kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật họcTài liệu ôn tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh

ĐỀ CƯƠNG TRẢ LỜI BÀI TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH – ĐH LUẬT HÀ NỘI – PHẦN 1

Câu 1: Nguồn gốc hình thành tư tưởng hcm.

1- Nguồn gốc hình thành tthcm:

  1. a) Truyền thống văn hóa và tư tưởng tốt đẹp của dtvn:

HCM là một trong những người con ưu tú của dt. Trong mấy nghìn năm phát triển của lịch sử, dân tộc vn đó tạo ra anh hùng thời đại-HCM người anh hùng dân tộc.

Tthcm, sự nghiệp và cuộc đời HCM bắt nguồn từ truyền thống của dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nựớc. Chủ nghĩa yêu nước là chuẩn mực cao nhất trong bảng giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc vn.

HCM đó kế thừa và khái quát lên một chân lý: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi lên, nó kết thành 1 làn sóng vô cùng to lớn và mạnh mẽ, nó lướt qua mọi sự khó khăn và nguy hiểm, nó nhấn chìm mọi bè lũ cướp nước và bán nước”. Tinh thần nhân nghĩa và truyền thống nhân nghĩa đoàn kết, tương thân, tương ái trong khó khăn, nguy hiểm. Bác nhấn mạnh 4 chữ: đồng lũng, đồng sức, đồng tỡnh, đồng minh.

Truyền thống lạc quan yêu đời, niềm tin vào chính mình, tin vào sự tất thắng của chân lý và chính nghĩa dự phải vượt qua muôn ngàn khó khăn, gian khổ.

+Truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, ham học hỏi, mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa bên ngoài làm giàu cho văn hóa vn. Chính nhờ tiếp thu truyền thống của dân tộc mà HCM đó tìm thấy con đường đi cho dân tộc. “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đó giúp Tôi tin theo Lenin và đi theo quốc tế 3”.

  1. b) Tinh hoa văn hóa nhân loại:

– Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, HCM đó được trang bị và hấp thụ nền Quốc học và Hán học khá vững vàng, chắc chắn. Trên hành trình cứu nước, Người đó tiếp thu tinh hoa v/hóa nhân loại, vốn sống, vốn kinh nghiệm để làm giàu tri thức của mình và phục vụ cho cmvn.

+ Văn hóa phương Đông: Người đó tiếp thu tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, và tư tưởng tiến bộ của văn hóa phương đông.

+ Nho giáo nói chung và Khổng giáo nói riêng là khoa học về đạo đức và phép ứng xử, tư tưởng triết lý hành động, lý tưởng về 1 xh bình trị. Đặc biệt nho giáo đề cao văn hóa, lễ giáo và tạo ra truyền thống hiếu học trong dân. Đây là tư tưởng tiến bộ hơn hẳn so với các học thuyết cổ đại là ngu dân để trị. Tuy nhiên HCM cũng phê phán Nho giáo có tư tưởng tiêu cực như bảo vệ chế độ Phong kiến, phân chia đẳng cấp-quân tử và tiểu nhân, chỉ đề cao nghề đọc sách. HCM đó chịu ảnh hưởng của nho giáo rất nhiều và bác dùng nho giáo như là phương tiện để chuyền tải chủ nghĩa M-L vào vn.

+ Phật giáo vào vn từ sớm và có ảnh hưởng rất mạnh đối với vn. Phật giáo có tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, phật giáo có tư tưởng bình đẳng, dân chủ hơn so với nho giáo. Phật giáo cũng đề cao nếp sống đạo đức, trong sạch, chăm làm điều thiện, coi trọng lao động. Phật giáo vào vn kết hợp với chủ nghĩa yêu nước sống gắn bó với dân, hòa vào cộng đồng chống kẻ thù chung của dân tộc là chủ nghĩa thực dân.

+ Tư tưởng dân chủ tiến bộ như chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn có ảnh hưởng đến tư tưởng HCM. HCM là nhà mác-xít tỉnh táo và sáng suốt, biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng văn hóa phương đống để phục vụ cho sự nghiệp của CMVN.

-Văn hóa tây phương:

+ HCM chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương tây. Trong những năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài. Người đó tìm hiểu cuộc Đại cách mạng Pháp 1791, Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776. Trước khi ra nước ngoài, Bác đó nghe thấy ba từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái. Lần đầu sang Pháp HCM đó thể hiện bản lĩnh, nhân cách phẩm chất cao thượng, tư duy độc lập tự chủ. Người đó nhìn thấy mặt trái của “lý tưởng” tự do, bình đẳng, bác ái.

+ Thiên chúa giáo là tôn giáo lớn của phương tây, HCM quan niệm tôn giáo là văn hóa. Điểm tích cực nhất của Thiên chúa giáo là lòng nhân ái. Đôi lúc ta đồng nhất Thiên chúa giáo với mê tín do ấn tượng tông giáo vào vn đi kèm với tư tưởng xâm lược. Bác tiếp thu có chọn lọc tư tưởng văn hóa Đông-Tây để phục vụ cho CMVN.

  1. c) Chủ nghĩa M-L là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tthcm: những phạm trù cơ bản của tthcm đều nằm trong phạm trù cơ bản của chủ nghĩa M-L và góp phần làm phong phú thêm CNMLN ở mọi thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập, tự do.

+ Khi ra đi tìm đường cứu nước bác đã có một vốn học vấn chắc chắn, một năng lực trí tuệ sắc sảo, bác đã phân tích, tổng kết các phong trào yêu nước vn chống pháp cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20; Bác đó hoàn thiện vốn văn hóa, vốn chính trị, vốn sống thực tiễn phong phú. Nhờ đó bác đó tiếp thu chủ nghĩa M-L như 1 lẽ tự nhiên “tất yếu khách quan và hợp với quy luật”. Chủ nghĩa M-L là bộ phận văn hóa đặc sắc nhất của nhân loại: tinh túy nhất, cách mạng nhất, triệt để nhất và khoa học nhất. Quan điểm của Mác là mọi cái đều có thể trở thành hiện thực trong những điều kiện nhất định. Với tất cả điều kiện tự nhiên và xh của nó qua các thời kỳ đều trở thành khả năng của sự phát triển lịch sử. Mác là nhà tư tưởng của những cái có thể.

+Bác đến với chủ nghĩa M-L là tìm con đường giải phóng cho dân tộc. Từ chủ nghĩa yêu nước bác đến với CNMLN và tin theo Lênin. Người hồi tưởng, “khi ấy ngồi 1 mình trong phòng mà tự nói to lên như đang đứng trước đông đảo quần chúng: hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng cho chúng ta”.

+HCM đó đến với CNMLN ntn? Nhờ có bản lĩnh vững vàng và nâng cao khả năng độc lập, tự chủ và sáng tạo ở người, khi tiếp thu CNMLN đó không sao chép, không kinh viện, sách vở. Thứ hai, bác đến với CNMLN nhằm tìm ra con đường gpdt tức là từ như cầu thực tiễn của cách mạng, chứ không như các học giả phương tây đến với CNMLN là giải quyết vấn đề tư duy hơn hành động. Thứ ba, người tiếp thu CNMLN cốt tìm ra bản chất, vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của CNMLN chứ không tìm kết luận có sẵn.

+Người vận dụng CNMLN theo phương pháp mác-xít và theo tinh thần phương đông, không sách vở, kinh viện, không tìm kết luận có sẵn mà tự tìm ra giải pháp riêng, cụ thể cho CMVN. CNMLN là cơ sở chủ yếu nhất hình thành tthcm.

  1. d) Nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của NAQ.

+ Tư duy độc lập và sáng tạo, có óc phê phán tinh tường và sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu cuộc

cách mạng tư sản hiện đại.

+ Không ngừng học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức, vốn kinh nghiệm đấu tranh của các phong trào gpdt.

+ Bác có tâm hồn của 1 người yêu nước vĩ đại, 1 chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng; một trái tim yêu thương dân, thương người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng hy sinh cao đẹp vì độc lập của tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Bác hồ từ 1 người tìm đường cứu nước đó trở thành người dẫn đường cho cả dt đi theo.

Câu 2- Quá trình hình thành và phát triển tthcm.

– Từ 1890-1911: giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và trí hướng cách mạng. Bác tiếp thu truyền thống dt, hấp thụ vốn văn hóa quốc học và hán học, tiếp xúc với văn hóa tây phương, chứng kiến cuộc sống khổ cực của đồng bào. Bác nảy ý định đi tìm đường cứu nước.

– Từ 1991-1920: giai đoạn tìm tòi, khảo nghiệm. Năm 1911, bác sang pháp, sau đó sang anh, mỹ.Năm 1913, người từ Mỹ qua lại anh tham gia công đoàn thủy thủ anh. Năm 1919, Người từ Anh lại sang Pháp vào lúc nổ ra CMT10 Nga, Pari sôi động tìm hiểu CMT10. Năm 1919, NAQ ra nhập Đảng xh Pháp. Tháng 8/1920, bác gửi bản yêu sách của nhân dân An-nam đến hội nghị Véc-xay. Đại hội 18 đảng xh pháp thảo luận vấn đề gia nhập quốc tế III, ngày 30/12/1920 HCM biểu quyết tán thành DCS pháp, trở thành người cộng sản.

-Từ 1921-1930: giai đoạn cơ bản hình thành tthcm về con đường CMVN. HCM hoạt động tích cực trong ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng xh pháp, xuất bản tờ Le parie nhằm truyền bá CNMLN vào vn. Năm 1923, bác sang Nga dự đại hội V quốc tế cộng sản. Năm 1924, bác về quảng châu tổ chức vn thanh niên cách mạng, mở lớp huấn luyện cán bộ. Năm 1927, bác xuất bản tác phẩm “Đường Kách Mệnh”. Tháng 2/1930, NAQ chủ trị hội nghị hợp nhất và thành lập ĐCSVN. Người trực tiếp thảo văn kiện “Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng”. Ngày 3/2/1930, HCM trở thành nhà tư tưởng theo đúng nghĩa. Lênin viết:”Một người chỉ xứng danh là nhà tư tưởng khi nào họ đi trước phong trào tự phát của quần chúng, chỉ đường cho nó. Họ biết giải quyết trước những vấn đề lý luận, chính trị, sách lược và tổ chức mà phong trào quần chúng húc vào 1 cách tự phát. Nhà tư tưởng là nhà lãnh đạo tự giác, biết nâng thành phong trào tự giác, phải có lý luận và biết tổ chức hoạt động”.

– Từ 1930-1941: giai đoạn vượt qua thử thách, kiên trì con đường đó xác định cho CMVN. Khẳng định quan điểm của HCM về CMVN. Thời kỳ này HCM và quốc tế cộng sản mâu thuẫn trong nhận thức về liên minh các lực lượng cách mạng. Điều này phản ánh quy luật của CMVN, giá trị và sức sống của tthcm.

– Từ 1941-1960: giai đoạn phát triển và thắng lợi của tthcm. CMT8 là thắng lợi đầu tiên của tthcm về CMVN. Thắng lợi 1954, thắng lợi mùa xuân 1975, bổ xung và phát triển tthcm về CMVN.

Tư tưởng HCM hỡnh thành trên cơ sở khoa học và cách mạng, có quá trình trưởng thành liên tục trong đấu tranh cách mạng chống kẻ thù, chống nhận thức chưa phù hợp giữa trong nước và quốc tế về CMVN, tthcm là một chân lý, có ý nghĩa lớn trong những năm đầu thế kỷ này.

* Ý nghĩa của việc học tập tthcm.

Tư tưởng HCM là CNMLN ở vn, là kết tinh của văn hóa phương đông, phương tây; kết tinh các giá trị tinh thần và truyền thống dtvn; là đạo lý của con người vn trong thời đại mới. Nội dung cốt lõi của tthcm là độc lập dt gắn liền với cnxh. Tư tưởng HCM là mẫu mực của tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo. Học tập và vận dụng sáng tạo tthcm là một trong những biện pháp rất quan trọng để nâng cao dân trí và bản lĩnh con người vn trong giai đoạn hiện nay.

Câu 3: TTHCM về Cách mạng giải phóng dân tộc.

Từ 1911-1920, HCM đã khảo sát các cuộc cách mạng lớn trên TG. Năm 1920, lần đầu tiên NAQ đọc được “Sơ thảo luận cương về các vấn đề dt và thuộc địa” của Lênin, NAQ đã sáng tỏ, tin tưởng và cảm động đến phát khóc “khi ấy ngồi 1 mình trong…” Với việc gia nhập quốc tế cộng sản III, NAQ đã từ CN yêu nước đến với CNMLN, từ giác ngộ dt đến giác ngộ giai cấp, từ người yêu nước trở thành người cộng sản. NAQ đã hoạt động lý luận và thực tiễn trong ĐCS Pháp và quốc tế cộng sản.

Năm 1924, NAQ đến Quảng Châu, sáng lập Hội VN thanh niên CM, xuất bản báo Thanh niên, mở lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ, đưa họ về nước hoạt động. NAQ xuất bản tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” 1925, “Đường Kách Mệnh” 1927. Tháng 2/1930, HCM soạn thảo Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt. Tất cả điều đó hình thành cơ bản tthcm về con đường cách mạng gpdt của VN.

1- CM gpdt muốn thắng lợi phải đi theo con đường CMVS.

Sở dĩ các phong trào yêu nước VN cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 thất bại là do chưa có đường lối và phương pháp đấu tranh đúng đắn. Khi CNĐQ đã thành một hệ thống TG, 1 mặt, chúng đấu tranh với nhau để giành giật thuộc địa, mặt khác, chúng thống nhất với nhau để đàn áp phong trào đấu tranh của các dt thuộc địa. Vì vậy trong cuộc đấu tranh chống CNĐQ, giai cấp vô sản chính quốc và nhân dân các dt thuộc địa có chúng 1 kẻ thù. CNĐQ như con đỉa hai vòi, 1 vòi bám vào chính quốc, 1 vòi bám vào thuộc địa. Muốn đánh thắng CNĐQ, phải đồng thời cắt cả hai vòi của nó đi. Vì vậy, CMVS ở chính quốc phải kết hợp với CM gpdt ở thuộc địa. “CM gpdt muốn thắng lợi phải đi theo con đường CMVS, tức là phải theo đường lối M-L”.

2- CM gpdt muốn thắng lợi phải do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.

Nguyễn Ái Quốc khẳng định, muốn gpdt thằng công “trước hết phải có đảng cách mệnh…đảng có vững cách mệnh mới thành công…đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt…Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Cách mạng giải phóng dân tộc phải có đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo theo nguyên tắc đảng kiểu mới của Lênin. Chỉ có cuộc cách mạng do chính đảng giai cấp vô sản lãnh đạo mới thực hiện được sự thống nhất giữa gpdt, gpgc, giải phóng con người (Bác phê phán các lãnh tụ yêu nước tiền bối chưa nhận thức được tần quan trọng của chính đảng cách mạng và 1 đường lối chính trị đúng đắn).

3-CM gpdt là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân, trên cơ sở liên minh công nông. 

CM gpdt là “việc chung của cả dân chúng”, phải đoàn kết toàn dân “sỹ, nông, công, thương đều nhất trị chống lại cường quyền”. Cốt của liên minh công-nông “công-nông là người chủ cách mạng ..công-nông là gốc của CM”.

Mục tiêu của cách mạng gpdt là đánh đổ Đế quốc pháp và đại địa chủ phong kiến giành độc lập dt. Cần vận động tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân VN đang bị mất nước. Thành lập mặt trận dt thống nhất, để huy động sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân. Công nông là gốc, liên minh với các giai tầng khác phải chú ý đến lợi ích của giai cấp công-nông của dt. Trong Sách lược vắn tắt, HCM nêu rõ:”Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, tân việt…kéo họ đi về phe VS giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chỉ, tư bản An-nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, chí ít là cho họ trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ”.

Do nhận thức khác nhau về yêu cầu, mục tiêu của CMVS ở các nước TB phát triển với cách mạng gpdt ở thuộc địa, lại bị chi phối bởi quan điểm tả khuynh của quốc tế cộng sản VI, các đại biểu của quốc tế cộng sản cho rằng NAQ đi theo chủ nghĩa dt mà “quên mất lợi ích đấu tranh giai cấp”. HCM vẫn nhấn mạnh: công-nông là gốc của cách mạng; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ cũng bị tư sản áp bức, song không cực khổ bằng công-nông; ba hạng người ấy là bầu bạn của công-nông”.”Trong khi liên lạc giai cấp, phải cận thận, không khi nào nhựng một chút lợi ích gì của công-nông mà đi vào thỏa hiệp”.

4-CM gpdt phải được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước CMVS ở chính quốc.

Trong phong trào cộng sản quốc tế đã từng tồn tại quan điểm cho rằng CM thuộc địa phụ thuộc vào CMVS ở chính quốc thắng lợi. Luận cương về phong trào CM ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nêu ở đại hội VI quốc tế cộng sản 1928: “chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc gpdt các thuộc địa khi giai cấp VS giành được thắng lợi ở các nước TB tiên tiến”. Ý kiến này đã giảm tính chủ động, sáng tạo của CM thuộc địa. Ngay từ đại hội V quốc tế cộng sản (1924), NAQ đã chỉ rõ: vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh giai cấp VS ở các nước đi xâm lược thuộc địa phải gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các nước thuộc địa…”

Dựa vào quan điểm của Mác, “sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”. NAQ đi đến kết luận: “công cuộc giải phóng anh, em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em.”

NAQ nhận thức thuộc địa là khâu yếu của CNĐQ và nhờ đánh giá đúng sức mạnh của chủ nghĩa yyn và tinh thần dt, ngày từ năm 1924, Người đã nói: CM thuộc địa không những không phục thuộc vào CMVS ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước”…”họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở Phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”. Đây là cống hiến sáng tạo của HCM vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa  Mac-Lenin. CMVN đã chứng minh luận điểm của HCM là đúng.

5-CM gpdt phải được thực hiện bằng con đường bạo lực, kết hợp lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang trong nhân dân.

– Cuộc khởi nghĩa của quần chúng phải có t/chất 1 cuộc khởi nghĩa vũ trang chứ không phải là nổi loạn. Do đó phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra ở thành phố, theo kiểu cách mạng châu âu. Phải được nước Nga ủng hộ, phải trùng hợp với cách mạng vô sản pháp, phải gắn mật thiết với sự nghiệp CMVS thế giới. Tháng 5/1941, Hội nghị TW8 khóa 1 nhận định: cuộc cách mạng Đông Dương kết thúc bằng 1 cuộc khởi nghĩa vũ trang, mở đầu có thể là cuộc khởi nghĩa từng phần, từng địa phương…mở đường cho cuộc khởi nghĩa lớn.

Để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, HCM chỉ đạo: Phải xây dựng căn cứ địa cách mạng, đào tạo, huấn luyện cán bộ, xây dựng tổ chức chính trị của quần chúng, lập đội du kích vũ trang, đón thời cơ, phát động cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 và giành thắng lợi chỉ trong vòng có hơn 10 ngày.

*Vận dụng tthcm về vấn đề dt trong công cuộc đổi mới hiện nay

1-Khởi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dt, nguồn động lực mạnh mẽ xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Hội nghị TW 6(khóa 7) đã xác định rõ nguồn lực và phát huy nguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó nguồn lực con người cả về thể chất và tinh thần là quan trọng nhất. Cần khơi dậy truyền thống yêu nước của con người VN biến thành động lực để chiến thắng kẻ thù, hôm nay xây dựng và phát triển kt.

2-Quán triệt tthcm nhận thức và giải quyết vấn đề dt trên quan điểm giai cấp.
Khẳng định rõ vai trờ, sứ mệnh ls của gcvs, của ĐCS, kết hợp vấn đề dt và giai cấp đưa CMVN từ gpdt lên CNXH. Đại đoàn kết dt rộng rãi trên nền tảng liên minh công-nông và tầng lớp trí thức do Đảng lãnh đạo. Trong đấu tranh giành chính quyền phải sử dụng bạo lực của quần chúng cách mạng chống bạo lực phản cách mạng. Kiên trì mục tiêu độc lập dt và CNXH.

3-Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dt, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dt anh em trong cộng đồng các dt VN.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của đảng nêu: vấn đề dt và đại đoàn kết dt luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Lịch sử ghi nhận công lao của các dt miền núi đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lươc. HCM nói: đồng bào miền núi đã có nhiều công trạng vẻ vang và oanh liệt.

Trong công tác đền ơn, đáp nghĩa HCM chỉ thị, các cấp bộ Đảng phải thi hành đúng chính sách dt, thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dt sao cho đạt mục tiêu: nhân dân no ấm hơn, mạnh khỏe hơn. Văn hóa sẽ cao hơn. Giao thông thuận tiện hơn. Bản làng vui tươi hơn. Quốc phòng vững vàng hơn.

ĐỀ CƯƠNG TRẢ LỜI BÀI TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH – ĐH LUẬT HÀ NỘI – PHẦN 2

Câu 4: Tư tưởng hcm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở VN. Vận dụng tư tưởng đó vào thực tiễn VN. 

Tthcm về CNXH có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân ái và tư tưởng cộng đồng làng xã VN, được hình thành từ lâu đời trong ls dựng nước và giữ nước của dt.

HCM đã từng biết đến tt CNXH sơ khai ở phương Đông, qua “thuyết đại đồng của ” Nho giáo, chế độ công điền ở phương đông là cơ sở kinh tế tạo nên sự cố kết cộng đồng bền chặt của người VN.

Khi ra nước ngoài khảo sát cách mạng thế giới, NAQ đã tìm thấy trong học thuyết Mác về lý tưởng một xh nhân đạo, về con đường thực hiện ước mơ giải phóng các dt bị áp bức khỏi ách nô lệ. Đến năm 1923, NAQ đến LX, lần đầu tiên biết đến “chính sách kt mới” của Lênin, được nhìn thấy thành tự của nhân dân xô-viết trên co đường xây dựng xh mới.

  1. Tthcm về CNXH

1-Cơ sở hình thành tthcm về CNXH ở VN

+ HCM tiếp cận tư tưởng CNXH từ quan điểm hình thái KT-XH của Mác. Luận điểm cơ bản của Mác-ăngghen về 1 xh mới với những đặc trưng bản chất là xóa bỏ chế độ người bóc lột người dựa trên tư hữu về tư liệu sx, xóa bỏ tình trạng bị áp bức về chính trị, nô dịch về tinh thần. Lênin đã phát triển luận điểm về CNXH ở điều kiện CNTB đã chuyển sang giai đoạn độc quyền, tức giai đoạn ĐQCN. CMT10 Nga năm 1917 đã làm cho lý luận trở thành hiện thực: CNXH với tư cách là 1 xh mới, một bước phát triển cao và tốt đẹp hơn so với CNTB. HCM khẳng định vai trò quyết định của sức sx đối với phát triển của xh cũng như đối với sự chuyển biến từ xh nọ sang xh kia. Bác cũng khẳng định, trong ls loài người có 5 hình thức quan hệ sx chính, và nhấn mạnh “không phải quốc gia dt nào cũng đều trải qua các bước phát triển tuần tự như vậy”. Bác sớm đến với tư tưởng quá độ tiến thẳng lên CNXH không trải qua giai đoạn TBCN.

+ HCM đã tiếp cận CNXH từ quan điểm duy vật ls khoa học, từ sự giác ngộ về sứ mệnh ls của GCCN-giai cấp trung tâm của thời đại. NAQ trực tiếp tham gia phong trào công nhân, khi trở thành người cộng sản Người đã tìm hiểu và viết nhiều bài về GCCN (ấn, nhật, trung, thổ nhĩ kỳ…). Tuy hoạt động ở nước ngoài người vẫn theo dõi phong trào công nhân ở VN. Năm 1922, lần đầu công nhân ở chợ lớn bãi công, NAQ coi đó là “dấu hiệu chứng tỏ GCCN đã bắt đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình”…”chúng ta phải ghi lấy dấu hiệu của thời đại”. “GCCN ở chính quốc không phải chỉ tỏ tình đoàn kết với những người anh em ở đấy bằng lời nói mà thôi, mà còn phải giác ngộ, giáo dục họ về ý thức tổ chức và pp tổ chức”.

+ HCM tiếp cận CNXH từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc

– Từ đặc điểm lịch sử dân tộc: nước ta không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ mang đậm dấu ấn phong kiến phương đông, mâu thuận giai cấp không gay gắt, quyết liệt, kéo dài, như ở phương tây, do đó hình thành quốc gia dt từ sớm; ngày từ buổi đầu dựng nước, chúng ta liên tục phải đấu tranh chống ngoại xâm, hình thành chủ nghĩa yêu nước truyền thống; Là nước nông nghiệp, lấy đất và nước làm nền tảng với chế độ công điền hình thành cộng đồng thêm bền chặt. Tất cả điều này là giá trị cơ bản của tinh thần và tư tưởng XHCN ở VN: tinh thần yêu nước, yêu thường đùm bọc trong họan nạn đấu tranh, cố kết cộng động quốc gia dt.

– Từ truyền thống văn hóa lâu đời, bản sắc riêng: đó là nền văn hóa lấy nhân nghĩa làm gốc, trừ độc, trừ tham, trọng đạo lý; nền văn hóa mang tính dân chủ; có tính chất khoan dung; một dt trọng hiền tại; hiếu học…

– Tư duy triết học phương đông: coi trọng hòa đồng, đạo đức nhân nghĩa. HCM quan niệm, CNXH là thống nhất với văn hóa, đạo đức, “CNXH là giai đoạn phát triển cảo hơn so với CNTB về mặt văn hóa và giải phóng con người”.

+ HCM tiếp cận CNXH từ yêu cầu thực tiễn của CMVN và xu hướng phát triển của thời đại.

– CMVN đầu thế kỷ 20 đặt ra yêu cầu khách quan là tìm 1 ý thức hệ mới đủ sức vạch ra đường lối và phương pháp CM đúng đắn đem lại thắng lợi cho CMVN. CMVN đòi hỏi có 1 giai cấp tiên tiến đại diện cho phương thức sx mới, có hệ tư tưởng độc lập, có ý thức tổ chức và trở thành giai cấp tự giác đứng lên làm cách mạng. HCM sớm nhìn thấy phong trào yêu nước VN đang rơi vào khủng hoảng về đường lối, vì vậy cách mạng chưa đem lại gpdt. Tư tưởng độc lập dt gắn liền với CNXH xuất phát từ thực tiễn CMVN.

– CMT10 Nga giành thắng lợi đã mở ra con đường hiện thực cho gpdt ở phương đông: độc lập dt gắn liền với CNXH. NAQ đã bắt đầu truyền bá tư tưởng CNXH trong dân.

+ HCM đến với CNXH từ tư duy độc lập sáng tạo tự chủ. Đặc điểm của định hướng tư duy tự chủ sáng tạo là: định hướng tư duy trên cơ sở thực tiễn; luôn tìm tận gốc của sự vật, hiện tượng; kết hợp lý trí khoa học và tình cảm cách mạng. Tư duy của HCM là tư duy rộng mở và văn hóa.

2-Quan điểm của HCM về đặc trưng, bản chất của CNXH.

– Về bản chất của CNXH:

Nêu khái quát luận giải của các nhà kinh điển về giai cấp thấp của CNXH.

Mác, Ăngghen dự kiến phác thảo về xh mới với 4 đặc trưng cơ bản. Lênin phát triển quan điểm của Mác và nêu 2 giai đoạn phát triển của phương thức sx mới: giai đoạn thấp và giai cấp cao.

Quan niệm của HCM về bản chất của CNXH thống nhất với các nhà kinh điển đã nêu. Bằng thực tiễn chỉ đạo xây dựng CNXH ở nước ta, vào thời điểm khác nhau bác nêu bản chất của CNXH là:

+ Làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, mọi người đều có công ăn việc làm, được ấm no và sống 1 đời hạnh phúc. Mục tiêu là giải phóng nhân dân lao động khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

+ Muốn có CNXH thì phải làm ìg? Nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triển sx. Sx là mặt trận chính của chúng ta.

+ Nhấn mạnh tính chất sở hữu công cộng: lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng làm của chung.

+ CNXH là không có người bóc lột người, ai cũng phải lao động, có quyền lao động, thực hiện công bằng, bình đẳng.

+ CNXH phải gắn với phát triển khoa học kỹ thuật và văn hóa của nhân dân.

+ CNXH là do quần chúng nhân dân tự xây dựng nên dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Có thể khái quát bản chất của CNXH theo tthcm: Chế độ do nhân dân làm chủ; có nền kt phát triển cao, dựa trên lực lượng sx hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sx; một xh phát triển cao về văn hóa, đạo đức; một xh công bằng, hợp lý; là công trình tập thể của nhân dân do nhân dân xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

– Quan niệm của HCM về mục tiêu và động lực của CNXH

Mục tiêu của CNXH:

+ Về chế độ chính trị: nhân dân làm chủ, quyền lực thuộc về dân, chính phủ là đầy tớ của dân; dân có quyền và có nghĩa vụ làm chủ. “Nhà nước ta là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo”.

+ Về kt: Xây dựng kt XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến; hình thành sở hữu nhà nước-nó phải lãnh đạo kt quốc dân. CNXH chỉ thắng CNTB khi nào có năng suất lao động cao hơn hẳn. Công nghiệp hóa-hiện đại hóa là quy luật tất yếu có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. “Làm trái với LX cũng là Mác-xít”.

+ Về văn hóa: có văn hóa phát triển cao (vừa mang tính chất XHCN, vừa mang tính chất dt-tức là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dt). Đó là nền văn hóa lấy hạnh phúc của đồng bào, dt làm cơ sở để phát triển, văn hóa “phải sửa đổi được thói tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”. “Phải làm cho ai cũng có lý tưởng, tự chủ, độc lập, tự do”.

+ Về mối quan hệ xh: thực hiện công bằng, dân chủ; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người; quan tâm thực hiện chính sách xh.

+ Về con người XHCN, phải có phẩm chất cơ bản sau:

Con người có tinh thần và năng lực làm chủ; có đạo đức XHCN: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có kiến thức khoa học kỹ thuật; có tinh thần sáng tạo, nhạy bén với cái mới. Đó cũng là động lực quan trọng nhất để xây dựng thành công CNXH.

Phải quan tâm đến phụ nữ (1 nửa của xh), phải giải phóng phụ nữ, xây dựng bình đẳng nam-nữ.

+ Về động lực của CNXH

– Phát huy các nguồn động lực cho việc xây dựng CNXH: vốn, khoa học công nghệ, con người (năng lực của con người); trong đó lấy con người làm động lực quyết định. “CNXH chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người”.

– Phát huy động lực con người trên cả hai phương diện: cộng đồng và cá nhân. Phát huy động lực của cộng đồng là phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết- động lực chủ yếu để phát triển đất nước. Phát huy sức mạnh của cá nhân trên cơ sở kích thích hành động gắn liền với lợi ích vật chất chính đáng của người lao động; “phải chăm nom đến chỗ ăn, chỗ ở, việc làm của nhân dân”. “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi. Nếu dân rét, đảng và chính phủ có lỗi”.

Tác động cả về chính trị và tinh thần trên cơ sở phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động và ý thức làm chủ. Sau vấn đề dân chủ là thực hiện công bằng xh, đặc biệt là trong phân phối phải theo nguyên tắc: “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”. Tránh bình quân, Bác nêu khẩu hiệu 3 khoán và 1 thưởng. Thưởng phạt công minh. “Khoán là 1 điều kiện của CNXH…”. Sử dụng vai trò điều chỉnh các nhân tố tinh thần khác như: văn hóa, đạo đức, pháp luật đối với hoạt động của con người.

+ Khác phục lực cản:

– Căn bệnh thoái hóa, biến chất của cán bộ;

– Chống chủ nghĩa cá nhân; Bác coi đó là kẻ thù hung ác của CNXH.

– Chống tham ô lãng phí; Bác coi đó là bạn đồng minh của thực dân phong kiến.

– Chống bè phái mất đoàn kết nội bộ; chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều; chống lười biếng…Theo Bác các căn bệnh trên sẽ phá hoại đọa đức cách mạng, làm suy giảm uy tín và ngăn trở sự nghiệp cách mạng của đảng, bác gọi đó là giặc nội xâm.

  1. BTthcm về con đường đi lên CNXH ở VN

1- Về thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN.

+ Tính khách quan của thời kỳ quá độ:

Mác cho rằng: hình thức quá độ trực tiếp từ xh TBCN lên CNXH diễn ra ở các nước TB phát triển nhất ở châu âu không thể là gì khác ngoài thực hiện CCVS.

Lênin cho rằng: quá độ gián tiếp không qua CNTB ở những nước tiểu nông cần có sự giúp đỡ từ bên ngoài của 1 nước công nghiệp tiên tiến đã làm cách mạng XHCN thành công và điều kiện bên trong phải có 1 chính Đảng vô sản lãnh đạo đất nước đi theo CNXH. Sự sáng tạo của Lênin bổ xung cho học thuyết Mác, xuất phát từ thực tiễn nước Nga, không chỉ là quá độ về chính trị.

+ HCM thống nhất với các nhà kinh điển và nhấn mạng hình thức quá độ “rút ngắn” áp dụng cho VN.

– Cần nhận thức rõ tính quy luật chung và đặc điểm ls cụ thể của mỗi nước khi bước vào thời kỳ quá độ: “tùy hoàn cảnh, mà các dt phát triển theo con đường khác nhau…Có nước thì đi thẳng tiến đến CNXH, có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên CNXH”.

– HCM xây dựng quan niệm quá độ gián tiếp căn cứ vào thực tiễn của VN:

HCM chỉ ra đặc điểm và mâu thuẫn của thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN: “Đặc điểm to lớn nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ từ 1 nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không kinh qua giai đoạn phát triển TBCN”. Đây là vấn đề mới cần nhận thức và tìm giải pháp đúng đắn để có hình thức, bước đi phù hợp với VN.

“Mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ” là mâu thuẫn giữa 1 bên là yêu cầu phải tiến lên xây dựng 1 chế độ xh mới có “công, nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến” với 1 bên là tình trạng lạc hậu phải đối phó với bao thế lực cản trở, phá hoại mục tiêu của chúng ta.”

Về độ dài của thời kỳ quá độ: lúc đầu dựa theo kinh nghiệm của LX và TQ, HCM dự đoán “chắc đôi ba, bốn kế hoạch dài hạn…” sau đó quan niệm được điều chỉnh: “xây dựng CNXH là 1 cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài”.

– Về nhiệm vụ ls của thời kỳ quá độ, Người nêu: phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH…, vừa cải tạo kt cũ vừa xây dựng kt mới, mà xây dựng là chủ yếu và lâu dài. HCM chỉ ra nhiệm vụ cụ thể về chính trị, kt, văn hóa, xã hội.

– Chính trị, cuộc đấu tranh gay go giữa cái cũ đang suy tàn và cái mới đang nảy nở…cho nên sự nghiệp xây dựng CNXH khó khăn và phức tạp.

Kinh tế, tạo lập những yếu tố, những lực lượng đạt được ở thời kỳ tư bản nhưng sao cho không đi chệch sang CNTB; sử dụng hình thức và phương tiện của CNTB để xây dựng CNXH. Kẻ thù muốn đè bẹp ta về kt thay bằng quân sự, vì vậy ta phải phát triển kt.

Tư tưởng, văn hóa, xh: bác nêu phải khắc phục sự yếu kém về kiến thức, sự bấp bênh về chính trị, sự trì trệ về kt, lạc hậu về văn hóa…tất cả sẽ dẫn đến những biểu hiện xấu xa, thoái hóa cán bộ, đảng viên…là khe hở CNTB dễ dàng lợi dụng. HCM nhấn mạnh “muốn cải tạo XHCN thì phải cải tạo chính mình, nếu không có tư tưởng XHCN thì không làm việc XHCN được”.

– Về nhân tố đảm bảo được thực hiện thắng lợi CNXH ở VN: phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo

của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước; phát huy tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị-xh; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức và tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng CNXH.

2-Về bước đi, biện pháp và phương thức xây dựng CNXH ở VN.

– Phải học tập kinh nghiệm của các nước anh em nhưng không áp dụng máy móc vì nước ta có đặc điểm riêng của ta. “Ta không thể giống Liên Xô…”;  “Tất cả các dt đều tiến tới CNXH không phải 1 cách hoàn toàn giống nhau”.

– Về bước đi: phải qua nhiều bước, “bước ngắn, bước dài, tùy theo hoàn cảnh,…chớ  ham làm mau, ham rầm rộ…Đi bước nào vững chắc bước ấy, cứ tiến dần dần”.

Bước đi nông nghiệp: từ cải cách ruộng đất, rồi lại đến hình thức hợp tác xã…

– Về bước đi công nghiệp, “…Ta cho nông nghiệp là quan trọng và ưu tiên, rồi đến tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhẹ, sau mới đến công nghiệp nặng”, “làm trái với LX cũng là mác-xít”

– Về phương pháp, biện pháp, cách thức tiến hành: người nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, chống giáo điều, rập khuôn phải tìm tòi cách riêng cho phù hợp với thực tiễn của VN. “Muốn đỡ bớt mò mẫm, đỡ phạm sai lầm thì phải học kinh nghiệm của các nước anh em” nhưng “áp dụng kinh nghiệm ấy 1 cách sáng tạo”, “ta không thể giống LX vì LX có phong tục tập quán khác, có lịch sử khác…”

Phương pháp xây dựng CNXH là “làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm”, như vậy CNXH không đồng nhất với đói nghèo, không bình quân, mà từng bước tiến lên cuộc sống sung túc, dồi dào”.

Cách làm, là đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân. Chính phủ chỉ giúp đỡ kế hoạch, cổ động. CNXH là do dân và vì dân. Người đề ra 4 chính sách: Công-tư đều lợi, chủ thợ đều lợi, công-nông giúp nhau, lưu thông trong ngoài. Chỉ tiêu 1, biện pháp 10, chính sách 20…có như thể mới hoàn thành kế hoạch.

  1. Vận dụng tthcm về CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở VN
  1. Kiên trì mục tiêu độc lập dt và CNXH trên nền tảng CNMLN và tthcm.
  1. Đổi mới là sự nghiệp của nhân dân, khởi dậy mạnh mẽ các nguồn lực nhất là nguồn lực nội sinh để công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
  1. Đổi mới phải kết hợp sức mạnh dt với sức mạnh thời đại.
  1. Xd đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, thực hiện cần kiệm xây dựng CNXH.

Câu 5: Tư tưởng hồ chí minh về đảng cộng sản VN

Những luận điểm cơ bản của HCM về ĐCSVN

CMVN đi từ tự phát đến tự giác, có tổ chức, có đường lối được giác ngộ CNMLN giành được thắng lợi to lớn là nhờ có ĐCSVN.

1-ĐCSVN là nhân tố quyết định thắng lợi của CMVN:

Vận dụng sáng tạo lý luận của CNMLN và kế thừa truyền thống dt, HCM khẳng định CM là sự nghiệp của quần chúng nhưng quần chúng phải được giác ngộ, được tổ chức và được lãnh đạo theo 1 đường lối đúng đắn mới trở thành lực lượng to lớn của CM – như con thuyền có người cầm lái thì vững vàng…thì thuyền mới vượt qua được gió to sóng cả để đi đến bến bờ. Bác nhấn mạnh”cách mạng trước hết phải có gì? Phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dt bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì con thuyền mới chạy”.

ĐCSVN là đội tiên phong của GCCN, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dt VN, đại diện trung thành cho lợi ích của GCCN, nhân dân lao động và dt VN. Đại hội 10 khẳng định diễn đạt như thế trong sự phát triển sáng tạo của tthcm, phù hợp với thực tế VN và đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân. Diễn đạt như thế hoàn toàn không hạ thấp bản chất GCCN của Đảng, mà chính là khẳng định bản chất GCCN của Đảng 1 cách sâu sắc hơn.

ĐCSVN là đội tiên phong dũng cảm và là đội tham mưu sáng suốt, tận tâm, tận lực phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, trung thành tuyệt đối với lợi ích của nhân dân và của dân tộc. Mục tiêu phấn đấu của Đảng là đ/lập cho dt, tự do cho nhân dân, h/phúc cho mọi người.

2- ĐCSVN là sản phẩm của sự kết hợp CNMLN với p/trào công nhân và phong trào yêu nước.

Đây chính là quy luật hình thành và phát triển ĐCSVN, đồng thời là sự bổ sung sáng tạo vào kho tàng lý luận của CNMLN. Phong trào yêu nước VN là phong trào rộng lớn nhất có trước phong trào công nhân từ nghìn năm ls. Nó cuốn hút mọi tầng lớp nhân dân, toàn dt đứng lên chống kẻ thù. Phong trào công nhân ngày từ khi mới ra đời đã kết hợp với phong trào yêu nước. Khác với những người cộng sản phương Tây, HCM và những người cộng sản VN đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với CNMLN, từ giác ngộ dt đến giác ngộ gc

Quy luật hình thành ĐCSVN trên cơ sở kết hợp vấn đề dt với giai cấp, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành đảng ở 1 nước thuộc địa. Đảng định hướng đúng đắn và thúc đẩy phong trào cách mạng. HCM tìm cách truyền bá CNMLN vào trong dân, vào phong trào yêu nước, phong trào công nhân. Bác viết “không phải mọi người yêu nước đều là cộng sản, việc tiếp nhận đường lối của ĐCS là cần thiết để xác định mục tiêu yêu nước đúng đắn. Mỗi người cộng sản trước hết phải là 1 người yêu nước tiêu biểu, phải truyền bá CNMLN vào trong dân, lãnh động công nhân và quần chúng t/hiện thắng lợi đường lối của Đảng”.

3- ĐCSVN là Đảng của giai cấp công nhân đồng thời là đảng của cả dân tộc Việt Nam.

Từ quy luật hình thành và phát triển đảng, HCM đã đi đến luận điểm ĐCSVN là đảng của giai cấp công nhân đồng thời là đảng của cả dân tộc việt nam.

Tháng 2/1951, Bác viết: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động của của dt là một. Chính và đảng là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động cho nên nó phải là đảng của cả dt VN”.

Năm 1961, Bác viết: “Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là đảng của dt không thiên tư, thiên vị”. Đảng mang bản chất giai cấp công nhân thể hiện ở nền tảng tư tưởng của đảng là CNMLN. Mục tiêu và đường lối của đảng là độc lập dt gắn liền với CNXH vì gpdt, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Đảng tuân thủ theo nguyên tắc đảng kiểu mới của Lênin. Đảng kết nạp những người ưu tú của giai cấp công nhâ, nông dân, trí thức và các thành phần khác mà họ đã được rèn luyện, thử thách, giác ngộ về đảng và tự nguyện chiến đấu trong hàng ngũ của đảng. Đảng đặc biệt chú ý giáo dục, rèn luyện đảng viên, giác ngộ giai cấp và dân tộc, nâng cao hiểu biết CNMLN. Đảng ta là sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính dt, lợi ích của giai cấp gắn với lợi ích của dt. “Nhân dân và cả dt thừa nhận đảng là người lãnh đạo duy nhất, đại biểu cho quyền lợi cơ bản và thiết thân của mình.”

4-ĐCSVN lấy CNMLN “làm cốt”

Theo bác “…chỉ có đảng nào theo lý luận cách mạng tiền phong, đảng cách mạng mới làm nổi trách nhiệm cách mạng tiền phong”, “đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải tuân theo chủ nghĩa ấy” “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”… CNMLN là học thuyết về giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dt bị áp bức và giải phóng con người nói chung, đồng thời là học thuyết về sự phát triển xh lên một hình thái cao hơn, xóa bỏ hoàn toàn bất công, nguồn gốc đẻ ra sự bóc lột, áp bức.

“CNMLN là lực lượng tư tưởng hùng mạnh chỉ đạo đảng chúng tôi, làm cho đảng chúng tôi có thể trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dt chúng tôi”.

Đảng lấy CNMLN làm cốt có nghĩa là Đảng ta nắm vững tinh thần của CNMLN, lập trường, quan điểm và phương pháp của CNMLN, đồng thời nắm vững tinh hoa văn hóa dt và trí tuệ thời đại vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Không máy móc, kinh viện, giáo điều.

5- ĐCSVN x/dựng theo nguyên tắc đảng kiểu mới của GCVS:

Có 5 nguyên tắc xây dựng đảng.

  1. a) Tập trung dân chủ, đây là nguyên tắc cơ bản của t/chức đảng.

Tập trung là thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành động. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, đảng viên chấp hành nghị quyết của tổ chức đảng “Đảng tuy nhiều người, nhưng khi tiến hành thì chỉ như 1 người”.

Dân chủ là “của quý báu của nhân dân”, là thành quả của cách mạng. Tất cả mọi người được tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Phải phát huy dân chủ nội bộ nếu không sẽ suy yếu từ bên trong.

  1. b) Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Tập thể lãnh đạo, nhiều người thì thấy hết mọi việc, hiểu hết mọi mặt của vấn đề, có nhiều kiến thức, tránh tệ bao biện, quan liêu, độc đoán, chủ quan.

Cá nhân phụ trách, sau khi bàn bạc kỹ lưỡng thì phải giao cho 1 người phụ trách (nếu là nhóm người thì có một người phụ trách chính) để tránh bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ dễ hỏng việc.

  1. c) Tự phê bình và phê bình: đầy là nguyên tắc sinh hoạt đảng, là quy luật phát triển đảng.

Tự phê bình là mỗi đảng viên phải tự thấy rõ mình để phát huy mặt ưu điểm, khắc phục nhược điểm. Tự phê bình mà tốt thì mới phê bình người khác được “muốn đoàn kết trong đảng, phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”. Đó là vũ khí sắc bén để rèn luyện đảng viên.

“Một đảng mà giấu diếm khuyết điểm đó là 1 đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là 1 đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Thực hiện tự phê bình và phê bình thật đúng và nghiêm túc không phải dễ dàng. Nó là vấn đề khoa học và nghệ thuật cách mạng. Cán bộ, đảng viên phải luôn dùng và khéo dùng. Để thực hiện tốt nguyên tắc này mọi người cần trung thực chân thành với nhau – với chính mình và với người khác, “phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”. Bác nhắc, tránh lợi dụng phê bình để nói xấu nhau, bôi nhọ nhau, đả kích nhau…

  1. d) Kỷ luật nghiêm minh và tự giác.

Đây là nguyên tắc đảng kiểu mới do Lênin đề ra, Đảng thực sự là một tổ chức chiến đấu chặt chẽ đề giành thắng lợi cho sự nghiệp độc lập dân tộc và CNXH. HCM coi trọng xây dựng kỷ luật nghiêm minh và tự giác trong Đảng để tạo nên sức mạnh to lớn của Đảng.

Nghiêm minh là thuộc về tổ chức đảng, kỷ luật đối với mọi đảng viên không phân biệt. Mọi đang viên đều bình đẳng trước kỷ luật đảng.

Tự giác là thuộc về mỗi cá nhân cán bộ đảng viên đối với đảng. Kỷ luật này do lòng tự giác của họ về nhiệm vụ của họ đối với đảng. Yêu cầu cao nhất của kỷ luật đảng là chấp hành các chủ trương, nghị quyết của đảng tuân theo nguyên tắc tổ chức, lãnh đạo và sinh hoat đảng. “Mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật đảng, mà cả kỷ luật của đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền cách

mạng”.

  1. e) Đoàn kết thống nhất trong đảng 

“Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của đảng ta, của nhân dân ta…phải giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Cơ sở để đoàn kết nhất trí trong Đảng chính là đường lối, quan điểm của đảng, điều lệ của đảng. “Ngày nay, sự đoàn kết trong đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”.

  1. f) ĐCSVN vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng lãnh đạo, dân làm chủ
  1. g) ĐCSVN phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới làm cho đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.

Câu 6: Tthcm về nhà nước của dân, do dân, vì dân. Vận dụng tthcm về xây dựng nhà nước trong điều kiện hiện nay.

*Tthcm về nhà nước của dân, do dân, vì dân.

1- Tthcm về nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền thì vấn đề cơ bản của chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ quyền lợi cho ai. Năm 1927, trong cuốn “Đường Kách Mệnh” bác chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm kách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao kách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay 1 bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc.” Sau khi giành độc lập, Người khẳng định, “nước ta là nước dân chủ, bao nhiều quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân…nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đó là điểm khác nhau giữa Nhà nước ta với nhà nước bóc lột từng tồn tại trong ls.

– Thế nào là nhà nước của dân?

Điều 1 Hiến pháp nước VNDCCH (năm 1946) nói: “Nước VN là 1 nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thế nhân dân VN, không phân biệt giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.”

Điều 32, viết “Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết…”thực chất đó là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ đề ra khá sớm ở nước ta.

“Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”.

Nhà nước của dân thì mọi người dân là chủ, người dân có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Những vị đại diện cho dân cử ra chỉ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là công bộc của dân.

– Thế nào là nhà nước do dân?

Nhà nước đó do nhân dân lựa chọn bầu ra những đại biểu của mình, nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để chi tiêu, hoạt động; nhà nước đó lại do dân phê bình xây dựng, giúp đỡ. Do đó Bác yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” nghĩa là khi cơ quan nhà nước không đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì nhân dân có quyền bãi miễn nó.

– Thế nào là nhà nước vì dân?

Đó là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần kiệm liêm chính. Trong nhà nước đó, cán bộ từ chủ tịch trở xuống đều là công bộc của dân.

“Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”

HCM chú ý mối quan hệ giữa người chủ nhà nước là nhân dân với cán bộ nhà nước là công bộc của dân, do dân bầu ra, được nhân dân thừa ủy quyền. Là người phục vụ, nhưng cán bộ nhà nước đồng thời là người lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân. “Nếu không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường”. Cán bộ là đày tớ của nhân dân là phải trung thành, tận tụy, cần kiệm liêm chính…, là người lãnh đạo thì phải có trí tuệ hơn người, sáng suốt, nhìn xa trông rộng, gần gũi với dân, trọng dụng hiền tài…Cán bộ phải vừa có đức vừa có tài.

2- Tthcm về sự thống nhất giữa bản chất GCCN với tính nhân dân và tính dt của nhà nước ta.

Nhà nước ta mang bản chất giai cấp, “là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông,

do GCCN lãnh đạo.” Bản chất GCCN biểu hiện ở chỗ:

– Nhà nước tà do đảng của GCCN lãnh đạo. Đảng lãnh đạo bằng những chủ trương, đường lối thông qua tổ chức của mình trong quốc hội, chính phủ, các ngành, các cấp của nhà nước; được thể chế thành pháp luật, chính sách, kế hoạch của nhà nước.

– Bản chất giai cấp còn thể hiện ở định hướng đưa nước ta đi lên CNXH. “Bằng cách phát triển và cải tạo nền kt quốc dân theo CNXH, biến nền kt lạc hậu thành 1 nền kt XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”.

– Bản chất giai cấp của nhà nước ta còn thể hiện ở nguyên tắc tổ chức cơ bản là nguyên tắc tập trung dân chủ. “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ…mới đọng viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời phải tập trung cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng CNXH.”

Bên cạnh dân chủ, bác cũng nhắc đến chuyên chính, “chế độ nào cũng có chuyên chính. Vấn đề là ai chuyên chính với ai?” “Dân chủ là của quý báu của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại…dân chủ cũng cần chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ.”

– Bản chất giai cấp của nhà nước ta thống nhất với tính nhân dân và tính dt. Tính thống nhất thể hiện ở chỗ:

+ Nhà nước dân chủ mới ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ với sự hy sinh xương máu của bao thể hệ CM.

+ Nhà nước ta vừa mang bản chất giai cấp vừa có tính nhân dân và tính dt vì nó lấy lợi ích của dt làm nền tảng và bảo vệ lợi ích cho nhân dân. Trong thời gian người lãnh đạo đất nước, nhờ sách lược mềm dẻo, cũng như Người dung nạp nhiều nhân sĩ, trí thưc, quan lại cao cấp của chế độ cũ vào bộ máy nhà nước đã thể hiện tư tưởng nhà nước tà là nhà của khối đại đoàn kết toàn dt.

+ Nhà nước ta vừa ra đời đã đảm nhiệm vai trò lịch sử là tổ chức toàn dân kháng chiến để bảo vệ thành quả của cách mạng.

3- Tư tưởng HCM về 1 nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ. 

Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ trước hết là 1 nhà nước hợp hiến. Vì vậy sau khi giành chính quyền, HCM đã thay mặt chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào và với thế giới khai sinh nhà nước VNDCCH. Chính phủ lâm thời có địa vị hợp pháp.

Sau đó Người bắt tay xây dựng hiến pháp dân chủ, tổ chức TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu, thành lập ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý là nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế. Trong nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật luôn đi đôi với nhau, đảm bảo cho chính quyền trở nên mạnh mẽ. Mọi quyền dân chủ phải được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật. Xây dựng một nền pháp chế XHCN đảm bảo việc thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm của HCM. Là người sáng lập nhà nước VN dân chủ, có công lớn trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp: một mặt, Người chăm lo hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật của nhà nước ta, mặt khác, Người chăm lo đưa pháp luật và cuộc sống, tạo cơ chế đảm bảo cho pháp luật được thi hành, cơ chế kiếm tra, giám sát việc thi hành của các cơ quan nhà nước và của nhân dân.

Để tiến tới 1 nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, có hiệu lực, Bác hồ cho rằng, phải nhanh chóng đào tạo, bồi

dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ viên chức nhà nước có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần kiệm liêm chính chí công vô tư, một tiêu chuẩn cơ bản của người cầm cân công lý.

Để đảm bảo công bằng dân chủ trong tuyển dụng cán bộ nhà nước, Người ký sắc lệnh ban hành quy chế công chức. Công chức theo chế độ chức nghiệp, vì vậy phải qua thi tuyển công chức để bổ nhiệm vào nghạch, bậc hành chính. Nội dung thi tuyển khá toàn diện bao gồm 6 môn thi: chính trị, kt, pháp luật, địa lý, ls và ngoại ngữ. Điều này thể hiện tầm nhìn xa, tính chính quy hiện đại, tinh thần công bằng dân chủ…của tthcm trong việc xây dựng nền móng cho pháp quyền VN.

4-Tthcm về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả

Tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức. Do tập quán của kt tiểu nông, muốn hình thành ngay 1 nhà nước pháp quyền là chưa được, vì vậy một mặt phải nhấn mạnh vai trò của luật pháp, đồng thời tăng cương tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân nhất là giáo dục đạo đức. Đạo đức và pháp luật là 2 hình thái ý thức xh có thể kết hợp với nhau. Bên cạnh giáo dục đạo đức, Người kịp thời ban hành pháp luật.

Kiên quyết chống ba thứ “giặc nội xâm” là tham ô, lãng phí, quan liêu. Sức mạnh và hiệu quả của luật pháp, một mặt dựa vào tính nghiêm minh của thi hành pháp luật, mặt khác dựa vào sự gương mẫu, trong sạch về đạo đức của người cầm quyền. Bác nói: “tham ô, lãng phí,quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân phong kiến,…tôi lỗi ấy cũng nặng như tội việt gian, mật thám.” Mác và ăngghen đã từng cảnh tỉnh cán bộ và nhân dân rằng chủ nghĩa quan liêu có thể dẫn các ĐCS cầm quyền đến chỗ “đánh mất 1 lần nữa chính quyền vừa giành được”. Lênin cũng viết “…chúng ta bị khốn khổ trước hết về tệ quan liêu. Những người cộng sản đã trở thành tên quan liêu. Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó.”

Vì vậy không thể nói đến 1 nhà nước trong sạch vững mạnh, hiệu quả nếu không kiên quyết, thường xuyên đẩy mạnh cuộc đấu tranh về ngăn chặn tận gốc những nguyên nhân đã gây ra nạn tham ô, lãng phí, quan liêu.

  • Vận dụng tthcm về xây dựng nhà nước VN ngang tầm nhiệm vụ của giai đoạn lịch sử mới.

1-Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế XHCN, đảm bảo sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân

dân.

2- Cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh.

3- Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với nhà nước; gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn đảng với cải cách bộ máy hành chính.

ĐỀ CƯƠNG TRẢ LỜI BÀI TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH – ĐH LUẬT HÀ NỘI – PHẦN 3

Câu 7: Những quan niệm cơ bản của HCM về đại đoàn kết dân tộc.

  1. Đại đoàn kết là vấn đề chiến lược, quyết định thành công của cách mạng

 

Tư tưởng ĐĐK không phải là thủ đoạn chính trị nhất thời, không phải là sách lược mà là vấn đề mang tính

chiến lược. Người xác định “đoàn kết là lẽ sinh tồn dân tộc ta, lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do, trái lại thì nước ta bị xâm lấn”

Từ khi Đảng ra đời, đoàn kết theo TTHCM thực sự là bộ phận hữu cơ trong đường lối CM của đảng, chỉ có đoàn kết mới có sức mạnh đưa CM tới thành công.

CM là cuộc chiến đấu khổng lồ, không tập hợp được rộng rãi lực lượng quần chúng thì sẽ không thể thắng lợi. Chủ nghĩa thực dân thực hiện âm mưu chia để trị, vậy ta phải đoàn kết muôn người như một, phải thực hiện chữ “đồng” thì mới thành công.

  1. Đại đoàn kết là đại đoàn kết toàn dân

Khái niệm “dân” của HCM: “Dân” theo HCM là đồng bào, là anh em một nhà. Dân là không phân biệt già trẻ, trai gái, giàu, nghèo. Dân là toàn dân, toàn thể dân tộc Việt Nam, bao gồm dân tộc đa số, thiểu số, có đạo, không có đạo, tất cả những người sống trên dải đất này. Như vậy dân theo HCM có biên độ rất rộng, vừa được hiểu là mỗi cá nhân, vừa được hiểu là toàn thể đồng bào, nhưng dân không phải là khối đồng nhất, mà là một cộng đồng gồm nhiều giai tầng, dân tộc có lợi ích chung và riêng, có vai trò và thái độ khác nhau đối với sự pháp triển XH. Nắm vững quan điểm giai cấp của Mác-Lênin, HCM chỉ ra giai cấp công nhân, nông dân là những giai cấp cơ bản, vừa là lực lượng đông đảo nhất, vừa là những người bị áp bức bóc lột nặng nề nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất, là gốc của CM.

Vai trò của dân: HCM chỉ rõ dân là gốc của CM, là nền tảng của đất nước, là chủ thể của ĐĐK, là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của CM.

Phương châm: ĐĐK theo HCM là ai có tài, có đức, có lòng phụng sự tổ quốc và nhân dân, thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì ta thật thà đoàn kết với họ.

Ba nguyên tắc đoàn kết:

– Muốn đoàn kết thì phải hiểu dân, tin dân, dựa vào dân, tránh phân biệt giai cấp đơn thuần, cứng nhắc, không nên phân biệt tôn giáo, dân tộc, cần xóa bỏ thành kiến, cần thật thà đoàn kết rộng rải. Người thường nói: Năm ngón tay có ngón vắn ngón dài, nhưng vắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy mươi triệu người cũng có người thế này người thế khác, dù thế này, thế khác cũng đều là dòng dõi của tổ tiên ta.

– Muốn ĐĐK phải khai thác yếu tố tương đồng, hạn chế những điểm khác biệt giữa các giai tầng dân tộc, TG. .. Theo HCM, đã là người Việt nam (trừ Việt gian bán nước) điều có những điểm chung: Tổ tiên chung, nòi giống chung, kẻ thù chung là CN thực dân, nguyện vọng chung là độc lập, tự do, hòa bình thống nhất. . . giai cấp và dân tộc là một thể thống nhất, giai cấp nằm trong dân tộc và phải gắn bó với dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân là giải phóng cho cả dân tộc.

– Phải xác định rõ vai trò, vị trí của mỗi giai tầng XH, nhưng phải đoàn kết với đại đa số người dân lao động (CN, ND, Tri thức, các tầng lớp lao động khác . . .), đó là nền, là gốc của ĐĐK, nòng cốt là công nông.

  1. Đại đoàn kết phải có tổ chức, có lãnh đạo

Đoàn kết là vấn đề chiến lược, sống còn, không phải là tập hợp ngẫu nhiên, cảm tính, tự phát, mà được xây dựng trên một cơ sở lý luận khoa học. Do đó phải có tổ chức, lãnh đạo để hoàn thành mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

Sau khi tìm ra con đường cứu nước, HCM luôn quan tâm tới việc hình thành các tổ chức để tập hợp mọi lực lượng, giai tầng cho phù hợp với yêu cầu của CM, trong đó Mặt trận Dân tộc Thống nhất là tổ chức rộng rãi nhất.

Đây là điểm khác nhau về cơ bản so với mọi phong trào chống pháp trước đây. Cụ thể :

Mặt trận Dân tộc Phản đế Đông Dương 1930-1931.

Mặt trận Dân chủ Đông Dương 1936-1939.

Mặt trận Việt Minh 1941-1951, Mặt trận Liên Việt (Hội Liên hiệp Quốc dân VN) 29.5.1946 (gồm những

người yêu nước không đảng phái lập liên minh yêu nước: Bùi Bằng Đoàn, Huỳnh Thúc Kháng). 07-03-51, V-Minh và Liên Hiệp ĐH hợp nhất lấy tên Liên Việt.

Mặt trận Tổ quốc Việt nam 09.55

Ở Miền Nam

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam 20.12.1960 ( Nguyễn Hữu Thọ chủ tịch).

Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam (luật sư Trịnh Đình Thảo, chủ tịch).

Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam 6-1969 (Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, chủ tịch).

Năm 1976, Mặt trận Tổ quốc VN ( miền bắc) + với MT dân tộc giải phóng MNVN + Liên minh các lưc lượng dân tộc dân chủ & HBVN đại hội, thống nhất thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Năm nguyên tắc xây dựng Mặt trận:

– Nền tảng là liên minh công nông

– Lấy lợi ích tối cao của dân tộc gắn với lợi ích của các tầng lớp lao động làm cơ sở. Đó là độc lập, thống nhất tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho người dân, dân giàu, nước mạnh. Đồng thời quan tâm tới lợi ích chính đáng của cá nhân, bộ phận, giải quyết thỏa đáng lợi ích chung và riêng.

– ĐĐK là lâu dài, chặt chẽ, thiết thực, rộng rãi, vững chắc.

– ĐĐK phải gắn bó với đấu tranh, đấu tranh để củng cố tăng cường đoàn kết, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, chống cô độc, hẹp hòi, đoàn kết một chiều

– Mặt trận phải do Đảng lãnh đạo, đây là nguyên tắc quan trọng nhất của ĐĐK.

+ Đảng là thành viên của mặt trận, nhưng là lưc lượng lãnh đạo Mặt trận, là linh hồn khối ĐĐK, Đảng là đảng giai cấp CN VN, vừa là đảng của nhân dân lao động và của dân tộc VN.

+ Đảng vừa là đạo đức, vừa là văn minh, Đảng phải tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, danh dự của dân tộc.

 

+ Đảng phải là bộ phận trung thành nhất, có năng lực lãnh đạo, có đường lối đúng mới xứng đáng địa vị lãnh đạo mặt trận. Đảng cần tuyên truyền giáo dục, nêu gương, lấy lòng chân thành để cảm hóa, khêu gợi tinh thần tự giác, có thái độ tôn trọng các tổ chức đoàn thể mặt trận, biết lắng nghe người ngoài Đảng. Trong Đảng phải xiết chặt đoàn kết, Đảng viên phải biết giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

 

  1. Đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế

 

Đoàn kết trên lập trường giai cấp CN nghĩa là bao hàm cả đoàn kết quốc tế, tạo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc với lợi ích quốc tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

CM giải phóng dân tộc và CM XHCN ở nước ta muốn thành công đòi hỏi phải đoàn kết quốc tế để tạo sức mạnh đồng bộ và tổng hợp.

Thực hiện đoàn kết quốc tế, HCM quan tâm đoàn kết cách mạng nước ta với các phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, với các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên thế giới, các phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ tiến bộ. Người đặc biệt chú trọng xây dựng khối đoàn kết 3 nước đông dương, mặt trận VN –LÀO –CPC, mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với VN.

Câu 8: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại bao gồm những luận điểm nào?

  1. Tính tất yếu của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

 

Trong quá trình hoạt động lãnh đạo CM HCM đã tổng kết giá trị và sức mạnh truyền thống của dân tộc trường tồn suốt 4000 năm là CN yêu nước, yếu tố cố kết cộng đồng, anh hùng, dũng cảm, sáng tạo, cần cù, thông minh, nhân ái, vị tha, khoan dung, độ lượng.

Tuy nhiên khi CNTB trở thành CNĐQ đi xâm lược thuộc địa thì chỉ dựa vào sức mạnh truyền thống sẽ không đủ sức giải phóng dân tộc.

Trong quá trình tìm đường cứu nước, người đã tiếp cận sâu sắc CNĐQ, người ra sức hoạt động để tập hợp đoàn kết các lực lượng bị áp bức trên thế giới chống chủ nghĩa ĐQ.

Đến với CN Mác-Lênin, người tìm thấy ở đó con đường cứu nước chân chính, trong đó độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, là chân lý của thời đại, CM tháng 10 Nga đã chứng minh điều đó.

Sau cách mạng tháng 10 CNXH phát triển thành một hệ thống, phong trào CS và CNQT, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội phát triển mạnh mẽ.

Từ đó HCM đã sớm có ý thức đặt CMVN vào quỹ đạo CM vô sản thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của lực lượng cách mạng tiến bộ của thời đại.

Nhờ sự kết hợp này mà những giá trị truyền thống dân tộc được nâng lên một trình độ mới, tạo nên những thắng lợi huy hoàng của CMVN.

  1. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại rất phong phú:

-Một là, Hồ Chí Minh bao giờ cũng đặt cách mạng Việt Nam, cũng như cách mạng của mỗi nước trong tình hình nhiệm vụ chung của cách mạng thế giới và tác động qua lại giữa chúng.

Hồ Chí Minh xác định cách mạng Việt Nam nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, tức là thực hiện giải phóng dân tộc tạo tiền đề đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần cùng cách mạng thế giới đánh đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Do vậy, cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn với cách mạng vô sản, vấn đề thuộc địa trở thành vấn đề quốc tế.

Khi gắn cách mạng giải phóng dân tộc với c thế giới, Hồ Chí Minh vẫn nhấn mạnh mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng về lịch sử, xã hội, chính trị, kinh tế, những đặc điểm riêng của phương Đông và phương Tây, để trên cơ sở đó vạch ra chiến lược đấu tranh cho thích hợp.

-Hai là, Hồ Chí Minh xác định vị trí, nhiệm vụ của cách mạng dân tộc với cách mạng thế giới.

Hồ Chí Minh chỉ ra cách mạng thuộc địa là một “cái cánh” của cách mạng vô sản. Chỉ có sự liên hiệp giữa các lực lượng này mới đánh thắng được chủ nghĩa đế quốc. Trong sự đoàn kết đấu tranh này, sức mạnh của cách mạng giải phóng dân tộc có vị trí to lớn trong cách mạng thế giới. Điều mới và sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người đã chứng minh được bọn đế quốc không chỉ áp bức, bóc lột nhân dân các nước thuộc địa mà còn thống trị, bóc lột nhân dân lao động và vô sản nước mình, chống lại phong trào cách mạng thế giới. Cho nên, nếu không có sự kết hợp sức mạnh của mỗi dân tộc với sức mạnh của nhân dân thế giới thì không thể giành thắng lợi được.

Hồ Chí Minh đã thực hiện tài tình, sáng tạo về kết hợp cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản và phong trào đấu tranh của nhân dân lao động chống bóc lột trên thế giới trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi đó xác định vị trí cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới và tác động trở lại của sức mạnh thời đại đối với cách mạng Việt Nam.

-Ba là, Hồ Chí Minh xác định phải xây dựng tình hữu nghị và hợp tác, sự đoàn kết giữa các dân tộc và vó các nước.

Tiếp thu và phát triển tư tưởng tiên tiến của nhân loại, nhất là của chủ nghĩa Mac-Lênin vể tình thương, về hữu nghị, hợp tác và đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh nhận thức rằng: xây dựng tình hữu nghị và hợp tácgữa các dân tộc là sự đòi hỏi cấp thiết của mỗi dân tộc, của toàn thể nhân loại để đấu tranh cho độc lập, tự do và phát triển. Suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh đã phấn đấu cho “tình hữu ái vô sản”. Nó được xây dựng trên cơ sở hợp tác toàn diện, chân thực, hai bên cùng có lợi, sự tôn trọng lẫn nhau giữa nhân dân tất cả các nước. Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý xây dựng tình hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng và các nước trong khu vực.

-Bốn là, Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong khi kết hợp sức mạnh thời đại phải chú ý dựa vào sức mình là chính.

Người chỉ ra, muốn người giúp mình thì trước hết mình phải tự giúp mình đã. Điều đó đòi hỏi, mỗi dân tộc phải xây dựng được lực lượng nội tại cho mình để tạo ra thế và lực mới. Khi có thế và lực thì mới có điều kiện để tiếp thu sự giúp đỡ và tranh thủ sức mạnh bên ngoài. Chỉ trên cơ sở như vậy, hợp tác quốc tế giữa các dân tộc mới thực hiện được.

Để hợp tác quốc tế có kết quả, theo Người cần phải:

  • Giữ vững độc lập tự chủ.
  • Giữ vững được định hướng chính trị của sự phát đất nước.
  • Chủ động, tỉnh táo, sáng suốt trong quan hệ quốc tế để phân biệt rõ đâu là bạn, đâu là thù.

Khi thế giới có nhiều biến đổi phức tạp như hiện nay, thì việc quán triệt và thực hiện các nguyên tắc, nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại càng cần thiết và có ý nghĩa to lớn.

* Thực tiễn Đảng vận dụng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nền tảng chính trị trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng trong những năm đổi mới đều khẳng định sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại do Người nêu lên. Nghị quyết Đại hội VII của Đảng ( 1991 )khẳng định ; Trong điều kiện mới càng phải coi trọng vận dụng bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trong những năm đổi mới, quan điểm “ Làm bạn với các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” của Hồ Chí Minh được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và vận dụng sáng tạo. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng định : Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.

Trước nguy cơ “ diễn biến hoà bình”, trước việc một số thế lực phản động lợi dụng vai trò giúp đỡ, viện trợ, đặt nhân quyền cao hơn chủ quyền để can thiệp vào công việc nội bộ các nước, hiện nay, hơn lúc nào hết chúng ta cần quán triệt lời dạy của Hồ Chí Minh : Mỗi một người phải nhớ rằng có độc lập mới có tự lập, có tự cường mới có tự do. Người còn chỉ rõ ; Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước là quan trọng nhưng không được ỷ lại, không được mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập. Vận dụng tư tưởng trên đây của Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế toàn cầu hoá và thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định : chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường.

Thực tiễn công cuộc đổi mới vì mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” ở nước ta trong suốt thời gian qua đã chứng minh rằng : Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn được Đảng ta quán triệt, vận dụng một cách sáng tạo và đưa lại những thành tựu to lớn, tạo thế và lực cho dân tộc ta vững bước vào thế kỉ XXI.

Câu 9: Nguồn gốc hình thành  nội dung tư tưởng nhân văn-đạo đức HCM? 

1- Truyền thống nhân văn của dt: “Thương người như thể thương thân”, “Người trong 1 nước phải thương nhau cùng”;

2- Truyền thống văn hóa Phương đông và phương tây: Sống có nhân nghĩa, luân lý, coi trọng đạo lý làm người. Đó là lòng từ bi của Phật giáo; đó là lòng báo ái của Thiên Chúa giáo; đó là tư tưởng nhân đạo của CMTS, nhất là CMTS pháp 1789, muốn tự do, bình đẳng, bác ái trong quan hệ giữa con người với con người…

3- Cơ sở hoạt động thực tiễn của người: Quan hệ với nhiều tầng lớp nhân dân trong nước, nhất là nhân dân lao động; Đi nhiều nước trên thế giới, cả nước ĐQTB, cả các nước thuộc địa; Thấu hiểu cuộc sống, tình cảnh, ước vọng của các tầng lớp nhân dân trong xh; Bản thân người cũng đã trải qua nhiều cảnh thăng trầm, vất vả, tủi nhục trong cảnh nước mắt, nhà tan…

4- Chủ nghĩa nhân văn mác-xít: nhất là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, khát khao giải phóng cho toàn xh, cho mọi người, nhất là người lao động bị áp bức, bóc lột…

* Nội dung tư tưởng nhân văn HCM?

Tư tưởng nhân văn HCM có những nội dung nội dung cơ bản sau đây:

1- Con người là vốn quý nhất – nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng:

HCM bao giờ cũng nói đến con người cụ thể, lịch sử. Trước khi là người cộng sản Bác nói đến con người trong phạm vi dt: con lạc, cháu hồng; con rồng, cháu tiên. Hai chữ đồng bào là khái niệm yêu thương con người, giống noi. Khi có ánh sáng của CNMLN, nhận thức về con người đã mở rộng “biên độ”. Con người mà Bác nói là nhân dân lao động bị áp bức, bị bóc lột. Trong quan hệ xh Bác chia làm hai giống người: những người làm điều thiện và những người làm điều ác, bác đề cập tình hữu ái vô sản.

Con người với ba nội dung thể hiện cốt lõi tư tưởng nhân văn HCM:

– Một là, sự cảm thông sâu sắc mọi đau khổ của con người nô lệ và con người cùng khổ.

– Hai là, quyết tâm hy sinh chiến đấu để g/phóng con người và đem lại tự do h/phúc cho con người.

– Ba là, tin tưởng tuyệt đối vào khả năng tự giải phóng con người và không ngừng rèn luyện, phát huy khả năng ấy.

HCM đề cập đến con người theo nhiều phạm vi khác nhau và nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Nghĩa hẹp, con người chỉ phạm vi gia đình, anh em, họ hàng, bạn bè. Nghĩa rộng, trong phạm vi quốc gia là đồng bào cả nước. Nghĩa rộng, trong phạm vi quốc tế là nhân loại. HCM đặt con người trong quan hệ gắn bó với khối thống nhất của cộng đồng dt, nhưng không phải là 1 khối đồng nhất mà bao gồm nhiều dt, nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp, có lợi ích riêng và chung, có thái độ và vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xh. Vì vậy, nói đến con người trước hết là nói đến dân, tuyệt đại đa số nhân dân bao gồm công nhân, nông dân, trí thức, vừa là lực lượng đông đảo trực tiếp tham gia lao động sx, vừa là lực lượng có tinh thần, tiềm lực cách mạng to lớn nhất. Theo bác con đường có ba hạng: tích cực, bình thường, kém.

HCM có tình yêu thương vô hạn đối với con người. Thương nước, thương dân, thương nhân loại bị áp bức và bác ham muốn tột bậc là “nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Tình yêu thương của bác luôn đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, nhận thức và hành động theo nguyên tắc của CNMLN, đồng cảm với các dt bị áp bức, HCM có khát vọng giải phóng không chỉ riêng cho dt mình mà cho các dt bị áp bức trên TG.

HCM yêu dân còn thể hiện ở niềm tin vào dân. CM là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, phải tin dân, dựa vào dân. Tình yêu thương vĩ đại của HCM còn thể hiện ở chỗ suốt đời đấu tranh cho tự do và hạnh phúc của mọi người. Lo cho thiên hạ trước, lo cho mình sau.

HCM yêu thương con người, quí trọng con người, kinh trọng nhân dân, chăm lo cho dân. Con người là vốn quí nhất, quí trọng sinh mạng của dân, trong đấu tranh cố gắng ít hy sinh tính mạng. Quý dân, tiết kiệm sức dân, tôn trọng sức và tài của dân, lắng nghe ý kiến của dân. Chăm lo đời sống của dân: “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm dù nhỏ mấy. Việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh.” Mọi chủ trương chính sách pháp luật phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của dân.

2- Con người vừa là mục tiêu của giải phóng, vừa là động lực của cách mạng:

Mục tiêu của cách mạng là giải phóng con người, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người; nhưng sự nghiệp giải phóng là do chính con người thực hiện. Với tư cách là mục tiêu của cách mạng, mọi chủ trương đường lối, chính sách của đảng phải vì dân, vì lợi ích của dân. Bao nhiêu lợi ích cũng vì dân. Dân trước hết là GCCN, liên minh với nông dân, trí thức cũng là một tầng lớp cần coi trọng. Với tư cách là động lực của cách mạng, cần phải tổ chức và thức tỉnh hàng chục triệu nông dân, phải thức tỉnh và tổ chức toàn thể GCCN. Có như vậy mới tạo ra sức mạnh to lớn để có thể làm cách mạng thành công. Lịch sử đã chứng minh, quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo cơ bản, có dân là có tất cả. Phải có chiến lược trồng người. “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Xuất phát từ sự đánh giá đúng con người và hiểu biết con người, theo bác cần khơi dậy tính cách tốt, thiện của con người. Phương đông, con người ngưỡng mộ đạo là gương “1 tấm gương sống còn hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền”.

  1. “Trồng người” là chiến lược hàng đầu của cách mạng:

HCM có quan điểm coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Con người có ý nghĩa chiến lược của sự nghiệp cách mạng ở VN.

Muốn xây dựng CNXH, trước hết cần có con người XHCN. Con người trong thời đại mới phải có học thức, chiếm lĩnh đỉnh cao của KHKT. Vì vậy CNXH mới đủ tiềm lực vật chất để chiến thắng CNTB, mới làm cách mạng thắng lợi.

Xây dựng con người mới phải toàn diện: có mục đích và lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có chính kiến. Xây dựng con người có ý thức làm chủ, tự lực, tự cường, gắn quyền lợi và nghĩa vụ. Luôn phấn đấu cho độc lập dt và CNXH. Con người có niềm tin và lạc quan cách mạng. Con người có trí tuệ, trình độ học vấn cao, ngày càng tiến bộ. Con người có sức khỏe. Con người có lòng khoan dung, độ lượng. Dân tộc ta “chỉ đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Để trồng người, xây dựng con người vừa có cá tính vừa có thể phát triển mọi mặt phải có nhiều biện pháp. Theo HCM, giáo dục là biện pháp quan trọng nhất. Cần hiểu mối quan hệ giữa “tính người ” và giáo dục.

Tính người vốn thiện và ác, và đây là phạm trù được nho giáo quan tâm. HCM cho rằng “tính người ” do giáo dục và nó gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người.

“Óc của trẻ em trong sạch như tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ. Vì vậy sự học tập ở trong trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên”.

Nghị quyết Trung ương II, khóa VIII (1996) có nêu định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 và 2020. Cần đưa nghị quyết đi vào cuộc sống.

HCM coi trọng việc nâng cao dân trí cho toàn dt. Người hướng mọi hoạt động văn hóa, giáo dục, tư tưởng vào việc rèn luyện dt ta thành dt cách mạng và văn minh. HCM nêu khẩu hiệu: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt. Bác đi đầu trong việc khai dân trí. Mở các lớp xóa mù chữ, các lớp bình dân học vụ. Người nói: “một dân tộc dốt là 1 dân tộc yếu”.

Câu 10: Tthcm về đạo đức? Vận dụng tư tưởng nhân văn – đạo đức HCM trong điều kiện đất nước hiện tại?

  1. Vị trí, vai trò, sức mạnh của đạo đức:

Đạo đức là 1 trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của HCM trong sự nghiệp CMVN.

– Đánh giá của đảng ta về tư tưởng đạo đức của HCM:

Năm 1951, Đại hội 2, tư tưởng của HCM là đường lối chính trị của đảng ta; đạo đức của HCM là đạo đức của đảng; tác phong của HCM là nền nếp làm việc của đảng ta.

Năm 1960, đại hội 3, toàn đảng ra sức học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong của HCM.

Năm 1982, Đại hội 5 toàn đảng học tập 1 cách có hệ thống tư tưởng, đạo đức, tác phong của HCM.

Năm 2001, đại hội 9 phát động phong trào học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, tác phong của HCM. Tư tưởng của Chủ tịch HCM nói chung là nền tảng tư tưởng và kim chỉ Nam cho hành động của đảng ta. Tư tưởng đạo đức là bộ phận kết tinh của tư tưởng HCM nói chung.

– Các thế hệ người vn phấn đấu cho độc lập dt đến với HCM trước hết là đến với tư tưởng đạo đức của người. “Sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gường Bác hồ vĩ đại” là khẩu hiệu chung của người VN.

– Tư tưởng đạo đức và bản thân đạo đức của HCM là kết tinh đạo đức của dt, của nhân loại. HCM là điểm sáng về đạo đức đối với TG và đối với VN. Bác nói: “Đối với phương đông, một tấm gương sống còn giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền.”

– Bác hồ luôn kết hợp giáo dục đạo đức với giáo dục lý tưởng cách mạng.

– Vấn đề đạo đức của HCM được quan tâm toàn diện: đối tượng, phạm vi, tất cả các lĩnh vực hoạt động người.

HCM coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối. Như đối với con người, sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Bởi lẽ con đường đi đến độc lập dt và CNXH là con đường dài, đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mỗi người, mỗi thế hệ và nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng ấy là công việc thường xuyên của toàn đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi người trong xh ta.

Theo Lênin, “đạo đức là những gì góp phần phá hủy xh cũ của bọc bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xh mới của những người cộng sản.”

HCM cho rằng, đảng “là đạo đức, là văn minh”, thì mới hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của minh. Đảng cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dt mình và của thời đại. Trí tuệ là sự hiểu biết đúng đắn về CNMLN, tri thức hiện đại của nhân loại, thực tiễn VN và TG, những quy luật phát triển của CMVN, những hiểu biết để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Đạo đức là những phẩm chất mà con người cần có để tham gia vào cuộc đấu tranh cho độc lập dt và CNXH. Muốn làm cách mạng thì con người cần có tâm trong sáng, đạo đức cao đẹp đối với GCCN, nhân dân lao động, với cả dt. Cái tâm ấy phải thể hiện trong các mối q/hệ xh hằng ngày với dân, với nước, với đồng chí, đồng nghiệp, với mọi người xung quanh mình. Phải có tâm có đức mới giữ được CNMLN và đưa chủ nghĩa MLN vào trong cuộc sống.

HCM cũng quan tâm giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân lao động. Tùy theo từng thời kỳ cách mạng mà người đề ra những yêu cầu đạo đức sát hợp để mọi người cùng phấn đấu. Trong cuốn Đường kách mệnh, bài đầu tiên nói về tư cách người cách mệnh. HCM đã nêu 1 quan điểm lớn: phải có cái đức để đi đến cái trí, và khi có trí thì cái đức đảm bảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, chấp nhận, đi theo. Có đức nhưng phải có tài, hồng và chuyên phải kết hợp. Đạo đức là gốc, là vũ khí mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh vì độc lập dt và CNXH.

2.Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người VN trong thời đại mới.

+ Trung với nước, hiếu với dân.

Trong mối quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân dân, với dt là mối quan hệ lớn nhất. Trung, hiếu là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất.

Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng, đạo đức truyền thống VN và phương đông. HCM vận dụng và đưa vào nội dung mới. Trước kia trung là trung với vua, vì vua và nước là một, nước là của vua. Con hiếu chỉ trong phạm vi gia đình là con cái có hiếu với cha mẹ. HCM đã kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống và vượt trội. Trung với nước là trung thành với sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Nước là của dân, còn nhân dân là chủ của đất nước. “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân”.

Trung với nước, hiếu với dân là suốt đời phấn hy sinh độc lập tự do của tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Bác vừa kêu gọi hành động vừa định hướng chính trị – đạo đức cho mỗi người VN.

Đối với cán bộ đảng viên phải suốt đời đấu tranh cho đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt của đạo đức cách mạng. Phải tuyệt đối trung thành với đảng, với dân, phải tận trung, tận hiếu, thì mới xứng đáng vừa là đầy tớ trung thành, vừa là người lãnh đạo của dân; dân là đối tượng để phục vụ hết long. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí để dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đát nước.

+ Yêu thương con người.

Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp truyền thống nhân nghĩa với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ, qua hoạt động thực tiễn, HCM đã xác định tình yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Tình yêu rộng lớn dành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột. HCM chỉ ham muốn cho đất nước được hoàn toàn độc lập, dân được tự do, mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chỉ có tình yêu thương con người bao la đến như vậy mới có cách mạng, mới nói đến CNXH và CNCS.

Tình yêu thương con người còn là tình yêu bạn bè, đồng chí, có thái độ tôn trọng con người, điều này có ý nghĩa đối với người lãnh đạo. Nghiêm khắc với mình, độ lượng với người khác. Phải có tình nhân ái với cả những ai có sai lâm, đã nhận rõ và cố gắng sửa chữa, đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi con người. Bác căn dặn đảng phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình chân thành.

+ Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư.

Cần là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo năng suát cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của con người.

Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của nhân dân, của đất nước, của bản thân mình. Tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái to; “không xa sỉ, không hoang phí, không bừa bãi”.

Liêm là “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân; không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân”. Phải trong sạch, không tham lam. Không tham địa vị, không tham tiền, không tham sung sướng. Không tâng bốc mình. Chỉ có một thứ là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Hành vi trái với liêm là: …cậy quyền thế mà đục khoét, ăn của dân, hoặc trộm của công làm của riêng. Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là trộm vị. Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm là tham úy lạo. Cụ không nói: người mà không liêm, không bằng súc vất. Cụ mạnh nói: ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy.

Chính là thẳng thắng, đứng đắn. Đối với mình, với người, với việc.

-Đối với mình, không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn kiểm điểm mình để phát huy điều hay, sửa đổi điều dở.

-Đối với người, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới; luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đ/kết, không dối trá, lừa lọc.

– Đối với việc, để công việc lên trên việc tư, làm việc gì cho đến noiư, đến chốn, không ngại khó, nguy hiểm, cố gắng làm việc tốt cho dân cho nước.

Chí công vô tư, làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì nên đi sau. “Phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Tính tốt có thể gồm 5 điều: nhân, nghĩa, trí dũng, liêm. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là để vững vàng qua mọi thử thách: “Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể lay chuyển, uy vũ không thể khuất phục”.

+ Tinh thần quốc tế trong sáng.

Đó là tinh thần quốc tế vô sản, bốn phương vô sản đều là anh em. Đó là tinh thần đoàn kết với các dt bị áp bức, với nhân dân lao động các nước. Đó là tinh thần đoàn kết của nhân dân VN với tất cả những người tiến bộ trên TG vì hòa bình, công lý và tiến bộ xh. Sự đoàn kết là nhằm vào mục tiêu lớn của thời đại hòa bình, độc lập dt, dân chủ và tiến bộ xh.

3.Những nguyên tắc xh đạo đực mới:

+ Nói đi đôi với làm. Nói và làm luôn đi đôi với nhau đem lại hiệu quả thiết thực cho chính mình và cho người khác. Nói mà không làm gọi là đạo đức giả. Từ đó Bác trong giáo dục đạo đức vấn đề nêu gương được đặt ra. “Trước mắt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà tà được họ yêu mến. Quần chúng chỉ yêu mến những người có tư cách đạo đức”.

+ Xây đi đôi với chống. Xây dựng đạo đức mới trước hết phải giáo dục những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức từ gia đình, nhà trường, xh. Phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh ở mọi người. Bên cạnh đó, phải không ngừng chống lại những cái xấu, cái sai, vô đạo đức. Để xây và chống có kết quả phải tạo thành phong trào rộng rãi, phải chống lại chủ nghĩa cá nhân.

+ Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. Mỗi người phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức đó là công việc kiên trì bền bỉ, không thể chủ quan tự mãn. “Một dt, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đãi, có sức hấp dẫn lớn, không nhất thiết hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Mỗi người ai cũng có điều tốt và dở, thiện và ác. Phải đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi con người. Việc tu dưỡng đạo đức phải thực hiện trong thực tiễn hoạt động hằng ngày, trong lao động sx, chiến đấu, sinh hoạt…và thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày.

ĐỀ CƯƠNG TRẢ LỜI BÀI TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH – ĐH LUẬT HÀ NỘI – PHẦN 4

Câu 11: Tư tưởng Hồ chí minh về văn hóa?

  1. Những quan điểm chung của HCM về văn hóa.

+ Văn hóa là toàn những sáng tạo và phát minh. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nói mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.

Văn hóa là bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là đời sống tinh thần của xh. Chính trị, xh được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển. HCM đã vạch ra đường lối: phải tiến hành cách mạng chính trị trước, cụ thể là cách mạng gpdt để giành chính quyền, từ đó giải phóng văn hóa, mở đường cho văn hóa phát triển. “Xã hội thể nào thì văn hóa thế ấy. Văn nghệ của ta rất phong phú, nhưng dưới chế độ thực dân và phong kiến nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được.”

Xây dựng kt để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa. “Văn hóa là kiên trúc thượng tầng; nhưng cơ sở hạ tầng của xh có kiết thiết rồi thì văn hóa mới được kiến thiết và có đủ điều kiện phát triển được”. Như vậy, văn hóa phải ở trong kt và chính trị. Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế.

Trong kháng chiến, Người định hướng hoạt động văn hóa, thực hiện khẩu hiệu: “văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa”, những người hoạt động văn hóa cũng là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa.

+ Chức năng của văn hóa.

– Một là, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người. Người thường xuyên quan tâm đến bồi dưỡng lý tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Đó là chức năng cao quý của văn hóa. HCM nói phải làm cho văn hóa soi đường cho quốc dân đi, đi sâu vào tâm lý quốc dân, để xây dựng tình cảm cho con người.

– Hai là, nâng cao dân trí, “mọi người phải hiểu biết quyền lợi của mình…phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. Khi miền bắc quá độ lên CNXH, người nói “chúng ta phải một nước dốt nát, cực khổ thành 1 nước văn hóa cao và đời sống vui tươi hạnh phúc”.

– Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh, luôn hướng con người vươn tới chân, thiện, mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân mình.

+ Tính chất của văn hóa:

Tính dân tộc

Tính khoa học

Tính đại chúng

1- Tthcm về 1 số lĩnh vực chính của văn hóa

+ Văn hóa giáo dục: Trong nền giáo dục phong kiến, kinh viện xa rời thực tiễn, coi kinh sách của thánh hiền là đỉnh cao của tri thức. Giáo dục phong kiến hướng tới kẻ sĩ, người quân tử, bậc trượng phu, phụ nữ bị tước quyền học. Trong nền giáo dục thực dân, không mở mang trí tuệ, thực hiện ngu dân. Đó là nền văn hóa đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát.

Nền giáo dục của nước VN sau khi được độc lập là nền giáo dục mới.

– Mục tiêu của giáo dục là thực hiện cả ba chức năng của văn hóa bằng dạy và học. Đó là đào tạo những con người mới có đức có tài. Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Cải tạo tri thức cũ, đào tạo tri thức mới. Đào tạo những lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng x/dựng đất nước giàu mạnh và văn minh. Mở mang dân trí từ việc xóa nạn mù chữ, chống giặc dốt, kết hợp phổ cập và nâng cao.

– Phải cải cách giáo dục, xây dựng hệ thống trường, lớp với chương trình và nội dung dạy học thật khoa học, hợp lý, phù hợp với bước phát triển của ta. Phải luôn gắn giáo dục với thực tiễn VN, học đi đôi với hành, học kết hợp với lao động sản xuất. Giáo dục phải có tính định hướng đúng đắn, rõ ràng, thiết thực

– Học ở mọi nơi, mọi lúc, học mọi người; học suốt đời; coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại. “Học không biết chán, học không bao giờ đủ, còn sống còn phải học”

– Phải không ngừng nâng cao dân trí. Học tập văn hóa gắn với học tập khoa học kỹ thuật.

+ Văn hóa văn nghệ:

– Văn nghệ là mặt trận, nghệ sỹ là chiến sỹ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xh mới, con người mới. “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”. “Cũng như các chiến sỹ khác, chiến sỹ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự tổ quốc, phụng sự kháng chiến, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh. Để làm tròn nhiệm vụ, chiến sỹ nghệ thuật cần có lập trường vững vàng, tư tưởng đúng…đặt lợi ích của kháng chiến, của tổ quốc, của nhân dân lên trên hết.”

– Văn nghệ phải gắn với thực tiễn của đời sống nhân dân. “Thật là 1 thế giới thần tiên. Nhưng tôi nhớ mường tượng như Lỗ Tấn, nhà đại văn hào của cách mạng Trung Hoa đã nói 1 câu đại ý như thế này: Người trần lên tiên có lẽ cũng thích thật. Nhưng nhìn mãi cái đẹp không thay đổi rồi cũng thấy chán, thấy nhật nhẽo và mới biết rằng muốn tìm thấy sự thay đổi, sự ham mê thật thì phải trở về với cuộc sinh hoạt thực tại của con người.” Thực tại đem lại nguồn sinh khí vô tận cho văn nghê. Chiến sỹ văn nghệ phải thật hòa mình với quần chúng và không được quên rằng “…chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng cho sáng tác của nhà văn bằng những nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó-thì nhân dân cũng sẽ quên anh ta.” Thực tiễn không chỉ là nguồn nuôi dưỡng những sáng tác, mà còn là những tinh hoa trong sáng tác dân gian đã được chắt lọc từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nhân dân cũng sáng tác văn hóa văn nghệ và hưởng thụ văn nghệ, chúng ta thường gọi là sáng tác dân gian. Những sáng tác ấy là “những hòn ngọc quý”.

– Phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại mới của đất nước và của dân tộc. Phải phản ánh cho hay, cho chân thật sự nghiệp của cách mạng của nhân dân. “Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì bổ ích”. “Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn 1 món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần cho mọi người thấy nhiều loại hoa đẹp.” Như vậy văn nghệ phản ánh chân thực những gì đã có trong đời sống của nhân dân, mà còn hướng dẫn nhân dân loại bỏ cái giả, cái sai, cái không đúng, để vươn tới cái lý tưởng, đó chính là sự phản ánh có tính hướng đích của văn nghệ. Chính điều đó mở đường cho sáng tạo không giới hạn của văn nghệ sĩ.

+ Văn hóa đời sống

Quan điểm xây dựng đời sống mới thực sự là quan điểm độc đáo của HCM về văn hóa. Khái niệm đời sống mới bao gồm cả đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới, ba nội dung ấy có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu.

– Đạo đức mới. Theo HCM là thực hành đời sống mới cần, kiệm, liêm chính.

– Lối sống mới. Đó là lối sống văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dt và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Cần phải “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông, trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”. Năm cách phải sửa đổi…có nghĩa là nói về mặt văn hóa của ăn, mặc, ở…Mặt văn hóa của ăn, mặc, ở…phụ thuộc vào lối sống có văn hóa hay không có văn hóa của con người.

– Nếp sống mới. Quá trình xây dựng lối sống mới làm cho nó dần dần trở thành thói quen ở mỗi người, thành phong tục tập quán của cả cộng đồng trong phạm vi địa phương hay cả nước gọi là nếp sống mới. Nếp sống mới phải kế thừa những truyền thống tốt đẹp, những thuần phong mỹ tục lâu đời của nhân dân ta. Cái gì cũ mà xấu thì bỏ. Cái gì cũ mà không xấu thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm. Cái gì mới mà hay thì phải làm.

* Tthcm về xây dựng nền văn hóa mới, con người mới? Vận dụng tthcm trong việc xây dựng nền văn hóa mới hiện nay?

1- Tthcm về xây dựng nền văn hóa mới, con người mới:

– Tthcm về xây dựng nền văn hóa mới bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó có 3 lĩnh vực chính là văn hóa giáo dục, văn hóa nghệ thuật và văn hóa đời sống mới. Người nói: Xã hội XHCN mà chúng ta sẽ xây dựng là 1 xh có một trình độ phát triển kt rất mạnh và ngày càng hiện đại, đồng thời còn có 1 trình độ văn hóa rất cao, rất toàn diện và rất sâu sắc. Nền văn hóa mới đó thể hiện sự văn minh và tính ưu việt của CNXH. Nhân dân lao động là chủ thể sáng tạo và cũng là chủ thể hưởng thụ nền văn hóa XHCN đó.

– Tthcm rất coi trọng vấn đề xây dựng con người mới tương ứng với 1 chế độ xh mới. Người đã nhiều lần chỉ rõ: Muốn xây dựng CNXH phải có con người mới XHCN. Người coi việc xây dựng con người mới XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực của CNXH.

Con người mới XHCN có các đặc trưng cơ bản sau đây:

+ Có ý thức và trình độ, năng lực làm chủ.

+ Là người lao động mới, có tri thức, có năng lực thực hành, có sức khỏe, làm việc có hiệu quả và chất lượng.

+ Là người sống có văn hóa, có tình nghĩa, đạo lý, có kỷ luật và trách nhiệm;

+ Là người có tinh thần yêu nước trong sáng và tinh thần quốc tế chân chính;

2-Vận dụng tthcm trong việc xây dựng nền văn hóa mới hiện nay:

Vận dụng tthcm về văn hóa, trong nhiều nghị quyết của Đảng và nhà nước, nhiều lần đã chỉ rõ: phải chú trọng xây dựng và phát triển nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dt và xây dựng con người mới XHCN.

Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới theo tthcm tron giai đoạn hiện nay là:

  1. a) Giáo dục tinh thần yêu nước và yêu CNXH, có ý chí phấn đấu vươn lên làm cho đất nước thoát khỏi tình trạng kt nghèo nàn lạc hậu, làm cho đất nước VN trở thành một quốc gia dân giàu, nước mạnh, xh công bằng dân chủ và văn minh, sánh vai cùng các quốc gia tiên tiến trên TG.
  1. b) Bồi dưỡng TG quan, phương pháp luận của CNMLN và tthcm.
  1. c) Giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống cao đẹp, có nhân phẩm, lương tâm, danh dự,

giản dị, tiết kiệm. Sống và làm việc theo p/luật.

  1. d) Về nhân văn: bồi dưỡng tinh thần nhân ái, khoan dung, đoàn kết, tương thân tương ái, chân thành giúp đỡ lẫn nhau
  1. e) Về văn hóa: có thói quen tự học chủ động sáng tạo; biết tự rèn luyện mình, nâng cao trình độ dân trí về mọi mặt, phù hợp với tri thức thời đại; vươn lên chiếm lĩnh các thành tựu về khoa học kỹ thuật tiên tiến trên TG; biết giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dt trong quá trình hội nhập.
  1. f) Dũng cảm đấu tranh chống và xóa bỏ từng bước các tệ nạn và tiêu cực xh, làm cho môi tường xh ngày càng trong sạch lành mạnh…

Câu 12: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân như thế nào?

+ Nhà nước của dân theo quan điểm của Hồ Chí Minh.

Nhà nước của dân là Nhà nước tập trung mọi quyền lực vào tay nhân dân. Điều 1, Hiến pháp năm 1946 do Hồ Chí Minh làm trưởng ban soạn thảo khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của đoàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Điều 32 của Hiến pháp 1946 cũng quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phán quyết”. Dân cũng có quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội, đồng thời thông qua Quốc hội để bầu ra Chính phủ. Dân cũng có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu đó tỏ ra không xứng đáng.

“Nhà nước của dân là Nhà nước do dân làm chủ. Người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là người dân có quyền tự do sống và làm việc theo khả năng và sở thích của mình trong phạm vi pháp luật cho phép. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành được các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của nhân dân. Trong Nhà nước dân chủ, dân là chủ còn cán bộ nhà nước, từ chức Chủ tịch nước trở xuống đề là “công bộc” của nhân dân. Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ không được ỷ thế lộng quyền: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, còn khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”.

+ Nhà nước do dân. Đó là Nhà nước do dân dựng xây lên. Cán bộ trong các ban, ngành của Chính phủ do dân lựa chọn, bầu ra. Tài chính của Chính phủ do dân đóng góp. Đường lối lãnh đạo, cơ cấu tổ chức của Nhà nước do dân góp ý dựng xây. Các hoạt động của Nhà nước do dân kiểm soát, Hồ Chí Minh thường khẳng định: Tất cả các cơ quan Nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

+ Nhà nước vì dân. Đó là Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân. Ngoài mục đích phục vụ nhân dân, Nhà nước ta không có mục đích nào khác. Sinh thời Hồ Chí Minh từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân.

Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, – là vì mục đích đó.

Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh dược chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng – cũng vì mục đích đó”.

Trong Nhà nước vì dân, cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều là “công bộc” của dân. Bác thường căn dặn cán bộ: Tất cả những thứ chúng ta dùng hàng ngày đều do dân cung cấp. Do vậy phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.

Tóm lại, nhưng của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là Nhà nước dân chủ. Trong đó, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền  hành và lực lượng đề ở nơi dân”.

+ Vì sao chúng ta  lại xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân? Xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân là tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, là mục tiêu xuyên suốt cuộc đời hoạt động và lãnh đạo cách mạng của Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1927 – trong cuốn Đường cách mệnh, Người đã chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi  thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới  được hạnh phúc”.

+ Làm thế nào để xây dựng được một Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân?

Trước hết, phải giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước. Nhà nước phải đặt dưới lãnh đạo của Đảng – đội tiên phong của giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: Chỉ có liên minh với giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mới có thể tự giải phong mình và xây dựng được một xã hội thực sự bình đẳng và tiến bộ.

Thứ hai, phải bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân trong việc lựa chọn và bầu ra Chính phủ thông qua Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Mọi công dân đều có quyền bầu cử để lựa chọn các đại biểu đại diện cho nguyện vọng và quyền lợi của mình. Mọi công dân đều có cơ hội tham gia vào các công việc của Nhà nước thông qua quyền ứng cử và các cuộc trưng cầu dân ý.

Thứ ba, phải bảo đảm cho dân có quyền kiểm soát chính phủ. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Dân có quyền góp ý với Chính phủ, dân có quyền bãi miễn các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu họ không hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, đòi hỏi người dân phải có một trình độ nhất định. Vì vậy, cùng với việc trao quyền cho dân, cần phải có chính sách giáo dục nâng cao nhận thức cho dân.

Thứ tư, phải xây dựng một hệ thống luật pháp chặt chẽ và khoa học dựa trên nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, đồng thời làm cho pháp luật có hiệu quả trong thực tế. Sự công bằng và trât tự xã hội chỉ có thể được thiết lập khi nó được bảo đảm bằng một hệ thống luật pháp nghiêm minh. Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”.

Thứ năm, phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, từ Trung ương đến địa phương thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ đức đủ tài, vừa bảo đảm tốt vai trò người lãnh đạo, quản lý vừa thực sự là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

Leave a Reply