kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Đề cương, nhận định và trắc nghiệm Đảng Cộng sản

SO SÁNH SỰ GIỐNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA CAO TRÀO CÁCH MẠNG 1930 – 1931 VÀ PHONG TRÀO DÂN CHỦ 1936 – 1939

Bài tập học kỳ Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam.

 

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi là một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở đầu kỉ nguyên mới độc lập tự do, kỉ nguyên nhân dân lao động lên nắm chính quyền, làm chủ đất nước và vận mệnh dân tộc, kỉ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội. Một trong những nguyên nhân chủ quan quan trọng đem lại thắng lợi của Cách mạng tháng tám là Đảng ta đã có quá trình chuẩn bị trong suốt 15 năm, đúc rút được những bài học kinh nghiệm qua những thành công cũng như thất bại của các phong trào cách mạng như cao trào 1930 – 1931 và phong trào dân chủ 1936 – 1939. Nhằm góp phần đem lại những cái nhìn mới về hai phong trào này qua lăng kính so sánh, em xin lựa chọn đề tài: “Sự giống và khác nhau giữa cao  trào cách mạng 1930 – 1931 và phong trào dân chủ 1936 – 1939

 

  1. Những điểm chung của cao trào cách mạng 1930 – 1931 và phong trào dân chủ 1936 – 1939.

 

  1. Đây đều là những cuộc diễn tập chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám năm 1945

 

Đó là những cuộc tập dượt để kiểm nghiệm về khả năng lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam với đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản ; về sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân, đặc biệt khối liên minh công nông khi được tập hợp, tổ chức dưới ngọn cờ của Đảng.

 

Qua các phong trào, đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng ta được tôi luyện, trưởng thành trong đấu tranh, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về xác định kẻ thù, tập hợp lực lượng cách mạng, hình thức phương pháp đấu tranh, quy luật giành giữ chính quyền.

 

Qua thực tiễn đấu tranh, nhân dân ta càng thấy được bộ mặt thâm độc, tàn bạo của kẻ thù đế quốc, phong kiến, đồng thời cũng xây dựng và củng cố được niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và tương lai, tiền đồ của cách mạng, để tiếp tục quyết tâm vững bước tiến lên vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội.

 

  1. Cả hai phong trào đều đều có sự trực tiếp chỉ đạo của Đảng và thu hút đông đảo quần chúng trong cả nước tham gia với nhiều hình thức đấu tranh phong phú

 

Phong trào cách mạng 1930-1931 và phong trào dân chủ 1936-1939 là những cuộc đấu tranh đầu tiên dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng.

 

Trong cao trào cách mạng 1930 – 1931 : từ tháng 2 đến 4/1930 được coi là khởi động cho cao trào cách mạng, mở đầu là cuộc bãi công của 3000 công nhân đồn điền cao su Phú Riềng đòi tăng lương giảm giờ làm, chống tư bản 2/1930, tiếp đó là bãi công của 4000 công nhân nhà máy diêm – cưa Bến Thủy, 4000 công nhân nhà máy dệt và sợi Nam Định.

 

Từ tháng 6 đến tháng 8/1930, cả nước có 121 cuộc đấu tranh. Trên khắp cả 3 kì từ nông thôn đến thành thị đều diễn ra các cuộc đấu tranh của quần chúng dưới nhiều hình thức : bãi công, mít tinh, biểu tình, tuần hành của quần chúng với truyền đơn biểu ngữ và có cờ Đảng dẫn đường. Tháng 9 và 10/1930, cả nước có 362 cuộc đấu tranh (Bắc Kì : 29, Nam Kì : 17, Trung Kì : 316). Từ tháng 9, phong trào đã dấy lên đỉnh cao ở Nghệ Tĩnh, thu hút hàng chục vạn người tham gia đấu tranh, tiến tới đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa vũ trang cướp chính quyền, thành lập chính quyền Xô Viết Nghệ Tĩnh.

 

Tại Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương 10/1930, bên cạnh việc thông qua Luận cương chính trị của đồng chí Trần Phú, bầu Ban chấp hành Trung ương Đảng chính thức, Hội nghị tập trung phân tích về tình hình cách mạng đang diễn ra. Sau Hội nghị, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã tập trung lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước, có những đường lối chỉ đạo cụ thể cho tình hình ở Nghệ Tĩnh trong việc xây dựng và gìn giữ chính quyền, chống lại sự khủng bố, đà áp của kẻ thù.

 

Trong phong trào dân chủ 1936 – 1939,  mở đầu giai đoạn này là phong trào “Đông Dương đại hội”. Hàng trăm ủy ban hành động đã được thành lập khắp các tỉnh thành từ Bắc vào Nam để phân phát truyền đơn, ra báo chí, tổ chức mít tinh, hội họp quần chúng, thảo luận các vấn đề về dân sinh, dân chủ, tập hợp ý kiến, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, thảo ra bản “dân nguyện” gửi tới phái đoàn của Quốc hội Pháp sang điều tra tình hình Đông Dương.

 

Trong giai đoạn 1936 – 1939, mỗi năm có hàng trăm cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân ở nhiều nơi trên khắp cả nước. Đặc biệt là cuộc đấu tranh ngày 1/5/1938, lần đầu tiên trong ngày Quốc tế lao động, nhiều cuộc mít tinh đã được tổ chức công khai ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn và nhiều nơi khác với hàng vạn quần chúng tham gia, nhân dân ta đã thể hiện sự hưởng ứng với phong trào đấu tranh của công nhân thế giới trong ngày Quốc tế lao động.

 

Công tác quần chúng được Đảng chú trọng. Đảng đã thành lập Công hội, Đoàn thanh niên phản đế, Hội cứu tế bình dân… ở nông thôn, lập Hội cấy, Hội cày, Hội hiếu hỉ… Những hình thức tổ chức linh hoạt, hoạt động công khai, nửa công khai, đã tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia.

 

Căn cứ vào tình hình thế giới nói chung, tình hình nước Pháp nói riêng và thực tiễn cách mạng trong nước, Đảng đã hoàn thiện đường lối đấu tranh và lãnh đạo cách mạng theo xu hướng dân chủ trong giai đoạn 1936 – 1939. Đảng phát động phong trào “Đông Dương đại hội”. Đảng tổ chức lãnh đạo hàng trăm cuộc bãi công trong giai đoạn này. Đảng tham gia đấu tranh công khai trên nghị trường, đưa các ứng viên của Đảng và vận động những người tiến bộ trong hàng ngũ trí thức ra ứng cử vào các cơ quan dân cử. Mục đích của Đảng nhằm mở rộng lực lượng của Mặt trận Dân chủ và vạch trần chính sách phản động của bọn thực dân và tay sai, bênh vực quyền lợi của nhân dân lao động. Đảng còn triệt để sử dụng báo chí công khai, lập ra nhiều tờ báo làm vũ khí đấu tranh cách mạng, giác ngộ nhân dân về con đường cách mạng của Đảng.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, có thể nói chưa bao giờ ở Việt Nam lại có một phong trào rộng lớn với sức mạnh to lớn của quần chúng như trong giai đoạn 1936 – 1939. Điều này đã khắc phục được nhược điểm của phong trào công nông 1930 – 1931 trước đây.

 

  1. Phong trào cách mạng 1930 – 1931 và phong trào dân chủ 1936 -1939 đều mang tính dân tộc

 

Phong trào cách mạng 1930 – 1931

 

Đối tượng cách mạng là kẻ thù mang tính chất chiến lược, lâu dài của cả dân tộc là đế quốc và phong kiến.

 

Mục tiêu đấu tranh là “Độc lập dân tộc” và “Người cày có ruộng”. Đó là những mục tiêu đáp ứng được nguyện vọng cơ bản và lâu dài của cả dân tộc.

 

Lực lượng cách mạng chủ yếu là liên minh công – nông. Đây là động lực chủ yếu của cách mạng giải phóng dân tộc.

 

Phong trào cách mạng 1930-1931 là cuộc tập dượt đầu tiên chuẩn bị cho cách mạng giải phóng dân tộc sau này.

 

Do đó, rõ ràng phong trào cách mạng 1930-1931 mang tính chất dân tộc.

 

Phong trào dân chủ 1936 – 1939

 

Đối tượng cách mạng chưa phải là thực dân Pháp và phong kiến nói chung, mà là bọn phản động thuộc địa không chịu những chính sách mà Mặt trận nhân dân Pháp ban hành. Nhưng đó chính là kẻ thù nguy hiểm nhất của dân tộc lúc bấy giờ.

 

Mục tiêu đấu tranh : Tạm gác khẩu hiệu “Độc lập dân tộc” và “Người cày có ruộng”, chỉ đòi các quyền tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Nhưng đó cũng là quyền lợi của cả dân tộc.

 

Về lực lượng : hết sức rộng rãi, bao gồm mọi lực lượng dân chủ, kể cả một bộ phận những người Pháp có xu hướng chống phát xít, nhưng lực lượng đông đảo nhất vẫn là lực lượng dân tộc.

 

Phong trào dân chủ 1936 – 1939 là một giai đoạn chuẩn bị cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc sau này.

 

Vì những lý do trên, phong trào 1936 – 1939 là một cuộc vận động dân chủ nhưng vẫn mang tính chất dân tộc.

 

  1. Sự khác biệt giữa cao trào cách mạng 1930 – 1931 và phong trào dân chủ 1936 – 1939

 

  1. Hoàn cảnh lịch sử

 

Với cao trào cách mạng 1930 – 1931

 

Những năm 1929 – 1933, cuộc khủng hoảng kinh tế đẩy thế giới tư bản lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng trên quy mô lớn, Pháp là nước tư bản lớn nên cũng không không tránh khỏi điều này. Pháp một mặt bóc lột nhân dân trong nước, mặt khác tăng cường bóc lột thuộc địa để bù đắp những thiệt hại do khủng hoảng kinh tế gây ra. Đông Dương là thuộc địa của Pháp nên phải hứng chịu những hậu quả hết sức nặng nề, đời sống nhân dân càng khốn khổ do chính sách bóc lột, vơ vét về kinh tế và khủng bố về chính trị của thực dân Pháp. Bọn địa chủ phong kiến lợi dụng vào bọn quan thầy tìm cách bóc lột vơ vét nhân dân, đặc biệt là nông dân làm cho mâu thuẫn càng lên cao.

 

Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái, thực dân Pháp tăng cường khủng bố, đàn áp nhằm dập tắt phong trào của quần chúng, càng làm cho tình hình chính trị thêm căng thẳng.

 

Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 và chính sách thống trị hà khắc của thực dân Pháp làm cho mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, với hai mâu thuẫn cơ bản là : mâu thuẫn dân tộc giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với đế quốc Pháp, mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân với địa chủ phong kiến.

 

Đúng lúc đó, ba tổ chức cộng sản lần lượt được ra đời ở ba miền (1929) sau đó hợp nhất thành một chính đảng thống nhất và duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam (đầu năm 1930). Đảng vừa mới ra đời đã kịp thời lãnh đạo nhân dân đứng lên chống đế quốc, phong kiến.

 

Những nhân tố trên đã thúc đẩy sự bùng nổ của phong trào cách mạng 1930 – 1931.

 

Với phong trào dân chủ 1936 – 1939 : Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933), một số nước như Đức, Italia, Nhật Bản đã phát xít hóa bộ máy chính quyền, ráo riết chạy đua vũ trang. Chủ nghĩa phát xít xuất hiện đe doạ đến nền hoà bình thế giới, chúng gây chiến tranh xâm lược, thủ tiêu quyền tự do, dân chủ, Chúng đã ra sức xóa bỏ mọi quyền tự do, dân chủ, câu kết chặt chẽ với nhau, âm mưu dùng sức mạnh quân sự để chia lại thế giới và tiêu diệt nhà nước xã hội chủ nghĩa Liên xô, làm cho hòa bình thế giới bị đe dọa nghiêm trọng. Thế giới bị đặt trước một cuộc chiến tranh cực kỳ tàn khốc.

 

Đại hội VII Quốc tế cộng sản họp tại Mát-xcơ-va (7/1935) xác định kẻ thù trực tiếp, trước mắt là chủ nghĩa phát xít và nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân là chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình. Đại hội cũng chủ trương thành lập mặt trận nhân dân chống phát xít rộng rãi.

 

Tháng 6/1936, Mặt trận Nhân dân Pháp giành thắng lợi trong cuộc bầu cử ở Pháp, đứng ra thành lập một chính phủ mới, ban hành một số chính sách tiến bộ, mở rộng quyền tự do, dân chủ ở các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam.

 

Hoàn cảnh trong nước

 

Tuy nhiên, ở Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng, bọn phản động thuộc địa không chịu thi hành chính sách tiến bộ của Mặt trận Nhân dân Pháp.

 

Trong khi đó, tàn dư của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 tiếp tục làm cho đời sống nhân dân Việt Nam cực khổ, kể cả tư sản dân tộc, địa chủ vừa và nhỏ. Vì vậy, yêu cầu dân sinh, dân chủ rất lớn.

 

Phong trào cách mạng Việt Nam sau một thời gian tạm lắng xuống giờ đây đã được phục hồi. Tháng 3/1935, Đảng đã họp Đại hội lần thứ nhất tại Ma Cao, Trung Quốc để phục hồi tổ chức của Đảng. Với chính sách tiến bộ của Mặt trận nhân dân Pháp, nhiều chiến sĩ cách mạng được trả lại tự do, quay trở lại hoạt động, làm cho cách mạng Việt Nam có thêm sức mạnh để bước vào thời kỳ đấu tranh mới.

 

Những hoàn cảnh trên là động lực thúc đẩy nhân dân ta đấu tranh đòi cải thiện dân sinh, dân chủ.

 

Tóm lại, do hoàn cảnh thế giới, hoàn cảnh trong nước của mỗi giai đoạn khác nhau, Đảng lại đề ra chủ trương, sách lược của giai đoạn 1930-1931 và giai đoạn 1936-1939 khác nhau. Cụ thể như sau :

 

  1. Kẻ thù của cách mạng

 

Giai đoạn 1930 – 1931, thực dân Pháp bóc lột nặng nề nhân dân ta để bù đắp cho những thiệt hại của khủng hoảng kinh tế, chúng ta xác định rõ kẻ thù là đế quốc Pháp nói chung, phong kiến và phản cách mạng.

 

Giai đoạn 1936 – 1939, chủ nghĩa phát xít xuất hiện là hiểm họa lớn cho toàn nhân loại, Đại hội VII của Quốc tế cộng sản cũng đã xác định đây là kẻ thù trực tiếp của cách mạng các nước lúc bấy giờ. Mặt trận nhân dân lên nắm chính quyền ở Pháp, đã thi hành một số chính sách tiến bộ với các nước thuộc địa. Tuy nhiên, ở Việt Nam, bọn phản động thuộc địa không chịu thi hành chính sách tiến bộ. Chúng ta xác định kẻ thù trong giai đoạn này là chủ nghĩa phát xít, bọn phản động thuộc địa không chịu thi hành chính sách tiến bộ và tay sai.

 

  1. Nhiệm vụ của cách mạng

 

Những năm 1930 – 1931, Cương lĩnh chính trị đầu tiên cũng như Luận cương chính trị 10/1930 đã xác định đường lối chiến lược cách mạng của Đảng là tiến hành cuộc “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ bọn đế quốc Pháp; bọn phong kiến và phản cách mạng, làm cho nước Việt Nam được độc lập; dựng lên chính phủ công nông binh; tổ chức ra quân đội công nông; tịch thu hết sản nghiệp lớn của bọn đế quốc; tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và bọn phản cách mạng đem chia cho dân cày nghèo; tiến hành cách mạng ruộng đất.

 

Những năm 1936 – 1939, đường lối chiến lược đó của Đảng vẫn được giữ vững nhưng chủ trương sách lược đã có những thay đổi theo những diễn biến mới của tình hình thế giới và trong nước. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 7/1936 tại Thượng Hải, Trung Quốc đã xác định nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống nguy cơ chiến tranh ; đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo và hòa bình.

 

  1. Hình thức, phương pháp đấu tranh

 

Giai đoạn 1930 – 1931, phong trào công nông phát triển tới đỉnh cao. Các cuộc đấu tranh, biểu tình đòi cải thiện quyền lợi của công nhân, nông dân diễn ra liên tiếp. Từ các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi về kinh tế, đã chuyển sang kết hợp khẩu hiệu đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị, hình thức đấu tranh quyết liệt hơn, tự vệ vũ trang, biểu tình thị uy, khởi nghĩa vũ trang để tiến công vào cách cơ quan chính quyền của địch ở nhiều địa phương, trên cơ sở đó, chính quyền Xô Viết được thiết lập. Như vậy, hình thức đấu tranh của giai đoạn này chủ yếu là bãi công, biểu tình, và xuất hiện biểu tình có vũ trang, phương pháp đấu tranh là bí mật, bất hợp pháp.

 

Giai đoạn 1936 – 1939, các hình thức đấu tranh phong phú, đa dạng hơn.

 

+ Biểu tình, mít tinh, bãi công đòi quyền lợi, hội họp bàn bạc các vấn đề dân sinh dân chủ, đấu tranh kinh tế, chính trị. Phong trào “Đông Dương đại hội”.

 

+ Chủ yếu là đấu tranh chính trị, không có đấu tranh vũ trang. Từ năm 1930 đến 1945, đây là giai đoạn duy nhất hoàn toàn đấu tranh bằng chính trị, không có đấu tranh vũ trang. Đó cũng là một nét độc đáo của phong trào dân chủ 1936 – 1939. Sở dĩ chúng ta có thể làm được điều đó vì đã có sự chỉ đạo chung của Quốc tế cộng sản.

 

+ Hình thức đấu tranh nghị trường là một lĩnh vực đấu tranh mới mẻ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đảng đưa các ứng viên của Đảng ra ứng cử vào các cơ quan dân cử để đấu tranh mở rộng quyền tự do dân chủ cho nhân dân, cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội.Trong các cuộc bầu cử vào nghị viện và các tổ chức khác, người của mặt trận dân chủ đều giành được thắng lợi lớn.

 

+ Đấu tranh trên lĩnh vực báo chí là được Đảng ta sử dụng triệt để như một vũ khí lợi hại. Các tờ báo tiến bộ bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp được xuất bản rộng rãi ở cả ba miền như báo Thời báo, Tân xã hội, Tiến lên, Lao động, Nhân dân, Tiền phong… Báo chí cách mạng trở thành mũi xung kích trong những phong trào lớn và hoạt động của cuộc vận động dân chủ, dân sinh thời kì 1936 – 1939 như Đông Dương đại hội, đón Gôđa và Brêviê, những cuộc bầu cử và đấu tranh nghị trường.

 

Trong giai đoạn này, phương pháp đấu tranh là kết hợp hình thức hợp pháp, nửa hợp pháp; công khai, nửa công khai.

 

  1. Tập hợp lực lượng cách mạng

 

Giai đoạn 1930 – 1931, lực lượng cách mạng chủ yếu là liên minh giai cấp công nhân – nông dân, trong đó giai cấp công nhân nắm vai trò lãnh đạo. Trong giai đoạn này, chúng ta đã đánh giá không đúng khả năng cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc và phong kiến ở mức độ nhất định của bộ phận tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo một bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc và tay sai. Đây là một sai lầm Đảng khi chưa thấy được khả năng cách mạng của các tầng lớp nhân dân khác để cô lập và phân hóa kẻ thù, không tập hợp được đông đảo lực lượng cách mạng. Cũng chính vì điều này nên trong những năm 1930 – 1931, chúng ta không có mặt trận để tập hợp rộng rãi lực lượng dưới ngọn cờ cách mạng.

 

Giai đoạn 1936- 1939, lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta đã thiết lập được Mặt trận dân tộc thống nhất. Đó là Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, sau đổi thành Mặt trận dân chủ Đông Dương (tháng 3/1938). Thông qua Mặt trận, Đảng ta đã tập hợp được rộng rãi các tầng lớp nhân dân, không phân biệt các khuynh hướng chính trị, đảng phái, dân tộc, đấu tranh vì quyền lợi của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngoài liên minh giai cấp công nhân – nông dân là lực lượng chủ yếu của cách mạng, Mặt trận Dân chủ Đông Dương còn có sự tham gia rộng rãi của tầng lớp trí thức, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung tiểu địa chủ có cảm tình với cách mạng, kể cả những người Pháp dân chủ ở Đông Dương. Lực lượng cách mạng đông đảo đã đem lại những hình thức đấu tranh mới, sự phát triển mạnh mẽ và những thắng lợi nhất định cho phong trào dân chủ 1936 – 1939.  Một đội quân chính trị hùng hậu đã được hình thành để chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám sau này.

 

  1. Địa bàn hoạt động

 

Phong trào cách mạng 1930 – 1931 chủ yếu diễn ra ở các vùng nông thôn, còn ở địa bàn thành thị mới chỉ diễn ở các nhà máy, xí nghiệp.

 

Phong trào dân chủ 1936 – 1939 diễn ra ở cả nông thôn và thành thị nhưng chủ yếu là ở các thành thị.

 

III. Kết luận

 

15 năm ra đời và phát triển của Đảng cho đến ngày Cách mạng tháng Tám thành công (1930-1945) là 15 năm với nhiều biến động, thăng trầm, với những cuộc tập dượt quan trọng như cao trào cách mạng 1930 – 1931 và phong trào dân chủ 1936 – 1939. Cao trào cách mạng 1930 – 1931 cũng như phong trào dân chủ 1936 – 1939 dù giống hay khác nhau đều có mối quan hệ khăng khít trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Sự khác nhau giữa hai phong trào chủ yếu là do hoàn cảnh thế giới và trong nước của hai giai đoạn 1930-1931 và 1936-1939 là khác nhau, đòi hỏi Đảng phải có sự điều chỉnh chủ trương sách lược cho phù hợp. Những sự đổi mới đó cho thấy rõ, Đảng đã thực sự trưởng thành và có đủ khả năng đối phó với mọi tình hình diễn biến phức tạp, đưa cách mạng tiến lên không ngừng.

MẶT TRẬN VIỆT MINH ĐÓNG NHỮNG VAI TRÒ NÀO TRONG CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945?

Ngay  từ khi mới ra đời, Mặt trận Việt Minh đã có những đóng góp to lớn trong việt tập hợp đông đảo quần chúng, tổ chức và giáo dục họ thành những lực lượng chính trị mạng mẽ ở các vùng thành thị và nông thông, phá tan âm mưu tuyên truyền, lừa bịp của bọn phát xít Nhật – Pháp, tạo lập được khối đoàn kết dân tộc mạng mẽ, cô lập và phân hóa kẻ thù. Mặt trận Việt Minh đã tập hợp mọi lực lượng yêu nước trong các tổ chức quần chúng lấy tên là hội cứu quốc: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc …, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. “liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”.

 

Cùng với thời gian thành lập đội Cứu quốc quân ở căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai và thực hiện chiến tranh du kích để chống lại sự càn quét của địch ở đây, ở Cao Bằng được coi là nơi thí điểm cuộc vận động xây dựng các hội cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh. Đến năm 1942, khắp 9 châu của Cao Bằng đều có hội cứu  quốc, trong đó có 3 châu “hoàn toàn”, nghĩa là mọi người đều tham gia tổ chức Việt Minh, xã nào cũng có Uỷ ban Việt Minh. Rồi Uỷ ban Việt Minh tại Cao Bằng và Uỷ ban Việt Minh lâm thời tỉnh Cao – Bắc – Lạng được thành lập, sang năm 1943, Uỷ ban Việt Minh tỉnh Cao – Bắc – Lạng lập ra 19 ban xung phong “Nam tiến” để liên lạc với căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai và phát triển lực lượng cách mạng xuống các tỉnh miền xuôi. Đến năm 1945, Tại Hà Nội, mỗi xí nghiệp đều có Hội công nhân cứu quốc, nhiều nơi có đội tự vệ. Biểu tình, diễn thuyết thường xuyên xảy ra trên đường phố, ở trường học, nhà máy, các cửa ô. Ở Huế, nhiều cơ sở Đảng được phát triển trong công nhân, những người buôn bán nhỏ, và học sinh. Tại Sài Gòn, số hội viên của Hội công nhân cứu quốc lên đến 120.000 người. Ngoài ra, Việt Minh còn tranh thủ được sự đồng thuận của Thanh niên tiền phong, một tổ chức thanh niên rộng lớn, công khai xuất hiện tại Nam Bộ sau ngày Nhật hất cẳng Pháp.

 

 

Mặt trận Việt Minh đã có đóng góp to lớn trong việc phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, trong việc chỉ đạo phong trào kháng Nhật cứu nước, tạo tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Sau biến cố Nhật hất cẳng Pháp (9/3/1945), Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh đã phát động cao trào chống Nhật cứu nước, chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Hịch của Mặt trận Việt Minh kêu gọi: “Vận mệnh dân tộc ta đang treo trên sợi tóc. Nhưng cơ hội ngàn năm có một đang lại !

 

… Giờ kháng Nhật cứu nước đã đánh. Kíp nhằm theo lá cờ đỏ sao vàng năm cánh của Việt Minh”.

Ở khu căn cứ địa Cao – Bắc – Lạng: Đội Việt Nam tuyên truyền giair phóng quân và đội Cứu quốc quân chặn đánh các toán quân Nhật trên đường hành quân của chúng, diệt các đồn lẻ. Đi đâu, đội cũng làm nhiệm vụ tuyên truyền, phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang đến đó. Nhiều nơi, quần chúng nhân dân đã thành lập được chính quyền cách mạng. Ở Quảng Ngãi (Trung Kỳ), anh em tù chính trị đã nổi dậy, chiếm lấy đồn giặc, lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến hành cuộc khởi nghĩa, tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng, thành lập đội du kích Ba Tơ và xây dựng căn cứ địa Cách mạng Ba Tơ. Ở Nam Kỳ, phong trào phát triển mạng tại Mỹ Tho và Hậu Giang.

 

Phong trào quần chúng phát triển nhanh ở nông thôn và thành thị. Khẩu hiệu “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” đã làm dấy lên cả một phong trào đánh chiếm kho thóc của Nhật để chia cho dân. Đến đầu tháng 8 năm 1945, cao trào kháng Nhật diễn ra ngày càng sục sôi; ở nhiều nơi, các đội danh dự Việt Minh đã trừ khử một số tên tay sai đắc lực cho địch. Không khí chuẩn bị khởi nghĩa đã trở nên hết sức khẩn trương. Quần chúng đã sẵn sàng, chỉ còn chờ thời cơ là đứng lên tổng khởi nghĩa.

 

Ngày 4 tháng 6 năm 45, khu giải phóng Việt Bắc ra đời, bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang và một số vùng lân cận thuộc các tỉnh trung du (Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên). Ủy ban lâm thời khu giải phóng đã thi hành 10 chính sách của Việt Minh như: Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập. Võ trang nhân dân. Phát triển Quân giải phóng Việt Nam. Tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung công làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo…”. Khu giải phóng trở thành căn cứ địa chính của cả nước.

 

Cách mạng tháng 8 năm 45 là kết quả trước hết của việc thực hiện chính sách đoàn kết toàn dân vì nhiệm vụ tối cao giải phóng dân tộc giành lấy chính quyền. Mặt trân việt minh đã đóng vai trò to lớn trong những năm tháng quyết liệt nhất của thời kỳ cách mạng giành chính quyền.

 

Triệu tập và tiến hành thành công Quốc dân Đại hội Tân trào ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945, huy động nhân dân tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giành được thắng lợi. Trước Quốc dân đại hội là Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) từ 13 đến 15 tháng 8 năm 1945 quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Quốc dân Đại hội đã hiệu triệu nhân dân toàn quốc “giành chính quyề, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ công hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập”. Đại hội đã nhất trí tán thành quyết định Tổng khởi nghĩa và bầu Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chiều 16/8/1945, một đội quân giải phóng do Võ Nguyên Giáp chỉ huy tiến về giải phóng thị xã Thái nguyên, mở đầu cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau 15 ngày, dươi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và sự chuẩn bị từ trước của Việt Minh, Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 đã thành công trong cả nước.

 

Bối cảnh ra đời của Mặt trận Việt minh.

 

  1. Tình hình quốc tế

 

Chiến tranh thế giới thứ 2 ở giai đoạn thứ nhất (1939 – 1941). Ngày 1 tháng 9 năm 1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan (mở đầu cho Chiến tranh thế giới lần 2). Đế quốc Anh, Pháp lao vào vòng chiến. Đảng cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ. Vào trận chưa được bao lâu, tháng 6 năm 1940, Đức tấn công Pháp. Chính phủ Pháp đầu hàng Đức; một chính phủ bù nhìn, ty sai của Đức được dựng lên. Ngày 22 tháng 6 năm 1941, Phát xít Đức tấn công Liên Xô, thế giới chia thành 2 trận tuyến: một bên là lực lượng dân chủ do Liên Xô đứng đầu và một bên là khối phát xít Đức, Italia, Nhật.

 

  1. Tình hình trong nước

 

Lợi dụng sự thất bại của đế quốc Pháp, phát xít Nhật yêu cầu chính quyền thực dân ở Đông Dương để cho chúng kiểm soát biên giới Việt – Trung và đưa quân vào Đông Dương. Tháng 9/1940, quân đội Nhật xâm lược Việt Nam, biến Việt Nam thành căn cứ quân sự để tiến công Nam Trung Quốc và làm bàn đạp mở rộng xâm lược khu vực Đông Nam Á. 23/9/1940, tại Hà Nội, Pháp kỹ hiệp định đầu hàng Nhật. Thực dân Pháp phải thừa nhận quyền ưu đãi của Nhật. Nhật bắt Pháp cung cấp nguyên liệu, lương thực, thực phẩm và tiền. Từ đây, nhân dân Việt Nam phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Từ thuộc địa của Pháp, Việt Nam trở thành thuộc địa của Nhật – Pháp. Công nhân và nông dân là những người phải gánh chịu trước nhất và nặng nề nhất hậu quả của những chính sách phát xít, những thủ đoạn bóc lột tàn bạo của Pháp, Nhất và bọn tay sai. Các tầng lớp và giai cấp khác đời sống cũng sa sút nhiều. Tất cả đều bùng lên tinh thần chống phát xít Nhật – Pháp ở mức độ khác nhau.

 

  1. Sự ra đời của Mặt trận Việt Nam cách mạng đồng minh

 

Trước tình hình thế giới và trong nước ngày càng khẩn trương, ngày 28 tháng 1 năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước triệu tập Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8. Hội nghị họp từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 tại Pác Bó (Cao Bằng), nêu rõ ở Việt Nam lúc này mâu thẫn đòi hỏi phải giải quyết cấp bách là mâu thẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp và phát xít Nhật. Từ đó, hội nghị chủ trương trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách thống trị Pháp – Nhật. “Nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

 

Vì vậy, hội nghị quyết định tiếp tục tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày”, thay bằng các khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng đất công, tiến tới thực hiện “dân cày có ruộng”.

 

Hội nghị chủ trương thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Việt Minh sẽ tổ chức tất cả những người yêu nước vào những hội cứu quốc như: Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc … Hội nghị còn quyết định gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang khi thời cơ đến, cùng toàn dân đã được tập hợp trong Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát động tổng khởi nghĩa, giành lấy chính quyền.

 

Mặt trận Việt Minh chính thức thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941 thay cho Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương đã được thành lập từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11/1939).

 

Lý do Đảng, Bác Hồ chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh.

 

Chỉ trong hơn một năm đầu của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, nhân dân Việt Nam đã có ba lần vùng dây khởi nghĩa vũ trang: tại Bắc Sơn ngày 27 tháng 9 năm 1940, tại Nam Kỳ là đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11 năm 1940 và Cuộc binh biến Đô Lương ngày 13 tháng 1 năm 1941 do binh lính đông Chợ Rạng dưới sự chỉ huy của Đội Cung (Nguyễn Văn Cung). Tình hình ấy chứng minh rằng nền thống trị của thực dân phản động Pháp và bước đầu xâm nhập của phát xít Nhật đã nung nấu thêm long căm thù bè lũ đế quốc và nguyện vọng giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Tình hình ấy cũng nói lên khả năng giải phóng dân tộc bằng khởi nghĩa vũ trang. Nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa và binh biến trên đều thất bại.

 

Trên đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc Đảng và Bác Hồ chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh. Đảng và Bác đã nhận ra lòng căm thù giặc của nhân dân cả nước đang càng lúc càng lên cao biểu hiện hàng loạt các cuộc khởi nghĩa đã nổ ra trên khắp cả nước. Nhưng những cuộc khởi nghĩa đõ lại chỉ diễn ra trên quy mô nhỏ: ở một địa phương như tại Bắc Sơn hoặc chỉ ở một thành phần như binh lính trong Binh biến Đô lương. Thực dân Pháp và phát xít Nhật đang ở giai đoạn suy yếu do Chiến tranh thê giới thứ hai. Nhưng để chiến thắng được chúng thì cần thiết phải có được sự đoàn kết của mọi tầng lớp dân tộc, phát huy mọi nguồn lực. Việc thành lập Mặt trận Việt Minh chính là để tập hợp mọi lực lượng yêu nước của dân tộc để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc, cứu nước, cứu nhà.

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA – BÀI TẬP HỌC KỲ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phát triển kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng để đi đên thành công.Xuất phát từ yêu cầu thực tế khách quan, năm 1986 tại đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp , chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là bước ngoặt lớn trong nền kinh tế, là những thành tựu lớn của đảng , nhà nước ta , nhân dân ta.Bước đầu đó đạt được những thắng lợi quyết định và quan trọng. Tuy nhiên ngoài những thành tựu đó thì chung ta còn gặp không ít những khó khăn thách thức.Đó là những vấn đề đòi hỏi chúng ta cần giải quyết nhằm đưa đất nước ta trở thành một đất nước phát triển xã hội công bằng văn minh .Chính như vậy , Đảng và Nhà nước ta đã quyết định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa .Để có thể hiểu thêm về quan điểm của Đảng về xây dựng kttt định hướng xhcn,em xin chọn đề bài:…

THÂN BÀI.

 

I.Hoàn cảnh ra đời quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường,định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Sau đại thắng Mùa xuân năm 1975,miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng,đất nước ta được thống nhất và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.Từ năm 1976 đến năm 1985,nước ta đã thực hiện 2 kế hoạch Nhà nc 5 năm và đã đạt được một số thành tưu đáng kể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội,song cũng gặp ko ít khó khăn.Nguyên nhân chủ yếu là do cơ chế quản lí kinh tế đất nước thời kỳ này bộc lộ rõ những yếu kém hạn chế.Nhà nước chủ yếu quản lí nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới.Các cơ quan hành chính lại can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất,kinh doanh của doanh nghiệp.Các doanh nghiệp ko có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh,cũng ko bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất.Quan hệ hàng hóa-tiền tệ bị coi nhẹ,nhà nc quản lí nền kinh tế thông qua chế độ cấp phát-giao nộp,vì vậy rất nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao động,phát minh sáng chế,tư liệu sản xuất quan trọng ko đc coi là hàng hóa về mặt pháp lí.Bộ máy quản lí cồng kềnh,nhiều cấp trung gian vừa kém năng động vừa sinh ra đội ngũ quản lí kém năng lực,phong cách cửa quyền,quan liêu phổ biến.

 

Trước đổi mới,do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường,chúng ta đã xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa,phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coi thị trường chỉ là công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch.Ko thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá dộ. Do vậy nền kinh tế nc ta đã lâm vào tình trạng trì trệ,khủng hoảng  trầm trọng.

 

Trên thế giới lúc bấy giở,những thay đổi trong quan hệ giữa các nước do tác động của cuộc cách mạng khoa học kì thuật đã trở thành một xu thế thế giới,cuộc khủng hoảng toàn diện ở Liên xô và các nc xã hội chủ nghĩa khác đã có ảnh hưởng ko nhỏ tới nc ta.Dưới áp lực của tình thế khách quan,nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội,chúng ta đã có những bc cải tiến nền kinh tế theo hướng thị trường,tuy nhiên còn chưa toàn diện và triệt để.Đề cập đến sự cần thiết đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,Đại hội VI khẳng định: “Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lí kinh tế.Cơ chế quản lí tập trung quan liêu,bao cấp từ nhiều năm nay ko tạo đc động lực phát triển,làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa,hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác,kìm hãm sản xuất,làm giảm năng suất,chất lượng hiệu quả,gây rối loạn trong phân phối lưu thông,và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội”.Chính vì vậy,việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết và cấp bách đối với nước ta trog giai đoạn hiện tại.

 

II.Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường,định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

1.Tư duy về kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội VIII.

 

So với thời kỳ trước đổi mới,nhận thức về kinh tế thị trường trog giai đoạn này có sự thay đổi căn bản và sâu sắc.

 

Một là,kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tưu phát triển chung của nhân loại.Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho thấy sản xuất và trao đổi hàng hóa là tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị trường.Kinh tế thị trường có mầm mống từ trong xã hội nô lệ,hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển cao trong xã hội tư bản chủ nghĩa.Kinh tế thị trường có lịch sử phát triển lâu dài,nhưng cho đến nay nó mởi biểu hiện rõ rệt nhất trong chủ nghĩa tư bản,đạt đến trình độ cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó.Điều đó khiến ko ít người nghĩ rằng kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản.Tuy nhiên,chủ nghĩa tư bản ko sinh ra kinh tế hàng hóa,do đó,kinh tế thị trường với tư cách là kinh tế hàng hóa ở trình độ cao ko phải là sản phâm riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tưu phát triển chung của nhân loại.

 

Hai là,kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Đại hội VII của Đảng (tháng 6/19991) trong khi khẳng định chủ trương tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế vừa cạnh tranh vừa hợp tác,bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất,đã đưa ra kết luận quan trọng rằng sản xuất hàng hóa ko đối lập với chủ nghĩa xã hội,nó tồn tại khách quan và cần thiết cho xây dựng chủ nghĩa xã hội.Đại hội cũng xác định cơ chế vận hành của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là  “cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước” bằng pháp luật,kế hoạch,chính sách và các công cụ khác.Tiếp tục đường lối trên,Đại hội VIII của Đảng (tháng 6/1996) đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ,tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Ba là,có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Ở bất kỳ xã hội nào,khi lấy kinh tế thị trường làm phương tiện có tính cơ sở để phân bổ các nguồn lực kinh tế,thì kinh tế thị trường cũng có những đặc điểm chủ yếu sau: các chủ thể kinh tế có tính độc lập,nghĩa là có quyền tự chủ trong sản xuất,kinh doanh,lỗ,lãi tự chịu; giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết,hệ thống thị trường phát triển đồng bộ và hoàn hảo; nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo quy luật vốn có của kinh tế thị trường như quy luật giá trị,quy luật cung cầu,quy luật cạnh tranh; có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Như vậy,với những đặc điểm trên,kinh tế thị trường có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội.

 

  1. Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX đến Đại hội X.

 

Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường,có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Vậy thế nào là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa? Đại hội IX xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “một kiểu tổ chức kính tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”.Trong nền kinh tế đó,các thế mạnh của “thị trường” được sử dụng để “phát triển lực lượng sản xuất,phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,nâng cao đời sống nhân dân”,còn tính “định hướng xã hội chủ nghĩa” được thể hiện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất: sở hữu,tổ chức quản lý và phân phối,nhằm mục đích cuối cùng là “dân giàu,nước mạnh, tiến lên hiện đại trogn một xã hội do nhân dân làm chủ,nhân ái,có văn hóa,có kỷ cương,xóa bỏ áp bức bất công,tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no,tự do,hạnh phúc”.

 

Kế thừa tư duy của Đại hội IX,Đại hội X đã làm sáng tỏ thêm nội udng cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta,thẻ hiện ở bốn tiêu chí:

 

Thứ nhất,về mục đích phát triển: Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm thực hiện “dân giàu,nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ,văn minh”, giaie phón mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời  sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng,giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn. Mục tiêu này thể hiện sự khác biệt với mục đích tất cả vì lợi nhuận phục vụ lợi ích của các nhà tư bản,bảo vệ và phát triển chủ nghĩa tư bản.

 

Thứ hai,về phương hướng phát triển: Phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu,nhiều thành phần kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng trong mọi thành phần kinh tế,trong mỗi cá nhân và mọi vùng miền,.., phát huy tối đa nội lực đề phát triển nhanh nền kinh tế.Trong nền kinh tế nhiều thành phần,kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo,là công cụ chủ yếu để Nhà nước điều tiết nền kinh tế,định hướng cho sự phát triển vì mục tiêu dân giàu,nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ, văn minh. Để giữ vai trò chủ đạo,kinh tế nhà nước phải nắm được các vị trí then chốt của nền kinh tế bằng trình độ khoa học,công nghệ tiên tiến, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao chứ không phải là dựa vào bao cấp,cơ chế xin-cho độc quyền kinh doanh.Mặt khác,tiến lên chủ nghĩa xã hội phải được dựa trên nền tảng của sở hữu toàn dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

 

Thứ ba,về định hướng xã hội và phân phối: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hôi ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng cường kinh tế gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển xã hội,văn hóa,giáo dục và đào tạo,giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.Hạn chế tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường.

 

Trong lĩnh vực phân phối,định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện qau chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động,hiệu quả kinh tế,phúc lợi xã hội. Đồng thời để huy động mọi nguồn lực kinh tế cho sự phát triển chúng ta còn thực hiện phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác.

 

Thứ tư, về quản lý: Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý,điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tiêu chí này thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy mặt tích cực,hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, bảo đảm quyền lợi chính đáng của mọi người.

 

Hoàn thiện nhận thức và chủ trương về nền kinh tế nhiều thành phần, Đại hội X khẳng định: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân,tập thể,tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân ( cá thể, tiểu chủ,tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hơp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo,là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế,tạo môi trường vè điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nên tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”.

 

3.Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

 

3.1: Mục tiêu hoàn thiện.

 

Thể chế kinh tế thị trường là một tổng thể bao gồm các bộ phận quy tắc,luật lệ và hệ thống các thực thể,tổ chức kinh tế được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao dịch,trao đổi trên thị trường. Thể chế kinh tế thị trường bao gồm: Các quy tắc về hành vi kinh tế diễn ra trên thị trường – các bên tham gia thị trường với tư cáh là các chủ thể thị trường ; cách thức thực hiện các quy tắc nhằm đtạ được mục tiều hay kết quả mà các bên tham gia thị trường mong muốn; các thị trường – nơi hnagf hóa được giao dịch,trao đổi trên cơ sở các yêu cầu,quy định của luật lệ (các thị trường quan trọng như hàng háo và dịch vụ,vốn,lao động,…).

 

Mục tiêu cơ bản đến năm 2020 của hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là làm cho các thể chế phù hợp với những nguyên tắc cơ bản cùa kinh tế thị trường,thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh, hiệu quả,bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế thành công, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa,xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Mục tiêu này yêu cầu phải hoàn thành cơ bản vào năm 2020.

 

Để hoàn thành được những mục tiêu lâu dài,trước mắt Đảng và Nhà nước ta phải đạt được những mục tiêu sau:

 

Một là,từng bước xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật,bảo đảm cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển thuận lợi.Phát huy vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước đi đôi với phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp.Hình thành một số tập đoàn kinh tế ,các tổng công ty đa dạng,áp dụng mô hình quản trị hiện đại,có năng lực cạnh tranh quốc tế.

 

Hai là, đổi cơ bản mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công.

 

Ba là,phát triển đồng bộ,đa dạng các loại thị trường cơ bản thống nhất trong cả nước,từng bước liên thông với thị trường khu vực và thế giới.

 

Bốn là, giải quyết tốt hơn các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa xã hội, bảo đảm tiến bộ,công bằng xã hội,bảo vệ môi trường.

 

Năm là, nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý của Nhà nước và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc,các đoàn thể chính trị xã hội và nhân dân trong quản lý,phát triển kinh tế xã hội.

 

3.2: Quan điểm về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

– Nhận thức đầy đủ,tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế thị trường,thông lệ quốc tế,phù hợp với điều kiện của Việt Nam,bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

– Bảo đảm tính đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế,giữa các yếu tố thị trường và các loại thị trường; giữa thể chế kinh tế với thể chế chính trị,xã hội; giữa Nhà nước,thị trường và xã hội. Gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường.

 

– Kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại và kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn đổi mới ở nước ta,chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia,giữ vững an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội.

 

– Chủ động, tích cực giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng, bức xúc, đồng thời phải có bước đi vững chắc,vừa làm vừa tổng kết rút kinh nghiệm.

 

– Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu qủa quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

3.3: Một số chủ trường tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

– Thống nhất nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần thiết sử dụng kinh tế thị trường làm phương tiện xây dựng chủ nghĩa xã hội; kinh tế thị trường làm cơ sở cho sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

– Hoàn thiện thể chế về sở hữu và các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất kinh doanh.

 

– Hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường như hoàn thiện về thể chế giá,cạnh tranh và kiểm soát đọc quyền trong kinh doanh; hoàn thiện hệ thồng pháp luật,cơ chế, chính sách cho hoạt động và phát triển của nền kinh tế,…

 

– Hoàn thiện thể chế gắn với tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển và bảo vệ môi trường.

 

– Hoàn thiện thể chế về vai trò lãnh đạo của Đảng,quản lý của Nhà nước và sự tham gia của các tổ chức quần chúng vào phát triển kinh tế xã hội.

 

III. Kết quả,ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân.

 

1.Kết quả và ý nghĩa.

 

Trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, kể từ Ðại hội VI (năm 1986), Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn, hết sức quan trọng. Về phát triển kinh tế,đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được hình thành, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định. Về phát triển các mặt xã hội,thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt,

 

Tóm lại, sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện. Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, các mặt: chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh được bảo đảm và ổn định. Trong đó có những thành tựu rất đáng khích lệ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội gắn bó chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế, phát triển nguồn lao động và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ. Thành tựu đó ngày càng khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của đổi mới, khích lệ, động viên nhân dân tiếp tục hưởng ứng, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước với những bước tiến cao hơn. Thành tựu này được các nước trong khu vực cũng như các đối tác có quan hệ với Việt Nam thừa nhận và xem đây là một thuận lợi trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

 

2.Hạn chế và nguyên nhân.

 

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vẫn còn một số điểm hạn chế. Quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xhcn còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế; hệ thống pháp luật, cơ chế,chính sách chưa đầy đủ,chưa đồng bộ và thống nhất; vấn đề sở hữu,quản lí và phân phối trong doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa được giải quyết tốt,gấy khó khăn cho sự phát triển và làm thất thoát tài sản của nhà nước; cơ cấu tổ chức,cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước còn nhiều bất cập,hiệu quả hiệu lực quản lý còn thấp; cải cách hành chính chậm,chưa đạt được mục tiêu đề ra; tệ tham nhũng quan liêu vẫn nghiêm trọng.; cơ chế chính sách phát triển các lĩnh vực văn hóa,xã hội đổi mới chậm,chất lượng dịch vụ y tế,giáo dục,đào tạo còn thấp, khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư và vùng miền ngày càng lớn; hệ thống an sinh xã hội còn sơ sài,…

 

Những yếu kém hạn chế trên xuất phát từ các nguyên nhân như nhận thức về kttt định hướng xhcn còn nhiều hạn chế do công tác lý luận chưa kịp đòi hỏi của thực tiễn; năng lực thể chế hóa và quản lý,tổ chức thực hiện của Nhà nước còn chậm, nhất là trogn việc giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc; vai trò thma gia hoạch định chính sách,thực hiện và giám sát của các cơ quan dân cử , Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội,nghề ngiệp còn yếu,..

 

Từ những thực trạng và nguyên nhân trên đòi hỏi Đảng ta

 

Trong điều kiện toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt, để đất nước có thể tăng tốc phát triển, rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực bắt buộc xây dựng thể chế kinh tế thị trường hiện đại. có sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và sự chung sức đồng lòng của nhân dân sự nghiệp này chắc chắn thành công.

 

– Hạn chế:

 

  • Quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.

 

  • Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đầy đủ chưa đồng bộ và thống nhất.

 

  • Vấn đề sở hữu, quản lý và phân phối trong doanh nghiệp nhà nước chưa giải quyết tốt, gây khó khăn cho sự phát triển và làm thất thoát tài sản nhà nước nhất là khi cổ phần hóa.

 

  • Thị trường tài chính, bất động sản, khoa học và công nghệ phát triển chậm, quản lý nhà nước đối với các loại thi trường còn nhiều bất cập.

 

  • Phân bổ nguồn lực quốc gia chưa hợp lý.

 

  • Cơ chế “xin – cho” chưa được xóa bỏ triệt để. Chính sách tiền lương còn mang tính bình quân.

 

  • Cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước còn nhiều bất cập, hiệu quả, hiệu lực quản lý còn thấp. Cải cách hành chính chậm, chưa đạt yêu cầu mục tiêu đề ra. Tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu vẫn nghiêm trọng.

 

  • Cơ chế, chính sách phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội đổi mới chậm, chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục, đào tạo còn thấp. Khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư và các vùng ngày càng lớn. Hệ thống an sinh xã hội còn sơ khai. Nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội và bảo vệ môi trường chưa được giải quyết tốt.

 

Kết quả và ý nghĩa:

 

– Một là, sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu – bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

– Hai là, chế độ sở hữu với nhiều hình thức và cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được hình thành.

 

– Ba là, các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới.

 

– Bốn là, việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều kết quả tích cực.

CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ĐẢNG – BÀI TẬP LỚN – ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Được đăng bởi Tú An vào lúc 21:07
Nhãn: Bài tập học kỳĐường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam

Hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội được quan niệm là hệ thống các tổ chức chính trị – xã hội mà nhờ đó nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình. Hệ thống chính trị này bao trùm và điều chỉnh mọi quan hệ chính trị giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội; giữa các dân tộc và giữa các tổ chức xã hội. Ở mỗi giai đoạn cách mạng, khái niệm hệ thống chính trị có những nội hàm đặc thù nên được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và 5 đoàn thể chính trị – xã hội (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam), và các mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống.

 

Đổi mới tư duy về hệ thống chính trị là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng ta – lực lượng lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam. Trong thời kì đổi mới thì nhiệm vụ trên lại càng trở nên cần thiết, đặc biệt là nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Là một sinh viên Luật, em nhận thấy mình có trách nhiệm phải tìm hiểu về chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng. Vì vậy em lựa chọn đề tài “ Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng” cho bài tập lớn bộ môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam.

 

NỘI DUNG

 

  1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ “ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN”

 

Khái niệm “Nhà nước pháp quyền”

 

Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền có từ rất sớm ở Hy Lạp. Theo định nghĩa cổ xưa nhất thì Nhà nước pháp quyền là một hệ thống thể chế nơi quyền lực công phục tùng pháp luật. Đến thế kỷ XVIII, các nhà dân chủ tư sản tiếp tục hoàn thiện, nâng lên thành học thuyết về nhà nước pháp quyền. So với nhà nước chuyên chế phong kiến đây là nhà nước tiến bộ, nhân đạo có giá trị của nền văn minh nhân loại. Trong lịch sử thế giới đã tồn tại nhiều hình thức nhà nước pháp quyền, dựa trên nguyên tắc chung, ở nhiều nước khác nhau, nhưng chúng không hoàn toàn giống nhau, xuất phát từ những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội nhất định.

 

Lí thuyết phân quyền của Montesquieu vốn là nền tảng cho phần lớn Nhà nước phương Tây hiện đại khẳng định sự phân chia 3 quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và những giới hạn của 3 thứ quyền lực này. Ví dụ trong mô hình dân chủ nghị viện, quyền lập pháp (Nghị viện) hạn chế quyền lực của phía hành pháp (Chính phủ). Như vậy chính phủ không thể tự do hành động theo sở thích của mình và phải luôn có được sự hậu thuẫn của Nghị viện, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của dân chúng. Cũng như thế, tư pháp cho phép tạo ra sự đối trọng đối với một số quyết định của chính phủ.

Nhà nước pháp quyền là hình thức Nhà nước cộng hòa trong đó Nhà nước xây dựng nên pháp luật để quản lý xã hội và tự đặt mình dưới pháp luật. Mọi cơ quan Nhà nước đều phải được tổ chức và chỉ được phép hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Công dân tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật. Quyền công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong Nhà nước pháp quyền, ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau. Vai trò của tòa án được đề cao. Điều kiện để có một Nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kịp thời. Điều này đòi hỏi công tác xây dựng pháp luật và pháp điển hóa không ngừng được thực hiện. Nhà nước pháp quyền khác với Nhà nước pháp trị ở chỗ Nhà nước pháp quyền là một nhà nước dân chủ. Dân chủ là nền tảng để hoàn chỉnh pháp luật. Pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền công dân. Nhà nước pháp quyền chính là sự kết hợp giữa Nhà nước và pháp quyền.

 

Vấn đề “ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam

 

Sự ra đời của khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam
Trên thực tế, không có sự giải thích rõ ràng về “Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa” bằng văn bản. Cho đến trước đổi mới, Đảng ta chưa dùng khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), mặc dù trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 đã thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng pháp luật và tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước.
Khái niệm này lần đầu tiên được nhắc đến bởi đồng chí Đỗ Mười tại Hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, ngày 29-11-1991.
Sau đó, bắt đầu từ Hội nghị gữa nhiệm kì khóa VII (1-1994), Đảng ta đã dùng khái niệm “Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa”.
Đồng thời, trong bài diễn văn tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên của QH khóa XII vào ngày 19/7/2007, đồng chí Nông Đức Mạnh đã lần đầu tiên chính thức công bố nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Như lời Luật sư Lê Công Định “học thuyết này là sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng thuyết tam quyền phân lập vào bối cảnh chính trị một đảng cầm quyền đặc biệt ở Việt Nam”.

 

 

Bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam

 

Điều 2 Hiến pháp nước ta hiện nay xác định “ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức” ( “Hiến pháp Việt Nam, năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.178).

 

Bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân được thể hiện bằng những đặc trưng sau:

 

Một là, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành đấu tranh cách mạng, trải qua bao hy sinh gian khổ, giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ( nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do nhân dân, mà nóng cốt là liên minh công – nông – trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo để thực hiện quyền lực của nhân dân. Đó chính là tính chất giai cấp của Nhà nước ta.

Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước với nhiều hình thức khác nhau. Hình thức cơ bản nhất là nhân dân thông qua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của mình. Điều 6 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân nhà những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Đồng thời, nhân dân có quyền giám sát, yêu cầu các đại biểu và cơ quan trả lời những vấn đề của nhân dân đặt ra trong việc thực thi chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm quyền lợi của nhân dân.

 

Hai là, Nhà nươc Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tính dân tộc của Nhà nước Việt Nam vừa là bản chất, vừa là truyền thống, vừa là nguồn gốc sức mạnh của Nhà nước ta. Ngày nay, tính dân tộc ấy lại được tăng cường và nâng cao nhờ khả năng kết hợp giữa tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tốc và tính thời đại. Điều 5 Hiến pháp năm 1992 khẳng định:

“ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tốc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các giai cấp, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phts huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình…”

Các dân tộc có quyền lựa chọn những đại biểu ưu tú của dân tốc mình tham gia vào cơ quan nhà nước các cấp.

 

Ba là, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.

 

Khi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, thì quan hệ giữa Nhà nước và công dân đã thay đổi, công dân có quyền tự do, dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã họi, đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ trước Nhà nước. Pháp luật bảo đảm thực hiện trách nhiệm hai chiều giữa Nhà nước và công dân: quyền của công dân là nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, nghĩa vụ của công dân là quyền của Nhà nước.

 

Bốn là, tính chất dân chủ rộng rãi của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

 

Dân chủ hóa đời sống xã hội và hoạt động của Nhà nước là đòi hỏi có tính nguyên tắc, nảy sinh từ

bản chất dân chủ của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Thực chất của dân chủ XHCN là thu hút những người lao động tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi vào quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội. Vì vậy, quá trình xây dựng Nhà nước phải là quá trình dân chủ hóa tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời, phải cụ thể hóa tư tưởng dân chủ thành các quyền của công dân, quyền dân sự, chính trị cũng như quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Phát huy được quyền dân chủ của nhân dân ngày càng rộng rãi là nguồn sức mạnh vô hạn của Nhà nước.

 

Những đặc điểm mang tính bản chất nêu trên của Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam được thể hiện cụ thể trong các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và được pháp luật chế định một cách chặt chẽ.

 

  1. CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ĐẢNG

 

Tính tất yếu phải xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

 

Phần này em sẽ tập trung phân tích tính tất yếu phải xây dựng nhà nước pháp quyền (hay nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa) ở Việt Nam. Nói cách khác, chính là phân tích lí do vì sao Đảng lại chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

 

Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan. Cụ thể như sau:

 

– Tính tất yếu lịch sử:

 

Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử

xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ với nhiều giai đoạn phát triển đặc thù. Ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục ở một tầng cao phát triển mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới.

 

– Tính tất yếu khách quan:

 

Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam xuất phát từ quá trình đổi mới toàn diện của đất nước, từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

Ngoài ra, tính tất yếu khách quan còn bắt nguồn từ xu thế pháp quyền trên thế giới (đã được phân tích ở phần 1.1 ). Điều đó đặt ra yêu cầu xây dựng được một nhà nước pháp quyền theo xu thế chung của thế giới nhưng vẫn phải phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị của Việt Nam.

 

Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.

 

 

Quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

 

Thuật ngữ “ Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” xuất hiện lần đầu ở văn kiện hội nghị Trung ương 2 khóa VII (1994), đánh dấu mốc quan trọng trong tư duy lí luận của Đảng.

 

Đại hội VIII (1996) tiếp tục đặt vấn đề xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam “ Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lí xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Các Hội nghị TW lần thứ 3, 7, 8 (khóa VIII) đã cụ thể hóa những quan điểm trên.

 

Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006) đặt vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, thừa nhận nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử, không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà là tính hoa, sản phẩm trí tuệ của nển văn minh nhân loại.

Tại Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: “ Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trọng việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ cháp hành Hiến pháp và pháp luật.”

 

Từ thực tiễn nhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta như sau:

 

Một là, đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhà nước.

 

Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa cac

cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

 

Ba là, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thường trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

 

Bốn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.

 

Năm là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

 

 

Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng

 

Đại hội X chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện cac quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”

Để thực hiện nhiệm vụ trên, trong những năm tới cần làm tốt các việc sau:

 

– Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

 

Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 3-6-2008, các văn bản quy phạm pháp luật trước khi được ban hành cần được thẩm định nghiêm túc và khách quan. Một trong những nội dung quan trọng phải được thẩm định quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật Ban hành văn bản pháp luật là “Tính khả thi của dự thảo văn bản, bao gồm sự phù hợp giữa quy định của dự thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm để thực hiện”. Quy định nêu trên là hợp lý và cần thiết để những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Sẽ là vô nghĩa và gây ra những tốn kém không cần thiết cả về thời gian và tiền bạc khi một văn bản quy phạm pháp luật được dự thảo, hội thảo, nghiên cứu, ban hành nhưng xa rời thực tế hoặc tạo ra những tác động ngược và các đối tượng thực thi không thể thi hành. Quy định của pháp luật và ý nghĩa của việc đảm bảo tính khả thi của văn bản là đã rõ và về mặt lý thuyết không có ai phản đối. Tiếc thay, hiện nay đã và đang xuất hiện khá nhiều văn bản không có tính khả thi hoặc tính khả thi rất thấp.

 

Trước hết phải kể đến một số nghị định của Chính phủ, bao gồm cả những văn bản đã được ban hành và những văn bản đang là dự thảo. Xuất hiện nhiều quy định xa rời thực tế hơn cả là Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 2-4-2010 của Chính phủ (NĐ 34) “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ”. Trong nghị định này, ít nhất cũng có ba điều xa thực tế, đó là: quy định xử phạt vi phạm Luật Giao thông đối với người đi bộ; quy định xử phạt những người hành nghề xe ôm không đeo biển hiệu và không có trang phục do cấp tỉnh quy định để phân biệt với những người tham gia giao thông khác; quy định xử phạt với những lái xe vận chuyển container không có bằng FC.

 

Từ ví dụ trên có thể thấy: Văn bản sẽ có tính khả thi cao khi các quy định của văn bản không chỉ có tính cưỡng chế với người dân mà người dân cũng phải thấy rằng sự cưỡng chế đó là hợp lý, “hợp lòng dân” và vì lợi ích chung mà pháp luật cần có để tạo ra các chuẩn mực chung áp dụng cho mọi người. Các quy định “hợp lòng dân” là các quy định mà đa số người dân thấy hợp lý, không phải là chỉ phục vụ cho một nhóm lợi ích nhất định.

 

Muốn có các quy định có tính khả thi cao, người soạn thảo cần có bước tiến hành đánh giá, nghiên cứu về thực tế cuộc sống và cần phải có ước tính các điều kiện để bảo đảm tính khả thi của từng quy định. Khi đặt ra các quy định liên quan đến quy trình, thủ tục giải quyết các công việc liên quan đến người dân, cơ quan soạn thảo cần chú ý tham khảo thêm ý kiến của họ. Bên cạnh các yêu cầu nêu trên, cơ quan ban hành văn bản còn phải xác định thế nào là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản? Đôi khi, cần phân tích trong từng quy phạm để có thể thấy được rõ ràng, chính xác ai là người được coi là đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của văn bản. Khi xây dựng văn bản và dự thảo từng quy định quan trọng của văn bản nếu người soạn thảo đánh giá được tác động kinh tế – xã hội cũng như dự kiến nguồn lực bảo đảm thi hành văn bản (khía cạnh tích cực, tiêu cực) thì văn bản khi được áp dụng, chắc chắn sẽ có tính khả thi cao. Việc dự kiến nguồn lực bảo đảm tổng thể các yếu tố về thi hành gồm các vấn đề về tài chính, con người, bộ máy. Ví dụ: đưa ra chính sách vay vốn tín dụng ưu đãi cho nông dân nghèo, cần phải tính đến phát sinh hệ thống cơ quan tín dụng, các nhân viên tín dụng, bộ máy địa phương, hoạt động của các trung tâm khuyến nông… và cả việc Nhà nước sẽ có chính sách ưu đãi và chi phí. Để có được những báo cáo hiệu quả, đòi hỏi có sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Việc tổng hợp các báo cáo, số liệu nghiên cứu từ các cơ quan có liên quan sẽ giúp ích rất nhiều cho người soạn thảo và cũng giúp ích cho cả các cơ quan có thẩm quyền xem xét về nội dung dự thảo văn bản (thẩm định, thẩm tra, thông qua văn bản). Đối với người soạn thảo, nghị quyết của hội đồng nhân dân hay một quyết định của ủy ban nhân dân, nếu như có sự nghiên cứu nghiêm túc và đưa ra một báo cáo đánh giá với đầy đủ những nội dung và phương pháp nêu trên, họ sẽ có nhiều khả năng trình trước cơ quan có thẩm quyền một dự thảo đầy tính thuyết phục và bởi vậy mà khả năng thông qua được sẽ cao hơn, chắc chắn hơn.

 

– Hai là,  đổi mới tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt đông của Quốc hội.

Để thực hiện việc đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, Đảng chỉ rõ công việc cần phải thực hiện bao gồm:

 

+ Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơ chế bầu cử để nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội.

 

+ Tổ chức lại một số ủy ban của Quốc hội; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội.

 

+ Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh.

 

+ Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết đinh các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao của Quốc hội.

 

Cụ thể vấn đề này, vào ngày 28/3/2011, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về Báo cáo tổng kết hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội khoá XII (2007 – 2011).

Nhiều đại biểu quan tâm tới vấn đề hiệu lực, hiệu quả và hạn chế của hoạt động giám sát, nhất là giám sát chuyên đề, chất vấn và trả lời chất vấn; sự phối hợp của các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan hữu quan trong hoạt động giám sát; việc xem xét, giải quyết các kiến nghị sau giám sát. Đại biểu Danh Út (Kiên Giang) cho rằng, để nâng cao chất lượng hoạt động, cần xác định rõ hơn vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ của các đoàn đại biểu Quốc hội. Đại biểu tán thành chủ trương tăng cường đại biểu Quốc hội chuyên trách.

 

Đại biểu Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) cũng cho rằng, địa vị pháp lý, mối quan hệ công tác giữa đoàn đại biểu Quốc hội với cấp ủy và chính quyền địa phương cũng chưa rõ, thiếu cụ thể nên chất lượng hoạt động giữa các đoàn còn chưa thực sự đồng đều.

 

Tổ chức, bộ máy và phương thức, chế độ làm việc của Quốc hội cũng là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm góp ý. Các đại biểu Danh Út, Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) đề nghị cần xem xét điều chỉnh theo hướng tăng cường các cơ quan trực thuộc Quốc hội, như thành lập Ủy ban Dân nguyện trực thuộc Quốc hội, nâng cấp Viện nghiên cứu lập pháp thành một cơ quan nghiên cứu khoa học trực thuộc Quốc hội để thêm kênh cung cấp nguồn thông tin chính thống cho đại biểu.

 

Đại biểu Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) cho rằng Quốc hội cần tăng cường tính chuyên nghiệp, tính liên tục và tính kế thừa. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả, cần phát huy vai trò của từng đại biểu, đoàn đại biểu, các ủy ban và toàn thể Quốc hội. Đại biểu Nguyễn Hữu Đồng (Nam Định) cũng đề nghị, để đảm bảo tính chủ động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cần tăng cường hơn nữa vai trò của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban.

 

Theo đại biểu Lê Thị Dung (An Giang), tính phản biện, đa chiều trong các báo cáo thẩm tra phải cao hơn, tránh tuyệt đối tình trạng nể nang; cải tiến hơn nữa trong chất vấn và trả lời chất vấn.

Đại biểu Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) nhận xét, chất lượng nhiều dự thảo chưa tốt, chuẩn bị chưa kỹ càng; chưa thấy sự tham gia của các nhà khoa học để tạo kênh thông tin cần thiết cho các đại biểu; theo dõi giải quyết kiến nghị của cử tri còn hạn chế.

 

Tuy vậy, đại biểu Nguyễn Ngọc Đào cho rằng, muốn nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động, mỗi đại biểu Quốc hội cần tự vấn, mình đã làm được gì, chưa làm được gì cho công việc chung? Muốn có luật tốt phải có sự chuẩn bị, đầu tư tốt, không nên đề cập đến vai trò của các nhà khoa học bởi đây là việc của chính các đại biểu Quốc hội. Đại biểu cho rằng nên quan tâm đến chất lượng luật hơn là số lượng.

 

Đại biểu Ngô Minh Hồng và đại biểu Trần Du Lịch (Thành phố Hồ Chí Minh), Phạm Thị Loan (Hà Nội) kiến nghị cần nêu vai trò chủ động của Quốc hội trong một số vấn đề như quyết định và giám sát chi tiêu ngân sách; xây dựng luật, pháp lệnh.

 

– Ba là, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ.

Theo đó, chúng ta cần phải:

 

+ Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại.

 

+ Luật hóa cơ cấu tổ chức của Chính phủ; tổ chức Bộ quản lí đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm hiệu lực, tinh gọn và hợp lý.

 

Trước Đại hội X, Chính phủ có 1 Thủ tướng, 3 Phó Thủ tướng, 20 bộ, 6 cơ quan ngang bộ và hơn 10 cơ quan trực thuộc Chính phủ (trên 40 thành phần). Nếu so với thời kỳ bao cấp thì bộ máy của Chính phủ được tinh gọn hơn (nhưng chỉ tinh gọn hơn một chút) và nếu so sánh với các quốc gia trên thế giới thì Chính phủ Việt Nam có lẽ được xếp vào một trong số ít quốc gia có bộ máy cồng kềnh và nhiều bộ nhất. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX xác định chủ trương xây dựng “Bộ đa năng”, “Bộ đa lĩnh vực”, “Bộ đa ngành” và giảm bớt các cơ quan trực thuộc Chính phủ, giao về cho bộ quản lý theo tính chất chuyên môn nhưng trên thực tế Chính phủ hiện nay (Chính phủ được thành lập sau Đại hội IX của Đảng) lại tăng thêm 4 bộ nâng tổng số bộ, cơ quan ngang bộ lên đến 26 chứ không giảm về cơ cấu như nghị quyết Đảng với phương hướng cải cách bộ máy nhà nước.

 

Đại hội X đã chủ trương: tinh gọn và cơ cấu lại bộ máy nhà nước. Tinh gọn bộ máy nhà nước thì trước hết phải tinh gọn bộ máy Chính phủ vì Chính phủ là đầu tàu, là bộ não chỉ huy nền hành chính quốc gia chứ không phải là trung tâm thực hành quản lý hành chính, không phải là cơ quan trực tiếp điều hành quản lý hành chính, cơ quan giải quyết sự vụ hành chính.

 

Cơ cấu lại bộ máy Chính phủ theo hướng giảm mạnh các đầu mối phù hợp với yêu cầu đổi mới chức

năng, nhiệm vụ. Cơ cấu lại các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước các cấp  theo hướng giảm mạnh cấp phó, bỏ cấp trung gian; chuyển các bộ phận phục vụ sang hình thức hợp đồng dịch vụ; phân cấp mạnh cho cấp dưới gắn với thực hiện có hiệu quả thanh tra, kiểm tra của cấp trên. Tăng cường quyền chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động, về tổ chức, nhân sự và tài chính của các đơn vị dịch vụ công cộng. Nghiên cứu để áp dụng cơ chế thủ trưởng cơ quan hành chính cấp trên bổ nhiệm chức danh người đứng đầu cơ quan chính quyền cấp dưới. Tách hoạt động hành chính với hoạt đông động sự nghiệp, các hoạt động công quyền với các hoạt động dịch vụ. Thực hiện đầy đủ nguyên tắc công khai dân chủ và phục vụ dân đối với các cơ quan và công chức nhà nước. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ công vụ trong các cơ quan nhà nước.

 

+ Nghiên cứu việc thành lập cơ quan tài phán hành chính để giải quyết các khiếu kiện hành chính.

 

+ Thực hiện phân cấp mạnh, hợp lí cho chính quyền địa phương, giao quyền chủ động hơn nữa cho các địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Trung ương.

 

– Bốn là, xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp.

 

+ Xây dựng hệ thống các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người.

 

+ Đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra.

 

+ Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.

 

– Năm là, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

 

+ Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp.

 

+ Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân.

 

+ Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo.

 

– Sáu là, đổi mới tổ chức, bộ máy hành chính và hoạt động của cơ quan hành chính, cán bộ, công chức.

 

+ Thực hiện các giải pháp nhằm chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức.

 

Ban hành và thực hiện Luật về công chức, chức vụ; xác định rõ cơ quan, công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho từng loại cán bộ, công chức và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức.

 

+ Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu nâng cao chất lượng cả về năng lực và phẩm chất đạo đức.

 

+ Có cơ chế đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những người không xứng đang, kém phẩm chấ và năng lực. Tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động của bộ máy nhà nwcs, hành vi của các công chức. Trừng trị nghiêm khắc theo pháp luậ những hành vi phạm pháp, phạm tội, bất cứ ở cương vị, chức vụ nào.

 

+ Thực hiện chế độ trách nhiệm trong đề cử, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo theo hướng cấp trưởng giới thiệu cấp phó, cấp sử dụng trực tiếp giới thiệu để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

 

+ Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham những, lãng phí. Đây là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng bộ máy lãnh đạo, quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta.

 

 

Nhận xết về kết quả thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng

Có thể tổng kết công tác thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta qua bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng chiều 29/3 bế mạc Kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa XII. Cụ thể:

 

Tích cực: Quốc hội đã có nhiều đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Chủ tịch nước với tư cách là một định chế trong tổ chức quyền lực nhà nước, đã có nhiều đóng góp tích cực vào hoạt động đối nội, đối ngoại, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều cố gắng trong tổ chức thực hiện, điều hành quản lý đất nước, quản lý xã hội một cách năng động, quyết liệt, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống. Các cơ quan tư pháp đã từng bước đổi mới theo lộ trình cải cách tư pháp và có nhiều tiến bộ trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, kiểm sát hoạt động tư pháp. Những kết quả đó đã đóng góp to lớn vào những thành tựu chung của đất nước.

 

Hạn chế: Trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước vẫn còn những yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của việc quyết định và điều hành tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra. Hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, một số văn bản còn thiếu thống nhất, tính khả thi chưa cao; chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng chưa tốt; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; cải cách tư pháp còn chậm.

 

KẾT LUẬN

 

Tóm lại, hơn 20 năm qua, hệ thống chính trị đã thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng, đặc biệt trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Các kết quả đạt được đã khẳng định đường lối đổi mới nói hệ thống chính trị chung, đường lối đổi mới hệ và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN nói riêng là sáng tạo, đúng đắn, phù hợp thực tiễn, bắt đầu đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, khắc phục dần những khuyết điểm, nhược diểm của hệ thống chuyên chính vô sản trước đây. Kết quả đổi mới hệ thống chính trị đã góp phần làm nên thành tực to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở nước ta.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.
  2. Tài liệu bồi dưỡng lí luận chính trị dành cho Đảng viên mới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,  2008.
  3. Hỏi – đáp Môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2010.
  4. “Hiến pháp Việt Nam, năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.178.
  5. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2001
  6. Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ X, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2011

BÀI TẬP NHÓM ĐƯỜNG LỐI – PHÂN TÍCH ĐỀ TÀI ĐẠI HỘI II CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Được đăng bởi Giang Nguyễn Linh vào lúc 22:58
Nhãn: Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam

MỞ ĐẦU

 

Trong quá trình 83 năm hoạt động, kể từ ngày thành lập (1930) đến nay, Ðảng ta đã trải qua 11 kỳ Ðại hội. Mỗi kỳ đại hội ấy đều có đặc sắc riêng và đại hội nào cũng đánh dấu một chặng đường đi lên, một bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam và của bản thân việc xây dựng Ðảng. Trong đó,Ðại hội II của Ðảng, họp cách đây tròn 62 năm (tháng 2/1951) là một Ðại hội có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng. Chính vì vậy, trong bài tập nhóm số 1 này chúng em xin đi sâu vào giới thiệu, phân tích đề tài “Đại hội II của Đảng cộng sản Việt Nam” Bài viết còn nhiều thiếu sót. Mong thầy cô và các bạn góp ý.

 

NỘI DUNG

 

  1. Hoàn cảnh lịch sử
  2. Hoàn cảnh thế giới

 

Từ năm 1950, phong trào cách mạng trên thế giới phát triển mạnh mẽ. Hệ thống xã hội chủ nghĩa đã được củng cố và mở rộng. Cùng với sự lớn mạnh vượt bậc của Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân châu Âu, châu Á bước vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội. Sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa làm thay đổi lực lượng so sánh trên trường quốc tế, có lợi cho hòa bình và cách mạng. Phong trào giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ đã làm rung chuyển hậu phương của chủ nghĩa đế quốc.

 

Về phía chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ. Cho tới lúc này, Mỹ đã căn bản hoàn thành việc chia lại thị trường thế giới tư bản dưới sự khống chế của Mỹ. Mỹ còn ra sức tiếp tay cho các đế quốc khác trong cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa, chuẩn bị điều kiện hất cẳng bọn thực dân cũ, thay bằng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đế quốc ngày càng sâu sắc. Trong quan hệ với Đông Dương, để cứu nguy cho Pháp đang sa lầy trong cuộc chiến tranh và thực hiện ý đó can thiệp sâu vào Đông Dương, Mỹ đã quyết định tăng cường viện trợ cho Pháp và quân đội bù nhìn.

Hai nước bạn Lào và Campuchia cũng giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược.

 

  1. Hoàn cảnh trong nước

 

Đất nước ta có những chuyển biến căn bản. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã đưa nhân dân ta từ người mất nước lên người làm chủ đất nước. Nhưng do dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta lại phải tiếp tục cầm súng đứng lên đánh giặc để bảo vệ nền tự do, độc lập. Qua hơn 5 năm chiến đấu, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã liên tiếp thu được nhiều thắng lợi, thực dân Pháp ngày càng sa lầy vào cuộc chiến khó tránh khỏi thất bại. Đặc biệt, sau chiến tranh Biên giới 1950, chúng ta đã phá được thể bao vây của quân thù. Quyền chủ động trên chiến trường hoàn toàn thuộc về ta.

 

Các nước xã hội chủ nghĩa đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốcđã có sự ủng hộ về tinh thần và giúp đỡ về vật chất cho nước ta. Uy tín của Đảng và Chính phủ ta được nâng cao trên trường quốc tế.

Do Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương nói chung và chiến tranh Việt Nam nói riêng nên cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta gặp nhiều khó khăn, thách thức mới. Điều kiện lịch sử mới đặt ra cho Đảng ta các yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ lên chủ nghĩa xã hội, có những chính sách đưa cuộc kháng chiến thắng lợi; đặc biệt là yêu cầu Đảng phải ra công khai lãnh đạo cách mạng với tư cách là một đảng cầm quyền.

Giữa lúc cuộc kháng chiến của ba nước Đông Dương phát triển, cục diện có lợi cho ta, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đã được tiến hành tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình) huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ ngày 11 đến 19/2/1951. Về dự đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 76 vạn đảng viên trong cả nước.

 

  1. Nội dung của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng

 

Thứ nhất, Đại hội đã thảo luận và thông qua Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày, báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam do Trường Chinh đọc, thông quan Tuyên ngôn, Chính cương và Điều lệ mới của Đảng.

 

Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của Đảng qua các chặng đường lịch sử đấu tranh oanh liệt kể từ ngày Đảng ta ra đời. Khẳng định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài vì độc lập thống nhất, dân chủ của Đảng là đúng đắn. Báo cáo đã vạch trần âm mưu can thiệp của Mĩ vào Đông Dương và nêu lên khẩu hiệu chính của quân và dân Việt Nam là “Tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mĩ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế giới”. Đồng thời chỉ ra nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế giới. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, Đảng phải đề ra những chính sách và biện pháp tích cực: tăng cường lực lượng vũ trang, củng cố các đoàn thể quần chúng, đẩy mạnh thi đua ái quốc, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, tăng cường đoàn kết quốc tế…

 

Luận cương cách mạng Việt Nam của đồng chí Trường Chinh đã trình bày trước Đại hội toàn bộ đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là tiêu diệt bọn đế quốc xâm lược, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, xoá bỏ hình thức bóc lột phong kiến, làm cho người cày có ruộng, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến khăng khít với nhau. Nhưng trọng tâm của cách mạng trong giai đoạn hiện tại là giải phóng dân tộc. Kẻ thù cụ thể trước mắt của cách mạng là chủ nghĩa đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai. Mũi nhọn của cách mạng chủ yếu chĩa vào bọn đế quốc xâm lược. Lực lượng cách mạng Việt Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản và giai cấp tư sản dân tộc. Động lực của cách mạng Việt Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và giai cấp tư sản, chủ yếu là công nhân và nông dân. Lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là giai cấp công nhân.

 

Luận cương cách mạng Việt Nam là một văn kiện lịch sử quan trọng, đã bổ sung, hoàn chỉnh và phát triển lý luận của Đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo. Đây là kim chi nam cho các chủ trương, chính sách cụ thể của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ và phương hướng phấn đấu cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đưa sự nghiệp kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn.

 

Thứ hai, Đại hội thống nhất thành lập Đảng Lao động Việt Nam. Do điều kiện của cuộc kháng chiến: Cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương: Việt Nam, Lào, Campuchia đã giành được những thắng lợi quan trọng. Lợi dụng tình thế khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, vừa giúp đỡ Pháp, vừa tìm cơ hội để hất cẳng Pháp. Vào lúc này, một đảng công khai ra lãnh đạo cho cuộc kháng chiến là hết sức cần thiết và đáp ứng được nhu cầu phát triển của cách mạng. Khi đã có một đảng lãnh đạo thì lẽ đương nhiên công cuộc cách mạng được tổ chức và thực hiện theo một đường lối, một chủ trương đúng đắn, điều đó cũng đồng nghĩa với công cuộc đi đến thành công của cách mạng Việt Nam sẽ dễ dàng hơn. Do đó, việc đảng Lao động Việt Nam ra hoạt động công khai tạo điều kiện kiện toàn tổ chức và tăng cường sự lãnh đạo đối với cuộc kháng chiến.

 

Thứ ba, thông qua chính cương của Đảng Lao động Việt Nam. Qua chính cương, xác định rõ  nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội. Ba nhiệm vụ đó khăng khít với nhau. Nhiệm vụ chính lúc này là hoàn thành giải phóng dân tộc. Cần phải tập trung lực lượng vào cuộc kháng chiến để quyết thắng quân xâm lược. Từ đó kết hợp chặt chẽ và đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc với nhiệm vụ chống phong kiến và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân.

 

Thứ tư, Đại hội đã thông qua Điều lệ mới của Đảng. Điều lệ xác định rõ mục đích, tôn chỉ của Đảng và nhấn mạnh Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động Việt Nam, điều đó có nghĩa là muốn đi đến cách mạng thành công thì phải có sự đồng sức đồng lòng của tất cả các đảng viên, toàn dân tộc.Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam và xây dựng Đảng theo nguyên tắc một đảng vô sản kiểu mới… Đây là một bước tiến mới trong công tác xây dựng Đảng.

 

Từ việc đảng ra công khai và xác định rõ mục tiêu và nhiệm vụ đã tác động mạnh mẽ đên tinh thần của toàn đảng ta và từ đó ý chí và quyết tâm của Đảng nhanh chóng trở thành ý chí và quyết tâm của toàn quân, toàn dân, tạo thành sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn để đánh thắng kẻ thù.

Cuối cùng là Bầu ban chấp hành trung ương. Gồm 19 uỷ viên chính thức và 10 uỷ viên dự khuyết, Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 7 uỷ viên chính thức, 1 uỷ viên dự khuyết và Ban Bí thư. Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, Trường Chinh được bầu lại làm Tổng Bí thư.

 

III. Ý nghĩa của Đại hội

 

Trong điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt: toàn dân tộc đang đặt ra yêu cầu cấp bách đòi hỏi Đảng phải có những đường lối, chính sách mới phù hợp để đưa cách mạng phát triển thì Đại hội II đã ra đời và đáp ứng được những mong muốn đó.

 

Thứ nhất, Đại hội Đại biểu lần II của Đảng là một sự kiện lịch sử trọng đại đánh dấu bước trưởng thành mới về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đại hội đã hoàn chỉnh và bổ sung đường lối cách mạng, quyết định những chính sách, biện pháp đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi. Đường lối do đại hội vạch ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của cuộc kháng chiến và yêu cầu lâu dài của cách mạng.

 

Thứ hai, việc tách ra thành một đảng riêng biệt hoạt động công khaivới tên gọi là Đảng Lao Động Việt Nam, có cương lĩnh và đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với tình hình thế giới có ý nghĩa quyết định đưa kháng chiến tiến lên giành những thắng lợi ngày càng lớn. Đồng thời, qua Đại hội, chúng ta thấy được sự sáng suốt, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc ba nước Đông Dương tách thành ba tổ chức cách mạng hoạt động độc lập đã tạo điều kiện để mỗi nước nhìn nhận được tương quan lực lượng của bản thân với kẻ thù từ đó đưa ra những con đường đấu tranh đúng hướng, phù hợp. Quan hệ giữa Đảng và quần chúng ngày càng mật thiết hơn, sự lãnh đạo của đảng đối với mọi mặt trận kháng chiến thuận lợi. Sức mạnh của Đảng được tăng cường về mọi mặt. Trong giai đoạn này, toàn dân tộc đã hòa thành một, tạo động lực cho cuộc cách mạng phát triển hơn.

 

Thứ ba, Đại hội đã có sự đổi mới hoàn toàn về tổ chức, điều đó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức cũng như lãnh đạo cuộc kháng chiến và đánh dấu mốc quan trọng trong chiến lược cách mạng của nước ta.

 

KẾT LUẬN

 

 

Qua hơn 60 năm đến nay, nhưng  Đại hội II của Đảng cộng sản Việt Nam vẫn luôn là một sự kiện chính trị to lớn. Qua đó, chúng ta càng thêm tin tưởng vào đường lối cách mạng đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ đã chọn, càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng của chúng ta.

ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM

  1. THỰC CHẤT CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

 

I.1. Quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH)

 

Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986, cùng với việc từng bước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, giải phóng các lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước đã xác định ngày càng rõ quan điểm mới về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

 

Quan điểm mới ấy là kết quả tổng kết thực tiễn, rút ra từ những bài học của mấy thập kỷ trước đây kết hợp với sự nghiên cứu, học hỏi kiến thức và kinh nghiệm của thế giới và thời đại

 

 

Cuối thế kỷ 20, Đảng và Nhà nước ta đã vạch ra công nghiệp hoá, hiện đại hoá không phải là hai quá trình tuy có phần lồng vào nhau nhưng về cơ bản vẫn tách biệt và nối tiếp nhau, mà là một quá trình thống nhất, có thể tóm tắt là công nghiệp hoá theo hướng hiện đại

 

 

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 Khoá VII của Đảng ta (1994) chỉ rõ: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.

 

Coi sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta trong thời kỳ đổi mới là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế- xã hội, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), khi thông qua đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Tại Đại hội này, Đảng ta cũng xác định rõ mục tiêu “phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. Cùng với những thành tựu phát triển quan trọng đạt được sau 10 năm đổi mới, sự xác định rõ ràng hơn về chủ trương đã tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta đẩy mạnh CNH, HĐH.

 

Kết thúc thế kỷ 20, bước vào thế kỷ 21, bối cảnh trong nước và quốc tế tiếp tục có những thay đổi mau chóng. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng nhận định: “Thế kỷ 21 sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất”. Trong bối cảnh ấy, nhận thức của Đảng ta về CNH, HĐH đất nước cũng có bước đổi mới quan trọng, cho rằng quá trình CNH, HĐH ở nước ta có thể được rút ngắn. Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2001-2010 được thông qua tại Đại hội IX xác định: “Con đường CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát triển những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”. Đảng ta đề ra mục tiêu “phấn đấu trong giai đoạn 2001-2010 đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Điều này hứa hẹn mở ra những bước đột phá trong nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội, góp phần thực hiện “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

 

I.2. Những đặc điểm chủ yếu của CNH, HĐH ở Việt nam

 

CNH, HĐH ở nước ta có nhiều nét đặc thù cả về nội dung, hình thức, quy mô, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược. Những nét đặc thù này được thể hiện khái quát ở một số điểm sau đây:

 

– Thứ nhất: Quá trình CNH, HĐH ở nước ta là một quá trình rộng lớn, phức tạp và toàn diện. Có nghĩa là nó diễn ra trong các tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước đi nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết hợp giữa biến đổi về lượng và biết đổi về chất,… của các tác nhân tham gia quá trình. Mục tiêu của quá trình CNH, HĐH mang tính bao trùm rất cao, theo đó đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nhưng mục tiêu sâu xa hơn là nước ta trở thành một nước “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

 

– Thứ hai: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học, công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, nước ta không thể chờ thực hiện xong CNH rồi mới tiến hành HĐH, mà phải thực hiện đồng thời và đồng bộ CNH và HĐH như một quá trình thống nhất. Về đại thể, riêng về mặt kinh tế, có thể nhìn nhận quá trình này từ hai mặt thống nhất với nhau: (i) thứ nhất, đó là quá trình xây dựng nền công nghiệp hiện đại, cũng có nghĩa là tạo lập nền tảng vật chất- kỹ thuật (lực lượng sản xuất) của nền kinh tế; và (ii) thứ hai, đó là quá trình cải cách hệ thống thể chế và cơ chế kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, hội nhập. CNH gắn với HĐH là cách làm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhanh chóng đưa nước ta tiến kịp các nước trong khu vực, hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới.

 

– Thứ ba: Quá trình CNH, HĐH ở nước ta cần và có thể được “rút ngắn”. Việc cần được “rút ngắn” ở đây là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển. Bên cạnh đó, bối cảnh mới trong nước cũng như trên thế giới cho phép nước ta có khả năng “rút ngắn” quá trình CNH, HĐH. Về cơ bản, cách để nước ta có thể thực hiện được CNH, HĐH rút ngắn bao gồm hai mặt: (i) thứ nhất, đạt và duy trì một tốc độ tăng trưởng cao hơn các nước đi trước liên tục trong một thời gian dài để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nước đó (thực chất là tăng tốc để đuổi kịp); và (ii) thứ hai, lựa chọn và áp dụng một phương thức CNH, HĐH cho phép bỏ qua một số bước đi vốn là bắt buộc theo kiểu phát triển tuần tự, để đạt tới một nền kinh tế có trình độ phát triển cao hơn (thực chất là lựa chọn con đường, bước đi và giải pháp CNH để đi nhanh tới hiện đại). Hai mặt này không đối lập mà có thể thống nhất với nhau, và đang tiếp tục được làm rõ để định hình sáng tỏ hơn con đường đẩy nhanh CNH, HĐH ở nước ta.

 

– Thứ tư: Ở nước ta, quá trình CNH, HĐH có quan hệ chặt chẽ với việc từng bước phát triển kinh tế tri thức. Trong thời gian qua, tại không ít diễn đàn khoa học và công trình nghiên cứu, mối quan hệ hai chiều giữa CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức đã từng bước được làm rõ. Về đại thể, có mạnh dạn đi ngay vào phát triển kinh tế tri thức mới có khả năng thay đổi phương thức và đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH. Hay nói cách khác, phát triển kinh tế tri thức tạo điều kiện cho việc thực hiện mô hình CNH, HĐH “rút ngắn” ở nước ta. Ngược lại, việc thực hiện các bước đi và mục tiêu của quá trình CNH, HĐH tạo ra kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để đi vào kinh tế tri thức. Quá trình CNH, HĐH ở nước ta phải nắm bắt các tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hóa nông nghiệp và các ngành kinh tế hiện có, đồng thời phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa vào tri thức, vào khoa học và công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế tri thức.

 

Từ những nét trên đây, có thể thấy nội dung cốt lõi về kinh tế của CNH, HĐH ở Việt Nam trong thời gian tới như sau:

 

(1) Đạt và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định và bền vững;

(2) Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ;

(3) Nắm bắt tri thức và công nghệ mới nhất để hiện đại hoá nông nghiệp và các ngành kinh tế hiện có;

(4) Phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ; và

(5) Không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

 

I.3. Những thuận lợi và khó khăn của quá trình CNH, HĐH Việt nam

 

Bối cảnh trong nước và quốc tế ngày nay hàm chứa nhiều thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn đối với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam. Những thuận lợi và khó khăn này tồn tại đan xen với nhau, có thể chuyển hóa cho nhau. Việc phân định một cách tương đối và nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hoạch định mục tiêu, nội dung và phương pháp tiến hành CNH, HĐH cũng như việc thực hiện các nhiệm vụ trong thực tế. Về đại thể, những thuận lợi và khó khăn được khái quát hóa ở một số điểm sau đây:

 

I.3.1. Thuận lợi

 

– Thứ nhất: Sau 20 năm đổi mới, thế và lực kinh tế của nước ta đã thay đổi mạnh mẽ, thể hiện ở những cái “mới” như:

 

+ Cấu trúc kinh tế mới: Cơ chế thị trường thay cho cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò và chức năng mới của Nhà nước, xã hội năng động hơn, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế- xã hội được kết nối chặt chẽ hơn.

 

+ Tiềm lực kinh tế mới: GDP tăng trưởng với tốc độ khá cao liên tục trong nhiều năm, với cơ cấu ngành biến đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.

 

+ Thế phát triển mới: Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng cấm vận kinh tế, quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế mở rộng, đã gia nhập ASEAN, ASEM, APEC, ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ và đang nỗ lực gia nhập WTO, v.v.

 

+ Động lực mới: Xuất hiện những động lực phát triển mới mạnh mẽ: cạnh tranh thị trường, sự mở rộng các cơ hội, sức mạnh của tinh thần dân tộc trong cuộc đua tranh phát triển.

 

+ Lực lượng- chủ thể phát triển mới: Năng lực của các chủ thể phát triển (Nhà nước, nhân dân, doanh gia, đội ngũ trí thức và quản trị) được nâng cao. Các yếu tố bên ngoài (vốn, công nghệ- kỹ thuật, tri thức, thị trường…trở thành lực lượng thúc đẩy phát triển quan trọng.

 

– Thứ hai: Bối cảnh quốc tế với những xu hướng ưu trội bao gồm (i) toàn cầu hoá kinh tế, (ii) phát triển kinh tế tri thức, và (iii) hoà bình, ổn định và hợp tác cùng phát triển giữa các quốc gia đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã và đang theo đuổi thực hiện chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường. Việc tham gia vào các quá trình liên doanh, liên kết, hợp tác song phương và đa phương, hợp tác khu vực và quốc tế của nước ta góp phần phát huy hữu hiệu lợi thế so sánh của đất nước, thu hút được những nguồn lực dồi dào về vốn, công nghệ, tri thức, kỹ năng,… của thế giới cho công cuộc CNH, HĐH. Bên cạnh đó, việc tham gia vào toàn cầu hóa kinh tế cũng tạo động lực cho việc đẩy mạnh những cải cách trong nước theo hướng hiện đại, phù hợp với khung khổ chung của quốc tế.

 

– Thứ ba: Là một nước tiến hành CNH muộn, Việt Nam có thể tận dụng được những lợi thế của “nước đi sau”. Bên cạnh việc thu hút những nguồn lực vật chất và trí tuệ quan trọng như nêu trên, các nước đi sau như Việt Nam còn có thể học hỏi kinh nghiệm phong phú về CNH, HĐH của các nước đi trước. Với những kinh nghiệm đổi mới của chính bản thân mình, Việt Nam có điều kiện để học hỏi và sáng tạo liên quan đến nhiều khía cạnh của CNH, HĐH. Một lợi thế nữa của nước đi sau là nền kinh tế nước ta dễ chuyển đổi cơ cấu, vì không lệ thuộc nhiều vào những cơ sở vật chất đã có (các phí tổn không phải là quá lớn khi thay đổi những cái cũ cần thay đổi). Điều này tạo dễ dàng cho chúng ta bắt tay vào phát triển kinh tế theo các định hướng cơ cấu đã chọn lựa, bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế

 

– Thứ tư: Nước ta có vị trí địa kinh tế thuận lợi, nằm ở trung tâm vùng kinh tế năng động Đông Nam Á, thuận lợi cho việc giao lưu và hội nhập quốc tế. Nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú để phát triển một số ngành công nghiệp quan trọng. Đặc biệt, nước ta có lực lượng lao động dồi dào, cơ cấu trẻ và giá nhân công thấp, năng lực trí tuệ con người Việt Nam không thua kém các nước, tiếp thu nhanh các tri thức mới, dễ đào tạo, có khả năng sáng tạo. Bên cạnh đó, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là nền tảng cho sự phát triển các khả năng sáng tạo. Những yếu tố trên tạo nên lợi thế quan trọng trong cạnh tranh quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để phát triển những ngành, những lĩnh vực hiện đại, có thể theo hướng rút ngắn.

 

I.3.2. Khó khăn

 

– Thứ nhất: Tăng trưởng kinh tế chưa được đặt trên cơ sở đủ vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, lạc hậu và còn nghiêng về hướng nội, v.v. là những đặc tính của nền kinh tế nước ta sau 20 năm đổi mới. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta chỉ mới đang hình thành, chưa đồng bộ và chưa vận hành tốt, môi trường kinh doanh chưa bình đẳng và chưa có tính khuyến khích cao, v.v. Nói một cách ngắn gọn, nền kinh tế nước ta còn đang phát triển (lạc hậu, nghèo) và đang chuyển đổi (thể chế mới chưa hoàn thiện trong khi thể chế cũ chưa hoàn toàn bị loại bỏ). Thực tế này là khó tránh khỏi đối với một quốc gia đang phát triển, có tính tạm thời và được khắc phục dần trong quá trình đổi mới, tuy nhiên nó đang là một trở ngại lớn đối với quá trình CNH, HĐH ở nước ta trong môi trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay. Trong đó, thách thức đặt ra là nguy cơ bị tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

 

– Thứ hai: Tuy bối cảnh quốc tế thể hiện rõ ba xu thế ưu trội như nêu trên đây, song tình hình thế giới luôn luôn có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp và chứa đựng những yếu tố khó lường. Việc tham gia ngày càng sâu rộng vào quá trình toàn cầu hoá đặt nền kinh tế đất nước trước những khó khăn do cạnh tranh gay gắt, sự dễ bị tổn thương trước các cú sốc từ bên ngoài, và những ảnh hưởng “mặt trái” khác của kiểu toàn cầu hóa hiện nay. Nếu chúng ta không có chính sách, biện pháp để hạn chế và vượt qua những khó khăn trên, thì chúng có thể có những tác động mang tính “phá huỷ” ghê gớm, kéo lùi tiến trình phát triển của đất nước nhiều năm.

 

– Thứ ba: Là nước tiến hành CNH muộn, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam gặp phải những khó khăn của “nước đi sau”. Khó khăn rõ nét là chúng ta thường phải ở thế bất lợi trong cạnh tranh quốc tế, do năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp, hàm lượng vốn và trí tuệ trong sản phẩm không cao, lại thường bị động trong việc tuân thủ các luật lệ kinh tế quốc tế… Bên cạnh đó, trong quá trình CNH, HĐH, nước ta phải đối mặt với các vấn đề về tài nguyên- môi trường, dân số và công ăn việc làm ngày càng gay gắt. Mức độ suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với sự xuống cấp của môi trường sống là hệ quả của CNH, HĐH trên quy mô toàn cầu, nhưng người gánh chịu lại chủ yếu là các nước chậm phát triển, trong đó có nước ta, đó là một khó khăn không thể lường hết được. Bởi vì nó làm cho chi phí của công cuộc CNH, HĐH tăng lên đáng kể đồng thời làm giảm tính bền vững của quá trình này. Trong khi đó, sự gia tăng của dân số, của lực lượng lao động nhanh hơn tốc độ tăng việc làm gây ra áp lực lớn giải quyết công ăn việc làm

. Ở nước ta, đây là một bài toán chưa có lời giải hữu hiệu.

 

  1. TIẾN TRÌNH CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020

 

Trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2001-2010, Đảng ta đã xác định mục tiêu tổng quát là “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chưa xác định được cụ thể các tiêu chí quan trọng khi nước ta trở thành một nước công nghiệp để làm đích hướng tới. Nếu theo tiêu chí của các nước đã hoàn thành CNH, HĐH thì nước ta khó có thể đạt tới vào năm 2020. Bên cạnh đó, các bước đi của cả quá trình CNH, HĐH cũng chưa được làm rõ. Khi chúng ta chủ trương thực hiện CNH, HĐH “rút ngắn”, thì việc nghiên cứu và hoạch định các chặng đường CNH, HĐH từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo là đặc biệt cần thiết và có ý nghĩa then chốt. Phần này phác họa một cách đại thể những mục tiêu, nhiệm vụ CNH, HĐH chủ yếu của các chặng đường từ nay đến năm 2010 và từ năm 2010 đến 2020.

 

II.1. Chặng đường đến năm 2010

 

Tính đến nay, chúng ta đã thực hiện được gần một nửa chặng đường của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2001-2010. Tuy chưa có tổng kết cụ thể, nhưng nhìn chung chúng ta có khả năng hoàn thành những mục tiêu kinh tế và xã hội được đề ra tại Phương hướng kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2001-2005. Những kết quả đạt được cho đến nay tạo điều kiện và tiền đề quan trọng cho chặng đường CNH, HĐH đến năm 2010. Trong 5 năm tới, nước ta tập trung tạo chuyển biến cơ bản về năng lực nội sinh về khoa học-công nghệ và công nghiệp của đất nước, tiếp tục nâng cao vị thế trong hội nhập và chủ trương mở rộng hội nhập quốc tế, định hình về cơ bản nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp. Cụ thể hơn, những mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu là:

 

– Thứ nhất: Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, nâng cao tích lũy trong nước. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo đó cơ cấu ngành và lĩnh vực tạo được hiệu quả cao và bền vững, cơ cấu kinh tế theo vùng tạo được sự hài hòa giữa vùng động lực phát triển và các vùng khác, các vùng khó khăn có thể tự lực phát triển và cơ bản hết đói nghèo. Trong nền kinh tế, hình thành một số ngành, lĩnh vực chủ lực, mũi nhọn; khoa học và công nghệ có cơ sở tốt để chủ động tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ bên ngoài và tự tạo được đáng kể công nghệ tiên tiến của nước ta; giáo dục và đào tạo phát triển hình thành đội ngũ lao động và quản lý có trình độ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế ở mức cao hơn.

 

– Thứ hai: Định hình về cơ bản nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với cơ cấu, thể chế đồng bộ, hoàn chỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực ở một vị thế tốt hơn, cân bằng lợi ích và mở rộng hội nhập ngoài khu vực. Hoàn chỉnh đồng bộ các kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội để đáp ứng yêu cầu phát triển của chặng đường tiếp theo.

 

– Thứ ba: Tạo sự chuyển biến rõ rệt về đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân: no đủ, lành mạnh, yên vui, có nhiều yếu tố văn minh, hiện đại; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức trung bình cao trong so sánh quốc tế. Giải quyết tốt hơn, toàn diện hơn các vấn đề xã hội; cơ bản xóa nghèo, tạo nhiều việc làm, tạo điều kiện để đi tới thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng và khoảng cách về mức sống giữa các tầng lớp dân cư.

 

Tựu trung lại, kết thúc chặng đường này, quá trình CNH, HĐH đất nước đã định hình nên cơ sở vật chất, kỹ thuật, kinh tế, để nước ta đi nhanh hơn, mạnh hơn, vững chắc hơn trong chặng đường tiếp theo (2010-2020).

 

II.2. Chặng đường từ năm 2010 đến 2020

 

Trong chặng đường này, nước ta đã hội đủ nhiều điều kiện mang tính tiền đề về kết cấu hạ tầng, khung thể chế, nguồn nhân lực, năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và khả năng hội nhập quốc tế để tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2020. Cụ thể, những mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu là:

 

– Thứ nhất: Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Đẩy mạnh chuyển dịch và nâng cấp cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH có hiệu quả và bền vững. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm; ở nông thôn có nền nông nghiệp và kết cấu hạ tầng cơ bản hiện đại, phát triển đa dạng các ngành công nghiệp và dịch vụ, thực hiện sự chuyển biến căn bản bộ mặt nông thôn Việt Nam phù hợp với một xã hội công nghiệp. Công nghiệp có đủ khả năng hợp tác và cạnh tranh ngang bằng với các nước trong khu vực, có chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế. Khu vực dịch vụ phát triển đa dạng, trong đó dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông phát triển hiện đại, tiếp cận trình độ quốc tế.

 

– Thứ hai: Hình thành hoàn chỉnh thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tương hợp với trình độ quốc tế. Mở rộng hội nhập quốc tế ở mức độ sâu hơn trong các lĩnh vực đầu tư, tài chính, tiền tệ, lao động, công nghệ, thông tin. Tham gia có hiệu quả vào WTO và các tổ chức quốc tế khác, về kinh tế có vị thế của một nước có trình độ phát triển trung bình trên thế giới.

 

– Thứ ba: Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo kịp trình độ quốc tế. Hình thành đội ngũ các nhà quản lý nhà nước tinh thông nghiệp vụ, trung thành, trung thực và tận tụy với công việc; đội ngũ doanh nhân giỏi, năng động, nhạy bén và sáng tạo; đội ngũ trí thức có trình độ cao, tâm huyết; và đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề theo kịp yêu cầu phát triển đất nước đi dần tới hiện đại hóa và nền kinh tế tri thức. Chỉ số HDI đạt mức trên trung bình trên thế giới.

 

– Thứ tư: Tạo dựng và phát huy năng lực công nghệ nội sinh, kể cả các lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, chế tạo máy, tự động hóa, hóa dầu, năng lượng,… và sự kết hợp các công nghệ đó; có chỗ đứng vững chắc trên thị trường công nghệ, đạt trình độ tiên tiến về công nghệ trong khu vực. Tăng cường ứng dụng và nâng cao hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào phát triển kinh tế- xã hội, tạo điều kiện cho sự “rút ngắn” trong một số ngành, lĩnh vực, tiến thẳng đến trình độ hiện đại.

 

– Thứ năm: Hình thành lối sống và đạo đức trong xã hội lành mạnh, văn minh, hiện đại, gắn kết cá nhân với cộng đồng và dân tộc; nền dân chủ được mở rộng, mọi người dân có điều kiện tiếp cận và hưởng thụ công bằng các thành quả phát triển; Quản lý xã hội có hiệu quả; các tệ nạn xã hội không còn là điều suy tư, lo lắng của gia đình và xã hội; môi trường tự nhiên và sinh thái được giữ gìn, hài hòa với cuộc sống con người. An ninh chính trị, xã hội luôn luôn được củng cố vững chắc.

 

Đối với các tiêu chí cụ thể đánh giá nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, trên cơ sở tham khảo các chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội được coi là đã hoàn thành CNH, có thể sơ bộ nêu ra một số tiêu chí chủ yếu sau đây:

 

– Về cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP đạt 90% trở lên, trong đó tỷ trọng công nghiệp đạt khoảng 40-45% GDP, tỷ trọng nông nghiệp còn khoảng 10% trở xuống; tổng đầu tư xã hội/GDP đạt trên dưới 40%; kết cấu hạ tầng đáp ứng đầy đủ cho phát triển kinh tế và đời sống xã hội.

 

– Về hội nhập kinh tế quốc tế: Đạt trình độ cao (độ mở cửa nền kinh tế đạt trên 90%; tốc độ tăng xuất khẩu gấp 2-3 lần tốc độ tăng GDP; hội nhập với thị trường thế giới về nhiều lĩnh vực; hội nhập với thông lệ quốc tế về các thể chế,…).

 

– Về trình độ hiện đại hóa: Năng suất lao động xã hội đạt khoảng 10.000 USD/lao động/năm; áp dụng công nghệ hiện đại khoảng 60% trở lên; tỷ trọng lao động phi nông nghiệp đạt 70-75% trở lên; tỷ trọng lao động có trình độ cao đạt khoảng 30% trở lên; áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước và quản lý nền kinh tế (100% công sở và doanh nghiệp sử dụng công nghệ thông tin),…

 

– Về mức sống và văn hóa- xã hội: Chỉ số HDI đạt nhóm 30-40 số nước trên cùng của thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.000 USD; tỷ lệ lao động được đào tạo đạt trên 70%; hoàn thành phổ cập trung học cơ sở trong phạm vi cả nước; tuổi thọ bình quân là 75; nhà ở đô thị đạt trên 20m2/người; cả nước không còn hộ nghèo; hệ số GINI nhỏ hơn 0,4.

 

Tựu trung lại, sau khi kết thúc chặng đường CNH, HĐH 2010-2020, trình độ “cơ bản là một nước công nghiệp của Việt Nam” hiện ra tương đối rõ. Những năm sau đó, Việt Nam tiếp tục phát triển trên con đường hiện đại hóa trong bối cảnh của thế giới đương đại, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” dần dần trở thành hiện thực.

 

Những phác họa trên đây, đặc biệt phác họa cho chặng đường 2010-2020, chưa có đủ căn cứ và ít nhiều mang dáng dấp dự đoán tương lai học. Tuy nhiên, xin mạnh dạn nêu lên phác họa ấy như một vài gợi ý ban đầu rất sơ lược.

 

III. MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ CÁC NGÀNH, CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

 

Như vừa nêu trên đây khi trình bày đại thể tiến trình CNH, HĐH ở Việt nam từ nay đến 2010, một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta là công cuộc CNH, HĐH đất nước không chỉ gồm những hoạt động kinh tế, mà bao quát một phạm vi rộng lớn, đúng với nghĩa CNH, HĐH toàn bộ đất nước, chứ không chỉ riêng nền kinh tế.

 

Tuy nhiên, do khung khổ có hạn của chuyên đề này, sau đây chỉ lựa chọn trình bày một số chủ trương và biện pháp được xem là rất quan trọng và thiết thực.

 

III.1. Chủ trương, biện pháp đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

 

Do còn là một nước nặng về nông nghiệp, tỷ lệ dân số sống ở các vùng nông thôn chiếm phần lớn, cho nên Việt Nam tất yếu phải dành nhiều ưu tiên cho phát triển nông nghiệp và nông thôn trên con đường phát triển của mình. Trong nhiều năm qua, Đảng ta đã khẳng định CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH, HĐH đất nước. Nghị quyết Hội nghị Trung ương V khoá IX về “Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010” được ban hành ngày 18/3/2002 đã đề ra chủ trương toàn diện về CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn ở nước ta trong tình hình hiện nay.

 

Nghị quyết đã chỉ rõ mục tiêu tổng quát của cả quá trình là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

III.1.1. Chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

 

– Thứ nhất: Coi CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nội dung quan trọng nhất của toàn bộ quá trình CNH, HĐH đất nước, là bộ phận cấu thành hữu cơ của quá trình này. Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn có thể được “rút ngắn” một cách thích hợp.

 

– Thứ hai: Phải ưu tiên cho mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất ở nông thôn đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; trong đó, đặc biệt chú trọng phát huy nguồn lực con người và ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng, gắn với thị trường. Hiện đại hoá kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái.

 

– Thứ ba: Dựa chủ yếu vào các nguồn nội lực, khơi dậy và huy động các nguồn sức mạnh tiềm tàng của tất cả các lực lượng, thành phần kinh tế; kết hợp và tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài.

 

– Thứ tư: Phát triển kinh tế phải đi liền và kết hợp chặt chẽ với việc giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn, nhanh chóng cải thiện đời sống của người dân nông thôn trên tất cả các mặt.

 

– Thứ năm: Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế nông thôn với củng cố an ninh trật tự và bảo vệ tổ quốc.

 

III.1.2. Một số biện pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn

 

– Thứ nhất: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nông thôn và đổi mới các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, cần mở rộng các điều kiện tiếp cận của các chủ thể kinh tế nông thôn đến các thị trường, coi sự vận hành của cơ chế thị trường trong việc phân bổ nguồn lực và cạnh tranh thị trường là động lực kinh tế quan trọng thúc đẩy phát triển nông thôn. Các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn cần tập trung giải quyết những khó khăn của các chủ thể kinh tế nông thôn về các vấn đề đất đai, thị trường tiêu thụ, nguồn vốn, khoa học và công nghệ, lao động, v.v. Trong đó, chính sách đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cần được đổi mới theo hướng khuyến khích việc lưu chuyển đất đai từ người sử dụng này tới người sử dụng khác, từ mục đích sản xuất này tới mục đích sản xuất khác theo quy hoạch và quy định của pháp luật; không nên hạn chế việc tích tụ đất đai vào tay những người sử dụng có hiệu quả cao, tạo điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào nông nghiệp và tạo mặt bằng sản xuất cho các hoạt động công nghiệp ở nông thôn. Chính sách tài chính, tín dụng cần hướng tới việc tăng tỷ lệ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH, trong đó chú trọng đổi mới cơ cấu vốn đầu tư của nhà nước phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.

 

– Thứ hai: Phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần, đa dạng hoá các loại hình tổ chức sản xuất- kinh doanh trong nông nghiệp và nông thôn trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật. Muốn vậy, trước hết cần tạo lập và hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các loại hình tổ chức sản xuất- kinh doanh ở nông thôn như các hộ gia đình, các trang trại, các hợp tác xã, và các loại hình doanh nghiệp khác trên cơ sở bình đẳng. Về lâu dài, cần có một đạo luật duy nhất điều chỉnh tất cả các loại hình tổ chức này. Cần khuyến khích phát triển rộng rãi các doanh nghiệp dân doanh ở nông thôn, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, coi đây là lực lượng chủ lực tạo việc làm mới, thực hiện xoá đói, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề và cơ cấu lao động ở nông thôn. Bên cạnh đó, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nông nghiệp và nông thôn.

 

– Thứ ba: Làm tốt công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, cần đẩy nhanh và nâng cao chất lượng quy hoạch phát triển ngành và vùng theo nguyên tắc xác định các hướng sản xuất- kinh doanh trên cơ sở lợi thế so sánh của ngành và vùng. Cần có kế hoạch phối hợp giữa các ngành chuyên môn ở từng vùng, đồng thời có kế hoạch phối hợp hoạt động của các ngành chuyên môn với các cấp chính quyền ở nông thôn liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về tài chính công. Quy hoạch ngành và vùng cần được xây dựng gắn kết và đồng bộ với các quy hoạch khác ở nông thôn như: quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội; quy hoạch phát triển khu dân cư, làng, xã, thị trấn; quy hoạch xây dựng các trung tâm thương mại, chợ, khu, cụm công nghiệp, làng nghề,… ở nông thôn.

 

– Thứ tư: Đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ vào phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nâng cao năng suất của từng người lao động nông nghiệp, nâng cao thu nhập của từng hécta đồng ruộng, của từng hộ nông dân. Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho việc nhập khẩu các công nghệ hiện đại, các loại giống tốt, đầu tư cho việc hiện đại hoá các cơ sở nghiên cứu, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ mới vào thực tiễn sản xuất- kinh doanh trong nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng một số khu nông nghiệp công nghệ cao dựa vào công nghệ sinh học, công nghệ thông tin như các cơ sở sản xuất giống mới dựa vào công nghệ gen, các cơ sở trồng trọt, chăn nuôi sử dụng các giống mới cùng với những công nghệ mới tự động điều khiển quá trình sản xuất. Nhà nước có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu phát triển khoa học, công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn và thực hiện xã hội hoá để mở rộng hệ thống khuyến nông đến cơ sở.

 

– Thứ năm: Nâng cao trình độ và đảm bảo tính đồng bộ của nguồn lao động nông thôn thông qua đổi mới chính sách đào tạo và dạy nghề. Trong thời kỳ đầu CNH, HĐH, cần điều chỉnh cơ cấu đào tạo đại học, cao đẳng và giáo dục chuyên nghiệp theo hướng tăng đào tạo nghề nghiệp và trung học chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Nhà nước cần tăng cường đầu tư để nâng cấp các cơ sở dạy nghề của Nhà nước, đồng thời có chính sách khuyến khích xã hội hoá, phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng và khuyến khích thu hút những người được đào tạo về làm việc ở nông thôn, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa.

 

III.2. Chủ trương, biện pháp phát triển các ngành công nghiệp

 

III.2.1. Chủ trương phát triển các ngành công nghiệp

 

Có thể phân biệt ba nhóm ngành công nghiệp chính sau đây:

 

– Các ngành công nghiệp thế hệ thứ nhất, bao gồm những ngành phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên và công nghệ nước ngoài như: nông-lâm sản, thuỷ-hải sản, may mặc, da giầy, v.v. Những ngành công nghiệp này dễ dàng xây dựng, nhu cầu vốn không lớn, nhưng ít sáng tạo và giá trị gia tăng thấp. Tuy nhiên, việc xuất khẩu các sản phẩm thuộc những ngành này có thể tạo nguồn ngoại tệ quý giá để phát triển các ngành khác, tạo nhiều việc làm, khởi động quá trình CNH đất nước, đồng thời phát huy được những lợi thế so sánh về nguồn tài nguyên và nguồn lao động.

 

– Các ngành công nghiệp thế hệ thứ hai, bao gồm những ngành đòi hỏi công nghệ cao hơn như: công nghiệp dệt, cơ khí chế tạo, sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp, điện tử, công nghệ thông tin, tự động hoá, v.v. Các sản phẩm thuộc những ngành này có độ chính xác, chất lượng và giá trị gia tăng cao. Chúng được xây dựng trên cơ sở các ngành công nghiệp thế hệ thứ nhất, có mối liên kết và tạo đầu vào cho các ngành công nghiệp thế hệ thứ nhất. Việc phát triển các ngành công nghiệp thế hệ thứ hai có tác động lan toả, nâng cao năng suất lao động của nhiều ngành công nghiệp và ngành kinh tế khác, là một mục tiêu quan trọng để thu hút công nghệ từ nước ngoài, đồng thời phát huy những lợi thế so sánh về nguồn nhân lực có chất lượng cao.

 

– Các ngành công nghiệp thế hệ thứ ba, bao gồm những ngành sản xuất ra nguyên vật liệu đòi hỏi vốn lớn và công nghệ cao như: công nghiệp hoá dầu, công nghiệp hoá chất quy mô lớn, công nghiệp luyện kim, v.v. Các loại nguyên liệu này sẽ có nhu cầu lớn về số lượng và ngày càng cao về chất lượng khi nền công nghiệp nước ta phát triển mạnh mẽ, nhưng hiện nay hầu hết hoặc phần lớn phải nhập khẩu. Tuy vậy, trong bối cảnh tự do hoá quốc tế hiện nay, việc phát triển những ngành công nghiệp có nhiều tính chất thay thế nhập khẩu này cần được cân nhắc cẩn trọng, và nhìn chung cần một khoảng thời gian tương đối dài để có thể tạo điều kiện đầy đủ cho sự phát triển có hiệu quả, nhất là về nguồn vốn và công nghệ.

 

Dựa trên sự phân loại khái quát ba nhóm ngành công nghiệp như trên, việc phát triển và chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp trong thời gian tới cần quán triệt những quan điểm sau đây:

 

– Thứ nhất: Việc phát triển và chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp phải dựa trên lợi thế so sánh của đất nước, trong đó phải chú ý đến sự dịch chuyển từ những ngành công nghiệp dựa trên lợi thế so sánh tĩnh (nguồn lao động và tài nguyên) sang những ngành dựa trên lợi thế so sánh động (những thế mạnh lâu dài của đất nước, con người và xã hội Việt nam, cho phép phát triển những ngành công nghiệp có mức độ chế biến sâu ).

 

– Thứ hai: Việc phát triển các ngành công nghiệp phải đảm bảo tính hiệu quả, nhất là đối với những ngành thuộc thế hệ thứ ba. Chúng ta đề ra 5 tiêu chuẩn để lựa chọn phát triển những cơ sở thuộc các ngành công nghiệp ấy. Đó là: có thị trường, có nguồn vốn, có công nghệ đích đáng, có thị trường, có bước đi thích hợp, có hiệu quả cao. Tiêu chuẩn chất lượng và hiệu quả phải được coi là tiêu chí hàng đầu khi ra quyết định đầu tư, có tính tới hiệu quả tổng hợp cả về mặt xã hội, quốc phòng, an ninh, cả trước mắt và lâu dài, tránh quan điểm phải làm bằng bất cứ giá nào.

 

– Thứ ba: Việc phát triển các ngành công nghiệp kế tiếp sau các ngành công nghiệp ban đầu phải đảm bảo sự liên kết chặt chẽ và bền vững, tạo nên một cơ cấu có hiệu quả, năng động. Trong đó, cần chú ý đến việc nâng dần trình độ công nghệ của các ngành công nghiệp từ trình độ thấp lên trình độ cao, tranh thủ đi thẳng hoặc đi nhanh và công nghệ hiện đại, công nghệ cao.

 

– Thứ tư: Việc phát triển các ngành công nghiệp kế tiếp sau các ngành công nghiệp ban đầu có thể diễn ra một cách tuần tự hoặc tuỳ thuộc vào các điều kiện tạo được mà một số ngành có thể phát triển nhanh và mạnh. Trong thời kỳ đầu CNH, có thể phát triển ngay những ngành công nghiệp đòi hỏi công nghệ cao trên cơ sở xác định có trọng tâm những ngành mũi nhọn.

 

III.2.2. Một số biện pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp

 

– Thứ nhất: Việt Nam cần nhanh chóng xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp đến năm 2020. Chiến lược này phải giải quyết thoả đáng các vấn đề lớn như phương pháp luận và công cụ để xây dựng chiến lược; tiêu chí cụ thể để xây dựng chiến lược; xác định vị trí nền công nghiệp Việt Nam trong khu vực và trên thế giới; tư tưởng chiến lược chủ đạo phát triển toàn bộ nền công nghiệp; phân nhóm các ngành hoặc chuỗi các ngành công nghiệp đi kèm với chính sách phát triển ở mọi khía cạnh và các vấn đề về thể chế, tổ chức thực hiện, giám sát, điều chỉnh trong từng bước đi. Trong đó, cần xác định tư tưởng chiến lược mang tính chủ đạo là: (i) ưu tiên phát triển các ngành mũi nhọn và các ngành hướng mạnh về xuất khẩu dựa trên năng lực cạnh tranh; (ii) đẩy nhanh tốc độ hiện đại hoá, đổi mới công nghệ; (iii) đẩy mạnh CNH, HĐH nông thôn; và (iv) tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân vào phát triển công nghiệp, đặc biệt khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 

– Thứ hai: Cải thiện vai trò của Nhà nước trong việc chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển công nghiệp hướng tới việc huy động hữu hiệu các nguồn lực và khai thác tốt các tiềm năng của đất nước. Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các tư tưởng chiến lược chủ đạo phát triển công nghiệp thông qua việc tạo môi trường thích hợp và các chính sách ưu tiên, khuyến khích, cả đối với các ngành và đối với các doanh nghiệp (được trình bày cụ thể hơn ở các phần dưới đây). Đầu tư của Nhà nước cho phát triển công nghiệp đóng vai trò rất quan trọng, giải pháp cần quan tâm là nâng cao hiệu quả đầu tư của Nhà nước, và có tính toán kỹ lưỡng đến hiệu quả trước khi đưa ra các quyết định đầu tư mới.

 

– Thứ ba: Các biện pháp phát triển các ngành công nghiệp cần chú trọng phát huy lợi thế so sánh và dựa trên năng lực cạnh tranh của các ngành trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp phải được đánh giá trên cơ sở khoa học, so sánh với các nước trong khu vực và có dự báo xu hướng trong tương lai. Đối với những ngành có năng lực cạnh tranh cao, Nhà nước có thể tăng cường đầu tư và khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài. Đối với những ngành có năng lực cạnh tranh có điều kiện, Nhà nước có các chính sách trợ giúp có điều kiện và có thời hạn để nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời khuyến khích khu vực tư nhân và nước ngoài đầu tư vào những ngành này. Đối với những ngành có năng lực cạnh tranh thấp, cần tích cực điều chỉnh cơ cấu đầu tư, một mặt có thể hạn chế đầu tư để tránh gây lãng phí, kém hiệu quả, mặt khác có thể khuyến khích đầu tư thích hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh tuỳ theo đặc trưng cụ thể của từng ngành.

 

– Thứ tư: Các biện pháp thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp công nghiệp cần chú trọng đến việc huy động nguồn lực tiềm tàng của tất cả các loại hình doanh nghiệp. Cụ thể là:

 

+ Đối với doanh nghiệp nhà nước: Cần đẩy mạnh tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả của khu vực doanh nghiệp này thông qua các biện pháp như cổ phần hoá, công ty hoá, giao, bán, khoán kinh doanh và cho thuê, chuyển đổi hoạt động sang phương thức công ty mẹ- công ty con, hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh, v.v.; cần giảm thiểu độc quyền của doanh nghiệp nhà nước, mở cửa các lĩnh vực và thị trường cho sự tham gia của các doanh nghiệp ngoài nhà nước.

 

+ Đối với doanh nghiệp dân doanh: Bảo đảm các doanh nghiệp này tham gia ngày càng sâu rộng vào đầu tư phát triển các ngành mà pháp luật không cấm, không giới hạn về quy mô phát triển, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác. Khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa, thích hợp với những ngành sử dụng nhiều lao động, sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân đa dạng và luôn thay đổi của thị trường, đồng thời có thể dễ dàng đổi mới công nghệ.

 

+ Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Ngoài việc tạo môi trường thuận lợi và bình đẳng cho hoạt động của các doanh nghiệp này, trong chiến lược xúc tiến đầu tư những năm tới, cần hướng đến những đối tác nước ngoài có tiềm lực mạnh về nguồn tài chính và khoa học-công nghệ. Khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những ngành công nghiệp xuất khẩu, những ngành phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, và những ngành có hàm lượng khoa học-công nghệ cao.

 

Đồng thời với việc thực hiện các biện pháp phát triển doanh nghiệp, cần tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích sự liên doanh, liên kết giữa các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh tế, tạo dễ dàng cho sự tích tụ vốn để hình thành những doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn. Đặc biệt khuyến khích sự liên kết giữa doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo nên mạng lưới các doanh nghiệp vệ tinh năng động, linh hoạt, giảm thiểu chi phí, nâng cao được sức cạnh tranh.

 

III.3. Chủ trương, biện pháp phát triển các ngành dịch vụ

 

Trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam, các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng khá lớn (gần 40%), nhưng vẫn là các ngành mới và yếu, đặc biệt là thiếu những ngành dịch vụ chất lượng cao và tạo ra giá trị lớn. Trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng dịch vụ luôn thấp hơn tốc độ tăng GDP do vậy xu hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ là chưa vững chắc. Trước thời kỳ đổi mới, các ngành dịch vụ bị coi nhẹ và đến nay vẫn còn dấu ấn tiêu cực nặng nề cả về nhận thức, thể chế, chính sách cho đến các hoạt động kinh doanh. Nhìn chung, các ngành dịch vụ chưa đáp ứng tốt những yêu cầu về số lượng và chất lượng ngày càng gia tăng của nền kinh tế. Xét ở khía cạnh khác, triển vọng phát triển các ngành dịch vụ là rất lớn do nhiều tiềm năng chưa được khai thác và phát huy đủ mức. Theo mục tiêu đến năm 2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, tỷ trọng dịch vụ trong GDP chiếm từ 45-50%, tức là tăng hơn 5% so với hiện nay. Khoảng cách này là không quá lớn, tuy nhiên, nếu không có các biện pháp thích hợp để phát triển các ngành dịch vụ thì rất khó có thể đạt được mục tiêu nêu trên. Điều này được minh chứng rõ bởi thực tế rằng, năm 1990 tỷ trọng dịch vụ trong GDP của nước ta đạt 38,59%, tăng lên đỉnh điểm 44,06% vào năm 1995, nhưng lại giảm xuống chỉ còn 39,33% năm 2004, tức là sau 14 năm tỷ trọng dịch vụ trong GDP chỉ tăng chưa đầy 1%. Tuy nhiên, bối cảnh từ nay đến năm 2020 có những khác biệt lớn so với giai đoạn từ năm 1990 đến nay. Một mặt, các ngành dịch vụ có điều kiện phát triển thuận lợi do nhu cầu lớn của nền kinh tế, mặt khác các ngành này buộc phải tìm mọi cách phát triển để có thể đứng vững trong cạnh tranh khi Việt Nam thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này cho thấy rằng mục tiêu tăng thêm hơn 5% về tỷ trọng dịch vụ trong GDP trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2020 là hợp lý. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải có những đổi mới quan trọng về chủ trương cũng như thực hiện các biện pháp có hiệu quả thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ.

 

III.3.1. Chủ trương phát triển các ngành dịch vụ

 

– Thứ nhất: Phát triển mạnh dịch vụ cùng với công nghiệp và nông-lâm-ngư nghiệp tạo nên một cơ cấu có hiệu quả, năng động và hiện đại của nền kinh tế. Các ngành dịch vụ không chỉ được gia tăng mạnh về khối lượng, đa dạng hoá về loại hình, mà còn được cải thiện căn bản về chất lượng, giảm giá cước để hỗ trợ đắc lực và có hiệu quả sự phát triển của công nghiệp và nông nghiệp, đồng thời góp phần nâng cao mức sống của xã hội.

 

– Thứ hai: Phát triển các ngành dịch vụ phải khai thác những lợi thế cạnh tranh của đất nước, gắn với thị trường trong nước và thế giới. Có ưu tiên thỏa đáng cho việc phát triển các ngành dịch vụ có tác động lớn đến hiệu qủa kinh tế, xã hội (cụ thể là liên quan đến phát triển theo chiều sâu, đến chất lượng tăng trưởng) và liên quan đến phát triển nguồn nhân lực như: dịch vụ khoa học-công nghệ, ngân hàng, tài chính, viễn thông, vận tải, giáo dục-đào tạo, y tế, v.v.

 

– Thứ ba: tích cực chuẩn bị thực hiện các cam kết mở cửa dịch vụ theo lộ trình trong các khung khổ hội nhập quốc tế, nhất là khung khổ GATS của WTO khi Việt Nam gia nhập tổ chức này, cần tranh thủ tối đa khoảng thời gian chưa phải thực hiện cam kết để phát triển và mở rộng các ngành dịch vụ ở trong nước. Nhờ vậy, các doanh nghiệp dịch vụ trong nước sẽ có điều kiện chiếm lĩnh thị trường trong nước, tạo lập vị trí vững chắc để có thể cạnh tranh được với các đối thủ nước ngoài khi mở cửa.

 

III.3.2. Một số biện pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ

 

– Thứ nhất: Cần tiến hành cấp bách việc rà soát tất cả các ngành dịch vụ để đánh giá hiện trạng, năng lực cạnh tranh, tiềm năng và xu hướng phát triển của chúng, trên cơ sở đó xây dựng một chiến lược phát triển các ngành dịch vụ của Việt Nam từ nay đến năm 2020. Việc rà soát nên được thực hiện theo các ngành dịch vụ được phân định bởi Hiệp định chung về các Dịch vụ liên quan đến Thương mại (GATS) của WTO, bao gồm 12 ngành dịch vụ là: (1) Dịch vụ kinh doanh; (2) Dịch vụ liên lạc; (3) Dịch vụ xây dựng và thi công; (4) Dịch vụ phân phối; (5) Dịch vụ giáo dục; (6) Dịch vụ môi trường; (7) Dịch vụ tài chính; (8) Các dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và các dịch vụ xã hội; (9) Các dịch vụ du lịch và liên quan đến du lịch; (10) Các dịch vụ giải trí và thể thao; (11) Các dịch vụ vận tải; và (12) Các dịch vụ khác. Việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển dịch vụ phải gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp và các chương trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

 

– Thứ hai: Tăng cường huy động các nguồn lực trong xã hội bằng cách mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân và nước ngoài vào đầu tư, kinh doanh các ngành dịch vụ, giảm thiểu độc quyền nhà nước, tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường. Thí dụ, trong các ngành điện lực và viễn thông, Nhà nước cần tách chức năng quản lý đường trục quốc gia với chức năng kinh doanh của các doanh nghiệp để có nhiều doanh nghiệp hơn tham gia kinh doanh. Ngày 11/3/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 31/2005/NĐ-CP về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, cho phép doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và hợp tác xã đều được tham gia sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích theo các phương thức đặt hàng, đấu thầu hoặc giao kế hoạch. Nghị định này được đánh giá là mở ra cho các chủ thể kinh tế ngoài nhà nước những cơ hội đầu tư, kinh doanh mới, vì vậy có thể tạo ra một cuộc chạy đua thực sự giữa các thành phần kinh tế trong việc sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích- những hàng hoá trước đây thường gắn chặt với các doanh nghiệp nhà nước. Vấn đề quan trọng đặt ra ở đây là phải thực hiện có hiệu quả Nghị định 31/ 2005/NĐ-CP trong thực tế. Trong một số ngành dịch vụ mang tính xã hội như giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường v.v., cần đẩy mạnh công tác xã hội hoá. Muốn vậy, Nhà nước cần xây dựng và ban hành các quy định pháp lý và các chính sách rõ ràng về phương thức và các hình thức xã hội hoá.

 

– Thứ ba: Nhà nước cần có các chính sách trợ giúp thích hợp những doanh nghiệp mới tham gia đầu tư và kinh doanh các ngành dịch vụ hoặc những doanh nghiệp tham gia đầu tư và kinh doanh các ngành dịch vụ mới, nhất là về phát triển nguồn nhân lực. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng kinh doanh dịch vụ đến các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, một mặt nhằm giúp các doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường trong nước, mặt khác giúp đáp ứng các nhu cầu đời sống kinh tế-xã hội của những vùng này. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu dịch vụ ra nước ngoài dưới các hình thức đa dạng, từ cung cấp qua biên giới cho đến hiện diện thể nhân ở nước ngoài. Ngoài ra, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nhận làm các dịch vụ được chuyển ra bên ngoài (out-sourcing) từ các nước phát triển, tiêu biểu là các dịch vụ như: kế toán, thiết kế kỹ thuật, thiết kế phần mềm…

 

– Thứ tư: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ thông qua các biện pháp như: đẩy mạnh thực hiện lộ trình giảm giá cước dịch vụ xuống mức ít nhất là ngang bằng với các nước trong khu vực; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại vào sản xuất và kinh doanh dịch vụ; phát huy lợi thế so sánh của từng ngành, từng vùng, từng thời kỳ; thay đổi phương thức và thái độ phục vụ để hướng tới khách hàng nhiều hơn, vì lợi ích của khách hàng… Đáp ứng với những thách thức trong quá trình trong hội nhập, trước hết Nhà nước cần xây dựng một lộ trình mở cửa dịch vụ thích hợp, phù hợp với những cam kết quốc tế và sát với thực tế nước ta, tiếp đến các ngành, các cấp và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chủ động, sẵn sàng đón nhận sự cạnh tranh cả trên thị trường trong nước và nước ngoài.

 

  1. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ RÚT NGẮN VỚI TỪNG BƯỚC PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

 

Như trên đây đã nêu rõ, quá trình CNH, HĐH ở nước ta là một quá trình cần và có thể được rút ngắn, và có mối quan hệ chặt chẽ với việc từng bước phát triển kinh tế tri thức. Tất cả những chủ trương và biện pháp thực hiện CNH, HĐH được trình bày ở các phần trên đều dựa trên cơ sở coi CNH, HĐH là một quá trình được rút ngắn. Vì vậy, phần này chỉ trình bày những chủ trương và biện pháp từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, cụ thể như sau:

 

– Thứ nhất: Về phương diện, hoạch định chủ trương, chính sách, cần soát xét lại toàn bộ các chủ trương, chính sách đổi mới và phát triển đất nước từ nay đến năm 2010, từ đó điều chỉnh và bổ sung những điều cần thiết, đặc biệt là về những mặt quan trọng sau đây:

 

(1) Đẩy mạnh CNH, HĐH, tranh thủ sớm theo hướng hiện đại trong tất cả các ngành, các vùng có điều kiện.

 

(2) Mở mang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

 

(3) Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

 

(4) Phát triển khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin viễn thông và công nghệ sinh học.

 

(5) Chấn hưng và hiện đại hoá giáo dục và đào tạo, xây dựng xã hội học tập

 

(6) Phát triển văn hóa, phát triển con người, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

 

(7) Đổi mới thể chế quản lý và cải cách hành chính.

 

Song hành với quá trình soát xét ấy, chúng ta cần sớm nghiên cứu, xây dựng một chiến lược, hoặc ít ra là khung chiến lược, từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, ráo riết chuẩn bị và bắt tay thực hiện một cách có hiệu quả chiến lược ấy

 

– Thứ hai: Cần xác định rõ rằng từ nay đến năm 2010 và một số năm sau đó là bước tạo lập những yếu tố cơ bản ban đầu và tạo đà tăng tốc ban đầu cho việc từng bước phát triển kinh tế tri thức thông qua định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và phát triển các ngành kinh tế dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ cao. Những nhiệm vụ chủ yếu phải thực hiện là:

 

+ Tập trung sức tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, với trọng tâm phát triển theo chiều sâu, ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả những thành tựu mới của khoa học và công nghệ trong nông nghiệp, kết hợp với việc phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các vùng nông thôn.

 

+ Xác lập cơ cấu công nghiệp có hiệu quả kết hợp giải quyết những nhiệm vụ trước mắt với yêu cầu phát triển chiến lược. Định hướng phát triển công nghiệp theo chiều sâu là chủ đạo, một số ngành sản xuất sản phẩm có hàm lượng tri thức thấp vẫn được tiếp tục phát triển nhưng với trình độ trang bị công nghệ cao hơn để tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

 

+ Đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực dịch vụ như thương mại, du lịch, bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn… thông qua quá trình xã hội hoá, nới lỏng các điều kiện cho phép các nhà đầu tư tư nhân hoạt động trong các lĩnh vực này, và áp dụng khoa học, công nghệ hiện đại trong các ngành dịch vụ.

 

+ Ngay trong bước đi này, các ngành công nghệ cao (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới…) đã được hình thành, tuy quy mô chưa lớn nhưng sẽ tăng trưởng nhanh. Nhiệm vụ quan trọng là phải chú ý tạo lập nền móng vững chắc cho việc phát triển những ngành này trong tương lai. Nền móng này bao gồm đào tạo đội ngũ chuyên gia và công nhân kỹ thuật có trình độ cao, cơ sở vật chất hiện đại cho đào tạo và nghiên cứu phát minh, các quan hệ hợp tác quốc tế chặt chẽ và có hiệu quả, thúc đẩy phát triển thị trường sử dụng sản phẩm công nghệ cao…

 

– Thứ ba, thực hiện có hiệu quả một số giải pháp lớn khác, bao gồm: tiếp tục đổi mới chính sách, tạo lập khung khổ pháp lý mới, nhanh chóng hình thành và hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài; tăng cường năng lực khoa học, công nghệ và thiết lập hệ thống đổi mới quốc gia hữu hiệu; đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ CNH, HĐH.

 

Như vậy, phát triển kinh tế tri thức không chỉ là những hoạt động thuần tuý kinh tế. Để có kinh tế tri thức, các hoạt động phát triển khoa học, công nghệ, phát triển giáo dục, phát triển văn hoá, phát triển con người, phát triển xã hội là cực kỳ quan trọng, có thể nói có tác dụng quyết định. Ở đây càng cho thấy rõ ràng khoa học, công nghệ và giáo dục là quốc sách hàng đầu.

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM – BÀI TẬP HỌC KỲ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Nhà nước pháp quyền là hình mẫu lý tưởng, là ước mơ vươn tới của tất cả các nhà nước dân chủ và tiến bộ. Tuy nhiên việc xây dựng nhà nước pháp quyền sẽ vô cùng khó khăn, gian khổ, phải trải qua một quá trình lâu dài. Đại hội  đại biểu toàn quốc lần thứ IX của  Đảng cộng sản Việt Nam  đã xác  định  nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) dưới sự lãnh đạo của Đảng là một trong những nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010. Trong bài này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu:

 

 

“Quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam”

 

 

  1. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

 

  1. Cơ sở lý luận

 

  1. Khái niệm nhà nước pháp quyền

 

Nhà nước pháp quyền là một chế độ nhà nước mà ở đó, việc tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước, tổ chức và quản lý mọi mặt của đời sống xã hội đều chịu sự chi phối của pháp luật, hoạt động của mọi thành viên trong xã hội đều đặt trong khuôn khổ của pháp luật, nhà nước được tổ chức ra để chăm lo cho nhân dân, phục vụ nhân dân, đó là một nhà nước dân chủ thực sự, trong nhà nước đó, con người được giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công, các quyền tự do, dân chủ của con người được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ.

 

  1. Cơ sở, lý do phải xây dựng nhà nước pháp quyền

 

– Nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử, nó không phải là sản phẩm riêng của xã hội tư bản chủ nghĩa mà là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ của xã hội loài người, của nền văn minh nhân loại, Việt Nam cần tiếp thu.

 

– Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục ở một tầng cao phát triển mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới.

 

– Xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

– Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.

 

– Ở nước ta để bảo đảm phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì một trong những vấn đề chiến lược là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng

 

  1. Chủ trương của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam

 

1, Đặc điểm của nhà nước pháp quyền Việt Nam

 

Xuất phát từ bản chất của chế độ, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, Đảng ta chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo 5 đặc điểm sau đây:

 

Một là: Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đây là đặc điểm rất quan trọng mà nhà nước pháp quyền tư sản không thể có được. Thực chất đặc điểm này của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm bảo đảm tính giai cấp, tính nhân dân của Nhà nước ta. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và do nhân dân định đoạt, nhân dân quyết định phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành của bộ máy quyền lực nhà nước nhằm đáp ứng ngày càng cao lợi ích của nhân dân và của toàn bộ dân tộc.

 

Hai là: Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan chức năng của nhà nước để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước rất mới mẻ, chúng ta phải lấy hiệu quả thực tiễn để kiểm nghiệm. Về nguyên tắc, chúng ta không thừa nhận học thuyết “tam quyền phân lập” vì nó máy móc, khô cứng theo kiểu các quyền hoàn toàn độc lập, không có sự phối hợp, thậm chí đi đến đối lập, hạn chế sức mạnh của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể trở lại với nguyên tắc tập quyền, tức là tập trung toàn bộ quyền lực cao nhất của nhà nước lập pháp, hành pháp và tư pháp cho một cá nhân, hoặc một cơ quan tổ chức nhà nước. Bởi vì, làm như vậy là đi ngược lại lịch sử tiến bộ của nhân loại.Vấn đề đặt ra yêu cầu chúng ta phải nghiên cứu giải quyết đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải có sự phân công, phân định thẩm quyền cho rõ ràng, minh bạch để thực hiện có hiệu quả với chất lượng cao ba quyền, tránh tình trạng chồng chéo, tùy tiện, lạm quyền…

 

Ba là: Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

 

Bốn là: Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật. . Đây là một đặc điểm quan trọng, xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay và phải được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

 

Năm là: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do một đảng duy nhất lãnh đạo, có sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của mặt trận. . Đây là đặc điểm đặc trưng, cơ bản, rất quan trọng mang tính lý luận và đã được kiểm chứng bằng thực tế lịch sử của cách mạng Việt Nam.

 

Như vậy, ngoài yêu cầu, đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền nói chung thì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có những đặc trưng riêng thể hiện rõ nét bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đó là:

 

– Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; không tam quyền phân lập; mọi cách thức tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều có mục đích chung là vì lợi ích xã hội, lợi ích quốc gia, dân tộc và lấy việc phục vụ nhân dân làm mục đích duy nhất và tối cao.

 

– Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện trong điều kiện một đảng cầm quyền duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

  1. Quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền

 

Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN không phải là xây dựng một Nhà nước mới khác về bản chất của Nhà nước XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã tiến hành hơn mấy chục năm qua. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân là nhiệm vụ cốt lõi của cải cách tổ chức, hoạt động của nhà nước, là cách cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt nam chính là quá trình tiếp tục xây dựng Nhà nước XHCN trong điều kiện hoàn cảnh mới. Dựa trên các văn kiện của Đảng, các quy định của Hiến pháp, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

 

–  Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải được thực hiện trên cơ sở nắm vững những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh xây dựng đất nước và các văn kiện của Đảng ta.

 

–  Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam nhưng phải giữ vững bản chất giai cấp, bản chất dân chủ thực sự rộng rãi của Nhà nước XHCN. Nhà nước Cộng hoã xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

 

–  Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 

–  Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, phù hợp với đặc điểm truyền thống về lịch sử, văn hoá Việt Nam, có bản sắc Việt Nam; đảm bảo kế thừa và phát huy truyền thống, kinh nghiệm quản lý đất nước của dân tộc ta qua suốt chiều dài lịch sử, tiếp thu có chọn lọc thành tựu của thế giới

 

–  Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải trở thành yêu cầu cấp bách đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nói cách khác bất cứ nội dung nào của cải cách tổ chức, hoạt động của nhà nước đều phải thấm nhuần yêu cầu và định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam

 

–  Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là một quá trình từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện, phải tiến hành từng bước vững chắc, phải dựa trên cơ sở thường xuyên tổng kết thực tiễn, kịp thời điều chỉnh bổ sung. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN gắn liền với quá trình đổi mới kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển nền dân chủ xã hội XHCN và tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị. Phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết và phải đảm bảo ổn định chính trị, ổn định kinh tế-xã hội, ngăn chặn được âm mưu và hành động của các thế lực thù địch và bọn cơ hội.

 

  1.  Nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.

 

Để xây dựng nhà nước pháp quyền cần thực hiện tốt một số biện pháp lớn sau đây:

 

3.1 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật

 

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

 

Hướng đến hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của toàn xã hội, nhất là cho tổ chức, hoạt động của nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước, đồng thời có chuẩn mực rõ ràng để đánh giá đúng sai, tăng cường pháp chế trong đời sống nhà nước và xã hội.

 

Một mặt coi trọng hoàn thiện Hiến pháp, các luật điều chỉnh tất cả các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và xã hội, mặt khác phải xác định được thứ tự ưu tiên cần thiết và nâng cao tính khả thi, tính hiệu lực và hiệu quả của pháp luật trong cuộc sống. Đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật.

 

Pháp luật về tổ chức hoạt động của nhà nước phải đi liền với pháp luật về phát triển kinh tế, pháp luật về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, pháp luật về nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc.

 

Pháp luật nội dung phải đi liền với pháp luật hình thức.

 

Pháp luật phải gắn liền với đảm bảo thực hiện pháp luật nghiêm minh.

 

Hoạt động lập pháp muốn vậy phải vừa đảm bảo chất lượng vừa phải theo kịp yêu cầu của sự phát triển. Mặt khác phải đẩy mạnh các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, mở rộng các hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật, dịch vụ và tư vấn pháp lý trong xã hội, xây dựng nếp sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật.

 

3.2. Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan lập pháp –  Quốc hội

 

Đảng ta chủ trương, vạch ra đường lối: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội; nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng Dân tộc, và các Ủy ban của Quốc hội. Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh. Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao.” Trong thời gian qua, Quốc hội đã có một số đổi mới như: tăng số đại biểu chuyên trách, áp dụng chuẩn hóa quy trình xem xét các dự án luật theo hai giai đoạn, đổi mới hoạt động của Ủy ban thường vụ quốc hội…Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, Quốc hội cần được tiếp tục đổi mới theo hướng tăng thêm số ủy ban thường trực cho các chủ thể lập pháp của Quốc hội để mỗi đại biểu quốc hội chỉ tham dự vào một ủy ban, chuyên nghiên cứu về một lĩnh vực nhất định nhờ đó họ tập trung được hoạt động của mình. Quốc hội cũng nên có một văn phòng cố vấn lập pháp để giúp soạn thảo các dự luật cho các ủy ban hoặc đại biểu Quốc hội nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong các đạo luật hiện hành của quốc hội. Đồng thời Quốc hội nên chuyển dần sang cơ chế hoạt động thường xuyên, hoạt động theo hướng chuyên nghiệp để có thể nâng cao dần chất lượng của các đạo luật và nâng cao hiệu quả của việc thực hiện quyền giám sát tối cao các hoạt động của nhà nước.

 

3.3 Cải cách hành chính.

 

Đẩy mạnh tổ chức hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại.  Chính phủ phải nâng cao hiệu lực hoạt động của mình, thực sự là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện mọi chính sách, biện pháp hữu hiệu nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân;

 

Tiếp tục quán triệt chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước một cách sâu rộng, toàn diện, đồng bộ từ trung ương đến địa phương, cơ sở. Tập trung cải cách thể chế hành chính; cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa các thủ tục trong các lĩnh vực có tác động trực tiếp tới đời sống và sản xuất kinh doanh của nhân dân; loại bỏ những khâu xin phép, xét duyệt không cần thiết; công khai các quy định, thủ tục hành chính; triển khai trong các cấp hành chính của cả nước thực hiện cơ chế “một cửa”; chấn chỉnh việc ban hành các thủ tục hành chính và quy định lệ phí, bảo đảm chặt chẽ; nâng cao chất lượng giải quyết các khiếu kiện của nhân dân; chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính; cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu chuyên nghiệp hóa, nâng cao chất lượng cả về phẩm chất và năng lực, kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng, thoái hóa, biến chất và các tiêu cực khác trong hệ thống hành chính; loại bỏ cán bộ, công chức kém phẩm chất và năng lực ra khỏi bộ máy hành chính nhà nước. Có những giải pháp đồng bộ để khắc phục cho được thái độ vô trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước. Kiên quyết xóa bỏ mọi rào cản đối với công cuộc cải cách hành chính

 

3.4 Cải cách tư pháp

 

Hệ thống cơ quan tư pháp nước ta giai đoạn tới cần được đổi mới theo hướng. “Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người. Đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2010. Cải cách tư pháp khẩn trương đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng taaml thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt đồng điều tra. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.” Để biến phương hướng trên thành hiện thực thì phải thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, một trong những biện pháp đó là phải quy định quy trình đào tạo và bổ nhiệm thẩm phán thật công phu và chặt chẽ. Phải nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ thẩm phán đương nhiệm. Về cơ cấu tổ chức của tòa án nhân dân cần phải được xem xét lại cho gọn nhẹ mà có hiệu quả, tránh sự chồng chéo về thẩm quyền.

 

3.5 Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

 

Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cần được nâng cao chất lượng hoạt động để: “… bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. Phát huy vai trò giám sát của hội đồng nhân dân. Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo.”

 

III. Ý nghĩa của việc xây dựng nhà nước pháp quyền

 

Nhà nước pháp quyền là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ của xã hội loài người, của nền văn minh nhân loại, là hình mẫu lý tưởng của các nhà nước dân chủ và tiến bộ. Ở nhà nước đó mọi người được tôn trọng, dân chủ được mở rộng, người dân sống và làm việc theo luật định. Xây dựng nhà nước pháp quyền quyền là phương tiện hiệu quả quản lí xã hội làm cho đất nước ngày càng tăng trưởng, ổn định chính trị, kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng cao. Đặc biệt đối với Việt Nam, con đường mà Đảng, nhân dân dân ta lựa chọn là chủ nghĩa xã hội thì việc xây dựng nhà nước pháp quyền càng trở nên quan trọng  và cần thiết. Có xây dựng được nhà nước pháp quyền thì mới đảm bảo được những quyền tự do, dân chủ cho nhân dân, người dân lúc đó mới thực sự là người làm chủ đất nước, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, đưa nước ta tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội và hội nhập sâu rộng với quốc tế.

 

  1. KẾT LUẬN

 

Trong những năm đổi mới vừa qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã và đang chung tay, quyết tâm phấn đấu xây dựng đưa Việt Nam trở thành một nhà nước pháp quyền thực sự dân chủ, của dân, do dân và vì dân. Và trên thực tế Nhà nước ta đã trưởng thành về nhiều mặt, đã thể hiện được phần nào bản chất của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc xây dựng nhà nước pháp quyền phải trải qua một quá trình lâu dài, sẽ vô cùng khó khăn, gian khổ và để đạt được thành công cần có sự quyết tâm, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam – Bộ giáo dục và đào tạo – Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Hà nội 2009
  2. Nội dung cơ bản của môn học lý luận nhà nước và pháp luật – Trường đại học Luật Hà Nội – Nhà xuất bản giao thông vận tải
  3. http://Luathoc.net
  4. http://tapchicongsan.org.vn

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

 

Leave a Reply