kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Đề cương ôn tập Luật Dân sự

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LUẬT DÂN SỰ MODULE 1 – CHƯƠNG 1 – KHÁI QUÁT CHUNG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

 

 

Chương 1:

 

KHÁI QUÁT CHUNG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

 

  1. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DÂN SỰ

 

1.1 Khái niệm đối tượng điều chỉnh của luật dân sự

 

Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phát sinh giữa các chủ thể của Luật dân sự nhằm đáp ứng lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần cho chính chủ thể tham gia quan hệ đó cũng như các chủ thể khác.

 

1.2 Phân loại đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự

 

1.2.1 Các quan hệ tài sản

 

Quan hệ tài sản hay còn gọi là quan hệ xã hội về tài sản là quan hệ giữa chủ thể này với chủ thể khác có liên quan đến tài sản. Tài sản này có thể là tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình, tài sản hiện có hoặc tài sản được hình thành trong tương lai.

 

Quan hệ tài sản được hình thành một cách khách quan với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người

 

Quan hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh có các đặc điểm sau:

 

– Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh luôn liên quan đến tài sản, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp.

 

– Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh được xác lập bởi các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự với các điều kiện do pháp luật qui định.

 

– Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh thể hiện ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ, ý chí đó phải phù hợp với ý chí của nhà nước:

 

+ Chủ thể tham gia quan hệ tài sản có toàn quyền định đoạt trong các quan hệ mà mình tham gia. Tuy nhiên, ý chí của chủ thể đó khi tham gia quan hệ phải phù hợp với ý chí của  nhà nước.

 

+ Nhà nước đưa ra các qui định xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể, đó là những qui định mang tính nguyên tắc chung, những qui định mang tính chất cấm đoán và bắt buộc nhất định.

 

– Trong quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh, có sự đền bù ngang giá về lợi ích vật chất đối với các chủ thể tham gia – đây là yếu tố đặc trưng của các quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh. Tính đền bù ngang giá có thể bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố như tình cảm, phong tục tập quán.

 

1.1.2 Các quan hệ nhân thân

 

Quan hệ nhân thân được hiểu là quan hệ phát sinh giữa các chủ thể dân sự liên quan đến một lợi ích tinh thần.

 

Nếu như ở quan hệ tài sản, có thể có sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác thì trong quan hệ nhân thân, việc dịch chuyển các giá trị tinh thần là không thể thực hiện được.

 

* Nhóm quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản: là các quan hệ nhân thân xuất phát từ giá trị tinh thần và các giá trị tinh thần này không có nội dung kinh tế, không thể chuyển giao trong giao lưu dân sự (không thể là đối tượng của giao dịch dân sự).

 

– Các quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình.

– Quyền nhân thân liên quan đến việc cá biệt hóa cá nhân: Quyền đối với họ tên …

– Quyền nhân thân liên quan đến giá trị của con người trong xã hội

– Quyền nhân thân liên quan đến thân thể con người

– Các quyền nhân thân liên quan đến sự tự do của cá nhân

– Các quyền nhân thân liên quan đến hoạt động lao động, sáng tạo của cá nhân

 

* Nhóm các quan hệ nhân thân liên quan đến tài sản: Xuất phát từ các giá trị tinh thần ban đầu, các chủ thể sẽ được hưởng các lợi ích vật chất từ việc chuyển quyền đối với kết quả của hoạt động sáng tạo.

 

– Quyền tác giả

– Quyền liên quan đến quyền tác giả

– Quyền sở hữu công nghiệp

– Quyền đối với cây trồng

 

* Có ý kiến cho rằng mọi quan hệ nhân thân đều liên quan đến tài sản bởi lẽ:

 

– Đối với việc chuyển giao các kết quả của hoạt động sáng tạo tinh thần thì chủ thể được hưởng lợi ích vật chất (liên quan đến tài sản)

– Đối với các quyền nhân thân thì khi quyền nhân thân bị xâm, phạm ngoài việc chủ thể xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phậm, pháp luật còn qui định chủ thể có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại cho người bị xâm phạm (có liên quan đến tài sản)

 

* Quan hệ nhân thân do luật dân sự điều chỉnh có các đặc điểm sau:

 

– Các quan hệ nhân thân do Luật dân sự điều chỉnh luôn liên quan đến một lợi ích tinh thần

– Quan hệ nhân thân không xác định được bằng một số tiền cụ thể. Các quan hệ nhân thân không bao giờ là quan hệ tài sản (chỉ có quan hệ nhân thân liên quan đến tài sản và quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản), nên giá trị tinh thần của quan hệ nhân thân không bao giờ trị giá được thành tiền.

– Các lợi ích tinh thần luôn gắn với chủ thể, trừ một số trường hợp pháp luật qui định (ví dụ: quyền công bố phổ biến tác phẩm của tác giả có thể chuyển giao cho người thừa kế của tác giả khi tác giả chết)

– Các lợi ích tinh thần không thể bị hạn chế hoặc tước bỏ, trừ trường hợp do pháp luật qui định

 

  1. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT DÂN SỰ

 

2.1 Khái niệm phương pháp điều chỉnh của luật dân sự

 

Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự là những biện pháp, cách thức mà nhà nước dùng các qui phạm pháp luật dân sự tác động tới quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự để các quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với ý chí của chủ thể tham gia quan hệ nhưng tôn trọng lợi ích của nhà nước, của tập thể và của các chủ thể khác.

 

2.2 Đặc điểm của phương pháp điều chỉnh của luật dân sự

 

* Các chủ thể tham gia quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự có sự độc lập về tổ chức và tài sản, bình đẳng về địa vị pháp lý & không chịu sự chi phối bởi ý chí của bất cứ chủ thể nào khác.

 

* Các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự có quyền tự định đoạt và thỏa thuận trong các quan hệ mà mình tham gia – đây là đặc trưng của phương pháp điều chỉnh của luật dân sự. Sự tự định đoạt của các chủ thể chịu sự giới hạn ở một số nội dung:

 

– Giới hạn ở chủ thể tham gia quan hệ xã hội nhất định: nếu pháp luật giành quyền ưu tiên cho một chủ thể nào đó thì phải giành quyền ưu tiên cho chủ thể đó.

– Giới hạn các nghĩa vụ trong quan hệ xã hội mà chủ thể tham gia

 

* Trách nhiệm dân sự của bên vi phạm trước bên bị vi phạm trong các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điểu chỉnh của luật dân sự luôn liên quan đến tài sản.

 

* Việc hòa giải hợp pháp, dùng pháp luật của các bên trong các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự luôn được pháp luật khuyến khích. Việc hòa giải có thể được thực hiện bởi chính các bên tham gia quan hệ phát sinh tranh chấp hoặc được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

  1. CÁC NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT DÂN SỰ

 

3.1 Khái niệm

 

Nguyên tắc của luật dân sự được ghi nhận trong các văn bản pháp luật dân sự là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng buộc các chủ thể phải tuân theo trong quá trình ban hành và áp dụng các qui định của pháp luật dân sự.

 

3.2 Nội dung các nguyên tắc của luật dân sự

 

– Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận

– Nguyên tắc bình đẳng

– Nguyên tắc thiện chí trung thực

– Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự

– Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp

– Nguyên tắc tôn trọng bảo vệ quyền dân sự

– Nguyên tắc tôn trọng lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

– Nguyên tắc tuân thủ pháp luật

– Nguyên tắc hòa giải

 

  1. NGUỒN CỦA LUẬT DÂN SỰ

 

4.1 Khái niệm

 

Nguồn của luật dân sự là những văn bản qui phạm pháp luật dân sự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một trình tự và thủ tục nhất định, có chứa đựng các qui tắc xử sự chung để điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự

 

Muốn được coi là nguồn của luật dân sự phải đáp ứng các yêu cầu:

 

– Phải là văn bản qui phạm pháp luật dân sự, tức là phải chứa các qui tắc xử sự chung để điều chỉnh quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự

– Văn bản qui phạm pháp luật dân sự đó phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

– Việc ban hành văn bản qui phạm pháp luật dân sự phải theo một trình tự, thủ tục nhất định

 

4.2 Phân loại

 

Các căn cứ để phân loại nguồn của luật dân sự:

 

– Căn cứ vào cơ quan ban hành: văn bản do Quốc hội ban hành, văn bản do UBTVQH ban hành, văn bản do Chính phủ ban hành …

– Căn cứ vào nội dung quan hệ xã hội được điều chỉnh trong văn bản qui phạm pháp luật được coi là nguồn của luật dân sự: các văn bản pháp luật về sở hữu, các văn bản pháp luật về hợp đồng, các văn bản pháp luật về thừa kế

– Căn cứ vào hình thức hệ thống văn bản qui phạm pháp luật được coi là nguồn của luật dân sự gồm: hiến pháp, bộ luật dân sự, các luật và văn bản dưới luật

 

4.2.1 Hiến pháp

 

Những nội dung của HP liên quan trực tiếp đến Luật dân sự là Chương II (chế độ kinh tế) và Chương  V (quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân)

 

Dù chỉ là những qui định mang tính nguyên tắc, tính định hướng  nhưng hiến pháp 1992 được coi là nguồn cơ bản và quan trọng nhất của Luật dân sự.

 

4.2.2 Bộ luật dân

 

BLDS 2005 được kết cấu 7 phần, 36 chương, 777 điều

 

– Phần thứ nhất: Những qui định chung; xác định phạm vi điều chỉnh cảu BLDS, nguyên tắc của LDS, địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình với tư cách là chủ thể khi tham gia các quan hệ dân sự

 

– Phần thứ hai: Tài sản và quyền sở hữu; bao gồm các qui định về nguyên tắc cơ bản của quyền sở hữu, các loại tài sản, các hình thức sở hữu, căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu,  bảo vệ quyền sở hữu, và những qui định khác về quyền sở hữu.

 

– Phần thứ ba: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; bao gồm các qui định chung, các hợp đồng dân sựu thông dụng, nghĩa vụ ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

 

– Phần thứ tư: thừa kế; qui định việc dịch chuyển di sản của người chết cho những người còn sống

 

– Phần thứ năm: Những qui định về quyền sử dụng đất; gồm những qui định chung, những hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất

 

– Phần thứ sáu: Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ

 

– Phần thứ bảy: Quan hệ dân sựu có yếu tố nước ngoài; gồm những qui định về thẩm quyền áp dụng và pháp luật được áp dụng khi giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài.

 

4.2.3 Các luật và nghị quyết của quốc hội

 

Các luật được coi là nguôn của luật dân sự:

 

– Luật hôn nhân và gia định năm 2000

– Luật đất đai 2003

– Luật thương mại 2005

– Luật sở hữu trí tuệ 2005

– Luật doanh nghiệp 2005

– Luật các công cụ chuyển nhượng

– Luật khoáng sản

– Luật bảo vệ và phát triển rừng

– Luật tài nguyên nước …

 

Ngoài BLDS và các luật, NQ của Quốc hội do QH ban hành, có hiệu lực như văn bản pháp luật

 

4.2.4 Các văn bản dưới luật

 

– Pháp lện của UBTVQH được ban hành để giải thích, hướng dẫn những qui định của BLDS hoặc qui định những nội dung mà luật chưa đủ điều kiện để qui định

– Nghị định của Chính phủ có vai trò là nguồn bổ trợ trực tiếp của LDS

– Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành để hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật

 

  1. QUI PHẠM PHÁP LUẬT DÂN SỰ

 

5.1 Khái niệm

 

Qui phạm pháp luật dân sự là những qui tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra để điều chỉnh quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của LDS để các quan hệ đó phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với ý chí của nhà nước.

 

5.2 Cấu tạo qui phạm pháp luật dân sự

 

– Phần giả định: nếu ra những tình huống, hoàn cảnh mà qui phạm pháp luật sẽ điều chỉnh.

– Phần qui định: nêu cách xử sự của chủ thể khi gặp phải hoàn cảnh được dự liệu trong phần giả định. Phần qui định trong qui phạm pháp luật dân sự rất mềm dẻo, trong nhiều qui phạm, pháp luật dự liệu một số xử sự nhất định và chủ thể lựa chọn một trong số các cách xử sự đó.

– Phần chế tài: nêu ra hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể phải gánh chịu nếu chủ thể không thực hiện những xử sự nhất định được nêu trong phần qui định khi gặp phải điều kiện, hoàn cảnh trong phần giả định.

 

5.3 Phân loại

 

5.3.1 Qui phạm định nghĩa

 

Là qui phạm có nội dung giải thích, xác định một vấn đề cụ thể hoặc đưa ra những khái niệm pháp lý khác nhau, được viện dẫn để xác định một vấn đề cụ thể khi cần giải thích

 

5.3.2 Qui phạm tùy nghi

 

Là qui phạm trong đó cho phép chủ thể có thể lựa chọn cách xử sự nhất định. Việc lựa chọn có thể hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ thể hoặc lựa chọn trong một giới hạn nhất định mà pháp luật qui định.

 

– Qui phạm tùy nghi thỏa thuận: pháp luật cho phép các bên có toàn quyền trong việc thỏa thuận về một nội dung cụ thể, giới hạn của sự thỏa thuận này là điều cấm của pháp luật, tính trái đạo đức xã hội và các nguyên tắc chung của pháp luật dân sự.

– Qui phạm tùy nghi lựa chọn: pháp luật dự liệu nhiều cách xử sự và các chủ thể có thể lựa chọn một trong các cách xử sự đó.

 

5.3.3 Qui phạm mệnh lệnh

 

Là qui phạm có nội dung nghiêm cấm chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định hoặc buộc chủ thể phải thực hiện những hành vi nhất định

 

Qui phạm mệnh lệnh không đặc trưng cho qui phạm phạm luật dân sự bởi vì trong việc tham gia quan hệ dân sựu, pháp luật cho phép chủ thể có quyền tự định đoạt, thỏa thuận trong các quan hệ mà mình tham gia.

 

  1. ÁP DỤNG LUẬT DÂN SỰ, ÁP DỤNG TƯƠNG TỤ PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHONG TỤC TẬP QUÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ

 

6.1 Áp dụng Luật dân sự

 

6.1.1 Khái niệm

 

Áp dụng LDS là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc vận dụng các qui phạm pháp luật dân sự để giải quyết các tranh chấp dân sự hoặc xác định các sự kiện pháp lí phát sinh nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, của tổ chức và của cá nhân.

 

6.1.2 Điều kiện áp dụng LDS

 

Hoạt động áp dụng LDS không thể tách rời với hoạt động ban hành văn bản qui phạm pháp luật dân sự, đây là quá trình đưa những nội dung cụ thể của văn bản pháp luật vào cuộc sống. Hoạt động áp dụng LDS có hiệu quả hay không, ngoài việc phụ thuộc vào nội dung của văn bản còn phụ thuộc vào ý thức chấp hành và khả năng chủ thể tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật.

 

Áp dụng luật dân sự phải đáp ứng các điều kiện sau:

 

– Quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của LDS phải đang có tranh chấp hoặc có sự kiện pháp lí mà tòa án phải xác định:

 

+ Tranh chấp giữa các chủ thể tham gia quan hệ tạo thành vụ án dân sự

+ Chủ thể yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp hoặc không có tranh chấp nhưng liên quan đến quyền lợi của một chủ thể nhất định, chủ thể yêu cầu tòa án xác định – là việc dân sự.

 

– Hiện có qui phạm pháp luật dân sự đang trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh tranh chấp đo

 

6.1.3 Hậu quả của hoạt động áp dụng luật dân sự

 

– Thừa nhận quyền cho một chủ thể nhất định và ghi nhận cụ thể nội dung của quyền này: quyền thừa kế, quyền sở hữu …

 

– Xác nhận nghĩa vụ cho một chủ thể nhất định theo yêu cầu của chủ thể khác: buộc chủ thể phải trả lại nhà thuê, buộc trả nợ vay

 

– Xác nhận sự tộn tại hay không tồn tại của một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể: cho phép li hôn hoặc không …

 

– Xác nhận một sự kiện pháp lí nhất định theo yêu cầu của chủ thể có liên quan: tuyên bố mất tích hoặc đã chết đối với cá nhân …

 

6.2 Áp dụng qui định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự

 

6.2.1 Nguyên nhân của việc áp dụng qui định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự

 

* Nguyên nhân của việc áp dụng qui định tương tự của pháp luật được thể hiện:

 

– Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh cúa LDS vốn đa dạng và phức tạp, luôn có sự phát sinh, thay đổi những quan hệ xã hội mới mà thực tế những quan hệ xã hội này chưa có qui phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh. Đây là điều không thể tránh được trong hoạt động lập pháp bởi quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật nói chung, của LDS nói riêng luôn có sự vận động và thay đổi, trong khi đó qui phạm pháp luật lại có sự ổn định trong giai đoạn nhất định

 

– Hoạt động lập pháp còn có những hạn chế nhất định bởi trình độ chuyên môn của nhà lập pháp còn nhiều bất cập nên vẫn có những “khe hở” trong một văn bản qui phạm pháp luật dân sự.

 

* Nguyên nhân của việc áp dụng phong tục tập quán:

 

– Tập quán là các xử sự thông dụng và phổ biến trong cộng đồng đia phương, dân tộc được sử dụng như chuẩn mực ứng xử đối với các thành viên  trong cộng đồng dân tộc, địa phương đó. Ví dụ: đơn vị đo lường “giạ lúa”, “chục” ở miền Nam.

 

– Áp dụng tập quán là sử dụng các xử sự thông dụng và phổ biến trong cộng đồng đia phương, dân tộc được sử dụng như chuẩn mực ứng xử đối với các thành viên  trong cộng đồng dân tộc, địa phương đó.

 

– Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ đa dạng, phức tạp về nhiều phương diện: Chủ thể, khách thể, nội dung; hơn nữa những quan hệ này không ngừng phát triển cùng với sự phát triển của xã hội nói chung và khoa học kỹ thuật nói riêng. Vì vậy mà khi ban hành các văn bản pháp luật, nhà lập pháp không “ dự liệu” được hết các quan hệ xã hội cần thiết phải được điều chỉnh bằng pháp luật, Điều đó đã tạo ra “lỗ hổng” trong pháp luật dân sự.

 

– Hơn nữa, các qua hệ xã hội lại luôn vận động và biến đổi không ngừng trong khi các qui định của pháp luật thường tồn tại ở trạng thái tĩnh, chỉ biến đổi khi bị sửa đổi. Dẫn đền tình trạng, có những trường hợp không có quy phạm pháp luật điều chỉnh một quan hệ xã hội đang tồn tại.

 

– Để bù lấp những “lỗ hổng” pháp luật chưa hoàn thiện và tạo ra cơ sở pháp lý cho Tòa án xét xử các tranh chấp trong những quan hệ xã hội chưa được điều chỉnh bằng pháp luật, BLDS 2005 đã  đưa ra nguyên tắc áp dụng tập quán: “trong trường hợp pháp luật ko qui định & các bên ko có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán”. (Điều 3 BLDS 2005).

 

6.2.2 Điều kiện của việc áp dụng qui định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự

 

– Quan hệ xã hội phát sinh tranh chấp cần giải quyết phải thuộc đối tượng điều chỉnh của LDS

 

– Hiện chưa có qui phạm pháp luật dân sự trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh tranh chấp đó

 

– Việc áp dụng qui đinh tương tự của pháp luật và phong tục tập quán chỉ được đặt ra khi pháp luật chưa qui định và các bên tham gia giao dịch không thỏa thuận, nhưng phải theo trình tự: áp dụng tập quán trước, nếu không có tập quán thì áp dụng qui định tương tự của pháp luật

 

– Có qui định tương tự của pháp luật hoặc có tập quán để có thể vận dụng để giải quyết tranh chấp phát sinh

 

– Tập quán và qui định tương tự của pháp luật không được trái với các nguyên tắc chung của pháp luật được qui định trong BLDS.

 

6.2.3 Hậu quả của việc áp dụng qui định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán trong việc giải quyết tranh chấp dân sự

 

– Thông qua hoạt động áp dụng qui định tương tự của pháp luật và áp dụng phong tục tập quán, bổ sung sự thiếu sót trong các qui đinh pháp luật và hoàn thiệt hệ thống pháp luật.

 

– Qua đó, quyền và lợi ích của các bên tham gia giao dịch dân sự cũng được đảm bảo thực hiện.

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LUẬT DÂN SỰ MODULE 1 – CHƯƠNG 2 – QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

 

Chương 2: Quan hệ pháp luật dân sự

 

  1. KHÁI NIỆM QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

 

1.1 Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự

 

1.1.1 Khái niệm quan hệ pháp luật dân sự

 

Quan hệ pháp luật dân sự là các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của LDS được các qui phạm pháp luật DS tác động tới trên cơ sở chủ thể độc lập về tổ chức và tài sản, bình đẳng về địa vị pháp lí và các quyền, nghĩa vụ của chủ thể được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của nhà nước.

 

1.1.2 Đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự

 

Quan hệ pháp luật DS mang đầy đủ các đặc điểm của một quan hệ pháp luật thông thường. Ngoài ra còn có đặc điểm riêng sau:

 

– Quan hệ pháp luật dân sự đa dạng về chủ thể tham gia. Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là những “người” được phép tham gia quan hệ pháp luật và có các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó

 

– Trong quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể tham gia quan hệ luôn quan tâm đến những lợi ích vật chất hoặc tinh thần nhất định

 

– Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự có thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật qui định. Khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự tì địa vị pháp lí của chủ thể là có sự bình đẳng.

 

– Trách nhiệm pháp lí mà các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự phải gánh chịu liên quan đến tài sản.

 

1.2 Căn cứ  phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự

 

1.2.1 Khái niệm căn cứ  phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự

 

Sự kiện pháp lí trước hết được hiểu là những sự kiện xảy ra trong thực tế và được pháp luật qui định hậu quả pháp lí.

 

Sự kiện thực tế để làm phát sinh hậu quả pháp lý phải mang tính khách quan. Chỉ những sự kiện thực tế mà sự xuất hiện của nó có ảnh hưởng nhất định đối với đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội mới được pháp luật qui định hậu quả pháp lý.

 

Hậu quả pháp lý mà pháp luật qui định cho một sự kiện thực tế, có thể là làm phát sinh, có thể làm thay đổi nhưng cũng có thể là làm chấm dứt một quan hệ pháp luật dân sự. Một sự kiện thực tế có thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt nhiều quan hệ pháp luật dân sự khác nhau và ngược lại, một hậu quả pháp lý có thể là kết quả của nhiều sự kiện pháp lý.

 

Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự là những sự kiện pháp lý do pháp luật qui định mà khi xuất hiện các sự kiện pháp lý đó thì quan hệ pháp luật dân sự có thể được phát sinh, được thay đổi hoặc chấm dứt

 

1.2.2 Phân loại Căn cứ  phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự

 

1.2.2.1 Căn cứ vào hậu quả pháp lý

 

– Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự: là những sự kiện thực tế do pháp luật qui định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì làm phát sinh một quan hệ pháp luật dân sự.

 

– Sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ pháp luật dân sự: là những sự kiện thực tế do pháp luật qui định mà khi xuất hiện những sự kiện đó làm thay đổi một quan hê dân sự nhất định.

 

– Sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự: là những sự kiện thực tế do pháp luật qui định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì làm chấm dứt một quan hệ pháp luật dân sự

 

1.2.2.2 Căn cứ vào tính ý chí trong quan hệ pháp luật dân sự

 

– Sự kiện pháp lý phát sinh theo ý chí của chủ thể: chính là các hành vi pháp lý. Hành vi pháp lý là hành vi có ý thức của con người và được pháp luật qui định hậu quả pháp lý. Hành vi pháp lý được chia làm 2 loại:

 

+ Hành vi pháp lí hợp pháp: là hành vi có ý thức của con người, diễn ra phù hợp với qui định của pháp luật và theo qui định của pháp luật thì hậu quả pháp lý phát sinh. Hậu quả pháp lý phát sinh từ hành vi hợp pháp là hậu quả pháp lý mà các chủ thể luôn mong muốn, đó là các hậu quả pháp lý tích cực, có lợi cho các chủ thể.

 

+ Hành vi pháp lí bất hợp pháp: là hanh vi có ý thức của con người, diễn ra trái với qui định của pháp luật và theo qui định của pháp luật thì hậu quả pháp lý phát sinh. Hậu quả pháp lý được pháp luật qui định khi có hành vi bất hợp pháp là hậu quả pháp lý tiêu cực, bất lợi đối với chủ thể bị áp dụng.

 

* Lưu ý: đối với trường hượp hành vi của con người có thể đem lại những hậu quả nhất định, nhưng hành vi đó là hành vi không có ý thức của con người, con người thực hiện hành vi trong vô thức.

 

– Sự kiện pháp lý phát sinh theo ý chí của nhà nước: là những sự kiện xảy ra trong thực tế, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể nhưng theo qui định của pháp luật thì hậu quả pháp lý phát sinh, gồm các trường hợp:

 

+ Xử sự pháp lí: được thực hiện bởi hành vi của con người nhưng hành vi đó hướng tới một mục đích nhất định, tuy nhiên theo qui đinh của pháp luật thì hậu quả pháp lý phát sinh, hậu quả pháp ly này nằm ngoài ý thức của chủ thể

 

+ Sự biến pháp lý: sự xuất hiện và diễn biến của sự vật, hiện tượng hoàn toàn không phụ thuộc vào ý thức của con người, con người không kiểm soát được (ví dụ: mưa, bão …) hoặc sự xuất hiện, diễn biến của sự vật hiện tượng lúc đầu là do hành vi của con người nhưng  ngay sau đó con người không kiểm soát được (sự biến pháp lý tương đối).

 

+ Thời hạn: có điểm bắt đầu và điểm kết thúc, và khi kết thúc một thời hạn nhất định thì phát sinh hậu quả pháp lý theo qui định của pháp luật.

 

1.3 Các yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự

1.3.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

 

Phạm vi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng, bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và nhà nước CHXHCN Việt Nam. Các chủ thể này phải có tư cách chủ thể, được xác định bởi 2 yếu tố:

 

– Năng lực pháp luật dân sự

– Năng lực hành vi dân sự

 

Chủ thể của quan hệ pháp luật có thể có năng lực pháp luật mang tính tổng hợp (cá nhân) có thể có năng lực pháp luật mang tính chuyên biệt.

 

1.3.2 Khách thể của quan hệ pháp luật dân sự

 

Khách thể của quan hệ pháp luật dân sự là những lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần nhất định mà chủ thể hướng tới.

 

1.3.2.1 Các lợi ích vật chất

 

Được thể hiện ở những dạng vật chất cụ thể như: tiền, vật, các giấy tờ có giá, quyền tài sản; lợi ích vật chất còn có thể được biểu hiện dưới dạng quyền của chủ thể trong một quan hệ pháp luật dân sự

 

1.3.2.2 Các lợi ích tinh thần

 

– Lợi ích tinh thần gắn với vật chất: đó chính là các lợi ích tinh thần mà chủ thể hướng tới trong quan hệ pháp luật về quyền tác giả, quan hệ pháp luật về quyền liên quan, quan hệ pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp, quan hệ pháp luật về quyền đối với giống cây trồng.

– Lợi ích tinh thần không gắn với lợi ích vật chất: thể hiện ở các quyền nhân thân được pháp luật qui định cho chủ thể được hưởng các quyền nhân thân này.

 

1.3.3 Nội dung của các quan hệ pháp luật dân sự

 

Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự tạo thành nội dung của quan hệ pháp luật dân sự

 

1.3.3.1 Quyền dân sự

 

Là cách xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể nhất định được hưởng, thể hiện ở:

 

– Chủ thể được thực hiện những hành vi nhất định để thỏa mãn quyền do pháp luật qui định, chủ thể thực hiện quyền này trực tiếp hoặc gián tiếp

– Chủ thể được quyền không thực hiện những hành vi nhất định

– Chủ thể được quyền yêu cầu chủ thể khác phải thực hiện hành vi, không thực hiện hành vi vì lợi ích của mình hoặc vì lợi ích của người khác

– Chủ thể được quyền yêu cầu tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị tranh chấp, bị xâm phạm

 

1.3.3.2 Nghĩa vụ dân sự

 

Là cách xử sự mà pháp luật buộc một chủ thể nhất định phải thực hiện, thể hiện ở:

 

– Chủ thể phải thực hiện những hành vi nhất định

– Chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định

 

* Lưu ý: Khi chủ thể có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ dân sự thì phải chịu hậu quả pháp lí bất lợi do hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình gây ra. Hậu quả pháp lí bất lợi mà người có nghĩa vụ phải gánh chịu do hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình chính là nội dung của trách nhiệm dấn sự

 

1.4 Các loại quan hệ pháp luật dân sự (có 4 căn cứ phân loại)

 

1.4.1 Căn cứ vào nhóm quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của LDS

 

– Quan hệ pháp luật dân sự về tài sản: Là quan hệ pháp luật dân sự luôn gắn liền với tài sản, đó có thể là quan hệ có sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể sang chủ thể khác, đó cũng có thể là quan hệ tài sản mà có sự xác định quyền của một chủ thể đối với tài sản.

 

– Quan hệ pháp luật dân sự về nhân thân: Là quan hệ pháp luật dân sự luôn gắn liền với lợi ích tinh thần. Lợi ích tinh thaanhf có thể liên quan đến tài sả hoặc không

 

=> Việc phân loại theo căn cứ trên nhằm xác định hậu quả pháp lí cho chủ thế khi có hành vi xâm phạm các quyền của chủ thể trong quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân

 

1.4.2 Căn cứ vào tính xác định của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự

 

– Quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối: là quan hệ pháp luật dân sự mà chủ thể có quyền luôn luôn được xác định, còn chủ thế có nghĩa vụ không được xác định cụ thế mà được hiểu là ngoài chủ thể mang quyền thì các chủ thể khác phai co nghĩa vụ tôn trọng quyền của chủ thể mang quyền. Thuộc về quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối là quan hệ pháp luật về sở hữu, quan hệ pháp luật về sở hữu trí tuệ.

 

– Quan hệ pháp luật dân sự tương đối là quan hệ pháp luật dân sự mà chủ thể có quyền và chủ thể có nghĩa vụ luôn luôn được xác đinh cụ thể. Tương ứng với chủ thể mang quyền là chủ thể mang nghĩa vụ và ngược lại. Thuộc về quan hệ pháp luật dân sự tương đối là quan hệ pháp luật về nghĩa vụ và hợp đồng, quan hệ pháp luật về chuyển quyền sự dụng đất

 

=> Việc phân loại theo căn cứ trên có ý nghĩa trong việc xác định quyền của chủ thể cũng như xác định các hành vi xâm phạm quyền.

 

1.4.3 Căn cứ vào cách thức thực hiện quyền để thỏa mãn quyền chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự

 

– Quan hệ pháp luật dân sự vật quyền: là  quan hệ pháp luật dân sự mà chủ thể mang quyền để thỏa mãn quyền của mình sẽ thực hiện hành vi để tác động vào đối tượng.

 

– Quan hệ pháp luật dân sự trái quyền: là quan hệ pháp luật dân sự mà chủ thể mang quyền thỏa mãn quyền của mình thông qua hành vi của người khác.

 

=>  Việc phân loại theo căn cứ trên có ý nghĩa trong việc xác định hậu quả pháp lý của hành vi xân phạm quyền của chủ thể

 

1.4.4 Căn cứ vào sự có đi có lại vệ lợi ích vật chất giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự

 

– Quan hệ pháp luật dân sự có sự đền bù: là quan hệ pháp luật dân sự mà tất cả các bên trong quan hệ pháp luật đều được hưởng những lợi ích nhất định.

 

– Quan hệ pháp luật dân sự không có đền bù là quan hệ pháp luật dân sự mà chỉ một bên trong quan hệ pháp luật dân sự được nhận một lợi ích vật chất từ phía chủ thể khác mà mình không phải hoàn lại một lợi ích vật chất tương ứng

 

  1. CÁC LOẠI CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

 

2.1 Cá  nhân

 

Cá nhân là chủ thể thường xuyên, quan trọng, chủ yếu và phổ biến của quan hệ pháp luật dân sự. Có thể nói cá nhân tham gia vào tất cả  các quan hệ pháp luật dân sự, ngay cả các quan hệ pháp luật dân sự mà pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình tham gia thì cũng phải thông qua hành vi của cá nhân.

 

2.1.1 Năng lực chủ thể cuả cá nhân

 

2.1.1.1 Năng lực pháp luật dân sự

 

* Khái niệm và đặc điểm:

 

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự. Khả năng đó chỉ có thể trở thành hiện thực thông qua năng lực hành vi dân sự của cá nhân.

 

Đặc điểm:

 

– Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân do nhà nước qui định cho cá nhân trong các văn bản qui phạm pháp luật dân sự.

– Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có tính lịch sử, phụ thuộc vào chế độ chính trị, bản chất nhà nước.

– Năng lực pháp luật của cá nhân là bình đẳng

– Năng lực pháp luật của cá nhân không thể bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật qui định.

 

* Hạn chế năng lực pháp luật dân sự đối với cá nhân: chỉ mang tính tạm thời, được áo dụng đối với một số chủ thể nhất định, trong một số giai đoạn nhất định và ở một số địa bàn nhất định.

 

* Bắt đầu và chấm dứt năng lực pháp luật dân sự của cá nhân: năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết

 

* Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân: là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ dân sự mà pháp luật qui định cho một cá nhân

 

– Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.

– Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản

– Quyền tham gia quan hệ dân sự và có các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.

 

2.1.1.2 Năng lực hành vi dân sự

 

* Khái niệm và đặc điểm:

 

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự

 

Đặc điểm:

 

– Năng lực hành vi dân sự của cá nhân do nhà nước qui định dựa trên sự phát triển về độ tuổi cũng như khả năng nhân thức và làm chủ hành vi của cá nhân

– Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là không bình đẳng, cá nhân khác nhau có năng lực hành vi khác nhau do pháp luật qui định dựa trên độ tuổi, sự phát triển tâm lý, nhận thức

– Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có khi cá nhân đến một độ tuổi nhất định và có thể bị mất hoặc bị hạn chế khi còn sống

 

* Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân:

 

– Năng lực hành vi dân sự đầy đủ: cá nhân từ 18 tuổi trở lên, không bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, không bị tòa án ra quyết định hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự và có nghĩa vụ thực hiện các giao dịch dân sự mà mình xác lập. Ngoài ra nếu người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì phải bồi thường.

– Năng lực hành vi dân sự một phần: là những người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi. Lưu ý:

 

+ Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi khi xác lập thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm mục đích phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi. Nếu cá nhân từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi tham gia các giao dịch dân sự mà có giá trị lớn, không được sự đồng ý của đại diện theo pháp luật thì người đại diện theo pháp luật có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu.

+ Trường hợp người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi cso tài sản riêng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác

 

– Không có năng lực hành vi dân sự: là người chưa đủ 6 tuổi.

 

* Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự

 

  1. Mất năng lực hành vi dân sự.

 

Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định:    Tòa án nhân dân

 

Đối tượng bị áp dụng: Người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (phải có kết luận của tổ chức giám định về việc cá nhân đó không nhận thức làm chủ được hành vi)

 

Người có quyền yêu cầu: Người có quyền, lợi ích liên quan

 

Người đại diện: Người đại diện (xác định theo quan hệ giám hộ) toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người mất năng lực hành vi dân sự

 

Tình trạng pháp lý: Đưa người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự về tình trạng pháp lí giống người chưa đủ 6 tuổi

 

  1. Hạn chế năng lực hành vi dân sự.

 

Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định: Tòa án nhân dân

 

Đối tượng bị áp dụng: Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn dến phá tán tài sản của gia đình

 

Người có quyền yêu cầu: Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan,

 

Người đại diện: Người đại diện, phạm vi đại diện do tòa án quyết định. Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày

 

Tình trạng pháp lý: Đưa người bị tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự về tình trạng pháp lí giống người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi.

 

2.1.2 Tuyên bố mất tích, tuyên bố chết

 

2.1.2.1 Thông báo tìm kiếm người vắng mặt và quản lý tài sản của người vắng mặt

 

Trước khi yêu cầu tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất tích, hoặc đã chết, những người có quyền và lợi ích liên quan có thể yêu cầu tòa án ra thông báo tìm người vắng mặt tại nơi cư trú theo qui định của pháp luật dân sự; Đồng thời yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản  của người vắng mặt.

 

Người quản lý tài sản của người vắng mặt được xác định như sau:

 

– Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý.

– Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý

– Đối với tà sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ haowcj chồng tiếp tục quản lý, nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con  đã thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý

 

Quyền, nghĩa vụ của người quản lý tài sản:

 

– Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình

– Bán ngay tài sản và hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng

– Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của tòa án

– Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và thông báo cho tòa án biết, nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại phải bồi thường

 

Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các quyền sau:

 

– Quản lý tài sản của người vắng mặt

– Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt

– Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản

 

2.1.2.2 Tuyên bố mất tích

 

* Điều kiện của việc tuyên bố cá nhân mất tích:

 

– Người có quyền, lợi ích liên quan có đơn yêu cầu tòa án tuyên bố cá nhân đó mất tích

– Đã áp dụng đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm người vắng mặt theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích

– Thời gian biệt tích hai năm liền trở lên, khoảng thời gian này phải liên tục, không gián đoạn. Nếu gián đoạn phải được xác định lại từ đầu

 

* Hậu quả của việc tuyên bố cá nhân mất tích:

 

– Về tư cách chủ thể: Khi tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích, tạm thời tư cách chủ thể của người đó bị dừng lại

– Quan hệ nhân thân: Các quan hệ nhân thân tạm dừng. Trường hợp vợ hoặc chồng của người tuyên bố mất tích xin ly hôn thì tòa án giải quyết cho li hôn

– Quan hệ tài sản: Tài sản của người bị tuyên bố mất tích sẽ do người đang quản lý tiếp tục quản lý

 

* Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố cá nhân mất tích và hậu quả của sự hủy bỏ:

 

– Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan tòa ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.

– Tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích được khôi phục lại tình trạng ban đầu

– Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người quản lý tài sản chuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí quản lý

 

2.1.2.3 Tuyên bố chết

 

* Điều kiện của việc tuyên bố một cá nhân là đã chết:

 

– Sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống

– Biệt tích trong chiến tranh sau 5 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống.

– Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt, vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

– Biệt tích 5 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Cách tính thời gian biệt tích giống như tính thời gian biệt tích trong trường hợp tuyên bố mất tích

– Quyết định tuyên bố chết sẽ chấm dứt tư cách chủ thể của người bị ra quyết định tuyên bố chết, tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết căn cứ vào từng trường hợp cụ thể trên

 

* Hậu quả của quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết:

 

– Tư cách chủ thể của người bị ra quyết định tuyên bố là đã chết: chấm dứt hoàn toàn

– Quan hệ nhân thân: quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ về nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết

– Quan hệ tài sản: được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

 

* Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một cá nhân là đã chết và hậu quả của sự hủy bỏ đó:

 

– Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó, tòa  hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết.

– Tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là đã chết được trở lại tình trạng ban đầu như khi họ còn sống

– Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết. Cần lưu ý:

 

+ Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được tòa án cho lý hôn thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Nếu người bị tuyên bố là đã chết trở về, mà muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng đối với vợ hoặc chồng được tòa án cho ly hôn sẽ phải làm thủ tục đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật

+ Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật

 

– Quan hệ tài sản: Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn

 

2.1.3 Nơi cư trú của cá nhân

 

Cá nhân có quyền tự do cư trú theo qui định cuả pháp luật, nơi cư trú của cá nhân được xác định như sau:

 

– Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống. “Nơi” ở đây được định là chỗ ở hợp pháp của cá nhân. Nơi cư trú của cá nhân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

– Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân căn cứ vào nơi thường xuyên sinh sống, thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống

 

Xác định nơi cư trú của cá nhân có ý nghĩa pháp lý sau đây:

 

– Nơi cư trú là nơi cá nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước với tư cách là công dân

– Cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi cá nhân cư trú đăng ký và lưu trữ các giấy tờ về hộ tịch đối với cá nhân

– Nơi cư trú là nơi mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền tống đoạt các giấy tờ có liên quan đến cá nhân

– Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ mà cá nhân tham gia trong trường hợp các bên trong quan hệ nghĩa vụ không thỏa thuận về địa điểm này và đối tượng của nghĩa vụ là động sản

– Nơi cư trú là căn cứ để tòa án ra quyết định tuyên bố một cá nhân là mất tích hoặc đã chết

– Nơi cư trú được xác định là địa điểm mở thừa kế khi cá nhân chết

– Nơi cư trú còn có ý nghĩa trong việc xác định thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp dân sự trong một số trường hợp nhất định

 

2.1.4 Giám hộ

 

2.1.4.1 Khái niệm, ý nghĩa giám hộ

 

Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật qui định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự ( sau đây gọi chung là người được giám hộ)

 

2.1.4.2 Người được giám hộ

 

– Người chưa thành niên không còn cha mẹ, không xác định được cha mẹ hoặc cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha mẹ có yêu cầu. Người chưa thành niên dưới 15 tuổi bắt buộc phải có người giám hộ, người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không nhất thiết phải có người giám hộ

– Người mất năng lực hành vi dân sự.

– Một người có thể giám hộ cho nhiều người, nhưng một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp giám hộ là cha, mẹ hoặc ông, bà.

 

2.1.4.3 Người giám hộ

 

* Người giám hộ là cá nhân, tổ chức:

 

– Xác định quan hệ giám hộ đương nhiên đối với cá nhân: là những người thân thiết, gần gũi nhất đối với cá nhân được xác định theo quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ huyết thống tùy trường hợp cụ thể

– Xác định quan hệ giám hộ cử: Nếu không có người giám hộ đương nhiên thì cá nhân có đủ điều kiện theo qui định của pháp luật có thể được cử để giám hộ cho người được giám hộ.

 

* Cá nhân có đủ các điều kiện sau có thể làm người giám hộ:

 

– Có đủ năng lực hành vi dân sựu

– Có tư cách đạo đức tốt, không phải là người đang truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác

– Có điều kiện cần thiết để đảm bảo thực hiện việc giám hộ: về thời gian, vật chất, sức khỏe

 

2.1.4.4 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ

 

* Nghĩa vụ:

 

– Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự

– Quản lý tài sản của người được giám hộ

– Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

– Người được giám hộ dưới 15 tuổi thì người giám hộ có nghĩa vụ chăm sóc giáo dục người được giám hộ

– Người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ có nghĩa vụ chăm sóc bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ

 

* Quyền:

 

– Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chỉ  dùng cho những nhu cầu cần thiết cảu người được giám hộ.

– Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ

– Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

 

2.1.4.5 Thay đổi và chấm dứt việc giám hộ

 

* Thay đổi giám hộ:

– Khi người giám hộ không còn thỏa mãn các điều kiện do pháp luật qui định

– Khi  người khác có điều kiện tốt hơn đảm nhận việc giám hộ

– Việc thay đổi phải được lập thành văn bản

 

* Chấm dứt giám hộ:

 

– Giám hộ chấm dứt trong các trường hợp:

 

+ Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

+ Người được giám hộ chết

+ Cha, mẹ của người được giám hộ đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình

+ Người được giám hộ được nhận làm con nuôi

 

– Hậu quả của việc chấm dứt giám hộ:

 

+ Trong thời hạn ba tháng, kể từ thời điểm chấm dứt việc giám hộ, người giám hộ thanh toán tài sản với người được giám hộ hoặc với cha mẹ của người được giám hộ

+ Trong trường hợp người được giám hộ chết thì thanh toán tài sản với người thừa kế của người được giám hộ

 

– Việc thanh toán tài sản được thực hiện với sự giám sát của người giám sát việc giám hộ.

 

– Các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch dân sự vì lợi ích của người được giám hộ mà do người giám hộ thực hiện sẽ chuyển cho người được giám hộ khi người này đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc chuyển cho cha mẹ của người được giám hộ, hoặc chuyển cho người thừa kế của người được giám hộ.

 

2.2 Pháp nhân

 

2.2. Khái niệm và điều kiện của pháp nhân

 

2.2.1.1 Khái niệm pháp nhân

 

Khái niệm: Pháp nhân là một tổ chức thỏa mãn đầy đủ các điều kiện do pháp luật qui định, khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự sẽ có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quan hệ dân sự mà mình tham gia

 

2.2.1.2 Điều kiện của pháp nhân

 

* Điều kiện thứ nhất: Pháp nhân phải là một tổ chức và tổ chức đó phải được thành lập hợp pháp

 

– Pháp nhân có thể được thành lập hợp pháp theo qui định của pháp luật Việt Nam, theo trình tự mệnh lệnh, trình tự đăng kí, công nhận và trình tự cho phép

– Các tổ chức quốc tế được nhà nước Việt Nam công nhận

 

* Điều kiện thứ hai: Tổ chức được công nhận là có tư cách pháp nhân phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

 

– Đối với pháp nhân được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cơ cấu tổ chức của pháp nhân do cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định hoặc người có thẩm quyền của  cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định

– Đối với pháp nhân được thành lập theo trình tự khác thì cơ cấu tổ chức của pháp nhân sẽ do các pháp nhân đó quyết định trên cơ sở qui mô, lĩnh vực hoạt động

 

à Ý nghĩa:

 

+ Xác định nội dung hoạt động

+ Sự phối kết hợp giữa các bộ phận của pháp nhân còn là cơ sở để xác định quan hệ của pháp nhân với các chủ thể khác trong giao dịch dân sự

+ Cơ cấu tổ chức của pháp nhân khác nhau tùy từng loại hình pháp nhân

 

* Điều kiện thứ ba: Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó

 

– Tính độc lập về tài sản được thể hiện: tài sản cảu pháp nhân là một khối thống nhất mà pháp nhân có quyền quyết định các nội dung liên quan đến tài sản đó nhưng đồng thời tài sản đó lại là sự tách biệt rõ ràng, độc lập với tài sản của cá nhân, tổ chức

– Tính độc lập về tài sản của cá nhân được hiểu là:

 

+ Đối với các cá nhân được thành lập theo sáng kiến của các thành viên, các thành viên góp vốn … thì tài sản của pháp nhân phải độc lập với tài sản của các thành viên của pháp nhân

+ Đối với pháp nhân hoạt động trong một số lĩnh vực về quản lý nhà nước, hoạt động lực lượng vũ trang .. thì tài sản của pháp nhân được ngân sách nhà nước cấp, do đó tài sản của pháp nhân này phải độc lập với tài sản của cơ quan cấp trên của pháp nhân, độc lập với các tổ chức, cá nhân khác ..

 

– Pháp nhân dũng tài sản của mình để chịu trách nhiệm dân sự cho các quan hệ mà pháp nhân tham gia à trách nhiệm dân sựu của pháp nhân là trách nhiệm dân sự hữu hạn ( một tổ chức mà phải chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì tổ chức đó không có tư cách pháp nhân)

 

* Điều kiện thứ tư: Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

 

– Khi tham gia các quan hệ pháp luật, pháp nhân độc lập trong việc hưởng quyền và độc lập trong việc gánh chịu các nghĩa vụ, tự chịu trách nhiệm trong các quan hệ mình tham gia.

– Nhưng không phải pháp nhân nhân danh mình tham gia các quan hệ một cách độc lập có nghĩa là pháp nhân được quyền tham gia vào bất cứ quan hệ nào

 

è Tóm lại: Các điều kiện của pháp nhân là một thể thống nhất, một tổ chức muốn được coi là có tư cách pháp nhân phải thỏa mãn tất cả các điều kiện này, trên cơ sở đó pháp nhân mới có thể là chủ thể tham gia một quan hệ pháp luật cụ thể.

 

2.2.2 Năng lực chủ thể của pháp nhân

 

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình.

 

Năng lực pháp luật mới chỉ là khả năng để pháp nhân có thể có các quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự. Chỉ khi nào bằng hành vi của pháp nhân tham gia các quan  hệ pháp luật dân sự cụ thể phù hợp với mục đích, hoạt động của pháp nhân thì những khả năng pháp luật cho phép pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự mới thành hiện thực

 

Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của pháp nhân xuất hiện đồng thời khi pháp nhân được thành lập.

 

Năng lực pháp luật của pháp nhân có tính chuyên biệt, các pháp nhân khác nhau có nội dung năng lực pháp luật dân sự khác nhau, điều đó phụ thuộc vào mục đích hoạt động của pháp nhân.

 

Năng lực pháp luật của pháp nhân phát sinh và chấm dứt tương ứng với thời điểm thành lập và chấm dứt pháp nhân

 

2.2.3 Hoạt động và trách nhiệm dân sự của pháp nhân

 

2.2.3.1 Một số yếu tố đảm bảo cho việc thành lập, tồn tại và hoạt động của pháp nhân

 

* Tên gọi của pháp nhân:

 

– Phải bằng tiếng Việt, thể hiện rõ loại hình tổ chức của pháp nhân và phân biệt với pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động

– Pháp nhân có quyền và nghĩa vụ sử dụng tên gọi của mình trong giao dịch.

– Nếu pháp nhân thay đổi tên họ trong thời gian hoạt động phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

 

* Điều lệ của pháp luật:

 

– Điều lệ của pháp nhân là văn bản pháp lý ghi nhận những nội dung cơ bản liên quan đến hoạt động, điều hành của pháp nhân

– Những nội dung trong điều lệ của pháp nhân không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

– Điều lệ của pháp nhân có những nội dung chủ yếu sau:

 

+ Tên gọi của pháp nhân

+ Mục đích và phạm vi hoạt động

+ Trụ sở

+ Vốn điều lệ

+ Cơ cấu tổ chức

+ Quyền và nghĩa vụ của các thành viên

+ Thể thức sửa đổi, bổ sung điều lệ

+ Điều kiện hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể pháp nhân

 

* Cơ quan điều hành của pháp nhân

 

– Sau khi pháp nhân được thành lập, hoạt động của pháp nhân phải được duy trì thông qua một cơ quan đầu não của pháp nhân, đó chính là cơ quan điều hành

– Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được qui định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.

 

* Trụ sở của pháp nhân:

 

– Trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân. Pháp nhân bắt buộc phải có trụ sở, trụ sở chủ yếu của pháp nhân là yếu tố không thể thiếu, tạo thành tính hợp lệ của hồ sơ lập thành pháp nhân

– Nơi pháp nhân đặt trụ sở thông thường sẽ là nơi tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nếu pháp nhân là bị đơn. Địa chỉ liên lậc của pháp nhân là địa chỉ trụ sở của pháp nhân. Ngoài trụ sở của pháp nhân, pháp nhân có thể chọn nơi khác làm địa chỉ liên lạc.

 

* Văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân

 

– Văn phòng đại diện có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện việc bảo vệ các lợi ích đó.

– Chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền

– Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện và phải chịu trách nhiệm dân sự về các hành vi của văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân.

 

2.2.3.2 Hoạt động và trách nhiệm dân sự của pháp nhân

 

* Đối với người đại diện của pháp nhân:

 

– Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật, được qui đinh trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân

– Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân

 

* Đối với thành viên pháp nhân

 

– Thành viên pháp nhân có thể là người được tuyển dụng để làm một công việc nhất định theo chế độ tuyển dụng cán bộ công chức hoặc theo chế độ hợp đồng lao động

– Thành viên pháp nhân thực hiện hành vi được pháp nhân giao cho, do đó pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình.

 

2.2.4 Thành lập và chấm dứt pháp nhân

 

2.2.4.1 Thành lập pháp nhân

 

Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân tổ chức, hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm  quyền. Như vậy, pháp nhân được thành lập theo trình tự sau:

 

– Trình tự hành chính: pháp nhân được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

– Trình tự cho phép: Các cá nhân, tổ chức có sáng kiến thành lập pháp nhân sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết cho việc thành lập và đăng kí hoạt động tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

– Pháp nhân được thành lập trên cơ sở pháp nhân ban đầu, đó chính là trường hợp tách pháp nhân

 

2.2.4.2 Chấm dứt pháp nhân

 

Pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm xóa tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

Pháp nhân có thẩm chấm dứt trong các trường hợp sau:

 

– Hợp nhất pháp nhân: chỉ được tiến hành đối với pháp nhân cùng loại. Sau khi hợp nhất, các pháp nhân cũ chấm dứt, các quyền và nghĩa vụ dân sự của các pháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới. (A+B=C)

– Sáp nhập pháp nhân: không tạo thành pháp nhân mới mà chỉ là chấm dứt sự tồn tại của một pháp nhân, pháp nhân chấm dứt tồn tại mang danh của một pháp nhân đã tồn tại. Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt, các quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập, chuyển giao cho pháp nhân sáp nhân

– Chia pháp nhân: sẽ tạo ra hai hay nhiều pháp nhân trên cơ sở pháp nhân ban đầu (C = A + B). Sauk hi chia, pháp nhân bị chấm dứt, quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân bị chia được chuyển giao cho pháp nhân mới.

– Giải thể pháp nhân: là sự chấm dứt sự tồn tại của một pháp nhân mà không tạo ra hay duy trì sự tồn tại của một pháp nhân nào. Trước khi giải thể, pháp nhân phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài sản. Pháp nhân có thể bị giải thể trong các trường hợp sau:

 

+ Theo qui định của điều lệ

+ Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

+ Hết thời hạn hoạt động được ghi trong điều lệ hoặc trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

 

– Pháp nhân bị tuyên bố phá sản theo qui định của pháp luật về phá sản. Qui định của pháp luật về phá sản không được áp dụng đối với các pháp nhân là doanh nghiệp, hợp tác xã khi không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu và doanh nghiệp, hợp tác xã đó bị coi là lâm vào tình trạng phá sản.

 

2.2.5 Các loại pháp nhân

 

* Pháp nhân là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân được thành lập theo trình tự mệnh lệnh. Nhà nước giao tài sản để thực hiện chức năng quản lý nhà nước và thực hiện các chức năng khác mà không nhằm mục đích kinh doanh, là pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự.

* Pháp nhân là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội: tài sản của tổ chức này có thể có sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, có thể do các thành viên đóng góp hoặc nguồn khác phù hợp với qui định của pháp luật sẽ không thể phân chia cho các thành viên và sẽ được dùng để chịu trách nhiệm dân sự.

* Pháp nhân là tổ chức kinh tế: Các tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác có đủ điều kiện theo qui định của pháp luật. Pháp nhân là tổ chức kinh tế phải có điều lẹ và chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

 

2.3 Hộ gia đình

 

2.3.1 Khái niệm và điều kiện xác định hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

 

Khái niệm: hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong quan sản xuất nông, lâm ,ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật qui đinh là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này

 

Điều kiện xác định hộ gia đình là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự:

 

– Thành viên của hộ gia đình tối thiểu từ hai người trở lên

– Các thành viên phải có mối quan hệ ràng buộc nhất định và phải có chung hộ khẩu

– Các thành viên có tài sản chung và tài sản chung này được dùng để hoạt động kinh tế chung trong các quan hệ pháp luật dân sự, mà pháp luật cho phép hộ gia đình được tham gia. Tài sản này có thể là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất hoặc sở hữu chung theo phần

 

2.3.2 Năng lực chủ thể và trách nhiệm dân sự của hộ gia đình

 

2.3.2.1 Năng lực chủ thể của hộ gia định

 

Năng lực pháp luật dân sự của hộ gia đình tồn tại và chấm dứt song song với sự tồn tại và chấm dứt năng lực hành vi dân sự của hộ gia đình

 

– Năng lực pháp luật của hộ gia đình có tính chất chuyên biết

– Năng lực hành vi dân sự của hộ gia đình: việc tham gia các quan hệ dân sự để đem lại quyền và nghĩa vụ cho hộ gia đình được thực hiện thông qua hành vi của chủ hộ hoặc các thành viên khác của hộ gia đình.

 

Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Chủ hộ có thể ủy quyền cho các thành viên khác đã thành niên làm đại diện trong quan hệ dân sự, nhưng lưu ý:

 

– Việc ủy quyền phải tuân theo qui định của pháp luật

– Các thành viên của hộ gia đình có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình

 

2.3.2.2 Trách nhiệm dân sự của hộ gia đinh

 

Nếu hộ gia đình vi phạm các nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự của mình.

 

Việc chịu trách nhiệm của hộ gia đình được thực hiện theo trình tự:

 

– Tài sản chung của hộ dùng để chịu trách nhiệm dân sự

– Nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình

 

à Trách nhiệm dân sự của hộ gia đình là loại trách nhiệm dân sự vô hạn

 

2.4 Tổ hợp tác

 

2.4.1 Khái niệm và điều kiện của tổ hợp tác

 

Khái niệm: Tổ hợp tác là sự thỏa thuận liên kết giữa các cá nhân theo qui định của pháp luật dân sự để tham gia các quan hệ dân sự theo sự thỏa thuận liên kết đó.

 

Tổ hợp tác là chủ thể không thường xuyên của quan hệ pháp luật dân sự, được giới hạn bởi hợp đồng hợp tác mà các thành viên của tổ hợp tác thỏa thuận nội dung công việc hợp tác

 

Để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, tổ hợp tác phải thỏa mãn các điều kiện sau:

 

– Số lượng thành viên của tổ hợp tác tối thiểu phải từ ba cá nhân trở lên, các cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

– Các cá nhân phải cùng nhau thỏa thuận về những nội dung cụ thể của việc hợp tác

– Sự thỏa thuận của các cá nhân phải được thể hiện ở hợp đồng hợp tác và hợp đồng này phải có chứng thực của UBND cấp xã, phường, thị trấn

 

à Nhìn chung qui mô của tổ hợp tác còn nhỏ hẹp, cơ cấu tổ chức còn đơn gián

 

2.4.2 Thành lập và chấm dứt tổ hợp tác

 

2.4.2.1 Thành lập tổ hợp tác

 

Tổ hợp tác được thành lập theo sáng kiến của các tổ viên. Cá nhân buộc phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Mỗi tổ hợp tác chỉ có thể được hình thành nếu có ít nhất 3 tổ viên trở lên và mỗi cá nhân có thể là thành viên của nhiều tổ hợp tác

 

Các thành viên của tổ hợp tác cùng nhau thỏa thuận về hợp đồng hợp tác nhưng bắt buộc phải có các nội dung sau:

 

– Mục đích, thời hạn hợp đồng hợp tác

– Họ tên, nơi cư trú, chữ ký của tổ trưởng và các tổ viên

– Tài sản đống góp (nếu có), phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức giữa các tổ viên

– Quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các tổ viên, của tổ trưởng, ban điều hành (nếu có)

– Điều kiện kết nạp tổ viên mới và tổ viên ra khỏi tổ hợp tác

– Điều kiện chấm dứt tổ hợp tác

 

Sau khi hợp đồng hợp tác được haofn thành, các tổ viên của tổ hợp tác phải gửi ít nhất hai bản hợp đồng tới UBND cấp xã, phường, thị trấn. UBND chứng thực vào hợp đồng hợp tác có nội dung phù hợp với qui định của pháp luật trong thời gian không quá 5 ngày kể từ ngày nhận hợp đồng

 

2.4.2.2 Chấm dứt tổ hợp tác

 

Tổ hợp tác có thể chấm dứt sự tồn tại của mình nếu xuất hiện một trong các căn cứ do pháp luật qui định, trong các trường hợp sau:

 

– Hết thời hạn ghi trong hợp đồng hợp tác

– Mục đích của việc hợp tác đã đạt đc

– Các tổ viên thỏa thuận chấm dứt tổ hợp tác

– Tổ hợp tác chấm dứt theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong những trường hợp do pháp luật qui định

 

Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hoạt động, tổ hợp tác phải thông báo bằng văn bản về chấm dứt hoạt động của mình cho UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã chứng thực hợp đồng hợp tác

 

Tổ hợp tác chấm dứt tư cách chủ thể khi chấm dứt hoạt động. Nếu tài sản chung của tổ hợp tác không đủ thanh toán các khoản nợ thì lấy tài sản riêng của tổ viên để thanh toán theo nguyên tắc trách nhiệm liên đới tương ứng với phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình.

 

2.4.3 Năng lực chủ thể, hoạt động và trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác

 

2.4.3.1 Năng lực chủ thể của tổ hợp tác

 

Tổ hợp tác là chủ thể chuyên biệt, tính chuyên biệt được xác định bởi hợp đồng hợp tác được kí giữa các tổ viên. Năng lực chủ thể của tổ hợp tác là năng lực hạn chế, tức là tổ hợp tác không tham gia toàn bộ các quan hệ pháp luật dân sự.

 

Cơ sở hình thành tổ hợp tác là dựa trên sự thỏa thuận của các tổ viên của tổ hợp tác, sự thỏa thuận này không được vi phạm pháp luật và trái đạo đức xã hội.

 

Tổ hợp tác lựa chọn ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật khôn cấm, hoạt động không giới hạn theo phạm vi hành chính địa phương nơi tổ hợp tác chứng thực hợp đồng hợp tác.

 

Năng lực chủ thể của tổ hợp tác gắn liền với tổ hợp tác trong suốt quá trình tồn tại của tổ hợp tác. Nếu tổ hợp tác chấm dứt sự tồn tại thì năng lực chủ thể của tổ hợp tác cung chấm dứt.

 

2.4.3.2 Hoạt động của tổ hợp tác

 

Hoạt động của tổ hợp tác được tiến hành thông qua hành vi của tổ trưởng tổ hợp tác và hành vi của tổ viên tổ hợp tác.

 

– Tổ trưởng tổ hợp tác là người đại diện theo pháp luật của tổ hợp tác, có thể ủy quyền cho thành viên ban điều hành hoặc tổ viên thực hiện một số công việc nhất định theo qui định của pháp luật về ủy quyền.

 

Các giao dịch vì lợi ích chung của tổ hợp tác vẫn phải được sự đồng ý của đa số các tổ viên tổ hợp tác mới làm phát sinh nghĩa vụ của tổ hợp tác

 

– Ngoài việc trực tiếp đại diện cho tổ hợp tác trong các giao dịch dân sự, tổ trưởng tổ hợp tác có thể ủy quyền cho tổ viên thực hiện một số công việc nhất định cho tổ

 

2.4.3.3 Trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác

 

Nếu tổ hợp tác vi phạm thì phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình trước các chủ thể vị vi phạm. Tổ hợp tác phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh tổ hợp tác. Trách nhiệm dân sự của tổ hợp tác là trách nhiệm ,dân sự liên đới, vô hạn.

 

2.5 Nhà nước CHXHCN Việt Nam – Chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự

 

Nhà nước CHXHCN Việt Nam là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự và tham gia các quan hệ dân sự sau:

 

– Đối với quan hệ pháp luật về sở hữu: Nhà nước là đại diện cho sở hữu toàn dân, có quyền sở hữu đối với đất đai và những tài sản quan trọng khác.

– Đối với quan hệ hợp đồng, nhà nước có thể tham gia các quan hệ hợp đồng cụ thể thông qua các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các hợp đồng có ý nghĩa  lớn đối với đời sống kinh tế xã hội của đất nước

– Nhà nước tham gia vào quan hệ thừa kế theo di chúc, sở hữu di sản không có người thừa kế.

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LUẬT DÂN SỰ MODULE 1 – CHƯƠNG 3 – GIAO DỊCH DÂN SỰ

 

Chương 3: GIAO DỊCH DÂN SỰ

 

  1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ

 

1.1 Khái niệm giao dịch dân sự

 

Giao dịch dân sự được hình thành từ hai tiền đề:

 

– Tiền đề khách quan: do sự phát triển của xã hội, giao dịch dân sự trở thành phương tiện hữu hiệu để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể

– Tiền đề chủ quan: Chủ thể tham gia giao dịch dân sự nhằm thỏa mãn lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần của chủ thể, và do ý chí tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch đó.

 

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

 

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự là các quyền và nghĩa vụ của chủ thể được pháp luật đảm bảo thực hiện.

 

1.2 Phân loại giao dịch dân sự

 

1.2.1 Căn cứ vào sự thể hiện ý chí của chủ thể trong việc xác lập giao dịch dân sự

 

– Hành vi pháp lý đơn phương: là sự tuyên bố ý chí công khai của một phía chủ thể nên việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự trước hết phụ thuộc vào ý chí của chủ thể đó. Ví dụ: lập di chúc

– Hợp đồng dân sự: là thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

 

1.2.2 Căn cứ vào sự tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch dân sự

 

– Giao dịch dân sự được phát sinh theo ý chí của chủ thể:     là các giao dịch nhằm thỏa mãn lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần của chủ thể, do đó chủ thể có toàn quyền quyết định có tham gia vào giao dịch dân sự đó hay không

– Giao dịch dân sự được phát sinh theo ý chí của nhà nước: là các giao dich vì lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước hoặc vì những lý do khác. Trong trường hợp này buộc các chủ thể phải tham gia giao dịch.

 

1.2.3 Căn cứ vào hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự được xác lập

 

– Giao dịch dân sự có hậu quả pháp lý là làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự.

– Giao dịch dân sự có hậu quả pháp lý là làm thay đổi quyền và nghĩa vụ dân sự.

– Giao dịch dân sự có hậu quả pháp lý là làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.

 

1.2.4 Căn cứ vào hình thức thể hiện của giao dịch dân sự

 

– Giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức lời nói: được áp dụng đối với các giao dịch dân sự mà chủ thể có sự quen biết, tin cậy lẫn nhau, đối tượng của giao dịch có giá trị nhỏ hoặc với các giao dịch dân sự phát sinh hậu quả pháp lý sau khi thỏa thuận và các bên thực hiện nghĩa vụ ngay sau đó giao dịch chấm dứt.

– Giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức văn bản: hình thức văn bản có thể do pháp luật qui định hoặc do các bên thỏa thuận. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.

– Giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức hành vi cụ thể: bán hàng qua máy tự động, rút tiền ở các máy rút tiền

 

1.2.5 Giao dịch dân sự có điều kiện

 

Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra giao dịch dân sự tự phát sinh hoặc hủy bỏ. Điều kiện trong giao dịch dân sự có thể do một bên đưa ra hoặc do các bên thỏa thuận.

 

Điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện có thể là điều kiện làm phát sinh hoặc điều kiện làm hủy bỏ giao dịch.

 

Điều kiện trong giao dịch dân sự phải là những điều kiện có thể xảy ra trong tương lai, có thể thực hiện được và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

 

Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của nguời thứ ba thì coi như điều kiện đó đã xảy ra. Nếu có sự tác động của một bên hoặc của người thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.

 

  1. ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ

 

2.1 Khái niệm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

 

Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là điều kiện do pháp luật qui định mà một giao dịch dân sự muốn phát sinh hiệu lực pháp lý thì phải thỏa mãn những điều kiện đó

 

2.2 Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

 

2.2.1 Điều kiện về chủ thể tham gia

 

Người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự

 

2.2.1.1 Đối với cá nhân

 

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự

 

– Đối với người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: có toàn quyền trong việ xác lập, thực hiện các giao dịch vì lợi ích của mình hoặc lợi ích của người khác

 

– Đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi:

 

+ Pháp luật dân sựu đã chấp nhận một số giao dịch dân sự nhất định phát sinh hậu quả pháp lý nếu giao dịch dân sự đó do người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi xác lập thực hiện

+ Nếu pháp luật có qui định khác thì giao dịch dân sự của người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật

+ Nếu pháp luật qui định với các giao dịch dân sự liên quan đến người chưa thành niên từ đủ 15 đến dưới 18 tuồi buộc phải có sự đồng ý bằng văn bản của người này thì giao dịch dân sự cũng phải đáp ứng qui định này.

 

– Đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần (từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi, người bị tòa án ra quyết định hạn chế năng lực hành vi dân sự): khi xác lập thực hiện giao dịch, phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi.

 

– Đối với người dưới 6 tuổi, người bị tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự: thì không được xác lập thực hiện giao dịch dân sự, mọi giao dịch dân sự của họ đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập thực hiện.

 

2.2.1.2 Đối với pháp nhân

 

– Pháp nhân là một thực thể pháp lý, khi tham gia giao dịch dân sự phải thông qua hành vi của người đại diện của pháp nhân

 

– Trong việc tham gia giao dịch dân sự, pháp nhân được phép tham gia các giao dịch phù hợp với mục đích hoạt động, phạm vi hoạt động, lĩnh vực kinh doanh của pháp nhân

 

2.2.1.3 Đối với hộ gia đính

 

– Các giao dịch dân sự mà hộ gia đình tham gia phải là những giao dịch được phép theo qui định của pháp luật, vì hộ gia đình là chủ thể hạn chế của quan hệ pháp luật dân sự.

 

– Các giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập thực hiện vì lợi ích chung của hộ gia đình làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ

 

– Đối với việc định đoạt tư liệu sản xuất và tài sản chung có giá trị lớn thì buộc phải có sự đồng ý của các thành viên trong hộ từ đủ 15 tuổi trở lên; Đối với tài sản chung khác phải được sự đồng ý của đa số các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên

 

2.2.1.4 Đối với tổ hợp tác

 

– Các giao dịch dân sự mà tổ hợp tác tham gia cũng là giao dịch bị hạn chế theo qui định của pháp luật, tính hạn chế này được xác định bởi hợp đồng hợp tác.

 

– Các giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập thực hiện vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác theo quyết định của đa số tổ viên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả tổ hợp tác.

 

– Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải được toàn thể tổ viên đồng ý, đối với các loại tài sản khác phải được đa số tổ viên đồng ý.

 

2.2.2 Điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch

 

Mục đích của giao dịch dân sự là những lợi ích (vật chất hoặc tinh thần)  hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó.

 

Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

 

Điều cấm của pháp luật là những qui định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

 

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

 

2.2.3 Điều kiện về ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự

 

Điều kiện về ý chí của chủ thể là khi tham gia giao dịch chủ thể phải có sự tự nguyện.

 

Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của chủ thể và phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định. Ý chí này phải được kiểm soát bởi lý trí của chủ thể. Khi nguyện vọng bên trong thể hiện ra bên ngoài đúng như vậy thì khi đó cho thấy chủ thể có sự tự nguyện.

 

Những trường hợp sau đây chủ thể không có sự tự nguyện khi tham gia giao dịch:

 

2.2.3.1 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự giả tạo

 

Là giao dịch dân sự được xác lập để che dấu một giao dịch khác hoặc để trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.

 

* Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm che giấu một giao dịch khác: Giao dịch giả tạo để che giấu giao dịch khác luôn vô hiệu, còn giao dịch bên trong (bị che giấu) vẫn có hiệu lực pháp lý. Nếu giao dịch bên trong cũng vi phạm vào các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì giao dịch đó cũng vô hiệu.

 

* Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba, thể hiện ở hai trường hợp.

 

– Bản thân chủ thể tham gia giao dịch đã tồn tại một nghĩa vụ với chủ thể khác, do đó để trốn tránh nghĩa vụ này, chủ thể đẫ xác lập giao dịch giả tạo.

– Khi tham gia giao dịch chủ thể có thể phải thực hiện một nghĩa vụ đối với nhà nước, nhưng chủ thể đã xác lập giao dịch với sự giả tạo.

 

* Trên thực tế có trường hợp một giao dịch dân sự được thể hiện ra bên ngoài nhưng hoàn toàn không có thực và cũng không nhằm che giấu một giao dịch nào cả à giao dịch dân sự được xác lập bởi sự tưởng tượng.

 

2.2.3.2 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự nhầm lẫn

 

Bản thân chủ thể xác lập giao dịch có sự nhầm lẫn nhưng chỉ xác định là giao dịch dân sự được xác lập bởi sự nhầm lẫn nếu chủ thể phía bên kia có lỗi vô ý.

 

Bên cạnh sự nhầm lẫn về nội dung của giao dịch còn có sự nhầm lẫn về chủ thể xác lập giao dịch.

 

2.2.3.3 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự lừa dối

 

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

 

2.2.3.4 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự đe dọa

 

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.

 

Để có thể xác định là giao dịch dân sự được xác lập bởi sự đe dọa phải đáp ứng các điều kiện:

 

– Bên đe dọa thực hiện hành vi đe dọa với lỗi cố ý, mục đích là làm phía bên kí phải xác lập giao dịch dân sự với mình hoặc chủ thế mà bản thân bên đe dọa mong muốn.

– Hành vi đe dọa nhằm làm cho bên bị đe dọa hoàn toàn tê liệt ý chí mà không còn sự lựa chọn nào khác

– Chủ thể bị đe dọa có thể là một bên trong giao dịch nhưng cũng có thể là người khác

– Hành vi đe dọa chưa gây thiệt hại về đối tượng đe dọa mà hành vi đó hướng tới, tức là bên bị đe dọa mới chỉ sợ hãi về hậu quả của sự đe dọa có thể xảy ra

 

2.2.3.5 Giao dịch dân sự được xác lập mà vào thời điểm xác lập, người xác lập không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình

 

Việc không nhận thức và làm chủ được hành vi của chủ thể khi xác lập giao dịch có thể do ý chí chủ quan của người này nhưng cũng có thể do chủ thể khác hoặc do nguyên nhân khách quan.

 

2.2.4 Điều kiện về hình thức của giao dịch dân sự

 

Về nguyên tắc, nếu pháp luật không qui định hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì giao dịch dân sự có hiệu lực pháp lý khi thỏa mãn các điều kiện được qui đinh trong BLDS.

 

Nếu pháp luật qui định giao dịch dân sự buộc phải tuân theo hình thức đó thì khi xác lập giao dịch chủ thể phải tuân theo.(Điều 122)

 

2.3 Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

 

2.3.1 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu

 

Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không thỏa mãn một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật qui định.

 

2.3.2 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu

 

2.3.2.1 Dựa vào thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

 

* Giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:

 

– Là những giao dịch mà mức độ vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là nghiêm trọng nên theo qui định của pháp luật, một số giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

– Bất  cứ lúc nào chủ thể cũng có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu, thậm chí nếu không có yêu cầu thì giao dịch đó cũng bị xác định là vô hiệu.

 

* Giao dịch dân sự bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:

 

– Mức độ vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch không nghiêm trọng.

– Tùy thuộc vào lợi ích của mình mà các chủ thể có thể hoặc không yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

 

2.3.2.2 Dựa vào mức độ vi phạm đối với từng giao dịch dân sự cụ thể

 

* Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ:

 

– Tất cả nội dung của giao dịch đều vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch.

– Có một số nội dung của giao dịch vô hiệu nhưng trực tiếp ảnh hưởng tới các phần còn lại của giao dịch.

 

* Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần:

 

– Có một số nội dung của giao dịch vi phạm vào các điều kiện có hiệu lực của giao dịch, còn các nội dung khác không vi phạm.

– Một phần của giao dịch vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến các phần khác của giao dịch.

 

2.3.2.3 Dựa vào mức độ vi phạm nghiêm trọng hay không nghiêm trọng của giao dịch dân sự

 

* Giao dịch dân sự đương nhiên vô hiệu: chính là các giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu.

 

* Giao dịch dân sự vô hiệu khi có yêu cầu là giao dịch dân sự bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

 

2.3.2.4 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu theo qui định của BLDS 2005

 

– Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

– Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

– Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện

– Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

– Giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa, bị lừa dối

– Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi cuả mình

– Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ qui định về hình thức

 

2.3.3 Thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

 

* Các giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu: là những giao dịch mà mức độ vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch là nghiêm trọng. Gồm: giao dịch dân sựu vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội, giao dịch dân sự xác lập do giả tạo.

 

* Giao dịch dân sự có thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 2 năm kể từ ngày xác lập giao dịch gồm:

 

– Giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện.

– Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

– Giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa, bị lừa dối

– Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi cuả mình

– Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ qui định về hình thức

 

* Trong việc xác định thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự cần lưu ý:

 

– Đối với giao dịch dân sự được giao kết trước ngày 1/7/1996 thuộc trường hợp qui định tại Khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 bao gồm: nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội, một hoặc các bên không có quyền giao kết hợp đồng thì thời gian yếu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.

– Đối với giao dịch dân sự được giao kết trước ngày 1/7/1996 thuộc trường hợp qui định tại Khoản 2 và 3, Điều 15 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 bao gồm: hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện, hợp đồng dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn, hợp đồng dân sự vô hiệu do bị đe dọa, bị lừa dối, thì thời hạn yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo Qui định tại Điều 56 của Pháp lệnh hợp đồng dân sựu là 3 năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.

– Đối với giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 1/7/1996 đến trước ngày 1/1/2005 mà BLDS và các văn bản pháp luật khác không qui định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu, thì kể từ ngày 1/1/2005, việc xác định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được xác định theo điều 159 BLTTDS

– Đối với giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 1/1/2005 thì thời hiệu khởi kiện được thực hiện theo qui định của BLTTDS 2004

– Các qui định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự cũng được áp dụng khi xem xét đến thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

 

2.3.4 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

 

Việc xác định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu căn cứ vào mức độ vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và căn cứ vào yếu tố lỗi của chủ thể.

 

Hậu quả pháp lý trực tiếp mà các chủ thể phải gánh chịu bao gồm:

 

– Khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền. Trong trường hợp các bên chưa thực hiện giao dịch thì không thực hiện giao dịch, nếu giao dịch thực hiện đến đâu thì dừn đến đó.

– Đối với những trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo qui định của pháp luật: là do các giao dịch dân sự có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật

– Khi giao dịch dân sự vô hiệu cần xác định lỗi của các bên để yêu cầu bồi thường cũng như để các bên phải chịu hậu quả khác tương ứng với mức độ lỗi của mình

 

2.3.5 Vấn đề về bảo vệ quyền của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

 

Người thứ ba ở đây chỉ là người liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu chứ không phải một bên trong giao dịch dân sự vô hiệu. Khi bảo vệ quyền lợi của người thứ ba khi giao dịch dân sự vô hiệu cần chú ý:

 

– Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giáo bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp qui định tại Điều 257

 

– Trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ban gay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba nhận được tài sản này thông qua qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị sửa.

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LUẬT DÂN SỰ MODULE 1 – CHƯƠNG 4 – ĐẠI DIỆN DÂN SỰ

 

Chương 4 : ĐẠI DIỆN

 

  1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠI DIỆN

 

1.1 Khái niệm đại diện

 

Đại diện là:“việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện” (Khoản 1 Điều 139 BLDS 2005).

 

Như vậy, đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự bao gồm hai bên chủ thể là bên đại diện và bên được đại diện. Quan hệ đại diện này làm phát sinh một quan hệ nữa là quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba, theo ý chí và vì lợi ích của người được đại diện. “Người” trong định nghĩa trên không phải chỉ một cá nhân cụ thể, mà chỉ tất cả các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự.

 

Tất cả các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự (cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, nhà nước ) đều có quyền được có người đại diện cho mình trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm phục vụ cho quyền và lợi ích của mình. Tuy nhiên, cá nhân không được người khác đại diện cho mình nếu pháp luật qui định học phải tự mình xác lập thực hiện giao dịch đó. Ví dụ: pháp luật không công nhận việc một cá nhân ủy quyền cho người khác thay mình làm thủ tục ly hôn, kết hôn, hay lập di chúc, làm chứng minh thư nhân dân …. (các công việc có liên quan tới yếu tố nhân thân).

 

1.2 Đặc điểm của quan hệ đại diện

 

Ngoài các đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự nói chung, quan hệ đại diện còn có các đặc điểm riêng sau đây:

 

* Đại diện làm phát sinh hai mối quan hệ cùng tồn tại song song là quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài.

 

Quan hệ bên trong là quan hệ được hình thành giữa người đại diện và người được đại diện. Quan hệ này có thể được hình thành từ hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Ví dụ: theo quy định tại Điều 21 BLDS thì mọi giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực  hiện. Điều này có nghĩa là quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện (6 tuổi) trong trường hợp này được xác lập theo pháp luật chứ không phải theo hợp đồng.

 

Quan hệ bên ngoài là quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba.

 

Quan hệ bên trong là tiền đề là cơ sở cho sự xuất hiện và tồn tại của quan hệ bên ngoài. Quan hệ bên ngoài thực hiện bởi quan hệ bên trong.

 

Tuy nhiên trên thực tế vẫn tồn tại mối quan hệ gián tiếp giữa người được đại diện và người thứ ba về trách nhiệm và lợi ích.

 

* Trong quan hệ đại diện, người đại diện nhân danh người được đại diện để xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba

 

Người đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba là nhân danh người được đại diện chứ không phải nhân danh bản thân họ, vì vậy các quyền và nghĩa vụ do người đại diện thực hiện  trong phạm vi thẩm quyền đại diện với người thứ ba đều thuộc về người được đại diện. Người đại diện có thể được hưởng những lợi ích nhất định từ người được đại diện do thực hiện hành vi đại diện với người thứ ba, chứ không được hưởng bất ký lợi ích gì từ người thứ ba.

 

Trong giao dịch do người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập thực hiện phát sinh với người thứ ba chứ không phải người được đại diện là người trực tiếp xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba, trong trường hợp người đại diện hoạt động với danh nghĩa riêng thì không có quan hệ đại diện.

 

* Người đại diện tuy nhân danh cho người được đại diện nhưng vẫn có sự chủ động trong việc xác lập thực hiện giao dịch dân sự

 

Người đại diện tuy nhân danh cho người được đại diện và thẩm quyền của họ bị giới hạn trong phạm vi đại diện theo thỏa thuận hay theo qui định của pháp luật nhưng họ vẫn có sự chủ động trong khi tiến hành các công việc cần thiết để đạt được mục đích là vì lợi ích của người được đại diện.

 

Ví dụ: A đại diện theo ủy quyền mua nhà cho B thì A vẫn được thể hiện ý chí của mình qua việc thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng với người thứ ba nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho A.

 

* Trong quan hệ đaị diện, người được đại diện trực tiếp thu nhận các kết quả pháp lý do hoạt động của người đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện mang lại

 

Các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập thực hiện với người thứ ba đều thuộc về người được đại diện, điều này có nghĩa là quan hệ pháp luật dân sự phát sinh giữa người được đại diện và người thứ ba, chứ không phải giữa người trực tiến hành xác lập giao dịch dân sự – người đại diện với người thứ ba.

 

2.CÁC HÌNH THỨC ĐẠI DIỆN

 

2.1 Đại diện theo pháp luật

 

* Điều 140 BLDS 2005 đưa ra khái niệm đại diện theo pháp luật như sau: “đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật qui định hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định”. Căn cứ vào qui định này ta thấy đại diện theo pháp luật cũng được chia làm hai loại, đó là:

 

– Đại diện theo pháp luật qui đinh là đại diện đương nhiên, ổn định về người đại diện, về thẩm quyền đại diện. Đó là các trường hợp: cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên, người giám hộ đương nhiên đại diện cho người giám hộ, người đứng đầu pháp nhân đại diện cho pháp nhân, chủ hộ đại diện cho hộ gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác đại diện cho tổ hợp tác.

 

– Đại diện theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là đại diện chỉ định, không có tính ổn định về người đại diện cũng như thẩm quyền đại diện. Đó là các trường hợp: người giám hộ cử với người được giám hộ, người được tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, trong môt số trường hợp người đứng đầu pháp nhân có thể được xác định theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

Căn cứ để hình thành quan hệ này là ý chí của nhà nước, pháp luật qui định mối quan hệ theo pháp luật được xác lập dựa trên các mối quan hệ đã tồn tại sẵn chứ không theo ý chí hay sự tỏa thuận, định đoạt của các chủ thể.

 

* Các chủ thể trong quan hệ đại diện theo pháp luật:

 

– Người được đại diện:

 

+ Nếu người được đại diện là cá nhân, thì phải là người không có khả năng trực tiếp tham gia vào bất cứ giao dịch dân sự nào nên pháp luật qui định phải có những chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi cho họ trong việc xác lập thực hiện các giao dịch dân sự. Đó là người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mắc các bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, người bị tòa án ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.

 

+ Nếu người được đại diện là pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình khi tham gia vào các giao dịch dân sự bắt buộc phải thông qua người đại diện

 

– Người đại diện: phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Người đại diện theo pháp luật là người có mối quan hệ đặc biệt với người được đại diện: quan hệ huyết thống (ví dụ: cha, mẹ với con cái … ), quan hệ pháp lý ( ví dụ: quan hệ giám hộ … ).

 

* Các căn cứ để nhận biết các quan hệ đại diện theo pháp luật đang tồn tại là:

 

– Căn cứ vào giấy khai sinh của con chưa thành niên để biết ai là người đại diện theo pháp luật.

 

– Căn cứ vào xác nhận của UBND xã, phường nơi người giám hộ cư trú để biết ai là người đại diện theo pháp luật của người được giám hộ.

 

– Căn cứ vào quyết định của tòa án khi tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự để biết ai là người đại diện cho người này.

 

– Căn cứ vào sổ hộ khẩu của gia đình để biết ai là người đại diện theo pháp luật cho hộ gia đình.

 

– Căn cứ vào hợp đồng hợp tác có xác nhận của UBND xã, phường để biết ai là người đại diện cho tổ hợp tác.

 

– Căn cứ vào Đăng kí kinh doanh, Điều lệ hoặc Quyết định thành lập pháp nhân để biết ai là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân.

 

Tóm lại, quan hệ đại diện theo pháp luật là quan hệ dân sự mang tính chất ổn định và bền vững dựa trên mối quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện là mối quan hệ huyết thống hay mối quan hệ pháp lý. Vì vậy người đại diện thực hiện quan hệ đại diện vì trách nhiệm với người được đại diện và không được hưởng tiền công trong mối quan hệ này.

 

2.2 Đại diện theo ủy quyền

 

* Khái niệm và đặc điểm

 

Theo Khoản 1 Điều 142: “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện” ,

 

Từ khái niệm trên có thể rút ra các đặc điểm của hình thức này là:

 

– Đại diện theo ủy quyền là hình thức đại diện tự nguyện, theo sự thỏa thuận giữa người đại diện và người được đại diện, thể hiện bằng hợp đồng ủy quyền ( giấy ủy quyền ). Trên thực tế, việc đại diện theo ủy quyền diễn ra rất phổ biến, các bên có thể thỏa thuận cho nhau tiến hành giao dịch dưới nhiều hình thức, kể cả bằng miệng; tuy nhiên đối với các trường hợp pháp luật qui định việc ủy quyền phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo hình thức đó mới có giá trị pháp lý.

 

– Ủy quyền là căn cứ làm phát sinh quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện; đồng thời nó cũng là cơ sở để người ủy quyền tiếp nhận các kết quả pháp lý do hoạt động ủy quyền mang lại. Vì vậy khi ủy quyền phải xác định rõ phạm vi đại diện, thời hạn thời hiệu của việc phát sinh, chấm dứt ủy quyền, mức độ ủy quyền … trong hợp đồng ủy quyền.

 

– Khác với đại diện theo pháp luật, hai bên chủ thể trong quan hệ đại diện đều phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp qui định tại Khoản 2 Điều 143 BLDS 2005 “ người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật qui định  giao dịch dân sự phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện”

 

* Các chủ thể trong quan hệ đại diện theo ủy quyền:

 

– Người đại diện theo ủy quyền có các loại:

 

+ Đại diện theo ủy quyền của cá nhân: đại diện theo ủy quyền của cá nhân có thể là cá nhân, ví dụ: A ủy quyền cho B đứng ra kí kết hợp đồng thuê nhà; đại diện theo ủy quyền của cá nhân cũng có thể là pháp nhân, ví dụ: A ủy quyền cho công ty luật X đứng ra kí kết hợp đồng thuê nhà.

 

+ Đại diện theo ủy quyền của pháp nhân: là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền cho người khác xác lập thực hiện giao dịch dân sự. Ví dụ: A là tổng giám đốc của công ty Y, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của công ty này. A ủy quyền cho B là nhân viên công ty thay mình kí kết hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng với công ty Z. Trong trường hợp này B là người đại diện theo ủy quyền của công ty Y.

 

+ Đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình và tổ hợp tác: người được ủy quyền chỉ có thể là thành viên trong hộ gia đình hay trong tổ hợp tác mà thôi.

 

– Người được ủy quyền phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (trừ trường hợp người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi có thể có quyền là người đại diện trong một số trường hợp nhất định theo qui định tại Khoản 2 Điều 143 BLDS 2005 ).

 

* Căn cứ pháp lý để nhận biết quan hệ ủy quyền là hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền. Hợp đồng ủy quyền và giấy ủy quyền có thể do pháp luật qui định, nếu pháp luật không qui định các bên có thể tự thỏa thuận để lựa chọn hình thức công chứng, chứng thực cho hợp đồng ủy quyền của mình.

 

Tóm lại, ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác của quan hệ dân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có thể tham gia vào giao dịch dân sự một các thuận lợi nhất, đảm bảo thỏa mãn nhanh chóng các lợi ích mà chủ thể quan tâm. Người đại diện trong quan hệ ủy quyền có thể được hưởng lương, lợi ích từ quan hệ ủy quyền nếu các bên có thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền.

 

  1. PHẠM VI THẨM QUYỀN ĐẠI DIỆN

 

3.1 Khái niệm phạm vi  thẩm quyền đại diện

 

Người đại diện thực hiện hành vi nhân danh người được đại diện, bởi vậy cần phải có một giới hạn nhất định cho hành vi đó. Giới hạn này chính là phạm vi thẩm quyền đại diện. Phạm vi thẩm quyền đại diện là giới hạn quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong việc nhân danh người được đại diện  xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba.

 

* Tùy thuộc vào quan hệ đại diện là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền, phạm vi thẩm quyền đại diện được xác định khác nhau:

 

– Đối với người đại diện theo pháp luật: Khoản 1 Điều 144 BLDS 2005 qui định như sau “người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác.”

 

+ Thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật là thẩm quyền rộng, pháp luật cho họ quyền chủ động tối đa trong việc lựa chọn, xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện.

 

+ Căn cứ để xem xét tính hợp pháp của các giao dịch dân sự do người đại diện xác lập chính là: giao dịch ấy có xuất phát từ lợi ích của người được đại diện hay không? và có ảnh hưởng tới quyền lợi của người được đại diện hay không?

 

+ Đối với trường hợp đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, đại diện cho pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác thì  thẩm quyền của người đại diện bị giới hạn trong phạm vi hẹp hơn phụ thuộc vào năng lực chủ thể của các tổ chức đó hoặc do pháp luật qui định.

 

– Đối với người đại diện theo ủy quyền: “phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền” ( Khoản 2 Điều 144 BLDS 2005).

 

+ Thẩm quyền của người đại diện bị giới hạn bởi  nội dung ghi trong hợp đồng ủy quyền hay giấy ủy quyền.

 

+ Thẩm quyền đại diện theo ủy quyền phụ thuộc vào từng loại ủy quyền: Ủy quyền một lần, ủy quyền riêng biệt hay ủy quyền chung. Ủy quyền một lần chỉ cho phép đại diện thực hiện một công việc cụ thể và chấm dứt luôn (ví dụ: nhận giúp bưu kiện, tiền lương, bán nhà, mua nhà … ). Ủy quyền riêng biệt qui định thẩm quyền đại diện trong một thời gian nhất định, đối với một loại hành vi nhất định (ví dụ: đại diện cho chủ sở hữu thu tiền thuê nhà trong một thời gian nhất định …).  Ủy quyền chung, thẩm quyền đại diện có hiệu lực đối với nhiều loại hành vi trong một thời gian nhất định.

 

Nếu được sự đồng ý của người được đại diện thì người đại diện có thể ủy quyền lại cho người khác. Nếu trong hợp đồng chỉ ghi cho phép người được ủy quyền có thể ủy quyền lại cho người khác nếu thấy cần thiết thì người được ủy quyền vẫn bị ràng buộc trách nhiệm ở vị trí trung gian. Nếu người ủy quyền đồng ý cho người được ủy quyền được ủy quyền lại cho một người cụ thể đã được người ủy quyền kiểm tra các yếu tố về nhân thân, khả năng tài chính, toàn bộ nội dung của quan hệ ủy quyền thì coi như một quan hệ chuyển giao quyền và nghĩa vụ được xác lập. Theo đó, người được ủy quyền sẽ lại chịu trách nhiệm trực tiếp trước người ủy quyền và quan hệ của người được ủy quyền chấm dứt.

 

* Việc xác định phạm vi thẩm quyền đại diện có một số ý nghĩa pháp lý quan trọng:

 

– Về nguyên tắc, theo  Khoản 3 Điều 144 BLDS 2005: “người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”. Tức là trong phạm vi đại diện, người đại diện xác lập thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba, sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện với người thứ ba. Thậm chí nếu người đại diện có lỗi trong khi xác lập thực hiện giao dịch đó nhưng vẫn nằm trong phạm vi thẩm quyền của người đại diện mà gây thiệt hại cho người thứ ba thì trách nhiệm và nghĩa vụ vẫn thuộc về người được đại diện, người đại diện có lỗi sẽ phải chịu trách nhiệm độc lập với người được đại diện.

 

– Công khai là một nguyên tắc của đại diện, để bảo vệ lợi ích chính đáng cho người thứ ba (người xác lập giao dịch dân sự với người đại diện) pháp luật qui định người đại diện có trách nhiệm và nghĩa vụ phải thông báo cho người thứ ba biết về phạm vi thẩm quyền đại diện của mình (theo qui định tại Khoản 4 Điều 144 BLDS 2005).

 

– Phạm vi đại diện là căn cứ để xem xét tính hiệu lực của một số giao dịch do người đại diện xác lập thực hiện: “người đại diện không được xác lập thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác” (Khoản 5 Điều 144 BLDS 2005). Qui định này nhằm ngăn ngừa và loại trừ những giao dịch dân sự được xác lập thực hiện có thể đem lại hậu quả bất lợi cho người được đại diện. Người đại diện xác lập thực hiện các giao dịch dân sự để mang lại lợi ích cho người được đại diện. Cụ thể:

 

+ Người đại diện không được xác lập thực hiện giao dịch dân sự với chính mình vì trong trường hợp này không có quan hệ đại diện. Ví dụ: A ủy quyền cho B bán xe máy của mình, nhưng B lại mua chính chiếc xe máy mà A ủy quyền cho mình bán. Ở đây không có đại diện vì không có người thứ ba tham gia vào giao dịch dân sự mua bán xe với A. Nếu để B mua xe này  mà không có sự thỏa thuận, một mình B sẽ định đoạt, xâm phạm quyền lợi của A để thu lợi cho mình.

 

+ Người đại diện không được thực hiện các giao dịch dân sự với người thứ ba mà mình cũng là đại diện cho họ, vì như vậy chỉ có một mình người đại diện thể hiện ý chí, không có sự thương lượng, thỏa thuận nào cả, điều đó cũng dễ dẫn đến lạm dụng phạm vi thẩm quyền đại diện. Ví dụ: A ủy quyền cho B cho thuê nhà mình, C ủy quyền cho B mượn nhà để ở, Trong trường hợp này B không thể đại diện cho cả A và C để giao kết hợp đồng mượn nhà ở được.

 

3.2 Trường hợp không có thẩm quyền đại diện và vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện.

 

Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập thực hiện chỉ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện trong phạm vi đại diện, vì giao dịch đó được thực hiện phù hợp với ý chí và lợi ích của người được đại diện. Tuy nhiên, trong thực tế có trường hợp giao dịch dân sự được xác lập thực hiện không phải do người đại diện hoặc do người  đại diện xác lập nhưng vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện, để xử lý tình huống này, pháp luật đã qui định về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập và hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập thực hiện vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện ( Điều 145 và Điều 146 BLDS 2005 ) như sau:

 

* Nếu giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập thực hiện:

 

– Giao dịch này không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện. Tuy nhiên, nếu sau đó người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý chấp nhận giao dịch đó thì vẫn mang lại quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện.

 

– Người đã giao dịch với người không có thẩm quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời trong thời hạn ấn định. Nếu hết thời hạn ấn định mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện. Ví dụ: Cháu A mồ côi cả cha lẫn mẹ, có B làm giám hộ, nhưng C là người quen của B đứng ra bán chiếc xe đạp của cháu A (do bố mẹ cháu để lại) cho D lúc B đi vắng và gửi lại B tiền bán xe đạp. Sau một thời gian, D phát hiện ra C không có quyền bán chiếc xe đạp đó nên đã liên hệ với B để hỏi ý kiến B. Nếu B chấp nhận quan hệ bán xe đạp của C thì giao dịch đó vẫn có giá trị, còn nếu B không chấp nhận thì giao dịch đó không có giá trị đối với A.

 

– Trong trường hợp người được đại diện hoặc người đại diện của người này không chấp nhận giao dịch do người không có thẩm quyền đại diện xác lập thực hiện thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện. Tuy nhiên giao dịch đó vẫn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ với người không có thẩm quyền đại diện đối với người đã giao dịch, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có thẩm quyền đại diện.

 

+ Nếu người đã giao dịch với người không có thẩm quyền đại diện biết hoặc phải biết về việc không có thẩm quyền mà vẫn xác lập thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không có hiệu lực bởi có sự cố ý của cả hai bên khi xác lập giao dịch dẫn tới sự vi phạm nguyên tắc trung thực trong khi giao kết hợp đồng dân sự.

 

+ Nếu người đã giao dịch với người không có thẩm quyền đại diện không biết hoặc không thể biết về việc không có thẩm quyền đại diện thì họ có thể: chấp nhận giao dịch đã xác lập với người không có thẩm quyền đại diện và có quyền yêu cầu người đó thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng với mình hoặc có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch đã xác lập và yêu cầu người không có thẩm quyền đại diện phải bồi thường thiệt hại cho mình.

 

* Nếu giao dịch dân sự do người đại diện xác lập vượt quá phạm vi đại diện:

 

– Giao dịch này không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần vượt quá phạm vi đại diện; trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối thì coi như giao dịch đó không vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện và vẫn có hiệu lực đối với người được đại diện; nếu không được sự đồng ý thì người đại diện phải thực hiện phần nghĩa vụ  đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, tức là người đại diện phải tự chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá thẩm quyền đó.

 

– Tuy giao dịch dân sự do người đại diện xác lập thực hiện vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện nhưng giao dịch đó vẫn có giá trị pháp lý đối với người đã xác lập thực hiện giao dịch nếu người đó không biết hoặc không thể biết về việc vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện. Lúc này người đã giao dịch với người vượt quá phạm vi đại diện có thể:  đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại; hoặc yêu cầu người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện.

 

– Trường hợp người đã xác lập giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá thẩm quyền đại diện mà vẫn xác lập giao dịch thì giao dịch đó vô hiệu. Nếu giao dịch đã xác lập gây thiệt hại cho người được đại diện thì người đại diện vượt quá phạm vi đại diện và người đã xác lập giao dịch phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.

 

  1. CHẤM DỨT ĐẠI DIỆN

 

Cũng như các quan hệ pháp luật dân sự khác, quan hệ đại diện không thể tồn tại mãi mãi, nó sẽ chấm dứt khi xảy ra những sự kiện pháp lý nhất định. Khi chấm dứt đại diện mọi hậu quả pháp lý phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện đều không có giá trị pháp lý đối với người được đại diện.

 

4.1 Chấm dứt đại diện theo pháp luật

 

Hình thức đại diện theo pháp luật sẽ chấm dứt khi chủ thể được đại diện không còn là đối tượng được pháp luật bảo vệ nữa, như: khi cá nhân đã có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi hoặc khi cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình không còn tồn tại

 

* Chấm dứt đại diện theo pháp luật của cá nhân: Khoản 1 Điều 147 BLDS qui định đại diện theo pháp luật của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau:

 

– Người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục:

 

+ Con đã thành niên (đủ 18 tuôi) thì cha mẹ không còn là người đại diện nữa.

 

+ Tòa án tuyên bố hủy bỏ quyết định mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự của một cá nhân thì người giám hộ được Tòa án chỉ định không còn là người đại diện theo pháp luật cho người này nữa.

 

– Người được đại diện chết.

 

– Các trường hợp khác do pháp luật qui định: ví dụ: người đại diện mất năng lực hành vì dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, phải chấp hành án phạt tù …

 

* Chấm dứt đại diện theo pháp luật của pháp nhân: Được qui định tại Khoản 1 Điều 148 BLDS 2005 “ Đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt”, cụ thể là khi: Hợp nhất pháp nhân, sáp nhập pháp nhân, chia pháp nhân, giải thể pháp nhân, pháp nhân bị tuyên bố phá sản theo quy đinh của pháp luật về phá sản.

 

Lưu ý: trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân không còn  đủ điều kiện đại diện thì sẽ có chủ thể khác thay thế vị trí, chứ pháp nhân đó không bị chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luật. Ví dụ: ông A là tổng giám đốc của công ty B đồng thời là người đại diện theo pháp luật của công ty bị tai nạn giao thông chết. Khi đó quan hệ đại diện theo pháp luật của công ty B không chấm dứt mà sẽ có cá nhân khác thay thế vị trí của ông A và tiếp tục là đại diện theo pháp luật của công ty B.

 

* Chấm dứt đại diện của tổ hợp tác và hộ gia đình: thông thường đại diện theo pháp luật của tổ hợp tác và hộ gia đình sẽ chấm dứt khi tổ hợp tác hoặc hộ gia đình đó chấm dứt sự tồn tại. Ngoài ra, khi tổ trưởng tổ hợp tác ra khỏi tổ hợp tác thì tổ viên khác được thay thế theo thỏa thuận của các tổ viên tổ hợp tác. Đối với hộ gia đình, chủ hộ sẽ chấm dứt vai trò đại diện khi không còn đủ điều kiện làm người đại diện theo pháp luật, lúc đó sẽ có thành viên khác đã thành niên có đủ năng lực hành vi dân sự thay thế.

 

4.2 Chấm dứt đại diện theo ủy quyền

 

Đại diện theo ủy quyền được xác lập theo thỏa thuận của các bên, nên các yếu tố chi phối đến ý chí hay sự định đoạt của các chủ thể sẽ dẫn đến quan hệ ủy quyền bị chấm dứt. Các trường hợp chấm dứt đại diện theo ủy quyền của cá nhân và pháp nhân có nhiều điểm giống nhau như:

 

* Thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc ủy quyền đã hoàn thành:

 

– Nếu các bên không có thỏa thuận cụ thể về thời hạn hoặc pháp luật cũng không có qui định thì quan hệ ủy quyền chỉ kéo dài trong vòng một năm kể từ ngày xác lập ủy quyền ( theo Điều 582 BLDS 2005).

 

– Trong thời hạn của quan hệ ủy quyền mà công việc được ủy quyền đã hoàn thành thì quan hệ đại diện cũng chấm dứt bởi mục đích các bên thỏa thuận đã đạt được. Nhưng nếu thời hạn ủy quyền đã hết mà công việc vẫn chưa hoàn thành thì cũng chấm dứt quan hệ ủy quyền. Do đó mà các chủ thể phải có sự cân nhắc khi quyết định thời hạn ủy quyền để tránh trường hợp hết thời hạn ủy quyền mà công việc vẫn chưa được hoàn thành các bên phải gia hạn thêm hoặc việc ủy quyền sẽ chấm dứt.

 

* Chấm dứt đại diện theo ủy quyền khi cá nhân ủy quyền hoặc người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ chối việc ủy quyền:

 

– Theo ý chí của một trong hai bên chủ thể quan hệ ủy quyền, quan hệ ủy quyền sẽ chấm dứt tồn tại sau thời điểm giao kết thông qua việc tuyên bố hủy bỏ của bên ủy quyền hay tuyên bố từ chối của bên được ủy quyền.

 

– Nếu việc chấm dứt này gây thiệt hại cho phía bên kia thì chủ thể chấm dứt ủy quyền phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

 

* Đại diện theo ủy quyền còn chấm dứt khi cá nhân ủy quyền chết, pháp nhân chấm dứt hoặc người ủy quyền chết, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

 

– Khi một trong hai bên quan hệ ủy quyền không đáp ứng được các điều kiện của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự thì quan hệ đó chấm dứt.

 

– Quan hệ ủy quyền là quan hệ gắn với nhân thân nên các quyền và nghĩa vụ của họ không thể chuyển giao cho người thừa kế mà sẽ chấm dứt luôn khi người ủy quyền, người được ủy quyền chết.

 

* Khi chấm dứt đại diện theo ủy quyền người đại diện phải thanh toàn xong các nghĩa vụ về tài sản với người được đại diện hoặc với người thừa kế của người được đại diện.

 

Khác với đại diện theo pháp luật, đại diện theo ủy quyền phát sinh từ hợp đồng ủy quyền (giầy ủy quyền) theo sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể và có thể được hưởng lương hoặc các lợi ích khá từ việc ủy quyền này nên khi quan hệ đại diện chấm dứt thì các nghĩa vụ về tài sản cũng phải được thanh toán rõ ràng.

 

  1. Ý NGHĨA CỦA ĐẠI DIỆN TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

 

– Đối với cá nhân ngoài những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có thể tham gia vào giao dịch dân sự theo Điều 122 BLDS 2005 thì còn có nhiều những đối tượng khác: người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi, những người có năng lực hành vi đầy đủ nhưng gặp hoàn cảnh bất lợi nào đó. Đối với những người này họ cũng có nhu cầu rất lớn tham gia vào đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, thông qua các giao dịch dân sự. Nhưng những hạn chế về mặt nhận thức, hoặc hoàn cảnh (người có năng lực hành vi đầy đủ nhưng gặp bất lợi về hoàn cảnh ), đã cản trở họ khiến họ không thể tự mình xác lập được các giao dịch, chế định đại diện được đặt ra lúc này để giúp đỡ các cá nhân này tiến hành xác lập các giao dịch theo mong muốn hoặc lợi ích cá nhân của họ.

 

– Đối với pháp nhân, tổ hợp tác hộ gia đình là những chủ thể quan trọng của sự phát triển kinh tế xã hội, văn hóa , đang trên đà phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Việc tham gia vào các giao dịch dân sự của các chủ thể này ngày một đa dạng và phong phú hơn. Tuy nhiên, những chủ thể này là tập hợp gồm rất nhiều những cá nhân khác nhau, trong khi một giao dịch không thể xác lập thông qua tất cả mọi cá nhân.  Hơn nữa pháp nhân, tổ hợp tác và hộ gia đình có thể cùng lúc xác lập nhiều giao dịch, hoặc ở nhiều nơi khác nhau, hoặc các giao dịch có mức độ khó khăn khác nhau mà bản thân nó không thể tự giải quyết hết được, chế định đại diện đặt ra nhằm giúp các chủ thế này có thể xác lập giao dịch như ý muốn.

 

– Đại diện được coi là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các giao dịch dân sự phát triển an toàn và hiệu quả trong dòng chảy của các lưu thông dân sự ngày càng phát triển phong phú và đa dạng như hiện nay.

 

– Chế định đại diện còn là công cụ pháp lý hữu hiệu để nhà nước quản lý quan hệ đại diện theo một hệ thống thống nhất.

 

– Vì thế việc đặt ra chế định đại diện trong luật dân sự là một xu thế tất yếu, phù hợp với sự phát triển của cuộc sống.

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LUẬT DÂN SỰ MODULE 1 – CHƯƠNG 5 – THỜI HẠN, THỜI HIỆU

 

Chương 5: THỜI HẠN VÀ THỜI HIỆU

1. THỜI HẠN

1.1 Khái niệm, phân loại và ý nghĩa của thời hạn

1.1.1 Khái niệm

Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Gồm 3 yếu tố: thời điểm bắt đầu, khoảng thời gian và thời điểm kết thúc

1.1.2 Phân loại

* Căn cứ vào nguồn gốc hình thành:

– Thời hạn do các bên thỏa thuận: các bên có thể thỏa thuận trong khung thời hạn mà pháp luật qui định. Các bên cũng có thể thỏa thuận khác đi so với qui định của pháp luật với điều kiện thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật

– Thời hạn do pháp luật qui định: pháp luật qui định khoảng thời gian để định hướng cho sự thỏa thuận của các bên.

+ Đó có thể là khoảng thời gian tối đa mà các bên chỉ được phép thỏa thuận trong phạm vi khoảng thời gian đó mà không được kéo dài

+ Đó cũng có thể là khoảng thời gian tối thiểu mà các bên không được rút ngắn hơn khoảng thời gian đó

– Pháp luật cũng qui định chính xác khoảng thời gian mà các bên không thể dùng sự thỏa thuận của mình để rút ngắn hay kéo dài thêm

– Thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định: căn cứ vào các qui định pháp luật mang tính định hướng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xác định một thời gian để các bên chủ thể thực hiện.

* Căn cứ vào phạm vi điều chỉnh của thời hạn:

– Thời hạn của giao dịch dân sự: Khoảng thời gian được xác định theo ý chí của các chủ thể và là căn cứ xác định thẩm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đối với nhau và xác định trách nhiệm dân sự phát sinh

– Thời hạn của thời hiệu: Khoảng thời gian do pháp luật qui định và là căn cứ để các chủ thể được hưởng quyền, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hay mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, mất quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự.

* Căn cứ vào tính xác định của thời hiệu:

– Thời hạn xác định:

+ Thời hạn xác định chính xác thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc

+ Thời hạn chỉ xác định một khoảng thời gian mà không xác định không xác định cụ thể thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc

– Thời hạn không xác định: gồm thời hạn mang tính tương đối được qui định bằng những cụm từ như  “tương đối”, “hợp lý”, “không kịp” hoặc không xác định về thời hạn cho một giao dịch như không xác định cho vay hay cho thuê, gửi, giữ, ủy uyền … trong thời hạn bao lâu.

1.1.3 Ý nghĩa

Các qui định về thời hạn trong BLDS nhằm hướng dẫn cách xử sự cụ thể cho các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự để đảm bảo giao dịch đã xác lập có hiệu lực và bảo vệ được quyền, lợi ích của các bên trong quan hệ.

Thời hạn là căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật dân sự.

Thời hạn góp phần ổn định các giao dịch dân sự nói riêng và các quan hệ xã hội nói chung.

Thời hạn là căn cứ để xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự để giúp các bên chủ động thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình.

Qui định về thời han còn là cơ sở pháp lý để tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh.

1.2 Cách tính thời hạn

* Đơn vị tính thời hạn: có thể tính bằng phút, ngày, giờ, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra. Thời hạn được tính theo dương lịch.

* Thời điểm bắt đầu thời hạn: do các bên thỏa thuận, nếu các bên không có thỏa thuận thì tính theo qui định của pháp luật.

– Thời hạn được xác định bằng phút, giờ, thì được bắt đầu từ thời điểm đã xác định

– Thời hạn được tính bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo của ngày xác định.

– Thời hạn được bắt đầu bằng một sự kiện thì ngày xảy ra sự kiện không được tính mà tính từ ngày tiếp theo của ngày xảy ra sự kiện đó.

* Khoảng thời gian trong thời hạn: do các bên thỏa thuận hoặc trên cơ sở qui định của pháp luật

* Thời điểm kết thúc thời hạn: Nếu các bên có thỏa thuận cụ thể về thời điểm kết thúc thời hạn thì phải tuân thủ sự thỏa thuận đó. Nếu các bên chỉ thỏa thuận về một lượng thời gian mà không chỉ rõ thời điểm kết thúc thì phải căn cứ vào các qui định trong BLDS:

– Khi thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn được xác định vào lúc 24h của ngày đó

– Khi đơn vị tính thời hạn là tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn

– Khi thời hạn tính bằng tháng thì thời hạn kết thúc vào thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tháng cuối cùng của thời hạn

Lưu ý: Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần, ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.

2. THỜI HIỆU

2.1 Khái niệm, phân loại và ý nghĩa của thời hiệu

2.1.1 Khái niệm

Thời hiệu là thời hạn do pháp luật qui định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự,  hoặc mất quyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Thời hiệu là một dạng cụ thể, đặc biệt của thời hạn bởi các đặc trưng sau:

– Khoảng thời gian trong thời hiệu do pháp luật qui định. Các bên không được phép thỏa thuận để xác định về thời hiệu hay làm thay đổi quãng thời gian mà pháp luật đã qui định cho thời hiệu.

– Kết thúc khoảng thời gian trong thời hiệu sẽ hoặc chỉ làm phát sinh 1 hoặc các hậu quả trong 4 hậu quả pháp lý sau:

+ Chủ thể được hưởng quyền dân sự
+ Chủ thể được miễn trừ nghĩa vụ dân sự
+ Chủ thể bị mất quyền khởi kiện vụ án dân sự
+ Chủ thể bị mất quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự

à Hậu quả pháp lý phát sinh trong thời hiệu có phạm vi hẹp hơn so với thời hạn.

2.1.2 Phân loại

Căn cứ vào các qui định trong BLDS có 4 loại thời hiệu sau:

* Thời hiệu hưởng quyền dân sự: là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự. Các quyền dân sự được xác lập theo thời hiệu qui đinh trong BLDS 2005 là các quyền sở hữu đối với tài sản.

Thời hiệu hưởng quyền dân sự không áp dụng trong các trường hợp sau:

– Chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật

– Việc hưởng quyền nhân thân không gắn với tài sản.

* Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự: là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ dân sự

Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự không áp dụng trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác.

* Thời hiệu khởi kiện: là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xân phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

Các thời hiệu khởi kiện gồm:

– Thời hiệu khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm các điều kiện về chủ thể,  ý chí, hình thức của giao dịch là 1 năm kể từ ngày xác lập giao dịch

– Thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

– Thời hiệu khởi kiện đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm

– Thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại là 3 năm, yêu cầu phân chi di sản thừa kế, công nhận quyền hay bác bỏ quyền thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự không được áp dụng trong trường hợp sau:

– Yêu cầu hoàn trả lại tài sản thuộc sở hữu nhà nước

– Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác

– Các trường hợp khác do pháp luật qui định

* Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự: là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó chủ thể mất quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc dân sự  để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng

2.1.3 Ý nghĩa

Là căn cứ để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ dân sự

Giúp cho việc ổn định các quan hệ dân sự trong việc xác lập các quyền hợp pháp cho các chủ thể trong các trường hợp nhất định

Tạo điều kiện giảm bớt những khó khăn cho tòa án trong việc phải thụ lý những vụ án dân sự mà khó có thẻ tìm ra được chứng cứ bởi nó đã xảy ra quá lâu và chính các chủ thể cũng không có ý thức bảo vệ quyền và lợi ích của mình

Nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của các chủ thể

2.2 Cách tính thời hiệu

* Đơn vị tính thời hiệu: là từ đơn vị ngày trở lên

* Thời điểm bắt đầu thời hiệu: được tính kể từ ngày bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu

– Nếu có những trở ngại khách quan làm cho người có quyền và nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày người đó biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm

– Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác

* Thời điểm kết thúc thời hiệu: được chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu

* Cách tính đối với thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự:

– Thời điểm có hiệu lực của thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự là: chỉ sau khi quãng thời gian được qui định trong thời hiệu kết thúc.

– Tính liên tục của thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự: 2 loại thời hiệu này phải đảm bảo tính liên tục, nếu có sự kiện gián đoạn xảy ra thù thời hiệu phải được tính lại từ đầu. Có 2 sự kiện xảy ra sẽ làm gián đoạn tính liên tục của thời hiệu hưởng quyền dân sự và miễn trừ nghĩa vụ dân sự:

+ Có sự giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu

+ Quyền và nghĩa vụ đang áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền và nghĩa vụ liên quan tranh chấp

à Thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự cũng được tính liên tục trong trường hợp quyền hưởng đó được chuyển giao hợp pháp cho người khác.

* Cách tính thời hiệu khởi kiện: thông thường thời hiệu khởi kiện được tính liên tục. Các sự kiện sau đây không tính vào thời hiệu khởi kiện:

– Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu

Sự kiện bất khả kháng

– Là sự kiện thực tế mang tính khách quan, xảy ra không liên quan đến hành vi của con người

– Không thể lường trước được nguyên nhân, diễn biến cũng như hậu quả của sự việc

– Có thiệt hại xảy ra và không thể khắc phục được thiệt hại mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép

– Không thể khởi kiện yêu cầu trong phạm vi thời hiệu

Ví dụ: bão, lũ quét, động đất …

Trở ngại khách quan

– Là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan mang lại, xảy ra có liên quan đến hành vi của con người

– Không thể biết được về quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm

– Không yêu cầu thiệt hại xảy ra

– Không yêu cầu biện pháp khắc phục

– Không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu

Ví dụ: Chuyển công tác bị kéo dài không về kịp do bị bạo động làm giao thông bị trì trệ …

– Chưa có người địa diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

– Chưa có người đại diện khác thay thế, hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự chết.

* Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo ngày xảy ra các sự kiện làm gián đoạn; nếu có một trong các sự kiện sau đây xảy ra thì thời hiệu khởi kiện được tính lại từ đầu:

– Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện

– Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện

– Các bên đã tự hòa giải với nhau

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LUẬT DÂN SỰ MODULE 1 – CHƯƠNG 6 – TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU

 

Chương 6: TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU

 

  1. TÀI SẢN

 

1.1 Khái niệm: tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản (Điều 163) => các định nghĩa mang tính chất liệt kê.

 

* Vật: là bộ phận của thế giới vật chất, con người chiếm hữu được, mang lại lợi ích cho chủ thể, có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai.

 

* Tiền: là vật ngang giá chung, được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó đang có giá trị lưu hành trên thực tế. Tiền chỉ do cơ quan duy nhất là ngân hàng nhà nước ban hành.

 

* Giấy tờ có giá: được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và cuyển giao được trong giao lưu dân sự.: séc, cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu …. Có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, các công ty cổ phần …

 

– Giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, ghi danh hoặc không ghi danh.

 

– Các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng ký ô tô … không phải là giấy tờ có giá. Nếu cần phải xem xét thì nó chỉ đơn thuần là một vật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó.

 

* Quyền tài sản: là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ (Điều 181).

 

– Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng ;là: Quyền của chủ thể được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình. Theo đó: quyền sở hữu cũng là quyền tài sản (vật quyền) và quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ tài sản cũng là quyền tài sản (trái quyền).

 

– Quyền tài sản thì có rất nhiều nhưng quyền tài sản nào có thể trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự thì mới là tài sản theo Điều 163. Pháp luật Việt Nam hiện nay công nhận một số quyền tài sản là tài sản như: quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, quyền sở hữu công nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng …

 

1.2 Phân loại tài sản

 

1.2.1 Bất động sản và động sản

 

* Bất động sản: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn với đất đai; các tài sản khác do pháp luật qui định (ví dụ như quyền sử dụng đất là bất động sản , Điều 6 Luật kinh doanh bất động sản)

 

* Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.

 

* Ý nghĩa của việc phân loại tài sản thành bất động sản và động sản:

 

– Xác lập thủ tục đăng kí đối với tài sản: quyền sở hữu với bất động sản phải đăng kí theo qui định của BLDS, còn quyền sở hữu với động sản không phải đăng kí, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác.

 

– Xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản: việc chuyển giao quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng kí quyền sở hữu trừ trường hợp pháp luật có qui định khác; việc chuyển giao quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác.

 

– Xác định được quyền năng của các chủ thể đối với từng loại tài sản nhất định.

 

– Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản trong trường hợp các bên không có thỏa thuận: Nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi có bất động sản; nếu đối tượng không phải bất động sản thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi cư trú, trụ sở của người có quyền.

 

– Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu: nếu vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản thuộc sở hữu của người phát hiện, còn nếu vật là bất động sản sẽ thuộc sở hữu của nhà nước (Điều 239) hoặc  một người chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, nhưng ngay tình, liên tục công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu của tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu.

 

– Xác định hình thức của hợp đồng: liên quan đến bất động sản luôn phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng kí nếu pháp luật có qui đinh.

 

– Là căn cứ để xác định thời hạn, thời hiệu và các thủ tục khác: ví dụ thời hạn thông báo công khai tài sản bán đấu giá chậm nhất là 7 ngày đối với động sản và 30 ngày đối với bất động sản …(Điêu 457)

 

– Xác đinh phương thức kiện dân sự: điều kiện để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu kiện đòi lại tài sản đối với động sản và bất động sản là khác nhau. Do đó, nếu không áp dụng phương thức kiện đòi lại tài sản thì chủ thể sẽ phải áp dụng  phương thức kiện khác như kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại.

 

– Xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự: tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự về bất động sản là tòa án nơi có bất động sản đó.

 

1.2.2 Tài sản gốc, hoa lợi và lợi tức ( căn cứ vào nguồn gốc và cách thức hình thành để phân loại)

 

* Tài sản gốc là tài sản khi sử dụng, khai thác công dụng thì sinh ra lợi ích vật chất nhất định.

 

– Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại: con bê con do con bò đẻ ra, hoa quả thu được từ cây cối …

 

– Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản mà không phải do tài sản tự sinh ra: tiền lãi, tiền thuê nhà …

 

=> cả hoa lợi và lợi tức đều là những tài sản sinh ra từ việc khai thác sử dụng tài sản gốc.

 

* Một số lưu ý:

 

– Cần phải sử dụng phương pháp so sánh vì 1 tài sản sẽ là tài sản gốc so với tài sản này nhưng nó lại trở thành hoa lợi lợi tức của tài sản khác.

 

– Cần phân biệt hoa lợi lợi tức với một bộ phận của tài sản: Chỉ khi tài sản tách rời khỏi tài sản gốc nó mới được coi là hoa lợi, lợi tức của tài sản đó, còn nếu nó vẫn gắn liền vs tài sản gốc thì nó là một bộ phận của tài sản đó: hoa ở trên cây, bê vẫn trong bụng mẹ …

 

– Cần phân biệt hoa lợi, lợi tức với sản phẩm: Chỉ được gọi là hoa lợi, lợi tức đối với những tài sản sinh ra từ tài sản gốc mà không làm giảm sút, ảnh hưởng đến trạng thái ban đầu của tài sản gốc. Trong trường hợp để thu được một lợi ích vật chất của tài sản mà tài sản gốc bị giảm sút không thể tái tạo bằng cách khai thác khả năng sinh sản của tài sản gốc hoặc chỉ có thể tái tạo bằng cách lặp lại chu kì đầu tư nhằm khôi phục trạng thái ban đầu của tài sản gốc thì lợi ích vật chất thu được gọi là sản phẩm. Ví dụ: Cây trồng trên đất thì cây được thu hoạch là sản phẩm, quả của cây được thu hoạch lại là hoa lợi.

 

* Ý nghĩa của việc phân loại:

 

– Xác định chủ sở hữu của tài sản: hoa lợi thuộc về chủ sở hữu của tài sản, lợi tức thuộc về người có quyền sử dụng hợp pháp tài sản đó.

 

– Xác định trong một số trường hợp người chiếm hữu tài sản gốc chỉ được hưởng hoa lợi sinh ra từ tài sản àm không được khai thác công dụng của tài sản để thu lợi tức.

 

1.2.3 Tài sản có đăng kí quyền sở hữu và tài sản không đăng kí quyền sở hữu. ( căn cứ vào giá trị, vai trò, ý nghĩa của tài sản)

 

Tài sản có đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà pháp luật qui định bắt buộc phải đăng kí, nếu không đăng kí sẽ không được công nhân quyền sở hữu đối với tài sản đó.

 

Tài sản không đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà theo qui định của pháp luật không buộc phải đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

* Ý nghĩa của việc phân loại:

 

– Xác định thời điểm phát sinh chuyển giao quyền sở hữu: Đối với tài sản có đăng kí quyền sở hữu thì theo qui định của pháp luật quyền sở hữu chỉ phát sinh khi hoàn thành thủ tục đăng kí không phụ thuộc tài sản đó là động sản hay bất động sản (Điều 439).

 

– Xác định phương thức kiện dân sự

 

– Xác định hình thức của hợp đồng: đối với bất động sản thì phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực, hoặc có đăng kí ….

 

1.2.4 Tài sản cẩm lưu thông, hạn chế lưu thông, tự do lưu thông. (căn cứ vào chế độ pháp lý)

 

Tài sản cẩm lưu thông là tài sản mà vì lợi ích của nó đối với nên kinh tế quốc dân, an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia mà nhà nước cấm giao dịch: vũ khí quân dụng, ma túy, .. Tài sản này không thể trở thành đối tượng trong giao dịch dân sự.

 

Tài sản hạn chế lưu thông: là tài sản khi dịch chuyển trong giao dịch dân sự nhất thiết phải tuân theo những qui định riêng của pháp luật. Trong một số trường hợp phải được sự đồng ý, cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: vũ khí thể thao …

 

Tài sản tự do lưu thông là những tài sản mà không có qui định nào của pháp luật hạn chế việc dịch chuyển đối với tài sản đó, nếu có sự dịch chuyển thì các chủ thể không cần phải xin phép.

 

1.2.5 Tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai ( căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu)

 

Tài sản hiện có là tài sản đã tồn tại vào thời điểm hiện tại và đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó.

 

Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét (thường là thời điểm xác lập nghĩa vụ hoặc giao dịch được giao kết) nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai. Tài sản này còn bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch tài sản đó mới thuộc sở hữu của các bên.

 

* Ý nghĩa:

 

– Xác định đối tượng được phép giao dịch

 

– Xác định hình thức, thủ tục xác lập.

 

1.3 Phân loại vật

 

1.3.1 Vật chính và vật phụ

 

Dựa vào mối liên hệ phụ thuộc về công dụng của vật đối với nhau mà phân thành vật chính và vật phụ:

 

– Vật chính là vật độc lập có thể khai thác công dụng theo tính năng: ti vi, máy vi tính …

 

– Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính: điều khiển ti vi, vỏ máy ảnh …

 

Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc

 

– Xác định đúng nghĩa vụ giao vật: theo nguyên tắc chung vật chính và vật phụ là thống nhất, nếu các bên không có thỏa thuận gì khác thì vật phụ phải đi kèm với vật chính trong khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính.

 

– Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập tài sản.

 

1.3.2 Vật chia được và vật không chia được.

 

Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia ra thành nhiều phần nhỏ:

 

– Vật chia được: là vật khi bị chia thì vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng ban đầu: xăng, gạo, vải …

 

– Vật không chia được: là vật khi chia thành những phần nhỏ thì mỗi phần không thể có được tính chất cũng như tính năng sử dụng ban đầu của vật: đồng hồ, ô tô, …

 

Khi cần chia tài sản đối với vật không chia được thì phải trị giá thành tiền, nếu là vật chia được thì phải chia theo phần => ý nghĩa trong xác định phương thức thực hiện nghĩa vụ dân sự

 

1.3.3 Vât tiêu hao và vật không tiêu hao

 

Dựa vào đặc tính giá trị của tài sản sau khi sử dụng người ta phân loại:

 

– Vật tiêu hao: là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được hình dáng, tính chất và tính năng sử dụng ban đầu: gạo, nước … những vật không tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn.

 

– Vật không tiêu hao là: vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng, tính năng sử dụng như ban đầu: xe máy, điện thoại …

 

1.3.4 Vật cùng loại và vật đặc định

 

Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật phân thành:

 

– Vật cùng loại là những vật  có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường: gạo, mắm, muối … vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế nhau.

 

– Vật đặc định: là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về kí hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, ví trí. Gồm 2 loại:

 

+ Vật đặc định độc nhất: là vật chỉ tồn tại duy nhất một cái mà không có cái thứ hai, ví dụ: cầu Long Biên, tháp Rùa …

 

+ Vật được đặc định hóa: là vật mà trước đó là vật cùng loại nhưng vi nhiều lý do khác nhau con người đã đặc định hóa nó bằng các kí hiệu, dấu hiệu riêng, ví dụ: gạo được đóng vào bao rồi đánh số …

 

Đối với vật đặc định thì khi bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật thì phải giao đúng vật đó.

 

1.3.5 Vật đồng bộ và vật không đồng bộ

 

Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc bộ phận không đúng qui cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.

 

Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

Chỉ xem xét vật đồng bộ hay không đồng bộ khi vật bao gồm tập hợp các vật đơn chiếc tạo thành, còn nếu vật tồn tại ở dang đơn chiếc, độc lập thì cách xem xét đó không còn ý nghĩa.

 

  1. QUYỀN SỞ HỮU

 

2.1 Khái niệm về quyền sở hữu

 

Sở hữu là một trong những yếu tố tự nhiên, xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của xã hội loài người

 

Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lý, sự ghi nhận của nhà nước, quyền sở hữu có thể được hiểu theo nhiều ý nghĩa khac nhau:

 

– Theo nghĩa khách quan: Quyền sở hữu là tổng hợp các qui phạm pháp luật do nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện, trong đó ghi nhận và đảm bảo cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền sở hữu, quyền chiếm hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu quyền chiếm hữu của mình.

 

– Theo nghĩa chủ quan: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo qui định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản (Điều 164)

 

– Ngoài ra quyền sở hữu còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự với đầy đủ các yếu tố:

 

+ Chủ thể,

 

+ Khách thể,

 

+ Nội dung,

 

+ Căn cứ phát sinh, chấm dứt

 

2.2 Quan hệ pháp luật về sở hữu

 

Là một phạm trù pháp lý, quyền sở hữu được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự có đầy đủ các yếu tố: chủ thể, khách thể, nội dung, căn cứ xác lập và chấm dứt.

 

2.2.1 Chủ thể của quan hệ sở hữu

 

Chủ thể của quyền sở hữu là những người có tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình

 

Vì quyền sở hữu là quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối nên để thỏa mãn quyền của mình, chủ sở hữu sẽ thực hiện hành vi tác động vào tài sản ( vật quyền).

 

Chủ sở hữu có quyền sở hữu tài sản nếu tài sản đó được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật qui định. Nếu pháp luật qui định chỉ có những chủ thể nhất định mới cơ quyền sở hữu một loại tài sản nào đó thì chỉ có chủ thể này mới có quyền sở hữu tài sản này.

 

Trong một số trường hợp nếu pháp luật qui định việc xác lập quyền sở hữu của chủ thể phải thông qua một trình tự, thủ tục nhất định thì việc xác định chủ sở hữu cũng phải dựa theo trình tự này.

 

2.2.2 Khách thể của quyền sở hữu

 

Khách thể của quan hệ pháp luật dân sự là các lợi ích (vật chất hoặc tinh thần) nhất định mà các chủ thể tham gia quan hệ đó hướng tới. Khách thể của quyền sở hữu chính là các lợi ích vật chất, được thể hiện dưới dạng tài sản.

 

Lợi ích vật chất được biểu hiện dưới dạng tài sản là khách thể của quyền sở hữu, tuy nhiên không phải lợi ích vật chất được biểu hiện dưới dạng tài sản nào cũng là khách thể của tất cả các hình thức sở hữu, hay không phải hình thức sở hữu nào cũng có quyền sở hữu đối với tất cả các loại tài sản.

 

Phạm vi lợi ích vật chất được biểu hiện dưới dạng tài sản là khách thể của quyền sở hữu ngày càng được mở rộng

 

2.2.3 Nội dung của quyền sở hữu

 

Nội dung của quyền sở hữu bao gồm tất cả các quyền năng mà pháp luật cho phép chủ thể của quyền sở hữu được phép thực hiện. Nội dung của quyền sở hữu gồm 3 quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản.

 

2.2.3.1 Quyền chiếm hữu tài sản

 

Chiếm hữu tài sản được coi là quyền năng đầu tiên để thực hiện các quyền tiếp theo. Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ quản lý tài sản.

 

* Chiếm hữu có căn cứ pháp luật: là việc chiếm hữu dựa trên cơ sở pháp lý do pháp luật qui đinh.

 

– Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản: chủ sở hữu là người có quyền sở hữu đối với một tài sản nhất định. Việc có được các tài sản đó dựa trên các căn cứ xác lập quyền  sở hữu do pháp luật qui định. Quyền của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu tài sản được pháp luật tôn trọng tuyệt đối.

 

– Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản: có thể chỉ được thực hiện việc quản lý tài sản nhưng có thể được thực hiện các hành vi khác (sử dụng) nếu được chủ sở hữu cho phép. Người này không thể được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.

 

– Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với qui định của pháp luật.

 

+ Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch.

 

+ Thông qua giao dịch dân sự với chủ sở hữu, người được giao tài sản ngoài việc chiếm hữu tài sản còn có thể có quyền sử dụng tài sản được giao, được chuyển quyền chiếm hữu sử dụng tài sản đó cho người khác, nếu được chủ sở hữu đồng ý. Nhưng người được giao tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao.

 

– Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật qui định: phải tiến hành đầy đủ các thủ tục hành chính cần thiết theo qui định của pháp luật.

 

– Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm vật nuôi dưới nước bị thất lạc phải thông báo công khai cho UBND cấp xã phường thị trấn nơi mình cư trú để thông báo công khai. Chỉ khi nào hoàn tất thủ tục này thì họ mới được coi là người chiếm giữ hợp pháp.

 

– Các trường hợp khác do pháp luật qui định: là những trường hợp chiếm hữu tài sản theo bản án, quyết định của tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

* Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật: Trên cơ sở xác định người chiếm hữu hợp pháp tài sản sẽ xác đinh người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật theo phương pháp loại trừ.

 

Căn cứ vào ý thức chủ quan của người chiếm hữu, căn cứ vào qui định của pháp luật mà chiếm hữu không có căn cứ pháp luật được chia thành hai loại:

 

– Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, khi thỏa mãn các yêu cầu:

 

+ Chiếm hữu tài sản không có căn cứ

 

+ Ý thức của người chiếm hữu tài sản: không biết việc chiếm hữu là bất hợp pháp.

 

+ Không thể biết việc chiếm hữu đó là bất hợp pháp

 

– Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng không ngay tình: Việc chiếm hữu không dựa trên căn cứ do pháp luật qui định, người chiếm hữu biết việc chiếm hữu là bất hợp pháp hoặc không biết việc chiếm hữu là bất hợp pháp nhưng được xác định là có thể biết việc chiếm hữu là bất hợp pháp (pháp luật buộc phải biết)

 

=> nguyên tắc chung là pháp luật chỉ bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu hợp pháp. Tuy nhiên, dựa trên phân loại chiếm hữu bất hợp pháp ngay tình hay không ngay tình => bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình.

 

2.2.3.2 Quyền sử dụng tài sản

 

Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản (Điều 192)

 

Quyền sử dụng tài sản có thể được chủ sở hữu trực tiếp thực hiện nhưng cũng có thể được thực hiện thông qua người khác

 

* Đối với chủ sở hữu: có toàn quyền trong việc sử dụng tài sản phù hợp với tính năng, công dụng của tài sản, nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hơj pháp của người khác.

 

* Người không phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản thông qua hợp đồng với chủ sở hữu: sử dụng tài sản theo ý chí của chủ sở hữu, tuân theo các qui định của pháp luật

 

* Người khôn phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo qui định của pháp luật: đậy là những trường hợp mà pháp luật qui định cho phép một chủ thể nhất định có quyền sử dụng tài sản.

 

* Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình: cũng có quyền khai thác công dụng của tài sản, hưởng hỏa lợi, lợi tức từ tài sản theo qui định của pháp luật

 

2.2.3.3 Quyền định đoạt tài sản

 

Quyền định đoạt tài sản là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. Ngoài ra chủ sở hữu còn có thể định đoạt tài sản thông qua việc tiêu dùng hết, tiêu hủy tài sản.

 

* Chuyển giao quyền sở hữu: quyền sở hữu được chuyển giao từ chủ sở hữu sang cho chủ thể khác thông qua hợp đồng hoặc thông qua giao dịch một bên

 

* Từ bỏ quyền sở hữu: là sự thể hiện ý chí của chủ sở hữu về việc chấm dứt quyền sở hữu của mình đối với một tài sản nhất định. Mặc dù việc từ bỏ quyền sở hữu là quyền của chủ sở hữu nhưng việc từ bỏ này cũng chịu sự hạn chế nhất định theo qui định của pháp luật.

 

* Các hình thức định đoạt khác: ví dụ chủ sở hữu lương thực thực phẩm đinh đoạt tài sản thông qua việc khai thác giá trị của chúng…

 

Việc định đoạt tài sản có thể được thực hiện bởi chủ sỏ hữu nhưng cũng có thể được thực hiện bởi các chủ thể khác.

 

Chủ sở hữu, người không phải chủ sở hữu khi định đoạt tài sản phải có năng lực hành vi dân sự theo qui định của pháp luật dân sự. Nếu pháp luật qui định trình tự, thủ tục định đoạt đối với một loại tài sản nhất định thì chủ thể phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục này.

 

Mặc dù quyền định đoạt tài sản là quyền năng quan trọng, tuy nhiên khi  thực hiện quyền định đoạt, chủ thể định đoạt phải chịu những hạn chế nhất định. Việc hạn chế quyền định đoạt xuất phát từ yêu cầu bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể khác, lợi ích công cộng.

 

  1. CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU

 

3.1 Hình thức sở hữu nhà nước

 

3.1.1 Xác lập và chủ thể của sở hữu nhà nước

 

Sở hữu nhà nước là hình thức sở hữu mang tính xã hội hóa nên khác với tư nhân, nhà nước khôn thể thực hiện các hành vi một cách trực tiếp trên thực tế để thực hiện nội dung của quyền sở hữu.

 

Chủ thể của hình thức sở hữu nhà nước là Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Điều 2 HP 1992 qui định: “ Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công  nhân với giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức”

 

Điều 17 HP 1992 cũng khẳng định Nhà nước là đại diện cho sở hữu toàn dân, có quyền sở hữu đối với các tài sản thuộc sở hữu của nhà nước.

 

Nhà nước là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự, đồng thời là chủ thể đặc biệt của sở hữu nhà nước. Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước một cách gián tiếp, thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật qui định nội dung quyền cũng như cách thức thực hiện quyền của chủ sở hữu.

 

3.1.2 Tài sản thuộc sở hữu nhà nước – khách thể của shnn

 

Tài sản thuộc sở hữu nhà nước rất đa dạng, bao gồm nhiều tài sản đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa đối với đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, an ninh, quốc phòng. Phạm vi tài sản thuộc sở hữu nhà nước bao gồm:

 

– Đất đai: Ngoài nhà nước không có chủ thể nào có quyền sở hữu đối với đất đai.

 

– Rừng, núi, sông, hồ:

 

– Nguồn nước: tài nguyên nước là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.

 

– Tài nguyên trong lòng đất: khoáng sản

 

– Nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời cũng thuộc tài sản thuộc sở hữu nhà nước.

 

– Phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kĩ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh.

 

– Các loại tài sản khác mà pháp luật qui định là của nhà nước đều thuộc sở hữu  toàn dân.

 

3.1.3 Nội dung của sở hữu nhà nước

 

* Nguyên tắc chung của việc thực hiện nội dung quyền sở hữu nhà nước.

 

– Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, cơ quan chấp hành và điều hành sẽ “thống nhất quản lý và đảm bảo sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước”.

 

– Việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước được thực hiện trong phạm vi và theo trình tự do pháp luật qui định.

 

– Sử dụng tài sản của Nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm nhưng đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.

 

* Thực hiện quyền sở hữu nhà nước trong một số trường hợp cụ thể:

 

– Thực hiện quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước.

 

– Thực hiện quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản được giao cho cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang.

 

– Thực hiện quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản được giao cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp.

 

– Đối với các doanh nghiệp, hộ gia đình , tổ hợp tác và cá nhân sử dụng, khai thác tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước: phải khai thác đúng mục đích, có hiệu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước theo qui định của pháp luật.

 

* Quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt

 

– Nhà nước thực hiện quyền năng chiếm hữu đối với tài sản chủ yếu bằng cơ cách ban hành các văn bản pháp luật qui định về quyền hạn, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản nhà nước giao cho.

 

– Quyền sử dụng tài sản được nhà nước chuyển giao cho các cơ quan, doanh nghiệp của nhà nước để quản lý và khai thác công dụng; hoặc được nhà nước chuyển giao cho tổ chức, cá nhân thông qua các hợp đồng dân sự hay  thủ tục hành chính nhất định. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, cá nhân và các chủ thể khác sử dụng tài sản thuộc sở hữu nhà nước một cách đúng mục đích, tiết kiệm, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

 

– Quyền định đoạt là quyền định đoạt tài sản về mặt pháp lý và là quyền năng cơ bản của sở hữu nhà nước. Nhà nước định đoạt tài sản của mình bằng nhiều phương thức khác nhau.

 

Tóm lại: Nhà  nước là chủ thể đặc biệt của  quyền sở hữu, Nhà nước thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu thông qua các cơ quan nhà nước.

 

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất có quyền thống nhất quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước với mục đích đảm bảo cho hình thức này phát huy được vai trò quan trọng của mình đối với các hình thức sở hữu khác cũng như đối với sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.

 

3.2 Sở hữu tư nhân

 

3.2.1 Xác lập và chủ thể của sở hữu tư nhân

 

Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Dựa trên tính chất về vốn, cách thức tổ chức sản xuất và sử dụng lao động mà sở hữu tư nhân được chia thành:sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân.

 

Pháp luật không hạn chế về căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu tư nhân, không hạn chế về số lượng và giá trị của tài sản thuộc sở hữu của  tư nhân.

 

Bất cứ cá nhân nào, không phân biệt các mức độ năng lực hành vi dân sự, đều có thể là chủ thể của sở hữu tư nhân, miễn là những người này có tài sản dựa trên các căn cứ pháp lý do pháp luật qui định. Tuy nhiên để thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu thì còn phụ thuộc vào khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của cá nhân … liên quan đến các mức độ năng lực hành vi dân sự.

 

3.2.2 Tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân – Khách thể của shtn

 

Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị. Tài sản thuộc sở hữu tư nhân bao gồm:

 

– Các thu nhập hợp pháp: thu nhập chỉ được coi là hợp pháp khi cá nhân thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nước, và các cá nhân, tổ chức khác.

 

– Của cải để giành

 

– Nhà ở

 

– Tư liệu sinh hoạt

 

– Tư liệu sản xuất

 

– Vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân.

 

3.2.3 Nội dung của sở hữu tư nhân

 

Nội dung của quyền sở hữu tư nhân của cá nhân công dân được thể hiện ở việc làm chủ, chi phối tài sản thông qua các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.

 

Nguyên tắc chung của việc thực hiện các quyền năng của quyền sở hữu tư nhân: “ Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác …”

 

3.3 Hình thức sở hữu tập thể

 

3.3.1 Xác lập và chủ thể của sở hữu tập thể.

 

“Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được qui định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi” – Điều 208 BLDS

 

Như vậy, các hợp tác xã là chủ thể của sở hữu tập thể. Các hợp tác xã là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân. Mặc dù nguồn vốn ban đầu để hình thành sở hợp tập thể là do các xã viên đóng góp, nhưng doanh nghiệp tập thể hoạt động với tư cách là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân.

 

3.3.2 Tài sản thuộc sở hữu tập thể – khách thể của shtt

 

Phạm vi tài sản thuộc sở hữu tập thể rất rộng, đó là mọi loại tài sản mà pháp luật cho phép hình thức này có quyền sở hữu và bao gồm các loại sau:

 

– Tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên: mức vốn góp không vượt quá 30% vốn điều lệ của hợp tác xã”

 

– Thu nhập hợp pháp do hoạt động sản xuất kinh doanh

 

– Tài sản được nhà nước hỗ trợ

 

– Các nguồn khác phù hợp với qui định của pháp luật

 

3.3.3 Nội dung của sở hữu tập thể

 

Việc chiếm hữu, sử dung, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể phải tuân theo pháp luật, phù hợp với điều lệ của tập thể đó, đảm bảo sự phát triển ổn định của sở hữu tập thể.

 

Hợp tác xã hoạt động theo các nguyên tắc sau:

 

– Tự nguyện

 

– Dân chủ, bình đẳng và công khai

 

– Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi

 

– Hợp tác và phát triển cộng đồng

 

Tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể giao cho các thành viên khai thác công dụng bằng sức lao động của mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế chung và lợi ích, nhu cầu của các thành viên.

 

Các thành viên của tập thể có quyền ưu tiên mua, thuê, thuê khoán tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể.

 

3.4 Hình thức sở hữu chung

 

3.4.1 Khái niệm sở hữu chung

 

Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản, bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.

 

Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung. Cơ sở để hình thành sở hữu chung là  “tài sản chung” của các chủ thể. Theo đó, các chủ thể có quyền sở hữu đối với tài sản được gọi là các đồng sở hữu chủ.

 

Sở hữu chung có thể hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa các đồng sở hữu chủ, có thể được hình thành trên cơ sở qui định của pháp luật.

 

3.4.2 Các loại sở hữu chung

 

3.4.2.1 Sở hữu chung theo phần

 

Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung (K1 DD126 BLDS).

 

Sở hữu chung theo phần có các đặc điểm về phần quyền sở hữu và nội dung quyền của đồng sở hữu chủ như sau:

 

– Phần quyền của các đồng sở hữu chủ trong quan hệ sở hữu chung theo phần luôn luôn được xác định đối với tài sản chung (mặc dù tài sản chung là một khối thống nhất).

 

– Tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

– Các đồng sở hữu chủ cùng nhau chiếm hữu tài sản chung theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

– Việc xác định phần quyền trong việc sử dụng tài sản chung theo nguyên tắc thỏa thuận, nếu không thỏa thuận hoặc nếu có tranh chấp sẽ xác định theo nguyên tắc phần quyền bao nhiêu sẽ được hưởng lợi (chịu rủi ro) bấy nhiêu.

 

– Khi một trong các đồng chủ sở hữu muốn bán phần quyền của mình thì các đồng chủ sở hữu khác được quyền ưu tiên mua.

 

3.4.2.2 Sở hữu chung hỗn hợp

 

Sở hữu chung hỗn hợp là sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận. (K1 Đ218 BLDS).

 

Cơ sở để hình thành sở hữu chung hỗn hợp là dựa trên sự đóng góp vốn và tài sản thuộc các thành phần khác nhau với mục tiêu sản xuất, kinh doanh, thu lợi nhuận.

 

Trong quá trình hoạt động, tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp có thể được hình thành từ lợi nhuận hoặc nguồn khác phù hợp với qui định của pháp luật.

 

3.4.2.3 Sở hữu chung hợp nhất

 

* Sở hữu chung của vợ chồng: có thể là sở hữu chung hoặc sở hữu riêng. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.

 

– Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, không phân biệt công sức đóng góp đối với khối tài sản chung đó

 

– Tài sản chung của vợ chồng có thể được chia trong các trường hợp sau:

 

+ Khi vợ chông li hôn: nguyên tắc chia tài sản khi li hôn là chia đôi, trong đó có tính đến công sức đóng góp, tôn tạo tài sản chung của một trong hai bên vợ hoặc chồng để chia cho hợp lý.

 

+ Khi một bên vợ hoặc chồng chết: phần tài sản của người chết sẽ được chia theo qui định của pháp luật về thừa kế.

 

+ Khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung của vợ chồng có thể được chia theo thỏa thuận của vợ chồng hoặc theo qui định của pháp luật.

 

* Sở hữu chung của cộng đồng: là tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với qui định của pháp luật nhăm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cả cộng đồng.

 

– Được hình thành theo tập quán

 

– Các thành viên của cộng đồng cùng nhau quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán, vì lợi ích của cộng đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

 

– Tài sản chung cộng động là tài sản chung hợp nhất không thể phân chia.

 

* Sở hữu chung trong nhà chung cư: chủ sở hữu các căn hộ trong nhà chung cư có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý và sử dụng phần diện tích và thiết bị chung.

 

3.5 Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội.

 

3.5.1 Xác lập và chủ thể.

 

Sở hữu của các tổ chức là sở hữu chung của một pháp nhân, nhưng mang tính chất cộng đồng khác với hình thức sở hữu tập thể và sở hữu chung thông thường. Tài sản của tổ chức được quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

 

Quyền sở hữu của các  tổ chức là một phạm trù pháp lý được hiểu là: Tổng hợp các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ về chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của các chủ thể là tổ chức.

 

Mỗi tổ chức là chủ sở hữu riêng biệt đối với tài sản của tổ chức mình. Tổ chức có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản theo quy định của pháp luật, theo điều lệ và theo nghị quyết của cơ quan cao nhất trong tổ chức mình.

 

3.5.2 Tài sản của sở hữu của các tổ chức – khách thể cuả sở hữu của các tổ chức

 

Khách thể của quan hệ sở hữu của các tổ chức là những tài sản cụ thể, xác định của một tổ chức. Tài sản đó có thể là những cơ sở vật chất kĩ thuật, các trang thiết bị dùng để phục vụ cho quá trình hoạt động của tổ chức, và các tài sản khác.

 

Phạm vi khách thể thuộc sở hữu của các tổ chức rất phong phú và đa dạng. Các tổ chức đó có thể có quyền sở hữu tất cả các loại tài sản mà chủ thể khác có, trừ những tài sản thuộc sở hữu nhà nước.

 

3.5.3 Nội dung của sở hữu của tổ chức

 

Các tổ chức với tư cách là chủ sở hữu cũng có đẩy đủ các quyền năng của chủ sở hữu theo qui định của pháp luật dân sự nhưng cũng có nét đặc thù. Khi thực hiện những quyền năng này chủ sở hữu cũng không được phép làm thiệt hại và ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích của chủ thể khác.

 

4.CĂN CỨ XÁC LẬP, CHẤM DỨT QUYỀN SỞ HỮU

 

4.1 Căn cứ xác lập quyền sở hữu

 

4.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của căn cứ xác lập quyền sở hữu

 

Căn cứ xác lập quyền sở hữu là những sự kiện pháp lý do pháp luật qui định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì quyền sở hữu của một chủ thể và tài sản được phát sinh.

 

Việc xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu có ý nghĩa pháp lý vô cùng quan trọng:

 

– Bởi pháp luật chỉ bảo vệ quyền sở hữu tài sản cho một chủ thể nhất định nếu tài sản được xác lập quyền sở hữu dựa trên các căn cứ do pháp luật qui định.

 

– Mặt khác, khi một người là chủ sở hữu đối cới một tài sản thì họ có các quyền năng đối với tài sản đó và phải chịu mọi rủi ro do tài sản mang lại cũng như chịu trách nhiệm bồi thường nếu tài sản mà mình là chủ sở hữu gây thiệt hại cho chủ thể khác.

 

4.1.2 Phân loại căn cứ xác lập quyền sở hữu

 

4.1.2.1 Quyền sở hữu được xác lập do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp

 

– Để có thể xác lập được quyền sở hữu theo căn cứ này thì hoạt động lao động, sản xuất, kinh doanh phải hợp pháp

 

– Thu nhập có được để phat sinh quyền sở hữu phải là thu nhập thực tế mà người có thu nhập có được thu nhập đó sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nước, đối với các chủ thể khác.

 

– Thời điểm phát sinh quyền sở hữu đối với tài sản do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp là kể từ thời điểm người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh có được tài sản đó.

 

4.1.2.2 Quyền sở hữu được xác lập do chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

 

– Thời điểm phát sinh quyền sở hữu đối với người được xác lập quyền sở hữu là kể từ thời điểm chuyển giao tài sản, nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có qui định khác.

 

– Đối tượng của hợp đồng để xác lập quyền sở hữu của chủ thể phải là những tài sản không bị cấm trong giao dịch dân sự, việc giao kết, thực hiện hợp đồng phải tuân thủ các qui định của pháp luật về giao dịch dân sự nói chung, hợp đồng dân sự nói riêng.

 

– Quyền sở hữu có thể được xác lập theo bản án, quyết định của tòa án hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.

 

4.1.2.3 Quyền sở hữu được xác lập do được thu hoa lợi, lợi tức

 

Chủ sở hữu, nguwofi sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thỏa thuận hoặc theo qui định của pháp luật kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó.

 

4.1.2.4 Quyền sở hữ được xác lập đối với vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến.

 

– Đối với sáp nhập tài sản: tùy từng trường hợp để xác định chủ sở hữu (bất động sản – động sản, vật chinh –vật phụ, …). Ngoài ra còn phải căn cứ vào ý chí của các chủ thể trong việc xác lập quyền sở hữu vật mới để xác định chủ sở hữu đối với vật được tạo thành.

 

– Đối tượng của trộn lẫn tài sản là các vật cùng loại với nhau.

 

+ Nếu vật mới được tạo thành thông qua việc trộn lẫn tài sản với nhau theo ý chí của các chủ sở hữu tài sản trộn lẫn thì vật mới được tạo thành thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu tài sản trộn lẫn.

 

+ Nếu một người trộn lẫn tài sản của người khác mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị trộn lẫn, mặc dù việc đó là ngay tình hay không ngay tình thì pháp luật vẫn bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu tài sản bị trộn lẫn.

 

– Chế biến là biến đối một chất gì thành một thứ dùng được. Về nguyên tắc, chủ sở hữu của nguyên vật liệu sẽ là chủ sở hữu của vật mới được tạo thành trên cơ sở chế biến nguyên vật liệu.

 

+ Nếu một người dùng nguyên vật liệu của người khác chế biến thành vật mới mà việc chế biến đó ngay tình thì người chế biến có quyền sở hữu vật mới nhưng phải thanh toán giá trị nguyên vật liệu và bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu nguyên vật liệu.

 

+ Nếu người dùng nguyên vật liệu của người khác chế biến thành vật mới mà việc chế biến đó không ngay tình thì vật mới thuộc sở hữu của người chủ sở hữu nguyên vật liệu. Ngoài ra chủ sở hữu nguyên vật liệu này có quyền yêu cầu người chế biến bồi thường thiệt hại.

 

4.1.2.5 Quyền sở hữu được xác lập do thừa kế tài sản

 

Thời điểm phát sinh quyền sở hữu của những người thừa kế đối với di sản do người chết để lại được xác định là kể từ thời điểm mở thừa kế.

 

4.1.2.6 Quyền sỏ hữu được xác lập trong trường hợp pháp luật qui định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chon giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên.

 

* Đối với vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu

 

– Vật vô chủ là vật mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với vật đó. Tùy thuộc vật vô chủ là động sản hay bất động sản mà việc xác định chủ sở hữu với vật này là khác nhau.

 

– Người phát hiện phải thông báo hoặc giao nộp cho UBND xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho chủ biết mà nhận lại. Trong trường hợp đã thông báo công khai mà vẫn không xác định được chủ sở hữu thì giải quyết như sau:

 

+ Nếu vật đó là động sản: sau 1 năm kể từ ngày thông báo công khai, động sản đó thuộc sở hữu của người phát hiện theo qui định của pháp luật.

 

+  Nếu vật là bất động sản: sau 5 năm, bất động sản đó thuộc sở hữu nhà nước, người phát hiện được hưởng một khoản tiền theo qui định của pháp luật.

 

* Đối với vật bị chon giấu bị chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc xác định được ai là chủ sở hữu thì sau khi trừ đi chi phí tìm kiếm, bảo quản quyền sở hữu đối với vật đó được xác định như sau:

 

– Nếu vật được tìm thấy là di tích lịch sử, văn hóa thì thuộc Nhà nước, người tìm thấy được hưởng một khoản tiền thưởng theo qui định của pháp luật.

 

– Nếu vật được tìm thấy không phải di tích lich sử văn hóa mà có giá trị đến mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước qui định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy.

 

– Nếu vật được tìm thấy có giá trị lớn hơn mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước qui định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu do nhà nước qui định và 50% giá trị của phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do nhà nước qui định, phần còn lại thuộc về nhà nước.

 

* Đối với vật do người khác đánh rơi, bỏ quên.( chỉ có thể là động sản)

 

– Nếu biết địa chỉ của người đánh rơi, bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại vật cho người đó.

 

– Nếu không biết địa chỉ thì phải thông báo hoặc giao nộp cho UBND xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần đó để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Nếu đã thông báo công khai sau 1 năm mà vẫn không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì:

 

+ Nếu vật có giá trị đến mười tháng lương tối thiểu do nhà nước qui định thì vật đó thuộc sở hữu của người nhặt được

 

+ Nếu vật có giá trị lớn hơn mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước qui định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu do nhà nước qui định và 50% giá trị của phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do nhà nước qui định, phần còn lại thuộc về nhà nước.

 

+ Nếu vật nhặt được là di tích lịch sử, văn hóa thì thuộc Nhà nước, người tìm thấy được hưởng một khoản tiền thưởng theo qui định của pháp luật.

 

* Đối với gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước

 

– Người bắt được phải thông báo công khai để chủ sở hữu đến nhận lại. Sau một khoảng thời gian thông báo công khai mà vẫn không có người đến nhận lại thì những vật nuôi này sẽ thuộc sở hữu của người bắt được.

 

4.1.2.7 Quyền sở hữu được xác lập theo thời hiệu

 

Để xác lập được quyền sở hữu với tài sản theo thời hiệu, người chiếm hữu phải thỏa mãn các điều kiện:

 

– Việc chiếm hữu phải ngay tình ( người chiếm hữu không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật)

 

– Việc chiếm hữu tài sản phải liên tục

 

– Việc chiếm hữu tài sản phải công khai

 

Đối với tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước, căn cứ xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu không được áp dụng.

 

*** Lưu ý: Quyền sở hữu được xác lập đối với một chủ thể có thể là xác lập lần đầu tiên đối với một tài sản, tuy nhiên cũng có trường hợp quyền sở hữu được xác lập đối với một chủ thẻ nào đó nhưng trước đó đã có chủ sở hữu, trường hợp này được hiểu là căn cứ xác lập quyền sở hữu của chủ thể này đồng thời là căn cứ chấm dứt quyền sở hữu của chủ thể khác.

 

4.2 Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu

 

4.2.1 Khái niệm căn cứ chấm dứt quyền sở hữu

 

Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu là những sự kiện pháp lý do pháp luật qui định mà khi xuất hiện những sự kiện đó thì quyền sở hữu của một chủ thể đối với tài sản sẽ chấm dứt

 

4.2.2 Các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu

 

– Quyền sở hữu phát sinh đối với chủ thể này có thể là căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu đối với chủ thể khác

 

– Quyền sở hữu có thế chấm dứt trong trường hợp chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu, tài sản bị xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu, tài sản bị tiêu hủy.

 

  1. BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU

 

5.1 Khái niệm

 

Bảo vệ quyền sở hữu được hiểulà những biện pháp tác động bằng pháp luật đối với hành vi xử sự của con người, qua đó bảo đảm cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện được các quyền năng của quyền sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình.

 

Có 3 phương thức bảo vệ quyền sở hữu là:

 

– Kiện đòi lại tài sản

 

– Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

 

– Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện các quyền năng của mình.

 

5.2 Đặc điểm của các phương thức kiện dân sự bảo vệ quyền sở hữu

 

– Phương thức kiện dân sự mang tính thực tế và được áp dụng rộng rãi

 

– Phương thức kiện dân sự tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho mọi chủ thể có quyền sở hữu bị xâm phậm tự mình chủ động thức hiện phương thức này.

 

– Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu trong dân sự là phương thức mang lại hiệu quả cao nhất cho người bị thiệt hại bởi lẽ nó tạo khả năng khôi phục là những thiệt hại về vật chất  cho chủ sở hữu và đặc biệt là khôi phục là những thiệt hại đó như chưa bị xâm phạm.

 

5.3 Các phương thức bảo vệ quyền sở hữu

 

5.3.1 Kiện đòi lại tài sản (kiện vật quyền)

 

Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi chiếm hữu trái pháp luật phải trả lại tài sản cho mình.

 

* Khi áp dụng phương thức này đòi hỏi phải thỏa mãn các điều kiện sau:

 

– Chủ thể có quyền yêu cầu (nguyên đơn): là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản đó và chứng minh được quyền sở hữu của mình đối với tài sản hoặc phải chứng minh được mình là người có quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản

 

– Người bị khởi kiện (bị đơn): phải là người đang chiếm hữu bất hợp pháp đối với tài sản đang chiếm hữu.

 

– Tài sản phải còn trong sự chiếm hữu của chủ thể chiếm hữu bất hợp pháp.

 

– Không rơi vào các trường hợp pháp luật qui định không phải trả lại tài sản được qui định ở Điều 257, 258 BLDS ( đòi động sản không có đăng ký quyền sở hữ từ người chiếm hữu ngay tình, …)

 

* Hậu quả của việc áp dụng phương thức kiện đòi lại tài sản:

 

– Đối với người chiếm hữu, sử dụng được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình: không phải trả lại hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó.

 

– Đối với người đang chiếm hữu tài sản là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì người đó luôn luôn phải trả lại tài sản và cả hoa lợi, lợi tức có được trong thời gian chiếm hữu tài sản.

 

5.3.2 Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (kiện trái quyền)

 

Kiện đòi bồi thường thiệt hại về tài sản là việc chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu tòa án buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu phải bồi thường thiệt hại cho mình.

 

* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có thể đặt ra đối với trường hợp bồi thường thiệt hại theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng.

 

– Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng: các bên có thể thỏa thuận về điều kiện bồi thường, mức bồi thường, phương thức bồi thường … trong hợp đồng & khi có tranh chấp xảy ra, cơ quan nhà nước có thảm quyền sẽ căn cứ vào sự thỏa thuận trong hợp đồng của các bên để giải quyết.

 

– Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: thì điều kiện để có thể áp dụng biện pháp khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm hại là:

 

+ Có thiệt hại xảy ra

 

+ Có hành vi trái pháp luật: nếu hành vi gây thiệt hại được coi là hợp pháp thì người gây thiệt hại sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

 

+ Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra

 

+ Có lỗi của người gây thiệt hại

 

* Hậu quả của việc áp dụng phương thức kiện đòi bồi thường thiệt hại:

 

Nếu các bên không có thỏa thuận gì khác về mức bồi thường, phương thức bồi thường thì thiệt hại về tài sản được bồi thường toàn bộ theo nguyên tắc thiệt hại bao nhiêu bồi thường bấy nhiêu và có thể gồm những thiệt hại sau:

 

– Thiệt hại do tài sản bị mất

 

– Thiệt hại do tài sản bị hủy hoặc bị hư hỏng

 

– Lợi ích gắn liền với việc sử dụng khai thác tài sản

 

– Chi phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại

 

5.3.3 Kiện yêu cầu ngăn ngừa hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sỏ hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp.

 

Khi phát hiện hành vi xâm phạm tới việc thực hiện các quyền năng của mình thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có một trong hai quyền sau:

 

– Tự mình yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó.

 

– Yêu cầu tòa án, cơ quan tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi đó.

 

Hậu quả pháp lý của phương thức này là người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm pham.

 

  1. CÁC QUI ĐỊNH KHÁC VỀ QUYỀN SỞ HỮU

 

Những qui định khác về quyền sở hữu được hiểu là những qui định liên quan đến nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thực hiện các quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc quyền của người không phải là chủ sở hữu tài sản.

 

6.1 Nghĩa vụ của chủ sở hữu

 

* Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong trường hợp xảy ra tình thế cấp thiết: không được cản trở người khác dùng tài sản của mình hoặc cản trở người khác gây thiệt hại đối với tài sản đó để ngăn chặn làm giảm mối nguy hiểm hoặc thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra.

 

* Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thực hiện quyền sở hữu liên quan đến bảo vệ môi trường, tôn trọng, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.

 

* Nghĩa vụ liên quan đến việc tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản liên quan đến qui tắc xây dựng, đảm bảo an toàn đối với công trình xây dựng liền kề.

 

6.2 Quyền của chủ thể không phải là  chủ sở hữu đối với tài sản không thuộc sở hữu của mình

 

Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, bao gồm:

 

– Quyền về lối đi qua bất động sản liền kế

 

– Quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản liền kề

 

– Quyền về cấp thoát nước qua bất động sản liền kề

 

– Quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác.

 

Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề sẽ chấm dứt khi các chủ thể không phải chủ sở hữu không còn nhu cầu sử dụng hạn chế bất động sản liền kề nữa.

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP LUẬT DÂN SỰ MODULE 1 – CHƯƠNG 7 – THỪA KẾ

 

Chương 7: THỪA KẾ

1. NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ

1.1 Khái niệm quyền thừa kế và những nguyên tắc chung của quyền thừa kế

1.1.1 Khái niệm thừa kế, quyền thừa kế

* Thừa kế: là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn sống

* Quyền thừa kế:

– Theo nghĩa rộng: quyền thừa kế là một chế định pháp lý bao gồm tổng hợp các qui phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ về việc dịch chuyển tài sản từ người chết cho những người còn sống khác theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc hoặc theo ý chí của nhà nước được thể hiện trong các qui phạm pháp luật.

– Theo nghĩa hẹp: quyền thừa kế được hiểu là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể có quyền để lại di sản thừa kế hoặc có quyền hưởng di sản thừa kế của người chết để lại theo ý chí của người đó hoặc theo qui định của pháp luật.

– Dưới góc độ khoa học pháp lý: quyền thừa kế còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự. Quan hệ pháp luật dân sự về thừa kế được các qui phạm pháp luật dân sự điều chỉnh. Quan hệ này cũng bao gồm: Chủ thể, khách thể và nội dung.

1.1.2 Các nguyên tắc của quyền thừa kế (Có 4 nguyên tắc cơ bản)

* Nguyên tắc bảo hộ về quyền thừa kế của cá nhân.

– Cá nhân có quyền thừa kế được thể hiện trên cả hai khía cạnh là quyền để lại di sản và quyền hưởng di sản thừa kế.

– Quyền để lại di sản thừa kế của cá nhân khẳng định pháp luật tôn trọng  việc cá nhân có thể định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi mình chết theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc hoặc theo pháp luật

– Quyền hưởng di sản thừa kế, nguyên tắc này cũng đảm bảo cho  cá nhân có quyền hưởng di sản thừa kế do người chết để lại theo di chúc hoặc theo pháp luật.

* Nguyên tắc bình đẳng về quyền thừa kế

– Theo qui định của pháp luật thì mọi cá nhân với tư các là chủ sở hữu đều có quyền định đoạt tài sản theo ý chí của mình.

– Đối với thừa kế theo di chúc thì bất kì ai được chỉ định trong di chúc đều có thể trở thành người thừa kế của người chết.

– Còn đối với thừa kế theo pháp luật thì người thừa kế là con trai hay con gái, con đẻ hay con nuôi, con trong giá thú hay con ngoài giá thú … đều được hưởng thùa kế ngang nhau.

=> Nguyên tắc bình đẳng về quyền thừa kế của pháp luật Việt Nam thể hiện sự tiến bộ vượt bậc so vơi qui định của pháp luật trước kia.

* Nguyên tắc tôn trọn quyền định đoạt của người có tài sản, người hưởng di sản.

– Nếu người chết để lại di chúc (hợp pháp) thì việc thừa kế sẽ tiễn hành theo di chúc. Tuy nhiên việc định đoạt của người lập di chúc bị hạn chế trong trường hợp  qui định tại Điều 669 BLDS.

– Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản trừ trường hợp từ chối hưởng di sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản với người khác. Khi nhân di sản người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại trong phạm vi di sản đã nhận.

* Nguyên tắc củng cố, giữ vững tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình.

– Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc chung trong quan hệ dân sự , đó là: Việc xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải đảm bảo giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị cao đẹp cảu các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

– Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật dựa trên cơ sở huyết thống gần gũi, quan hệ hôn nhân, trong việc bảo vệ quyền lợi của người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.

1.2 Thời điểm và địa điểm mở thừa kế

1.2.1 Thời điểm mở thừa kế

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được tòa án xác định trong quyết định tuyên bố một người là đã chết.

Việc xác định chính xác thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa:

– Trong việc xác định được chính xác di sản thừa kế bao gồm những gì, giá trị bao nhiêu để giải quyết việc phân chia di sản sau này

– Trong việc xác định những người có quyền hưởng di sản thừa kế: phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế và sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế.

– Thời điểm mở thừa kế là thời điểm là phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế.

– Thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa trong việc xác định hiệu lực của di chúc: di chúc có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm mở thừa kế, di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ chồng cùng chết.

– Việc xác định thời điểm mở thừa kế còn có ý nghĩa trong việc xác định thời hạn thời hiệu:

+ Thời hạn từ chối hưởng di sản của người thừa kế là 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế.

+ Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

+ Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

1.2.2 Địa điểm mở thừa kế

Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản, nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản, nếu tài sản của người đó ở nhiều nơi thì đó là nơi có phần lớn di sản.

Xác định địa điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trong vì :

– Địa điểm mở thừa kế là nơi thực hiện việc quản lý, thanh toán và phân chia di sản, kiểm kê di sản trong trường hợp cần thiết để ngăn chặn hành vi tẩu tán hoặc chiếm đoạt di sản.

– Xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về thừa kế.

1.3 Di sản

Di sản được hiểu là toàn bộ tài sản do người chết để lại

– Di sản là tài sản riêng của người chết: là tài sản mà người đó có được từ các căn cứ xác lập quyền sở hữu hợp pháp.

– Di sản là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác

1.4 Người thừa kế

1.4.1 Khái niệm người thừa kế

Người thừa kế là người được thừa hưởng di sản của người chết để lại theo chỉ định trong di chúc hoặc theo qui định của pháp luật

Người thừa kế theo di chúc là người di sản theo di chúc do người lập di chúc chỉ định, định đoạt trước khi chết. Do đó người này có thể là bất kì ai.

Người thừa kế theo pháp luật là người thừa kế theo hàng thừa kế và trình tự thừa kế do pháp luật qui định. Những người này chỉ có thể là cá nhân và phải có mối quan hệ gần gũi thân thiết với người chết thuộc một trong ba mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng.

Theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện nay, thừa kế là một quan hệ pháp luật, do đó người thừa kế phải là chủ thể của quan hệ pháp luật tức là phải là cá nhân hoặc tổ chức.

1.4.2 Điều kiện của người thừa kế

* Đối với người thừa kế là cá nhân: Phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế (người đã sinh ra và chưa chết vào thời điểm mở thừa kế, thành thai trước thời điểm mở thừa kế và phải sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế).

* Đối với người thừa kế là tổ chức: cơ quan, tổ chức đó phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế ( tức là vào thời điểm người để lại di sản chết, cơ quan tổ chức được thành lập và chưa chấm dứt hoạt động.

1.4.3 Quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

Kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại.

Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

1.5 Người quản lý di sản

Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra. Trong trường hợp di chúc không chỉ định và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử ra được người quản lý di sản/.

1.5.1 Nghĩa vụ của người quản lý di sản

Người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra hay người quản lý di sản là cơ quan tổ chức có nghĩa vụ sau:

– Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ các trường hợp pháp luật có qui định khác.

– Bảo quản di sản; không định đoạt tài sản thuộc khối di sản như bán, trao đổi , tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác.

– Thông báo về di sản cho những người thừa kế.

– Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại.

– Giao lại tài sản theo yêu cầu của người thừa kế hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản.

Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản có nghĩa vụ như người quản lý di sản trừ nghĩa vụ lập danh mục di sản và thu hồi di sản mà người khác đang chiếm hữu.

1.5.2  Quyền của  người quản lý di sản

Người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra hay người quản lý di sản là cơ quan tổ chức có quyền sau:

– Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với những người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế.

– Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với người thừa kế

Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản có quyền tiếp tục sử dụng di sản theo hỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế, và những người này cũng được hưởng thù lao quản lý di sản nếu những người thừa kế có thỏa  thuận.

1.6 Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm

Trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không xác định được người nào chết trước thì họ không được hưởng di sản thừa kế của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị (Điều 641).

1.7 Từ chối nhận di sản

Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

Việc từ chối nhận di sản cũng phải biểu lộ ý chí công khai của mình thể hiện ở việc phải thông báo cho những người thừa kế khác biết, thông báo cho người có nhiệm vụ phân chia di sản, cho công chứng nhà nước hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế.

Việc từ chối quyền hưởng di sản phải được bày tỏ trong thời hạn 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế.

1.8 Người không được quyền hưởng di sản

Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọn, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm người đó. Lưu ý: người thừa kế phải bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật về một trong những hành vi trên, lỗi của người thừa kế là lỗi cố ý.

Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản, đây là nghĩa vụ về mặt pháp lý chứ không đơn thuần là nghĩa vụ đạo đức.

Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó được hưởng.

Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người có di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

*** Lưu ý: Những người rơi vào một trong bốn trường hợp nói trên vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của nguời đó những vẫn cho họ hưởng theo di chúc.

1.9 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Các trường hợp quá thời hiệu khởi kiện vì lí do khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng, trường hợp người khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự  mà chưa có người đại diện … thì khoảng thời gian đó sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện.

2. THỪA KẾ THEO DI CHÚC

2.1 Khái niệm thừa kế theo di chúc và thừa kế theo di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Nếu di chúc không đề cập đến việc chuyển tài sản này thì di chúc cũng không tồn tại giá trị pháp lý dưới góc độ pháp luật dân sự.

Di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc nhưng ý chí này phải phù hợp với qui định của pháp luật thể hiện qua các qui định liên quan đến điều kiện có hiệu lực của di chúc.

Di chúc chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của di chúc và người lập di chúc chết. Trong di chúc, người lập di chúc có toàn quyền trong việc định đoạt tài sản cũng như đưa ra các điều kiện nhất định cho người thừa kế.

Thừa kế theo di chúc là việc chuyển tài sản của người đã chết cho những người thừa kế theo ý chí tự nguyện của người để lại di sản thể hiện trong di chúc.

2.2 Điều kiện có hiệu lực của di chúc và di chúc vô hiệu

2.2.1 Điều kiện có hiệu lực của di chúc

Điều kiện có hiệu lực của di chúc là những qui định của pháp luật,  theo đó di chúc chỉ có thể phát sinh hiệu lực pháp lý khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện này.

Các điều kiện đó là:

2.2.1.1 Người lập di chúc phải có năng lực chủ thể trong việc lập di chúc

Pháp luật cho phép bất cứ cá nhân nào cũng có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản (năng lực pháp luật), tuy nhiên cá nhân đó cũng phải có đủ năng lực hành vi dân sự. Năng lực chủ thể trong việc lập di chúc được xác định như sau:

– Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền trong việc lập di chúc

– Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được lập di chúc nhưng di chúc nhưng di chúc đó phải được lập thành văn bản và phải được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. (đồng ý cho lập di chúc chứ không phải đồng ý với nội dung di chúc)

– Người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ cũng có quyền lập di chúc nhưng di chúc đó phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

2.2.1.2 Người lập di chúc phải tự nguyện

Ý chí của người lập di chúc là chuyển tài sản của mình cho những người khác sau khi người lập di chúc chết. Do đó ý chí này phải là ý chí đích thực. Sự thể hiện ý chí của người lập di chúc phải được kiểm soát bởi lí trí của họ.

Trong khi lập di chúc người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, cưỡng ép.

Những trường hợp sau không có sự tự nguyện của người lập di chúc:

– Di chúc giả mạo

– Người lập di chúc có sự nhầm lẫn trong khi lập di chúc

– Người lập di chúc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong khi lập di chúc

– Người để lại di sản lập di chúc vào thời điểm không nhận thức, làm chủ  được hành vi của mình.

2.2.1.3 Nội dung của di chúc không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Người lập di chúc không thể định đoạt vật mà nhà nước cấm lưu thông, định đoạt tài sảm cho tổ chức phản động, đưa ra những điều kiện trái pháp luật cho người thừa kế.

2.2.1.4 Hình thức của di chúc không trái pháp luật

Nếu pháp luật qui định hình thức của di chúc phải được thể hiện dưới những hình thức nhất định hoặc phải thỏa mãn những điều kiện cụ thể thì người lập di chúc phải thỏa mãn những điều kiện, hình thức đó, nếu không thỏa mãn thì di chúc vô hiệu.

Hình thức bắt buộc của di chúc phải bằng văn bản, việc lập di chúc miệng phải theo các điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật qui định.

Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết, tiếng nói của dân tộc mình

2.2.2 Di chúc vô hiệu và hiệu lực pháp luật của di chúc

2.2.2.1 Di chúc vô hiệu

Di chúc vô hiệu là di chúc không thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của di chúc do pháp luật qui định hoặc các qui định khác của pháp luật không liên quan đến điều kiện có hiệu lực của di chúc

Di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau:

– Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc

– Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người được thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế

– Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế

– Di chúc có thể vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ có phần đó không có hiệu lực pháp luật.

2.2.2.2 Hiệu lực pháp luật của di chúc

Để di chúc có hiệu lực pháp luật thì cần phải thỏa mãn 2 điều kiện:

– Người lập di chúc chết

– Di chúc phải thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của di chúc.

Lưu ý:

+ Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản, thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật

+ Đối với di chúc chung của vợ chồng: di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết.

2.3 Gửi giữ, công bố và giải thích di chúc

2.3.1 Gửi giữ di chúc

Trường hợp di chúc được lưu giữ tại cơ quan công chứng thi khi nhận lưu giữ di chúc, công chứng viên phải niêm phong bản di chúc trước mặt người lập di chúc, ghi giấy nhận lưu giữ và giao cho người lập di chúc. Người lập di chúc phải nộp phí lưu giữ di chúc theo qui định của pháp luật.

Đối với cá nhân giữ di chúc có thể là bất cứ ai có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Cá nhân giữ bản di chúc có nghĩa vụ sau:

– Giữ bí mật nội dung di chúc.

– Giữ gìn, bảo quản bản di chúc; nếu bản di chúc bị thất lạc, hư hại thì phải báo ngay cho người lập di chúc.

– Giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc, khi người lập di chúc chết. Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành văn bản, có chữ kí của người giao, người nhận và trước sự có mặt của hai người làm chứng.

2.3.2 Công bố di chúc

Công bố di chúc là hành vi công khai thể hiện nội dung của di chúc cho những người thừa kế và những người có liên quan được biết. Cần lưu ý:

– Trong trường hợp di chúc bằng văn bản được lưu giữ tại cơ quan công chứng thì công chứng viên là người công bố di chúc.

– Trong trường hợp người để lại di chúc chỉ định người công bố di chúc thì người này có nghĩa vụ công bố di chúc.

Về thủ tục công bố di chúc: sau thời điểm mở thừa kế, người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc. Người nhận được bản sao di chúc có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc của di chúc. Trong trương hợp di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài thì bản di chúc đó phải được dịch sang tiếng Việt và phải có công  chứng.

2.3.3 Giải thích nội dung di chúc

Nếu nội dung di chúc không người thừa kế phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc.

Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung thì “ … coi như không có di chúc và việc chia di sản được áp dụng theo qui định về thừa kế theo pháp luật.” Điều 673 BLDS. Qui định này cũng có sự hạn chế trong trường hợp có một người trong những người thừa kế cố tình không  nhất trí với cách hiểu nội dung của di chúc.

Di chúc không giải thích được cũng đồng nghĩa với di chúc vô hiệu, do vậy nếu có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được là không có hiệu lực.

2.4 Quyền của người lập di chúc

2.4.1 Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế

Việc chỉ định người thừa kế hoàn toàn do người lập di chúc quyết định.

Người lập di chúc có quyền “truất quyền” thừa kế của người thừa kế. Việc truất quyền thừa kế được áp dụng đối với các cá nhân thuộc ba hàng thừa kế.

2.4.2 Phân định phần di sản cho từng người thừa kế

Thực hiện bằng hai cách:

– Phân định phần di sản là hiện vật trực tiếp cho người thừa kế.

– Phân định di sản cho người thừa kế theo tỉ lệ giá trị di sản nhất định tính trên tổng số giá trị di sản.

Nếu trong di chúc người lập di chúc không phân chia phần di sản cho những người thừa kế mà chỉ liệt kê những người thừa kế theo di chúc thì những người thừa kế sẽ được hưởng phần bằng nhau.

2.4.3 Dành một phần tài sản trong khổi di sản để di tặng thờ cúng

2.4.4 Giao nghĩa vụ  cho người thừa kế

Pháp luật còn cho phép người lập di chúc có quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế. Cần lưu ý:

– Chỉ những nghĩa vụ không gắn liền với nhân thân, những nghĩa vụ không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội mới được giao cho người thùa kế

– Người thừa kế chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ mà người để lại di sản giao cho trong phạm vi di sản mà họ được hưởng

– Nếu trong di chúc, người để lại di sản không phân định rõ phần nghĩa vụ cho những người thừa kế thì những người này phải chịu phần nghĩa vụ về tài sản tương ứng với di sản thừa kế mà họ được hưởng

– Cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc cũng phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại

2.4.5 Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý tài sản, người phân chia di sản,người công bố di chúc

Người lập di chúc có thể chỉ định bất cứ ai giữ di chúc, quản lý di sản, phân chia di sản và công bố di chúc. Người được chỉ định này có thể là người không được người để lại di sản cho hưởng di sản.

Tuy nhiên, người được chỉ định có quyền từ chối việc chấp nhận là người giữ di chúc, người quản lí tài sản, người phân chia di sản, người công bố di chúc.

2.4.6 Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

Sửa đổi  di chúc là sự hiện ý chí của người lập di chúc, theo đo họ thay đổi một hoặc một số nội dung trong di chúc mà họ đã lập trước đó.

Bổ sung di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc, theo đó họ đưa vào di chúc đã lập trước đó một số nội dung mới.

Khi người lập di chúc bổ sung vào di chúc một số nội dung mới thì về nguyên tắc cả di chúc đã lập và di chúc bổ sung đều có hiệu lực pháp lý. “ … nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật”

Nếu vợ chồng lập di chúc chung thì vợ, chồng có quyền sủa đổi, bổ sung di chúc chung

Cần lưu ý: nếu di chúc trước đó được lập theo hình thức nào thì việc sửa đổi, bổ sung di chúc cũng phải tuân theo hình thức đó.

2.4.7 Định ra một thời hạn nhất định kể từ thời điểm mở thừa kế mới được phân chia di sản

Thông thường, sau khi người lập di chúc chết thì di chúc phát sinh hiệu lực pháp lý và những người thừa kế có thể tự thỏa thuận phân chia di sản theo di chúc hoặc yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, pháp luật cho phép người lập di chúc có quyền định ra một thời hạn nhất định kể từ thời điểm mở thừa kế thì những người thừa kế chỉ được phân chia di sản kể từ thời điểm đó.

2.4.8 Lựa chọn hình thức của di chúc

Trừ hình thức của di chúc miệng phải tuân theo điều kiện do pháp luật qui định, trong các hình thức của di chúc còn lại thì người lập di chúc có thể lực chọn cho mình một trong các hình thức đó.

2.5 Hình thức của di chúc và thủ tục lập di chúc

Hình thức của di chúc là nguồn chứng cứ được sử dụng để chứng minh ý chí đích thực của người lập di chúc về việc định đoạt di sản.

Hình thức của di chúc có hai loại là di chúc miệng và di chúc bằng văn bản.

2.5.1 Di chúc có hình thức miệng

Di chúc miệng là sự thể hiện ý chí của cá nhân thông qua lời nói và được những người khác ghi lại bằng văn bản. Việc lập di chúc miệng phải thỏa mãn các điều kiện sau:

– Chỉ có thể lập di chúc miệng nếu cá nhân đang bị đe dọa về tính mạng bởi bệnh tật hoặc nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản. Một người không biết chữ nếu họ trong tình trạng sức khỏe bình thường cũng không thể lập di chúc miệng.  Người bị hạn chế về thể chất mà không thuộc trường hợp tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng bởi cái chết do bệnh tật hoặc do nguyên nhân khác cũng không thể lập di chúc miệng. Trong hai trương hợp này thì họ vẫn phải được người làm chứng lập văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

– Việc lập di chúc miệng phải có mặt ít nhất hai người làm chứng.

– Sau khi làm chứng cho việc lập di chúc miệng, những người làm chứng phải cùng nhau chép lại nội dung di chúc và cùng kí tên hoặc điểm chỉ vào di chúc đó.

– Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực

– Theo qui định của pháp luật, nếu sau 3 tháng kể từ ngày lập di chúc miệng, mà người lập di chúc miệng còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng đương nhiên bị hủy bỏ.

2.5.2 Di chúc có hình thức bằng văn bản

Di chúc có hình thức bằng văn bản là sự thể hiện ý chí của cá nhân dưới hình thức văn bản

2.5.2.1 Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Người lập di chúc phải tự tay viết và kí vào bản di chúc

Đối với di chúc bằng văn bản không có người làm chứng trong di chúc phải ghi rõ:

– Ngày, tháng, năm lập di chúc

– Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc

– Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản

– Di sản để lại và nơi có di sản

– Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ

Lưu ý: di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng kí hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ kí hoặc điểm chỉ của người lập di chúc

2.5.2.2 Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

– Phải có ít nhất là hai người làm chứng

– Người lập di chúc phải kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng

– Những người làm chứng xác nhận chữ kí, điểm chỉ của của người lập di chúc và kí vào bản di chúc.

2.5.2.3 Di chúc bằng văn bản được công chứng, chứng thực

Công chứng, chứng thực là việc công chứng viên, người có thẩm quyền của UBND chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của di chúc bằng văn bản và theo qui định của pháp luật di chúc phải được công chứng, chứng thực hoặc người lập di chúc tự nguyện yêu cấu công chứng, chứng thực.

* Thủ tục công chứng, chứng thực:

– Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền  chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn kí vào bản di chúc.

– Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không kí hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải kí xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

* Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền của UBND cũng không được công chứng, chứng thực nếu họ là người thuộc một trong các trường hợp sau:

– Là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc

– Là người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

– Là người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc

* Các trường hợp di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực bao gồm:

– Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu công nhân không thể công chứng hoặc chứng thực

– Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó.

– Di chúc của người được điều trị tại bệnh việc hoặc cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó

– Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò nghiên cứu ở rừng núi, hải đảo có xác nhận của người  phụ trách đơn vị

– Di chúc của công nhân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.

– Di chú cuả người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính của cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.

2.6 Vấn đề di chúc chung của vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất hợp nhất bao gồm:

– Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

– Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận

Pháo luật cho phép vợ chồng có quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Di chúc chung của vợ chồng chỉ định đoạt tài sản chung, nếu vợ hoặc chồng có tài sản riêng thì họ có thể lập di chúc để định đoạt tài sản riêng này.

Vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào và phải tuân thủ đầy đủ các qui định về điều kiện có hiệu lực của di chúc.

Di chúc chung của vợ chồng thì chỉ có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết. Nếu một bên chết trước thì người còn sống vẫn có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.

2.7 Người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Thứ nhất, chỉ xác định người hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc để cho họ hưởng di sản nếu người này không được người để lại di sản cho hưởng di sản hoặc cho hưởng nhưng giá trị  phần di sản được hưởng là quá ít

Thứ hai, đối tượng được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc bao gồm:

– Vợ hoặc chồng của người chết

– Con chưa thành niên

– Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi

– Con đã thành niên không  có khả năng lao động.

Thứ ba, sẽ không cho người thừa kế được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nếu người người thừa kế từ chối hưởng di sản hoặc không có quyền hưởng di sản.

Thứ tư, đối với cách tính 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật để cho người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc được hưởng:

KPBB = 2/3 x DS/STK

Trong đó:

– KPBB là kỷ phần bắt buộc, tức là phần di sản mà người thừa kế được hưởng không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.

– DS là tổng di sản sau khi trừ đi di sản dừng vảo việc thờ cúng, các nghĩa vụ về tài sản và các chi phí khác theo Điều 683.

– STK là tổng sổ những người thừa kế được chia di sản để tính một suất thừa kế. Suất thừa kế bao gồm những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất sau khi loại trừ: người thừa kế từ chối quyền hưởng di sản, người thừa kế không có quyền hường di sản, người thừa kế bị truất quyền hưởng di sản.

Thứ năm: giả thiết có người thừa kế là đối tượng được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nhưng họ vẫn vi phạm Khoản 1, Điều 643 BLDS 2005. Nếu người lập di chúc không cho người thừa kế hưởn di sản khi họ không được quyền hưởng di sản thì người này luôn luôn không được hưởng. Nếu người lập di chúc cho họ bao nhiêu thì họ cũng chỉ được hưởng bấy nhiêu, kể cả ít hơn 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật.

2.8 Di sản dùng vào việc thờ cúng

Di sản dùng vào việc thờ cúng được gọi là hương hỏa và hương hỏa đa phần là ruộng đất. Pháp luật dân sự cho phép người để lại di sản trước khi chết có quyền đề lại di sản dùng vào việc thờ cúng.

* Lưu ý:

– Chỉ đề cập đến di sản thờ cúng nếu trong di chúc người để lại di sản có ghi rõ di sản dùng vào việc thờ cúng

– Không thể giành toàn bộ di sản dùng vào việc thờ cúng mà chỉ để một phần nhất định

– Di sản thờ cúng không được chi thừa kế, do đó trước khi tiến hành phân chia di sản phải loại trừ di sản thờ cúng ra khỏi số di sản sẽ được chia

– Về xác định người quản lý di sản thờ cúng:

+ Theo ý chí của người để lại di sản ghi rõ trong di chúc

+ Theo sự thỏa thuận của những người thừa kế nếu người để lại di sản không chỉ định người này

+ Trong cả hai trường hợp trên đây, nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

* Người quản lý di sản thờ cúng không có quyền sở hữu đối với di sản này, mặc dù họ có thể thực hiện việc chiếm hữu, sử dụng. Sẽ coi là vi phạm nghĩa vụ thờ cúng nếu người quản lý di sản thờ cúng không thờ cúng hoặc không theo đúng yêu cầu của người để lại di sản, không theo thỏa thuận của những người thừa kế về việc yêu cầu người quản lý di sản thờ cúng phải thờ cúng theo một nghi lễ nhất định.

* Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được giành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

2.9 Di tặng

Có những quan hệ xã hội đặc biệt mà bản thân người để lại di sản muốn để lại một phần di sản của mình cho người khác với ý nghĩa là quà kỉ niệm.  Người để lại di sản không thể để lại toàn bộ di sản để di tặng.

Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc là di sản “di tặng”, nếu không ghi rõ di sản di tặng thì sẽ được hiểu là thừa kế theo di chúc. Người được thừa kế theo di chúc phải thực hiện nghĩa vụ do nghĩa vụ chết để lại tương ứng với phần di sản mà họ được hưởng, còn người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng.

3. THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

3.1 Khái niệm thừa kế theo pháp luật

Chế định thừa kế pháp luật được coi là “sự phỏng đoán” ý chí của người để lại di sản. Đối với thừa kế theo pháp luật thì chỉ có cá nhân mới được hưởng thừa kế và cá nhân này, có một trong ba mối quan hệ với người được để lại di sản: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ thừa kế; và việc thừa kế được xã định theo hàng. Không phải ai trong các hàng thừa kế cũng được hưởng di sản mà điều này còn phụ thuộc vào nguyên tắc ưu tiên của hàng thừa kế.

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật qui định

3.2 Các trường hợp phát sinh thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những tình huống sau:

– Không có di chúc

– Di chúc không hợp pháp

– Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc. Cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế. Trong trường hợp này, di chúc sẽ bị coi là vô hiệu và di sản được chia theo pháp luật.

– Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà khôn có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

– Phần di sản không được định đoạt trong di chúc

– Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật

– Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

3.3 Diện và hàng thừa kế theo pháp luật

3.3.1 Diện thừa kế theo pháp luật

Diện thừa kế là phạm vi những người có thể được hưởng di sản do người chết để lại được xác định theo một trong ba quan hệ (hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng) với người để lại di sản.

– Quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn

– Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ (cha mẹ đối với con cái, ông bà đối với cháu,…) hoặc bàng hệ (không trực tiếp sinh ra nhau nhưng có cùng một nguồn gốc chung: anh chị em ruột…)

– Quan hệ nuôi dưỡng quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại.

* Trường hợp ngoại lệ đặc biệt : con riêng đối với bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì cũng được thừa kế di sản của nhau.

3.3.2 Hàng thừa kế theo pháp luật

Pháp luật qui định những người có thể được hưởng di sản thừa kế của người chết được xếp theo thứ tự các hàng thừa kế theo nguyên tắc ưu tiên và những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3.3.2.1 Hàng thừa kế thứ nhất

Gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

– Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng và ngược lại, cần lưu ý:

+ Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

+ Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

+ Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.

+ Đối với trường hợp một người có nhiều vợ, nhiều chồng được pháp luật thừa nhận thì người chồng (vợ) được hưởng thừa kế ở hàng thứ nhất của tất cả những người vợ (chồng) và ngược lại.

– Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ, con đẻ và ngược lại

– Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ nuôi, con nuôi và ngược lại

3.3.2.2 Hàng thừa kế thứ hai

Gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

3.3.2.3 Hàng thừa kế thứ ba

Gồm cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột, cô ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột, cô ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

*** Lưu ý:

– Khi chia thừa kế theo hàng thừa kế, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần bằng nhau.

– Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, do không có quyền hưởng di sản, do bị truất quyền hưởng di sản hoặc do từ chối nhận di sản.

– Khi tất cả các hàng thừa kế đều không còn người thừa kế thì di sản thuộc về nhà nước

3.4 Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hường phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Có thể hiểu thừa kế chuyển tiếp như sau: Người thừa kế còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng họ lại không còn sống vào thời điểm phân chia di sản.

Giữa thừa kế thế vị và thừa kế chuyển tiếp khác nhau ở những điểm sau:

– Thời điểm chết: Thừa kế thế vị thì người hưởng thừa kế có thể chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản; Thừa kế chuyển tiếp thì người thừa kế sống vào thời điểm mở thừa kể nhưng không còn sống vào thời điểm phân chia di sản.

– Thừa kế thế vị chỉ có ở thừa kế theo pháp luật, còn thừa kế chuyển tiếp có thể có ở thừa kế theo pháp luật nhưng cũng có thể ở thừa kế theo di chúc.

– Giữa người chết trước, chết cùng thời điểm với người để lại di sản trong thừa kế thế vị phải có quan hệ huyết thống trực hệ với người để lại di sản; còn giữa người không còn sống vào thời điểm phân chia di sản (thừa kế chuyển tiếp) với người để lại di sản có thể là bất cứ ai (hưởng thừa kế theo di chúc hoặc hưởng thừa kế theo pháp luật).

– Đối tượng hưởng thừa kế thế vị hẹp hơn đối tượng hưởng thừa kế chuyển tiếp.

4. THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN

4.1 Những thủ tục tiến hành trước khi phân chia di sản

Những người thừa kế có thể tiến hành họp mặt để thỏa thuận về việc cử người quản lí di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc; thỏa thuận về cách thức phân chia di sản.

Việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản có thể được thực hiện trước hoặc sau khi phân chia di sản tùy từng trường hợp.

Thanh toán di sản là việc những người có quyền hưởng di sản thừa kế phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản cũng như các khoản chi phí liên quan đến thừa kế tron phạm vi di sản mà mình được hưởng theo thứ tự do pháp luật qui định.

Nghĩa vụ về tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau:

– Chi phí hợp lí theo tập quán cho việc mai tang

– Tiền cấp dưỡng còn thiếu

– Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ

– Tiền công lao động

– Tiền bồi thường thiệt hại

– Thuế và các khoản nợ khác đối với nhà nước

– Tiền phạt

– Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác

– Chi phí cho việc bảo quản di sản

– Các chi phí khác

Ngoài các nghĩa vụ và chi phí trên trước khi tiến hành phân chia di sản còn phải trừ đi di sản thờ cúng và di sản di tặng.

4.2 Phân chia di sản

4.2.1 Phân chia di sản theo di chúc

Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc.

Trong trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lơi, lợi tức thu được từ hiện vật đó, hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bọ tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Cũng có trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỉ lệ đối với tổng giá trị khối tài sản thì khi chia di sản, tỉ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản để chia cho người thừa kế.

* Lưu ý: Những người thừa kế có quyền thỏa thuận về việc phân chia di sản khác với ý chí của người có di sản

4.2.2 Phân chia di sản theo pháp luật

Việc phân chia di sản theo pháp luật là phân chia theo ý chí của nhà nước, đồng thời có tính đến sự thỏa thuận của những người thừa kế.

Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằn nhau.

4.2.3 Phân chia di sản trong trương hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền  thừa kế

* Người thừa kế mới được hiểu là sau khi di sản được phân chia mới xuất hiện người thừa kế này.

Trong trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỉ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

* Người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế được hiểu là người sau khi phân chia di sản họ mới được xác định là không có quyền hưởng di sản.

Trong trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4.3 Hạn chế phân chia di sản

Là hạn chế về mặt thời gian phân chia chứ không phải là hạn chế về di sản phân chia hay hạn chế về người thừa kế được phân chia di sản. Khi xác định hạn chế phân chia di sản cần lưu ý:

– Trong trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia.

– Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định, nhưng không quá ba năm, kế từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do tòa tán xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu toàn án cho chia di sản thừa kế.

 

Click để xem thêm các tài liệu ôn tập Luật của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

 

Leave a Reply