kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật họcBài giảng môn Luật Môi trường

CHƯƠNG 1

KHÁI NIỆM LUẬT MÔI TRƯỜNG

 

  1. Cơ sở hình thành và phát triển luật môi trường

1.1 Tầm quan trọng của môi trường và thực trạng môi trường hiện nay

Môi trường là gì? Nó bao gồm những yếu tố nào?

– Khái niệm môi trường và tầm quan trọng của môi trường

+ Theo nghĩa rộng (Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học, 2002): “MT là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”.

+ Theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2005: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.

=> So sánh hai khái niệm này:

* Giống nhau: nói đến môi trường là nói đến điều kiện tự nhiên: đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật,…

* Khác nhau:

  • Nghĩa rộng: điều kiện xã hội (bao gồm những yếu tố vật chấttinh thần)
  • Nghĩa hẹp: vật chất nhân tạo (không bao gồm những yếu tố tinh thần): hệ thống đê điều, các công trình kiến trúc, công trình nghệ thuật, …

+ Thành phần môi trường, khoản 2 Điều 3 LBVMT 2005, là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác.

– Tầm quan trọng của MT:

+ MT là không gian tồn tại của con người

MT được tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất, bao gồm yếu tố tự nhiên lẫn nhân tạo. Những yếu tố tự nhiên như: đất, nước, không khí, ánh sang, âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật, … à yếu tố cơ bản của MT  à ý nghĩa rất quan trọng. Con người chúng ta hàng ngày sử dụng các yếu tố tự nhiên này để tồn tại, sinh sống, không có các yếu tố này thì không thể sống được.

+ MT là nơi con người khai thác các nguồn TNTN, nơi cung cấp cơ sở vật chất cho con người tồn tại và phát triển.

Bên cạnh những yếu tố tự nhiên, MT còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo. Con người tạo ra các yếu tố nhân tạo để tác động lên các yếu tố tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu của mình. Con người tác động lên đất đai xây dựng nhà cửa, hệ thống đê điều, công trình thủy lợi nhằm phục vụ cho mục đích sinh sống, tránh lũ lụt, hạn hán; tác động lên hệ thực vật, động vật nhằm tạo ra thức ăn để tồn tại, khai thác TNTN để đáp ứng nhu cầu cuộc sống.

+ MT là nơi tiếp nhận tất cả những chất thải do con người loại ra.

Con người đã không ngừng tác động lên MT phục vụ cho nhu cầu phát triển xã hội, hệ quả của nó là rác thải sinh hoạt cũng không ngừng được thải loại ra MT.

à MT thực sự đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống con người

– Thực trạng môi trường hiện nay:

+ Tình trạng suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Ví dụ: khai thác rừng, than đá, dầu, nguồn nước

+ Ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường ngày càng trầm trọng

Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (khoản 6 Điều 3 LBVMT 2005).

Ví dụ: nước thải chưa qua xử lý từ các khu công nghiệp làm ô nhiễm nguồn nước sông như sông Thị Vải, kênh Ba Bò, khói bụi từ các phương tiện giao thông, từ các nhà máy, xí nghiệp, việc sử dụng thuốc trừ sâu vô tội vạ chảy ra các dòng sông .… gây ra những căn bệnh đường tiêu hóa, hô hấp, ung thư, …

Tp HCM (tháng 8/2008) thống kê có khoảng 3,8 triệu xe máy thải ra 70% chất thải độc hại như NO2, benzene, toluene, … gây ung thư; có 15 KCN, KCX, 25.000 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong đó có 260 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng; dân số 8,5 triệu người, tạo  ra 6.000 tấn chất thải rắn hàng ngày.(theo Tổ chức Kinh tế và môi trường Đông Nam Á-EEPSEA)

                        Sử dụng các thiết bị làm lạnh như tủ lạnh, máy lạnh phá hủy tầng ozone (có tác dụng ngăn tia cực tím vào trái đất, lớp áo giữ cho trái đất không nóng lên bởi năng lượng mặt trời) xây dựng sân gold, khai phá rừng, khai thác nước, khí ngầm, ….phá hủy tầng đất tự nhiên, gây xói mòn, sụt lún.

Khí hậu biến đổi, nhiệt độ trái đất ngày càng gia tăng, băng Nam và Bắc cực tan ra, mực nước biển dâng cao, nhiệt độ nước biển tăng, gây nên bão, lũ, sóng thần, siêu bão, một số quốc gia trên thế giới được dự báo khoảng 100 năm tới sẽ bị nhấn chìm trong biển. Như vậy, ô nhiễm môi trường thật sự trở thành thảm họa đối với con người.

Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật (khoản 7 Điều 3 LBVMT 2005).

Ví dụ: LHQ dự báo ở Việt Nam, nước biển dâng lên từ 30cm đến 1m trong vòng 100 năm tới, thiệt hại lên tới 17 tỷ đồng mỗi năm, 1/5 dân số mất nhà cửa, 12,3 % diện tích trồng trọt sẽ biến mất.

+ Sự cố môi trường ngày càng gia tăng

Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc làm biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng (khoản 8 Điều 3 LBVMT).

Ví dụ: lũ lụt, hạn hán, tràn dầu,… hiện tượng tràn dầu xảy ra nhiều đến mức hiện nay hầu hết các bờ biển Việt Nam đều có dầu loang trên mặt biển à giảm số lượng khách du lịch đến các vùng biểnàngành du lịch sẽ gặp khó khăn à cảng nước ta bị tàu nước ngoài chê vì sợ hỏng vỏ tàu (Nhật).

1.2. Các biện pháp bảo vệ môi trường và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường bằng pháp luật

– Biện pháp chính trị:

Biện pháp chính trị được thực hiện thông qua những hoạt động chính trị nhằm tác động vào đường lối, chính sách bảo vệ môi trường của quốc gia, nhận thức về môi trường của một tổ chức, cá nhân nhằm xây dựng, củng cố quyền lực và ảnh hưởng chính trị. Biện pháp này thể hiện thông qua hoạt động:

+ Ngoại giao;

+ Tổ chức quốc tế: Liên hợp quốc là tiêu biểu nhất, tổ chức nhiều Hội nghị thượng đỉnh về môi trường (6/1972 ở Stockholm, 6/1992 ở Rio De Janeiro);

+ Chính sách quốc gia thông qua hoạt động của các đảng phái chính trị (Việt Nam: Đảng CSVN, các nước: đảng xanh, đi xe đạp trên đường phố Amtesdam, biểu tình đình chỉ các dự án tái chế, … ).

+ VN: NQ 41-NQ/TW về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã nhấn mạnh: “BVMT là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và thúc đẩy hội nhập KTQT của nước ta”.

– Biện pháp tuyên truyền-giáo dục

Các biện pháp giáo dục, tuyên truyền tác động trực tiếp vào nhận thức làm thay đổi hành vi của người dân, nâng cao ý thức người dân về khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý. Biện pháp này thông qua việc đưa vào chương trình đào tạo từ bậc tiểu học môn học về môi trường, cổ động, tuyên truyền lối sống văn minh, việc giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp, những cuộc vận động làm sạch đường phố, bãi biển, …

Ví dụ: Việt Nam chuẩn bị triển khai các cuộc vận động hạn chế dùng bao nylon trong sinh hoạt tiêu dùng, phân loại rác trong sinh hoạt.

            Thụy Điển, Tp Gothenburg, quyết định ngưng mua nước đóng chai do ảnh hưởng tới môi trường, chính trị gia và giáo viên chỉ được uống nước máy nơi làm việc.

– Biện pháp kinh tế

Sử dụng biện pháp này là sử dụng đến đòn bẩy kinh tế, thực chất đó là việc dùng những lợi ích vật chất để kích thích chủ thể thực hiện những hoạt động có lợi cho môi trường, cho cộng đồng.

+ Bảo vệ môi trường mâu thuẫn gay gắt với lợi ích kinh tế, để bảo vệ môi trường, hai nhóm giải pháp được đưa ra, cụ thể là:

  • Nhóm giải pháp mang tính chất khuyến khích lợi ích kinh tế cho các chủ thể theo hướng tác động có lợi cho môi trường.
  • Nhóm giải pháp mang tính chất trừng phạt đối với hành vi tác động có hại cho môi trường

+ Biện pháp kinh tế thường mang lại hiệu quả cao hơn so với các biện pháp khác.

Ví dụ: Thụy Điển dùng biện pháp ký quỹ có hoàn trả đối với hàng hóa là nước đóng chai, sau khi dùng xong trả lại vỏ chai đúng nơi quy định sẽ được hoàn trả tiền vỏ chai.

Quy định nhà sản xuất có trách nhiệm thu hồi sản phẩm của mình sau khi người tiêu dùng sử dụng xong

– Biện pháp khoa học – công nghệ

Biện pháp khoa học –  công nghệ là một giải pháp để giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật để hạn chế tới mức thấp nhất việc gây ô nhiễm môi trường, đồng thời phát triển kinh tế.

Ví dụ: sức gió, năng lượng mặt trời, sử dụng giấy phế liệu, đi bằng tàu điện thay cho đi bằng ô tô.

+ Sử dụng các nguồn năng lượng mới thay thế cho nguồn năng lượng truyền thống: năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời, sức gió, sức nước chảy…

Ví dụ: chế tạo xăng từ mía, gas từ phân động vật (biogas)

+ Sử dụng công nghệ sạch hạn chế thải chất độc hại vào môi trường như công nghệ vi sinh.

Ví dụ: Honda phối hợp ĐHBK Hà Nội chế tạo xe máy vận hành bằng khí hydro, thải ra nước sạch có thể uống được.

+ Sử dụng vật liệu mới ít gây ô nhiễm môi trường như cac- tôn, gốm cao cấp, chất siêu dẫn hạn chế sử dụng kim loại.

Thí dụ: xe Mecedes thiết kế vành cửa không sử dụng sắt thép, PVC, mà dùng vỏ chuối, sợi thiên nhiên ép dưới áp suất cao vừa đem lại hiệu quả kinh tế vừa có hiệu quả về môi trường.

+ Tái sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Ví dụ: Ép gỗ ngọn, gỗ bột thành miếng gỗ lớn, đóng thành bàn ghế, ép nhựa phế liệu làm thành gạch xây nhà.

– Biện pháp pháp lý

Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường. Biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện các biện pháp nói trên.

+ Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường.

+ Pháp luật quy định các chế tài buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường.

+ Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức bảo vệ môi trường.

Lưu ý: Ở đây cần phải chứng minh biện pháp pháp lý là biện pháp bảo đảm thực hiện các biện pháp BVMT khác.

Biện pháp chính trị chủ trương, đường lối của Đảng đi vào cuộc sống bằng việc thể chế hóa thành các quy phạm của pháp luật.

Biện pháp tuyên truyền- giáo dục muốn có hiệu quả tốt phải đi đôi với sự cưỡng chế của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật.

Biện pháp kinh tế được cụ thể hóa bằng việc ban hành các sắc thuế, khen thưởng, xử phạt theo quy định của pháp luật.

Biện pháp KH-CN các doanh nghiệp muốn hoạt động và tồn tại phải áp dụng các tiến bộ KH- CN để làm trong sạch môi trường sản xuất, không được gây ô nhiễm cho môi trường, đạt các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường do pháp luật quy định.

=> Do đó, biện pháp pháp lý là biện pháp bảo đảm thực hiện các biện pháp BVMT khác.

  1. Định nghĩa luật môi trường, đối tượng và phương pháp điều chỉnh của luật môi trường

2.1. Định nghĩa luật MT

            Do nội hàm của khái niệm môi trường khá rộng và lịch sử phát triển của luật môi trường chưa dài, bao hàm tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố của môi trường, các hệ sinh thái tự nhiên, các cấu trúc do con người tạo ra hay biến đổi nên phạm vi của các chế định điều chỉnh chúng ngày càng rộng hơn.

Hai quan điểm về Luật Môi trường:

Luật Môi trường là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, không thuộc phạm vi luật Hành chính.

Luật Môi trường không nên xem là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nên xem là một chế định của Luật Hành chính.

Là một lĩnh vực pháp luật riêng biệt vì các lý do sau:

  • Quan hệ phát sinh trong lĩnh vực môi trường cần pháp luật điều chỉnh đều gắn với việc bảo vệ, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố môi trường cụ thể (mối liên hệ tự nhiên với đất, không khí, nước, rừng và biển);
  • Được điều chỉnh bởi sự kết hợp nhiều nguyên tắc khác nhau (không chủ yếu dùng nguyên tắc mệnh lệnh như luật hành chính);
  • Quan hệ môi trường gắn với yếu tố KHKT hơn;
  • Tính toàn cầu cao của vấn đề môi trường.

Luật Môi trường là một lĩnh vực pháp luật gồm tổng hợp các QPPL điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp trong họat động khai thác, quản lý và bảo vệ các yếu tố môi trường.

Lưu ý: Chúng ta không nói Luật MT là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam vì do tính thống nhất của MT, nên khi nói tới Luật Môi trường là phải nói tới cả luật quốc gia và luật quốc tế về MT.

Phân biệt Luật Môi trường với Luật Bảo vệ Môi trường

Stt Tiêu chí Luật Bảo vệ Môi trường Luật Môi trường
1 Hình thức Một đạo luật (VBPL) do QH ban hành theo trình tự, thủ tục luật định Một lĩnh vực pháp luật
2 Nội dung Điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Điều chỉnh 2 nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong:

– Lĩnh vực bảo vệ MT

– Lĩnh vực hoạt động quản lý, khai thác và sử dụng các yếu tố môi trường

3 Phạm vi Văn bản nguồn của Luật Môi trường Phạm vi rộng hơn Luật BVMT vì quy định 2 nhóm qh XH

 

2.2. Đối tượng điều chỉnh của luật MT

  • Định nghĩa: Đối tượng điều chỉnh của luật MT chính là các quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp trong họat động khai thác, quản lý và bảo vệ các yếu tố MT.
  • Muốn xác định phạm vi điều chỉnh của luật MT cần phải lưu ý:
    • Thứ nhất cần phải xác định yếu tố MT theo luật MT chỉ bao gồm những yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo (khoản 1, khoản 2, Điều 3 Luật BVMT).
    • Thứ hai: cần phải xác định thế nào là những quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp trong việc khai thác, quản lý và bảo vệ các yếu tố MT.

Ví dụ:

  • Người ta khai thác rừng để lấy gỗ => phát sinh trực tiếp => Luật MT điều chỉnh.
  • Gỗ được đóng thành bàn ghế, bán ra thị trường => không phải đối tượng điều chỉnh của Luật Môi trường.
  • Bàn ghế hư không sử dụng nữa, đem đốt => có khói bụi => Luật MT điều chỉnh.
  • Phân nhóm: Căn cứ vào chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật MT, chúng ta có thể chia đối tượng điều chỉnh của luật MT ra làm 3 nhóm sau:
    • Nhóm quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế về Nhóm quan hệ này do Luật quốc tế điều chỉnh.

Ví dụ: các nước cùng thực hiện các Công ước, thỏa thuận đa phương, song phương về tầng ozone, lưu vực sông, vùng trời, vùng biển, …

  • Nhóm quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau và giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân.
  • Nhóm quan hệ giữa tổ chức, cá nhân với nhau.

Hai nhóm quan hệ còn lại thì sử dụng các quy định của pháp luật môi trường Việt Nam để giải quyết.

Thí dụ: Sở TN& MT với các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với người dân sống trong vùng chịu ảnh hưởng ô nhiễm môi trường từ doanh nghiệp.

2.3. Phương pháp điều chỉnh của luật MT

Trên cơ sở đối tượng điều chỉnh như đã nói ở trên, luật MT sử dụng hai phuơng pháp điều chỉnh sau:

  • Phương pháp Bình đẳng-thỏa thuận: điều chỉnh nhóm quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể khác, nhóm quan hệ giữa các cá nhân với cá nhân hoặc chủ thể khác.
  • Phương pháp Quyền uy: sử dụng quyền lực của Nhà nước để tác động lên các qh XH được sử dụng điều chỉnh nhóm quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước với các tổ chức, cá nhân; giữa các cơ quan Nhà nước với nhau.
  1. Nguyên tắc của LMT

Nguyên tắc là gì?

3.1. Nguyên tắc Nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền con người được sống trong một môi trường trong lành

Câu hỏi đặt ra là Ai là thủ phạm tước đoạt quyền sống trong môi trường trong lành của con người?

  • Khái niệm về quyền được sống trong môi trường trong lành.

Quyền được sống trong MT trong lành là quyền được sống trong một MT không bị ô nhiễm (theo TCMT chứ không phải là môi trường trong sạch lý tưởng), đảm bảo cuộc sống được hài hòa với tự nhiên (nguyên tắc thứ nhất của Tuyên bố Stockholm về MT và con người và Tuyên bố Rio De Janeiro về MT và phát triển).

Tiêu chí của Ngân hàng thế giới về đánh giá chất lượng cuộc sống con người của các nước dựa vào 3 tiêu chí sau đây: thu nhập (GDP bình quân đầu người), hệ thống an sinh xã hội (y tế, văn hóa, giáo dục) và chất lượng môi trường.

Con người chính là thủ phạm đã tước đoạt quyền này của chính mình.

  • Cơ sở xác lập: 3 cơ sở sau đây
    • Cơ sở thứ 1, Tầm quan trọng của quyền được sống trong MT trong lành: đây là quyền quyết định đến vấn đề sức khỏe, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống nói chung.
    • Cơ sở thứ 2, Thực trạng MT hiện nay đang bị suy thoái nên quyền tự nhiên này đang bị xâm phạm.
  • Biến đổi khí hậu làm thay đổi nhiệt độ, mực nước, làm thay đổi lớn tới thời tiết như mưa, bão, hạn hán, cháy rừng, tăng bệnh tật…nguyên nhân là do phá rừng, hoạt động công, nông, lâm nghiệp, giao thông và sinh hoạt làm tăng nồng độ các loại khí CO2, N2O, NO, CH4, H2S, bụi và hơi nước.
  • Suy thoái đa dạng sinh học làm mất các chức năng của hệ sinh thái như điều hòa nước, chống xói mòn, đồng hóa các chất thải, làm sạch MT, đảm bảo vòng tuần hoàn vật chất và năng lượng trong tự nhiên, gây ra các hậu quả MT khác nhau, hệ thống kinh tế suy giảm do mất đi các giá trị TNTN và MT nguyên nhân là do khai thác tài nguyên quá mức, sử dụng các công nghệ không phù hợp, ô nhiễm, thay đổi khí hậu, buôn bán động thực vật.
  • Suy thoái tầng ozon, làm tăng nhiệt độ trái đất, thay đổi khí hậu toàn cầu, tác động lên hệ sinh thái làm giảm sản lượng sinh học, tăng phóng xạ cực tím trên mặt đất, suy thoái chất lượng không khí, gây ung thư da, bệnh về mắt, ảnh hưởng xấu tới hệ miễn dịch. Nguyên nhân là do các hoạt động SX công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp lạnh, máy bay, phân bón hóa học, sử dụng các nhiên liệu hóa thạch, nguồn khí tự nhiên khác như núi lửa, sấm chớp.
  • Suy thoái nguồn nước ngọt , dự báo vào năm 2025, cứ 3 người thì có 2 người trên Trái đất sẽ sống thiếu nước. Nguyên nhân là do ô nhiễm nguồn nước từ nước thải bị ô nhiễm, chất diệt cỏ, phân bón, chất thải công nghiệp, đặc biệt là các kim loại nặng như chì, thủy ngân, asen, cadimi, một số hợp chất hữu cơ. Ô nhiễm nước mặt dẫn theo ô nhiễm nguồn nước ngầm.
  • Hoang hóa và suy thoái đất do chặt phá rừng, quản lý, canh tác, quy hoạch kém, dẫn đến hiện tượng sa mạc hóa, sạt lỡ. Theo UNEP/ISRIC (1991) có khoảng 1900 triệu ha đất trên thế giới thoái hóa. Sản lượng nông nghiệp của Châu Phi giảm đi 50% trong vòng 40 năm.
  • Phá và sử dụng rừng không bền vững 80% diện tích rừng nguyên sinh bị xóa sổ, bị chặt phá hoặc xuống cấp (WRI 1997), từ 1960 đến nay ½ diện tích rừng trên thế giới bị chặt trắng, rừng nhiệt đới giảm tốc độ 0,7%/ năm. Nguyên nhân là do gia tăng dân số, nghèo đói, phát triển kinh tế, đô thị hóa, mở rộng diện tích đất nông nghiệp.
  • Suy thoái môi trường và tài nguyên biển làm ô nhiễm, tăng cao nhiệt độ, nâng cao mực nước biển. Nguyên nhân là do nước thải ô nhiễm, phá hủy vùng đầm lầy và rừng ngập mặn, những vùng hoạt động như tầng lọc tự nhiên đối với trầm tích làm cho hàm lượng nitơ cao, hoặc do rò rĩ tràn dầu ảnh hưởng đến tầng sâu của đại dương, phá hủy các bãi san hô do khai thác bừa bãi, bị vùi lấp do khai thác mỏ, hơn ½ bãi san hô ngầm trên thế giới bị ảnh hưởng. Ngoài ra, suy thoái này còn do khai thác quá mức cá, sản phẩm biển, quản lý chất thải trên đất liền không tốt, ô nhiễm rừng đầu nguồn.
  • Ô nhiễm bởi các chất hữu cơ khó phân hủy rác thải rắn độc hại gồm các chất có khả năng tồn lưu và phát tán trong không khí, đất và nước (thuốc trừ sâu, diệt cỏ, chất độc màu da cam, chất thải bệnh viện, chất phóng xạ, muối, kim loại nặng) thải ra MT ngày càng nhiều (Anh 11 triệu tấn/ năm, Pháp 3 triệu tấn/ năm, Mỹ 72 triệu tấn/ năm) , gây ô nhiễm trực tiếp hay gián tiếp cho MT hoặc gây bệnh.

Các vấn đề MT có liên quan chặt chẽ và tác động lẫn nhau vì đều có nguyên nhân chính là do hoạt động thiếu tính toán về kinh tế xã hội của con người

  • Cơ sở thứ 3, Xuất phát từ những cam kết quốc tế và xu hướng chung trên thế giới là thể chế quyền này trong pháp luật quốc gia. (không ràng buộc các quốc gia về mặt pháp lý, nhưng ràng buộc về mặt chính trị, đạo lý buộc chúng ta phải thực hiện). Đó là Tuyên bố Stockholm và Tuyên bố Rio De Janeiro.
  • Hệ quả pháp lý.
    • Hệ quả thứ 1, Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệ và cải thiện chất lượng MT nhằm bảo đảm cho người dân được sống trong một MT trong lành. Xét ở khía cạnh này thì đây không chỉ là một nguyên tắc mà còn là mục đích của LMT.

Ví dụ: ban hành pháp luật về bảo vệ môi trường, những biện pháp làm trong sạch môi trường: dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè, kênh Ba Bò, ngăn chặn và xử lý doanh nghiệp vi phạm tiêu chuẩn môi trường.

  • Hệ quả thứ 2, Tạo cơ sở pháp lý để người dân bảo vệ quyền được sống trong MT trong lành của mình thông qua những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Điều 50, Hiến pháp 1992) như: quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tự do cư trú, quyền được bồi thường thiệt hại, quyền tiếp cận thông tin…

Các nước sử dụng rất triệt để quyền này, trong khi người Việt Nam chưa thật sự được bảo vệ, nhất là tiếng ồn và mùi hôi. (Việt Nam: thiếu những giải pháp cụ thể).

3.2. Nguyên tắc phát triển bền vững

Thuật ngữ “Phát triển bền vững” được nêu tại Hội nghị của LHQ về MT và Phát triển tại Rio De Janeiro (Brazin) năm 1992 với 179 nước tham gia đã thông qua 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) về giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21.

Mười năm sau, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tại Jophannesburg (Nam Phi) năm 2002 về Phát triển bền vững với 166 nước tham gia đã thông qua Tuyên bố Jophannesburg và Bản Kế hoạch thực hiện phát triển bền vững.

Phát triển bền vững được hiểu một cách khái quát là “sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ”.

  • Khái niệm

Theo khoản 4, Điều 3, Luật BVMT, phát triển bền vững được định nghĩa là: phát triển để đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.

Thế nào là thế hệ hiện tại, thế hệ tương lai?

Khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho nhu cầu hiện tại phải chú ý trữ lượng hiện có để dành cho tương lai.

Nói cách khác, phát triển bền vững chính là phát triển trên cơ sở duy trì được mục tiêu và cơ sở vật chất của quá trình phát triển. Muốn vậy cần phải có sự tiếp cận mang tính tổng hợp và bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu; kinh tế-xã hội-môi trường.

Tuy còn nhiều vấn đề tranh cãi về định nghĩa “phát triển bền vững”, song đã có sự thống nhất cao là đều tập trung chú ý tới phúc lợi lâu dài của con người và đều bao hàm những yêu cầu về sự phối hợp một cách hài hòa ít nhất 3 mặt: (1) tăng trưởng kinh tế, (2) công bằng xã hội, (3) bảo vệ môi trường. Ngoài ba mặt chủ yếu này, nhiều người còn đề cập đến những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong khi hoạch định chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể.

  • Cơ sở xác lập

Nguyên tắc này được xác lập trên những cơ sở sau:

  • Cơ sở thứ 1, Tầm quan trọng của môi trường và phát triển
  • Cơ sở thứ 2, Mối quan hệ tương tác giữa MT và PT: muốn phát triển phải bảo vệ môi trường và ngược lại.

Tránh các xu hướng cực đoan sau đây:

  • Vào 1950s, 1960s, ra đời thuyết “Thuyết Đình chỉ phát triển”, muốn bảo vệ môi trường phải dừng việc phát triển, quá coi trọng về môi trường mà xem nhẹ lợi ích về kinh tế, kết quả là các nước càng nghèo thì môi trường càng bị phá hủy, ô nhiễm trầm trọng.
  • Hành vi phát triển bằng mọi giá, xem nhẹ lợi ích về môi trường, đang diễn ra ở các nước Việt Nam, Hàn Quốc, Đài Loan => hủy hoại môi trường.

=> Bảo vệ môi trường đồng nghĩa với việc bảo vệ mục tiêu phát triển của con người.

  • Yêu cầu của nguyên tắc
    • Yêu cầu thứ 1, Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường (báo cáo Brundland, nguyên tắc 13 của tuyên bố Stockholm, nguyên tắc 4 của tuyên bố Rio De Janeiro).
    • Yêu cầu thứ 2, Họat động trong sức chịu đựng của trái đất, cụ thể ở 2 lĩnh vực khai thác tài nguyên và xả thải phải trong giới hạn, trong khả năng tự làm sạch của môi trường.
  • Tiêu chí đánh giá một quốc gia phát triển bền vững
    • Trình độ phát triển kinh tế
    • Tiêu chí con người (học hành, y tế, dịch vụ công cộng, …)
    • Điều kiện về môi trường (trong sạch, khai thác hợp lý TNTN)
    • Trình độ KHCN
  • Tiêu chí để đánh giá sự kết hợp giữa 2 mục tiêu trên:

Tuyên bố Stockolm đưa ra 9 nguyên tắc trong đó có nguyên tắc phải “hoạt động trong sức chịu đựng của trái đất ” được hiểu dưới hai góc độ:

  • Trong khai thác tài nguyên
  • TN vĩnh viễn – TN vô tận: khai thác triệt để (NL gió, mặt trời, …)
  • TN có thể phục hồi: khai thác trong chừng mực sẽ tự phục hồi, khai thác sử dụng trong giới hạn của sự phục hồi. (TN rừng khai thác 1%/năm).
  • TN không thể phục hồi: là TN hữu hạn, phải khai thác, sử dụng tiết kiệm và tìm ra nguồn vật liệu mới để thay thế vật liệu đó.

Việc phân chia này chỉ mang tính tương đối.

  • Yêu cầu thứ 3, Trong lĩnh vực xả thải: phải xả thải trong khả năng tự làm sạch của trái đất (khả năng tự phân hủy các chất thải vào môi trường).

3.3. Nguyên tắc phòng ngừa (phương châm)

MT khác với các hiện tượng XH khác ở chổ khả năng phục hồi hiện trạng hoặc là không thể thực hiện được hoặc rất khó khăn, tốn kém và mất nhiều thời gian. Chính vì vậy, ngăn ngừa những hành vi gây hại cần được chú trọng hơn so với việc áp dụng các hình phạt hoặc chế tài khác.

Như vậy, phòng ngừa là gì? Phòng ngừa chính là việc chủ động ngăn chặn rủi ro đối với môi trường khi chưa xảy ra.

  • Cơ sở xác lập: 2
    • Cơ sở thứ 1, Chi phí phòng ngừa bao giờ cũng nhỏ hơn chi phí khắc phục.
    • Cơ sở thứ 2, Có những tổn hại gây ra cho MT là không thể khắc phục được mà chỉ có thể phòng ngừa (tuyệt chủng)

Tại sao người ta ít quan tâm đến nguyên tắc này? Vì 2 lý do là: Do chủ quan, không lường trước được.

  • Mục đích của nguyên tắc: ngăn ngừa những rủi ro mà con người và thiên nhiên có thể gây ra cho MT.

Lưu ý: Những rủi ro mà nguyên tắc này ngăn ngừa là những rủi ro đã được chứng minh về khoa học và thực tiễn. Đây chính là cơ sở để phân biệt giữa nguyên tắc phòng ngừa và nguyên tắc thận trọng.

Phân biệt NT Phòng ngừa, NT Thận trọng

NT Phòng ngừa NT Thận trọng
– Phòng ngừa đối với những rủi ro mà con người đã lường trước được.

– Những rủi ro đã được chứng minh về mặt khoa học và thực tiễn (những rủi ro chắc chắn xảy ra).

– Thận trọng đối với những rủi ro con người có thể lường trước được.

– Những rủi ro chưa được chứng minh về mặt khoa học và thực tiễn (những rủi ro không thể chắc chắn hoặc không chắc chắn xảy ra).

Ví dụ: Gia cầm nhiễm H5N1 à Gia cầm à Con người nhiễm à Con người nhiễm H5N1 (NT phòng ngừa và thận trọng).

  • Yêu cầu của nguyên tắc
    • Yêu cầu thứ 1, Lường trước những rủi ro mà con người và thiên nhiên có thể gây ra cho MT

Ví dụ 1: việc phải chọn lựa một trong hai dự án công trình thủy điện Sơn La: Sơn La cao, Sơn La thấp => Quốc hội chọn Sơn La thấp vì Sơn La cao thì có thể có nguy cơ gây vỡ đập => Thủy điện Hòa Bình vỡ theo =>  Hà Nội bị dìm trong bể nước. (hiệu ứng domino)

Ví dụ 2: sông Hồng khi nước dâng lên có thể lên đến 13m, cho gia cố sông Hồng để bảo vệ Hà Nội, nếu vỡ đê thì Hà Nội có thể chìm ít nhất là 10m => áp dụng phương án “phân lũ”, xả lũ vào một số tỉnh lân cận, giảm thiểu thiệt hại .

  • Yêu cầu thứ 2, Đưa ra những phương án, giải pháp để giảm thiểu rủi ro, loại trừ rủi ro.

Ví dụ: phương án sống chung với lũ ở các tỉnh ĐBSCL, xây nhà nổi trên sông.

3.4. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền

  • Cơ sở xác lập
    • Coi MT là một loại hàng hóa đặc biệt, tức là người gây hậu quả, tác động xấu đến môi trường thì phải trả tiền (mua quyền khai thác, sử dụng môi trường)
    • Ưu điểm của công cụ tài chính trong BVMT

Người phải trả tiền theo nguyên tắc này là người gây ô nhiễm hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; người có hành vi xả thải vào MT; người có những hành vi khác gây tác động xấu tới MT theo quy định của pháp luật

  • Mục đích của nguyên tắc
    • Mục đích thứ 1, Định hướng hành vi tác động của các chủ thể vào MT theo hướng khuyến khính những hành vi tác động có lợi cho MT thông qua việc tác động vào chính lợi ích kinh tế của họ.

Ví dụ: giảm thuế cho ngư dân đánh bắt thủy sản xa bờ.

  • Mục đích thứ 2, Bảo đảm sự công bằng trong hưởng dụng và BVMT. (điều này cũng có nghĩa là Ai gây ô nhiễm nhiều trả tiền nhiều, ai gây ô nhiễm ít trả tiền ít, ai không gây ô nhiễm thì không trả tiền)
  • Mục đích thứ 3, Tạo nguồn kinh phí cho hoạt động BVMT (thu ngân sách).
  • Yêu cầu của nguyên tắc
    • Yêu cầu thứ 1, Tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu tới MT (ngang giá)
    • Yêu cầu thứ 2, Tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải đủ sức tác động đến lợi ích và hành vi của các chủ thể có liên quan.(vì nếu không thì không có tác dụng gì để có thể hạn chế, răn đe hành vi gây ô nhiễm MT tiếp tục xảy ra).
  • Các hình thức trả tiền theo nguyên tắc
    • Hình thức thứ 1, Thuế tài nguyên (Pháp lệnh Thuế tài nguyên): tiền phải trả cho việc khai thác TNTN như: nước, rừng, khoáng sản, thủy sản, …hoặc một công ty mua quyền độc quyền khai thác một loại thủy sản nào đó.
    • Hình thức thứ 2, Thuế MT (Điều 112 LBVMT): tiền phải trả cho hành vi gây tác động xấu đến môi trường
    • Hình thức thứ 3, Phí bảo vệ môi trường (Điều 113 LBVMT). Ví dụ: Nộp phí BVMT đối với nước thải theo NĐ 67/2003/NĐ-CP, Nộp phí BVMT đối với khai thác khóang sản theo NĐ 137/2005/NĐ-CP…
    • Hình thức thứ 4 , Tiền phải trả cho việc sử dụng dịch vụ (dịch vụ thu gom rác, dịch vụ quản lý chất thải nguy hại…)
    • Hình thức thứ 5, Tiền phải trả cho việc sử dụng cơ sở hạ tầng ( tiền thuê kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp bao gồm cả tiền thuê hệ thống xử lý chất thải tập trung…)
    • Hình thức thứ 6, Chi phí phục hồi MT trong khai thác tài nguyên (Điều 114, LBVMT)

Phân biệt nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và hành vi gây ô nhiễm bị xử phạt hành chính.

Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (1) Hành vi gây ô nhiễm bị xử phạt hành chính (2)

 

– Hành vi còn trong giới hạn cho phép của pháp luật – Hành vi đã vi phạm pháp luật
– Phải có hậu quả là gây tác động xấu đến môi trường – Hành vi dù gây tác động xấu hay không vẫn phải chịu phạt

Thí dụ: (1): khai thác nước khoáng -> nộp thuế khai thác tài nguyên. Hoặc những hộ dân phải trả tiền thu gom rác cho công ty dịch vụ công ích. Những hành vi khai thác nước khoáng hay xả thải rác chắc chắn ít nhiều đều có ảnh hưởng xấu đến môi trường.

(2): Công ty mới vừa nhập khẩu về tới cảng Sài Gòn máy móc, thiết bị hay phế liệu không đúng quy định của pháp luật -> phạt vi phạm hành chính từ 15 đến 20 triệu đồng, mặc dù chưa gây tác động xấu gì đến MT.

3.5. Nguyên tắc  môi  trường là một thể thống nhất

  • Sự thống nhất của MT

Được thể hiện ở 2 khía cạnh:

  • Khía cạnh thứ 1, Sự thống nhất về không gian: MT không bị chia cắt bởi biên giới quốc gia, địa giới hành chính. Bởi vì, thiệt hại về môi trường không chỉ giới hạn trong một quốc gia.
  • Khía cạnh thứ 2, Sự thống nhất nội tại giữa các yếu tố cấu thành MT: Giữa các yếu tố cấu thành MT luôn có quan hệ tương tác với nhau, yếu tố này thay đổi dẫn đến sự thay đổi của yếu tố khác. Ví dụ: sự thay đổi của rừng trên các lưu vực sông dẫn đến sự thay đổi về số lượng và chất lượng của nước trong lưu vực.

Ví dụ: rừng nhiệt đới Việt Nam bị tàn phá có ảnh hưởng đến vùng Nam cực vì rừng không còn, lượng khí CO2 tăng lên, làm tăng lượng khí CO2 trên toàn cầu => nhiệt độ trái đất tăng => băng ở Nam cực tan ra, nước biển dâng lên, nhấn chìm đất liền., ….

  • Yêu cầu
    • Yêu cầu thứ 1, Việc BVMT không bị chia cắt bởi biên giới quốc gia, địa giới hành chính. Điều này có nghĩa là trên phạm vi toàn cầu các quốc gia cần phải có sự hợp tác để bảo vệ môi trường chung. Trong phạm vi quốc gia, việc khai thác, BVMT phải đặt dưới sự quản lý thống nhất của TW theo hướng hình thành cơ chế mang tính liên vùng, bảo đảm sự hợp tác chặt chẽ giữa các địa phương.
    • Yêu cầu thứ 2, Cần phải bảo đảm có mối quan hệ tương tác giữa các ngành, các văn bản quy phạm pháp luật trong việc quản lý, điều chỉnh các hoạt động khai thác và BVMT phù hợp với bản chất của đối tượng khai thác, bảo vệ. Cụ thể:
  • Các văn bản quy phạm pháp luật về MT như Luật bảo vệ MT, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật tài nguyên nước… phải đặt trong một chỉnh thể thống nhất
  • Trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các ngành, lĩnh vực phải đảm bảo phù hợp với tính thống nhất của MT theo hứơng quy hoạt động quản lý về môi trường về một đầu mối dưới sự quản lý thống nhất của Chính phủ.
  1. Chính sách môi trường (Điều 5 LBVMT)
  • Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường.
  • Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường.
  • Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải.
  • Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư.
  • Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hằng năm.
  • Ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển.
  • Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường.
  • Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường.
  • Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại.

Tóm lại, cần lưu ý các vấn đề sau đây:

  • Xu hướng xã hội hóa trong lĩnh vực BVMT

Khuyến khích tư nhân đầu tư thành lập công ty dịch vụ thu gom và xử lý chất thải, việc tự giác phân loại rác tại hộ gia đình.

  • Chú trọng khâu tuyên truyền, giáo dục, vận động

Quan tâm giáo dục về ý thức bảo vệ môi trường từ bậc mầm non, hoặc thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ phê phán thói hư tật xấu của con người trong văn hóa, văn minh đô thị.

  • Khuyến khích việc nghiên cứu, ứng dụng KHCN mới, thân thiện với môi trường

Sử dụng vật liệu mới, thân thiện MT, tận dụng các chất phế thải có thể sử dụng lại, giảm bớt chất thải ra MT.

Sử dụng bao bì giấy thay cho bao bì nilon.

Tờ báo cần 1 tháng để tiêu hủy, áo cũ cần 5 tháng, thanh gỗ cần 13 năm, l hộp nhựa cần 450 năm, chai thủy tinh không tiêu hủy[1]

  • Đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường
  1. Nguồn của luật môi trường

Nguồn của LMT gồm các văn bản pháp luật có chứa đựng các quy phạm pháp luật MT, cụ thể:

  • Các điều ước quốc tế về MT.(chương III)
  • Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về MT.
    • Hiến pháp 1992
    • Luật BVMT
    • Luật BV & PT rừng
    • Luật Khoáng sản
    • Luật tài nguyên nước
    • Luật Di sản văn hóa
    • Các Nghị định, thông tư hướng dẫn

Các văn bản trên sẽ được giới thiệu trong từng nội dung cụ thể ở các chương sau.

Các website có thể sử dụng để lấy tài liệu tham khảo và văn bản pháp luật MT:

+ www.luatvietnam.com.vn

+ www.unep.org

+ www.imo.org

+ http://www.monre.gov.vn

+ http://www.noccop.org.vn

+ http://www.nea.gov.vn

+ http://www.epa.gov

 

   CHƯƠNG 2

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ MÔI TRƯỜNG

 

BÀI  1

PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ

 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG

 

  1. Tiêu chuẩn và Quy chuẩn MT.

1.1. Khái niệm.

  • Định nghĩa.
    • Theo Luật BVMT (Khoản 5, Điều 3 của LBVMT):

TCMT là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường.

  • Theo Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (Khoản 1, khoản 2, Điều 3 của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật).

Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế – xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này.

Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng.

Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế – xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác.

Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng.

  • Lưu ý mâu thuẫn trong Luật BVMT và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và việc áp dụng chúng)

Theo Luật BVMT chỉ có khái niệm “Tiêu chuẩn môi trường”, quy định giới hạn cho phép đối với các thông số ô nhiễm về chất lượng môi trường xung quanh và hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải. Nhưng Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007) lại đề cập đến 2 khái niệm, đó là: “Tiêu chuẩn môi trường” do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố chỉ mang tính định hướng, tự nguyện áp dụng và “Quy chuẩn kỹ thuật về môi trường” do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng. Theo Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008, các tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh và về chất thải do Nhà nước công bố bắt buộc áp dụng được chuyển đổi tương ứng thành quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh và quy chuẩn kỹ thuật về chất thải. Việc chuyển đổi các tiêu chuẩn quốc gia về môi trường đã ban hành trước ngày 1/1/2007 do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.
Phân loại.

  • Căn cứ vào nội dung, mục đích và đối tượng áp dụng, TCMT  và QCMT được chia thành:
    • Quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng MT xung quanh: Là quy định giá trị giới hạn cho phép của các thông số MT, phù hợp với mục đích sử dụng thành phần MT.

Gồm:

  • Đất phục vụ mục đích sản xuất nn, lâm nghiệp, tsản và mục đích khác.
  • Nước mặt và nước dưới đất phục vụ mục đích cung cấp nước uống, sinh hoạt, nông nghiệp, nuôi trồng ts, tưới tiêu và mục đích khác.
  • Nước biển ven bờ phục vụ mục đích nuôi trồng ts, vui chơi, giải trí và mục đích khác.
  • Không khí ở vùng đô thị, vùng dân cư nông thôn.
  • Âm thanh, as, bức xạ trong khu vực dân cư, nơi công cộng

 

  • Quy chuẩn kỹ thuật về chất thải: là quy định cụ thể giá trị tối đa của các thông số ô nhiễm của chất thải, bảo đảm không gây hại cho con người và sinh vật.

Gồm:

  • Nước thải CN, dv, chăn nuôi, nuôi trồng ts, sh và hoạt động khác
  • Khí thải công nghiệp, thiết bị dùng để xử lý, tiêu hủy chất thải sh, công nghiệp, y tế
  • Khí thải từ phương tiện giao thông, máy móc, thiết bị chuyên dùng
  • Chất thải nguy hại
  • Tiếng ồn, độ rung đ/v phương tiện giao thông, cssx, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng.

 

  • Căn cứ vào chủ thể công bố và ban hành TCMT, QCMT:
    • Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN).
    • Tiêu chuẩn cơ sở (TCCS)
    • Tiêu chuẩn quốc tế (TCQT).
    • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCKTVN).
    • Quy chuẩn kỹ thuật địa phương (QCKTĐP)

1.2. Xây dựng, công bố và áp dụng tiêu chuẩn và quy chuẩn MT ( từ Điều 10 đến Điều 25 của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật).

  • Xây dựng, công bố và áp dụng Tiêu chuẩn MT.
    • Xây dựng và công bố.
      • Đối với TCQG.

. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức xây dựng dự thảo tiêu chuẩn quốc gia và đề nghị thẩm định, công bố tiêu chuẩn quốc gia.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thẩm định dự thảo tiêu chuẩn quốc gia và công bố tiêu chuẩn quốc gia.

  • Đối với TCCS.

Các tổ chức xây dựng và công bố tiêu chuẩn cơ sở bao gồm:

  • Tổ chức kinh tế;
  • Cơ quan nhà nước;
  • Đơn vị sự nghiệp;
  • Tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

 

  • Đối với TCQT.
  • Áp dụng.
    • Nguyên tắc:
  • Tiêu chuẩn được áp dụng trên nguyên tắc tự nguyện.
  • Toàn bộ hoặc một phần tiêu chuẩn cụ thể trở thành bắt buộc áp dụng khi được viện dẫn trong văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật.
  • Tiêu chuẩn cơ sở được áp dụng trong phạm vi quản lý của tổ chức công bố tiêu chuẩn.
  • Đối với tiêu chuẩn quốc tế: Đây là tiêu chuẩn do các tổ chức quốc tế ban hành hoặc do các quốc gia thỏa thuận xây dựng. Các tiêu chuẩn này chỉ mang tính tham khảo, khuyến khích áp dụng trừ trường hợp có những thỏa thuận của các quốc gia thành viên về việc áp dụng trực tiếp những tiêu chuẩn đó. Lưu ý là khi một quốc gia sử dụng tiêu chuẩn quốc tế để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia thì tiêu chuẩn đó được áp dụng dưới danh nghĩa là tiêu chuẩn của quốc gia đó (đã có sự chuyển hóa tiêu chuẩn quốc tế thành tiêu chuẩn quốc gia).
    • Phương thức áp dụng tiêu chuẩn:
  • Tiêu chuẩn được áp dụng trực tiếp hoặc được viện dẫn trong văn bản khác.
  • Tiêu chuẩn được sử dụng làm cơ sở cho hoạt động đánh giá sự phù hợp.
  • Xây dựng, công bố và áp dụng Quy chuẩn MT( từ Điều 26 đến Điều 39 của Luật tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật).
    • Xây dựng và công bố QCMT.
      • Đối với QCVN.

Trách nhiệm xây dựng, thẩm định, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được quy định như sau:

  • Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công quản lý;
  • Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thẩm định dự thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
  • Chính phủ quy định việc xây dựng, thẩm định, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mang tính liên ngành và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật thuộc trách nhiệm quản lý của cơ quan thuộc Chính phủ.
    • Đối với QCĐP.

Trách nhiệm xây dựng, thẩm định, ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương được quy định như sau:

  • Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương để áp dụng trong phạm vi quản lý của địa phương đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình đặc thù của địa phương và yêu cầu cụ thể về môi trường cho phù hợp với đặc điểm về địa lý, khí hậu, thuỷ văn, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương;
  • Quy chuẩn kỹ thuật địa phương được ban hành sau khi được sự đồng ý của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công quản lý

 

  • Áp dụng QCMT
  • Quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng bắt buộc trong hoạt động sản  xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế – xã hội khác.
  • Quy chuẩn kỹ thuật được sử dụng làm cơ sở cho hoạt động đánh giá sự phù hợp.
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia có hiệu lực thi hành trong phạm vi cả nước; quy chuẩn kỹ thuật địa phương có hiệu lực thi hành trong phạm vi quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành quy chuẩn kỹ thuật đó.
  1. Quan trắc về MT (Từ Điều 94 đến Điều 97 của LBVMT).

2.1. Hệ thống quan trắc (Điều 95)

Quan trắc môi trường: theo khoản 7 Điều 3 LBVMT, là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường.

Hệ thống quan trắc môi trường bao gồm:

  • Các trạm lấy mẫu, đo đạc phục vụ hoạt động quan trắc môi trường.
  • Các phòng thí nghiệm, trung tâm phân tích mẫu, quản lý và xử lý số liệu quan trắc môi trường.

2.2. Chương trình quan trắc (khoản 1 Điều 94, Điều 97)

Hiện trạng môi trường và các tác động đối với môi trường được theo dõi thông qua các chương trình quan trắc môi trường sau đây:

  • Quan trắc hiện trạng môi trường quốc gia;
  • Quan trắc các tác động đối với môi trường từ hoạt động của ngành, lĩnh vực;
  • Quan trắc hiện trạng môi trường của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
  • Quan trắc các tác động môi trường từ hoạt động của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung.

Chương trình quan trắc môi trường bao gồm chương trình quan trắc hiện trạng môi trường và chương trình quan trắc tác động môi trường từ các hoạt động kinh tế – xã hội. Chương trình quan trắc môi trường phải được thực hiện thống nhất, đồng bộ.

Chương trình quan trắc hiện trạng môi trường bao gồm các hoạt động sau đây:

  • Định kỳ lấy mẫu phân tích và dự báo diễn biến chất lượng đất, nước, không khí;
  • Theo dõi diễn biến số lượng, thành phần, trạng thái các nguồn tài nguyên thiên nhiên;
  • Theo dõi diễn biến chất lượng, số lượng, thành phần, trạng thái các hệ sinh thái, loài sinh vật và nguồn gen.

Chương trình quan trắc tác động môi trường bao gồm các hoạt động sau đây:

  • Theo dõi số lượng, thực trạng, diễn biến các nguồn tác động xấu lên môi trường;
  • Theo dõi diễn biến số lượng, thành phần, mức độ nguy hại của chất thải rắn, khí thải, nước thải;
  • Phát hiện, đánh giá các tác động xuyên biên giới đến môi trường trong nước.

2.3. Trách nhiệm quan trắc (khoản 2 Điều 94)

  • Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức việc quan trắc hiện trạng môi trường quốc gia;
  • Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức việc quan trắc các tác động đối với môi trường từ hoạt động của ngành, lĩnh vực do mình quản lý;
  • Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc quan trắc hiện trạng môi trường theo phạm vi địa phương;
  • Người quản lý, vận hành cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung có trách nhiệm quan trắc các tác động đối với môi trường từ các cơ sở của mình.
  1. Báo cáo hiện trạng MT cấp tỉnh (Điều 99 của Luật BVMT).

3.1. Khái niệm.

Là báo cáo do UBND cấp tỉnh lập định kỳ 5 năm một lần theo kỳ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương phản ánh hiện trạng MT theo không gian tỉnh, thành phố trực thuộc TW.

3.2. Nội dung (khoản 1 Điều 99 của Luật BVMT).

  1. a) Hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường đất;
  2. b) Hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường nước;
  3. c) Hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường không khí;
  4. d) Hiện trạng và diễn biến số lượng, trạng thái, chất lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên;

đ) Hiện trạng và diễn biến chất lượng, trạng thái các hệ sinh thái; số lượng, thành phần các loài sinh vật và nguồn gen;

  1. e) Hiện trạng môi trường các khu đô thị, khu dân cư tập trung, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung và làng nghề;
  2. g) Các khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái, danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng;
  3. h) Các vấn đề môi trường búc xúc và nguyên nhân chính;
  4. i) Các biện pháp khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện môi trường;
  5. k) Đánh giá công tác bảo vệ môi trường của địa phương;
  6. l) Kế hoạch, chương trình, biện pháp đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.

3.3. Trách nhiệm lập và công khai báo cáo (khoản 2, Điều 99, Điều 104 của Luật BVMT).

Theo khoản 2, Điều 99 Luật BVMT Định kỳ năm năm một lần, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lập báo cáo hiện trạng môi trường theo kỳ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp và báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Theo Điều 104 Luật BVMT, trừ các thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, thông tin, dữ liệu về môi trường sau đây phải được công khai:

  1. a) Báo cáo đánh giá tác động môi trường, quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và kế hoạch thực hiện các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường;
  2. b) Cam kết bảo vệ môi trường đã đăng ký;
  3. c) Danh sách, thông tin về các nguồn thải, các loại chất thải có nguy cơ gây hại tới sức khoẻ con người và môi trường;
  4. d) Khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường;

đ) Quy hoạch thu gom, tái chế, xử lý chất thải;

  1. e) Báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh, báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực và báo cáo môi trường quốc gia.

Hình thức công khai phải bảo đảm thuận tiện cho những đối tượng có liên quan tiếp nhận thông tin.

Cơ quan công khai thông tin về môi trường chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, khách quan của thông tin được công khai.

  1. Báo cáo tình hình tác động MT của ngành, lĩnh vực (Điều 100 của Luật BVMT).

4.1. Khái niệm

Là báo cáo do Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ lập định kỳ 5 năm một lần phản ánh tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực mà mình được phân công quản lý trên phạm vi cả nước.

4.2. Nội dung (khoản 1 Điều 100 của Luật BVMT).

Báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực bao gồm các nội dung sau đây:

  1. a) Hiện trạng, số lượng, diễn biến các nguồn tác động xấu đối với môi trường;
  2. b) Hiện trạng, diễn biến, thành phần, mức độ nguy hại của chất thải theo ngành, lĩnh vực;
  3. c) Danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và tình hình xử lý;
  4. d) Đánh giá công tác bảo vệ môi trường của ngành, lĩnh vực;

đ) Dự báo các thách thức đối với môi trường;

  1. e) Kế hoạch, chương trình, biện pháp đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.

4.3.Trách nhiệm lập và công khai báo cáo (khoản 2, Điều 100, Điều 104 của Luật BVMT).

Theo khoản 2, Điều 100 Luật BVMT định kỳ năm năm một lần, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ lập báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực do mình quản lý theo kỳ kế hoạch năm năm gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường.

  1. Báo cáo MT quốc gia (Điều 101 của Luật BVMT).

5.1. Khái niệm.

Là báo cáo do Bộ Tài nguyên và môi trường lập định kỳ 5 năm một lần theo kỳ phát triển KT – XH quốc gia phản ánh diễn biến MT và tình hình tác động MT của các ngành, lĩnh vực trên phạm vi cả nước.

5.2. Nội dung (khoản 1 Điều 101 của Luật BVMT).

Báo cáo môi trường quốc gia gồm có các nội dung sau đây:

Các tác động môi trường từ hoạt động của ngành, lĩnh vực;

Diễn biến môi trường quốc gia và các vấn đề môi trường bức xúc;

Đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, tổ chức quản lý và biện pháp bảo vệ môi trường;

Dự báo các thách thức đối với môi trường;

Kế hoạch, chương trình, biện pháp đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.

5.3. Trách nhiệm lập và công khai báo cáo (khoản 2, Điều 101, Điều 104 của Luật BVMT).

Bộ TN&MT có trách nhiệm lập báo cáo môi trường quốc gia theo kỳ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội quốc gia để Chính phủ trình Quốc hội định kỳ năm năm một lần; hằng năm lập báo cáo chuyên đề về môi trường.

  1. Đánh giá MT chiến lược (ĐMC)

Đây là hoạt động thể hiện một nguyên tắc của Luật MT, đó là nguyên tắc gì? Nguyên tắc phòng ngừa.

6.1. Khái niệm

Là hoạt động nhằm lường trước rủi ro mà những đối tượng phải đánh giá môi trường chiến lược có thể gây ra cho MT trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để loại trừ và giảm thiểu rủi ro.

6.2. Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá MT chiến lược ( Điều 14 của Luật BVMT)

Là những chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển những vấn đề nghiêm trọng đến môi trường ở tầm vĩ mô mang tính lâu dài.

Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá MT chiến lược được quy định tại Điều 14 của Luật BVMT, cụ thể như sau:

  1. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp quốc gia.
  2. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên quy mô cả nước.
  3. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), vùng.
  4. Quy hoạch sử dụng đất; bảo vệ và phát triển rừng; khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng.
  5. Quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm.
  6. Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy mô liên tỉnh.

Một số chiến lược phát triển đã có những tác động không nhỏ đến môi trường:

* Chiến lược phát triển thành phố Hồ Chí Minh về phía Nam xây dựng đô thị mới Thủ Thiêm.

Đây là vũng đất trũng, nơi chứa nước khi thủy triều dâng lên. Vào mùa mưa, vùng này là vùng điều tiết lượng nước mưa rất lớn của TP, tránh cho TP ngập lụt. Người Pháp đã không quy hoạch đô thị về phía Nam?

* Chiến lược phát triển ngành công nghiệp

Sai lầm từ chiến lược, sản xuất bột ngọt từ củ mì đã gây những tác động xấu nghiêm trọng đến MT. Đất canh tác mì à đất bạc màu, không thể canh tác các loại cây trồng khác có năng suất cao được. Mặt khác, sản xuất bột ngọt sử dụng nhiều chất phụ gia, thải rất nhiều chất độc hại ra môi trường. Sai lầm của Việt Nam là xây dựng quá nhiều nhà máy chế biến bột ngọt, hiện nay người dân phải gánh chịu hậu quả từ việc sử dụng nguồn nước ô nhiễm nghiêm trọng, Nhà nước phải tốn kém rất nhiều công sức và chi phí để xử lý nguồn nước, khắc phục ô nhiễm môi trường. (không kể nhiều hậu quả khác).

Phát triển ngành công nghiệp đóng tàu: ngành công nghiệp đóng tàu từ những nước công nghiệp chuyển dịch sang các quốc gia đang phát triển, tận dụng nguồn nhân lực giá rẻ, chiến lược phát triển quốc gia công nghiệp hóa từ nông nghiệp sang công nghiệp, pháp luật chưa được quy định chặt chẽ, nhất là pháp luật về môi trường, quản lý nhà nước còn nhiều sơ hở à xả thải nhiều chất gây ô nhiễm môi trường.

Tóm lại, đánh giá khả năng tác động môi trường đối với chiến lược phát triển ngành, vùng rất quan trọng.

* Lưu ý: Chỉ có những chiến lược, quy hoạch, kế hoạch được quy định trong Điều 14 là đối tượng phải đáng giá môi trường chiến lược.

Ví dụ: quy hoạch xây dựng trường học không cần đánh giá môi trường chiến lược vì không phải là đối tượng phải ĐGMTCL.

6.3. Trình tự, thủ tục đánh giá môi trường chiến lược:

6.3.1 Lập báo cáo đánh giá MT chiến lược

Lập báo cáo đánh giá MT chiến lược tức là việc lường trước những rủi ro bằng những chiến lược phát triển, thể hiện rõ trong nội dung báo cáo. Từ đó, đưa ra những kiến nghị, giải pháp để loại trừ rủi ro.

Trách nhiệm lập báo cáo (Điều 15 của Luật BVMT)

Ai là người lập báo cáo ĐGMTCL?

– Cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án quy định tại Điều 14 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược.

Ví dụ: Bộ Công thương được Chính phủ giao xây dựng dự án phát triển ngành công nghiệp, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn xây dựng dự án phát triển ngành thủy sản.

à Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp & phát triển NN có trách nhiệm lập báo cáo đối với các dự án phát triển trên theo sự phân công của Chính phủ.

– Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược là một nội dung của dự án và phải được lập đồng thời với quá trình lập dự án.

Nội dung của báo cáo (Điều 16 của Luật BVMT)

– Khái quát về mục tiêu, quy mô, đặc điểm của dự án có liên quan đến môi trường.

– Mô tả tổng quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, môi trường có liên quan đến dự án.

– Dự báo tác động xấu đối với môi trường có thể xảy ra khi thực hiện dự án.

– Chỉ dẫn nguồn cung cấp số liệu, dữ liệu và phương pháp đánh giá.

– Đề ra phương hướng, giải pháp tổng thể giải quyết các vấn đề về môi trường trong quá trình thực hiện dự án.

6.3.2    Thẩm định báo cáo đánh giá MT chiến lược (Điều 17 của Luật BVMT, NĐ 80/2006/NĐ-CP, TT 08/2006-TT-BTNMT)

Hình thức thẩm định

Khác với thẩm định báo cáo ĐTM, việc thẩm định báo cáo ĐMC chỉ được thông qua hội đồng thẩm định mà không qua tổ chức dịch vụ thẩm định.

Thành phần của hội đồng thẩm định đối với các dự án có quy mô quốc gia, liên tỉnh bao gồm đại diện của cơ quan phê duyệt dự án; đại diện của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan đến dự án; các chuyên gia có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung, tính chất của dự án; đại diện của tổ chức, cá nhân khác do cơ quan có thẩm quyền thành lập hội đồng thẩm định quyết định.

Thành phần của hội đồng thẩm định đối với các dự án của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bao gồm đại diện của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường và các ban, ngành cấp tỉnh có liên quan; các chuyên gia có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung, tính chất của dự án; đại diện của tổ chức, cá nhân khác do cơ quan có thẩm quyền thành lập hội đồng thẩm định quyết định.

Hội đồng thẩm định phải có trên năm mươi phần trăm số thành viên có chuyên môn về môi trường và các lĩnh vực liên quan đến nội dung dự án. Người trực tiếp tham gia lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược không được tham gia hội đồng thẩm định.

Phân cấp tổ chức thẩm định

Trách nhiệm tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược được quy định như sau:

  1. a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
  2. b) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của mình;
  3. c) Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định của mình và của Hội đồng nhân dân cùng cấp.

6.3.3 Phê duyệt báo cáo đánh giá MT chiến lược (Điều 17 của Luật BVMT, NĐ 80/2006/NĐ-CP, TT 08/2006-TT-BTNMT)

Do đặc thù về đối tượng phải ĐMC là các dự án xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đều thuộc thẩm quyền phê duyệt của các cơ quan quản lý nhà nước nên pháp luật hiện hành không quy định rõ ràng trách nhiệm phê duyệt báo cáo ĐMC của cơ quan có trách nhiệm tổ chức thẩm định.

Tuy nhiên, tùy theo chức năng, nhiệm vụ được giao, cơ quan có trách nhiệm tổ chức thẩm định báo cáo ĐMC phải có văn bản chính thức về kết quả thẩm định gửi cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bản chiến lược, quy hoạch, kế hoạch.

6.3.4 Thực hiện báo cáo đánh giá MT chiến lược (NĐ 80/2006/NĐ-CP, TT 08/2006-TT-BTNMT)

Thực hiện báo cáo đánh giá MT chiến lược chính là thực hiện các biện pháp, giải pháp loại trừ, giảm thiểu rủi ro.

Kết quả thẩm định báo cáo môi trường chiến lược là một trong những căn cứ để phê duyệt dự án.

  1. Đánh giá tác động MT (ĐTM): Điều 18 đến Điều 23 LBVMT

7.1. Khái niệm:

Là hoạt động nhằm lường trước rủi ro mà những đối tượng phải đánh giá tác động môi trường có thể gây ra cho MT trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để loại trừ và giảm thiểu rủi ro.

ETA: Enviromental impact asseccement

Vậy làm thế nào để phân biệt hoạt động ĐMC và ĐTM?

(Trả lời sau phần đối tượng)

7.2. Đối tượng phải ĐTM ( Điều 18 của Luật BVMT, Phụ lục I của NĐ 80/2006/NĐ-CP)

Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường

  1. Chủ các dự án sau đây phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường:
  2. a) Dự án công trình quan trọng quốc gia;
  3. b) Dự án có sử dụng một phần diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các khu di tích lịch sử – văn hoá, di sản tự nhiên, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng;
  4. c) Dự án có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ;
  5. d) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, cụm làng nghề;

đ) Dự án xây dựng mới đô thị, khu dân cư tập trung;

  1. e) Dự án khai thác, sử dụng nước dưới đất, tài nguyên thiên nhiên quy mô lớn;
  2. g) Dự án khác có tiềm ẩn nguy cơ lớn gây tác động xấu đối với môi trường.

So sánh giữa ĐMC và ĐTM.

Mục đích của ĐMC và ĐTM như nhau, đó là hoạt động nhằm lường trước, ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra, từ đó đưa ra những giải pháp để loại trừ, giảm thiểu rủi ro đó.

Điểm khác nhau giữa ĐMC và ĐTM là đối tượng phải đánh giá

ĐMC ĐTM
Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển Dự án đầu tư
  1. Danh mục các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường do Chính phủ quy định.

7.3.  Trình tự, thủ tục lập báo cáo ĐTM

7.3.1 Lập báo cáo ĐTM (Điều 19 của Luật BVMT, NĐ 80/2004/NĐ-CP, TT 08/2006-TT-BTNMT)

  1. Chủ dự án quy định tại Điều 18 của Luật này có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
  2. Báo cáo đánh giá tác động môi trường phải được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án.
  3. Chủ dự án tự mình hoặc thuê tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và chịu trách nhiệm về các số liệu, kết quả nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.
  4. Trường hợp có thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian triển khai, thực hiện, hoàn thành dự án thì chủ dự án có trách nhiệm giải trình với cơ quan phê duyệt; trường hợp cần thiết phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung.
  5. Tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường phải có đủ điều kiện về cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất – kỹ thuật cần thiết.

7.3.2 Nội dung báo cáo ĐTM (Điều 20 của Luật BVMT, NĐ 80/2004/NĐ-CP, TT 08/2006-TT-BTNMT)

Chủ đầu tư lập báo cáo ĐTM với nội dung như sau:

  1. Liệt kê, mô tả chi tiết các hạng mục công trình của dự án kèm theo quy mô về không gian, thời gian và khối lượng thi công; công nghệ vận hành của từng hạng mục công trình và của cả dự án.
  2. Đánh giá chung về hiện trạng môi trường nơi thực hiện dự án và vùng kế cận; mức độ nhạy cảm và sức chịu tải của môi trường.
  3. Đánh giá chi tiết các tác động môi trường có khả năng xảy ra khi dự án được thực hiện và các thành phần môi trường, yếu tố kinh tế – xã hội chịu tác động của dự án; dự báo rủi ro về sự cố môi trường do công trình gây ra.
  4. Các biện pháp cụ thể giảm thiểu các tác động xấu đối với môi trường; phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường.
  5. Cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng và vận hành công trình.
  6. Danh mục công trình, chương trình quản lý và giám sát các vấn đề môi trường trong quá trình triển khai thực hiện dự án.
  7. Dự toán kinh phí xây dựng các hạng mục công trình bảo vệ môi trường trong tổng dự toán kinh phí của dự án.
  8. Ý kiến của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã), đại diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án; các ý kiến không tán thành việc đặt dự án tại địa phương hoặc không tán thành đối với các giải pháp bảo vệ môi trường phải được nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.
  9. Chỉ dẫn nguồn cung cấp số liệu, dữ liệu và phương pháp đánh giá.

7.3.3 Thẩm định báo cáo ĐTM  (Điều 21 của Luật BVMT, NĐ 80/2004/NĐ-CP, TT 08/2006-TT-BTNMT)

Hình thức thẩm định

Việc thẩm định báo cáo ĐTM có thể được tiến hành thông qua một trong hai hình thức: Hội đồng thẩm định và tổ chức dịch vụ thẩm định.

– Thông qua Hội đồng thẩm định (HĐTĐ):

Thành phần hội đồng thẩm định: Thành phần  HĐTĐ đối với các dự án thuộc trách nhiệm tổ chức thẩm định của Bộ TN&MT, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ gồm có đại diện của cơ quan phê duyệt dự án; cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường của cơ quan phê duyệt dự án; cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh nơi thực hiện dự án; các chuyên gia có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung, tính chất của dự án; đại diện của tổ chức, cá nhân khác do cơ quan có thẩm quyền thành lập hội đồng thẩm định quyết định.

Thành phần của hội đồng thẩm định đối với các dự án thuộc trách nhiệm  tổ chức thẩm định  của  ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm đại diện Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường và các sở, ban chuyên môn cấp tỉnh có liên quan; các chuyên gia có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung, tính chất của dự án; đại diện của tổ chức, cá nhân khác do cơ quan có thẩm quyền thành lập hội đồng thẩm định quyết định.

Trường hợp cần thiết, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thể mời đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan tham gia hội đồng thẩm định.

Hội đồng thẩm định phải có trên năm mươi phần trăm số thành viên có chuyên môn về môi trường và lĩnh vực có liên quan đến nội dung dự án. Người trực tiếp tham gia lập báo cáo đánh giá tác động môi trường không được tham gia hội đồng thẩm định.

– Thông qua tổ chức dịch vụ thẩm định: đây là loại hình dịch vụ môi trường hoạt động theo hướng dẫn của Bộ TN&MT. Tổ chức dịch vụ thẩm định được tham gia thẩm định theo quyết định của cơ quan phê duyệt dự án và phải chịu trách nhiệm vế ý kiến, kết luận thẩm định của mình.

Tuy nhiên, việc sử dụng các tổ chức dịch vụ thẩm định đối với các dự án liên quan đến lĩnh vực an ninh, quốc phòng sẽ có những hạn chế nhất định và thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Lưu ý là Hội đồng thẩm định và tổ chức dịch vụ thẩm định chỉ đóng vai trò tư vấn, cơ quan có thẩm quyền vẫn là cơ quan chịu trách nhiệm đối với quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM.

Phân cấp tổ chức thẩm định

Theo quy định của pháp luật môi trường, trách nhiệm tổ chức việc thẩm định báo cáo ĐTM đối với dự án được quy định như sau:

  1. a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định, phê duyệt; dự án liên ngành, liên tỉnh;
  2. b) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình, trừ dự án liên ngành, liên tỉnh;
  3. c) Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án trên địa bàn quản lý thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình và của Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Lưu ý: Việc QH/UBTVQH xem xét các dự án lớn chỉ là xem xét có quyết định đầu tư hay không chứ không phải xem xét ĐTM.

 

7.3.4 Phê duyệt báo cáo ĐTM (Điều 22 của Luật BVMT, NĐ 80/2006/NĐ-CP, TT 08/2006-TT-BTNMT)

Cơ quan thành lập hội đồng thẩm định hoặc quyết định sử dụng tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường có trách nhiệm:

Xem xét khiếu nại, kiến nghị của chủ dự án, cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân liên quan trước khi phê duyệt.

Xem xét, quyết định việc phê duyệt báo cáo ĐTM sau khi đã được thẩm định

Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo ĐTM đã được chỉnh sửa đạt yêu cầu theo kết luận của hội đồng thẩm định, tổ chức dịch vụ thẩm định, thủ trưởng cơ quan được phân cấp tổ chức thẩm định phải xem xét, quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM; nếu không phê duyệt thì phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do cho chủ dự án biết.

Lưu ý: Sự khác nhau giữa hoạt động đánh giá tác động môi trường và thẩm định báo cáo tác động môi trường.

Hoạt động ĐTM chỉ kết thúc khi đã có báo cáo việc kiểm tra áp dụng các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường của dự án.

Thẩm định báo cáo ĐTM kết thúc khi có quyết định phê duyệt ĐTM.

 

7.3.5 Thực hiện báo cáo ĐTM (Điều 23 của Luật BVMT, NĐ 80/2006/NĐ-CP, TT 08/2006-TT-BTNMT)

Trách nhiệm thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường

  1. Chủ dự án có trách nhiệm sau đây:
  2. a) Báo cáo với Uỷ ban nhân dân nơi thực hiện dự án về nội dung của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường;
  3. b) Niêm yết công khai tại địa điểm thực hiện dự án về các loại chất thải, công nghệ xử lý, thông số tiêu chuẩn về chất thải, các giải pháp bảo vệ môi trường để cộng đồng dân cư biết, kiểm tra, giám sát;
  4. c) Thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung bảo vệ môi trường nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường và các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường;
  5. d) Thông báo cho cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường để kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường;

đ) Chỉ được đưa công trình vào sử dụng sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đầy đủ yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c khoản này.

  1. Cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường có trách nhiệm sau đây:
  2. a) Thông báo nội dung quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường do mình phê duyệt cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi thực hiện dự án; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thông báo nội dung quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường do mình hoặc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phê duyệt cho Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp huyện), Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện dự án;
  3. b) Chỉ đạo, tổ chức kiểm tra việc thực hiện các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.
  4. Cam kết BVMT

Nhằm phù hợp hơn với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam mà đặc điểm nổi bật là nền sản xuất quy mô nhỏ, phân tán, pháp luật bảo vệ môi trường hiện hành đưa ra các quy định về việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường.

8.1. Khái niệm

Là hoạt động nhằm lường trước rủi ro mà những đối tượng phải cam kết bảo vệ  môi trường có thể gây ra cho MT trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để loại trừ và giảm thiểu rủi ro.

8.2.Đối tượng phải cam kết BVMT  (Điều 24 của Luật BVMT)

Đối tượng phải có bản cam kết bảo vệ môi trường là các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình và đối tượng không thuộc dự án phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược hoặc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Các đối tượng này chỉ được triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sau khi đã đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường.

8.3. Nội dung bản cam kết (Điều 25 của Luật BVMT)

Bản cam kết bảo vệ môi trường gồm có các nội dung chính sau:

  1. Địa điểm thực hiện.
  2. Loại hình, quy mô sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng.
  3. Các loại chất thải phát sinh.
  4. Cam kết thực hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

8.4. Đăng ký bản cam kết BVMT (Điều 26 của Luật BVMT, NĐ 80/2006/NĐ-CP, TT 08/2006-TT-BTNMT)

Trách nhiệm tổ chức đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường thuộc về Uỷ ban nhân dân cấp huyện; trường hợp cần thiết, có thể ủy quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký.

Thời hạn chấp nhận bản cam kết bảo vệ môi trường là không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản cam kết bảo vệ môi trường hợp lệ.

8.5. Trách nhiệm thực hiện và kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường (Điều 27 của Luật BVMT,  TT 08/2006-TT-BTNMT)

Tổ chức, cá nhân cam kết bảo vệ môi trường có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường.

Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được giao trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường.

  1. Công khai thông tin dữ liệu về MT, thực hiện dân chủ ở cơ sở về MT.

9.1. Công khai thông tin, dữ liệu về MT (Điều 103, 104 của Luật BVMT, Điều 23 của NĐ 80/2006/NĐ-CP)

  • Mục đích, ý nghĩa
  • Thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ môi trườngà trách nhiệm bảo vệ môi trường là trách nhiệm của mọi công dân.
  • Tăng cường công tác quản lý, giám sát các hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, công chức – viên chức nhà nước.
  • Các thông tin phải công khai

Thông tin, dữ liệu về môi trường sau đây, trừ các thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, phải được công khai:

  1. a) Báo cáo đánh giá tác động môi trường, quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và kế hoạch thực hiện các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường;
  2. b) Cam kết bảo vệ môi trường đã đăng ký;
  3. c) Danh sách, thông tin về các nguồn thải, các loại chất thải có nguy cơ gây hại tới sức khoẻ con người và môi trường;
  4. d) Khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường;

đ) Quy hoạch thu gom, tái chế, xử lý chất thải;

  1. e) Báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh, báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực và báo cáo môi trường quốc gia.
  • Hình thức công khai

Hình thức công khai phải bảo đảm thuận tiện cho những đối tượng có liên quan tiếp nhận thông tin.

Hình thức công khai thông tin, dữ liệu về môi trường được quy định như sau:

Phát hành rộng rãi dưới hình thức sách, bản tin trên báo chí và đưa lên trang web của đơn vị (đối với dữ liệu về môi trường quốc gia, dữ liệu về môi trường thuộc ngành, lĩnh vực do các cơ quan trung ương quản lý).

Phát hành rộng rãi dưới hình thức sách, bản tin trên báo chí, đăng tải trên trang web của đơn vị (nếu có), báo cáo trong các cuộc họp Hội đồng nhân dân, thông báo trong các cuộc họp khu dân cư, niêm yết tại trụ sở của đơn vị và của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi đơn vị hoạt động đối với các dữ liệu về môi trường do các cơ quan địa phương hoặc các chủ cơ sở sản xuất dịch vụ quản lý.

9.2. Thực hiện dân chủ ở cơ sở về MT ( Điều 105 của Luật BVMT)

  • Nội dung

Tổ chức, cá nhân quản lý khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung; chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; cơ quan chuyên môn, cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường có trách nhiệm công khai với nhân dân, người lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ về tình hình môi trường, các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường.

  • Hình thức thực hiện
  1. Biện pháp khắc phục ô nhiễm, suy thoái bằng một trong các hình thức sau đây:
  2. a) Tổ chức họp để phổ biến cho nhân dân, người lao động;
  3. b) Thông báo, phổ biến bằng văn bản cho nhân dân, người lao động được biết.
  4. Trong các trường hợp sau đây thì phải tổ chức đối thoại về môi trường:
  5. a) Theo yêu cầu của bên có nhu cầu đối thoại;
  6. b) Theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp;
  7. c) Theo đơn thư khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của tổ chức, cá nhân liên quan.

 

BÀI 2

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI; PHÒNG NGỪA VÀ ỨNG PHÓ SỰ CỐ MT; KHẮC PHỤC Ô NHIỄM  VÀ PHỤC HỒI MT

 

  1. Quản lý chất thải

1.1. Khái niệm

  • Khái niệm chất thải (khoản 10, Điều 3 của LBVMT).
    • Định nghĩa

Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.

Phân biệt chất thải và chất gây ô nhiễm

Chất gây ô nhiễm là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm (theo khoản 9 Điều 3 LBVMT 2005). Ví dụ: tiếng ồn, khí thải từ cục nóng của máy lạnh.

Chất thải là chất có thể gây ô nhiễm cũng có thể không gây ô nhiễm môi trường. Do đó, chất thải có nội hàm rộng hơn chất gây ô nhiễm.

Chất thải có thể được nhận biết dưới các dạng sau đây:

  • Phân loại:
    • Căn cứ vào dạng tồn tại của chất thải:
  • Chất thải rắn: là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại.

(Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp) (Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007).

  • Chất thải lỏng: các loại nước thải trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác, có chứa chất gây ô nhiễm hoặc không, có thể rất độc hại cho sức khỏe con người và môi trường.

Theo Nghị định 88/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 thì nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất do sử dụng hoặc do các hoạt động của con người xả vào hệ thống thoát nước hoặc ra môi trường.

  • Chất thải khí: các loại khí thải trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác như CO, SO2, NH3, H2S, HC, chì, đồng, …
    • Căn cứ vào nguồn sản sinh chất thải:
  • Chất thải sinh họat.

Ví dụ: bao bì, phế phẩm, phân, nước tiểu, nước thải, giấy, …. từ sinh hoạt hàng ngày

  • Chất thải công nghiệp.

Ví dụ: các chất thải bỏ trong quá trình sản xuất, dịch vụ, … trong lĩnh vực công nghiệp, nước thải ra từ các nhà máy, khu công nghiệp, khu chế xuất như: chất nhuộm, chất tẩy rửa, xỉ đồng, hóa chất độc hại ….

  • Chất thải nông nghiệp.

Ví dụ: các chất thải bỏ trong quá trình sản xuất, dịch vụ, … trong lĩnh vực nông nghiệp như vỏ bao bì và dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, phân bón

  • Chất thải của các hoạt động khác.

Ví dụ: chất thải từ hoạt động y tế như bơm – kim tiêm, nội tạng, hóa chất sát trùng diệt khuẩn, hóa chất phòng thí nghiệm, …

  • Căn cứ vào tính chất nguy hại của chất thải:
  • Chất thải thông thường là chất thải ít gây ô nhiễm môi trường
  • Chất thải nguy hại (khoản 11, Điều 3 của LBVMT và danh mục chất thải nguy hại ban hành kèm theo QĐ 23/2006/QĐ-BTNMT).

Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác. Chất thải nguy hại mang nhiều nhân tố cũng như chất gây ô nhiễm môi trường.

 

Chất thải là nguồn chính gây ô nhiễm, do đó, quản lý chất thải là một trong những hình thức quan trọng nhất để kiểm soát ô nhiễm.

  • Khái niệm quản lý chất thải (Khoản 12, Điều 3 của LBVMT).
    • Định nghĩa:

Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải.

  • Đặc điểm.

* Cơ quan có thẩm quyền chung:

– Chính phủ có trách nhiệm tổ chức, thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường; thi hành chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên; thống nhất quản lý về bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước.

– Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm trong quản lý chất thải như sau:

  • Lập quy hoạch, bố trí mặt bằng cho việc tập kết chất thải rắn sinh hoạt, xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, khu chôn lấp chất thải.
  • Đầu tư, xây dựng, vận hành các công trình công cộng phục vụ quản lý chất thải thuộc phạm vi quản lý của mình.
  • Kiểm tra, giám định các công trình quản lý chất thải của tổ chức, cá nhân trước khi đưa vào sử dụng.
  • Ban hành và thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho hoạt động quản lý chất thải theo quy định của pháp luật.

* Cơ quan có thẩm quyền chuyên môn:

– Bộ TN&MT, Bộ TN&MT phối hợp Bộ Xây dựng

– Sở TN&MT, Sở Xây dựng, Sở GTCC thực hiện thẩm quyền quản lý theo chuyên môn, đồng thời phối hợp thho61ng nhất quản lý chất thải.

 

1.2. Nội dung

Hiện nay, trên thế giới có hai cách tiếp cận phổ biến được áp dụng trong quản lý chất thải là:

– Quản lý chất thải ở cuối đường ống sản cuất (quản lý chất thải ở cuối công đoạn sản xuất).

– Quản lý chất thải theo đường ống sản xuất (quản lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất).

Ngoài ra, một số nước phát triển đã có cách tiếp cận mới, đó là quản lý chất thải nhấn mạnh khâu tiêu dùng. Cách này sẽ tập trung vào việc nâng cao ý thức người tiêu dùng và nhà sản xuất lựa chọn và đòi hỏi sản phẩm được sản xuất ra phải đạt tiêu chuẩn môi trường, thân thiện với môi trường.

Ở Việt Nam, cách tiếp cận chủ yếu vẫn là quản lý chất thải cuối đường ống. Pháp luật môi trường quy định cụ thể về quản lý hai loại chất thải như sau:

  • Chất thải có khả năng tái chế, tái sử dụng: khuyến khích việc tái chế, tái sử dụng ở mức cao nhất, hạn chế đến mức thấp nhất lượng chất thải phải xử lý bằng các biện pháp chôn lấp, đốt, tiêu hủy hoặc các biện pháp khác. Các hình thức khuyến khích được áp dụng như miễn, giảm thuế giá trị gia tăng, bù giá, hỗ trợ kỹ thuật cho việc sản xuất năng lượng từ chất thải,… (Điều 117 Luật BVMT 2005).

Việc nhập khẩu phế liệu thì pháp luật không tuyệt đối cấm nhưng cũng không khuyến khích hoạt động này.

Phế liệu là gì? Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để dùng làm nguyên liệu sản xuất.

Nguyên tắc chung đặt ra đối với các tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu là chỉ được nhập phế liệu làm nguyên liệu sản xuất; không được lợi dụng việc nhập khẩu phế liệu để nhập khẩu chất thải dưới bất kỳ hình thức nào. Người nhập khẩu phế liệu phải tự chịu trách nhiệm trong trường hợp nhập khẩu, sử dụng phế liệu nhập khẩu cho sản xuất mà để xảy ra ô nhiễm môi trường. Phế liệu nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường (Điều 43 Luật BVMT 2005).

  • Chất thải thông thường phải tiêu hủy hoặc chôn lấp:

Ngoài những quy định chung về trách nhiệm quản lý chất thải trước hết thuộc về chủ phát sinh chất thải (những tổ chức, cá nhân có cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác có phát sinh chất thải) hoặc bên tiếp nhận, quản lý chất thải, pháp luật còn quy định riêng từng loại chất thải như sau:

  • Quản lý chất thải nguy hại (Từ Điều 70 đến Điều 76 của LBVMT, QĐ 23/2006/QĐ-BTNMT, TT 12/2006/TT-BTNMT).

– Danh mục chất thải nguy hại.

Chất thải nguy hại được pháp luật quy định rất chặt chẽ và chi tiết về điều kiện để quản lý chất thải, các yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với mỗi công đoạn của quá trình quản lý chất thải.

– Phải lập hồ sơ và đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường để được cấp giấy phép và mã số hoạt động.

– Việc phân loại, thu gom, lưu giữ tạm thời chất thải phải được tiến hành theo quy trình chặt chẽ, lưu ý không được để lẫn chất thải nguy hại với chất thải thông thường (Điều 71 Luật BVMT 2005).

– Việc vận chuyển chất thải nguy hại (Điều 72 Luật BVMT 2005).

  • Phải bằng thiết bị phương tiện chuyên dụng phù hợp, đi theo tuyến đường và thời gian do cơ quan có thẩm quyền về phân luồng giao thông quy định.
  • Chỉ những tổ chức, cá nhân có giấy phép vận chuyển chất thải nguy hại mới được tham gia vận chuyển.
  • Phương tiện vận chuyển chất thải nguy hại phải có thiết bị phòng, chống rò rỉ, rơi vãi, sự cố do chất thải nguy hại gây ra.
  • Tổ chức, cá nhân vận chuyển chất thải nguy hại chịu trách nhiệm về tình trạng để rò rỉ, rơi vãi, xảy ra sự cố môi trường trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ.

– Việc xử lý chất thải nguy hại phải được tiến hành bằng phương pháp, công nghệ, thiết bị phù hợp với đặc tính hóa học, lý học và sinh học của từng loại chất thải nguy hại để bảo đảm đạt tiêu chuẩn môi trường. (Điều 73, 74 Luật BVMT 2005).

– Việc thải bỏ, chôn lấp chất thải nguy hại còn lại sau khi xử lý phải được thực hiện theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. (Điều 74 Luật BVMT 2005).

– Khu chôn lấp chất thải nguy hại phải đáp ứng các yêu cầu:

  • Được bố trí đúng quy hoạch, thiết kế theo yêu cầu kỹ thuật đối với khu chôn lấp chất thải nguy hại; có khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư, khu bảo tồn thiên nhiên, nguồn nước mặt, nước dưới đất phục vụ mục đích sinh hoạt; có hàng rào ngăn cách và biển hiệu cảnh báo;
  • Có kế hoạch và trang thiết bị phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường;
  • Bảo đảm các điều kiện về vệ sinh môi trường, tránh phát tán khí độc ra môi trường xung quanh;
  • Trước khi đưa vào vận hành, phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận đạt yêu cầu kỹ thuật tiếp nhận, chôn lấp chất thải nguy hại.

(Điều 75 Luật BVMT 2005).

Do chất thải nguy hại thường có nguồn gốc phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, pháp luật môi trường cũng quy định trách nhiệm của nhiều loại cơ quan khác nhau trong việc quản lý chất thải này. Cụ thể như sau:

– Bộ TN&MT thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về chất thải nguy hại trong phạm vi toàn quốc:

  • Chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các hoạt động quản lý chất thải nguy hại;
  • Ban hành các chỉ tiêu môi trường cho việc lựa chọn bãi chôn lấp chất thải nguy hại, các chỉ tiêu kỹ thuật cho việc thiết kế, xây dựng và vận hành các khu vực lưu giữ, các bãi chôn lấp, đảm bảo vệ sinh môi trường;
  • Lựa chọn và tư vấn các công nghệ xử lý chất thải nguy hại, hướng dẫn nội dung và thẩm định các báo cáo ĐTM của cơ sở thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý, tiêu hủy và các bãi chôn lấp chất thải nguy hại.

– Bộ Xây dựng có trách nhiệm hướng dẫn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quy hoạch xây dựng các khu xử lý chất thải nguy hại hợp vệ sinh,

– Bộ Công Thương có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và triển khai các biện pháp hữu hiệu buộc các chủ nguồn thải phải tuân thủ các quy định của Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ.

– Bộ Y tế có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và có biện pháp hữu hiệu buộc các bệnh viện, trạm y tế, cơ sở dịch vụ y tế tuân thủ Quy chế, ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế.

– Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, triển khai thực hiện các biện pháp hữu hiệu buộc các chủ nguồn thải trực thuộc tuân thủ các quy định về quản lý chất thải nguy hại.

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo:

Sở Xây dựng lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng các khu lưu giữ, các cơ sở xử lý, tiêu hủy và các bãi chôn lấp chất thải nguy hại hợp vệ sinh thuộc địa bàn quản lý của địa phương .

Sở Giao thông công chính lập kế hoạch khả thi và tổ chức thực hiện tốt kế hoạch quản lý chất thải bao gồm cả thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại trên địa bàn quản lý của địa phương.

Sở Tài nguyên môi trường hướng dẫn nội dung, yêu cầu xây dựng báo cáo ĐTM cho các chủ cơ sở lưu giữ, xử lý, tiêu hủy các bãi chôn lấp chất thải nguy hại để trình cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có thẩm quyền phê duyệt.

 

  • Quản lý chất thải rắn thông thường (từ Điều 77 đến Điều 80 của LBVMT, NĐ 59/2007/NĐ-CP).

Chất thải rắn thông thường được phân thành hai nhóm chính sau đây:

  • Chất thải có thể dùng để tái chế, tái sử dụng;
  • Chất thải phải tiêu hủy hoặc chôn lấp.

– Quản lý chất thải rắn: chủ phát sinh chất thải phải thực hiện việc thu gom và phân loại chất thải tại nguồn, phải tận dụng ở mức cao nhất các chất thải rắn thông thường có thể tái chế, tái sử dụng; hạn chế thải bỏ chất thải rắn thông thường còn có giá trị tái chế hoặc sử dụng cho mục đích hữu ích khác.

– Chất thải rắn thông thường phải được vận chuyển theo nhóm đã được phân loại tại nguồn, trong thiết bị chuyên dụng trên những tuyến đường được phân luồng bảo đảm không rơi vãi, phát tán mùi trong quá trình vận chuyển.

(Điều 78 Luật BVMT 2005).

– Cơ sở tái chế, tiêu hủy, chôn lấp chất thải rắn thông thường phải đáp ứng các yêu cầu theo quy định của pháp luật (Điều 79 Luật BVMT 2005).

  • Phù hợp với quy hoạch về thu gom, tái chế, tiêu hủy, chôn lấp chất thải rắn thông thường đã được phê duyệt;
  • Không được đặt gần khu dân cư, các nguồn nước mặt, nơi có thể gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất;
  • Được thiết kế, xây dựng và vận hành bảo đảm xử lý triệt để, tiết kiệm, đạt hiệu quả kinh tế tổng hợp, không gây ô nhiễm môi trường;
  • Có phân khu xử lý nước thải phát sinh từ chất thải rắn thông thường;
  • Sau khi xây dựng xong phải được cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường kiểm tra, xác nhận mới được tiếp nhận chất thải và vận hành tái chế, xử lý hoặc chôn lấp chất thải.

– Quy hoạch về thu gom, tái chế, tiêu hủy, chôn lấp chất thải rắn thông thường bao gồm các nội dung sau đây:

  • Điều tra, đánh giá, dự báo các nguồn phát thải và tổng lượng chất thải rắn phát sinh;
  • Đánh giá khả năng phân loại tại nguồn và khả năng tái chế chất thải;
  • Xác định vị trí, quy mô các điểm thu gom, cơ sở tái chế, tiêu huỷ, khu chôn lấp chất thải;
  • Lựa chọn công nghệ thích hợp;
  • Xác định tiến độ và nguồn lực thực hiện.

 

  • Quản lý chất thải lỏng thông thường (Điều 81, 82 của LBVMT, NĐ 88/2007/NĐ-CP).

– Quản lý nước thải: nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất phải được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường. (Điều 81 Luật BVMT 2005).

  • Đô thị, khu dân cư tập trung phải có hệ thống thu gom riêng nước mưa và nước thải; nước thải sinh hoạt phải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi đưa vào môi trường.
  • Nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung phải được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.
  • Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải được quản lý theo quy định về quản lý chất thải rắn.
    Nước thải, bùn thải có yếu tố nguy hại phải được quản lý theo quy định về chất thải nguy hại.

– Một số đối tượng nhất thiết phải có hệ thống xử lý nước thải, gồm: khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung; khu, cụm công nghiệp, làng nghề; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không liên thông với hệ thống xử lý nước thải tập trung. Hệ thống xử lý nước thải phải đảm bảo các yêu cầu:

  • Quy trình công nghệ phù hợp với loại hình nước thải cần xử lý;
  • Công suất xử lý phù hợp với khối lượng nước thải phát sinh;
  • Xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường;
  • Cửa xả nước thải vào hệ thống tiêu thoát phải đặt ở vị trí thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát;
  • Vận hành thường xuyên.

– Chủ quản lý hệ thống xử lý nước thải phải thực hiện quan trắc định kỳ nước thải trước và sau khi xử lý. Số liệu quan trắc được lưu giữ làm căn cứ để kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống xử lý nước thải.

 

  • Quản lý và kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ (từ Điều 83 đến Điều 85 của LBVMT).

– Quản lý và kiểm soát bụi, khí thải: tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát tán bụi, khí thải phải có trách nhiệm kiểm soát và xử lý bụi, khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường.

– Đối với khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ozon, pháp luật quy định việc quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn. Bộ TN&MT có trách nhiệm thống kê khối lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính trong phạm vi cả nước nhằm thực hiện Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

– Ngoài ra, pháp luật còn quy định về hạn chế tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ.

  • Tổ chức, cá nhân gây tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ vượt quá tiêu chuẩn môi trường phải có trách nhiệm kiểm soát, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.
  • Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu dân cư gây tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ vượt quá tiêu chuẩn cho phép phải thực hiện biện pháp hạn chế, giảm thiểu không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt, sức khoẻ của cộng đồng dân cư.
  • Tuyến đường có mật độ phương tiện tham gia giao thông cao, công trình xây dựng gây tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ vượt quá tiêu chuẩn cho phép phải có biện pháp giảm thiểu, khắc phục để đáp ứng tiêu chuẩn môi trường.
  • Cấm sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng pháo nổ. Việc sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng pháo hoa theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

– Pháp luật còn quy định trách nhiệm của các bộ ngành và Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý chất thải tại các Điều 69, khoản 2, 3 Điều 79 Luật BVMT 2005.

 

  • Quản lý chất thải trong lĩnh vực xuất- nhập khẩu
    • Nguyên tắc: cấm xuất-nhập khẩu chất thải
    • Những biện pháp ngăn chặn việc xuất-nhập khẩu chất thải:
      • Trong việc xuất-nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa (Điều 42 của LBVMT).

Cấm nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hoá chất, hàng hoá sau đây:

+ Máy móc, thiết bị, phương tiện không đạt tiêu chuẩn môi trường;

+ Máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã qua sử dụng để phá dỡ;

+ Nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hoá chất, hàng hoá thuộc danh mục cấm nhập khẩu;

+ Máy móc, thiết bị, phương tiện bị nhiễm chất phóng xạ, vi trùng gây bệnh, chất độc khác chưa được tẩy rửa hoặc không có khả năng làm sạch;

+ Thực phẩm, thuốc y tế, thuốc bảo vệ động vật, thực vật đã hết hạn sử dụng hoặc không đạt tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.

 

  • Trong việc xuất-nhập khẩu phế liệu (Điều 43 của LBVMT, Điều 19 của NĐ 80/2006/NĐ-CP).
  • Điều kiện đặt ra đối với phế liệu được xuất – nhập khẩu.

Phế liệu nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau đây:

+ Đã được phân loại, làm sạch, không lẫn những vật liệu, vật phẩm, hàng hoá cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

+ Không chứa chất thải, các tạp chất nguy hại, trừ tạp chất không nguy hại bị rời ra trong quá trình bốc xếp, vận chuyển;

+ Thuộc danh mục phế liệu được phép nhập khẩu do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định.

  • Điều kiện đặt ra đối với cơ sở xuất – nhập khẩu phế liệu.

Tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế phải có đủ các điều kiện sau đây mới được phép nhập khẩu phế liệu:

+ Có kho, bãi dành riêng cho việc tập kết phế liệu bảo đảm các điều kiện về bảo vệ môi trường;

+ Có đủ năng lực xử lý các tạp chất đi kèm với phế liệu nhập khẩu;

+ Có công nghệ, thiết bị tái chế, tái sử dụng phế liệu đạt tiêu chuẩn môi trường.

  • Thủ tục xuất – nhập khẩu phế liệu.

Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu có trách nhiệm sau đây:

+ Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

+ Chậm nhất là năm ngày trước khi tiến hành bốc dỡ phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh nơi đặt cơ sở sản xuất hoặc kho, bãi chứa phế liệu nhập khẩu về chủng loại, số lượng, trọng lượng phế liệu, cửa khẩu nhập, tuyến vận chuyển, kho, bãi tập kết phế liệu và nơi đưa phế liệu vào sản xuất;

+ Xử lý tạp chất đi kèm phế liệu nhập khẩu; không được cho, bán tạp chất đó.

  • Vấn đề thu hồi sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ (Điều 67 của LBVMT, Điều 21 của NĐ 80/2006/NĐ-CP)

Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm thu hồi sản phẩm đã hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ dưới đây:

  • Nguồn phóng xạ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;
  • Pin, ắc quy;
  • Thiết bị điện tử, điện dân dụng và công nghiệp;
  • Dầu nhớt, mỡ bôi trơn, bao bì khó phân huỷ trong tự nhiên;
  • Sản phẩm thuốc, hoá chất sử dụng trong công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản; thuốc chữa bệnh cho người;
  • Phương tiện giao thông;
  • Săm, lốp;
  • Sản phẩm khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

 

  1. Phòng ngừa, ứng phó sự cố MT, khắc phục ô nhiễm và phục hồi MT

Phòng ngừa, ứng phó sự cố, khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường là một trong những hình thức pháp lý của kiểm soát ô nhiễm nhằm ngăn chặn kịp thời những hậu quả xấu, đồng thời nhanh chóng tìm ra các giải pháp khôi phục lại tình trạng môi trường.

2.1. Phòng ngừa, ứng phó sự cố MT

  • Khái niệm sự cố MT (khoản 8, Điều 3 của LBVMT).

Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.

Sự cố môi trường, với những biểu hiện là những tai biến hoặc rủi ro đối với môi trường thường diễn ra dưới tác động của yếu tố tự nhiên hoặc sự tác động của con người hoặc là kết cả cả hai yếu tố đó.

Phân biệt những nguyên nhân gây ra sự cố môi trường có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân hoặc tổ chức có liên quan. Những sự cố môi trường xảy ra do yếu tố thiên nhiên như cháy rừng do sét đánh, đất nông nghiệp bị ngập mặn do song thần gây ra,… thường là những sự cố gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường trong những trường hợp này sẽ không dẫn đến trách nhiệm pháp lý của bất cứ cá nhân, tổ chức nào. Ngược lại, những sự cố môi trường do con người gây ra đều dẫn đến những trách nhiệm pháp lý nhất định.

Một số sự cố môi trường thường xảy ra và để lại hậu quả nguy hại đối với con người và thiên nhiên như sau:

– Bão, lũ, hạn hán, nứt đất, động đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác.

– Hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng gây nguy hại cho MT.

– Sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở lọc hóa dầu và các sở công nghiệp khác.

– Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa phóng xạ.

  • Phòng ngừa sự cố MT (từ Điều 86 đến Điều 89 của LBVMT).
    • Trách nhiệm.

Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phương tiện vận tải có nguy cơ gây ra sự cố môi trường phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa sau đây:

  • Lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường;
  • Lắp đặt, trang bị các thiết bị, dụng cụ, phương tiện ứng phó sự cố môi trường;
  • Đào tạo, huấn luyện, xây dựng lực lượng tại chỗ ứng phó sự cố môi trường;
  • Tuân thủ quy định về an toàn lao động, thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên;
  • Có trách nhiệm thực hiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện kịp thời biện pháp để loại trừ nguyên nhân gây ra sự cố khi phát hiện có dấu hiệu sự cố môi trường.
    • Nội dung.
    • Xây dựng năng lực dự báo, cảnh báo về nguy cơ, diễn biến của các loại hình thiên tai có thể gây sự cố môi trường;
    • Điều tra, thống kê, đánh giá nguy cơ các loại thiên tai có thể xảy ra trong phạm vi cả nước, từng khu vực;
    • Quy hoạch xây dựng các công trình phục vụ mục đích phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại ở những nơi dễ xảy ra sự cố môi trường.
  • Ứng phó sự cố MT (Điều 90, Điều 91 của LBVMT) .
    • Trách nhiệm ứng phó sự cố trước hết cũng thuộc về các tổ chức, cá nhân gây ra sự cố MT. Các đối tượng này có trách nhiệm thực hiện các biện pháp khẩn cấp để bảo đảm an toàn cho người và tài sản, tổ chức cứu người, tài sản kịp thời thông báo cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường nơi xảy ra sự cố (Điều 90 Luật BVMT 2005).
    • Xây dựng phương án, chuẩn bị lực lượng ứng phó sự cố.

Sự cố xảy ra ở cơ sở, địa phương nào thì người đứng đầu cơ sở, địa phương đó có trách nhiệm huy động khẩn cấp nhân lực, vật lực và phương tiện để ứng phó sự cố kịp thời;

Sự cố môi trường xảy ra trong phạm vi nhiều cơ sở, địa phương thì người đứng đầu các cơ sở, địa phương nơi có sự cố có trách nhiệm cùng phối hợp ứng phó;

Trường hợp vượt quá khả năng ứng phó sự cố của cơ sở, địa phương thì phải khẩn cấp báo cáo cho cơ quan cấp trên trực tiếp để huy động các cơ cơ sở, địa phương khác tham gia ứng phó sự cố môi trường;

Nhân lực, vật tư, phương tiện được sử dụng để ứng phó sự cố môi trường được bồi hoàn chi phí theo quy định của pháp luật.

Tổ chức, cá nhân gây ra sự cố môi trường phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về môi trường theo quy định chung của pháp luật.

 

Cần lưu ý là những quy định trên về phòng ngừa, ứng phó sự cố MT chỉ là những quy định mang tính nguyên tắc, những quy định cụ thể về phòng ngừa, ứng phó sự cố MT trong từng lĩnh vực cụ thể chúng ta phải xem trong các văn bản pháp luật khác như: Luật tài nguyên nước, Pháp lệnh phòng chống bão lụt, Pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ. Pháp lệnh giống cây trồng, Pháp lệnh giống vật nuôi, Pháp lệnh thú y, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật… và những văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật BVMT và các văn bản trên.

2.2. Khắc phục ô nhiễm và phục hồi MT (Điều 49, Điều 92 của LBVMT)

  • Căn cứ để xác định cơ sở gây ô nhiễm và khu vực bị ô nhiễm

Căn cứ để xác định cơ sở gây ô nhiễm chính là sự tác động của nó tới MT xung quanh. Một cơ sở gây ô nhiễm không hẳn đã là cơ sở vi phạm pháp luật MT.

Căn cứ để xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm:

  • Theo quy định của pháp luật, môi trường bị ô nhiễm trong trường hợp hàm lượng một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường.
  • MT bị ô nhiễm nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hóa chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng MT từ 3 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng MT từ 5 lần trở lên.
  • MT bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hóa chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng MT từ 5 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng MT từ 10 lần trở lên.

Các hình thức xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi gây ô nhiễm môi trường được quy định tại Điều 49 LBVMT 2005.

  • Trách nhiệm khắc phục

Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm MT có trách nhiệm thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường.

  • Biện pháp khắc phục.
  • Tiến hành điều tra, xác định khu vực bị ô nhiễm
  • Căn cứ chính để xác định mức độ ô nhiễm là hàm lượng các chất ô nhiễm có trong thành phần môi trường.
  • Do UBND cấp tỉnh tiến hành, nếu xảy ra trong địa bàn tỉnh, Bộ TN&MT chỉ đạo việc phối hợp của UBND cấp tỉnh, nếu xảy ra từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.
  • Kết quả điều tra về nguyên nhân, mức độ, phạm vi ô nhiễm và thiệt hại về môi trường phải được công khai cho nhân dân được biết.

BÀI 3

PHÁP LUẬT VỀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG

  1. PHÁP LUẬT VỀ VỆ SINH NƠI CÔNG CỘNG

Nơi công cộng là nơi diễn ra hoạt động của nhiều người và có ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng. Vệ sinh nơi công cộng là những điều kiện và biện pháp để đảm bảo cho nơi công cộng được trong lành, sạch đẹp. Việc giữ gìn vệ sinh nơi công cộng góp phần tạo ra nếp sống văn minh, lợi ích kinh tế cho xã hội,

Pháp luật về vệ sinh nơi công cộng được quy định chủ yếu trong Luật Bảo vệ môi trường 2005 ( từ Điều 50 đến Điều 53), Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 và Điều lệ Vệ sinh ban hành kèm theo Nghị định 23 – HĐBT ngày 24 tháng 01 năm 1991 của Hội đồng Bộ Trưởng.

  • Vệ sinh trên đường phố (Điều 34 Điều lệ Vệ sinh)
  • Không được đổ rác, vứt rác, vứt xác súc vật và phóng uế bừa bãi trên đường phố, hè phố, bãi cỏ, gốc cây, hồ ao và những nơi công cộng khác.
  • Khi vận chuyển rác, than, vôi, cát, gạch và các chất thải khác, không được làm rơi vãi trên đường đi.
  • Không được tự tiện đào đường, hè phố. Nếu được phép đào thì làm xong phải dọn ngay và sửa lại như cũ, không được để đất và vật liệu xây dựng làm ứ tắc cống rãnh.
  • Hệ thống công rãnh phải kín và thường xuyên được khai thông.
  • Không được quét đường phố vào những giờ có đông người đi lại.
    • Vệ sinh ở những nơi công cộng khác (Điều 15 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Điều 35 Điều lệ Vệ sinh)
  • Mọi người phải có trách nhiệm thực hiện những quy định về vệ sinh nơi công cộng.
  • Những nơi công cộng như bến xe, bến tầu, sân bay, công viên, chợ, các cửa hàng lớn, các rạp hát, rạp chiếu phim, câu lạc bộ, các cơ quan xí nghiệp, trường học, nhà trẻ, mẫu giáo, các khu tập thể phải có đủ nước sạch, hố xí hợp vệ sinh, có thùng rác đậy kín.
  • Những khu vực đông dân cư, chật chội, những đường phố lớn đông người cần xây dựng nhà vệ sinh công cộng sạch đẹp, có thể thu tiền bảo quản và phục vụ.
  • Không được tắm, giặt ở các vòi nước công cộng.
  • Không được hút thuốc lá trong nhà trẻ, bệnh viện, phòng học, trong các rạp chiếu bóng, rạp hát, trên xe ôtô, máy bay và những nơi tập trung đông ngưòi trong không gian hạn chế. Tại những cơ sở này phải qui định những nơi hút thuốc riêng.
    • Vệ sinh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm (Điều 11 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Điều 36 Điều lệ Vệ sinh)
  • Việc nuôi gia súc, gia cầm phải đảm bảo vệ sinh, không gây ô nhiễm môi trường sinh hoạt và ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người.
  • Không được thả rông gia súc trên đường phố, khi lùa đàn gia súc qua thành phố, thị xã phải đi vào ban đêm và đi theo đường quy định riêng; nếu có phân gia súc rơi vãi trên đường phố phải dọn ngay.
  • Không được cho trâu bò tắm ở các sông ngòi, hồ ao, nơi nhân dân sử dụng làm nguồn nước dùng trong sinh hoạt, ăn uống.
    • Vệ sinh trong việc sử dụng phân bắc (Điều 37 Điều lệ Vệ sinh)
  • Phân bắc là phân người dùng để bón cây
  • Phân bắc phải được ủ kỹ trước khi sử dụng
  • Không được vận chuyển phân vào những giờ nhiều người qua lại trên đường phố.
  • Khi vận chuyển phân phải được để trong thùng đậy kín không được để phân rơi vãi trên đường đi.

Một vấn đề có ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như sự sống còn của con người ngoài những phần đã nêu về vệ sinh nơi công cộng chính là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong sự phát triển của nền kinh tế, công nghiệp hóa nông thôn, con người ngày càng ứng dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật vào đời sống, năng xuất, sản lượng tăng đáng kể, đó là niềm vui hết sức khả quan. Nếu xét ở mặt trái, mặt tiêu cực, việc sản xuất, nuôi trồng, chế biến thực phẩm không bảo đảm an toàn đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người dân. Theo dự báo của WHO, hàng năm, Việt Nam có khoảng 8 triệu người bị ngộ độc do tiêu chảy và ung thư. Tiếp theo, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu phần 2 đó là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm.

  1. PHÁP LUẬT VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

2.1 Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm

  • Khái niệm thực phẩm: “Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản” (khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm).

Lưu ý: Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về thực phẩm và cần phân biệt thực phẩm với những sản phẩm khác như dược phẩm.

  • Thực phẩm chức năng: là thực phẩm dùng để hỗ trợ hoạt động của các bộ phận trong cơ thể, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái và giảm bớt nguy cơ gây bệnh.
  • Dược phẩm: là thuốc để trị bệnh.
  • Khái niệm vệ sinh an toàn thực phẩm: “Vệ sinh an toàn thực phẩm là các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người” (khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm).

Lưu ý: VSAT thực phẩm được đặt ra trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất, chế biến thực phẩm (từ nông trại đến bàn ăn) và cho đến khâu cuối cùng là xử lý hậu quả ngộ độc thực phẩm.

Thông tin về ngộ độc thực phẩm

Báo cáo của Bộ Y tế Trung Quốc ngày 01/12/2008, đã có 300.000 trẻ em bị mắc các căn bệnh về suy giảm chức năng thận, suy thận, sạn thận do uống sữa có chức melamine (là một chất cho vào sữa làm tăng độ đạm bị cấm sử dụng). Trước đó khoảng 3-4 năm, sữa của TQ đã từng gây biến chứng đầu to ở trẻ em.

Những năm gần đây, Việt Nam có rất nhiều vụ việc liên quan đến sự an toàn thực phẩm bị phát hiện như: formol trong bánh phở, hàn the trong giò chả, đường hóa học và phẩm màu công nghiệp  trong thức ăn đường phố, nước mắm chứa ure, nước tương có chất MCPD gây ung thư. Ngoài ra, nhiều sản phẩm xuất khẩu của nước ta bị các nước từ chối nhập khẩu như: tôm có dư lượng kháng sinh vượt mức quy định; cá tra, cá basa nuôi trong môi trường nước ô nhiễm, trái cây, …trái thanh long cũng rất vất vả khi xâm nhập vào thị trường Mỹ, gạo bị nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật với mức tồn dư vượt ngưỡng cho phép (0,03ppm>0,01ppm), Nga ngừng nhập khẩu gạo Việt Nam, …Không những thế, bệnh heo tai xanh, cúm gia cầm, lở mồm long móng ở trâu, bò tái phát gây ra nhiều căn bệnh độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. 

2.2 Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm (Điều 42, 43 Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm, Điều 21 – 29 Nghị định 163/2004/NĐ-CP)

Các cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay ở nước ta bao gồm:

  • Cơ quan có thẩm quyền chung: Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong phạm vi cả nước. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại địa phương.
  • Cơ quan có thẩm quyền riêng: Bao gồm rất nhiều Bộ, ngành khác nhau (Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ,…). Trong đó, Bộ Y tế là cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm. Các Bộ, ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế thực hiện quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực được phân công phụ trách theo các nguyên tắc:

+ Việc quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất do các bộ, ngành quản lý chuyên ngành chủ trì phối hợp với Bộ Y tế, các bộ, ngành có liên quan thực hiện;

+ Việc quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình lưu thông do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với các bộ, ngành có liên quan thực hiện.

Việc phân định thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay ở nước ta chưa hiệu quả, dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm giữa các Bộ, ngành với nhau. Xu hướng hiện nay là thành lập cơ quan chuyên trách quản lý các khâu của về vệ sinh an toàn thực phẩm hoặc giao cho các Bộ, ngành khác nhau tùy thuộc vào các công đoạn sử dụng sản phẩm, có phân định rạch ròi thẩm quyền.

2.3 Những điều kiện và biện pháp bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm

  • Yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cơ sở thực phẩm (Chương II Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm).
    • Khái niệm về cơ sở thực phẩm: là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
    • Điều kiện bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm (Điều 4 Nghị định 163/2004)

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài khi sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm đủ các điều kiện theo quy định về vệ sinh an toàn sau:

  1. Điều kiện về cơ sở gồm:
  2. a) Địa điểm, môi trường;
  3. b) Yêu cầu thiết kế, bố trí nhà xưởng;
  4. c) Kết cấu nhà xưởng;
  5. d) Hệ thống cung cấp nước;

đ) Hệ thống cung cấp nước đá;

  1. e) Hệ thống cung cấp hơi nước;
  2. g) Khí nén;
  3. h) Hệ thống xử lý chất thải;
  4. i) Phòng thay bảo hộ lao động;
  5. k) Nhà vệ sinh.
  6. Điều kiện về trang thiết bị, dụng cụ gồm:
  7. a) Phương tiện rửa và khử trùng tay;
  8. b) Nước sát trùng;
  9. c) Thiết bị phòng chống côn trùng, động vật gây hại;
  10. d) Thiết bị, dụng cụ giám sát chất lượng;

đ) Thiết bị, dụng cụ chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển.

  1. Điều kiện về con người gồm:
  2. a) Sức khoẻ của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm;
  3. b) Kiến thức, thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
  • Cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao.
    • Thực phẩm có nguy cơ cao là thực phẩm có nhiều khả năng bị các tác nhân sinh học, hóa học, lý học xâm nhập gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng. (Khoản 11 Điều 3 Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm).
    • Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm (Điều 28 PLVSATTP).
    • Thẩm quyền và thủ tục cấp giấy chứng nhận do Chính phủ quy định. (Điều 15, 16 Nghị định 163/2004 ngày 07/9/2004 của Chính phủ)
    • Danh mục thực phẩm có nguy cơ cao gồm các nhóm sau:
  1. Thịt và các sản phẩm từ thịt;
  2. Sữa và các sản phẩm từ sữa;
  3. Trứng và các sản phẩm chế biến từ trứng;
  4. Thuỷ sản tươi sống và đã qua chế biến;
  5. Các loại kem, nước đá; nước khoáng thiên nhiên;
  6. Thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, thực phẩm bổ sung, phụ gia thực phẩm.
  7. Thức ăn, đồ uống chế biến để ăn ngay;
  8. Thực phẩm đông lạnh;
  9. Sữa đậu nành và sản phẩm chế biến từ đậu nành
  10. Các loại rau, củ, quả tươi sống ăn ngay.

(Điều 14, Nghị định 163/2004 ngày 07/9/2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm).

  • Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm tươi sống (Điều 9, 10, 11, 12 PLVSATTP).
    • Sản xuất, kinh doanh thực phẩm tươi sống phải bảo đảm nơi nuôi, trồng, buôn bán thực phẩm không bị ô nhiễm môi trường xung quanh, cách biệt với khu vực có khả năng gây ô nhiễm môi trường, gây nhiễm bẩn thực phẩm. (Điều 9 PLVSATTP).
    • Thực hiện các biện pháp xử lý chất thải theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. (Điều 10 PLVSATTP).
    • Sử dụng phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, chất bảo quản thực phẩm, chất kích thích tăng trưởng, chất tăng trọng, chất phát dục và các chất khác có liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm theo đúng quy định của pháp luật. (Điều 11 PLVSATTP).
    • Bảo đảm thực phẩm sản xuất, kinh doanh không bị ô nhiễm, bảo quản sạch sẽ, cách ly nơi bảo quản hóa chất, đặc biệt là hóa chất độc hại và các nguồn gây bệnh khác; chịu trách nhiệm về xuất xứ thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh. (Điều 12 PLVSATTP).
  • Đối với cơ sở chế biến thực phấm (Điều 13, 14, 15 PLVSATTP)
    • Cơ sở chế biến thực phấm là doanh nghiệp, hộ gia đình, bếp ăn tập thể, nhà hàng và cơ sở chế biến thực phẩm khác.
    • Nơi chế biến được thiết kế, xây dựng, lắp đặt, vận hành đặt trong khu vực đủ điều kiện bảo đảm VSATTP.
    • Phải thực hiện mọi biện pháp để thực phẩm không bị nhiễm bẩn, nhiễm mầm bệnh có thể lây truyền sang người, động vật, thực vật.
    • Quy trình chế biến phù hợp theo quy định của pháp luật.
    • Chỉ được phép sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, vi chất dinh dưỡng trong Danh mục được phép sử dụng, sử dụng đúng liều lượng, giới hạn quy định.
  • Đối với cơ sở dịnh vụ ăn uống. (Điều 18 PLVSATTP).

Phải áp dụng các phương pháp bảo quản thực phẩm thích hợp để bảo đảm thực phẩm không bị hư hỏng, biến chất, giữ được chất lượng, mùi vị và không làm tăng thêm các chất ô nhiễm vào thực phẩm.

  • Yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nguyên liệu, nước, phụ gia dùng trong chế biến, bảo quản thực phẩm (Điều 14, 15, 16 Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm).
    • Sử dụng nguyên liệu chế biến thực phẩm phải bảo đảm vệ sinh an toàn, Sử dụng thiết bị, dụng cụ có bề mặt tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm được chế tạo bằng vật liệu bảo đảm yêu cầu VSATTP.
    • Sử dụng đồ chứa đựng, bao gói, dụng cụ, thiết bị bảo đảm yêu cầu VSAT, không gây ô nhiễm thực phẩm.
    • Sử dụng nước để chế biến thực phẩm đạt tiêu chuẩn quy định.
    • Dùng chất tẩy rửa, chất diệt khuẩn, chất tiêu độc an toàn.
  • Yêu cầu về ghi nhãn hàng hóa đối với sản phẩm thực phẩm (Điều 35 Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm).
    • Thực phẩm đóng gói phải ghi nhãn thực phẩm. Nhãn thực phẩm phải ghi đầy đủ, chính xác, rõ ràng, trung thực về thành phần thực phẩm và các nội dung khác theo quy định pháp luật
    • Không được ghi trên nhãn dưới bất kỳ hình thức nào về thực phẩm có công hiệu thay thế thuốc chữa bệnh.
    • Thực phẩm đóng gói trên lãnh thổ Việt Nam phải ghi nhãn thực phẩm trước khi xuất xưởng thực phẩm.
    • Nhãn thực phẩm phải có các nội dung cơ bản sau đây:
      • Tên thực phẩm;
      • Tên; địa chỉ cơ sở sản xuất thực phẩm;
      • Định lượng của thực phẩm;
      • Thành phần cấu tạo của thực phẩm;
      • Chỉ tiêu chất lượng chủ yếu của thực phẩm;
      • Ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, thời hạn bảo quản thực phẩm;
      • Hướng dẫn bảo quản, hướng dẫn sử dụng thực phẩm;
      • Xuất xứ của thực phẩm.
    • Công bố tiêu chuẩn sản phẩm thực phẩm (Điều 31, 32, 33 Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm, từ Điều 17 đến 20 Nghị định 163/2004/NĐ-CP).
      • Chỉ được sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo đảm tiêu chuẩn VSATTP.
      • Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm có đkkd phải công bố áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam hoặc tiêu chuẩn ngành theo quy định pháp luật.
      • Thực hiện đúng tiêu chuẩn công bố, thường xuyên kiểm tra và chịu trách nhiệm về VSATTP.
      • Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm không có đkkd phải thực hiện đúng các quy định về VSATTP.
    • Đối với thực phẩm nhập khẩu, xuất khẩu (Điều 23 đến Điều 27 PLVSATTP)
      • Nhập khẩu tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam
      • Xuất khẩu tuân theo quy định của Pháp lệnh VSATTP và quy định của pháp luật nước nhập khẩu.
      • Có giấy xác nhận đã kiểm tra đạt yêu cầu VSATTP của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
      • Thực phẩm nhập khẩu, xuất khẩu đã được xác nhận đạt yêu cầu VSATTP do tổ chức có thẩm quyền của nước ký kết điều ước quốc tế thừa nhận lẫn nhau với Việt Nam trong hoạt động chứng nhận chất lượng, công nhận hệ thống quản lý chất lượng có thể bị kiểm tra nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm các quy định về VSATTP.
      • Thực phẩm nhập khẩu, xuất khẩu đã được chứng nhận có hệ thống quản lý chất lượng VSATTP phù hợp với Tiêu chuẩn Việt Nam hoặc tiêu chuẩn nước ngoài, tiêu chuẩn quốc tế áp dụng tại Việt Nam có thể được giảm số lần kiểm tra về VSATTP.
      • Thực phẩm nhập khẩu, xuất khẩu không đạt yêu cầu VSATTP có thể bị thu hồi, tái chế, chuyển mục đích sử dụng, tiêu hủy hoặc tái xuất theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    • Đối với thực phẩm chức năng, thực phẩm có nguy cơ cao, thực phẩm có gen bị biến đổi và thức ăn dành cho trẻ dưới 24 tháng tuổi.
      • Thông tư 08/2004/TT-BYT ngày 23/8/2004 của Bộ Y tế Hướng dẫn việc quản lý các sản phẩm thực phẩm chức năng.
      • Quyết định số 11/2006 ngày 09/3/2006 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế cấp giấy chứng nhận điều kiện VSATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao
      • DT Quy định về quản lý an toàn vệ sinh đối với thực phẩm có nguồn gốc từ sinh vật bị biến đổi gen (ban hành kèm theo Quyết định số /2007 của Chính phủ)
      • Nghị định 21/2006 ngày 27/2/2006 của Chính phủ về việc kinh doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dành cho trẻ nhỏ.

2.4 Thanh tra, kiểm tra nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm ( từ Điều 44 đến 49 Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm, Điều 37 – 42 Nghị định 163/2004/NĐ-CP)

Thanh tra chuyên ngành về VSATTP thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

  • Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về VSATTP.
  • Thanh tra thực hiện các tiêu chuẩn về VSATTP; xác minh, kết luận, kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về VSATTP.
  • Đề xuất, tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP.
  1. PHÁP LUẬT VỀ VỆ SINH TRONG VIỆC QUÀN, ƯỚP, DI CHUYỂN, CHÔN, HỎA TÁNG THI HÀI, HÀI CỐT (Điều 16 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân; Điều 27, 28, 29 Điều lệ Vệ sinh).

* Giải thích một số từ (theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa TT, 2005):

  • Thi hài: xác người chết
  • Hài cốt: nguyên cả bộ xương người chết
  • Liệm: lễ gói bọc thi hài trước khi đặt vào áo quan
  • Quàn: đặt tạm linh cữu người chết tại một nơi trước khi đem đi chôn để người thân đến viếng.
  • Táng: chôn cất người chết.
  • Hỏa táng: thiêu xác người chết thành tro theo nghi thức.
  • Vệ sinh trong việc quàn ướp thi hài (Điều 27 Điều lệ vệ sinh)
    • Quy định về việc khâm liệm đối với người chết vì bệnh truyền nhiễm:
      • Tử thi khi khâm liệm phải sát khuẩn
      • Chôn ngay không được để quá 24 giờ
      • Quàn, khâm liệm theo đúng quy định của Bộ Y tế.
    • Thời gian quàn thi hài.
      • Người chết do nguyên nhân thông thường không được để quá 48 giờ.
      • Người chết do nguyên nhân bệnh dịch: dịch tả, dịch hạch, nhiệt thán hoặc chết vì chiến tranh vi khuẩn, chết vì vũ khí vi sinh vật không được để quá 24 giờ
    • Vệ sinh trong di chuyển thi hài, hài cốt. (Điều 28 Điều lệ vệ sinh)
      • Phương tiện di chuyển.
        • Phương tiện di chuyển riêng
        • Nếu di chuyển đường dài trên 50km thì người chết phải để trong quan tài, dưới quan tài phải lót một lớp chất hút nước và thấm nước sát khuẩn.
      • Thời gian di chuyển.
        • Di chuyển trên đoạn đường dài phải dùng phương tiện di chuyển nhanh, không được đi quá 24 giờ. Nếu quá thời gian đó thì không được chuyên chở tiếp mà phải chôn tại chỗ.
        • Nếu di chuyển trên đường dài với thời gian 24 giờ phải có giấy phép đặc biệt của Ủy ban nhân dân và cơ quan y tế địa phương. Nếu không có, chính quyền địa phương trên đường vận chuyển có quyền giữ lại và chôn tại nghĩa địa gần nhất.
      • Những trường hợp không được di chuyển, phải chôn tại chỗ.
        • Người chết do bệnh dịch tối nguy hiểm
        • Người chết do chiến tranh vi sinh vật
      • Vệ sinh trong việc chôn, hỏa táng (Điều 27 Điều lệ vệ sinh).
        • Địa điểm lập nghĩa trang nghĩa địa và cơ sở hỏa táng.
          • Khu lập nghĩa địa phải có ý kiến của cơ quan y tế địa phương đẩ bảo đảm yêu cầu về vệ sinh phòng bệnh.
          • Cách khu dân cư sử dụng nước máy ít nhất 30m
          • Cách khu dân cư sử dụng nước giếng ít nhất 100m
        • Yêu cầu về vệ sinh đối với việc chôn người chết vì bệnh truyền nhiễm hoặc chiến tranh vi trùng.
          • Chết vì chiến tranh, số người chết đông phải chôn cất hàng loạt thì phải chôn xa nguồn thức ăn, xa nhà ở ít nhất 100m, không bị ngập nước.
          • Chết do vi khuẩn vi sinh vật thì khi thâm liệm phải tẩm chất sát khuẩn hoặc phủ một lớp vôi bột lên trên, dưới và xung quanh xác chết. Việc chôn cất phải tiến hành ngay trong vòng 24 giờ.
        • Yêu cầu về kỹ thuật đối với cơ sở hỏa táng.
          • Đúng các quy định như nghĩa trang mai táng.
          • Lưu ý mạch nước ngầm phải sâu 3-4m để nhà hỏa táng có thể thiết kế 2 tầng, tầng dưới đặt ngầm dưới đất.
        • Vệ sinh trong việc bốc mộ.
          • Chết do các bệnh thông thường thì từ 3 năm trở lên mới được bốc mộ.
          • Nếu chết không do các bệnh truyền nhiễm, việc bốc mộ quá 1 năm và dưới 3 năm phải có giấy phép của Ủy ban nhân dân xã, phường và cơ quan y tế .
          • Trường hợp chết chôn chưa quá 1 năm mà cần khai quật để khám nghiệm theo lệnh của cơ quan công an, pháp y thì phải theo quy định của cơ quan y tế.
          • Khi tiến hành khai quật phải có phương tiện phòng hộ cho người làm và phải bảo đảm các yêu cầu sát khuẩn, tẩy uế trong khi khai quật và chôn cất lại.
          • Nếu chết do bệnh truyền nhiễm thì sau 5 năm mới được bốc mộ.
        • Vệ sinh trong việc di chuyển thi hài, hài cốt qua biên giới nước CHXHCN Việt nam (Điều 29 Điều lệ vệ sinh).
        • Việc di chuyển người chết qua biên giới phải theo đúng điều lệ kiểm dịch của Việt Nam như sau:
        • Người chết di chuyển qua biên giới phải tuân theo những quy định như dối với trong nước, nhưng quan tài bắt buộc phải làm bằng kẽm và phải hàn kín.
        • Không được di chuyển người chết do bệnh dịch qua biên giới. Trường hợp chết do bệnh truyền nhiễm cũng phải khâm liệm, chôn cất theo đúng quy định trên.
        • Việc chuyên chở người chết qua biên giới bằng phương tiện ô tô, tàu hỏa, máy bay, tàu thủy, … phải thực hiện các yêu cầu sau đây:
      • Tàu hỏa: quan tài phải bọc kẽm trong có lót ni –long và chất hút nước, phía ngoài bằng gỗ, phải có đóng xi của công an và y tế, và phải đặt ở toa riêng, kín.
      • Máy bay: khâm liệm như đối với tàu hỏa, trên máy bay phải có ngăn buồng riêng và kín (nếu là máy bay thường).
      • Xe ô tô: khâm liệm như trên nhưng nhất thiết dùng ô tô riêng.
      • Tàu biển: khâm liệm như trên, phải có buồng riêng và kín.
    • Trong toa tàu, máy bay, tàu biển, ô tô và buồng dùng để xác người chết không được để bất cứ một vật gì khác ngoài quan tài, ảnh và hoa.
  • Khi các phương tiện vận chuyển nói trên di chuyển vào nội địa nước Việt Nam tới địa điểm quy định nếu quá 48 giờ mà chưa có thân nhân thì chính quyền địa phương phải cho chôn ngay tại nghĩa địa gần nhất.
  • Trường hợp đặc biệt có liên quan đến vần đề ngoại giao thì chính quyền địa phương và cơ quan y tế phải báo cáo ngay cho Bộ Y tế và Bộ Ngoại giao giải quyết.

 

BÀI 4

PHÁP LUẬT  VỀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

  1. PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN RỪNG

1.1. Khái niệm tài nguyên rừng

– Theo nghĩa rộng: Rừng là vùng đất rộng có nhiều cây cối mọc lâu năm (Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Viện Ngôn ngữ học, Nxb tp HCM, 2002).

Theo định nghĩa trên, phải chăng công viên Tao Đàn, công viên Thống Nhất, Sở thú ở tp Hồ Chí Minh được xem là rừng?

– Định nghĩa: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre, nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004).

Độ che phủ của tán rừng là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất rừng, được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và diện tích đất rừng.

Như vậy, để được xem là rừng thì trước hết phải là một hệ sinh thái (thể hiện ở mối quan hệ giữa các yếu tố hữu sinh và yếu tố vô sinh) và phải tồn tại trên vùng đất lâm nghiệp (đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất).

– Phân loại: Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân thành 3 loại sau:

+ Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Rừng phòng hộ đầu nguồn: thường ở đầu nguồn các con sông lớn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay: xung quanh bờ biển, … bảo vệ cộng đồng dân cư, đất; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển: bảo vệ khu vực ven biển và lấn đất ven biển; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường: thường được gây trồng ở khu đô thị lớn, khu công nghiệp để điều hòa không khí mát mẽ nên thường diện tích không lớn (khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển rừng).

+ Rừng đặc dụng sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Vườn quốc gia; khu bảo tồn thiên nhiên; khu bảo vệ cảnh quan; khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học (khoản 2 Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển rừng).

Vườn quốc gia: là vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo vệ lâu dài một hoặc nhiều hệ sinh thái và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:

  • Vùng đất tự nhiên bao gồm mẫu chuẩn hệ sinh thái cơ bản;
  • Các nét đặc trưng về sinh cảnh của các loài động, thực vật;
  • Các khu rừng có giá trị cao về khoa học, giáo dục và du lịch;
  • Vùng đất có tỷ lệ diện tích hệ sinh thái tự nhiên cần phải bảo tồn đạt 70% trở lên;
  • Có đk về giao thông tương đối thuận lợi.

Khu bảo tồn thiên nhiên: gồm khu dự trữ thiên nhiên và khu bảo tồn loài – sinh cảnh.

Khu dự trữ thiên nhiên được xác định khi thỏa mãn các đk sau:

  • Có hệ sinh thái tự nhiên tiêu biểu, giữ các đặc trưng cơ bản của tự nhiên;
  • Ít bị tác động có hại của con người;
  • Có hệ động, thực vật đa dạng hoặc các loài đặc hữu đang sinh sống;
  • Tỷ lệ diện tích hệ sinh thái tự nhiên cần bảo tồn đạt từ 70% trở lên và đảm bảo tránh được sự tác động trực tiếp của con người.

Khu bảo tồn loài – sinh cảnh: là vùng đất tự nhiên được quản lý nhằm bảo đảm môi trường sống cho một hoặc nhiều loài động, thực vật đặc hữu, quý hiếm, đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn thiên nhiên, duy trì cuộc sống và sự phát triển của các loài, nơi cư trú hoặc nơi có các loài động vật hoang dã quý hiếm.

Phân biệt rừng quốc gia với khu bảo tồn thiên nhiên?

TT/

Tiêu chí

RỪNG QUỐC GIA KHU BẢO TỒN TN
1/ Tính chất bảo vệ (xuất phát từ Công ước Luân đôn1933)
Ít nghiêm ngặt hơn (có sự can thiệp, tác động của con người vào hoạt động bảo tồn) Hoạt động bảo tồn mang tính nghiêm ngặt hơn
Hoạt động bảo tồn mang tính nội vi Hoạt động bảo tồn mang tính ngoại vi (rộng hơn: bảo vệ giống nòi tại chính nơi nó sinh sống)
2/  Quy mô và tầm quan trọng (Pháp luật Việt Nam)
Lớn hơn so với khu bảo tồn TN với 3 tiêu chí sau đây?

– Có giá trị về mặt sinh học, tính đa dạng sv của quần thể đó ≥ 10 loài động thực vật trong sách đỏ, ≥ 2 giống loài đặc hữu
– Có diện tích tự nhiên đủ lớn để các giống loài tồn tại một cách tự nhiên trong khu vực sinh sống của chúng (trên diện tích đất ≥ 7.000ha, mặt nước ≥ 5.000ha)
– Phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cao nhất xác lập hoặc ủy quyền xác lập (Thủ tướng CP xác lập hoặc ủy quyền cho Chủ tịch UBND tỉnh xác lập).
Không nhất thiết phải có 3 tiêu chí

– Có ≥ 5 giống loài trong sách đỏ, ≥ 1 giống loài đặc hữu

 

– Diện tích đất ≥ 5.000ha, nước ≥  3.000ha

 

 

 

 

 

 

Khu bảo vệ cảnh quan là khu vực bao gồm một hay nhiều cảnh quan có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu và có giá trị văn hóa, lịch sử nhằm phục vụ cho các hoạt động văn hóa du lịch hoặc để nghiên cứu – thí nghiệm như: khu vực có các thắng cảnh trên đất liền, ven biển hay hải đảo; di tích lịch sử đả được xếp hạng, hang động, nham thạch, khu vực mang tính lịch sử truyền thống địa phương.

Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học là khu vực dành riêng cho các hoạt động nghiên cứu khoa học hoặc nghiên cứu thực nghiệm.

 

+ Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:

  • Rừng sản xuất là rừng tự nhiên: rừng tự có;
  • Rừng sản xuất là rừng trồng: do Nhà nước hoặc tư nhân trồng;
  • Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển hoặc công nhận. (khoản 3 Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển rừng).

Việc phân chia này mang ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng, mỗi loại rừng đều có chức năng sử dụng cũng như đặc điểm sinh thái riêng. Vì thế, tương ứng mỗi loại rừng khác nhau có chế độ quản lý khác nhau.

1.2. Chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng

Về nguyên tắc, tài nguyên rừng thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt đối với rừng tự nhiên và rừng được phát triển bằng vốn của nhà nước, rừng do nhà nước nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng từ các chủ rừng; động vật rừng sống tự nhiên, hoang dã; vi sinh vật rừng; cảnh quan, môi trường rừng (khoản 1 Điều 6 Luật Bảo vệ và phát triển rừng).

* Phạm vi sở hữu:

– Nhà nước sở hữu đối với các loại rừng tự nhiên, rừng trồng bằng vốn nhà nước và rừng do nhà nước nhận chuyển quyền sở hữu từ các chủ thể khác. Nhà nước sở hữu đối với tất cả các yếu tố cấu thành rừng – sở hữu mang tính tuyệt đối.

– Tuy nhiên, Luật Bảo vệ và phát triển rừng quy định chủ rừng (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) cũng có quyền sở hữu đối với rừng sản xuất là rừng trồng. Cụ thể, chủ rừng được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với cây trồng, vật nuôi, tài sản gắn liền với sản xuất là rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư trong thời hạn được giao, được thuê để trồng rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và các quy định khác của pháp luật có liên quan (khoản 5 Điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng). Quyền sở hữu của chủ rừng đối với rừng sản xuất là rừng trồng chỉ mang tính tương đối (chủ rừng không sở hữu đối với đất rừng, động vật rừng hoang dã,…)

1.3. Chế độ quản lý nhà nước đối với rừng

1.3.1. Hệ thống cơ quan quản lý đối với rừng

Các cơ quan quản lý nhà nước đối với rừng bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung và cơ quan quản lý nhà nước có thầm quyền riêng (Điều 8 Luật Bảo vệ và phát triển rừng):

– Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng.

– Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước và bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi cả nước.

– Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng.

– Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương theo thẩm quyền.

Chính phủ quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên ngành về lâm nghiệp từ trung ương đến cấp huyện và cán bộ lâm nghiệp ở những xã, phường, thị trấn có rừng.

1.3.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với rừng

Được quy định tại Điều 7, Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Cần chú ý một số nội dung sau:

– Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (Mục 1, Chương II Luật Bảo vệ và phát triển rừng): dựa vào quy định về nội dung quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng để xác định. Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng bao gồm nhiều nội dung, trong đó quan trọng nhất là xác định mục đích sử dụng cho từng loại rừng trên từng diện tích cụ thể. Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng là phương thức tổ chức thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng.

– Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng (Mục 1, Chương II Luật Bảo vệ và phát triển rừng): tương tự như những quy định trong Luật Đất đai.

+ Giao rừng (Điều 24 Luật Bảo vệ và phát triển rừng): bao gồm giao rừng không thu tiền sử dụng rừng và giao rừng có thu tiền sử dụng rừng.

  • Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng:

               Rừng đặc dụng đối với các BQL rừng đặc dụng, tổ chức NCKH& PTCN, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt.

            Rừng phòng hộ đối với các Ban quản lý rừng phòng hộ, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ theo quy hoạch, kế hoạch được phê duyệt, quyết định phù hợp với việc giao đất rừng phòng hộ theo quy định của Luật đất đai.

Rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng đối với hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó trực tiếp lao động lâm nghiệp phù hợp với việc giao đất để phát triển rừng sản xuất theo quy định của Luật đất đai; tổ chức kinh tế sản xuất giống cây rừng; đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng rừng sản xuất kết hợp với quốc phòng, an ninh; Ban quản lý rừng phòng hộ trong trường hợp có rừng sản xuất xen kẽ trong rừng phòng hộ đã giao cho Ban quản lý;

  • Nhà nước giao rừng có thu tiền sử dụng rừng:

            Rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng đối với các tổ chức kinh tế;

Rừng sản xuất là rừng trồng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về đầu tư;

+ Cho thuờ r?ng (?i?u 25 Lu?t B?o v? vỔ phỏt tri?n r?ng): bao g?m thuờ r?ng tr? ti?n thuờ r?ng hỔng n?m vỔ thuờ r?ng tr? ti?n thuờ r?ng một lần.

  • Nhà nước cho tổ chức kinh tế thuê rừng phòng hộ trả tiền hàng năm để bảo vệ và phát triển rừng kết hợp sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường.
  • Nhà nước cho tổ chức kinh tế thuê rừng đặc dụng là khu bảo vệ cảnh quan trả tiền hàng năm để bảo vệ và phát triển rừng, kết hợp kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường.
  • Nhà nước cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong nước thuê rừng sản xuất trả tiền hàng năm để sản xuất lâm nghiệp, kết hợp sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường.
  • Nhà nước cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê rừng sản xuất là rừng trồng trả tiền một lần cho cả thời gian thuê hoặc trả tiền hàng năm để thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về đầu tư, kết hợp sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường.
  • Chính phủ quy định việc cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê rừng tự nhiên.

+ Thu hồi rừng (Điều 26 Luật Bảo vệ và phát triển rừng).

Nhà nước thu hồi rừng trong những trường hợp sau đây:

  • Nhà nước sử dụng rừng và đất để phát triển rừng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia;
  • Nhà nước có nhu cầu sử dụng rừng và đất để phát triển rừng cho lợi ích công cộng, phát triển kinh tế theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt;
  • Tổ chức được Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng hoặc được giao rừng có thu tiền sử dụng rừng có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê rừng trả tiền hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng rừng;
  • Chủ rừng tự nguyện trả lại rừng;
  • Rừng được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết hạn;
  • Sau mười hai tháng liền kể từ ngày được giao, được thuê rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất để bảo vệ và phát triển rừng mà chủ rừng không tiến hành các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng;
  • Sau hai mươi bốn tháng liền kể từ ngày được giao, được thuê đất để phát triển rừng mà chủ rừng không tiến hành các hoạt động phát triển rừng theo kế hoạch, phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
  • Chủ rừng sử dụng rừng không đúng mục đích, cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;
  • Rừng được giao, cho thuê không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng;
  • Chủ rừng là cá nhân khi chết không có người thừa kế theo quy định của pháp luật.

+ Chuyển mục đích sử dụng rừng (Điều 27 Luật Bảo vệ và phát triển rừng).

Việc chuyển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất sang mục đích sử dụng khác và việc chuyển mục đích sử dụng từ loại rừng này sang loại rừng khác phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt và phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

+ Thẩm quyền cho phép giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng (Điều 28 Luật Bảo vệ và phát triển rừng).

  • Thẩm quyền giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng được quy định như sau:
    • Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao rừng, cho thuê rừng đối với tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê rừng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài;
    • Uỷ ban nhân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao rừng, cho thuê rừng đối với hộ gia đình, cá nhân;
    • Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền giao, cho thuê rừng nào thì có quyền thu hồi rừng đó.
  • Thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng rừng được quy định như sau:
    • Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển mục đích sử dụng toàn bộ hoặc một phần khu rừng do Thủ tướng Chính phủ xác lập;
    • Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định chuyển mục đích sử dụng toàn bộ hoặc một phần khu rừng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác lập.

1.4. Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng (Chương V Luật Bảo vệ và phát triển rừng)

1.4.1. Chủ rừng

Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất để trồng rừng, cho thuê đất để trồng rừng, công nhận quyền sử dụng rừng, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; nhận chuyển nhượng rừng từ chủ rừng khác (khoản 4 Điều 3; Điều 5 Luật Bảo vệ và phát triển rừng).

Phân biệt chủ rừng và chủ sở hữu rừng. (chưa ổn)

TIÊU CHÍ CHỦ RỪNG CHỦ SH RÙNG
Chủ thể Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Nhà nước hoặc tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước công nhận quyền sở hữu rừng sàn xuất là rừng trồng
Quyền Thuê rừng Cho thuê rừng
Nhận chuyển nhượng rừng Chuyển nhượng rừng

1.4.2. Nội dung quyền và nghĩa vụ của chủ rừng

– Quyền và nghĩa vụ chung của chủ rừng (Điều 59, 60 Luật Bảo vệ và phát triển rừng): Chủ rừng có những quyền và nghĩa vụ chung như: quyền được khai thác, sử dụng rừng theo quy định của pháp luật; quyền chuyển quyền sử dụng rừng (đối với một số chủ thể nhất định), nộp thuế tài nguyên,…

– Quyền và nghĩa vụ cụ thể của chủ rừng (Điều 61 đến Điều 78 Luật Bảo vệ và phát triển rừng): phụ thuộc vào việc chủ rừng đó có quyền sở hữu hay quyền sử dụng đối với rừng; đối với các chủ thể có quyền sử dụng rừng thì quyền và nghĩa vụ cũng sẽ khác nhau giữa chủ thể được giao rừng hay cho thuê rừng. Quyền và nghĩa vụ  này cũng khác nhau giữa các chủ rừng là cá nhân, hộ gia đình, tổ chức.

1.5. Chế độ pháp lý đối với rừng phòng hộ (Điều 45 đến điều 48 Luật Bảo vệ và phát triển rừng)

– Giao, cho thuê rừng phòng hộ (Điều 46 Luật Bảo vệ và phát triển rừng): Những khu rừng phòng hộ đầu nguồn tập trung có diện tích từ năm nghìn hecta trở lên hoặc có diện tích dưới năm nghìn hecta nhưng có tầm quan trọng về chức năng phòng hộ hoặc rừng phòng hộ ven biển quan trọng phải có Ban quản lý. Ban quản lý khu rừng phòng hộ là tổ chức sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập theo quy chế quản lý rừng. Những khu rừng phòng hộ không thuộc quy định tại khoản 1 Điều 46 thì nhà nước giao, cho thuê cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, hộ gia đình, cá nhân tại chỗ quản lý, bảo vệ và sử dụng.

– Khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ (Điều 47 Luật Bảo vệ và phát triển rừng): Phải đảm bảo nguyên tắc mang tính kết hợp trong khuôn khổ không làm ảnh hưởng đến chức năng phòng hộ của rừng. Cụ thể:

+ Trong rừng phòng hộ là rừng tự nhiên được phép khai thác cây đã chết, cây sâu bệnh, cây đứng ở nơi mật độ lớn hơn mật độ quy định theo quy chế quản lý rừng, trừ các loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bị cấm khai thác theo quy định của Chính phủ về Chế độ quản lý, bảo vệ những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Danh mục những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.

Được phép khai thác các loại măng, tre nứa trong rừng phòng hộ khi đã đạt yêu cầu phòng hộ theo quy chế quản lý rừng; được phép khai thác các loại lâm sản khác ngoài gỗ mà không làm ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ của rừng, trừ các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bị cấm khai thác theo quy định của Chính phủ về Chế độ quản lý, bảo vệ những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Danh mục những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.

+ Trong rừng phòng hộ là rừng trồng được phép khai thác cây phụ trợ, chặt tỉa thưa khi rừng trồng có mật độ lớn hơn mật độ quy định theo quy chế quản lý rừng; khai thác cây trồng chính khi đạt tiêu chuẩn khai thác theo phương thức khai thác chọn hoặc chặt trắng theo băng, theo đám rừng. Sau khi khai thác, chủ rừng phải thực hiện việc tái sinh hoặc trồng lại rừng ngay trong vụ trồng rừng kế tiếp và tiếp tục quản lý, bảo vệ.

1.6. Chế độ pháp lý đối với rừng đặc dụng (Điều 49 đến điều 54 Luật Bảo vệ và phát triển rừng)

– Giao, cho thuê rừng đặc dụng (Điều 50 Luật Bảo vệ và phát triển rừng): Ban quản lý là những chủ thể được nhà nước giao rừng đối với những khu rừng đặc dụng phải thành lập Ban quản lý (vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng bảo vệ cảnh quan nhưng cần thiết thành lập Ban quản lý). Đối với những khu rừng đặc dụng là khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học thì giao cho tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp trực tiếp quản lý. Trường hợp không thành lập Ban quản lý thì cho tổ chức kinh tế thuê rừng để kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường dưới tán rừng.

– Khai thác lâm sản trong rừng đặc dụng (Điều 51 Luật Bảo vệ và phát triển rừng): chỉ được thực hiện trong khu bảo vệ cảnh quan và phân khu dịch vụ – hành chính của vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên.

– Hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thực tập, kết hợp kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường trong rừng đặc dụng (Điều 52, 53 Luật Bảo vệ và phát triển rừng)

– Ổn định đời sống dân cư sống trong các khu rừng đặc dụng và vùng đệm của các khu rừng đặc dụng (Điều 54 Luật Bảo vệ và phát triển rừng)

1.7. Chế độ pháp lý đối với rừng sản xuất (Điều 55 đến điều 58 Luật Bảo vệ và phát triển rừng)

– Giao, cho thuê rừng sản xuất (Điều 56, 57 Luật Bảo vệ và phát triển rừng): Đối với những khu rừng sản xuất là rừng tự nhiên tập trung được nhà nước giao, cho thuê cho các tổ chức kinh tế để sản xuất, kinh doanh; những khu rừng sản xuất là rừng tự nhiên phân tán không thuộc đối tượng quy định phải giao, cho thuê cho các tổ chức kinh tế thì ®­îc Nhà nước giao, cho thuê cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để bảo vệ, phát triển, sản xuất, kinh doanh. Việc giao và cho thuê được hiểu là giao, cho thuê để chăm sóc, bảo vệ và khai thác.

– Việc khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trong rừng sản xuất là rừng tự nhiên:

Đối với khai thác gỗ: Khi rừng đủ điều kiện khai thác (đạt trữ lượng gỗ bình quân/1 hecta; đã nuôi dưỡng đủ thời gian của một luân kỳ khai thác; phù hợp với chỉ tiêu khai thác gỗ và lâm sản của địa phương) thì chủ rừng được khai thác theo trình tự, thủ tục bao gồm các bước sau:

+ Lập thiết kế khai thác (cường độ khai thác, phương thức khai thác, cấp kính khai thác tối thiểu) và đóng dấu búa bài cây;

+ Thiết kế khai thác được gởi đến Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn xét duyệt và trình Ủy ban nhân dân tỉnh để phê duyệt tổng hợp;

+ Thiết kế khai thác được gởi đến Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thẩm định và ra quyết định mở rừng;

+ Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn cấp giấy phép khai thác;

+ Chủ rừng tổ chức khai thác (tự khai thác hoặc bán lại giấy phép khai thác);

+ Cơ quan kiểm lâm kiểm tra và đóng dấu búa kiểm lâm xác nhận tình trạng khai thác gỗ hợp pháp;

+ Nghiệm thu khai thác;

+ Đóng cửa rừng, rừng được chăm sóc nuôi dưỡng đủ luân kỳ khai thác.

Đối với khai thác lâm sản ngoài gỗ: (xem thêm trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng).

– Việc khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trong rừng sản xuất là rừng trồng: Vì rừng này là rừng được trồng trên diện tích đất được nhà nước giao, cho thuê nên khi khai thác, chủ rừng không phải làm thủ tục xin phép khai thác. Chủ rừng phải báo với cơ quan kiểm lâm trong trường hợp gỗ khai thác trong rừng trồng cũng có trong rừng tự nhiên để cơ quan kiểm lâm xác nhận tình trạng gỗ

1.8. Pháp luật về bảo vệ động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Động vật, thực vật rừng hoang dã giữ vai trò hết sức quan trọng đối với sự cân bằng sinh thái, bao gồm các loài động, thực vật rừng hoang dã thông thường và nguy cấp, quý hiếm. Trong đó, động, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng.

1.8.1. Khái niệm về động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm:

– Định nghĩa (khoản 14 Điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng): Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng thuộc Danh mục các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ quy định chế độ quản lý, bảo vệ.

– Phân loại: Thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm được sắp xếp thành hai nhóm theo tính chất và mức độ quý, hiếm của chúng:

Nhóm I: gồm những loài thực vật rừng (IA), động vật rừng (IB) có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao. Đối với nhóm I thì nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, chỉ được khai thác vì mục đích nghiên cứu khoa học, quan hệ hợp tác quốc tế.

Nhóm II: gồm những loài thực vật rừng (IIA), động vật rừng (IIB) có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Đối với nhóm II thì hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.

1.7.2. Chế độ quản lý, bảo vệ đối với thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Sinh viên đọc thêm Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Lưu ý một số nội dung: bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Điều 5); khai thác thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Điều 6); vận chuyển, cất giữ thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm từ tự nhiên và sản phẩm của chúng (Điều 7); chế biến, kinh doanh thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng (Điều 9); xử lý vi phạm (Điều 10, Điều 11).

  1. PHÁP LUẬT VỀ NGUỒN LỢI THỦY SẢN

2.1. Khái niệm nguồn lợi thủy sản và hoạt động thủy sản

– Theo nghĩa rộng, nguồn lợi thủy sản là những sinh vật có ích sống trong môi trường nước.

– Định nghĩa về nguồn lợi thủy sản: Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản (khoản 1 Điều 2 Luật thủy sản).

Tài nguyên thủy sản là tài nguyên sinh vật (động vật, thực vật hay vi sinh vật) sống ở các vùng nước tự nhiên (vùng nước nội địa và vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam), có giá trị kinh tế (chế biến, sử dụng), giá trị khoa học (nghiên cứu đa dạng sinh học).

Tài nguyên thủy sản là một loại tài nguyên có thể phục hồi, có khả năng tái tạo, tuy nhiên phải khai thác trong giới hạn trữ lượng cho phép, tránh sự tuyệt chủng và gây mất cân bằng sinh thái.

– Định nghĩa về hoạt động thủy sản: Hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản (khoản 2, Điều 2, Luật thủy sản).

Hoạt động thủy sản là một hoạt động rất rộng, bao gồm nhiều khâu khác nhau và được thực hiện thông qua vai trò của Bộ quản lý chuyên ngành là Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.

2.2. Chế độ sở hữu đối với nguồn lợi thủy sản

+ Sở hữu nhà nước: Nhà nước sở hữu đối với nguồn lợi thủy sản sống ở các vùng nước tự nhiên và nguồn lợi thủy sản được nuôi trồng bằng vốn của Nhà nước.

+ Sở hữu của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức: đối với nguồn lợi thủy sản do hộ gia đình, cá nhân, tổ chức bỏ vốn nuôi trồng trên vùng đất có mặt nước hoặc vùng biển được nhà nước giao hoặc cho thuê.

– Cách thức thực hiện quyền sở hữu nhà nước đối với nguồn lợi thủy sản: Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua việc điều tra, đánh giá trữ lượng thủy sản; thực hiện quyền chiếm hữu, quyền sử dụng bằng cách cho phép tổ chức, cá nhân khai thác nguồn lợi thủy sản ở các vùng nước tự nhiên (cấp giấy phép khai thác).

2.3. Chế độ quản lý nhà nước đối với nguồn lợi thủy sản                       

2.3.1. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đối với nguồn lợi thủy sản (Điều 52 Luật Thủy sản)

Bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền riêng.

Cơ quan có thẩm quyền chung: Chính Phủ và Ủy ban nhân dân các cấp

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thuỷ sản trong phạm vi cả nước. Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với tài nguyên thủy sản trong phạm vi địa phương.

– Cơ quan có thẩm quyền riêng:

+ Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chuyên môn đối với tài nguyên thủy sản: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.

+ Cơ quan quản lý nhà nước thuộc các ngành, lĩnh vực khác có liên quan: có trách nhiệm phối hợp với Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy sản trong phạm vi ngành, lĩnh vực mình phụ trách

2.3.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với tài nguyên (nguồn lợi) thủy sản (Điều 51 Luật Thủy sản).

  1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các chính sách phát triển ngành thuỷ sản.
  2. Ban hành, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về thuỷ sản.
  3. Tổ chức điều tra, đánh giá và quản lý, bảo vệ sự phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản; nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới trong hoạt động thuỷ sản; quy hoạch và quản lý các khu bảo tồn vùng nước nội địa, khu bảo tồn biển; thực hiện thống kê, thông tin về hoạt động thuỷ sản.
  4. Xác định và phân cấp quản lý vùng biển ven bờ trong hoạt động thuỷ sản; quản lý và phân cấp quản lý vùng biển để khai thác; phân tuyến khai thác; công bố ngư trường khai thác; quản lý việc giao, cho thu, thu hồi đất để nuôi trồng thuỷ sản, mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản.
  5. Quản lý việc cấp, thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận trong lĩnh vực thuỷ sản theo quy định của pháp luật; đào tạo, sát hạch, cấp bằng thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động thuỷ sản cho tàu cá nước ngoài.
  6. Quản lý việc thẩm định và công nhận giống thuỷ sản mới, thuốc thú y thuỷ sản, thức ăn nuôi trồng thuỷ sản; kiểm tra và tổ chức phòng, trừ dịch bệnh thuỷ sản; quản lý việc bảo vệ môi trường trong hoạt động thuỷ sản.
  7. Quản lý và phân cấp quản lý tàu cá, cảng cá, chợ thuỷ sản đầu mối.
  8. Thực hiện hợp tác quốc tế về hoạt động thuỷ sản.
  9. Quản lý tổ chức bộ máy, đào tạo nguồn nhân lực cho ngành thuỷ sản; hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành cho các hội nghề nghiệp thuỷ sản.
  10. Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về thuỷ sản, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuỷ sản; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trọng hoạt động thuỷ sản theo quy định của pháp luật.

2.4. Chế độ bảo vệ, phát triển và khai thác tài nguyên (nguồn lợi) thủy sản

2.4.1. Chế độ bảo vệ và phát triển tài nguyên nguồn lợi thủy sản (Chương 2 của Luật Thủy sản)

– Bảo vệ môi trường sống của thủy sản (Điều 7 của Luật thủy sản):

+ Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thủy sản hoặc có các hoạt động khác ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống, di cư, sinh sản của các loài thủy sản phải tuân theo quy định của Luật Thủy sản, pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về tài nguyên nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

+ Tổ chức, cá nhân khi xây dựng mới, thay đổi hoặc phá bỏ các công trình có liên quan đến môi trường sống, di cư, sinh sản của các loài thủy sản phải thực hiện việc đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

+ Tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản bằng đặt đăng, đáy hoặc bằng phương pháp ngăn, chắn khác ở các sông, hồ, đầm, phá phải dành hành lang cho các loài thủy sản di chuyển theo quy định của Uỷ ban nhân dân địa phương.

– Bảo vệ thủy sản trong hoạt động khai thác, vận chuyển

2.4.2. Khai thác tài nguyên (nguồn lợi) thủy sản (Chương 3 Luật Thủy sản)

– Nguyên tắc khai thác thủy sản (Điều 11 Luật Thủy sản): Khai thác thủy sản ở vùng biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác phải bảo đảm không làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản; phải tuân theo quy định về mùa vụ khai thác, thời hạn khai thác, vùng khai thác, chủng loại và kích cỡ thủy sản được khai thác, sản lượng cho phép khai thác hàng năm và phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; sử dụng các loại ngư cụ, phương tiện khai thác thủy sản có kích cỡ phù hợp với các loài thủy sản được phép khai thác.

Nguyên tắc khai thác thủy sản phải đảm bảo sự phát triển bền vững vì tài nguyên thủy sản là tài nguyên có thể phục hồi nên chỉ có thể khai thác trong giới hạn sự phục hồi.

– Khai thác thủy sản xa bờ (Điều 12 Luật Thủy sản): Đây là hình thức khai thác đảm bảo sự phát triển bền vững nên được khuyến khích.

– Khai thác thủy sản ven bờ (Điều 13 Luật Thủy sản): Hạn chế hình thức này thông qua việc tổ chức lại sản xuất, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp.

– Cấp giấy phép khai thác thủy sản (Điều 16, 17, 18 Luật Thủy sản):

+ Tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản phải có Giấy phép khai thác thủy sản, trừ trường hợp cá nhân khai thác thủy sản bằng tàu cá có trọng tải dưới 0,5 tấn hoặc không sử dụng tàu cá.

+ Tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản được cấp Giấy phép khai thác thủy sản phải có các điều kiện (Điều 17 Luật Thủy sản):

  • Có đăng ký kinh doanh khai thác thủy sản;
  • Có tàu cá đã đăng ký, đăng kiểm;
  • Có ngư cụ, phương tiện khai thác phù hợp;
  • Thuyền trưởng, máy trưởng trên tàu cá phải có văn bằng, chứng chỉ phù hợp theo quy định của pháp luật.

            + Tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản có thể bị thu hồi giấy phép khai thác thủy sản trong một số trường hợp nhất định (Điều 18 Luật Thủy sản):

  • Không đủ điều kiện theo Điều 17 Luật Thủy sản;
  • Vi phạm nghiêm trọng các quy định của Luật này về khai thác thủy sản hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động thủy sản 3 lần trong thời hạn Giấy phép khai thác thủy sản;
  • Tẩy xóa, sửa chữa nội dung Giấy phép khai thác thủy sản;
  • Có hành vi vi phạm khác mà pháp luật quy định phải thu hồi Giấy phép khai thác thủy sản.

– Quyền và nghĩa vụ của chủ thể khai thác thủy sản (Điều 20, 21 Luật Thủy sản).

  • Quyền của chủ thể khai thác thủy sản:
    • Khai thác theo nội dung ghi trong Giấy phép khai thác thủy sản.
    • Cơ quan chuyên môn thông báo kịp thời về tình hình diễn biến thời tiết, nguồn lợi thủy sản, hoạt động thủy sản, thị trường thủy sản và hướng dẫn kỹ thuật khai thác.
    • Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp do thành quả lao động và kết quả đầu tư trong khai thác thủy sản và các quyền khác.
  • Nghĩa vụ của chủ thể khai thác thủy sản:
    • Thực hiện các quy định ghi trong Giấy phép khai thác thủy sản.
    • Nộp thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.
    • Đánh dấu ngư cụ đang được sử dụng tại ngư trường bằng dấu hiệu dễ nhận biết theo quy định của Bộ Thủy sản.
    • Tuân thủ sự kiểm tra, kiểm soát của các lực lượng, cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
    • Phải cứu nạn khi gặp người, tàu thuyền bị nạn.
    • Tuân theo các quy định về quản lý vùng khai thác, bảo vệ trật tự, an ninh trên địa bản khai thác.
    • Phát hiện, tố giác, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về thủy sản và các nghĩa vụ khác.

Những hành vi bị cấm trong hoạt động khai thác thủy sản (khoản 1, 2, 5, 6, 7, 8 Điều 6 Luật Thủy sản).

2.5 Nuôi trồng thủy sản

  • Nhà nước có chính sách giao đất, cho thuê đất có mặt nước để nuôi trồng thủy sản (tuân theo các quy định của Luật Đất đai); giao, cho thuê vùng biển để nuôi trồng thủy sản để phát triển nguồn lợi thủy sản (tuân theo các quy định của Luật Thủy sản);
  • Việc nuôi trồng thủy sản gắn với việc bảo vệ môi trường, đảm bảo hiệu quả kinh tế của toàn xã hội và theo quy hoạch, kế hoạch của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm mục đích phát triển bền vững.

III. PHÁP LUẬT VỀ CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI

Sinh viên đọc trong các văn bản sau :

– Pháp lệnh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật 2001.

– Pháp lệnh giống cây trồng 2004;

– Pháp lệnh về giống vật nuôi 2004;

– Pháp lệnh về thú y 2004;

  1. PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

5.1. Khái niệm tài nguyên nước

– Theo nghĩa rộng: Tài nguyên nước bao gồm mọi dạng tồn tại của nước (rắn, lỏng, khí). Tất cả các dạng này luân chuyển với nhau tạo thành chu trình nước.

– Theo Luật Tài nguyên nước: Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mưa, nước mặt, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 2 Luật Tài nguyên nước).

Luật Tài nguyên nước đã có sự giới hạn về cách hiểu về tài nguyên nước. Định nghĩa theo Luật Tài nguyên nước căn cứ vào đặc điểm có thể phân chia được (thể lỏng), căn cứ vào dạng tồn tại (nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển) và căn cứ vào không gian tồn tại của nước (phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam) để xác định tài nguyên nước theo cách hiểu của Luật. Theo đó tài nguyên nước là những dạng tồn tại cụ thể của nước ở một khâu nào đó trong chu trình nước mà thôi (dạng lỏng). Tuy nhiên, không phải tất cả nước tồn tại ở thể lỏng đều là tài nguyên nước (ví dụ: nước nóng, nước khoáng thiên nhiên do Luật Khoáng sản quy định, nước đã qua khai thác, sử dụng cũng không phải là tài nguyên nước theo quy định của Luật Tài nguyên nước).

5.2. Chế độ sở hữu đối với tài nguyên nước

Theo quy định của Luật Tài nguyên nước thì Tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý (khoản 1 Điều 1 Luật Tài nguyên nước). Quyền sở hữu đối với tài nguyên nước chỉ gắn với một khoảng thời gian và không gian nhất định. Nhà nước thực hiện quyền sở hữu đối với tài nguyên nước thông qua việc chiếm hữu (nắm bắt những thông tin về tài nguyên nước như thống kê, đánh giá, đo đạc,…), sử dụng (nhà nước trực tiếp sử dụng hoặc thông qua chủ thể sử dụng – hộ gia đình, cá nhân, tổ chức – chủ thể sử dụng phải trả tiền thông qua những nghĩa vụ pháp lý).

5.3. Chế độ quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước

5.3.1. Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước

Bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền riêng.

Cơ quan có thẩm quyền chung: Chính Phủ và Ủy ban nhân dân các cấp

Chính Phủ thống nhất quản lý Nhà nước về tài nguyên nước trên phạm vi cả nước. Chính phủ thành lập Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước để tư vấn cho Chính phủ trong những quyết định quan trọng về tài nguyên nước thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ (Điều 63 Luật Tài nguyên nước, Điều 16 Nghị định 179). Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước trong phạm vi địa phương.

– Cơ quan có thẩm quyền riêng:

+ Thẩm quyền chuyên môn đối với tài nguyên nước (cơ quan quản lý chuyên ngành): Theo Luật Tài nguyên nước thì thẩm quyền quản lý chuyên ngành đối với tài nguyên nước là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Tuy nhiên, hiện nay, tài nguyên nước do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý (Nghị định 25/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và môi trường).

+ Cơ quan quản lý nhà nước thuộc các ngành và các lĩnh vực có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với tài nguyên nước trong phạm vi ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách.

Việc quản lý nhà nước về tài nguyên nước là kết hợp quản lý theo ngành, theo điạ phương và quản lý theo lưu vực để đảm bảo tính thống nhất.

5.3.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước

Quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước bao gồm việc quản lý việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước, quản lý các công trình tiêu thoát nước; quản lý các lưu vực sông, quản lý nguồn nước ở các vùng đặc biệt,… nhằm mục đích ngăn ngừa tổn thất, phòng chống ô nhiễm; giảm thiểu các tác hại do nước gây nên. Theo quy định tại Điều 57 Luật Tài nguyên nước thì nội dung quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước bao gồm 8 vấn đề. Cần chú ý:

  • Quản lý Nhà nước đối với tài nguyên nước phải dưạ trên cơ sở chiến lược, chính sách, pháp luật về quản là tài nguyên nước và quy hoạch, kế hoạch khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn nước, trong đó đặc biệt coi trọng quy hoạch lưu vực sông.
  • Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch cho việc khai thác và sử dụng nguồn nước phải đảm bảo tính hệ thống của lưu vực, của các công trình thủy lợi, không chia cắt theo đơn vị hành chính song vẫn phải đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các vùng, ngành, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước. Việc xây dựng chính sách, chế độ, thể lệ quản lý tài nguyên nước phải thống nhất với chính sách, pháp luật bảo vệ các thành phần môi trường khác, bảo vệ an ninh quốc phòng và nhất thiết phải bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện.

5.4. Chế độ bảo vệ, khai thác, sử dụng

5.4.1. Vấn đề bảo vệ tài nguyên nước (Chương II Luật Tài nguyên nước)

– Bảo vệ tài nguyên nước là biện pháp phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển tài nguyên nước.

– Nội dung bảo vệ tài nguyên nước: Luật Tài nguyên nước quy định bảo vệ tài nguyên nước trong từng lĩnh vực, đối với từng loại nước, tựu chung thể hiện dưới hai góc độ:

+ Chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước: bảo vệ rừng, bảo vệ hồ chứa nước, bảo vệ tầng chứa nước dưới đất, bảo vệ các dòng sông, sử dụng nước tiết kiệm, hợp lý, tránh tình trạng lãng phí tài nguyên nước.

+ Chống ô nhiễm nguồn nước: Nguồn nước có thể bị ô nhiễm bởi nhiều tác nhân (các chất hữu cơ, vô cơ, các chất độc hại khác). Các nguồn gây ô nhiễm này phát sinh từ tự nhiên (ô nhiễm do thủy triều, mưa bùn, núi lửa,…) nhưng đặc biệt là ô nhiễm do con người, tức là các chất thải từ các hoạt động của con người. Vì thế, phải kiểm soát việc phát thải vào nguồn nước. Luật Tài nguyên nước quy định tổ chức, cá nhân sử dụng nước trong sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, bệnh viện, đô thị, khu dân cư tập trung và các hoạt động khác nếu xả thải vào nguồn nước thì phải được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

        5.4.2. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước (Chương III Luật Tài nguyên nước)

        – Khai thác nguồn nước là hoạt động nhằm mang lại lợi ích từ nguồn nước; sử dụng tổng hợp nguồn nước là sử dụng hợp lý, phát triển tiềm năng của một nguồn nước và hạn chế tác hại do nước gây ra để phục vụ tổng hợp cho nhiều mục đích.

– Nguyên tắc khai thác, sử dụng tài nguyên nước

+ Khai thác, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước

+ Đảm bảo sử dụng công bằng nguồn nước

+ Ưu tiên sử dụng tài nguyên nứơc cho những nhu cầu thiết yếu

– Chủ thể sử dụng tài nguyên nước (hộ gia đình, cá nhân, tổ chức) khi khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải có giấy phép tài nguyên nước, trừ các trường hợp không phải xin cấp giấy phép (Điều 24 Luật Tài nguyên nước).

Pháp luật quy định một số trường hợp không cần phải xin giấy phép tài nguyên nước:

  • Khai thác, sử dụng nguồn nước mặt, nguồn nước dưới đất với quy mô nhỏ cho sinh hoạt;
  • Khai thác, sử dụng nguồn nước mặt, nguồn nước dưới đất với quy mô nhỏ phục vụ cho sàn xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thủy điện và cho các mục đích khác trong phạm vi gia đình;
  • Khai thác ở quy mô gia đình nguồn nước biển cho sản xuất muối, nuôi trồng hải sản;
  • Khai thác, sử dụng nước mưa, nước mặt, nước biển trên đất đã được giao, được thuê.

– Quyền, nghĩa vụ của chủ thể khai thác, sử dụng tài nguyên nước:

+ Đối với chủ thể đầu tư vào các công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước có quyền sở hữu đối với công trình đã đầu tư; có quyền chuyển nhượng, để thừa kế đối với công trình họ đã đầu tư để khai thác, sử dụng. Bản thân người được cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước có quyền chuyển nhượng quyền khai thác, sử dụng;

+ Có quyền bán sản phẩm mà họ đã đầu tư, khai thác (đối với tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng công trình thủy lợi thì có quyền thu thủy lợi phí – trả cho việc sử dụng công trình mà tổ chức, cá nhân đã đầu tư – chỉ áp dụng cho nước sử dụng vào mục đích nông nghiệp);

+ Có nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên; nghĩa vụ bảo vệ môi trường, phòng chống bão lụt, …

5.5. Phòng chống lũ lụt và các tác hại khác do nước gây ra

– Việc quy hoạch bố trí dân cư, bố trí sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng ngập lũ (Khoản 1 Điều 38 Luật Tài nguyên nước).

– Vấn đề phân lũ, chậm lũ (Điều 40 Luật Tài nguyên nước).

– Huy động lực lượng, phương tiện cho việc phòng, chống và khắc phục hậu quả do lũ, lụt (Điều 41 Luật Tài nguyên nước).

Lưu ý: việc thiếu hay thừa nước đều có thể gây ra những tác động xấu đến con người. Thiếu nước gây ra hạn hán, thừa nước tạo ra lũ lụt. Do đó, để phòng chống tác hại do nước gây ra, chính quyền các địa phương phải chú ý thực hiện biện pháp công trình (xây dựng đê điều) và biện pháp phi công trình (trồng rừng, phân lũ, chậm lũ).

Thí dụ: ĐBSCL thì phải triển khai phương án sống chung với lũ, tận dụng ưu thế của lũ (nhà nổi trên sông), nhưng ĐBS Hồng phải xây dựng đê điều, phân lũ, xả lũ.

  1. PHÁP LUẬT VỀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

Tài nguyên khoáng sản là một trong những loại tài nguyên thiên nhiên, nhưng có một đặc điểm khác biệt với các loại tài nguyên thiên nhiên khác như: rừng, nước, thủy sản, đó là tài nguyên khoáng sản là loại tài nguyên không thể phục hồi. Do đó, việc khai thác, sử dụng phải tiết kiệm, tìm kiếm và sử dụng vật liệu mới để thay thế.

5.1. Khái niệm về tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản

– Khái niệm khoáng sản: khoáng sản là tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khóang vật, khóang chất có ích ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể được khai thác. Khóang vật, khóang chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể được khai thác lại, cũng là khoáng sản (khoản 1 Điều 3 Luật Khoáng sản).

Khái niệm về tài nguyên khoáng sản căn cứ vào không gian tồn tại (trên mặt đất -khoáng sản lộ thiên, trong lòng đất); dạng tồn tại (tích tụ tự nhiên ở thể rắn – than sắt, than đá; thể lỏng – nước khóang, nước nóng thiên nhiên, dầu; thể khí – khí đốt) . Lưu ý nếu không tồn tại dưới dạng tích tụ tự nhiên thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Khoáng sản.

– Khái niệm hoạt động khoáng sản (khoản 4, 5, 6, 7, 8, 9 Điều 3 Luật Khoáng sản): Hoạt động khoáng sản là hoạt động bao gồm rất nhiều những hoạt động cụ thể, hoạt động trước là tiền đề cho hoạt động sau nhằm mục đích phát hiện, khai thác, đưa khoáng sản vào sử dụng. Hoạt động khoáng sản bao gồm những hoạt động sau:

+ Hoạt động điều tra cơ bản địa chất: là hoạt động nghiên cứu, điều tra về cấu trúc, thành phần vật chất, lịch sử phát sinh, phát triển vỏ trái đất và các điều kiện, quy luật sinh khoáng liên quan.

+ Hoạt động điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản: là việc đánh giá tổng quan tiềm năng tài nguyên khoáng sản trên cơ sở điều tra cơ bản địa chất, làm căn cứ khoa học cho việc định hướng các hoạt động khảo sát, thăm dò khoáng sản.

+ Hoạt động khảo sát khoáng sản: đây là hoạt động nghiên cứu tư liệu địa chất về tài nguyên khoáng sản, khảo sát thực địa nhằm khoanh định khu vực có triển vọng để thăm dò khoáng sản.

+ Hoạt động thăm dò khoáng sản: là hoạt động nhằm tìm kiếm, phát hiện, xác định trữ lượng, chất lượng khoáng sản, điều kiện kỹ thuật khai thác, kể cả việc lấy, thử nghiệm mẫu công nghệ và nghiên cứu khả thi về khai thác khoáng sản.

+ Hoạt động khai thác khoáng sản: là họat động xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, sản xuất và các hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm thu khoáng sản.

+ Hoạt  động chế biến khoáng sản: là hoạt động phân lọai, làm giàu khoáng sản, hoạt động khác nhằm làm tăng giá trị khoáng sản đã khai thác.

5.2. Chế độ sở hữu đối với tài nguyên khoáng sản

Cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, tài nguyên khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý. Điều 1, Luật Khoáng sản quy định: “Tài nguyên khoáng sản trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đều thuộc sở hữu tòan dân, do nhà nước thống nhất quản lý”.

Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu thông qua họat động điều tra, khảo sát, cấp giấy phép hoạt động khoáng sản. Pháp luật Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới không công nhận khoáng sản thuộc sở hữu tư nhân, ngay cả khi nguồn khoáng sản đó thuộc vùng đất tư nhân đang có quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, pháp luật công nhận quyền chuyển nhượng và để thừa kế quyền hoạt động khoáng sản.  Khi tiến hành các họat động khoáng sản, các chủ đầu tư có sự đầu tư vốn nhất định cho hoạt động của mình. Trong trường hợp không thể tiếp tục tiến hành hoạt động trên, các chủ thể có quyền chuyển nhượng hoặc để lại thừa kế quyền tiếp tục hoạt động khoáng sản. Lưu ý, đây chỉ là quyền hoạt động khoáng sản.

5.3. Chế độ quản lý nhà nước đối với tài nguyên khoáng sản

5.3.1. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đối với tài nguyên khoáng sản

Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung: bao gồm Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.

+ Chính Phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sản trong phạm vi cả nước (Hội Đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản là cơ quan giúp Chính phủ trong việc thẩm định, xét duyệt trữ lượng khoáng sản);

+ Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khoáng sản tại địa phương theo quy định của Luật Khoáng sản và theo phân cấp của Chính Phủ (Điều 55 Luật Khoáng sản).

– Cơ quan có thẩm quyền chuyên môn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (theo quy định Luật sửa đổi Luật Khoáng sản và Nghị định 25/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường).

Lưu ý: đối với dầu khí do Thủ Tướng Chính phủ trực tiếp quản lý, thông qua Văn phòng Thủ Tướng Chính phủ và  Tổng Công ty dầu khí Việt Nam  (Luật Dầu khí).

5.3.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với tài nguyên khoáng sản

Quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản là toàn bộ hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện chức năng quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản, quản lý hoạt động khoáng sản. Nội dung quản lý nhà nước về khoáng sản được quy định tại Điều 54 Luật Khoáng sản, bao gồm:

+ Hoạch định chiến lược, quy hoạch và chính sách về bảo vệ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên khoáng sản và phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản;

+ Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về khoáng sản;

+ Cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép hoạt động khoáng sản; cho phép chuyển nhượng, để thừa kế quyền hoạt động khoáng sản, cho phép trả lại giấy phép hoạt động khoáng sản; đăng ký các hoạt động điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản;

+ Thẩm định, phê duyệt, đánh giá các đề án, báo cáo, thiết kế mỏ trong hoạt động khoáng sản;

+ Kiểm tra, thanh tra các hoạt động điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản, hoạt động khoáng sản;

+ Thực hiện các chính sách đối với nhân dân địa phương nơi có khoáng sản được khai thác, chế biến và nơi có khoáng sản độc hại;

+ Thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên khoáng sản;

+ Tổ chức lưu trữ, bảo vệ tài liệu và bí mật nhà nước về tài nguyên khoáng sản;

+ Đào tạo cán bộ khoa học, cán bộ quản lý về khoáng sản; tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn thi hành pháp luật về khoáng sản;

+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản;

+ Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về hoạt động khoáng sản và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về khoáng sản.

– Các nội dung quản lý nhà nước về khoáng sản bao gồm hai nội dung: quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản quản lý các hoạt động tác động đến nguồn tài nguyên khoáng sản. Ở nội dung thứ nhất, nhà nước quản lý trữ lượng tài nguyên khoáng sản thông qua một bộ phận các cơ quan chuyên môn. Các cơ quan này chịu trách nhiệm đánh giá tổng quan tiềm năng tài nguyên khoáng sản, trữ lượng khoáng sản hiện có và tiềm năng của nguồn tài nguyên này, từ đó nhà nước có cơ sở để quản lý. Ở nội dung thứ hai, nhà nước sẽ quản lý mọi hoạt động tác động đến nguồn tài nguyên khoáng sản (hoạt động khoáng sản), bao gồm: hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản. Tất cả các hoạt động này phải đặt dưới sự quản lý của nhà nước, các chủ thể chỉ được tiến hành các hoạt động trên khi được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản phải dựa trên cơ sở chiến lược, chính sách, pháp luật và quy hoạch về bảo vệ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên khoáng sản và phát triển công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, trong đó đặc biệt coi trọng các khoáng sản quý hiếm, khoáng sản có giá trị xuất khẩu cao và khoáng sản có tính nguy hại tới môi trường. Chiến lược, chính sách, pháp luật và quy hoạch về bảo vệ, sử dụng tài nguyên khoáng sản phải được đặt trong chiến lược tổng thể về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường của đất nước, đồng thời phải có mối quan hệ mật thiết với chiến lược, chính sách và pháp luật bảo vệ các nguồn tài nguyên khác (đất đai, nước, không khí, hệ sinh vật,…)

5.4. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể hoạt động khoáng sản

Chủ thể hoạt động khoáng sản bao gồm nhiều loại chủ thể khác nhau và quyền, nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể này cũng khác nhau (Điều 22, 23, 26, 27, 32, 33, 45, 46, 51, 52 Luật Khoáng sản). Đối với hoạt động điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản và khảo sát khoáng sản được thực hiện chủ yếu bằng vốn nhà nước nên quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này rất hạn chế. Bắt đầu từ hoạt động thăm dò khoáng sản thì được thực hiện thông qua hoạt động của các doanh nghiệp nên quyền và nghĩa vụ này cũng được mở rộng. Cần chú ý một số quyền và nghĩa vụ chính sau:

  • Có đặc quyền khai thác; có quyền chuyển nhượng, để thừa kế thông tin từ hoạt động thăm dò; nghĩa vụ nộp tiền đặt cọc khi được cấp giấy phép thăm dò; trả tiền cho việc sử dụng những số liệu, thông tin phục vụ cho hoạt động thăm dò (đối với chủ thể thực hiện hoạt động thăm dò khoáng sản).
  • Quyền được sử dụng, tiêu thụ khoáng sản đã khai thác; quyền chuyển nhượng quyền hoạt động khai thác mỏ; sở hữu công trình đã đầu tư vào mục đích khai thác khoáng sản; nộp thuế tài nguyên; trả tiền cho việc sử dụng thông tin của nhà nước (đối với chủ thể thực hiện hoạt động khai thác khoáng sản).

5.5. Bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản

Họat động khoáng sản là một trong những họat động gây tác hại rất lớn đến môi trường. Chính vì thế những quy định về bảo vệ môi trường trong họat động khoáng sản cũng nhằm mục đích hạn chế đến mức thấp nhất những tác hại do hoạt động này có thể gây ra. Khi được phép hoạt động khoáng sản ở những khu vực cho phép hoạt động khoáng sản, các tổ chức, cá nhân phải tuân thủ các quy định về bảo vệ tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường như sau:

Quy định về khu vực có khoáng sản độc hại (khu vực có chứa kim loại nặng, chất phóng xạ): đối với khu vực có khoáng sản độc hại thì cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản có trách nhiệm khoanh định khu vực có khoáng sản độc hại, thông báo cho chính quyền địa phương, các cơ quan lao động, y tế có thẩm quyền để có biện pháp bảo vệ sức khỏe của nhân dân và hạn chế tác hại đối với môi trường, môi sinh ở địa phương (Điều 15 Luật Khoáng sản).

– Quy định về khu vực cấm hoặc hạn chế hoạt động khoáng sản: đây là những khu vực có kết cấu hạ tầng quan trọng, khu vực nhạy cảm về môi trường (khu vực có các di tích đã được xếp hạng, đăng ký; vườn quốc gia, rừng phòng hộ, khu vực bảo tồn địa chất; khu vực dành riêng cho các mục đích quốc phòng, an ninh hoặc ảnh hưởng đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; khu vực thuộc phạm vi bảo vệ đê, kè, bờ sông, các công trình giao thông quan trọng; khu vực dành riêng cho tôn giáo;…). Đối với khu vực này thì cấm hoặc hạn chế hoạt động khoáng sản thông qua các hình thức như: dành riêng cho một hoặc một số tổ chức nhất định của nhà nước độc quyền hoạt động khoáng sản; hạn chế sản lượng khai thác; hạn chế xuất khẩu sản phẩm khai thác.

            – Quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các chủ thể hoạt động khoáng sản: đánh giá tác động môi trường; phục hồi môi trường; nộp phí bảo vệ môi trường; mua bảo hiểm đối với các phương tiện, công trình phục vụ hoạt động khoáng sản, bảo hiểm môi trường, bảo hiểm xã hội và các loại bảo hiểm khác.

BÀI 5

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DI SẢN VĂN HOÁ

 

  • Văn bản pháp luật:
    • Luật di sản văn hóa 2001
    • Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH 2009
    • NĐ 92/2002/NĐ-CP quy ngày 11/11/02 quy định chi tiết việc thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa.
    • NĐ 86/2005/NĐ-CP ngày 08/07/05 về quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước.
    • Thông tư số 07/2004/TT-BVHTT ngày 19/2/2004 hướng dẫn trình tự, thủ tục đang ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại.

  1. Khái niệm

1.1. Định nghĩa:

  • Di sản được hiểu theo nghĩa chung nhất là những giá trị vật chất và tinh thần được thế hệ này để lại cho thế hệ khác.[2]
  • Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước CNXHCN Việt Nam (Điều 1 của Luật DSVH).
    • Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác. (Khoản 1, Điều 4 của luật DSVH).

Hiện nay, Việt Nam đã có 2 di sản văn hóa phi vật thể đã được Unessco công nhận là Nhã nhạc Cung đình Huế và Cồng chiên Tây Nguyên.

Di sản văn hóa phi vật thể không là yếu tố cấu thành môi trường.

  • Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. (Khoản 2, Điều 4 của Luật DSVH)
    • Di vật là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.” (khoản 5, Điều 4 của Luật DSVH)
    • Cổ vật là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.” (Khoản 6, Điều 4 của Luật DSVH)
    • Bảo vật quốc gia là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học.” (Khoản 7, Điều 4 của Luật DSVH). Bảo vật quốc gia được bảo vệ và bảo quản theo chế độ đặc biệt và phải được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền về văn hóa- thông tin.
    • Di tích lịch sử văn hóa là “công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.” (Khoản 3, điều 4 của Luật DSVH)

* Lưu ý: Công trình xây dựng, địa điểm có một trong các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia gắn liền với công trình xây dựng, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học mới được gọi là di tích lịch sử. Do đó, cần chú ý là nếu công trình, địa điểm đó không có một trong các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia gắn liền thì không được xếp là di tích lịch sử văn hóa và ngược lại, nếu tách di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia tách khỏi công trình, địa điểm mà nó gắn liền không thể xem đó là di tích lịch sử văn hóa.

  • Danh lam thắng cảnh là “cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học.” (Khoản 4, Điều 4 của Luật DSVH)
STT Di tích lịch sử – văn hóa Danh lam thắng cảnh
1 Nguồn gốc hình thành
Do con người tạo ra Cảnh quan thiên nhiên hoặc do con người kết hợp với thiên nhiên tạo ra
2 Giá trị đối với cuộc sống con người
Lịch sử, văn hóa, khoa học Lịch sử, thẩm mỹ, khoa học

 

Di sản văn hóa vật thể là một bộ phận của môi trường, nó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc lưu giữ các giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật của các thế hệ cộng đồng Việt Nam và tạo cảnh quan môi trường, không gian cho thế hệ hiện tại và tương lai.

Theo Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới mà Việt Nam là thành viên, di sản có 02 loại là di sản tự nhiên và di sản văn hóa, cụ thể:

  • Di sản tự nhiên là những địa điểm tự nhiên không có các công trình của con người.
  • Di sản văn hóa là những thắng cảnh có các công trình của con người.

Như vậy, pháp luật Việt Nam chưa tiếp cận với tiêu chí phân loại của Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới, với quy định ở khoản 2 Điều 28 Luật Di sản văn hóa Việt Nam, để xác định một địa điểm là danh lam thắng cảnh bao gồm những địa điểm có giá trị tiêu biểu do thiên nhiên tạo ra, không có sự tác động của con người và những địa điểm có giá trị tiêu biểu, đặc biệt của nó có sự kết hợp của thiên nhiên và bàn tay, sức lao động của con người. Rõ ràng, pháp luật Việt Nam đã coi di sản tự nhiên và di sản văn hóa là một, là danh lam thắng cảnh và thuộc di sản văn hóa vật thể.

Thí dụ: Vịnh Hạ Long là di sản văn hóa vật thể theo pháp luật Việt Nam, nhưng là di sản tự nhiên của thế giới theo Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới.

1.2. Phân loại di tích

Di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh gọi chung là di tích.

* Căn cứ vào giá trị và thẩm quyền xếp hạng, di tích được phân loại như sau:

– Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương.

– Di tích cấp quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia.

– Di tích cấp quốc gia đặc biệt di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia.

* Căn cứ vào tiêu chí quy định ở Điều 28 Luật DSVH, di tích được phân loại như sau:

– Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân)

– Di tích kiến trúc nghệ thuật

– Di tích khảo cổ

– Danh lam thắng cảnh

(Điều 13 Nghị định 92/2002 ngày 11/11/2002)

* Lưu ý: phân biệt di tích theo quy định của pháp luật Việt Nam với di sản thế giới theo Công ước HERITAGE sẽ được nghiên cứu trong chương 3.

 

  1. Xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh

2.1. Căn cứ xếp hạng:

      – Tiêu chí công nhận (Điều 28 Luật DSVH 2001)

Di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

 

STT Di tích lịch sử – văn hóa Danh lam thắng cảnh
1 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu.
2 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. Khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất.
3 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng kháng chiến.
4 Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ
5 Quẩn thế các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.

 

      – Có kế hoạch quản lý, bảo vệ, sử dụng đối với công trình được đề nghị xếp hạng.

      – Công trình, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên được xếp hạng di tích (Điều 14 Nghị định 92/2002 ngày 11/11/2002).

2.2. Thẩm quyền xếp hạng (Điều 30 Luật DSVH 2001)

– Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh.

– Bộ trưởng Bộ VHTT quyết định xếp hạng di tích quốc gia

– Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của LHQ xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.

Quy định về việc lập hồ sơ xếp hạng di tích (Điều 15 Nghị định 92/2002 ngày 11/11/2002)

2.3. Xóa tên di tích

            – Có đủ căn cứ xác định là di tích đã được xếp hạng đó không đủ tiêu chuẩn

– Di tích đã bị hủy hoại hoàn toàn không có khả năng phục hồi

Người có thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định hủy bỏ xếp hạng đối với di tích đó.

  1. Chế độ sở hữu (Điều 6, 7, 9, 14 LDSVH 2001).

– Các hình thức sở hữu đối với di sản văn hóa:

Các di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh có thể thuộc sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu chung cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác về di sản văn hóa theo quy định của pháp luật. Mặc dù có thể tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau nhưng các di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh là di sản văn hóa Việt Nam và là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và đều cần được bảo vệ và phát huy giá trị nhằm phục vụ lợi ích của chủ sở hữu và của cộng đồng.

– Hình thức sở hữu Nhà nước

  • Mọi di sản văn hóa ở trong lòng đất thuộc đất liền, hải đảo, ở vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam.
  • Di sản văn hóa phát hiện được mà không xác định được chủ sở hữu, thu được trong quá trình thăm dò, khai quật khảo cổ.

– Các hình thức sở hữu khác đối với di tích

  • Đối với những di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý, có thể do cơ quan nhà nước thực hiện (Ban quản lý di tích) hoặc có sự kết hợp giữa sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (không thành lập ban quản lý) với sự quản lý của cộng đồng dân cư hoặc cơ sở tôn giáo.
  • Những di tích như đình, đền, chùa (chùa Tây phương, chùa Thầy, …) đều do cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ.
  • Đối với di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có thể sở hữu tư nhân hoặc nhà nước. Giám đốc Sở Văn hóa – thông tin có trách nhiệm tổ chức đăng ký di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia trong phạm vi địa phương (Điều 23 Nghị định 92/2002 ngày 11/11/2002).
  • Sở hữu tư nhân đối với di tích như nhà thờ họ, ngôi nhà cổ trong khu phố cổ (phố cổ Hội An) phải theo quy chế đặc biệt, nghĩa là có đề án sửa chữa, xây dựng của cơ quan có thẩm quyền cho phép, không được bán cho người khác ở địa phương khác mà ưu tiên bán cho Nhà nước.

Do di sản văn hóa vật thể là loại tài sản đặc biệt nên chủ sở hữu không chỉ có quyền và nghĩa vụ về tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự mà còn có những quyền và nghĩa vụ đặc biệt theo quy định của pháp luật di sản văn hóa.

  1. Bảo vệ và sử dụng di tích

4.1. Bảo vệ di tích.

– Khu vực bảo vệ (Điều 32 LDSVH 2001)

– Khu vực bảo vệ I: gồm di tích và vùng được xác định là yếu tố gốc cấu thành di tích, phải được bảo vệ nguyên trạng.

– Khu vực bảo vệ II: vùng bao quanh khu vực bảo vệ I của di tích, có thể xây dựng những công trình phục vụ cho việc phát huy giá trị di tích nhưng không làm ảnh hưởng tới kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái của di tích.

Thí dụ: xây nhà điều hành di tích, phòng bán vé, nhà vệ sinh.

Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện thực tế địa bàn và sự phân bố các công trình thuộc di tích (ví dụ như di tích nằm trong  khu vực dân cư hoặc liền kề các công trình xây dựng không thể di dời), Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch hoặc UBND cấp tỉnh có thể xác định di tích chỉ có khu vực bảo vệ I.

Ví dụ: Di tích Văn Miếu không có khu vực bảo vệ II.

Khu vực bảo vệ I và khu vực bảo vệ II là những diện tích thuộc đất di tích được quy định tại Điều 98 Luật Đất đai năm 2003, được thể hiện trong bản đồ địa chính, kèm theo biên bản khoanh vùng bảo vệ phải được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận trong hồ sơ di tích.

Dự án xây dựng, cải tạo ngoài khu vực bảo vệ di tích nhưng có khả năng ảnh hưởng đến di tích phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định. (Điều 36 LDSVH, Điều 18 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP).

Nghiêm cấm các hành vi sau đây: (Điều 13 LDSVH)

– Chiếm đoạt, làm sai lệch các di tích;

– Hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa;

– Đào bới trái phép địa điểm khảo cổ, xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai thuộc di tích;

– Mua bán, trao đổi và vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích lịch sử lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh; đưa trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài.

– Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để thực hiện những hành vi trái pháp luật.

Trách nhiệm trong bảo vệ di tích ( Điều 33 LDSVH 2001)

 

Bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích.

* Khái niệm bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích.

  • Bảo quản di tích là hoạt động nhằm ngăn ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
  • Tu bổ di tích là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh.
  • Phục hồi di tích là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sừ văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh.

– Chỉ tiến hành công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích trong trường hợp tối cần thiết

– Phải bảo đảm tính nguyên gốc, tính chính xác, tính toàn vẹn và tăng cường sự bền vững của di tích

– Việc thay thế kỹ thuật hoặc chất liệu cũ bằng chất liệu mới phải thí nghiệm nhiều lần để đảm bảo kết quả hoàn thành trước khi áp dụng về tính chính xác

– Chỉ thay thế một bộ phận cũ bằng bộ phận mới của di tích khi có chứng cứ khoa học chuẩn xác và phải được phân biệt rõ ràng giữa biện pháp mới và biện pháp gốc.

– Việc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích phải được xây dựng thành dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

– Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin ban hành quy chế về bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích.

 

4.2. Sử dụng di tích.              

– Phát huy di tích

Các di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh là thành phần của môi trường. những giá trị về nghệ thuật và vẻ đẹp của nó góp phần tạo nên sự đa dạng về cảnh quan môi trường, góp phần đáp ứng những nhu cầu khác nhau của con người, đặc biệt là nhu cầu tâm linh, nghỉ ngơi và du lịch. Nhiều di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh có giá trị đều là những địa chỉ du lịch nổi tiếng, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. du lịch đã đóng góp phần không nhỏ vào thu nhập quốc dân. Một số nơi còn có điều kiện phù hợp cho việc điều trị và chữa bệnh.

Vì vậy, vấn đề bảo vệ và phát huy các giá trị di tích phải luôn được coi trọng, nhất là ý thức của con người trong việc giữ gìn, tôn tạo và bảo vệ di tích, bởi vì các di tích cũng chịu sự tác động bởi tự nhiên và con người làm cho di sản mất hoặc giảm dần giá trị vốn có.

– Sử dụng di tích vào mục đích giáo dục, nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch.

  • Giáo dục lòng tự hào, lòng yêu nước của dân tộc, tinh thần đoàn kết, kiên cường đấu tranh của nhân dân Việt Nam, bài học thực tiễn sinh động từ thế hệ trước để lại cho các thế hệ sau.
  • Nghiên cứu khoa học: phục vụ việc nghiên cứu nhiều lĩnh vực văn hóa, sinh học, địa lý, lịch sử, khảo cổ, khoa học và thế giới tự nhiên đa dạng và phong phú.
  • Du lịch: phục vụ nhu cầu ngày càng trở nên rất cần thiết cho con người trong cuộc sống hiện đại, nguồn thu nhập quốc dân lớn của nhiều quốc gia.

Tuy nhiên, các di sản được tạo ra bởi sự vận động của thiên nhiên và công sức của nhiều thế hệ khác nhau. Sự tác động của thiên nhiên như mưa, gió, lũ lụt, hạn hán và khí hậu nhiệt đới đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến di tích. Bên cạnh đó, sự tác động của con người như tình trạng ô nhiễm môi trường do những hoạt động khai thác tài nguyên, hoạt động du lịch, việc lấn chiếm trái phép, việc trùng tu, tôn tạo không đúng phương pháp khoa học và không tôn trọng những yếu tố nguyên gốc của di tích, cổ vật đã làm phá vỡ cảnh quan, giảm giá trị di tích, cổ vật.

 

BÀI 6

THANH TRA, KIỂM TRA, XỬ LÝ VI  PHẠM VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG

  1. THANH TRA, KIỂM TRA NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG

Thanh tra, kiểm tra nhà nước trong lĩnh vực môi trường là một hoạt động đóng vai trò quan trọng trong việc kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường để có hướng xử lý phù hợp (Điều 125, 126 Luật Bảo vệ Môi trường 2005).

1.1. Kiểm tra nhà nước trong lĩnh vực môi trường

1.1.1. Khái niệm kiểm tra nhà nước về  môi trường

Kiểm tra nhà nước trong lĩnh vực môi trường được hiểu là một hình thức hoạt động mang tính tổ chức – quyền lực nhà nước nhằm xem xét việc chấp hành các quy định pháp luật về môi trường.

Kiểm tra nhà nước trong lĩnh vực môi trường bao gồm 2 trường hợp sau:

Kiểm tra bắt buộc là hoạt động kiểm tra đối với những đối tượng nhằm mục đích xác nhận những điều kiện cụ thể để cấp giấy phép.

Kiểm tra thường xuyên là hoạt động kiểm tra trên cơ sở đơn từ khiếu nại, tố cáo hoặc kiểm tra theo kế hoạch của cơ quan nhà nước.

1.1.2. Đặc điểm của kiểm tra nhà nước về môi trường

– Kiểm tra nhà nước về môi trường do các cơ quan nhà nước tiến hành và mang tính quyền lực nhà nước. Điều này thể hiện ở các góc độ sau:

+ Đây là hoạt động được thực hiện theo ý chí đơn phương của bên kiểm tra trên cơ sở các quy định pháp luật môi trường mà không cần sự đồng ý của bên bị kiểm tra (kể cả kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất);

+ Bên kiểm tra có quyền yêu cầu bên bị kiểm tra cung cấp hồ sơ, tài liệu và các chứng cứ liên quan tới các vấn đề và nội dung cần kiểm tra và bên bị kiểm tra không được từ chối hay cản trở việc thực hiện các yêu cầu đó.

+ Bên kiểm tra có quyền ban hành văn bản về phương hướng, biện pháp nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả quản lý môi trường hay khắc phục sai sót đối với bên bị kiểm tra và bên bị kiểm tra phải chấp hành nghiêm chỉnh, đầy đủ, thống nhất văn bản đó.

– Hoạt động kiểm tra nhà nước về môi trường luôn có đối tượng, phạm vi, mục đích rõ ràng, cụ thể.

– Kiểm tra nhà nước trong lĩnh vực môi trường luôn được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

1.1.3. Chủ thể tiến hành hoạt động kiểm tra nhà nước  môi trường

Tùy thuộc vào nội dung và đối tượng kiểm tra thì chủ thể tiến hành hoạt động kiểm tra nhà nước về (trong lĩnh vực) môi trường sẽ khác nhau:

– Kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản: Do cơ quan thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra.

– Kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về tài nguyên rừng: Do cơ quan Kiểm lâm thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn kiểm tra.

– Kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về tài nguyên thủy sản: Do cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và cơ quan quản lý Nhà nước về thủy sản ở địa phương thực hiện

– Kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh: Do cơ quan thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,  Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện.

1.2. Thanh tra nhà nước về  môi trường

1.2.1.Khái niệm thanh tra nhà nước về  môi trường:

Thanh tra nhà nước về (trong lĩnh vực) môi trường là việc xem xét, đánh giá, xử lý của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đối với việc thực hiện các quy định pháp luật về môi trường.

Lưu ý:  Phân biệt thanh tra nhà nước về môi trường và kiểm tra nhà nước về  môi trường. Hoạt động thanh tra đã bao hàm kiểm tra, nhưng khác với kiểm tra, khi thanh tra thì đoàn thanh tra và thanh tra viên cũng có quyền xử lý trong thẩm quyền của mình nếu phát hiện sai phạm trong khi cơ quan kiểm tra thì không. Đối với cơ quan kiểm tra, nếu phát hiện sai phạm chỉ báo với cơ quan có thẩm quyền để có hướng xử lý.

Nghị định 35/2009/NĐ-CP ngày 07/4/2009 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tài nguyên và Môi trường.

1.2.2. Hệ thống cơ quan thanh tra chuyên ngành về môi trường

Việc thanh tra nhà nước về môi trường được tiến hành bởi nhiều cơ quan tùy thuộc vào đối tượng thanh tra thuộc thẩm quyền quản lý của từng cơ quan chuyên ngành về môi trường.

– Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường: thanh tra về vấn đề bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản.

– Thanh tra Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, thanh tra Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn: thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật về tài nguyên rừng, tài nguyên thủy sản.

– Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật về di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh.

1.2.3. Thẩm quyền của đoàn thanh tra và thanh tra viên: Theo quy định của Luật Thanh tra và các luật chuyên ngành

  1. XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG

Người vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 127 Luật Bảo vệ Môi trường 2005).

2.1. Trách nhiệm kỷ luật

Trách nhiệm kỷ luật áp dụng đối với người đứng đầu tổ chức, cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật môi trường. Trách nhiệm kỷ luật được quy định trong Pháp lệnh cán bộ, công chức và các văn bản pháp luật chuyên ngành.

2.2. Trách nhiệm hành chính

Trách nhiệm hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Luật Bảo vệ Môi trường 2005 không quy định chế tài cụ thể mà vấn đề này được quy định trong các văn bản sau đây:

– Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

– Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 2/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

– Nghị định 150/2004/NĐ-CP ngày 29/07/2004 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản.

– Nghị định 34/2005/NĐ-CP ngày 17/03/2005 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.

– Nghị định 128/2005/NĐ-CP ngày 11/10/2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản.

– Nghị định 51/2006/NĐ-CP ngày 19/05/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn và kiểm soát bức xạ.

2.3. Trách nhiệm hình sự

Trách nhiệm hình sự được quy định trong Chương XVII, Bộ luật Hình sự 1999, bao gồm các loại tội phạm sau:

– Tội gây ô nhiễm không khí (Điều 182);

– Tội gây ô nhiễm nguồn nước (Điều 183);

– Tội gây ô nhiễm đất (Điều 184);

– Tội nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường (Điều 185);

– Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186);

– Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187);

– Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 188);

– Tội hủy hoại rừng (Điều 189);

– Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (Điều 190);

– Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191).

Nói chung, Bộ luật Hình sự quy định mức phạt tiền cho người phạm một trong các tội trên tối đa là 50.000 triệu đồng và cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định từ một đến năm năm. Riêng đối với tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 188); Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (Điều 190); Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191) thì mức phạt tiền thấp hơn, tối đa là 20.000 triệu đồng.

Mức phạt tiền cao nhất là 100.000 triệu đồng đối với tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186).

III. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG

Chất lượng môi trường đang có những biến đổi phức tạp theo chiều hướng rất bất lợi cho cuộc sống con người như ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, suy giảm tầng ôzon, đa dạng sinh học bị biến đổi, ngoài ra, chúng ta còn phải đối mặt với những mâu thuẫn về lợi ích giữa các chủ thể tham gia sử dụng, khai thác, hưởng thụ những lợi ích của môi trường, mâu thuẫn giữa nhu cầu trước mắt và sự tồn tại lâu dài cho môi trường vì cuộc sống của nhân loại. Vì vậy, những mâu thuẫn, xung đột hay tranh chấp về quyền lợi trong việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường càng ngày trở thành một vấn đề hết sức quan trọng đối với các quốc gia, khu vực và toàn cầu.

3.1. Khái niệm tranh chấp môi trường (Điều 129, Luật Bảo vệ môi trường).

Tranh chấp môi trường là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong khai thác, hưởng dụng và bảo vệ môi trường.

Các dạng tranh chấp môi trường:

– Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong bảo vệ, khai thác, sở hữu và sử dụng các thành phần môi trường;

– Tranh chấp về việc xác định nguyên nhân gây ra ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; về trách nhiệm xử lý, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường gây ra.

3.2. Đặc điểm của tranh chấp môi trường

Tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật có nội dung khác nhau thì khác nhau. Sự khác nhau đó xuất phát từ cơ sở phát sinh, chủ thể tham gia, lợi ích mà các bên tranh chấp hướng tới, giá trị tranh chấp, thời điểm nảy sinh tranh chấp,…do đó, tranh chấp môi trường có một số nét đặc thù như sau:

– Chủ thể: Tranh chấp môi trường có phạm vi chủ thể rất rộng với nhiều loại chủ thể khác nhau. Các chủ thể thường không được xác định một cách cụ thể, chính xác vào thời điểm nảy sinh tranh chấp.

Tranh chấp môi trường có thể diễn ra giữa quốc gia với quốc gia, giữa các cơ quan Nhà nước với nhau (tranh chấp tài nguyên nước giữa Bộ TN&MT với Bộ NN&PTNN), tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức (tranh chấp giữa cá nhân với nhà máy làm ô nhiễm nguồn nước hay thải khói bụi làm ô nhiễm không khí). Điều này có nghĩa là tranh chấp môi trường có thể xảy ra giữa bất cứ chủ thể nào, không phụ thuộc vào cá nhân hay tổ chức, công quyền hay dân quyền, người trong nước hay người nước ngoài, quốc gia phát triển hay đang phát triển, giữa các quốc gia có hay không có quan hệ ngoại giao. Mặt khác, tranh chấp môi trường có thể rất khó xác định chủ thể, thí dụ như tràn dầu, việc thải nguồn nước thải chưa qua xử lý từ các nhà máy, khu công nghiệp, … rất khó xác định chủ thể bị thiệt hại, khó xác định chủ thể gây ô nhiễm vì cùng thời điểm có thể có nhiều nơi vi phạm.

Đối tượng của tranh chấp môi trường thường là các quyền và lợi ích hợp pháp về mặt môi trường của các chủ thể bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại như: quyền được sống trong môi trường trong lành; quyền được khai thác, sử dụng các thành phần môi trường vào mọi mục đích theo quy định của pháp luật; quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản khi có hành vi làm ô nhiễm, suy thoái, gây sự cố môi trường; quyền được tác động lên môi trường trong giới hạn pháp luật cho phép. Đây là đặc điểm để phân biệt với các loại tranh chấp khác.

Tranh chấp môi trường có thể nảy sinh ngay từ  khi chưa có sự xâm hại thực tế đến các quyền và lợi ích hợp pháp về môi trường. Thật vậy, tranh chấp môi trường không chỉ xảy ra khi quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự bị xâm hại trên thực tế mà ngay cả khi quyền và lợi ích hợp pháp của các bên mới đang ở trong tình trạng bị đe dọa xâm hại. Do đó, điểm khác với các loại tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, … ở chỗ tranh chấp khác thì thường thiệt hại thực tế đã xảy ra rồi.

Rõ ràng, khả năng xâm hại đến môi trường mà con người có thể dự báo thường liên quan đến các dự án đầu tư, thậm chí ngay từ khi dự án chưa đi vào hoạt động. Vào giai đoạn này, mặc dù thiệt hại thực tế chưa xảy ra nhưng các bên xung đột cho rằng nguy cơ nội tại sẽ xảy ra thiệt hại đối với môi trường nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

Giá trị thiệt hại trong tranh chấp môi trường thường rất lớn, các lợi ích bị xâm hại thường rất khó xác định. Chúng có thể là tài sản, tính mạng, sức khỏe của con người, có thể là các giá trị mang tính nhân văn như: cảnh quan thiên nhiên bị phá vỡ, di tích lịch sử bị hủy hoại do bị nhiễm bẩn, ô uế,… hoặc các yếu tố khác của môi trường như rừng tự nhiên bị tàn phá, nguồn nước cạn kiệt, đa dạng sinh học suy giảm,… Điều này bắt nguồn từ thực tế là hậu quả do hành vi gây hại đối với môi trường thường rất nghiêm trọng, đa dạng và biến đổi với nhiều cấp độ khác nhau, gồm thiệt hại trực tiếp, gián tiếp; thiệt hại về kinh tế, sinh thái, tài sản, tính mạng, sức khỏe, thiệt hại trong phạm vi quốc gia, trên phạm vi quốc tế. Những thiệt hại về môi trường thường diễn ra trên diện rộng và thời gian ảnh hưởng kéo dài.

Tóm lại, căn cứ vào những đặc điểm nêu trên, khái niệm về tranh chấp môi trường (TCMT) là gì?  TCMT là những xung đột về mặt lợi ích giữa các chủ thể khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị xâm hại hoặc đe dọa xâm hại theo các quy định pháp luật về môi trường

3.3. Giải quyết tranh chấp MT

Có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp như thương lượng, hòa giải và giải quyết tranh chấp tại các cơ quan có thẩm quyền. Trong đó, phương thức giải quyết tranh chấp tại các cơ quan có thẩm quyền là phương thức qun trọng cần lưu ý.

Thương lượng: Giống như giải quyết các xung đột khác, thương lượng luôn được xem là hình thức quan trọng của việc giải quyết tranh chấp môi trường vì tính chất đơn giản và hiệu quả của nó, ít tốn kém thời gian, sức lực và tài chính. Tuy nhiên, thương lượng trong giải quyết tranh chấp môi trường thường diễn ra giữa các chủ thể đại diện (do số người liên quan trong mỗi vụ tranh chấp khá đông).

Hòa giải: là hình thức giải quyết tranh chấp khi tranh chấp đã xảy ra hoàn toàn và các bên nhận thấy quá trình tự thương lượng không đem lại kết quả, nhưng vẫn mong muốn tìm kiếm sự thỏa thuận.

Trong hòa giải, trung gian hòa giải được tổ chức thành các nhóm, bao gồm đại diện chính quyền địa phương, cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, các tổ chức dịch vụ công cộng, đại diện cộng đồng dân cư, các tổ chức phi chính phủ, luật gia, …để vấn đề tranh chấp được xem xét một cách khách quan và toàn diện.

Giải quyết tranh chấp tại các cơ quan có thẩm quyền:

Khác với lĩnh vực kinh tế, dân sự hay lao động, tranh chấp môi trường có thể được giải quyết theo thủ tục hành chính hay tư pháp.

  • Đối với tranh chấp phát sinh từ những quyết định hành chính, hành vi hành chính sẽ được giải quyết thông qua thủ tục tố tụng hành chính.
  • Đối với về quyền sử dụng, sở hữu các yếu tố MT, tranh chấp về BTTH do ô nhiễm MT gây ra sẽ giải quyết theo quy định của Luật tố tụng dân sự và các quy định khác có liên quan. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp được xác định theo đối tượng tranh chấp, tức là:
  • TAND cấp tỉnh xét xử sơ thẩm các vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài, cho tòa án nước ngoài.
  • TAND cấp huyện sẽ xét xử các trường hợp còn lại.

Nếu xét theo phạm vi lãnh thổ thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ  thuộc tòa án nơi địa phương bị đơn cư trú, làm việc (cá nhân) hoặc bị đơn có trụ sở (tổ chức). Các đương sự cũng có thể thỏa thuận tòa án nơi cư trú của nguyên đơn để giải quyết.

Nếu vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi địa phương mình cư trú, làm việc hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết.

  • Giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng các thành phần môi trường.
  • Giải quyết tranh chấp về những vấn đề có liên quan đến quyền được sống trong môi trường trong lành.
  • Giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm MT, suy thoái MT gây ra.

Các cơ quan nhà nước về môi trường tham gia giải quyết hầu hết các vụ tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiệm môi trường gây nên. Vai trò của các cấp chính quyền và cơ quan quản lý nhà nước về môi trường trong hoạt động này thể hiện ở chỗ vừa với tư cách là cơ quan chuyên môn xem xét, xác định nguyên nhân gây ô nhiễm, mức độ ô nhiễm, mức độ thiệt hại, vừa là cơ quan đầu mối trong việc đánh giá chứng cứ pháp lý, nêu cơ sở giải quyết và phân tích các mối quan hệ xã hội đan xen, tạo cơ hội cho các bên tranh chấp tự giải quyết xung đột mà không cần đưa ra tòa án giải quyết. Căn cứ vào các tình tiết cụ thể của mỗi vụ tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thường gợi ý các bên áp dụng một trong các phương án sau đây:

  • Bồi thường thiệt hại toàn bộ thực tế. Phương án này thường áp dụng trong trường hợp phạm vi ô nhiễm hẹp, thiệt hại chỉ xảy ra đối với ít người, giá trị thiệt hại không lớn.
  • Bồi thường thiệt hại trên cơ sở xác định tổng giá trị thiệt hại được bù đắp so với tổng giá trị thiệt hại thực tế. Phương án này thường áp dụng trong trường hợp người gây thiệt hại thực hiện hành vi làm ô nhiễm môi trường do lỗi vô ý, thiệt hại quá lớn so với khả năng tài chính của họ.
  • Bồi thường thiệt hại trên cơ sở xác định cấp độ thiệt hại. Phương án này thường áp dụng trong trường hợp có sự chênh lệch đáng kể về mức độ thiệt hại giữa những nạn nhân và bên bị hại đã phân loại được thiệt hại thành nhiều cấp độ.
  • Bồi thường thiệt hại trên cơ sở xác định mức thiệt hại bình quân. Phương án này thường áp dụng trong trường hợp không có sự chênh lệch lớn giữa các mức thiệt hại.
  • Bồi thường thiệt hại bằng việc đầu tư vào các công trình công cộng, phúc lợi cho cộng đồng dân cư.
  • Riêng đối với tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại về môi trường do sự cố tràn dầu thì cơ quan quản lý nhà nước về môi trường địa phương sẽ là người đại diện cho bên bị hại.
  • Vấn đề áp dụng luật quốc tế trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp MT ở Việt Nam
  • Tranh chấp mà một bên hoặc các bên là người nước ngoài về bảo vệ môi trường trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết theo pháp luật Việt Nam đồng thời có xem xét đến pháp luật và thông lệ quốc tế.
  • Tranh chấp giữa Việt Nam với các nước khác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được giải quyết trên cơ sở thương lượng, có xem xét đến pháp luật và thông lệ quốc tế.

 

CHƯƠNG 3

LUẬT QUỐC TẾ VỀ MT

(05 tiết giảng và 3 tiết thảo luận)

  1. Khái niệm.

1.1. Định nghĩa

Luật QT về MT gồm tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm pháp lý quốc tế, điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế nhằm ngăn chặn, khắc phục, loại trừ những tác động xấu xảy ra cho MT của mỗi quốc gia và những yếu tố MT nằm ngoài phạm vi của quyền tài phán quốc gia.

* Đặc điểm:

Chủ thể của Luật Quốc tế về môi trường: chính là quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế (các tổ chức liên chính phủ), xem môi trường như lĩnh vực của công pháp quốc tế

Ví dụ: doanh nghiệp của Việt Nam thải chất độc hại ra biển gây ảnh hưởng đến quốc tế => Việt Nam là chủ thể gây thiệt hại về môi trường chứ không phải là doanh nghiệp gây ô nhiễm (vì đã để doanh nghiệp xả thải).

Khách thể của Luật Quốc tế về môi trường (đối tượng bảo vệ của Luật Quốc tế về môi trường):

Luật Quốc tế về MT bảo vệ những yếu tố về môi trường thuộc phạm vi chủ quyền và quyền tài phán quốc gia.

Ví dụ: Vịnh Hạ Long được bảo vệ bởi các quy định pháp luật quốc tế: Công ước Quốc tế về Di sản; động vật quý hiếm không những được bảo vệ bởi pháp luật Việt Nam mà còn được quy định bởi những quy định pháp luật quốc tế (CITES).

Luật Quốc tế về môi trường bảo vệ những yếu tố môi trường nằm ngoài phạm vi tài phán quốc gia .

Ví dụ: biển cả, khoảng không vũ trụ, …

1.2 .Quá trình phát triển

  • Trước 1972, vấn đề môi trường chưa được quan tâm nhiều, không có nhiều điều ước quốc tế.
  • Từ 1972 đến nay, nhận thấy được tính thống nhất của môi trường ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, do đó nhiều điều ước quốc tế được ký kết.

1.3. Nguồn của luật QT về MT: chia làm 3 loại

  • Tập quán quốc tế, không thật sự phổ biến
  • Phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế.
  • Điều ước quốc tế, hiện nay chủ yếu sừ dụng nguồn này, những điều ước song phương hoặc đa phương.
  1. Trách nhiệm và nghĩa vụ quốc gia theo luật quốc tế về môi trường.

2.1. Nghĩa vụ

  • Nghĩa vụ không gây hại: được hiểu là quốc gia không được phép thực hiện những hành động trong phạm vi chủ quyền, nếu những hành động đó gây phương hại đến lợi ích chung của môi trường hay lợi ich môi trường của quốc gia khác. Nghĩa vụ không gây hại còn có một ý nghĩa nữa là nếu không là thành viên công ước quốc tế nào thì không phát sinh nghĩa vụ đối với công ước đó.

Ví dụ: sông Mekong chảy qua địa phận nhiều quốc gia khác nhau, Campuchia là thành viên của Điều ước quốc tế về sông Mekong, muốn ngăn chặn dòng sông này (mặc dù nằm trên lãnh thổ CPC) nhưng vì ảnh hưởng quốc gia khác nên không được phép làm. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể xây đập thủy điện trên sông Mekong, nhưng TQ không vi phạm vì không là thành viên của Điều ước quốc tế về sông Mekong.

Lưu ý nghĩa vụ không gây hại phải được ghi nhận trong Điều ước quốc tế và sau đó mới được yêu cầu không gây hại.

  • Nghĩa vụ hợp tác: hợp tác để thực hiện những Điều ước quốc tế hoặc hợp tác trong việc trao đổi thông tin (thông tin và đánh giá tác động, thông tin về ảnh hưởng môi trường).

Ví dụ: Pháp muốn xây dựng nhà máy hạt nhân thì khi đánh giá tác động MT và dự báo những khả năng có thể xảy ra và phải cung cấp thông tin cho phía Bỉ biết, ngược lại Bỉ cũng thông tin về rò rĩ phóng xạ nếu phát hiện được.

  • Nghĩa vụ thông tin.

2.2. Trách nhiệm

  • Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi mà luật quốc tế không cấm gây ra. Trách nhiệm này không quan tâm có hay không có hành vi, là thành viên hay không, mà dựa vào kết quả xảy ra cho môi trường.
  • Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm luật pháp quốc tế gây ra.
  1. Nội dung.

3.1. Luật quốc tế về bảo vệ bầu khí quyển

  • Luật quốc tế về chống ô nhiễm không khí xuyên biên giới.

Châu Âu và Bắc Mỹ ký kết Công ước Geneve về kiểm soát ô nhiễm không khí tầm xa năm 1979, tuy nhiên Công ước có hai điểm hạn chế, đó là:

  • Công ước không đưa ra lộ trình cụ thể, nên khó thực hiện trong thực tế.
  • Công ước chỉ tác động đến các quốc gia châu Âu => không có phạm vi rộng đến quốc tế.
  • Luật quốc tế về bảo vệ tầng ozon.
    • Khái niệm về tầng ozon và các chất làm suy giảm tầng ozon
      • Khái niệm tầng ozon

Khí Ozon gồm 3 nguyên tử oxy (03). Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu với ranh giới trên dao động trong khoảng độ cao 50 km. Ở độ cao khoảng 25 km trong tầng bình lưu tồn tại một lớp không khí giàu khí Ozon (O3) thường được gọi là tầng Ozon. Hàm lượng khí Ozon trong không khí rất thấp, chiếm một phần triệu, chỉ ở độ cao 25 – 30 km, khí Ozon mới đậm đặc hơn (chiếm tỉ lệ 1/100.000 trong khí quyển). Người ta gọi tầng khí quyển ở độ cao này là tầng Ozon.

Khí ozon (O­3) ở tầng đối lưu thì rất độc hại cho con người. Ngược lại, khí ozon ở tầng bình lưu, độ cao từ 12 đến 50 km, khí quyển chứa ozon hình thành một tầng bảo vệ xung quanh trái đất, thì rất có lợi, vì vậy con người giữ gìn nó như một yếu tố bảo vệ môi trường.

  • Tầm quan trọng của tầng ozon

Tầng ozon bảo vệ trái đất khỏi các ảnh hưởng có hại của các tia bức xạ mặt trời, giữ vai trò quan trọng đối với khí hậu và sinh thái.

Nếu tầng Ozon bị thủng, một lượng lớn tia tử ngoại sẽ chiếu thẳng xuống Trái đất. Con người sống trên Trái đất sẽ mắc bệnh ung thư da, thực vật không chịu nổi nhiều tia tử ngoại chiếu vào sẽ bị mất dần khả năng miễn dịch, các sinh vật dưới biển bị tổn thương và chết dần.

Suy thoái tầng ozon góp phần làm tăng nhiệt độ của trái đất, thay đổi chế độ khí hậu toàn cầu. Bên cạnh đó, sự suy thoái tầng ozon cũng tác động lên hệ sinh thái làm giảm sản lượng sinh học của chúng, làm tăng phóng xạ cực tím trên mặt đất, suy thoái chất lượng không khí, gây ung thư da, bệnh về mắt, ảnh hưởng xấu tới miễn dịch.

  • Thực trạng tầng ozon

Tháng 10 năm 1985, các nhà khoa học Anh phát hiện thấy tầng khí ozon trên không trung Nam cực xuất hiện một “lỗ thủng” rất lớn, bằng diện tích nước Mỹ. Năm 1987, các nhà khoa học Ðức lại phát hiện tầng khí ozon ở vùng trời Bắc cực có hiện tượng mỏng dần, có nghĩa là chẳng bao lâu nữa tầng ozon ở Bắc cực cũng sẽ bị thủng. Tin này nhanh chóng được truyền khắp thế giới và làm chấn động dư luận.

Các nhà khoa học đều cho rằng, nguyên nhân này có liên quan tới việc sản xuất và sử dụng tủ lạnh trên thế giới. Sở dĩ tủ lạnh có thể làm lạnh và bảo quản thực phẩm được lâu là vì trong hệ thống ống dẫn khép kín phía sau tủ lạnh có chứa loại dung dịch freon thể lỏng (thường gọi là “gas”). Nhờ có dung dịch hoá học này tủ lạnh mới làm lạnh được. Dung dịch freon có thể bay hơi thành thể khí. Khi chuyển sang thể khí, freon bốc thẳng lên tầng ozon trong khí quyển Trái đất và phá vỡ kết cầu tầng này, làm giảm nồng độ khí ozon.

Không những tủ lạnh, máy lạnh cần dùng đến freon mà trong dung dịch giặt tẩy, bình cứu hoả cũng sử dụng freon và các chất thuộc dạng freon. Trong quá trình sản xuất và sử dụng các hoá chất đó không tránh khỏi thất thoát một lượng lớn hoát chất dạng freon bốc hơi bay lên phá huỷ tầng ozon. Qua đó chúng ta thấy rằng, tầng zon bị thủng chính là do các chất khí thuộc dạng freon gây ra, các hoá chất đó không tự có trong thiên nhiên mà do con người tạo ra.

Sớm ngừng sản xuất và sử dụng các hoá chất dạng freon là biện pháp hữu hiệu nhất để cứu tầng ozon.

Tầng ozon đã bị suy yếu trong vòng 50 năm qua, rõ rệt nhất là các đô thị lớn. Tầng ozon ở khu vực cực cận cực Bắc (Bắc Mỹ, Canada, châu Âu, Liên Xô cũ) đã bị mỏng tới 40% khiến cho mùa xuân đến sớm, mùa đông đến muộn. Ở Nam cực, tầng ozon giảm 50% tạo nên các lỗ hổng rộng hơn 20 triệu km2.[3]

  • Nguyên nhân suy giảm tầng ozon

Nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp lạnh, phân bón hóa học, máy bay, sử dụng các nhiên liệu hóa thạch đã thải vào khí quyển các chất như CFC, CH4, N2O, NO có khả năng hóa hợp với ozon; ngoài ra còn do các nguồn khí tự nhiên khác từ núi lửa, sấm chớp.

Chất gây suy giảm ozon là chất CFC (freons), ODS (ozon destroy subtain) gồm những hợp chất có chứa clorin và những hợp chất thuộc nhóm Bromin (trong hóa chất trừ sâu và tẩy rửa)

  • Các chất ODS và cơ chế phá hủy tầng ozon của chúng: Các chất ODS là các chất thuộc nhóm chloruo (CFC) và nhóm bromide (chất tẩy rửa).
  • Xác định hướng tác động để bảo vệ tầng ozon: loại trừ nguyên nhân bằng cách ngưng phát thải những chất ODS vào bầu khí quyển.
  • Ngày 22/3/1985, các quốc gia đã cùng nhau ký kết một văn bản thỏa thuận về trách nhiệm của các nước trong việc giảm phát thải các chất có hại đến sự bình ổn của tầng ozon, đó là Công ước Vienna.
  • Nội dung của luật quốc tế về bảo vệ tầng ozon (Công ước VIENNA 1985 và Nghị định thư MONTREAL 1987 về các chất làm suy giảm tầng ozon).
    • Khái niệm:
  • Xác định nghĩa vụ của quốc gia là cắt giảm và đi đến loại bỏ hoàn toàn việc sản xuất và tiêu thụ các chất ODS. Thực hiện nghĩa vụ này phải tính đến lộ trình vì không phải một thời gian ngắn có thể loại bỏ ngay được các chất ODS, nên cắt giảm từ từ rồi đi đến loại bỏ hoàn toàn.

Ví dụ: Theo Nghị định thư Montreal, QG A

+ Năm 1990, quốc gia (QG) A sản xuất và tiêu thụ 900 tấn CFC, trong đó sản xuất là 700 tấn, nhập 200 tấn.

+ Năm 1993, QG A phải cắt giảm 50% (450 tấn).

+ Năm 1996, QG A phải loại bỏ hoàn toàn việc sản xuất và tiêu thụ CFC.

  • Căn cứ cắt giảm và loại bỏ hoàn toàn việc sản xuất và tiêu thụ các chất ODS
    • Hệ số phá hủy tầng Ozone: căn cứ vào mức độ nguy hiểm đối với tầng ozon của từng chất ODS, nghĩa là những chất nào có mức độ nguy hiểm hơn – có hệ số phá hủy tầng ozon cắt giảm trước. Hệ số phá hủy tầng ozon tỷ lệ thuận với mức độ nguy hiểm của các chất phá hủy tầng ozon.

Tuy nhiên, không phải chất nào nguy hiểm là cắt giảm và loại bỏ ngay mà phải tiếp tục xem xét căn cứ thứ 2, đó là nhu cầu sử dụng và khả năng thay thế của từng chất.

  • Nhu cầu sử dụng và khả năng thay thế của từng chất vì những chất nếu nhu cầu sử dụng nhiều nhưng chưa tìm được chất thay thế thì sẽ cắt giảm sau.

Ví dụ: CFC có hệ số phá hủy = 1, hệ số nhỏ nhưng do có chất thay thế nên cắt giảm trước.

à hai căn cứ trên nhằm cá biệt hóa chất gây nguy hiểm.

  • Trình độ phát triển và mức tiêu thụ của các quốc gia thành viên à cá biệt hóa thời hạn cắt giảm và loại bỏ các chất gây nguy hiểm đối với tầng ozon.

+ Nhóm quốc gia phát triển

+ Nhóm quốc gia đang và chậm phát triển được trì hoãn 10 năm việc chậm thực hiện công ước Vienna (hết năm 2006).

  • Cơ chế bảo đảm thực hiện
    • Về mặt tài chính: thế giới có “Quỹ đa phương” (do các nước phát triển đóng góp) và khuyến khích giúp đỡ song phương để cắt giảm và loại bỏ chất ODS, cung cấp cho các nước đang phát triển sự trợ giúp về mặt kỹ thuật và tài chính.
    • Về mặt công nghệ: tìm ra những chất thay thế (đối với những nước phát triển) và chuyển giao cho những nước đang phát triển và chậm phát triển (không phải trả tiền).

Thông tin cho sv: Tháng 1/1994 Việt Nam chính thức tham gia công ước Vienna – Nghị định thư Montreal và một năm sau (1995) Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình Quốc gia Việt Nam nhằm loại trừ dần các chất làm suy giảm tầng ôzôn – CTQG”. Là một nước có lượng tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng ôzôn (ODS) thấp, dưới 0,004kg/người/năm, Việt Nam được hưởng ưu đãi về hạn định loại trừ, được nhận sự hỗ trợ không hoàn lại về tài chính và công nghệ từ Quỹ đa phương về ôzôn (trên 7triệu USD). Đây chính là những thuận lợi lớn cho Việt Nam có thể làm tốt hơn những gì đã cam kết với quốc tế.

Trước hết, Việt Nam xác định rõ, các giải pháp về đầu tư và chuyển giao công nghệ cho những đơn vị, doanh nghiệp có sử dụng các chất ODS là tối quan trọng, quyết định đến sự thành công của CTQG mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt. Trong thập kỷ 90, mỗi năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 500 tấn CFC, 4 tấn holon và gần 400 tấn methyl bromide (những chất phá huỷ tầng ôzôn), trng đó lĩnh vực son khí (mỹ phẩm) chiếm tới 48,8%, làm lạnh 28,96%, điều hoà không khí 14,45%… Tuy nhiên, với những dự án khả thi đã thực hiện trong 10 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành công lớn. Trên 200 tấn CFC 12 (chiếm gần 1/2 tổng số CFC được sử dụng trong cả nước) đã được loại trừ và đến thời điểm này, không còn DN nào tại Việt Nam sử dụng CFC trong sản xuất mỹ phẩm. Trong lĩnh vực làm lạnh và điều hoà không khí, CTQG cũng đã đạt được những kết quả khả quan khi hàng năm giảm được trung bình 3,6 tấn CFC 11 trong ngành dệt may, 5,8 tấn CFC 12 trong sử dụng điều hoà không khí ô tô và 40 tấn CFC trong các thiết bị làm lạnh thương mại và gia dụng. Trong lĩnh vực chế biến nông – lâm sản XK, CTQG đã có dự án “Thay thế methyl bromide cho khử trùng xông hơi gạo đóng bao, ngũ cốc – hàng rời tại kho silô và gỗ tại các kho bằng cách trùm bạt” đã được thực hiện nhằm tìm ra các giải pháp và công nghệ phù hợp thay thế cho các chất nguy hại đến tầng ôzôn này.

Song hành đó, các biện pháp mang tính pháp quy cũng được Việt Nam chú trọng thực hiện. Nhiều văn bản của các Bộ, ngành liên quan đã được ban hành để kiểm soát nhập khẩu và sử dụng ODS ở nước ta, như: Cấm các trang thiết bị dập cháy sử dụng halon từ 1995; cấm tái nạp holon cho các bình dập cháy cầm tay; quy định các loại hình lắp ráp tủ lạnh gia đình không cho phép sử dụng môi chất lạnh trái với công ước quốc tế về bảo vệ tầng ôzôn… Bên cạnh đó, các khoá huấn luyện đào tạo cho cán bộ hải quan, công tác tuyên truyền bảo vệ tầng ôzôn cũng được CTQG thực hiện rất thành công liên tiếp nhiều năm![4]

Trong những thập niên gần đây, theo số liệu nghiên cứu của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) và Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) tầng ozone đã suy giảm mạnh với lỗ thủng đầu tiên được phát hiện vào năm 1986 và đến năm 2003 đã lên tới 11,2 triệu dặm vuông.

Với nỗ lực không mệt mỏi từ phía các bên tham gia Nghị định thư, lỗ thủng của tầng ozone đã giảm 0,3% mỗi năm và trong một vài năm qua, đã đạt được những sự biến đổi lớn không ngờ.

Theo quy định của hiệp ước, việc tiêu thụ các chất gây hại của các quốc gia đang phát triển sẽ phải bị hạn chế và cho tới năm 2040 sẽ chỉ được duy trì ở mức của năm 2015. Cũng trong năm 2040 này, chất CFC sẽ phải được loại bỏ hoàn toàn trong bầu khí quyển. Trước đó 10 năm, vào năm 2030, các nước công nghiệp cũng sẽ phải đạt được mục tiêu này.

Từ ngày 15-10-2006, nước Pháp đã quy định khi người dân mua một tủ lạnh mới thì nhà sản xuất của sản phẩm cũ hay các đơn vị thu nhận phải lấy lại chiêc tủ lạnh cũ để hạn chế lượng khí CFC độc hại thải ra môi trường.

  • Luật quốc tế về chống lại xu hướng khí hậu biến đổi

Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo.

  • Xu hướng khí hậu biến đổi và hậu quả của nó.
    • Biểu hiện của xu hướng khí hậu biến đổi và dự báo diễn biến của xu hướng này trong tương lai

Biến đổi khí hậu làm thay đổi nhiệt độ nước và mực nước, làm thay đổi lớn tới thời tiết chế độ mưa, bão, hạn hán, cháy rừng, El Nino), tới lưu lượng, đặc biệt là tầng suất và thời gian của những trận lũ và hạn hán lớn,  bên cạnh đó, còn có khuynh hướng làm giảm chất lượng nước, sản lượng sinh học và số lượng các động thực vật trong hệ sinh thái nước ngọt, làm tăng bệnh tật, nhất là các bệnh vào mùa hè.

Theo tính toán của các nhà khoa học, khi nồng độ CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi, thì nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên khoảng 3oC. Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5oC trong khoảng thời gian từ 1885 đến 1940 do thay đổi của nồng độ CO2 trong khí quyển từ 0,027% đến 0,035%. Dự báo, nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5 – 4,5oC vào năm 2050.

Các nhà khoa học khác dự báo năm 2100 sẽ là năm nóng nhất trong 10.000 năm qua. Mực nước biển sẽ tăng khoảng 70-100 cm/100 năm, sẽ dẫn đến việc mất đất của hàng triệu người dân sống ở vùng đất thấp, quan trọng hơn nữa là có thể mất đi cả một nền văn hóa.

  • Hậu quả của xu hướng khí hậu biến đổi

Độ trơ của hệ thống khí hậu tức là sự thay đổi của khí hậu xảy ra từ từ và khi thay đổi khó đạt lại trạng thái ban đầu. Do đó, thậm chí khi nồng độ các chất gây ra hiệu ứng nhà kính đã được ổn định thỉ sự ấm lên của trái đất vẫn tiếp tục xảy ra trong vài thập kỷ và mực nước vẫn tiếp tục tăng lên trong hàng thế kỷ sau.

  • Nguyên nhân của xu hướng khí hậu biến đổi.
    • Khái niệm về hiệu ứng nhà kính

Kết quả của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất. Hiện tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây.

Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí được xếp theo thứ tự sau: CO2 => CFC => CH4 => O3 =>NO2. Sự gia tăng nhiệt độ trái đất do hiệu ứng nhà kính có tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi trường trái đất.

  • Các chất khí nhà kính

Là những chất gây nên hiệu ứng nhà kính và làm cho trái đất nóng lên như CO2, CH4, N2O, hơi nước, … (những chất từ 3 nguyên tử kết hợp với nhau trở lên). Chất CFC: Chlorofluorocarbons gây hiện tượng nhà kính và là ODS nhưng không được cắt giảm trong Nghị định thư Kyoto vì đã được quy định việc cắt giảm trong Nghị định thư Montreal.

Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác, cụ thể là do phá rừng, hoạt động công, nông, lâm nghiệp, giao thông và sinh hoạt làm tăng nồng độ các loại khí CO2,  N2O, NO, CH4, H2S, bụi và hơi nước.

  • Hướng tác động để chống lại xu hướng khí hậu biến đổi
    • Tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính của trái đất:

Bảo vệ những cánh rừng, thay đổi phương thức sản xuất để CH4 phát tán ít đi.

  • Cắt giảm lượng khí nhà kính phát thải vào bầu khí quyển: Cắt giảm không đơn giản vì cắt giảm CO2 phải cắt giảm dầu hỏa, than đá, …. Những tập đoàn sản xuất máy bay, xe hơi phản đối rất dữ dội.

Thông tin cho sv:

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Pennsylvania đã tìm ra một cách mới để chuyển CO2 và nước thành khí metal hoặc một dạng nguyên liệu khác nhờ chất liệu nanotubes làm trung gian, hiệu quả hơn những phương pháp khác đến 20 lần. (Cách phổ biến hiện nay là sử dụng titanium dioxide – viết tắt là titanica).

Theo ước tính cứ mỗi 12 ngày toàn thế giới dùng hết 1 tỷ thùng dầu và thải vào bầu khí quyển một lượng CO2 vô cùng lớnà tái sử dụng loại khí này thành một nguồn năng lượng, tránh ô nhiễm cho trái đất.

Mỗi hạt nanotube có đường kính 115 nanomet, xếp thành dãy có kích cỡ 2 cm2 à bồn chứa nước à bơm CO2 qua, dưới năng lượng mặt trời, thu được khí metal.[5]

  • Quá trình phát triển của luật quốc tế về chống lại xu hướng khí hậu biến đổi
    • Những cảnh báo về khoa học

 

  • Nghị quyết 45/53 của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1988
  • Hội nghị LAHAYE 1989

Hội nghị La Haye đã được tổ chức nhằm mục đích thông qua lần cuối Nghị định thư Kyoto, mở đường cho việc phê chuẩn và có hiệu lực trong năm 2002. Tuy nhiên, cuộc gặp đã thất bại nặng nề.

  • Công ước khung về khí hậu biến đổi 1992

Tháng 6/1992, Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển họp tại Rio De Janeiro, Brazin đã ký Công ước Khung về Biến đổi khí hậu. Công ước này “là cam kết của các quốc gia nhằm vạch ra khuôn khổ cho các hoạt động kiểm soát và cắt giảm phát thải khí nhà kính nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển để ngăn chặn các tác động nguy hiểm của nó tới hệ thống khí hậu”. Mức phải đạt nằm trong một khung thời gian đủ để các hệ sinh thái thích nghi một cách tự nhiên với sự thay đổi khí hậu, bảo đảm việc sản xuất lương thực không bị đe doạ và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế tiến triển một cách bền vững.

Công ước nhấn mạnh trách nhiệm của các nước phát triển phải đi đầu trong việc ngăn ngừa biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng tiêu cực của nó có tính đến đặc thù và hoàn cảnh của các nước đang phát triển.

Công ước quy định vấn đề nguyên tắc, không quy định nghĩa vụ và lộ trình để thực hiện. Vì vậy, hiện tượng hiệu ứng nhà kính không giảm, mà còn gia tăng 1,5 lần.

  • Nghị định thư KYOTO 1997 về cắt giảm khí nhà kính

Nghị định thư Kyoto là thỏa thuận quốc tế liên quan tới Công ước khung của Liên Hợp Quốc về vấn đề biến đổi khí hậu. Nghị định thư Kyoto được thông qua tại Kyoto, Nhật Bản vào ngày 11/12/1997 và có hiệu lực từ ngày 16/2/2005, đến nay có gần 200 quốc gia đã phê chuẩn.

Nội dung chính là thiết lập mức giảm khí nhà kính bắt buộc đối với 37 nước công nghiệp và cộng đồng chung Châu Âu. Mức giảm bắt buộc này là trung bình 5% của mức phát thải năm 1990 trong giai đoạn từ 2008 đến 2012.

Khác biệt cơ bản giữa Nghị định thư và Công ước là trong khi giảm phát thải khí nhà kính đối với các nước công nghiệp là sự khuyến  khích trong Công ước, thì trong Nghị định thư đó là điều bắt buộc.

Nhận thấy các nước phát triển là nhóm nước có mức thải khí  nhà kính chủ yếu vào khí quyển sau hơn 150 năm sản xuất công nghiệp, Nghị định thư đặt ra nhiều trách nhiệm hơn lên các nước phát triển theo tiêu chí “trách nhiệm chung nhưng mức độ khác nhau”.

Các nguyên tắc thực hiện Nghị định thư được thông qua tại Hội nghị các bên COP 7 tại Marrakesh năm 2001 và được gọi là “Hiệp ước Marrakesh”.

Theo Hiệp ước, các quốc gia phải đạt được mục tiêu của mình trước tiên là ở phạm vi quốc gia. Tuy nhiên, Nghị định thư cũng đưa ra những phương thức nhằm hỗ trợ các nước này trong việc thực hiện mục tiêu bắt buộc thông qua 3 cơ chế thị trường. Ba cơ chế đó là:

  • Thương mại phát thải – “thị trường cacbon”
  • Cơ chế phát triển sạch (CDM)
  • Triển khai đồng thực hiện (JI)

Các cơ chế này khuyến khích đầu tư xanh và giúp các nước tham gia thực hiện được trách nhiệm của mình với chi phí hiệu quả nhất.

  • Việc Mỹ rút khỏi Nghị định thư KYOTO và vấn đề tiếp tực thực hiện Nghị định thư KYOTO mà không có sự tham gia của Mỹ

Tháng 7/2001, các quốc gia tổ chức Hội nghị tại Bonn, Đức bàn về việc tiếp tục thực hiện Nghị định thư mà không có sự tham gia của Mỹ và đã có 2 sự nhượng bộ:

  • Kéo dài thời hạn cắt giảm khí nhà kính đối với các quốc gia của Công ước khung đã phê chuẩn Nghị định thư.
  • Cho phép các quốc gia công nghiệp được dùng lượng khí nhà kính mà các cánh rừng tự nhiên của mình hấp thụ để trừ vào chỉ tiêu cắt giảm. Đối với quốc gia phát triển phải sử dụng rừng trồng sau năm 1990.
  • Vấn đề cắt giảm khí nhà kính sau năm 2012

Tháng 11/2006, Hội nghị thượng đỉnh khí hậu toàn cầu chính thức khai mạc tại Nairobi, Kenya để thảo luận về tương lai sau Nghị định thư Kyoto hết hiệu lực năm 2012.

Hội nghị tiếp tục bàn bạc 2 vấn đề lớn: mức cắt giảm khí nhà kính sau năm 2012 sẽ là bao nhiêu và liệu các nước đang phát triển lớn như Trung Quốc và Ấn Độ có buộc phải cắt giảm hay không.

Tiến trình thảo luận về các hành động toàn cầu chống thay đổi khí hậu sau năm 2012 bắt đầu từ tháng 5/2006. Liên minh châu Âu và Nhật Bản muốn các mục tiêu trung hạn chặt chẽ. Anh vừa đề xuất EU chấp nhận một mục tiêu trung hạn giảm 30% lượng khí thải nhà kính tới năm 2020. Tuy nhiên, Mỹ và Australia, vẫn phản đối kịch liệt mọi cuộc đàm phán về mục tiêu.

Tổ chức khí tượng thế giới cho biết lượng khí CO2 đã tăng 0,5% trong năm 2005 và sẽ không bắt đầu giảm trừ khi có một cam kết mạnh mẽ hơn Nghị định thư Kyoto.

Điều chỉnh Cơ chế phát triển sạch (CDM) – một trong hai kế hoạch của Nghị định thư Kyoto – để các nước châu Phi có thể tiếp cận nhiều hơn với CDM. Một chương trình 5 năm cũng sẽ được soạn thảo để giúp các nước nghèo thích ứng với sự thay đổi khí hậu thông qua một quỹ. Kinh phí của quỹ này sẽ được lấy từ tiền thu được của CDM.

  • Nội dung của luật quốc tế vế khí hậu biến đổi (Công ước khung 1992 về khí hậu biến đổi và Nghị định thư KYOTO về cắt giảm khí nhà kính).
    • Các loại khí nhà kính phải cắt giảm và vấn đề quy đổi chúng (Phụ lục A của NĐT KYOTO)

Những quốc gia tham gia kí kết phải chấp nhận việc cắt giảm khí Carbon dioxide (CO2) và năm loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác là Methane (CH4 ), Nitrous oxide (N2O), Hydrofluorocarbons (HFCs), Perfluorocarbons (PFCs), Sulphur hexafluoride (SF6).

  • Hạn ngạch phát thải khí nhà kính của các quốc gia công nghiệp (Phụ lục B của NĐT KYOTO)

Xác định được chỉ tiêu và thời hạn cắt giảm khí nhà kính cho các quốc gia công  nghiệp, cụ thể từ 2008 đến 2012, các quốc gia công nghiệp (Phụ lục B của NĐT KYOTO) sẽ phải cắt giảm 50% tổng lượng khí nhà kính phát thải so với mức phát thải năm 1990.

Các quốc gia được chia làm hai nhóm:

Thông tin cho sv: Mỹ chỉ chiếm 4% dân số mà phát thải 24% khí nhà kính trên quy mô toàn cầu, đối với các quốc gia tham gia Nghị định thư Kyoto, Mỹ phát thải 36% khí nhà kính.

  • Phương thức thực hiện việc cắt giảm khí nhà kính
    • Sử dụng khí nhà kính do rừng và việc thay đổi phương thức sử dụng đất hấp thu được cộng vào chỉ tiêu phát thải
    • Cắt giảm thực tế: là việc các quốc gia thực hiện những biện pháp cần thiết để giảm bớt một cách thực tế lượng khí nhà kính mà mình phát thải vào bầu khí quyển (6 loại chất phải cắt giảm; CO2 hệ số 1, CH4 hệ số 0,6, … tất cả được đưa về CO2 quy đổi) để cắt giảm lượng khí thải ở một quốc gia có thể di chuyển sang quốc gia khác thải (Nghị định thư cho phép việc này) hoặc đấu thầu, ví dụ như một doanh nghiệp sẵn sàng bỏ ra một số tiền để mua quyền thải CO2 quy đổi.
    • Mua bán hạn ngạch phát thải khí nhà kính: do Mỹ đưa ra nhưng các quốc gia khác phản đối quyết liệt vì chỉ là sự dịch chuyển sự phát thải và không giảm trên quy mô toàn cầu nhưng Mỹ lại nói có sự dịch chuyển về kinh tế, tận dụng chỉ tiêu những quốc gia thừa chỉ tiêu.
    • Cơ chế phát triển sạch (The Clean Development Mechanism – CDM) và sự tham gia của các quốc gia đang phát triển: chỉ áp dụng cho các quốc gia đang phát triển.

* Cơ chế kiểm tra, gíám sát việc cắt giảm khí nhà kính

Điều kiện có hiệu lực của Nghị định thư Kyoto

Hiệp định Kyoto có hiệu lực khi có ít nhất 55 quốc gia của công ước khung phê chuẩn trong đó các bên thuộc phụ lục B đã phê chuẩn Nghị định thư Kyoto phải có lượng khí phát thải bằng ít nhất 55% tổng lượng khí phát thải của các quốc gia này (Phụ lục B).

Như vậy, Nghị định thư Kyoto có hiệu lực khi đạt được điều kiện cần là có ít nhất 55 bên, điều kiện đủ là số lượng khí thải ít nhất bằng 55% lượng khí thải quốc gia thuộc phụ lục B.

Ví dụ 1: có 100 quốc gia thuộc phụ lục B (trừ Mỹ) của Công ước khung phê chuẩn Nghị định thư, biết rằng Mỹ phát thải 36% khí nhà kính.

Xét điều kiện cần: có 100 bên > 55 bên của Công ước khungà đạt

Xét điều kiện đủ: 100% – 36% = 64% > 55% àđạt

Ví dụ 2: có 53 quốc gia phê chuẩn, lượng khí phát thải bằng 60% tổng lượng khí thải của các quốc gia nàyà điều kiện cần: số lượng quốc gia tham gia là 53< 55 à không đạt, điều kiện đủ: số lượng khí thải chiếm 60%>55%. Do đó, Nghị định thư không có hiệu lực.

Ví dụ 3: Mỹ phát thải 36%, Nga phát thải 17%, như vậy [100% – (36% + 17%)] = 47%, không đạt về điều kiện đủ à Nghị định thư không có hiệu lực.

3.2. Luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển

Biển chiếm 71% bề mặt của trái đất, được bao phủ bởi nước và 90% sinh quyển là đại dương. Cùng với sự phát triển hướng ra biển của nhân loại, biển đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng của nạn ô nhiễm.

Nguồn ô nhiễm môi trường biển mà con người nhận thức sớm nhất là ô nhiễm từ tàu. Ngay sau chiến tranh TG lấn thứ 1, Mỹ, Hội quốc liên đã bắt đầu có những hoạt động nhằm tìm kiếm một thỏa thuận quốc tế về đấu tranh chống ô nhiễm dầu.

Năm 1921, Hội nghị quốc tế về chống ô nhiễm biển diễn ra tại London (Anh) và có mặt của các nghiệp đoàn dầu lửa, các chủ tàu và các địa phương có cảng. Ô nhiễm biển do đổ, thải dầu và các vụ tràn dầu từ các hoạt động giao thông và khai thác biển.

Ngoài ô nhiễm biển do dầu, con người cũng quan tâm đến ô nhiễm biển do nhận chìm các chất thải, đặc biệt là các chất phóng xa hoặc các chất độc hại.

  • Luật quốc tế về chống ô nhiễm biển
    • Kiểm soát ô nhiễm từ đất liền.
    • Kiểm soát ô nhiễm biển từ không khí
    • Kiểm soát ô nhiễm biển từ tàu thuyền
    • Kiểm soát ô nhiễm biển từ sự nhận chìm
    • Kiểm soát ô nhiễm biển từ những hoạt động có liên quan đến đáy biển
  • Luật quốc tế về bảo vệ tài nguyên biển
    • Tài nguyên sinh học
    • Tài nguyên phi sinh học

Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước quốc tế để bảo vệ môi trường biển, cụ thể như:

  • Công ước Marpol về ngăn chặn ô nhiễm biển do tàu gây ra (tham gia ngày 29/8/1991),
  • Công ước quốc tế về an toàn tính mạng trên biển SOLAR 1974 (tham gia này 18/3/1991);
  • Công ước Luật Biển 1982 (tham gia này 16/11/1994);
  • Công ước về các quy tắc quốc tế phòng tránh đâm va trên biển COLREG 1972 (tham gia ngày 18/12/1990);
  • Công ước về tiêu chuẩn cấp chứng chỉ cho thuyền viên 1978/1995 (tham gia ngày 18/3/1991).

Trong đó có hai nội dung cơ bản được đề cập xuyên suốt để kiểm soát môi trường biển là:

  • Việc hạn chế các chất thải gây ô nhiễm;
  • Việc hạn chế ô nhiễm biển do dầu.

Việt Nam nằm cạnh tuyến đường hàng hải quan trọng trên biển Thái Bình Dương, nơi có mật độ tàu thuyền qua lại lớn nên khả năng ô nhiễm biển do dầu mà lượng tàu thuyền này đi qua cũng rất lớn.

Số lượng dầu chuyên chở qua biển Đông hàng năm khoảng 2,1 tý tấn vào bất cứ thời điểm nào cũng có khoảng 51 tàu chở dầu cở lớn hoạt động trong khu vực. Nếu tính lượng rò rỉ thấp nhất là 1% thì hàng năm lượng dầu trong khu vực cũng lên tới 2 triệu tấn.

Thông tin về Sáng chế khắc phục sự cố tràn dầu hoặc vớt các vật nổi gây ô nhiễm trên biển của kỹ sư tư vấn Đặng Đình Cung, Pháp (dùng rơm và dây thừng

3.3. Luật quốc tế về đa dạng sinh học

  • Công ước Washington DC 1992 về đa dạng sinh học
  • Công ước CITES về kiểm soát buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã bị nguy cấp.
  • Công ước BONN về bảo tồn di cư của những loài động vật hoang dã
  • Công ước RAMSAR về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước.
  • Các điều ước quốc tế khác có liên quan.

Cách hiểu thuật ngữ:

Mẫu vật: hiểu rất rộng (con tê giác hay sừng tê giác đều là mẫu vật): cây, con vật sống hay sản phẩm của cây, con vật đó.

Buôn bán: bao gồm những hoạt động xuất nhập khẩu, tái xuất khẩu và nhập từ biển là việc vận chuyển đến một quốc gia những mẫu vật của bất kỳ loài nào mà chúng được khai thác từ môi trường biển thuộc quyền quản lý của bất kỳ nước nào.

Công ước về đa dạng sinh học đã đưa ra khái niệm về đa dạng sinh học như sau:

Đa dạng sinh học (ĐDSH) là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo thành. Đa dạng sinh học bao gồm:

  • Sự đa dạng loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen);
  • Đa dạng giữa các loài;
  • Đa dạng hệ sinh thái.

Việt Nam, đa dạng sinh học được quy định tại Điều 3 Luật BVMT là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Theo đó, đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ, cụ thể:

– ĐDSH ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm.

– ĐDSH ở cấp quần thẻ đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể.

– ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của mối tương tác giữa chúng với nhau.

Giới thiệu nội dung các điều ước

3.3.1 Công ước về đa dạng sinh học

Công ước về đa dạng sinh học là một hiệp ước khung được thông qua tại Rio De Janeiro, Brazin trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển bền vững có hiệu lực từ ngày 29/12/1993.

Đến nay có khoảng 170 quốc gia thành viên.

Việt Nam chính thức gia nhập vào ngày 16/11/1994.

Công ước gồm 42 điều khoản và 2 phụ lục, trong đó, xác định rõ các mục tiêu, việc sử dụng các điều khoản, nguyên tắc, phạm vi quyền hạn, hợp tác giữa các quốc gia trong bảo vệ đa dạng sinh học.

* Mục tiêu chính:

  • Bảo tồn đa dạng sinh học;
  • Sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH;
  • Chia sẻ công bằng và bình đẳng các lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học.

   * Nội dung cơ bản của Công ước tập trung vào các lĩnh vực:

  • Bảo tồn ĐDSH và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên ĐDSH.
  • Chủ quyền đối với tài nguyên sinh học và trách nhiệm quốc tế hợp tác quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học.
  • Nhập nội các nguồn gen, chuyển giao công nghệ sinh học và quyền sở hữu trí tuệ.

Ngoài ra, công ước cũng quy định rõ về các biện pháp khuyến khích, nghiên cứu đào tạo, giáo dục và nhận thức về hợp tác khoa học và kỹ thuật cũng như về các nguồn và cơ chế tài chính… trong việc bảo vệ đa dạng sinh học trên phạm vi toàn cầu.

* Hình thức bảo tồn nguyên vị (in-situ) và bảo tồn ngoại vi (ex-situ)

Bảo tồn nguyên vị (in-situ): đây là biện pháp bảo tồn tại chỗ tất cả các hệ sinh thái, các nơi sinh cư và các loài trong môi trường tự nhiên của chúng, đây cũng là biện pháp hữu hiệu nhất bảo tồn tính đa dạng sinh học.

Bảo tồn ngoại vi (ex-situ): đây là biện pháp bảo tồn bằng cách thành lập các vườn thực vật, vườn sưu tập tại các vườn quốc gia, các trung tâm nghiên cứu, trung tâm cứu hộ động vật. (Trung tâm cứu hộ linh trưởng, trung tâm cứu hộ rùa).

 

3.3.2 Công ước RAMSAR về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước.

Công ước về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước được thông qua tại Ramsar (Ran) ngày 02/2/1971, có hiệu lực ngày 21/12/1975.

* Mục đích chủ yếu: bảo tồn và sử dụng một cách hiểu biết các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng cho sự cư trú của loài chim nước.

* Theo quy định của Công ước, các loại đất ngập nước chủ yếu được công nhận là:

– Biển (các vùng đất ngập nước ven biển bao gồm các bãi đá san hô ngầm và các đảo đá ven bờ);

– Cửa sông (các đồng bằng, môi trường lầy, rừng đước ngập nước);

– Hồ (các vùng đất ngập nước gắn với hồ);

– Sông (các vùng đất ngập nước dọc sông, suối).

Tham gia Công ước Ramsar, Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế về bảo tồn và sử dụng khôn ngoan các vùng đất ngập nước theo đúng nguyên tắc của quốc tế và đề xuất một số điểm ngập nước theo tiêu chuẩn Ramsar.

* Công ước Ramsar xác định 4 nghĩa vụ chính của các quốc gia thành viên:

– Đề xuất ít nhất một vùng đất ngập nước vào danh sách các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (Điều 21).

– Các bên phải ban hành tiêu chuẩn về đăng ký và về quản lý các vùng đã đăng ký.

– Các bên phải đưa việc bảo tồn các vùng đất ngập nước và kế hoạch sử dụng khôn ngoan các vùng đất ngập nước trên lãnh thổ quốc gia.(Điều 3.1).

– Các bên hợp tác và tư vấn lẫn nhau trong thực hiện Công ước, đặc biệt đối với các vùng đất ngập nước chung, các hệ thống nước chung, các loài chung. (Điều 5).

* Việt Nam đã đề xuất được một vùng đất ngập nước vào danh sách các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, vùng đất ngập nước Xuân Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, với tổng diện tích 12.000 ha và duy trì chế độ bảo tồn theo quy chế pháp lý quốc tế từ đó đến nay. Đây là khu Ramsar đầu tiên ở Đông Nam Á và là khu thứ 50 trên thế giới.

3.3.3 Công ước CITES về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã bị nguy cấp

Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã bị nguy cấp (Công ước CITES) được các nước thông qua năm 1973, có hiệu lực từ ngày 01/7/1975.

Việt Nam trở thành thành viên thứ 121 của Công ước CITES vào ngày 20/4/1994. Đến nay có khoảng 140 quốc gia là thành viên.

Công ước quản lý buôn bán quốc tế các loài động thực vật bị nguy cấp, chỉ đơn thuần quản lý việc buôn bán những loài này, không cấm việc săn bắn, không điều chỉnh việc phá hoại nơi cư trú.

* Các thành viên tham gia Công ước thực hiện:

– Việc cấm buôn bán quốc tế các loài nguy cơ tuyệt chủng trong một danh sách đã được thỏa thuận,

– Điều phối và giám sát buôn bán các loài khác nếu cho buôn bán tự do sẽ trở thành các loài có nguy cơ tuyệt chủng.

Biện pháp thực hiện nhiệm vụ trên?

Công ước CITES lập danh sách các loài động thực vật hoang dã theo 3 phụ lục khác nhau:

  • Nhóm I: (Phụ lục I của Công ước CITES) bao gồm những giống loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, bảo vệ rất nghiêm ngặt, do đó cấm buôn bán và trao đổi có tính chất thương mại giữa các nước trên thế giới. Việc trao đổi các loài chỉ được phép cho các mục đích không mang tính thương mại và được quản lý thông qua hệ thống giấy phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu cho mục đích phi thương mại.

Ví dụ:

  • Sử dụng những giống loài có nguy cơ bị tuyệt chủng vào những mục đích đặc biệt như: nghiên cứu khoa học, quan hệ quốc tế, mục đích tôn giáo.
  • Cấm không cho phép buôn bán vào mục đích thương mại, loại trừ: mua sử dụng vào các gánh xiếc hoặc có nguồn gốc từ gây nuôi và phải chứng minh được là gây nuôi, hoặc các quốc gia thành viên CITES đồng ý như Nam Phi được bán 1 triệu tấn sừng voi tê giác, song còn thể hiện ở trình tự thủ tục: có giấy phép nhập khẩu à có giấy phép quốc gia xuất khẩuà có giấy phép của CITES.
  • Nhóm II: (Phụ lục II của CITES) bao gồm các loài có thể trở thành những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng do buôn bán quốc tế quá mức, không được kiểm soát và điều chỉnh kịp thời. Các loài ghi trong phụ lục II này được phép buôn bán quốc tế nhưng phải được quản lý, kiểm soát của các nước thành viên thông            qua hệ thống cấp giấy phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu.
  • Nhóm III: (Phụ lục III của CITES) bao gồm những giống loài hoang dã nằm trong danh mục theo quy định pháp luật của quốc gia thành viên nhưng không được đưa vào phụ lục I và II của Công ước. (Ví dụ Nghị định 32 về TV, ĐV rừng quý hiếm của Việt Nam nhưng không được đưa vào danh mục II và II của CITES à Việt Nam phải đăng ký với CITES để đưa vào danh mục nhóm III). Điều kiện mua bán dễ dàng hơn.

3.4. Luật quốc tế về di sản

Di sản phi vật thể: không nghiên cứu ở phần môi trường vì không là yếu tố cấu thành MT.

Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới được Tổ chức Giáo dục Văn hóa Khoa học của Liên Hiệp Quốc thông qua năm 1972.

Việt Nam tham gia Công ước năm 1987

  • Khái niệm di sản thế giới

Di sản thế giới vật thể theo công ước Heritage: theo quy định của Công ước Heritage chia di sản vật thể thế giới thành 2 loại:

  • Di sản tự nhiên thế giới: những công trình do tự nhiên tạo ra.
  • Di sản văn hóa thế giới: những công trình do con người tạo ra hoặc do con người kết hợp với tự nhiên tạo ra.
  • Tiêu chuẩn để đưa một tài sản vào danh sách di sản thế giới.

Theo đó một tài sản để được đưa vào danh sách DSTG phải đáp ứng một trong các tiêu chuẩn được quy định trong Công ước (của UBDSTG đưa ra thuộc Công ước Heritage gồm 24 quốc gia).

  • Trình tự thủ tục để đưa một tài sản vào danh sách di sản thế giới

Bước 1: Quốc gia có tài sản (có dấu hiệu của một DSTG) lập hồ sơ đề cử.

Hồ sơ gồm có: tài liệu chứng minh giá trị tài sản theo tiêu chuẩn xác định; cam kết về vấn đề bảo vệ di sản khi được công nhận.

Bước 2: Quốc gia gửi hồ sơ đến UBDSTG (thường là Ban thư ký) và thường UBDSTG sẽ kết hợp tổ chức cơ quan tư vấn (ICOMOS – cơ quan tư vấn về di sản văn hóa hoặc IUCN- cơ quan tư vấn về di sản thiên nhiên) thẩm định và đưa ra quyết định:

  • Đưa một tài sản đề cử vào danh sách DSTG và được gắn biểu tượng.
  • Quyết định không đưa một tài sản đề cử vào danh sách DSTG (ví dụ Việt Nam khi đề cử vườn quốc gia Cúc Phương nhưng không đủ tài liệu để chứng minh và bị loại không đưa vào danh sách).
  • Quyết định tiếp tục xem xét một tài sản đề cử: xem xét hồ sơ ở những lần xem xét sau. (Ví dụ: Việt Nam vườn quốc gia Phong Nha Kẽ Bàng khi gửi hồ sơ thì xây dựng đường Hồ Chí Minhà giảm diện tích tự nhiên của rừngà giảm tính đa dạng sinh học, mặc dù Việt Nam có đưa ra các phương án khác nhau để khắc phục nhưng không được công nhận. Sau đó, Việt Nam tiếp tục chứng minh nghĩa vụ bảo vệ đa dạng sinh học và yêu cầu xem xét và được công nhận.
  • Nghĩa vụ bảo vệ di sản thế giới

Nghĩa vụ thuộc quốc gia có tài sản đó, nhưng khi vượt quá khả năng bảo vệ hoặc những lý do khác thì cộng đồng quốc tế sẽ can thiệp, hỗ trợ để bảo vệ.

Việt Nam, Quần thể di tích kiến trúc Huế được ghi vào Danh mục di sản văn hóa thế giới, bốn di sản được ghi vào danh mục di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Khu di tích Chăm Mỹ Sơn, Khu phố cổ Hội An (Quảng Nam), Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng (Quảng Bình) và khu di tích Chăm tại Mỹ Sơn.

Trong Danh sách dự kiến của UNESCO, nước ta còn các di sản như: Hồ Ba Bể (Bắc Kạn) đăng ký di sản thiên nhiên, Hương Sơn (Hà Tây), quần thể thắng cảnh và di tích lịch sử, đăng ký cả giá trị văn hóa và thiên nhiên, Khu bãi đá cổ chạm khắc tại SaPa (Lào Cai) đăng ký cả giá trị văn hóa và thiên nhiên.

4 khu di sản thiên nhiên của khối Asean là Ba Bể (Bắc Cạn), vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn (Lào Cai), Chư Mom Rây (Kon Tum) và Kon Ka Kinh (Gia Lai).

3.5. Luật quốc tế về kiểm soát hoạt động hạt nhân và các chất nguy hại

  • Luật quốc tế về kiểm soát hoạt động hạt nhân
    • Kiểm soát việc sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích quân sự.
    • Kiểm soát việc sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích hoà bình.
  • Luật quốc tế về kiểm soát các phế thải độc hại và các chất độc hại khác.
    • Kiểm soát việc vận chuyển các phế thải độc hại và các chất độc hại khác qua biên giới.

Để đạt được mục đích kiểm soát chặt chẽ quá trình xuất nhập khẩu cũng như việc tiêu hủy các chất thải phù hợp với môi trường, các quốc gia đã thông qua Công ước kiểm soát chất thải nguy hiểm xuyên biên giới và việc tiêu hủy chúng tại Basel, Thụy Sĩ ngày 23/3/1989.

Ngày 10/6/1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước Basel.

Các chất thải được kiểm soát bởi Công ước Basel là “các chất hoặc đồ vật mà người ta tiêu hủy hoặc phải tiêu hủy chiểu theo các điều khoản của luật lệ quốc gia. Các quốc gia có thể định nghĩa các phế thải nguy hiểm (hoặc liệt kê) và thông báo cho Ban thư ký của Công ước”.

* Muc tiêu của Công ước:

Bảo vệ sức khỏe của con người và môi trường trước  tác động có hại từ việc sản sinh và quản lý không hợp lý về mặt môi trường các chất thải nguy hại và các chất thải khác bằng một hệ thống kiểm soát nghiêm ngặt quá trình vận chuyển và tiêu hủy các chất đó.

* Nội dung cơ bản:

Kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại và các chất thải khác.

– Các quốc gia áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo đảm hợp lý về mặt môi trường, kể cả việc vận chuyển và xử lý các chất thải nguy hại và các chất thải khác ngay tại quốc gia sản sinh ra chất thải.

– Chỉ được vận chuyển chất thải xuyên biên giới khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia nhận chất thải xác nhận cho phép nhập khẩu và quốc gia nhận chất thải có đầy đủ phương tiện, trang thiết bị và công nghệ để bảo đảm xử lý các chất thải phù hợp với môi trường.

  • Kiểm soát các hữu cơ nguy hại.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] Trần Thị Thúy Diễm, Hoạt động kiểm soát chất thải sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và hướng giải quyết, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân niên khóa 2004-2008.

[2] Giáo trình Luật Môi trường (tái bản lần thứ 4), trang 337, 2008, Đaị học Luật Hà Nội

[3] Các vấn đề môi trường toàn cầu, Tạp chí Môi trường & Sức khỏe, số 2-2008, tr.16,17.

[4] Đức Cường, Mười năm Việt Nam thực hiện Nghị định thư Montreal: Vì một thế giới xanh, Nông nghiệp Việt Nam, số 189, ngày 22/9/2005, tr.13.

[5] Theo Thanh niên, Chuyển CO2 thành năng lượng, số 52 (4809) ngày 21/2/2009, tr. 10.

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

Leave a Reply