được coi là một nghề nhưng chúng ta không tìm thấy bất kỳ quy định nào về tổ chức và hoạt động của hiệp hội nghề nghiệp dành cho công chứng viên chứ chưa nói đến vị trí và vai trò của chúng trong cơ chế quản lý công chứng. Nói theo cách khác, bên cạnh cơ chế quản lý nhà nước, các nhà làm luật chưa xác định cơ cấu tổ chức cũng như chức năng quản lý mang tính xã hội nghề nghiệp đối với hoạt động công chứng. Rõ ràng, điều đó khiến cho cơ chế quản lý công chứng được tổ chức và vận hành giống như cơ chế quản lý các hoạt động hành chính nhà nước thuần túy khác.

 

– Hiện nay, pháp luật xếp công chứng là một chế định bổ trợ tư pháp còn về mặt tổ chức, các phòng công chứng lại được xếp vào hệ thống cơ quan hành chính sự nghiệp. Chúng ta dễ dàng nhận thấy công chứng gắn liền và song hành với cả hoạt động quản lý hành chính lẫn hoạt động tư pháp nói chung (tư pháp ở đây được hiểu theo nghĩa hoạt động xét xử của Tòa án). Tuy nhiên, cơ chế quản lý công chứng lại thuần túy chỉ do cá nhân, tổ chức thuộc hệ thống cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trong khi cá nhân, tổ chức thuộc hệ thống cơ quan tư pháp hoặc bổ trợ tư pháp lại không có bất kỳ một nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, rõ ràng trong công tác quản lý công chứng, ngoài việc xem xét giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Như vậy, cơ chế quản lý hiện hành chưa phản ánh đúng bản chất công chứng. Khiếm khuyết này đã được khắc phục phần nào theo quy định tại Luật Công chứng ngày 29/11/2006 nhưng vai trò quản lý của Tòa án đối với công chứng vẫn còn thụ động. Như vậy, mặc dù đã có những thay đổi nhất định, nhưng nhìn chung, cơ chế quản lý công chứng ở nước ta vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề từ cơ chế quản lý công chứng được quy định tại pháp luật công chứng của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô cũ. Ngay cả khi mô hình tổ chức công chứng hành nghề tự do đã ra đời thì cơ chế quản lý công chứng của Việt Nam vẫn chưa thực sự có những thay đổi cho phù hợp.

 

  1. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay

 

Thứ nhất, phải hoàn thiện quy định về cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý. Nói một cách cụ thể, chúng ta cần gấp rút ban hành văn bản cho phép thành lập hiệp hội công chứng với tư cách là tổ chức nghề nghiệp của công chứng viên và kèm theo đó là tiến hành xây dựng quy chế hoạt động cho hiệp hội này. Hiệp hội công chứng không chỉ là nơi đóng vai trò trung gian giải quyết qua con đường hòa giải bất đồng nảy sinh giữa những đồng nghiệp, đưa ra các chỉ dẫn, khuyến cáo trong quá trình tác nghiệp cho công chứng viên mà đây cũng chính là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền lợi của công chứng viên trong quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một phần nhỏ chức năng của hiệp hội công chứng.

 

Để giảm thiểu nhân lực nhưng vẫn nâng cao hiệu quả quản lý, ngoài việc duy trì chức năng quản lý công chứng của nhà nước, hầu hết các quốc gia đều cho phép hiệp hội công chứng đóng một số vai trò quản lý nhất định đối với lĩnh vực bổ trợ tư pháp này. Tùy vào pháp luật của mỗi quốc gia, hiệp hội công chứng có nhiệm vụ, quyền hạn quản lý rất khác nhau từ tham gia đào tạo, xem xét kỷ luật công chứng viên; hay tiến hành thanh tra, kiểm tra công chứng… thậm chí, cho ý kiến cũng như xây dựng quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, hoạch định chính sách phát triển công chứng trong tương lai… Như vậy, ngoài việc củng cố cơ chế quản lý công chứng mang tính quyền lực nhà nước, chúng ta cần xây dựng bổ sung cơ chế tự quản hay còn gọi là quản lý công chứng mang tính xã hội – nghề nghiệp. Hơn nữa, chúng ta cũng cần xác định rõ quyền hạn, nhiệm vụ và mối quan hệ phối hợp trong công tác quản lý công chứng của hai hệ thống cơ quan trên.

 

Thứ hai, cần tăng cường hơn nữa vai trò quản lý công chứng của tổ chức, cá nhân nằm trong hệ thống cơ quan tư pháp hoặc bổ trợ tư pháp. Mặc dù theo quy định tại Luật Công chứng ngày 29/11/2006, vai trò quản lý công chứng của Tòa án ở nước ta đã được nâng lên một bước, nhưng như phân tích ở trên, vai trò quản lý công chứng của hệ thống cơ quan tư pháp các cấp vẫn còn thụ động. Theo quy định hiện hành, Tòa án đóng một vai trò quản lý công chứng rất khiêm tốn và cũng chỉ có điều kiện thể hiện vai trò quản lý khi xảy ra tranh chấp và nhận được yêu cầu từ một trong các bên có liên quan. Chính cách quy định này khiến cho hiệu quả quản lý của hệ thống Tòa án các cấp đối với công chứng không cao. Trong khi đó, với tư cách một hoạt động bổ trợ tư pháp, công chứng có chức năng tạo lập và cung cấp chứng cứ phục vụ cho công tác xét xử của Tòa án nên rõ ràng, vai trò quản lý của Tòa án đối với công chứng như quy định hiện nay là chưa tương xứng. Do đó, cơ chế quản lý công chứng phải được hoàn thiện theo hướng tăng cường hơn nữa vai trò chủ động quản lý công chứng của Tòa án, không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của hệ thống cơ quan này mà còn phù hợp với bản chất công chứng.

 

Thứ ba, tăng cường cơ chế giám sát, minh bạch hóa hoạt động công chứng, yêu cầu các tổ chức hành nghề công chứng phải niêm yết thông tin đường dây nóng (số điện thoại của lãnh đạo Sở, phòng chuyên môn, thanh tra Sở, địa chỉ hòm thư điện tử) tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng để các cơ quan, tổ chức, cá nhân giám sát, phản ánh về hoạt động công chứng, đồng thời chỉ đạo các tổ chức hành nghề công chứng ký cam kết mức thu thù lao trên địa bàn. Các phòng chuyên môn, thanh tra Sở thường xuyên tiến hành kiểm tra nắm tình hình, thanh tra đối với các tổ chức hành nghề công chứng nhằm kịp thời chỉ đạo chấn chỉnh, xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

 

Kết luận

 

Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công chứng, chứng thực ở Việt Nam đang chứng tỏ là một công cụ đắc lực phục vụ quản lý nhà nước có hiệu qủa góp phần tích cực phòng ngừa tranh chấp, tạo ra sự an toàn cho các quan hệ pháp lý cho các quan hệ giao dịch trong xã hội. Vì vậy để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tốt hơn nhu cầu công chứng, chứng thực của cá nhân, tổ chức góp phần phục vụ sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước thì sự quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực này ngày càng đóng một vai trò quan trọng.

 

Danh mục tài liệu tham khảo

 

1, Bài giảng của TS. Hoàng Quốc Hồng, đại học Luật Hà Nội

2, Điều 6 Luật công chứng năm 2006.

3, Nghị định 79/2007/NĐ-CP của chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký.

4,hhttp://luatsutuvan.com.vn/congchung/modules.php?name=Content&opcase=Details&mcid=140&id=120&menuid=

5, http://pccs2-tthue.vn/Views/InfoTwo.aspx?OneID=7&TwoID=47

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG CHỨNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN CÔNG CHỨNG CHỨNG THỰC

Hiện nay, các quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại, đất đai… đã phát triển mạnh mẽ, đa dạng trên cả bề rộng và bề sâu, cả trong nước và cả với nước ngoài. Nhiều giao dịch dân sự, thương mại đòi hỏi phải được công chứng để tạo chứng cứ có sức thuyết phục cao. Việc công chứng được yêu cầu thực hiện một cách chính xác theo đúng pháp luật nhưng phải nhanh chóng kịp thời, thuận tiện cho người dân. Việc xã hội hóa hoạt động công chứng đã góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu công chứng các hợp đồng, giao dich của người dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu tiêu cực như sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề công chứng. Thực tế này cho thấy vấn đề quản lý Nhà nước về công chứng có vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo tuân theo pháp luật của hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta. Để rõ hơn về hoạt động này em xin đi vào tìm hiểu vấn đề: Thực trạng quản lý nhà nước về công chứng ở nước ta hiện nay.

NỘI DUNG

 

  1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động công chứng.

 

Khái niệm: Công chứng được giải thích tại Điều 2 Nghị định số 75/2000/NĐ – CP như sau:

 

Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này.

 

Đặc điểm của hoạt động công chứng:

 

– Hoạt động công chứng đảm bảo an toàn pháp lí cho các hợp đồng, giao dịch;

 

– Hoạt động công chứng tạo lập các văn bản có giá trị chứng cứ;

 

– Hoạt động công chứng là hoạt động mang tính chuyên môn, nghề nghiệp;

 

– Hoạt động công chứng chịu sự quản lí chặt chẽ của Nhà nước.

 

  1. Quản lý của nhà nước về hoạt động Công chứng.

 

Ở cấp trung ương, việc quản lý hoạt động công chứng được thực hiện bởi Bộ tư pháp, cụ thể: theo quy định tại điều 17 Nghị định 75 thì nhiệm vụ quyền hạn của Bộ tư pháp trong việc quản lý nhà nước về công chứng như sau: soạn thảo, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công chứng, chứng thực; ban hành theo thẩm quyền  văn bản hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật đó; Hướng dẫn chỉ đạo về tổ chức và hoạt động công chứng, chứng thực; Bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng, chứng thực; ban hành và hướng dẫn việc sử dụng thống nhất các sổ công chứng, các sổ chứng thực; Quy định và hướng dẫn sử dụng mẫu hợp đồng, giao dịch, mẫu nội dung lời chứng; kiểm tra, thanh tra về tổ chức và hoạt động công chứng, chứng thực theo thẩm quyền; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về công chứng, chứng thực theo thẩm quyền; Hàng năm tổng hợp tình hình báo cáo Chính phủ; thực hiện hợp tác quốc tế về công chứng, chứng thực; Đào tạo nghề công chứng; Bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên; Cấp thẻ công chứng viên; Phát hành niêm giám công chứng viên; Triển khai việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng.

 

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 điều 22 Nghị định 04/2013/NĐ-CP thì  Bộ Tư pháp còn có các nhiệm vụ, quyền hạn khác như: Trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020 và hướng dẫn tổ chức thực hiện Quy hoạch sau khi được phê duyệt; Hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện việc bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng đối với công chứng viên; Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng trong việc ban hành Quy chế cung cấp thông tin về đất, nhà giữa các cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà với tổ chức hành nghề công chứng; Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

 

Việc quản lý nhà nước về công chứng ở địa phương được giao cho Sở tư pháp của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố. Điều 19 của Nghị định 75 quy định như sau: Sở tư pháp của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công chứng trong địa phương mình, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Chỉ đạo hoạt động công chứng, chứng thực; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về công chứng, chứng thực theo thẩm quyền; Bồi dưỡng nghiệp vụ cho người thực hiện chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; hướng dẫn và kiểm tra, thanh tra hoạt động của Phòng Công chứng và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; Quyết định thành lập, giải thể Phòng Công chứng; quyết định thẩm quyền địa hạt cho từng Phòng Công chứng; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Công chứng; định biên chế cho từng Phòng Công chứng; bảo đảm trụ sở làm việc, phương tiện, cơ sở vật chất cần thiết khác cho hoạt động của Phòng Công chứng; Tổng hợp tình hình và thống kê số liệu về công chứng, chứng thực trong địa phương gửi Bộ Tư pháp theo định kỳ 6 tháng và hàng năm.

 

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng của Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện bởi Bộ ngoại giao, ở trong nước thì được phân làm hai cấp là cấp trung ương và cấp địa phương do Bộ tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Công chứng ở nước ngoài thì được thực hiện bởi Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và việc quản lý hoạt động công chứng của cơ quan này được thực hiện bởi Bộ ngoại giao. Theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 75/2000/NĐ – CP của Chính phủ về công chứng, chứng thực (sau đây gọi là Nghị định 75) quy định thẩm quyền của Bộ ngoại giao đối với hoạt động quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài như sau: Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện công chứng của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về công chứng; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng cho viên chức lãnh sự của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về công chứng theo thẩm quyền; Tổng hợp tình hình và thống kê số liệu về công chứng của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gửi Bộ Tư pháp theo định kỳ 6 tháng và hàng năm.

 

  1. Thực trạng quản lý nhà nước về Công chứng.

 

3.1. Những thành tích đạt được

 

Tính đến nay trên cả nước đã có có 724 Văn phòng Công chứng được thành lập

tại hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với hơn 1327 công chứng viên được bổ nhiệm hoạt động tại các Văn phòng công chứng. Cùng với 156 Phòng Công chứng với hơn 458 công chứng viên, các Văn phòng Công chứng và các công chứng viên hoạt động tại đây đã dần tạo thành một mạng lưới các tổ chức hành nghề công chứng ngày càng được mở rộng và phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu công chứng của nhân dân. Bên cạnh các Phòng Công chứng vốn đã là truyền thống và có “uy tín”, nhiều Văn phòng Công chứng cũng đã khẳng định được niềm tin và thu hút được một số lượng khách hàng khá đông đảo. Sự cạnh tranh lành mạnh buộc tất cả các tổ chức hành nghề công chứng nếu muốn củng cố và phát triển phải cải tiến, đổi mới, vươn lên khẳng định vị trí, thương hiệu của mình trong xã hội. Sự hài lòng của người dân và độ an toàn trong giao dịch chính là thước đo chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng.

 

Cùng với chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, việc “công chứng hóa” hoạt động chứng nhận các giao dịch, hợp đồng nhằm tăng cường bảo  đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch của người dân cũng được quan tâm đặc biệt. Thực hiện Luật Công chứng, Nghị định 04/2013/NĐ-CP, nhiều Sở Tư pháp đã chủ động xây dựng, tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương, tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, căn cứ vào tình hình phát triển tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn, đã và đang bước chuyển giao việc chứng nhận các hợp đồng, giao dịch từ Uỷ ban nhân dân sang cho tổ chức hành nghề công chứng thực hiện. Đến nay, hầu hết các địa phương trên cả nước thực hiện việc chuyển giao và một số địa phương khác cũng đang trong quá trình thực hiện việc chuyển giao. Công tác thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn hoạt động  đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn cũng được nhiều địa phương quan tâm và dần đi vào nền nếp.

 

3.2. Những hạn chế cần sớm khắc phục

 

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cũng cần phải thừa nhận rằng: một trong những yếu kém cần khắc phục trong công tác công chứng là hoạt động quản lý nhà nước đối với công tác này ở nhiều địa phương còn mờ nhạt, chưa đi vào chiều sâu:

 

– Ở nhiều địa phương, Sở Tư pháp còn lúng túng trong việc thực hiện vai trò quản lý nhà nước trên địa bàn. Thậm chí có nơi băn khoăn không biết mình quản lý nhà nước đối với Văn phòng Công chứng như thế nào, đối với công chứng viên hoạt động tại Văn phòng công chứng ra sao; nhiều nơi chỉ tập trung chỉ đạo đối với hoạt động của Phòng Công chứng… Vai trò quản lý nhà nước không được phát huy dẫn đến việc các tổ chức hành nghề công chứng trên một số địa bàn chưa lấy cơ quan tư pháp làm chỗ dựa khi có những vướng mắc về chuyên môn, nghiệp vụ, hoạt động hành nghề mà thường gửi thẳng các kiến nghị, thắc mắc lên Bộ Tư pháp, không qua Sở Tư pháp là cơ quan giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về công tác tư pháp, trong đó có hoạt động công chứng ở địa phương, dẫn đến tình trạng địa phương thì không nắm được tình hình, còn Bộ lại quá tải, phải giải quyết cả các hoạt động đơn lẻ, sự vụ.

 

– Việc xã hội hóa công chứng: bên cạnh những kết quả, cũng đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu tiêu cực như sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề công chứng với nhau(Phòng Công chứng, Văn phòng công chứng). Thậm chí, tuy chưa phải là phổ biến, nhưng đã có hiện tượng “công chứng dạo” như phản ánh của một số địa phương (tức là tình trạng công chứng viên bỏ dấu vào túi đi đến các cơ quan, tổ chức để thực hiện công chứng)… trong khi Luật công chứng đã quy định rõ việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ một số trường hợp đặc biệt. Hoặc đã có tình trạng cá nhân góp vốn vào Văn phòng công chứng yêu cầu được tham gia “quản lý”, “điều hành” Văn phòng công chứng dẫn đến xung đột, Văn phòng công chứng phải tạm dừng hoạt động như báo chí phản ánh, trong khi Luật Công chứng đã quy định rõ Văn phòng công chứng do công chứng viên thành lập và người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng công chứng, Luật không quy định việc các cá nhân “góp vốn” vào các Văn phòng công chứng. Điều đó cho thấy, vai trò quản lý nhà nước rõ ràng đã bị buông lỏng, lúng túng hoặc chưa theo kịp với tình hình. Cần quán triệt một cách rõ ràng rằng, chủ trương xã hội hóa phải đi đôi với tăng cường quản lý nhà nước, xã hội hóa càng mạnh, quản lý nhà nước càng phải tăng cường.

 

– Các Sở Tư pháp vẫn chưa rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành những quy định hướng dẫn các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo thẩm quyền, dẫn đến hoạt động công chứng trên địa bàn gặp nhiều khó khăn cũng như khó khăn cho việc quản lý chặt chẽ hoạt động này và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.  Đặc biệt, cần quan tâm đến việc tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn để có cơ sở thành lập và phát triển các tổ chức hành nghề công chứng theo một quy hoạch hợp lý. Hiện nay, tuy đã có rất nhiều địa phương ban hành Đề án, tuy nhiên, nhiều Đề án còn chung chung, chưa rõ được chủ trương phát triển và chưa vẽ được bản đồ phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương, cũng cần phải được rà soát, điều chỉnh cho phù hợp. Bên cạnh đó, để tăng cường bảo đảm an toàn cho các hợp đồng, giao dịch của người dân, đồng thời để Phòng tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã tập trung thực hiện tốt công tác chứng thực, các Sở Tư pháp cũng cần sớm tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, căn cứ vào tình hình phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương để hoàn tất từng việc chuyển giao thẩm quyền chứng nhận các giao dịch, hợp đồng sang cho tổ chức hành nghề công chứng thực hiện. Mặc dù Bộ Tư pháp đã có chỉ đạo quyết liệt về vấn đề này, tuy nhiên, quá trình thực hiện chuyển giao theo điểm 8 Thông tư 03 ở các địa phương, bên cạnh nhiều thuận lợi, cũng vẫn còn gặp khó khăn ở một số nơi, do chưa thống nhất nhận thức về vấn đề này.

 

KẾT LUẬN

 

Qua những phân tích ở trên ta thấy được nhà nước đã đặt ra những quy định nhằm quy định việc quản lý của mình đối với hoạt động công chứng, chứng thực. Nhà nước đã quản lý từ trong nước đến tận những hoạt động công chứng của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì còn rất nhiều những vấn đề thiếu sót mà phát luật chưa quy định để điều chỉnh, do đó để hoạt động quản lý của mình được thực hiện một cách thống nhất và hiệu quả thì việc hoàn thiện pháp luật trong hoạt động công chứng, chứng thực luôn được đặt lên hàng đầu

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Luật công chứng 2006;
  2. Nghị định 04/2013/NĐ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng;
  3. Nghị định 75/2000/NĐ – CP của Chính phủ về Công chứng, chứng thực;
  4. Thông tư 03/2008/TT – BTP hướng dẫn thi hành Nghị định 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký do Bộ Tư pháp ban hành;

ĐIỀU KIỆN, TIÊU CHUẨN CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN – BÀI TẬP CÁ NHÂN CÔNG CHỨNG CHỨNG THỰC

Trong bối cảnh của nước ta hiện nay, sau hơn 5 năm thực hiện hoạt động xã hội hóa công chứng, cùng với sự phát triển nhanh chóng về số lượng các công chứng viên thì những yêu cầu về điều kiện, tiêu chuẩn, chất lượng của các công chứng viên tại các văn phòng công chứng cũng không ngừng được đặt ra. Sau đây, em xin đi vào trình bày vấn đề điều kiện, tiêu chuẩn của công chứng viên.

 

  1. Khái quát về công chứng viên

 

Định nghĩa công chứng viên được quy định tại Điều 7 của Luật công chứng: Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được bổ nhiệm để hành nghề công chứng.

 

Để phân biệt công chứng viên với những chủ thể khác, pháp luật đã đưa ra những quy định cụ thể về điều kiện tiêu chuẩn để trở thành công chứng viên (người thực hiện công chứng) cũng như nhiệm vụ quyền hạn của công chứng viên. Công chứng viên là chủ thể thực hiện hành vi công chứng chứ không phải là Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng. Trước đây các Nghị định của Chính phủ quy định về công chứng chưa làm rõ được vị trí nêu trên của công chứng viên, thậm chí vai trò, vị trí của công chứng viên bị lu mờ so với Phòng công chứng. Cách thức tổ chức công chứng nhà nước như trước đây khiến cho người dân và các cơ quan, tổ chức chỉ nghĩ đến Phòng công chứng như là chủ thể duy nhất của hoạt động công chứng, còn công chứng viên chỉ là một công chức hành chính làm việc trong Phòng công chứng. Trưởng phòng công chứng hầu như là người chịu trách nhiệm chính trong hoạt động công chứng của Phòng và có quyền rất lớn đối với công chứng viên.

 

 

Như theo quy định của điều 7 luật công chứng năm 2006 thì công chứng viên là chủ thể hành nghề công chứng chứ không phải là Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng. Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng chỉ là tổ chức hành nghề của Công chứng viên.

 

  1. Điều kiện, tiêu chuẩn công chứng viên

 

Luật công chứng đã có những quy định tạo điều kiện để những người có đủ tiêu chuẩn và trình độ muốn hành nghề công chứng được chủ động hơn trong việc trở thành công chứng viên.

 

Theo quy định tại Điều 13 của Luật công chứng năm 2006 thì: “1. Công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam trung thành với tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét bổ nhiệm làm công chứng viên:

 

  1. a) có bằng cử nhân luật;

 

  1. b) có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan tổ chức;

 

  1. c) có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng, đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng;

 

  1. d) Đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng

 

  1. e) Có sức khỏe bảo đảm hành nghề công chứng.

 

  1. Thời gian đào tạo nghề công chứng và tập sự hành nghề công chứng được tính vào thời gian công tác pháp luật”.

 

Dựa trên tiêu chuẩn công chứng viên, pháp luật quy định một cách rất cụ thể người thực hiện công chứng và nói chung các quy định đó cũng khá đúng đắn và hợp lý. Tuy nhiên, tiêu chuẩn công chứng viên vẫn còn một số điểm hạn chế như:

 

Công chứng viên là người bảo vệ quyền lợi người công chứng nhưng cũng có thể gây thiệt hại to lớn về kinh tế nếu thiếu hiểu biết hoặc làm việc tắc trách, bất cẩn. Do vậy, những tiêu chuẩn đó so với yêu cầu thực tế còn sơ sài và làm nảy sinh rất nhiều bất cập. Ví dụ: một số giao dịch liên quan đến bất động sản có biểu hiện công chứng “treo”. Công chứng viên không qua đào tạo nghề công chứng ở một số văn phòng công chứng có tình trạng lôi kéo khách hàng, thực hiện hoạt động công chứng trái quy định.

 

Việc luật công chứng cũng không quy định về tuổi hành nghề công chứng cũng là một điểm hạn, nếu công chứng viên cao tuổi sẽ hạn chế về sức khỏe, không đáp ứng được yêu cầu về tư duy về nghiệp vụ sắc bén, đòi hỏi cần có sự tinh thông. Ngoài ra, còn một điểm hạn chế lớn của luật công chứng hiện hành đó là việc quy định các trường hợp được miễn đào tạo và miễn tập sự nghề công chứng bao gồm những người: “Đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên; luật sư đã hành nghề từ ba năm trở lên, là giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật, đã là thẩm tra viên cao cấp ngành toà án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật”.

 

Tuy đây là những người có trình độ pháp lý cao nhưng công chứng viên là nghề rất đặc thù, tính chịu trách nhiệm cao, văn bản pháp công chứng có giá trị pháp lý không phải chứng minh…do đó, những người này không cần phải đào tạo cũng không có lấy một ngày tập sự hành nghề là không phù hợp. Thực tế có nhiều vụ việc công chứng viên “sang ngang” kiểu này đã dẫn đến những vi phạm đáng tiếc.

 

Để hoàn thiện hơn, cần sửa đổi Luật Công chứng theo hướng thu hẹp đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng, cụ thể là không miễn đào tạo cho đối tượng đã là điều tra viên, luật sư hành nghề từ 3 năm trở lên mà chỉ miễn đào tạo nghề công chứng cho người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, công chứng viên, giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật nhằm quy định chặt chẽ hơn về điều kiện được miễn đào tạo nghề công chứng; bổ sung quy định những đối tượng được miễn đào tạo phải tham gia khoá bồi dưỡng nghề công chứng trước khi đề nghị bổ nhiệm, trừ những người đã là công chứng viên mà thôi hành nghề công chứng tính đến trước thời gian bổ nhiệm tối đa là 5 năm.

 

Đồng thời, cần bổ sung quy định người được miễn đào tạo nghề công chứng cũng phải tập sự tại một tổ chức hành nghề công chứng, song được giảm 1/2 thời gian tập sự  vì đây là những người đã có kinh nghiệm làm việc trong các lĩnh vực pháp luật; bổ sung quy định về kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng nhằm đảm bảo và tăng cường chất lượng của việc tập sự hành nghề công chứng, đánh giá được hiệu quả và thực chất của việc tập sự.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Luật công chứng năm 2006;
  2. Nghị định 04/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật công chứng;
  3. http://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat/chinh-sach-moi/4680/%E2%80%9Csiet%E2%80%9C-quy-dinh-ve-cong-chung-vien

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC – BÀI TẬP NHÓM

Công chứng, chứng thực là hoạt động mang tính chất pháp lý, được thực hiện thường xuyên và phổ biến trong đời sống của người dân. Có thể nói, mặc dù không còn quá xa lạ với các thủ tục công chứng, hay chứng thực nhằm đáp ứng đòi hỏi về mặt pháp lý cho các giao dịch hay giấy tờ, chữ ký… trong đời sống thường ngày,nhưng có lẽ ít người hiểu được ý nghĩa thực sự của hai hoạt động này, cùng sự hình thành, phát triển của nó trong lịch sử. Nắm được điều này, cũng là sự bổ sung kiến thức hợp lý nhằm phân biệt và nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như những thay đổi tích cực của Nhà nước ta đối với việc cố gắng xây dựng và hoàn thiện hoạt động pháp lý thiết yếu này.

 

  1. Khái niệm, đặc điểm của công chứng, chứng thực

 

  1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động công chứng:

 

Khái niệm : Điều 2 của Luật công chứng  định nghĩa công chứng như sau:

 

Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

 

Đặc điểm của hoạt động công chứng:

 

– Hoạt động công chứng đảm bảo an toàn pháp lí cho các hợp đồng, giao dịch

 

– Hoạt động công chứng tạo lập các văn bản có giá trị chứng cứ

 

– Hoạt động công chứng là hoạt động mang tính chuyên môn, nghề nghiệp

 

– Hoạt động công chứng chịu sự quản lí chặt chẽ của Nhà nước

 

  1. Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động công chứng, chứng thực ở Việt Nam qua các thời kì.

 

  1. Thời kì Pháp thuộc đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

 

Hoạt động công chứng xuất hiện khá sớm ở Việt Nam, kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Hoạt động công chứng của nước ta ở giai đoạn này đều áp dụng theo mô hình của Pháp chủ yếu phục vụ cho chính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Tiêu biểu là Sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng ( được áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10  năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P. Pasquies). Theo đó, người thực hiện công chứng là công chứng viên mang quốc tịch Pháp do Tổng thống Pháp bổ nhiểm và giữ chức vụ suốt đời. Quy chế công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm,(cụ thể do tổng thống Pháp bổ nhiệm và giữ chức vụ suốt đời). Công chứng viên hoạt động với tư cách là người thi hành công vụ, hoạt động mang tính chất của người hành nghề tự do.Khi đó Việt Nam chỉ có một văn phòng công chứng ở Hà Nội, ba văn phòng công chứng ở Sài gòn, ngoài ra ở các thành phố Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẵng thì việc công chứng do Chánh lục sự Tòa án sơ thẩm kiểm nhiệm.

 

  1. Thời kì sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1991

 

Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 1 tháng 10 năm 1945 Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Vũ Trọng Khánh đã ký quyết định về một số vấn đề liên quan đến hoạt động công chứng như: bãi chức công chứng viên người Pháp tên Deroche tại văn phòng công chứng, bổ nhiệm một công chứng viên người Việt Nam là ông Vũ Quý Vỹ đang là luật sư tập sự tại Tòa thượng thẩm Hà Nội thay thế cho công chứng viên người Pháp tại Hà Nội, những quy định cũ về công chứng của Pháp vẫn được áp dụng, trừ những quy định trái với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đặc biệt người Việt Nam quốc tịch Pháp được Nhà nước “ thu dung”. Thời kì đó công chứng viên phải chịu trách nhiệm và chịu sự kiểm tra, giám sát của các Ủy ban hành chính các cấp.

 

Để đáp ứng các nhu cầu giao dịch dân sự của nhân dân, ngày 15 tháng 11 năm 1945 Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh 59/SL quy định về thể lệ thị thực các giấy tờ với nội dung trình tự thủ tục thị thực giấy tờ cho công dân trong giao lưu dân sự  như mua bán, trao đổi, chứng nhận địa chỉ cụ thể của một người tại địa phương.. Xét về nội dung đây chỉ là một thủ tục hành chính càng về sau việc áp dụng Sắc lệnh 59/SL càng mang tính hình thức, chủ yếu xác nhận ngày tháng, năm, chữ ký và địa chỉ thường trú của đương sự.

 

Ngày 29/2/1952 Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh 85 quy định về thể lệ trước bạ về các việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất. Do hoàn cảnh lịch sử bấy giờ nên Sắc lệnh 85 chỉ áp dụng đối với những vùng tự do hoặc những vùng thuộc Uỷ ban kháng chiến. Cũng theo Sắc lệnh này, Uỷ ban kháng chiến cấp xã hoặc xã được nhận thực vào văn tự theo hai nội dung: nhận thực chữ ký của các bên mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất, và nhận thực người đứng ra bán, cho, đổi là chủ của những nhà cửa, ruộng đất, đem bán trao đổi. Có thể thấy rằng hoạt động công chứng trong giai đoạn này không được phát triển do rất nhiều nguyên nhân, cụ thể:

 

Trước tiên là do hoàn cảnh đất nước đang trong giai đoạn chiến tranh khó khăn, thiếu thốn nhiều mặt. Đặc biệt là nền kinh tế nước nhà giai đoạn này rất kém phát triển.

 

Thứ hai là do Nhà nước ta lúc này không chấp nhận chế độ sở hữu của các thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh và tập thể, trong khi đó hoạt động công chứng lại chủ yếu chứng thực các quan hệ sở hữu tư nhân; mọi giao lưu kinh tế, dân sự chủ yếu được xác lập theo quan hệ hành chính, thương mại gần như không phát triển. Do vậy, nên các tổ chức công chứng không được thành lập trong giai đoạn này.

 

Giai đoạn từ năm 1954 – 1981 có rất ít quy phạm điều chỉnh hoạt động công chứng, chứng thực. Đến năm 1981 có Nghị định 143 của Hội Đồng Bộ trưởng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp. Trên cơ sở của Nghị định 143, năm 1987 có thông tư số 574/QLTP quy định về công tác công chứng nhà nước được ban hành với cùng với nó là sự ra đời của  phòng công chứng TP. Hồ Chí Minh, phòng công chứng Hà Nội và một số phòng công chứng ở các địa bàn khác (nếu có nhu cầu), công tác công chứng, chứng thực của UBND cũng được kiện toàn. Sau đó, để tạo điều kiện hơn nữa cho các địa phương tiếp cận với hoạt động công chứng, Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng, tại thời điểm này chủ thể duy nhất thực hiện công chứng là phòng công chứng. Căn cứ vào những văn bản này thì các tỉnh thành trên cả nước đã lập ra các phòng công chứng dần dần hình thành mạng lưới các phòng công chứng trên cả nước.

 

Tại miền Nam Việt Nam sau hiệp định Giơ ne vơ 1954, công chứng dưới thời chính quyền Ngụy – Sài gòn được điều chỉnh bời Dụ 43 ngày 29/11/1954 quy định về ngạch Chưởng khế ( ngạch chưởng khế là người Việt Nam) do Bảo Đại ký với tư cách là Quốc trưởng. Mục đích là thiết lập trong mỗi quản hạt của mỗi Tòa sơ thẩm thuộc Bộ tư pháp một phòng công chứng, nhưng trên thực tế thì chỉ thiết lập được một phòng công chứng hoạt động tại Sài gòn và tồn tại đến năm 1975.

 

  1. Thời kì từ năm 1991 đến nay.

 

* Thời kì từ năm 1991 đến trước khi Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực

 

Giai đoạn này, kể từ sau đại hội Đảng VI năm 1986 nước ta đã có những chuyển biến to lớn sang thời kỳ của mở cửa và hội nhập. Nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân thời kỳ này và theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Theo quy định của Nghị định này thì : “Phòng công chứng Nhà nước là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng ở ngân hàng, có con dấu mang hình quốc huy.”

 

Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định 31/CP về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước vào ngày 18/5/1996 thay thế cho nghị định số 45/HĐBT, theo đó phòng công chứng là thuộc Sở tư pháp, quy định này là nhằm chuyên môn hóa hoạt động công chứng và giảm tải cho Ủy ban nhân dân.

 

Sau một thời gian, do tình hình kinh tế nước ta ngày càng phát triển  kéo theo sự gia tăng của các quan hệ kinh tế, thương mại khiên cho các quy định của Nghị định 31/CP đã trở nên lạc hậu. Ngày 08/02/2000 Chính phủ ban hành Nghị định 75/NĐ –CP về công chứng, chứng thực. Nghị định này quy định về phạm vi của công chứng, chứng thực; tổ chức phòng công chứng, chứng thực; nguyên tắc hoạt động, trình tự thủ tục của việc công chứng, chứng thực; công tác chứng thực của Ủy ban nhân nhân cấp huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh và UBND cấp xã, phường, thị trấn. Bằng hoạt động công chứng, chứng thực của mình, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực thi công tác công chứng, chứng thực đã góp phần cho việc bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các quan hệ xã hội khác, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩaCũng từ Nghị định này thì thuật ngữ “phòng công chứng Nhà nước” đã được thay thế bằng “Phòng công chứng” thể hiện quan điểm xã hội hòa hoạt động công chứng của Nhà nước ta.

 

Đây là Nghị Định có nhiều điểm mới so với các văn bản trước đây như khái niệm công chứng, chứng thực được phân biệt rạch ròi; phạm vi công chứng, chứng thực được quy định rộng hơn; trình tự thủ tục được quy định rõ ràng, cụ thể… Về tính chất hành vi công chứng, chứng thực là một hoạt động bổ trợ tư pháp, là một loại dịch vụ công nhằm xác định tính chân thực và đúng pháp luật của bản sao của các loại hồ sơ, giấy tờ mang tính pháp lý và các giao dịch dân sự. Theo quy định tại nghị định số 75/2000/NĐ-CP các cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực gồm có: các phòng công chứng nhà nước; UBND cấp huyện; UBND cấp xã; Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam  ở nước ngoài. Bên cạnh đó, cơ quan tổ chức cấp bản gốc các loại hồ sơ, giấy tờ mang tính pháp lý cũng có quyền chứng thực bản sao. Mặc dù, nhiều cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực như trên, nhưng trong thực tế, đa số người dân có nhu cầu công chứng, chứng thực thường đổ dồn về các phòng công chứng Nhà nước gây ra tình trạng quá tải.

Hậu quả tất yếu là một số nơi xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, nạn cò mồi và hiện tượng gian lận. Người dân không tới UBND để chứng thực bản sao các loại hồ sơ, giấy tờ không phải vì “sính” phòng công chứng như có người nhận xét, mà căn nguyên sâu xa ở chỗ chứng thực ở các cơ quan đó quá mất thời gian.

 

* Từ ngày 1/7/2007 (ngày Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực) đến nay

 

Do những nhu cầu về công chứng của nhân dân ngày càng cao khiến cho mối quan hệ trong hoạt động công chứng ngày càng phức tạp nên Luật công chứng đã được Quốc hội thông qua vào ngày 29/11/2006, chính thức có hiệu lực ngày 1/7/2007  về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ  bản chính, chứng thực chữ ký cũng được triển khai, từ đây hai hành vi công chứng, chứng thực được phân biệt rõ ràng, cụ thể.

 

Luật Công chứng là bộ luật đầu tiên quy định về hoạt động công chứng ở nước ta, gồm 8 chương, 67 điều với các nội dung về công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, thủ tục công chứng hợp đồng – giao dịch; lưu trữ hồ sơ, phí công chứng, thù lao công chứng, xử lý vi phạm, khiếu nại, giải quyết tranh chấp.

 

Điểm mới của Luật công chứng2006 so với các nghị định trước đây là

 

Thứ nhất, Luật chỉ quy định các vấn đề về công chứng, không quy định  các vấn đề liên quan đến chứng thực. Việc tách biệt công chứng và chứng thực như vậy vừa đáp ứng được yêu cầu về cải cách hành chính, vừa tạo điều kiện để chuyển tổ chức công chứng sang chế độ dịch vụ công.

 

Thứ hai là có các quy định về các tổ chức hành nghề công chứng và chế định công chứng viên. Theo đó, công chứng viên không nhất thiết phải là công chứng Nhà nước. Trên thực tế, khi triển khai Luật Công chứng thì sẽ tồn tại hai loại công chứng viên: công chứng viên làm việc trong các phòng công chứng nhà nước và công chứng viên làm việc tại văn phòng công chứng do các công chứng viên tự thành lập theo Luật Doanh nghiệp tổ chức dưới hình thức công ty hợp danh. Mô hình văn phòng công chứng là một hình thức mới của tổ chức hành nghề công chứng. Những quy định về tổ chức hành nghề công chứng thể hiện rõ nét tinh thần đổi mới các tổ chức hành nghề công chứng theo hướng xã hội hoá và dịch vụ. Về lâu dài, văn phòng công chứng sẽ là hình thức phổ biến, nhất là khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển.

 

Thứ ba, Kể từ thời điểm có hiệu lực của Luật Công chứng, việc chứng thực của các tổ chức, cá nhân cũng có sự thay đổi căn bản cụ thể là: các loại hợp đồng, giao dịch kinh tế, dân sự, thương mại… sẽ được chứng thực tại phòng công chứng; các bản sao từ bản chính các loại giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và chứng thực chữ ký của người dịch trong các bản dịch sẽ được chứng thực tại các Phòng Tư pháp cấp huyện. Các loại giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt như: giấy khai sinh, học bạ, văn bằng… sẽ được chứng thực tại UBND cấp xã, phường.

 

Với việc tách bạch phạm vi giữa công chứng và chứng thực để từ đó xác định những nguyên tắc tổ chức và hoạt động phù hợp đối với mỗi loại hoạt động này là phù hợp với chủ trương cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Do đó, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18-5-2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (sau đây gọi tắt là Nghị định số 79/2007/NĐ-CP) là cần thiết, kịp thời đáp ứng yêu cầu bức xúc của nhân dân. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo (đăng Công báo ngày 15-6-2007) và thay thế các quy định về chứng thực bản sao, chữ ký trong Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08-12-2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực.

 

Mới đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định 04/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ. Theo Nghị định mới, ngoài chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài thì phòng Tư pháp cấp huyện còn có thêm thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản song ngữ. Bên cạnh đó, phòng Tư pháp cấp huyện cũng có thẩm quyền chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản song ngữ. Các quy định mới trên có hiệu lực thi hành từ ngày 5/3/2012.

 

KẾT THÚC VẤN ĐỀ

 

Trên đây là phần tìmh hiểu của nhóm về lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động công chứng, chứng thực. Có thể thấy, ngay từ những ngày đầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, Đảng và Nhà nước đã chú trọng công tác hoàn thiện hơn nữa đội ngũ cán bộ làm công tác công chứng, chứng thực cũng như xây dựng hành lang pháp lý thông thoáng nhằm tạo điều kiện tối đa cho người dân thực hiện đủ và tốt hoạt động pháp lý thiết yếu này.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Hoạt động công chứng ở nước ta hiên nay, Lê Thị Thu Hiền, KLTN< HN, 2011, Nghd Thạc sỹ Lê Thị Thúy.

 

  1. Xã hội hóa hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay, KLTN, HN 2010, Hoàng Thị Thu Lan, Nghd: Thạc sỹ Lê Thị Thúy

BÀI TẬP HỌC KỲ CÔNG CHỨNG CHỨNG THỰC – TẦM QUAN TRỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Được đăng bởi Vy Dương vào lúc 23:33
Nhãn: Bài tập học kỳCông chứng chứng thực

  1. Lý luận chung về hoạt động công chứng, chứng thực.

 

Theo từ điển Tiếng Việt thì “công chứng là sự chứng thực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm xác nhận về mặt pháp lý của các văn bản và bản sao từ bản gốc”. Điều 2 Luật công chứng quy định: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Định nghĩa này đã chỉ rõ công chứng là hành vi của công chứng viên, phân biệt với chứng thực là hành vi của người đại diện của cơ quan hành chính công quyền. Công chứng viên là người xác nhận và kiểm chứng tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Văn bản công chứng là kết quả của hoạt động công chứng, bao gồm những loại văn bản được quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Công chứng là hợp đồng, giao dịch được công chứng viên công chứng theo quy định của pháp luật không bao gồm bản sao, bản dịch được công chứng viên xác nhận. Quy định về văn bản công chứng là một điểm mới so của Luật công chứng so với Nghị định 75/2000/NĐ- CP về công chứng, chứng thực.

 

Tiêp theo, về hoạt động chứng thực và văn bản chứng thực, theo quy định tại Khoản 5, 6 Điều 2 Nghị định 79/2007 NĐ-CP ngày 18 tháng 05 năm 2007, hoạt động chứng thực được định nghĩa như sau:

 

 “Chứng thực bản sao từ bản chính” là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính.

 

“Chứng thực chữ ký” là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị đinh này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực.

  1. Thực trạng hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay.

 

Trước đây Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước đã đồng nhất việc công chứng và chứng thực của các cơ quan khác nhau trong một tên gọi chung là công chứng; kể từ khi có Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ đã có sự phân biệt giữa hai loại việc này. Theo đó các cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực là phòng công chứng nhà nước, UBND cấp huyện, cấp xã và cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài. Thẩm quyền công chứng của Phòng công chứng Nhà nước theo quy định là rất rộng bao gồm hầu hết các loại việc công chứng, chứng thực nhưng cũng không hạn chế thẩm quyền chứng thực của UBND cấp huyện và cấp xã.

 

Hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay bao gồm: sự chứng nhận của phòng công chứng  và văn phòng công chứng về tính xác thực của hợp đồng giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế  thương mại và quan hệ xã hội khác; và sự xác nhận của UBND cấp huyện và cấp xã về việc sao y giấy tờ, hợp đồng giao dịch và chữ ký của cá nhân  trong các giấy tờ phục vụ cho các giao dịch của các chủ thể theo quy định của pháp luật. Chính phủ thống nhất quản lí. Bộ tư pháp là cơ quan  chiu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc quản lí thống nhất về công chứng, chứng thực trong phạm vi cả nước; ban hành và hướng dẫn sử dụng hệ thống công chứng, chứng thực mẫu hợp đồng giao dịnh , mẫu lời chứng ; đào tạo nghề công chứng…

 

Sở tư pháp  giúp UBND cấp tỉnh  thực hiện các nhiệm vụ quản lí hoạt động công chứng, chứng thực như  bồi dưỡng nghiệp vụ cho người thực hiện CT,hướng dẫn và kiểm tra , thanh tra hoạt động của Phòng công chứng, Văn phòng công chứng… UBND cấp huyện thực hiện nhiêm vụ quản lí chứng thực đối với phòng tư pháp  và UBND cấp xã như hướng dẫn  và kiểm tra, thanh tra hoạt động chứng thực…

 

Các văn phòng công chứng  theo Luật Công chứng 2006 (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2007) và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/05/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính chứng thực chữ ký có hiệu lực đã đạt được những kết quả khả quan, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp trong các giao dịch dân sự, nhưng một số quy định pháp luật chưa chặt chẽ, chưa phát huy được tác dụng. Sự ra đời của các văn phòng công chứng (VPCC) theo Luật Công chứng 2006 đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp trong các giao dịch dân sự. Tác phong phục vụ, lề lối làm việc cũng tốt hơn, bớt đi tình trạng cửa quyền, gây khó khăn của các phòng công chứng trước kia…

 

Tính đến nay cả nước đã có hàng ngàn tổ chức được cấp giấy phép hoạt động và có hàng nghìn công chứng viên hành nghề trong lĩnh vực này. Nhưng bên cạch những tích cực cũng còn rất nhiều bất cập, lỗ hổng trong hoạt động công chứng.

  1. Tầm quan trọng của hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay.

 

Trong cuộc sống đời thường cũng như trong dân sự, kinh tế, thương mại, khi có tranh chấp xảy ra, các đương sự thường có xu hướng tìm kiếm những chứng cứ để bênh vực cho những lý lẽ của mình hoặc bác bọ lập luận của đối phương. Để phòng ngừa và đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại mà đương sự tham gia, họ cần đến chứng cứ công chứng hay ta hiểu là văn bản công chứng là loại chứng cứ xác thực chứng cứ đáng tin cậy hơn hẳn các loại giấy tờ không có chứng nhận xác thực hoặc chỉ trình bày bằng miệng.

 

Thực tiễn thực hiện cho thấy tranh chấp trong xã hội ngày càng tăng, vụ việc càng phức tạp, trong đó có nguyên nhân là do không có xác thực. Do vậy, việc tuyên truyền, phổ biến, cập nhật pháp luật là cần thiết. Bên cạnh đó cũng cần tăng cường hơn nữa các biện pháp công cụ tổ chức thực hiện pháp luật. Công chứng là một hoạt động quan trọng không thể thiếu được trong hoạt động Nhà nước. Thông qua hoạt động công chứng và các quy định xung quanh nó, pháp luật trở nên gần với hiện thực hơn, dần trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã hội. Theo đánh giá của Sở Tư pháp, kết quả xã hội hóa hoạt động công chứng đã mang lại hiệu quả rõ rệt, nâng cao sự an toàn pháp lý cho các giao dịch, hợp đồng. Góp phần phòng ngừa các vi phạm pháp luật trong các quan hệ giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại…  Khi các giao dịch, hợp đồng được thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng có tính chuyên môn, chuyên nghiệp không chỉ là một thủ tục hành chính mà còn đảm bảo tính chính xác, đúng luật, hồ sơ văn bản công chứng được lưu giữ đầy đủ, lâu dài và có tính pháp lý, góp phần phòng ngừa rủi ro, tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia hợp đồng, giao dịch, giúp ổn định cho sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Bên cạnh đó thông qua hoạt động tiếp người yêu cầu công chứng, các tổ chức hành nghề công chứng đã tích cực tuyên truyền, tư vấn cho cá nhân, tổ chức những quy định của pháp luật, nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật cho người dân.

 

Từ đây ta có thể nhận thấy: Văn bản công chứng là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phòng ngừa tranh chấp, tạo ra sự ổn định trong quan hệ dân sự, tài sản. Mặt khác, văn bản công chứng còn tạo ra một chứng cứ xác thực, kịp thời không ai có thể chối cáo trừ trường hợp bị tòa tuyên bố vô hiệu.

 

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

Leave a Reply