kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật họcTổng hợp câu hỏi tự luận kèm đáp án môn Triết học Mác Lê-nin P1

  1. Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả để phân tích vấn đề nạn phá rừng ở việt nam hiện nay – Bài tập học kỳ Những nguyên lý cơ bản Mác Lênin
  2. Sự vận dụng nguyên tắc chủ nghĩa Mác – Lênin giải quết vấn đề tôn giáo của Đảng và nhà nước ở Việt Nam hiện nay
  3. Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay
  4. Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để làm rõ thực trạng bạo lực học đường
  5. Quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác – Lê nin và vận dụng quan điểm toàn diện để đánh giá cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung – Bài tập học kì – môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin
  6. Vấn đề “bỏ qua” chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam – Bài tập học kỳ – môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac Lenin
  7. Chủ trương của Đảng về đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại
  8. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – Bài tập học kỳ Mác Lênin

Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả để phân tích vấn đề nạn phá rừng ở việt nam hiện nay – Bài tập học kỳ Những nguyên lý cơ bản Mác Lênin

 

Một phản ứng hóa học không thể xảy ra nếu không có sự tương tác giữa phân tử của các chất tham gia; bóng đèn sẽ không phát sáng nếu như không có sự tác động qua lại giữa dòng điện và dây dẫn; sẽ không có các mùa nếu trái đất không quay…. Rõ ràng, không có nguyên nhân nào không dẫn tới kết quả nhất định và ngược lại, không có kết quả nào lại không có nguyên nhân. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối liên hệ được lặp đi lặp lại nhiều nhất, phổ biến nhất trong sự vận động của hiện tượng. Do đó có thể nói, mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ tự nhiên đầu tiên được phản ánh vào đầu óc của con người. Do vậy mối quan hệ nguyên nhân kết quả là mối quan hệ đặc biệt quan trọng.

 

Nội Dung:

 

Phần I:Khái niệm cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả và mối quan hệ biện chứng giữa chúng:

 

1.Khái niệm nguyên nhân và kết quả:

 

Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra sự biến đổi nhất định.

 

Kết quả là những biến đổi xuất hiện do nguyên nhân tao ra.

 

2.Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả:

 

– Theo quan điểm biện chứng duy vật mối liên hệ nhân – quả là mối liên hệ khách quan của bản thân các sự vật. Nó tồn tại ngoài ý muốn của con người không phụ thuộc vào việc ta có nhận thức được nó hay không.

 

– Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả còn thể hiện ở chỗ: 1 hiện tượng nào đó trong đó mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại.

 

– Thực tiễn cho thấy cùng một nguyên nhân có thể gây nên nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể. Ngược lại một kết quả có thể gây nên bởi nhiều nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hay tác động cùng lúc.

 

3.Phân loại nguyên nhân:

 

– Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu

 

+ Nguyên nhân chủ yếu : là các nguyên nhân mà khi thiếu mặt thì kết quả sẽ không xảy ra .

 

+ Nguyên nhân thứ yếu : là các nguyên nhân mà khi có mặt của chúng chỉ quyết định những đặc điểm nhất thời, không ổn định, cá biệt của hiện tượng .

 

– Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài :

 

+ Nguyên nhân bên trong : là sự tác động lẫn nhau giữa những mặt hay những yếu tố của cùng 1 kết cấu vật chất nào đó và gây ra những biến đổi nhất định .

 

+Nguyên nhân bên ngoài : là sự tác động lẫn nhau giữa những kết cấu vật chất khác và gây ra những biến đổi thích hợp trong kết cấu vật chất ấy .

 

– Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan :

 

+ Nguyên nhân khách quan : là nguyên nhân xuất hiện và tác động độc lập đối với ý thức con người, của các giai cấp, các chính đảng…

 

+ Nguyên nhân chủ quan : là nguyên nhân xuất hiện và tác động phụ thuộc vào ý thức con người trong lĩnh vực hoạt động của các cá nhân, các giai cấp, các chính đảng… nhằm thúc đẩy hay kìm hãm sự xuất hiện, phát triển… các quá trình xã hôi.

 

– Nguyên nhân tác động cùng chiều và nguyên nhân tác động ngược chiều :

 

+ Nguyên nhân tác động cùng chiều : là các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng một hướng thì sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả .

 

+ Nguyên nhân tác động ngược chiều : là các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thậm thì hoàn toàn triệt tiêu tác dụng của nhau .

 

4.Ý nghĩa phương pháp luận :

 

– Vì mối liên hệ nhân – quả tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người nên chỉ có thể tìm nguyên nhân của hiện tượng ở trong chính thế giới của hiện thực.

 

– Vì nguyên nhân luôn luôn xuất hiện trước kết quả nên khi nguyên nhân của 1 hiện tượng nào đó cần tìm trong những mặt, những sự kiện những mối liên hệ đã xảy ra trước khi xuất hiện.

 

– Vì dấu hiệu đặc trưng của nguyên nhân trong mối liên hệ với kết quả là nguyên nhân sinh ra kết quả, nên khi xác định nguyên nhân của hiện tượng cần đặc biệt chú ý đến dấu hiệu đặc trưng ấy.

 

– Vì mối liên hệ nhân – quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn.

 

– Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải có cách nhìn mang tính toàn diện và lịch sử – cụ thể trong phân tích, giải quyết và vận dụng quan hệ nhân – quả.

 

– Vì mối liên hệ nhân – quả mang tính chất tất yếu nên ta có thể dựa vào mối quan hệ nhân – quả để hành động trong quá trình hành động ấy cần lưu ý :

 

+ Muốn loại bỏ một hiện tượng nào đó cần loại bỏ nguyên nhân làm nảy sinh ra nó.

 

+ Muốn cho hiện tượng xuất hiện cần tao ra nguyên nhân cùng những điều kiện cần thiết cho nguyên nhân sinh ra nó phát sinh tác dụng.Vì hiện tượng này có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân tác động riêng lẻ hoặc đồng thời trong hoạt động thực tiễn cần tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn phương pháp hành động chứ không hành động rập khuôn theo một phương pháp nhất định.

 

+ Vì các nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân bên trong giữa vai trò quyết định trong sự xuất hiện, vận động và tiêu vong của hiện tượng nên trong hoạt động thực tiễn cần dựa trước hết vào các nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân bên trong.

 

+ Để đẩy nhanh hay kìm hãm ( hoặc loại trừ ) sự phát triển của 1 hiện tượng xã hội nào đó cần làm cho các nguyên nhân chủ quan tác động cùng chiều ( hay lệch hoặc ngược chiều ) với chiều vận động của mối liên hệ nhân quả khách quan.

 

Phần II : Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả để phân tích vấn đề suy thoái rừng ở Việt Nam hiện nay

 

  1. Nguyên nhân dẫn đến suy thoái rừng

 

+ nguyên nhân thứ nhất và chủ yếu nhất là do ý thức của con người,khai thác không đúng quy hoạch, con người khai thác một cách ồ ạt nguồn tài nguyên rừng bên cạnh đó một đại bộ phận người dân thiếu ý thức trong việc bảo vệ rừng gây tình  rạng cháy rừng nghiêm trọng. Mỗi năm, các tỉnh khu vực miền trung và Tây Nguyên đều phát hiện, xử lý hàng chục ngàn vụ vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng mà chủ yếu là do ý thức người dân quá kém gây thiệt hại lớn cho nhà nước

 

+ Hoạt động quản lý nhà nước về rừng yếu kém. Nhà nước thực hiện khoán cho người dân quản lý, bảo vệ rừng và thu các nguồn lợi từ rừng tuy nhiên, do chi phí khoán quá thấp trong khi công việc rất khó khăn và vất vả, dẫn đến người dân tâm lý căng thẳng muốn xin trả lại rừng không nhận khoán nữa. Mức thù lao vừa thấp, vừa bấp bênh (trước là 50 ngàn đồng/ha, hiện nay tăng lên 200 ngàn đồng/ha) làm cho họ không thiết tha với công việc nhận khoán bảo vệ rừng. Đó cũng là nguyên nhân quan trọng của vấn đề được giao khoán nhưng rừng vẫn bị tàn phá. Khung pháp lý đối với các đối tượng phá rừng chưa thật cụ thể và đúng mức, phần lớn xử lý còn quá nhẹ, chưa đủ mạnh để răn đe trong khi đó tình trạng kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc phá rừng diễn ra phức tạp, lâm tặc chặt phá rừng ngay cạnh trạm kiểm lâm vài trăm mét mà cán bộ trạm kiểm lâm không hề hay biết thử hỏi có phải kiểm lâm che dấu tiếp tay cho lâm tặc hay không?.

 

+ Do tập tục du canh du cư, đốt nương làm rẫy của một số cộng đồng thiểu số bà con dân tộc vùng cao. Họ di dân ồ ạt đến nơi có rừng, đốt rừng làm nương rẫy sau một vài mùa vụ họ lại lên đường kiếm những vùng đất mới màu mỡ hơn để canh tác cứ như thế họ để lại sau lưng những cánh rừng chết những vùng đất khô cằn sỏi đá.

 

+ Do quá trình chuyển hóa đất từ sản xuất lâm nghiệp sang sản xuất nông nghiệp trang trại một cách ồ ạt không theo quy hoạch của nhà nước chúng ta phá bỏ những cánh rừng nguyên sinh để đổi lấy những trang trại chăn nuôi quy mô lớn. Điển hình như tỉnh Đắk Lắk từ năm 2009 đến nay đã có đến trên 26.500ha rừng bị lấn chiếm, chặt phá trái phép, trong khi đó các cơ quan chức năng mới thu hồi được gần 2.000ha để trồng lại. Điều này cho thấy một thực trạng đáng báo động cho chúng ta về vấn đề mất rừng.

 

+ Do xây dựng cơ bản như xây dựng đường giao thông, công trình thủy điện,…Trong công cuộc phát triển đất nước thì điều này ta không thể tránh khỏi nhưng chúng ta đang quy hoạch các dự án thủy điện một cách không hợp lý và có nhiều vấn đề bất cập chúng ta cấp phép xây dựng thủy điện quá dễ dàng, dẫn đến việc các đối tượng lợi dụng dự án chặt phá rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn một cách kiệt quệ.

 

Ngoài ra còn rất nhiều nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng suy thoái nguồn tài nguyên rừng,trên đây chỉ là một số nguyên nhân chính mà em tìm hiểu được mong các thầy cô cho ý kiến góp ý.

 

  1. Hậu quả

 

Theo thống kê của Bộ NN & PTNT, hiện nước ta có tổng diện tích rừng là 13.118.773 ha, trong đó rừng tự nhiên là 10.348.591 ha và rừng trồng là 2.770.182 ha. Trong số đó, hơn một nửa diện tích rừng tự nhiên của nước ta thuộc loại rừng nghèo hoặc tái sinh, trong khi rừng già và rừng tán kín chỉ chiếm trên 9%.

 

Thống kê mới nhất của Cục Kiểm lâm thì đầu năm đến tháng 9/2010 có 1.553,68 ha rừng bị chặt phá và 5.364,85 ha rừng bị cháy. Diện tích rừng tự nhiên của nước ta đang suy giảm với tốc độ chóng mặt và độ che phủ của rừng ở khu vực miền Trung đã bị suy giảm nghiêm trọng. Hiện nay độ che phủ của rừng chỉ còn chưa đầy 40%, trong đó diện tích rừng nguyên sinh chỉ còn 10%. Đây là vấn đề rất nghiêm trọng, bởi do biến đổi khí hậu, trong thời gian tới, VN nói chung và miền Trung nói riêng sẽ tiếp tục phải hứng chịu nhiều đợt thiên tai do các hiện tượng thời tiết cực đoan như El Nino, La Nina gây ra với tần suất ngày càng nhiều và khốc liệt.

 

+ Tình trạng thiên tai, lũ quét, sạt lở đất…, gây nguy hiểm cho cuộc sống của con người. Hàng năm nước ta phải gánh chịu bao nhiêu là thiên tai nguy hiểm Đặc biệt là hiện tượng trượt lở đất, đá, lũ, lũ quét thường xuyên xảy ra ở các tỉnh miền núi gây tổn thất nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường sinh thái. Từ năm 2010 đến 2014 cả nước đã xảy ra 250 đợt lũ quét, sạt lở đất làm chết và mất tích 646 người, bị thương trên 350 người, trên 9700 căn nhà bị đổ trôi; hơn 100 nghìn căn nhà bị hư hại nặng; hơn 75.000 ha lúa và hoa màu bị ngập, hàng trăm ha đất canh tác bị vùi lấp; nhiều công trình giao thông, thủy lợi, dân sinh kinh tế bị hư hỏng, tổng thiệt hại ước tính trên 3.300 tỷ đồng. Riêng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ đầu năm đến nay đã xảy ra 12 đợt gió lốc, mưa lớn cục bộ, sét đánh và 2 đợt lũ lớn trên sông Thao, làm 2 người chết, 5 người bị thương, sập đổ 27 ngôi nhà; tốc mái 1.617 nhà ở, thiệt hại hơn 1000 ha lúa, rau màu, cây công nghiệp cùng nhiều công trình cơ sở hạ tầng khác… Tổng giá trị thiệt hại ước tính trên 13 tỷ đồng. Vào trung tuần tháng 10 năm 2013, trên địa bàn nhiều tỉnh miền Trung đã diễn ra mưa lụt nhiều ngày liên tiếp gây thiệt hại nặng nề về người và của. Đợt mưa lũ lần này được các ngành chức năng đánh giá là trăm năm mới có một và đưa ra kết luận, là do nạn chặt phá rừng đầu nguồn. Khi rừng đầu nguồn bị chặt phá, cường độ của lũ lụt đi nhanh, làm cho nước dâng cao rất nhanh. Cây rừng ngăn lũ lụt, thiên tai thất thường. Khi nước lũ dâng cao, cây rừng cản sức nước và rễ cây sẽ hút phần nào nước lũ. Có cây rừng, sức nước đỡ mạnh hơn, cây rừng chắn gió và làm suy yếu sức mạnh tại những vùng bão đi qua. Theo các nhà khoa học, việc nhiều diện tích rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ ở các tỉnh miền Trung bị san bằng nhường chỗ cho thủy điện đang làm mất khả năng điều tiết nước thượng nguồn khi mưa lớn, đây là một nguyên nhân chính khiến lũ lụt ngày thêm trầm trọng.

 

+ tình trạng hạn hán,xâm nhập mặn, thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng. Vùng ven biển đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) gồm 4 tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình có diện tích tự nhiên 6131 km2(tương đương với 7% diện tích lưu vực sông Hồng thuộc lãnh thổ Việt Nam). Dân số 6.374,7 nghìn người, là nơi tập trung đông dân với mật độ trung bình 1.029 người/km2; trong đó có tới 66% lao động sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản với diện tích 306.100 ha chủ yếu là canh tác lúa nước nhưng Từ năm 2001 đến nay dòng chảy mùa kiệt nhỏ đã gây trở ngại cho các nhu cầu kinh tế, dân sinh và môi trường ở hạ lưu. Mực nước các cống lấy nước tự chảy vào hệ thống và các trạm bơm tưới hai bên bờ hệ thống sông Hồng luôn thấp, gây khó khăn và hạn chế công suất hoạt động của các trạm bơm tưới như phải giảm số máy bơm, kéo dài thời gian bơm.

 

Trên đây là một số  hậu quả nghiêm trọng và nguy hiểm do suy thoái nguồn tài nguyên rừng gây ra, ngoài ra còn có vô số hậu quả nữa như gây biến đổi khí hậu toàn cầu, xâm nhập mặn..vv.

 

  1. một số biện pháp khắc phục, hướng giải quyết

 

  1. Tuyên truyền, phổ biến giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý, bảo vệ rừng.

 

+ xây dựng các chương trình về thông tin- giáo dục – truyền thông , phổ biến kiến thức pháp luật cho các chủ rừng nhằm nâng cao nhận thức cho họ.

 

+ học hỏi các nước quản lí tài nguyên rừng tốt điển hình như Nhật Bản. Nhận thức của người Nhật rất cao trong việc bảo vệ tài nguyên rừng, từ năm 1980, xuất hiện phong trào tìm hiểu về rừng bắt nguồn từ những ngư dân trồng cây ven biển vùng châu thổ sông, vùng núi và lan rộng chưa từng có. Đến nay phong trào này đã có tác động tích cực đến môi trường và luôn được chính phủ khuyến khích.

 

+ Phải có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương để triển khai các hoạt động về bảo vệ và phát triển rừng. Gắn trách nhiệm quản lý nhà nước trên địa bàn của các cấp chính quyền và đề cao trách nhiệm cá nhân trong bảo vệ rừng. Tăng cường sự phối hợp có hệ thống, có kế hoạch với các lực lượng liên quan để tổ chức kiểm tra, giám sát các hoạt động về xâm hại tài nguyên rừng. Dựa vào nhân dân để thực hiện các biện pháp nghiệp vụ liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng. Với công tác phòng cháy chữa cháy rừng, phải quán triệt phương châm phòng là chính, chữa cháy kịp thời và hiệu quả

 

+ Xây dựng và duy trì hoạt động của các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng tại các địa phương. Có chính sách khen thưởng và động viên kịp thời đối với các tổ chức, cá nhân làm tốt công tác bảo vệ rừng. Song cơ bản nhất vẫn là phải thực hiện đồng bộ các giải pháp về phát triển kinh tế xã hội, sử dụng rừng và hưởng lợi từ rừng một cách bền vững và có hiệu quả lâu dài, có như vậy mới mong hạn chế và ngăn chặn được tình trạng phá rừng trái phép, xâm hại tài nguyên rừng hiện nay.

 

KẾT LUẬN: Thông qua cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả chúng ta đã thấy rõ được tình trạng suy thoái tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay .Đây là một vấn đề hết sức nóng bỏng, cấp thiết và có ý nghĩa sống còn đến cuộc sống của con người, hiện nay nó đang là vấn đề được sự quan tâm đặc biệt của đông đảo các quốc gia trên thế giới và chúng ta hơn ai hết phải cố gắng cùng nhau bảo vệ tài nguyên rừng, tài nguyên thiên nhiên…, vì tương lai của con cháu chúng ta.

Bài tập học kỳ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin.

 

Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo, có tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào, có tôn giáo nội sinh. Trong những năm qua tôn giáo ở Việt Nam phát triển phong phú và đa dạng. Vấn đề tôn giáo là một vấn đề hết sức nhạy cảm, nếu ko giải quyết vấ đề này một cách khéo léo và đúng đắn thì sẽ dẫn đến những hậu quả lớn. Vì vậy trong pham vi bài tiểu luận này, tás giả xin được viết về đề tài: “Những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quết vấn đề tôn giáo và sự vận dụng nguyên tắc này của Đảng và nhà nước ở Việt Nam hiện nay.”

 

NỘI DUNG

 

  1. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ TÔN GIÁO.

 

  1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác  – Lênin về tôn giáo.

 

  1. Định nghĩa tôn giáo.

 

Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.

 

  1. Bản chất, nguồn gốc của tôn giáo.

 

Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó. Việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi câu hỏi này được đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt. Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX.

 

Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ…

 

Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới thực và hư, của hai tính thiêng và tục và giữa chúng không có sự tách bạch.

 

Tôn giáo có rất nhiều nguồn gốc khác nhau bao gồm:

 

Thứ nhất, nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo. Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với con người.

 

Thứ hai, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức. Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống nhất một cách biện chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan.

 

Cuối cùng là nguồn gốc tâm lí của tôn giáo. Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự ra đời của tôn giáo. Họ đã đưa ra luận điểm” “Sự sợ hãi sinh ra thần thánh”.

 

  1. Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong xã hôi chủ nghĩa.

 

Các tôn giáo vẫn còn tồn tại lâu dài trong các nước xã hội chủ nghĩa là do nguyên nhân chủ yếu sau:

 

Đầu tiên là về nguyên nhân nhận thức: thế giới khách quan là vô cùng tân, nhiều hiện tượng tự nhiên đến nay con người vẫn chưa giải thích được. Do vậy tâm lý sợ hãi, trông chờ và nhờ cậy, tin tưởng vào thần thánh…chưa thể gạt bỏ khỏi ý thức của con người trong xã hội, trong đó có nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa.

 

Tiếp theo là nguyên nhân tâm lý: tôn giáo đã tồn tại lâu đời trong lịch sử loài người, ăn sâu vào trong tiềm thức của nhiều người dân. Trong m ối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, thì ý thức xã hội bảo thủ hơn so với tồn tại xã hội, trong đó tôn giáo lại là một trong những hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất. Tín ngưỡng, tôn giáo đã in sâu vào đời sống tinh thần, ảnh hưởng khá sâu đậm đến nếp nghĩ, lối sống của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệđến mức trở thành một kiểu sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu của cuộc sống. Cho nên, dù có thể có những biến đổi lớn lao về kinh tế, chính trị, xã hội… thì tín ngưỡng, tôn giáo cũng không thayđổi ngay theo tiến độ của những biến đổi kinh tế, xã hội mà nó phản ánh.

 

Sau đó là nguyên nhân chính trị, xã hội: trong các nguyên tắc tôn giáo có những điểm còn phù hợp với chủ nghĩa xã hội, với đường lối chính sách của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là mặt giá trị đạo đức, văn hóa của tôn giáo, đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Mặt khác, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, bạo loạn, lật đổ… còn xảy ra ở nhiều nơi. Nỗi lo sợ về chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo… cùng với những mối đe dọa khác là điều kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại.

 

Tiếp đến là nguyên nhân kinh tế: trong chủ nghĩa xã hội, nhất là giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ còn nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Sự bất bình đẳng về kinh tế, văn hoá, xẫ hội vẫn là mọt thực tế. Đời sống vật chất của người dân chưa cao thì con người càng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố ngẫu nhiên may rủi. Điều đó làm con người có tâm lý thụ động, nhờ cậy, cầu mong vào những lực lượng siêu nhiên.

 

Cuối cùng là nguyên nhân văn hoá: do lợi ích đáp ứng mức độ nào đó nhu cầu văn hoá, tinh thần, giáo dục cộng đồng, đạo đức, phong cách lối sống của người dân. Vì vậy việc kế thừa, bảo tồn và phát huy văn hoá (có chọn lọc) của nhân loại trong đó có đạo đức tôn giáo là cần thiết.

 

  1. Nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin trong giải quết vấn đề tôn giáo.

 

Khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần nắm vững các nguyên tắc cơ bản sau:

 

Thứ nhất là cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo, bởi vì: ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã hội không như nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt. Vì vậy cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.

 

Thứ hai là khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội củ, xây dựng xã hội mới. điều đó nói lên rằng: muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong tôn giáo là gián tiếp đấu tranh với cái thế giới đang cần có ảo tưởng. Điều cần thiết trước hết phải xác lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nhèo đói và thất học… cùng những tệ nạn nảy sinh trong xã hội

 

Thứ ba là tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tính ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Quyền ấy không chỉ thể hiện về mặt pháp lý mà còn được thực hiện trên thực tiễn một cách nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của các Đảng. Tuy nhiên, đi đôi với việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tính ngưỡng phải chống lại những kẻ lợi dụng tự do tín ngưỡng để chống phá cách mạng.

 

Thứ tư là cần phân biệt 2 mặt nhu cầu tính ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tính ngưỡng tôn giáo. Vì có sự phân biệt được 2 mặt đó mới tránh khỏi khuynh hướng tả hoặc hữu trong quá trình quản lý, ứng xử với những vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo. Nhu cầu tính ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo sẽ còn tồn tại lâu dài, phải được tôn trọng và bảo đảm. Mọi biểu hiện vi phạm quyền ấy là trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

 

Trên đây là 4 nguyên tắc quan trọng cần phải chú ý khi giải quyết vấn đề về tôn giáo để có thể giúp đất nước phát triển ổn định và hòa bình.

 

  1. VẬN DỤNG NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

 

  1. Thực tiễn tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.

 

Tôn giáo tại Việt Nam khá đa dạng, gồm có các nhánh Phật giáo như Đại thừa, Tiểu thừa, Hòa Hảo…, một số nhánh Kitô giáo như Công giáo Rôma, Tin Lành, tôn giáo nội sinh như Đạo Cao Đài, và một số tôn giáo khác. Nền tín ngưỡng dân gian bản địa cho tới nay vẫn có ảnh hưởng nhất định tại Việt Nam

 

Trong số các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo có số tín đồ đông đảo nhất.  Theo thống kê dân số năm 2009 thì số tìn đồ Phật Giáo là 6.802.318 người trong đó 2.988.666 tín đồ ở thành thị và 3.813.652 tín đồ ở nông thôn.

 

Công giáo Rôma (hay Thiên Chúa giáo La Mã), lần đầu tiên tới Việt bởi những nhà truyền giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, trước khi Việt Nam là một thuộc địa của Pháp. Theo thống kê năm 2009 ở Việt Nam có khoảng 5.677.086 tín đồ Công giáo trong đó có 1.776.694 tín đồ ở khu vực thành thị và 3.900.392 ở các khu vực nông thôn, địa phương có đông đảo tín đồ Công giáo nhất là tỉnh Đồng Nai với 797.702 tín đồ, và khoảng 6.000 nhà thờ tại nhiều nơi trên đất nước.

 

Đạo Hoà Hảo phát triển ở miền Tây Nam Bộ. Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ ba tại Việt Nam. tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ (Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật Giáo Hòa Hỏa là tỉnh có số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đông nhất cả nước)

 

Cao Đài, hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một tôn giáo bản địa Việt Nam do Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc thành lập năm 1926, với trung tâm là Tòa Thánh Tây Ninh. Theo điều tra Ban Tôn giáo chính phủ, có 3 triệu người tự xem mình là tín đồ Cao Đài phân bố tại 39 tỉnh thành cả nước.

 

Tin Lành được truyền vào Việt Nam năm 1911. Năm 2009, số tín đồ Tin Lành ở Việt Nam là 734.168  chủ yếu tập trung ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc và là tôn giáo chính của nhiều dân tộc thiểu số. Tỉnh có đông đảo tín đồ Tin Lành nhất là Đăk Lăk với 149.526 tín đồ.

 

Hầu hết tín đồ Hồi giáo và Hindu giáo tại Việt Nam là người Chăm. Người ta cho rằng Hồi giáo đã được truyền vào Việt Nam là khoảng thế kỉ 10, 11, ở cộng đồng người Chăm. Năm 2009, tại Việt Nam có khoảng 75.268 tín đồ Hồi giáo.

 

Ngoài ra, ở Việt Nam còn có một số tôn giáo khác nhưng nó nhỏ lẻ không đáng kể và còn có một số người không có tôn giáo.

 

Về mặt tích cực thì tôn giáo là hình thức phản ánh đặc thù, phản ánh hư ảo thế giới hiện thực, tôn giáo đã góp phần chế ngự các hành vi phi đạo đức. Do tuân thủ những điều răn dạy về đạo đức của các tôn giáo, nhiều tín đồ đã sống và ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã hội ngày càng thuần khiết. Ở Việt Nam giáo phái sống hòa thuận, không có xung đột dẫn đến chiến tranh như một số nước hồi giáo ở Trung Đông.

 

Bên cạnh đó thì tôn giáo cũng có một số mặt tiêu cực. Một số người lợi dụng vào vấn đề tâm linh để lừa gạt người khác như vụ làm giả hài cốt nhằm tạo lòng tin để chiếm đoạt tài sản của vợ chồng nhà ngoại cảm “rởm” “cậu Thủy” của Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam khoảng 8 tỷ đồng, … Còn có một số kẻ phản động chuyên đi kích động một số bà con giáo dân làm loạn để chống phá Đảng và Nhà nước ta…

 

  1. Chủ trương đường lối tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

 

Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Về quan điểm, chính sách:

 

Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 

Hai là, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

 

Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền, nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác vận động quần chúng các tôn giáo nhằm động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo.

 

Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nước ta hiện nay có hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo, phân bổ ở mọi vùng, miền, địa phương trong cả nước. Vì vậy, công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và nhiều cấp, nhiều ngành.

 

Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo. Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo,.. của mình theo đúng quy định của pháp luật. Việc truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật.

 

  1. Phương hướng hoạt động trong thời gian tới.

 

Để thực hiện tốt chính sách tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng, trong những năm tới, theo tác giả cần làm tốt những nhiệm vụ cụ thể sau:

 

Một là, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng của Đảng, Nhà nước, quan tâm đúng mức đối với các vùng trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và dân trí cho nhân dân trong đó có đồng bào các tôn giáo.

 

Hai là, nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể đối với công tác tôn giáo. Trên cơ sở triển khai nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về tôn giáo, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức rõ yêu cầu nhiệm vụ của công tác tôn giáo trong tình hình mới.

 

Ba là, đẩy mạnh công tác tham mưu, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với công tác tôn giáo, tích cực tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về tôn giáo, đồng thời bổ sung kịp thời những chính sách đối với tôn giáo ở những vùng, miền khác nhau

 

Bốn là, thực hiện tốt hơn công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, tạo điều kiện giúp đỡ Đại hội, Hội nghị thường niên của các tổ chức tôn giáo, xem xét cho đăng ký hoạt động một số tổ chức tôn giáo theo quy định của pháp luật. Xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật và mọi hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động, chia rẽ tôn giáo, dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia; góp phần đảm bảo an ninh chính trị ở địa phương.

 

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra thực hiện chủ trương, các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ đối với công tác tôn giáo hiện nay. Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng đông tôn giáo.

 

Sáu là, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong chức sắc, tín đồ các tôn giáo.

 

Bảy là, công tác đối ngoại tôn giáo và đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo trong tình hình hiện nay, cần chủ động và tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, các tỉnh, thành trong việc đối thoại và xử lý những vấn đề tôn giáo nhạy cảm đang được các thế lực thù địch lợi dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” để xuyên tạc tình hình tôn giáo và chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, gây sức ép với Nhà nước về tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

 

Tám là, tiếp tục kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo của Đảng , chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo Đồng thời xây dựng chế độ phụ cấp ưu đãi cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.

 

KẾT LUẬN

 

Như vậy, quan điểm của Đảng ta về tôn giáo là rõ ràng, nhất quán, đảm bảo quyền tự do, dân chủ. Trong khi đó, hiện nay, có những cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước vẫn cho rằng ở Việt Nam người dân không có quyền tự do tín ngưỡng, tôn của nhân loại, kìm hãm sự phát triển của tư duy con người trong những bức tường chật hẹp của những sách kinh, giáo điều. Nhưng cũng không thể không nhắc đến ý nghĩa của tôn giáo như là một phương thuốc giảm đau cho những con người đang bất lực trước tự nhiên kinh khủng và bí ẩn, đang rên siết trong gông cùm của nô dịch và đàn áp, bất công. Bởi vậy, khi nghiên cứu về tôn giáo phải nắm vững quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác – Lênin, không thể chỉ xem xét nó một cách phiến diện trong những mặt tiêu cực và hạn chế.

 

Qua bài tập này, ta còn thấy tôn giáo là một vấn đề hết sức nhạy cảm cần được giải quyết trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã hiểu được vấn đề tôn giáo rất quan trọng và đã đưa ra những nghị quyết hợp lí để giải quyết vấn đề này. Việc giải quyết hợp lí vấn đề tôn giáo giúp cho đất nước ta ổn định và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa được thuận lợi hơn.

 

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học, Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2005, Bộ giáo dục và đào tạo.
  2. Bài viết “Tôn giáo tại Việt Nam”, http://vi.wikipedia.org/
  3. Báo Văn hóa Nghệ An, bài viết “ Các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo đức tôn giáo Việt Nam”, tác giả Đặng Thị Lan.
  4. Báo Đời sống pháp luật, bài viết “Vợ chồng “cậu Thủy” tự xưng nhà ngoại cảm, chiếm đoạt 8 tỷ đồng”, tác giả Việt Hương.
  5. Bài “Thực hiện chính sách tôn giáo theo tinh thần nghị quyết Đại hội XI của Đảng” , tác giả Chấn Hưng.
  6. Bài “Tôn giáo và chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI”, tác giả Đại tá, PGS, TS, Trần Nam Chuân, Viện Chiến lược Quốc phòng/BQP

Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

 

Trong quá trình vận động của thế giới vật chất nói chung, mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối liên hệ có tính khách quan nhất, phổ biến nhất. Bởi mọi sự vận động biến đổi nào của thếgiới vật chất suy cho cùng cũng đều là mối liên hệ nhân quả, như Lô-mô-nô-xốpđã từng khẳng định bằng định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng: “ Năng lượng không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác..” Do đó có thể nói, mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ tự nhiên đầu tiên được phản ảnh vào đầu óc con người. Chính vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được các hiện tượng đó. Từ những lý do trên, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả và vận dụng cặp phạm trù này trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay”. Dù đã cố gắng song bài làm khó có thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô. Sau đây em xin trình bày phần nội dung của đề tài.

 

NỘI DUNG

 

  1. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả

 

  1. Khái niệm nguyên nhân và kết quả

 

1.1. Định nghĩa

 

Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sựtác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sựvật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định.

 

Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng.

 

1.2. Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện

 

Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân nhưng chỉ có quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả.

 

Điều kiện là hiện tượng cần thiết đểnguyên nhân phát huy tác động, trên cơ sở đó gây ra một biến đổi nhất định.

 

1.3. Tính chất của mối liên hệ nhân quả

 

Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu.

 

Tính khách quan thể hiện ở chỗ: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức con người.

 

Tính phổ biến thể hiện ở chỗ: mọi sựvật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều có nguyên nhân nhất định sinh ra.

 

Tính tất yếu thể hiện ở chỗ: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả nhưnhau.

 

  1. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

 

2.1. Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả

 

Nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện. Tuy nhiên, chỉ những mối liên hệ có tính sản sinh ra nhau thì mới là liên hệ nhân quả.

 

Trong thực tiễn thì mối liên hệ nhân quả biểu hiện hết sức phức tạp, bởi nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện hoàn cảnh khác nhau. Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả. Mặt khác, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì sẽ đẩy nhanh sự hình thành kết quả. Ngược lại, nếu những nguyên nhân tác động theo các hướng khác nhau, thì sẽ cản trở hoặc triệt tiêu sự hình thành kết quả.

 

2.2. Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân

 

Kết quả là do nguyên nhân sinh ra nhưng sau khi xuất hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhânđã sinh ra nó. Sự ảnh hưởng có thể diễn ra theo hai hướng: thúc đẩy sự hoạtđộng của nguyên nhân (hướng tích cực) hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tiêu cực).

 

2.3. Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau

 

Cái trong quan hệ này là nguyên nhân nhưng vẫn là nó trong quan hệ khác lại đóng vai trò là kết quả. Vì vậy, mối liên hệnhân quả chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong những trường hợp cụ thể. Trong sựchuyển hóa vô tận của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất thì liên hệ nhân quả là một chuỗi vô tận, chúng xoắn xuýt lẫn nhau không có điểm đầu tiên, không có điểm cuối cùng.

 

  1. Ý nghĩa phương pháp luận

 

Trong nhận thức và thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan, tất yếu của mối liên hệ nhân quả. Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo điều kiện cho nguyên nhân phát huy tác dụng. Ngược lại, muốn cho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó.

 

Phải biết xác định đúng nguyên nhânđể giải quyết vấn đề nảy sinh vì các nguyên nhân có vai trò không như nhau.

 

Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả đó, trong hoạt động thực tiễn cần khai thác tận dụng những kết quả đãđạt được để thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực.

 

  1. Sự biểu hiện của nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả qua hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

 

  1. Thực trạng tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

 

Theo báo cáo của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, trong năm 2012 trên toàn quốc đã xảy ra 6777 vụ tai nạn lao động làm 6967 người bị nạn, trongđó: số vụ tai nạn lao động chết người 552 vụ, số người chết 606 người, số người bị thương nặng 1470 người, nạn nhân là lao động nữ 1842 người.

 

Trong năm 2013 trên toàn quốc đã xảy ra 6695 vụ tai nạn lao động làm 6887 người bị nạn trong đó: số vụ TNLĐ chết người 562 vụ, số người chết 627 người, số người bị thương nặng 1506 người, nạn nhân là lao động nữ2308 người.

 

Trong 6 tháng đầu năm 2014 cả nước đã xảy ra 3454 vụ tai nạn lao động. Trong đó, số vụ tai nạn laođộng chết người là 258 vụ. So với 6 tháng đầu năm 2013, số vụ tai nạn lao động tăng 132 vụ (tăng 3%), tổng số nạn nhân tăng 74 người ( tăng 2%), số vụ tai nạn lao động chết người giảm 65 vụ (giảm 20%) và số người chết giảm 25 người (giảm 8%)

 

  1. Sự biểu hiện nội dung của cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả qua hoạtđộng tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

 

2.1. Phạm trù nguyên nhân trong vấn đề tai nạn lao động

 

Phạm trù nguyên nhân trong hoạt động thực tiễn về tai nạn lao động là sự tác động lẫn nhau giữa người lao động, người sử dụng lao động, kĩ thuật và cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời là sự tácđộng giữa các mặt về lợi ích kinh tế của chủ lao động.. gây ra những kết quả là tai nạn lao động xảy ra. Cụ thể là:

 

Nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động là do sự tác động của người sử dụng lao động với người lao động, như không huấn luyện về an toàn lao động cho người lao động; không có quy trình, biện pháp an toàn lao động; Do tổ chức lao động chưa hợp lý; không có thiết bị an toàn hoặc thiết bị không đảm bảo an toàn; không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động vì lợi ích kinh tế mà giảm thiểu tốiđa thiết bị bảo hộ lao động hay thiết bị không đảm bảo an toàn lao động mà chỉmang tính hình thức,…

 

Nguyên nhân từ người laođộng như người lao động vi phạm các quy trình, biện pháp làm việc an toàn về an toàn lao động; không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân; hay thiếu hiểu biết về các thiết bị và quy định an toàn;..

 

Ngoài ra, nguyên nhân dẫnđến tai nạn lao động có thể từ cơ quan quản lý nhà nước: Các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực an toàn lao động hiện nay đã khá đầy đủ. Tuy nhiên, việc thanh tra, kiểm tra, xử lý của cơ quan nhà nước đối với các doanh nghiệp vi phạm công tác an toàn vệ sinh lao động còn chưa triệt để dẫn đến tình trạng còn nhiều người sử dụng lao động không chấp hành nghiêm túc các quy định của pháp luật. Khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề, chưa được quan tâm hướng dẫn đầy đủ quy định nhà nước về an toàn vệ sinh lao động dẫn đến việc vi phạm các quy định về An toàn – vệ sinh lao động và nguy cơ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cao.

 

2.2. Phạm trù kết quả trong vấn đề tai nạn lao động

 

Phạm trù kết quả trong hoạt động tai nạn lao động là bất kì biến đổi nào dẫn đến tổn thương cho bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình laođộng, gắn liền với việc thực hiện công việc lao động mà do những nguyên nhân từngười lao động, người sử dụng lao động… gây ra.

 

2.3. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả qua vấn đề tai nạn lao động

 

  • Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả

 

Nguyên nhân luôn có trước kết quả vềmặt thời gian, như nguyên nhân người chủ không tổ chức huấn luyện an toàn laođộng cho người lao động có trước mới dẫn đến kết quả là người lao động không hiểu về quy trình an toàn mà để xảy ra tai nạn. Tuy nhiên, mặc dù đúng về mặt thời gian nhưng chúng ta không thể lấy “vì hôm qua người lao động xem bóng đá”là nguyên nhân để dẫn tới kết quả hôm nay anh ta mới xảy ra tai nạn lao động. Mà những mối liên hệ về mặt thời gian ấy phải có tính sản sinh ra nhau, như do thiếu hiểu biết về quy trình an toàn của việc sử dụng thiết bị máy móc mà khi vận hành người lao động mới gặp tai nạn. Vì vậy, muốn tìm nguyên nhân của tai nạn lao động cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ trước khi tai nạn đó xuất hiện.

 

Nguyên nhân sinh ra tai nạn lao động rất phức tạp, bởi nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện các nhau, như thời tiết, khí hậu,..Chẳng hạn điều kiện thời tiết xấu xuất hiện cùng với nguyên nhân người lao động không trang bị bảo hộ có thể dẫn tới tai nạn nhưng nếu thời tiết tốt thì chưa chắc tai nạn đã xảy ra.

 

Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫnđến tai nạn lao động: sự tác động giữa người lao động, người sử dụng lao động, do máy móc kĩ thuật không đảm bảo,..Ngược lại, từ một nguyên nhân cũng dẫn đến nhiều kết quả: chẳng hạn từ một sơ suất nhỏ của người lao động cũng dẫn đến những kết quả tai nạn nhẹ, tai nạn nặng, tai nạn chết người, tại nạn làm tổn hại của cải vật chất,..

 

Những nguyên nhân tác động cùng chiều sẽ nhanh dẫn tới sự hình thành kết quả. Thật vậy, người chủ không trang bịthiết bị bảo hộ kết hợp với việc người lao động chủ quan, không có ý thức bảo vệ chính bản thân mình thì tai nạn xảy ra là khó tránh khỏi. Ngược lại, nếu người chủ lao động không trang bị thiết bị an toàn nhưng người lao động có ý thức bảo vệ, tiến hành các biện pháp an toàn lao động hay kiến nghị với người chủ lao động về việc trang bị thiết bị an toàn thì có thể cản trở kết quả tai nạn lao động có thể xảy ra. Đây là dẫn chứng của việc những nguyên nhân tácđộng ngược chiều thì sẽ cản trở tác dụng của nhau, thậm chí cản trở sự hình thành kết quả.

 

  • Kết quả tác dụng trở lại đối với nguyên nhân

 

Khi kết quảlà tai nạn lao động xảy ra, thì lại có ảnh hưởng trở lại với nguyên nhân theo hai hướng. Theo hướng thúc đẩy sự phát triển của nguyên nhân, như ban đầu người chủ lao động không trang bị thiết bị an toàn dẫn đến tai nạn lao động, vì sợ cơquan quản lý phát giác và xử phạt, họ chỉ trang bị những thiết bị an toàn khôngđảm bảo chất lượng mà chỉ mang tính hình thức, như vậy tai nạn lao động vẫn có thể xảy ra,.. Theo hướng cản trở những nguyên nhân sinh ra nó, đó là các cơquan quản lý nhà nước tiến hành kiểm tra,tìm nguyên nhân gây ra tai nạn để khắc phục, hạn chế nguyên nhân làm xảy ra tai nạn lao động. Cụ thể bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chỉ đạo các Bộ, Ngành, Tập đoàn.. tăng cường chỉ đạo,đôn đốc các đơn vị thuộc phạm vi quản lý thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về an toàn lao động và các chế độ bảo hộ lao động, chú trọng triển khai công tác huấn luyện về an toàn lao động,..

 

  • Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau

 

Trong mối liên hệ giữa “người chủ trang bị thiết bị bảo hộ dởm”và “ xảy ra tai nạn lao động” thì “người chủ trang bị thiết bị bảo hộ dởm”là nguyên nhân còn “việc xảy ra tai nạn lao động” là kết quả, còn trong mối liên hệ khác, “việc xảy ra tai nạn lao động” là nguyên nhân dẫn đến “người chủ trang bị thiết bị bảo hộ dởm”để che mắt cơ quan quản lý nhà nước. Vì vậy, mối liên hệ nhân quả chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong những trường hợp cụ thể.

 

2.4. Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả qua vấn đề tai nạn lao động ở Việt Nam hiện nay

 

Trong thực tiễn khi tai nạn lao động xảy ra cần tôn trọng tính khách quan, tất yếu của mối liên hệ nhân quả mà khôngđược tách rời thế giới hiện thực thì mới có phương hướng giải quyết hậu quả. Muốn cho tai nạn lao động không xảy ra thì phải làm mất đi những nguyên nhân đã sinh ra nó. Chẳng hạn như phải loại bỏ nguyên nhân “chủ lao động không trang bị thiết bị an toàn lao động” bằng việc “chủ lao động chủ động huấn luyện bài bản các biện pháp an toàn và trang bị thiết bị cho người lao động”. Đồng thời, phải biết các định đúng nguyên nhân (do tác động từ ai, như thế nào,..) bằng việc phân tích, báo cáo, tổng hợp,.. để giải quyết các vấn đề nảy sinh

 

Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả, do đó trong khi tai nạn lao động xảy ra cần khai thác, tận dụng những dẫn chứng từ kết quả để giải quyết vấn đề theo hướng tích cực, nhằm hạn chế tai nạn đáng tiếc xảy ra như những hoạt động tích cực của bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đang thực hiện hiện nay.

 

KẾT LUẬN

 

Victo Hurgo đã từng nói rằng “Hànhđộng làm nên ta, hoặc làm hỏng ta, chúng ta là kết quả hành vi bản thân”. Còn Isaac Newton nhận định “ Bất kỳ hành động nào cũng dẫn đến một phản ứng tácđộng ngược lại với mức độ tương đương”.. Không ai có thể phủ nhận tính khách quan của mối liên hệ nhân quả. Đặc biệt, nó có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhận thức của con người. Về thực tiễn có thể thấy, thành công không phải như một phép nhiệm màu, mà do chính ta tạo ra bằng sự nỗ lực của bản thân mình. Vì vậy, quy luật về mối liên hệ nhân quả chính là tâm điểm thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của một cá nhân, một quốc gia hay cả một xã hội. Nhà nước ta đã và đang áp dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù này không chỉ vào hoạt động nhằm hạn chế tai nạn lao động mà cả những hoạtđộng khác để có những phương hướng chỉ đạo đúng đắn. Mối liên hệ nhân quả sẽtiếp tục là kim chỉ nam cho con người trong hoạt động thực tiễn để gặt hái những thành công to lớn hơn.

 

Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để làm rõ thực trạng bạo lực học đường

Bài tập học kỳ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Đề bài: Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để làm rõ thực trạng bạo lực học đường.

 

Theo phép biện chứng duy vật bất kỳ một sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ nhân quả, vì thế giới là một chuỗi liên hệ nhân quả trong thời gian dài vô tận. Các sự vật, hiện tượng luôn nằm trong quá trình vận động, phát triển không ngừng. Sự tác động qua lại, tương tác giữa các mặt, các yếu tố bên trong sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới. Từ đó làm xuất hiện mối liên hệ nhân quả.

 

Trong một vài thập kỷ gần đây bạo lực học đường là một hiện tượng đang trở thành vấn đề nghiêm trọng ở nhiều nước, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam ta. Bạo lực học đường đang trở thành mối lo ngại của ngành giáo dục, cha mẹ học sinh và toàn xã hội. Nó tác động trực tiếp đến tinh thần, thái độ học tập của học sinh và việc giảng dạy của các thầy giáo, cô giáo. Bạo lực học đường ở Việt Nam diễn ra không chỉ ở các thành phố lớn mà còn có ở các vùng nông thôn, không chỉ xảy ra ở học sinh nam mà còn cả học sinh nữ và dường như xảy ra ở các cấp học. Câu hỏi được đặt ra là: Nguyên nhân từ đâu lại có bạo lực học đường, hậu quả của bạo lực học đường là như thế nào?

 

Vì vậy, em đã quyết định vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để làm rõ thực trạng bạo lực học đường hiện nay.

 

  1. Nội dung

 

  1. Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả

 

  1. Khái niệm nguyên nhân và kết quả

 

Nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, từ đó tạo ra sự biến đổi nhất định.

 

Căn cứ vào tính chất, vai trò của nguyên nhân đối với kết quả, người ta chia nguyên nhân ra làm nhiều loại khác nhau. Chẳng hạn như nguyên nhân chủ yếu và không chủ yếu; nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan..v..v…

 

Kết quả là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật hiện tượng.

 

Ví dụ như sự tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố trong hạt ngô là nguyên nhân làm cho từ hạt ngô nảy mầm lên cây ngô. Hay sự tác động giữa xăng, không khí, áp suất v..v.. là nguyên nhân gây ra tiếng nổ cho động cơ – kết quả.

 

  1. Tính chất của mối liên hệ nhân quả

 

Phép biện chứng duy vật đã khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến và tính tất yếu.

 

Tính khách quan được thể hiện ở chỗ, mối liên hệ nhân quả là vốn có của sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Chúng ta biết rằng, mọi sự vật trong thế giới là luôn luôn vận động, tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu sẽ dẫn đến một sự biến đổi nhất định. Do đó có thể nói mối liên hệ nhân quả luôn có tính khác quan.

 

Còn tính phổ biến của mối liên hệ nhân quả được thể hiện ở chỗ, mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy đều có mối liên hệ này. Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, nhưng vấn đề là ở chỗ nguyên nhân đó được nhận thức hay chưa mà thôi.

 

Ví dụ mối liên hệ nhân quả trong xã hội, nếu như pháp luật càng lỏng lẻo thì an ninh trật tự của xã hội đấy sẽ càng bất ổn. Hay như trong tự nhiên, khi mùa đông đến thời tiết lạnh, khô hanh lá cây rụng hết, cây sẽ giữ được nước và có thể sống an toàn qua mùa đông.

 

Tính tất yếu thể hiện ở một điểm, cùng một nguyên nhân như nhau, trong những điều kiện giống nhau sẽ nảy sinh những kết quả như nhau. Nghĩa là nguyên nhân tác động trong những điều kiện càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu.

 

  1. Quan hệ biện chúng giữa nguyên nhân và kết quả

 

Mối quan hệ giữa nguyên nhân kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính tất yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn tới kết quả nhất định và ngược lại không có kết quả nào không có nguyên nhân.

 

Nguyên nhân sinh ra kết quả, do vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân.

 

Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể. Ví dụ, gạo và nước đun sôi có thể thành cơm, thành cháo v..v.. phụ thuộc vào lượng nước và mức nhiệt độ v..v..

 

Ngược lại, một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Ví dụ, sức khỏe của chúng ta tốt do luyện tập thể dục, ăn uống điều độ, chăm sóc y tế tốt v..v.. chứ không chỉ do một nguyên nhân nào đó.

 

Trong những điều kiện nhất đinh, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau. Ví dụ, chăm chỉ làm việc thì sẽ có thu nhập cao, mà thu nhập cao thì đời sống vật chất, tình thần lại được nâng cao – kết quả. Kết quả, sau khi xuất hiện lại tác động trở lại nguyên nhân, thúc đẩy nguyên nhân theo hướng tích cực hoặc ngược lại. Ví dụ, nghèo đói, thất học làm gia tăng dân số, và gia tăng dân số lại làm tăng nghèo đói, thất học,…

 

  1. Ý nghĩa phương pháp luận

 

Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy cặp phạm trù nguyên nhân kết quả như sau: Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan của mối liên hệ nhân quả.

 

Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo nguyên nhân cùng những điều kiện cho nguyên nhân phát huy tác dụng. Ngược lại, muốn cho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó.

 

Phải biết xác định đúng nguyên nhân để giải quyết vấn đề nảy sinh vì các nguyên nhân có vai trò không giống nhau.

 

Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả do đó, trong hoạt động thực tiễn cần khai thác, tận dụng những kết quả đã đạt được để thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tích cực.

 

  1. Thực trạng bạo lực học đường ở Việt Nam dưới góc nhìn phân tích cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả

 

Trong những năm gần đây, bạo lực học đường trở thành một vấn đề nhức nhối đối với nền giáo dục Việt Nam. Hiện tượng học sinh đánh nhau là một hiện tượng không mới, nhưng những hiện tượng đánh nhau của học sinh ở một số địa phương trong thời gian gần đây đã bộc lộ những tính chất nguy hiểm và nghiêm trọng. Điển hình là các vụ học sinh dùng hung khí đánh nhau trong trường học, trước cổng trường, học sinh nữ đánh nhau hội đồng, làm nhục bạn gây hậu quả nghiêm trọng và bức xúc trong dư luận xã hội. Đặc biệt, còn có các trường hợp giáo viên sử dụng các biện pháp giáo dục có tính chất bạo lực gây hậu quả nghiêm trọng đối với học sinh, ngoài ra còn có hiện tượng học sinh hành hung thầy giáo, cô giáo. Và ngược lại cũng có các hiện tượng thầy giáo, cô giáo dùng lời nói xúc phạm học trò, dùng vũ lực để “giáo dục” học sinh, …

 

Tuy nhiên, vì vấn đề bạo lực học đường khá rộng nên em lựa chọn một khía cạnh nhỏ trong bạo lực học đường và dựa vào cặp phạm trù nguyên nhân  kết quả để phân tích.

 

  1. Nguyên nhân của hiện tượng bạo lực học đường ở Việt Nam hiện nay

 

1.1.Nguyên nhân xuất phát từ cá nhân học sinh:

 

Bạo lực học đường đa phần xảy ra với các em còn đang trong độ tuổi vị thành niên, cơ thể phát triển mạnh, độ hưng phấn tăng cao và khả năng kiềm chế thì kém. Hơn nữa, các em đang muốn chứng tỏ bản thân, khẳng định cái TÔI cá nhân cao, nhưng lại không biết thể hiện bằng cách nào, do đó muốn dùng vũ lực như một cách thể hiện sự vượt trội của mình so với bạn bè.

 

1.2. Nguyên nhân xuất phát từ gia đình:

 

Gia đình là nơi hình thành cho các em nhân cách sống, cách ứng xử văn minh trong xã hội, ..v..v.. Nhưng khi gia đình không ổn định: cha mẹ ly hôn, ly thân; hoặc cha mẹ có tiền án,tiền sự, đang ngồi tù; đặc biệt là cha mẹ không quan tâm con cái, bạo lực gia đình xảy ra thường xuyên…

 

1.3. Nguyên nhân xuất phát từ nhà trường:

 

Học sinh bị bạn bè hắt hủi hay bắt nạt, thầy cô và nhà trường không quan tâm đến đời sống tâm lý, tình cảm của học sinh.

 

Nhà trường, lớp học thiếu các tấm gương tích cực trong đời sống, thiếu các chương trình lành mạnh .v..v..

 

1.4. Nguyên nhân xuất phát từ cộng đồng, xã hội:

 

Bạo lực ngoài cộng đồng xã hội cũng là “đường link” dẫn tới các hành vi bạo lực của trẻ em Việt Nam. Với công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, trẻ em được tiếp cận với các trò chơi điện tử và mạng Internet từ khi còn rất nhỏ, từ đó dẫn đến các hiện tượng nghiện game online, nghiện internet cũng như các trang mạng xã hội, ảnh hưởng từ các trò chơi mang tính bạo lực cao, các em bất chấp pháp luật, chuẩn mực đạo đức để được thỏa mãn “nhu cầu bạo lực” thông qua các trò chơi online, rời xa cuộc sống thực tìm đến thế ảo của internet.

 

  1. Hậu quả của hành vi bạo lực học đường

 

2.1. Hậu quả đối với học sinh:

 

Về mặt thể xác: Các em có thể gặp các chấn thương trên cơ thể, nhiều hành vi bạo lực đã gây ra án mạng, làm mất đi vĩnh viễn cơ hội được sống, được học tập của chính mình và bạn bè mình.

 

Về mặt tinh thần: Các em tham gia vào các hành vi bạo lực học đường, dần dần mất tự tin khi đến trường, trở nên lầm lì, ít nói, luôn ở trong trạng thái lo lắng, việc ăn ngủ cũng gặp khó khăn, cơ thể suy nhược. Có em trở nên trầm cảm, tự ti, lo sợ và có những trường hợp đã tìm đến cái chết để giải thoát chính mình.

 

Về học tập: Lơ là học tập, kết quả học tập sa sút, có những trường học bỏ học thường xuyên hoặc bỏ học vĩnh viễn.

 

2.2.Hậu quả đến với gia đình – nhà trường – xã hội

 

Với gia đình: Cha mẹ, người thân gặp khó khăn trong việc hiểu con em mình, không biết nguyên nhân vì sao mà con em mình khác bình thường. Từ đó thường đưa ra những cách thức tìm hiểu làm tổn thương các em, tình cảm, hòa khí trong gia đình bị rạn nứt.

 

Với nhà trường – xã hội: Hành vi bạo lực học đường làm cho hoạt động giáo dục của nhà trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thay vì tổ chức các hoạt động giáo dục đầy ý nghĩa thì nhà trường phải tổ chức các Hội đồng kỷ luật, các cuộc họp phụ huynh và học sinh để giải quyết các hệ quả của các em. Thầy cô, bạn bè lo lắng, mất tinh thần học tập, tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau bị rạn nứt. Bạo lực học đường giống như những hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội về một bộ phận thế hệ trẻ đang “lệch lạc” giữa ngã ba đường của tuổi mới lớn, nó ảnh hưởng nghiêm trọng tới trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là với thanh thiếu niên – lực lượng nòng cốt và thiết yếu của tương lai quốc gia.

 

KẾT LUẬN

 

Thực trạng hiện tượng bạo lực học đường ở Việt Nam những năm gần gây diễn ra phức tạp với đối tượng tham gia trực tiếp vào các vụ việc chủ yếu là học sinh với học sinh, bao gồm cả học sinh nữ và học sinh nam, tập trung ở cấp học THCS và THPT, diễn ra cả ở các thành phố lớn và các khu vực nông thôn. Nguyên nhân của hiện tượng này xuất từ bản thân học sinh, từ nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội, hậu quả để lại nặng nề nhất là đối với những học sinh trưc tiếp tham gia vào hành vi bạo lực học đường, bên cạnh đó nó cũng tác động tiêu cực đến gia đình, nhà trường và xã hội.

 

Trên cơ sở của mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, rút kinh nghiệm từ những sai lầm đã mắc phải, đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục, nhằm từng bước sửa chữa những sai lầm trong việc giáo dục thế hệ trẻ của nước ta hiện nay. Việc nhận thức đúng về mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, xác định được mức độ vai trò của những nguyên nhân ấy đối với những hậu quả mà nền giáo dục của Việt Nam ta còn mắc phải, để có biện pháp khắc phục, những tác động thích hợp nhằm đạt được mục tiêu mong muốn là xóa bỏ bạo lực học đường và có một nền giáo dục tốt nhất.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, 2014.

 

  1. PGS. TS. Trần Văn Phòng – PGS. TS. An Như Hải – PGS. TS. Đỗ Thị Thạch : Hỏi – đáp môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2011.

 

  1. Nguyễn Hải Hữu : Thực trạng bạo lực ở nước ta hiện nay – giải pháp ,  http://treem.molisa.gov.vn/SIte/vi-VN/13/367/17270/Default.aspx.

Quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác – Lê nin và vận dụng quan điểm toàn diện để đánh giá cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung – Bài tập học kì – môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin

PHẦN MỞ ĐẦU

 

Chúng ta đang sống trong một thời kì mà ở bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam này cũng có thể tiến hành giao dịch thương mại. Cứ ngủ dậy gửi một tin nhắn hay rửa mặt dưới nước máy là bạn đã tham gia một giao dịch thương mại. Từ cái tăm, đến gói muối nơi nào cũng có người bán, kẻ mua, cứ có cầu thì nguồn cung sẽ xuất hiện. Chỉ cần có tiền là hàng sẽ được giao tới tận nơi nhanh nhất có thể. Sản phẩm làm ra có thể dùng hoặc đem bán ở bất cứ nơi đâu được giá cao mà không bị bó buộc bởi bất kỳ một luật lệ nào hết. Cao hơn một chút ta thấy trên đất nước xuất hiện nhiều hơn các tập đoàn, công ty nước ngoài. Đấy là còn chưa kể tới các công ty tư nhân chiếm đa số, phân bố ở khắp nơi. Và chúng ta gọi nó một cách nôm na là cơ chế thị trường mở cửa, thông thoáng. Nhưng trong trí nhớ của những người đã trải qua thời kì ấy, chắc không khi nào quên khái niệm cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nói cách khác là cơ chế quan liêu bao cấp. Hình ảnh về nó ấn tượng đến nỗi chúng ta  có thể dễ dàng tìm thấy chỉ bằng vài thao tác đơn giản trên Internet.

 

Nghĩ đến quan liêu bao cấp có nhiều người nhìn nó bằng ánh mắt không mấy thiện cảm, có khi còn chê bai, chỉ trích… Nhưng thiết nghĩ sự vật hiện tượng nào cũng nên được nhìn một cách toàn diện trước khi bị đưa ra phán xét, như thế mới đánh giá đúng về nó. Và phải chăng là thật sự cần thiết với việc áp dụng quan điểm toàn diện vào giải quyết vấn đề đang được bàn tới ở đây: cơ chế kế hoạch hóa tập trung – mặt lợi hay cái hại?
PHẦN NỘI DUNG

 

CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

 

Phép biện chứng duy vật là môn khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.  Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống gồm 2 nguyên lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển), 6 cặp phạm trù cơ bản (cái riêng – cái chung, nguyên nhân – kết quả, tất nhiên – ngẫu nhiên, nội dung – hình thức, bản chất – hiện tượng, khả năng – hiện thực) và 3 quy luật phổ biến (quy luật lượng – chất, quy luật phủ định của phủ định, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập). Từ 2 nguyên lý cơ bản trên, ta xây dựng được 3 quan điểm: Quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử – cụ thể. Trong đó, quan điểm toàn diện đóng một vai trò quan trọng bởi bất cứ sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú. Do đó, quan điểm toàn diện có ý nghĩa hết sức thiết thực trong cuộc sống.

 

  1. Lý luận chung về quan điểm toàn diện

 

  1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

 

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một thể thống nhất. Các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tồn tại tách biệt với nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau. Cơ sở của sự liên hệ đó chính là tính thống nhất của thế giới vật chất.

Mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là khách quan, là vốn có của sự vật, hiện tượng. Đồng thời mối liên hệ còn mang tính phổ biến bởi bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng đều nằm trong các mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác.

 

Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực của thế giới,có mối liên hệ trực tiếp, mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thể hiện thông qua một hay một vài khâu trung gian, có mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên, có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của sự vât. Trong các mối quan hệ đó, nói chung, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên, mối liên hệ chủ yếu… giữ vai trò quyết định, tùy thuộc vào quan hệ hiện thực xác định.

 

  1. Quan điểm toàn diện trong triết học Mác – Lênin

 

Từ việc nghiên cứu quan điểm biện chứng về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác – Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức. Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trên thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, do đó khi nhận thức về sự vật, hiện tượng, chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của nó.

 

Quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng, một mặt chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó. Mặt khác, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp). Đề cập đến 2 nội dung này, Lênin viết “muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó”.

 

Đồng thời quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên…để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân. Đương nhiên, trong nhận thức và hành động, chúng ta cũng cần lưu ý tới sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện nhất định.

Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta vừa phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó, vừa phải chú ý tới những mối liên hệ giữa sự vật ấy với các sự vật khác. Từ đó ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động vào sự vật nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.

 

Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ. Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ trọn vẹn. Ý thức được điều này, chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật và tránh xem nó là những chân lí bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển. Để nhận thức được sự vật, cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc.

Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ. Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác nhau của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó. Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó.

 

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN ĐỂ ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ KINH TẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG

 

  1. Nguồn gốc của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung.

 

Ngày 30/4/1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hoàn toàn thắng lợi ,đất nước ta hoàn toàn thống nhất sau 21 năm kháng chiến trường kì. Cả nước bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế -xã hội .Định hướng của Đảng và Nhà nước: xây dựng nền kinh tế theo mô hình kế hoạch hóa tập trung mà hiện nay Đảng cộng  sản Việt Nam gọi là mô hình “quan liêu bao cấp’’.  Cơ chế này có nguồn gốc từ mô hình phát triển kinh tế xã hội và cơ chế quản lí kinh tế kế hoạch hóa tập trung của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô.

 

Cơ chế này có những ưu điểm thích hợp cho hoàn cảnh hiện tại của đất nước lúc đó , nhưng cũng có nhiều hạn chế kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước sau này . Vậy cơ chế đó như thế nào? Có ưu nhược điểm gì? Sau đây chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu.

 

Ngày nay, khi nhắc đến cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung ta thường chỉ nghĩ đến các mặt tiêu cực của nó.

 

Thứ nhất, khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên việc áp dụng các thành tựu của nền khoa học và công nghệ hiện đại thì cơ chế này thủ tiêu sự cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học công nghệ. Điều đó làm cho nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng

 

Thứ hai, nhà nước quản lí kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu, pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Tính pháp lệnh thể hiện ở chỗ: nhà nước xây dựng các chỉ tiêu chủ quan, sau đó đưa xuống cho các doanh nghiệp, thậm chí cả hợp tác xã thực hiện. Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Hệ thống chỉ tiêu được thể hiện ở chỗ: nhà nước thực hiện chế độ bao cấp đối với mọi đơn vị cấp dưới và doanh nghiệp nhà nước kể cả hợp tác xã ( Hình 3). Cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, từ cấp vốn, sản xuất đến khâu phân phối sản phẩm nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lí với các quyết định của mình( Hình 4). Giữa cơ quan hành chính trực tiếp tham gia vào quá trình lên chỉ tiêu kế hoạch và các doanh nghiệp thực hiện chỉ tiêu thì lại không có bất kì sự ràng buộc pháp lí nào với hành động của mình, tức là dù có làm sai đi chăng nữa thì họ cũng không có vấn đề gì cả, vì vậy mà không có lí do nào khiến họ thực hiện kế hoạch một cách tối ưu nhất. Vấn đề mà cả hai bên quan tâm đó là chạy theo và chạy đua với chỉ tiêu được ấn từ trên xuống. Ở giai đoạn này, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể được coi trọng đặc biệt. Từ đó hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, triệt tiêu động lực kinh tế, lao động sáng tạo đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh.

 

Thứ ba, bộ máy quản lí cồng kềnh, nhiều cấp trung gian . Bộ máy quản lí này vừa kém năng động vừa sinh ra đội ngũ kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu, nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động. Hoạt động kinh tế kém hiệu quả. Trong thực tế, bộ máy nhà nước và doanh nghiệp quốc doanh còn xuất hiện tính tham ô.

 

Thứ tư, các hoạt động giao dịch thương mại còn nhiều hạn chế: bán như cho, mua như cướp (Hình 5). Giá bán thấp hơn nhiều so với số vốn bỏ ra nên mới có chuyện nhiều người dân tìm cách giấu lúa và nhiều chuyện dở khóc dở cười. Ai mua thứ gì cũng phải đến hợp tác xã mua bán hay cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Để mua được thì rất khó khăn vì không đủ để cung cấp, mọi người phải xếp hàng chầu chực để được mua với đặc trưng là chế độ tem phiếu: vật phẩm tiêu dùng được phân phối theo định mức chứ không theo khả năng lao động. Tức là người làm ít và người làm nhiều đều được phân phát vật phẩm như nhau. Vì thế chế độ này thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động.

Thứ năm, trong thời kì này lạm phát bùng nổ. Tiền phát hành nhiều mà vẫn không đủ, lương công nhân không có; vật tư hàng hóa khan hiếm. Giá bán lương thực dù tăng mười lần vẫn không đủ để bù đắp chi phí. Sản xuất nông nghiệp sa sút, đầu tư trong công nghiệp giảm. Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985. Do đồng tiền mất giá, người ta quay sang lấy vàng làm bản vị, khiến giá vàng tăng vọt, còn nhanh hơn cả tăng giá hàng hóa. Tình trạng khan hiếm hàng hóa khiến cuộc sống chật vật không những về số lượng mà cả về phẩm chất của nhiều mặt hang

 

Tuy nhiên theo quan điểm toàn diện chỉ nhìn sự vật, hiện tượng ở một mặt, một chiều thì không thể đánh giá chính xác sự vật, hiện tượng mà cần phải đặt nó vào mối liên hệ cụ thể trong từng hoàn cảnh, điều kiện lịch sử tương ứng. Cụ thể như cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi nhìn phiến diện ta chỉ có thể nhìn thấy mặt tiêu cực mà không thể nhìn thấy những ưu điểm của nó.

 

Nhìn một cách toàn diện, ta thấy bên cạnh những hạn chế, yếu kém của chế độ kinh tế tập trung thì trong hoàn cảnh giai đoạn lịch sử những năm 70/XX chế độ kinh tế tập trung cũng có những ưu điểm đóng góp nhất định cho đất nước:

 

Xét về mặt kinh tế: Trong những năm 70/XX, thời kì kinh tế tăng trưởng theo chiều rộng, tức là dựa vào tăng đầu tư khai thác tài nguyên, sức lao động giá rẻ và một số lợi ích khác, cơ chế kinh tế tập trung có tác dụng nhất định. Nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, nhất là trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Cơ chế này đã tạo nên sự thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện các mục tiêu của cả nước .

 

Xét về mặt xã hội – chính trị:

 

Những năm 70/XX, thời kì đất nước còn đang nằm dưới bom đạn chiến tranh, hai miền Nam – Bắc còn bị chia cắt. Mục tiêu và nguyện vọng cùa cả dân tộc là đánh đuổi Mĩ Ngụy, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước “ Non sông Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Trong hoàn cảnh đất nước ấy, cơ chế quản lý kinh tế hóa tập trung đã đáp ứng được yêu cầu của thời chiến: Tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân, toàn quân, hậu phương – tiền tuyến chung lòng. Thực hiện kế hoạch hóa tập trung sẽ huy động được tối đa sức lực của toàn nhân dân trong việc xây dựng và phát triển kinh tế, giúp miền Bắc hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ hậu phương chi viện cho miền Nam. Nhiệm vụ và mục tiêu là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là của toàn dân tộc chứ không riêng cá nhân ai.

 

Mặt khác, những người chiến sĩ khi ra chiến trường có thề yên tâm về gia đình, cha mẹ, vợ con ở nhà bởi mọi thứ đã được nhà nước bao cấp.

 

Chiến thắng lịch sử năm 1975, đất nước dành thắng lợi hoàn toàn, thống nhất trên toàn lãnh thố. Sự thắng lợi ấy cũng có phần nào vai trò của cơ chế kinh tế tập trung .

 

Sau khi đất nước thống nhất, nhiệm vụ trước mắt quan trọng nhất lúc bấy giờ là khôi phục và phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh. Chế độ kinh tế hóa tập trung đã huy động được tinh thần, sức mạnh đoàn kết toàn dân. Nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh ở hai miền Nam – Bắc, đưa đất nước sang giai đoạn phát triển.

 

Như vậy nếu nhìn một cách toàn diện, đánh giá đa góc cạnh thì chế độ kinh tế tập trung cũng có nhiều ưu điểm nhất định trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam những năm 70/XX.

 

3.

Điểm phân biệt giữa quan điểm toàn diện và chủ nghĩa Triết chung ở chỗ: trong khi nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong tổng thể các mối liên hệ của nó, quan điểm toàn diện nhận thức được đâu là mối liên hệ quan trọng, cơ bản hơn để từ đó đưa ra nhận định đúng đắn mà không hề dàn trải hay cứng nhắc. Áp dụng vào vấn đề đang bàn luận, ta dễ dàng nhận thấy mối liên hệ cơ bản nhất với cơ chế quan liêu bao cấp ở đây chính là hoàn cảnh lịch sử của đất nước.

 

Liên hệ một chút tới đánh giá của quốc tế thì trong bài trả lời phỏng vấn hãng tin nhà nước Rusia Today ( RT) vào ngày 15/2  vừa qua, Viện sĩ Yevgeny Primakov 85 tuổi, người từng đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng Liên Bang Nga  đã không ngớt lời tôn vinh mô hình kinh tế của Liên Bang Xô Viết trước đây. Nhưng đó chỉ là một thời đã qua với cả Liên Bang Xô Viết và Việt Nam ta bởi cả hai đều đã tiến hành cải cách kinh tế ( ở Liên Xô là năm 1965 và Việt Nam là 1986 ). Nói như thế không có nghĩa cơ chế bao cấp không hiệu quả nên phải thay đổi mà vì nó không còn phù hợp nữa.Ở nước ta, thời kì đầu với hào khí dân tộc đang lên sau chiến thắng lẫy lừng của cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng như do được sống trong một chế độ hoàn toàn mới, độc lập, tự do nên người dân tràn đầy hy vọng sẵn sàng đóng góp công sức, tiền của của mình cho công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì thế lúc bấy giờ, cơ chế kế hoạch hóa tập trung là hoàn toàn phù hợp. Và thực tế đã chứng minh tính đúng đắn của nó thông qua sức mạnh toàn dân tộc mà nó tạo nên đã giúp nước nhà đánh tan giặc Mỹ, nước non thu về một mối.

 

Tuy nhiên, mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã dần bộc lộ rõ ràng hơn những hạn chế hết sức to lớn mà trước đấy nó được chiến tranh che lấp thì bây giờ đã gây ra hiệu quả trầm trọng mà đất nước phải gánh chịu. Nền kinh tế thiếu năng động, kém hiệu quả, đất nước rơi vào tình trạng lạc hậu, đời sống nhân dân ngày càng trở nên khó khăn, các căng thẳng xã hội cũng vì thế mà gia tăng; dẫn đến một hệ quả tất yếu là ta phải tiến hành cải cách kinh tế năm 1986 đưa đất nước sang giai đoạn phát triển mới.

 

Thời thế đã thay đổi thì dứt khoát cơ chế cũng phải thay đổi sao cho phù độ  hợp nếu không muốn bị bỏ lại phía sau. Cũng giống như thế để có cái nhìn toàn diện về cơ chế kế hoạch hóa tập trung, ta phải xác định được hoàn cảnh mà nó được áp dụng, đấy là căn cứ quan trọng nhất để ta đánh giá về nó, tránh những đánh giá phiến diện, sai lầm của không ít  người hiện nay. Bản thần cơ chế nó không có lỗi, mà là được áp dụng sai thời điểm và cuối cùng thì cũng phải chịu bị phủ định trong quá trình phát triển của kinh tế đất nước bởi một cái mới hơn: cơ chế thị trường.

 

Nhìn một cách toàn diện và bao quát về chế độ quan liêu bao cấp thì nó cũng có những mặt ưu điểm riêng. Tuy nhiên mặt ưu điểm lại vô cùng hạn chế thay vào đó là vô số những nhược điểm khiến nước ta phải mất nhiều thời gian để thay đổi nếp nghĩ, tác phong từ chiến đấu sang xây dựng. Bên cạnh đó, tư tưởng bao cấp, sự duy ý chí và chậm đổi mới tư duy đã đưa dân ta đứng trước bao khó khăn vào cuối những năm tám mươi, đầu chín mươi của thế kỷ trước. Hơn nữa trong nền kinh tế hội nhập hiện nay nó lại trở nên vô cùng lạc hậu và không còn phù hợp nữa. Tất cả những hạn chế trên không thể đổi lỗi cho cụ thể một cá nhân nào mà nó phải xét trên nhiều yếu tố và các mặt khác nhau.

 

Thứ nhất là sự quản lý chưa đúng đắn, thiếu kinh nghiệm của đảng ta. Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm, công khai thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm trước nhân dân và cho rằng, nguyên nhân chính của những sai lầm, khuyết điểm trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1985) của Đảng ta là do bệnh nóng vội, chủ quan, duy ý chí, từ đó dẫn đến sai lầm về bố trí cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý phân phối lưu thông, cải tạo xã hội chủ nghĩa; sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện.

 

+ Nhà nước quản lý kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính, xây dựng các chỉ tiêu một cách chủ quan, áp đặt từ trên xuống dưới khiến cho các doanh nghiệp chỉ quan tâm duy nhất đến việc hoàn thành chỉ tiêu, hạn chế sáng tạo.

 

+ Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Làm hạn chế sự phát triển và đóng góp vào nền kinh tế của các thành phần kinh tế khác.

 

+ Quan hệ hàng hóa tiền tệ bị coi nhẹ

 

+ Bộ máy quản lý cồng kềnh nhiều cấp trung gian. Hệ thống thể chế chưa đồng bộ, còn chồng chéo, thiếu thống nhất, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, trật tự kỷ cương chưa nghiêm.

 

Hai là đội ngũ cán bộ công chức còn nhiều yếu kém về phẩm chất, tinh thần, trách nhiệm. Không ít cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước làm việc thiếu tích cực. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều cán bộ, công chức bảo thủ trong cách nghĩ, cách làm, thiếu sự năng động, sáng tạo và đổi mới; cách làm việc quan liêu, hành chính hoá, không thạo việc, tác phong chậm chạp, rườm rà, thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm… dẫn đến sự trì trệ về phương thức hoạt động trong các cơ quan hành chính. Vẫn còn tồn tại không ít hiện tượng áp đặt, quan liêu cửa quyền, tham nhũng, hối lộ, tuỳ tiện, coi thường kỷ cương, kỷ luật công vụ.

 

Ba là, trong xu thế hội nhập và phát triển quốc tế như hiện nay, các nước phát triển đang sử dụng những ưu thế của mình gây ảnh hưởng, tạo sức ép, làm tổn hại nền độc lập dân tộc của những nước chậm phát triển, trong đó có Việt Nam. Nếu như trước đây, chúng ta vì Độc lập mà buộc phải hy sinh “No cơm, ấm áo”, thì nay “No cơm, ấm áo” đang trở thành “mồi nhử” của những nước lớn, nhằm làm méo mó nội dung độc lập dân tộc của nhiều nước nghèo và nhỏ. Trong bối cảnh tình hình này, không cho phép chúng ta tách mình biệt lập với cộng đồng thế giới, mà phải chủ động tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, chủ động khai thác những thuận lợi từ bên ngoài, dựa vào những tập hợp lực lượng có lợi, hạn chế những tác động tiêu cực. Quá trình đó được kết hợp chặt chẽ với yêu cầu tăng cường tiềm lực quốc phòng – an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Thông qua hội nhập quốc tế, khu vực các nước ASEAN để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

 

Những nguyên nhân trên đã cho ta thấy tại sao chế độ quan liêu bao cấp lại tồn tại nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với nước ta trong thời bình. Nước ta đang hướng tới đổi mới tiến hành chuyển dần từ nền kinh tế tập trung ,quan liêu ,bao cấp sang thực hiện cơ chế thị trường. Có như vậy nền kinh tế nước ta mới có thể được cải thiện và phát tiển vững mạnh. Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, tạo dựng được các mối quan hệ với các nước đang phát triển, hơn nữa là các nước phát triển để nước ta có thể chiếm lại ưu thế và sức ảnh hưởng trên thị trường quốc tế.

 

PHẦN KẾT LUẬN

 

Áp dụng quan điểm toàn diện về cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở Việt Nam đã cho ta cái nhìn sâu, rộng, đúng đắn về vấn đề này. Mặc dù còn bộc lộ rất nhiều hạn chế nhưng ta không thể phủ nhận vai trò và ưu điểm của cơ chế này. Khi nhìn nhận nó cần xem xét trên mọi mặt, mọi mối quan hệ thì mới  xác định được đâu là những mặt nổi bật, những mối  quan hệ quan trọng nhất. Từ đó ta sẽ thấy được bản chất cơ chế kế hoạch hóa tập trung không phải là tiêu cực mà chỉ là không được vận dụng sáng tạo, đúng đắn vào tình hình đất nước cũng như bối cảnh lịch sử nước ta bấy giờ ,chính vì vậy mới dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Nhận thức được điều đó Đảng ta đã đề ra đường lối phát triển kinh tế mới và khắc phục những hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung mà vẫn đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

 

Từ vấn đề nêu trên ta càng nhận thức rõ hơn về vai trò quan trọng của quan điểm toàn diện khi nhìn nhận một vấn đề:

 

– Quan điểm này đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn đúng đắn, khách quan về sự vật, hiện tượng để rút ra bản chất. Phải đặt nó giữa các yếu tố bộ phận, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó và mối quan hệ giữa sự vật đó với sự vật khác ,đồng thời luôn đặt trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn  của con người.

 

– Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải có các biện pháp, phương tiện khác nhau để hiểu cho rộng  nhưng cũng cần xác định đâu là cái cơ bản, cái quan trọng để hiểu sâu sắc vấn đề . Mà theo như Lê – nin là kết hợp chặt chẽ giữa “chính sách dân chủ” và chính sách  “có trọng điểm”.

 

Vấn đề “bỏ qua” chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam – Bài tập học kỳ – môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac Lenin

TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỀ TÀI

 

Ngay khi ra đời, Đảng ta đã xác định con đường phát triển của dân tộc là quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đó là đường lối tiến hành cách mạng nhất quán suốt hơn 73 năm qua của Đảng ta. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là qua thực tiễn của gần 17 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã không ngừng đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

 

Tại Đại hội IX – Đại hội đầu tiên trong thế kỷ XXI, dựa trên tổng kết lý luận và thực tiễn sau 15 năm đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã khẳng định: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”. Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Đảng ta, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay là con đường phát triển rút ngắn và phương thức thực hiện con đường này là quá độ gián tiếp. Đó là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta.

 

Hiện nay, vấn đề nhận thức về sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, kiên trì phấn đấu theo lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội của các tầng lớp nhân dân còn chưa được đầy đủ. Vấn đề này cũng đang được Đảng và nhà nước ta quan tâm. Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam đó là sự phát triển tất yếu ở Việt Nam, được Đảng và Hồ Chủ Tịch vạch ra từ năm 1930 (trong Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt trong luận cương chính trị của Đảng ) và ngày càng hoàn thiện hơn trong các ký Đại hội Đảng gần đây. Vì vậy, trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước hiện nay, việc thức về tính tất yếu con đường quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta mang tính cấp thiết

 

 

 

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, với bài tập học kỳ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, em xin chọn đề tài “Vấn đề “bỏ qua” chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” với mong muốn được hiểu cũng như làm rõ hơn về vấn đề này. Sau đây là toàn bộ nội dung chính trong bài làm của em.

 

NỘI DUNG CHÍNH

 

I.Tính tất yếu khách quan của việc quá độ lên chủ nghĩa xã hội

 

  1. Quá độ là gì?

 

 

Quá độ là thời kỳ chuyển tiếp từ trạng thái này sang trạng thái khác, nhưng đang ở giai đoạn trung gian. Thời kỳ quá độ (TKQĐ) lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn bộ lĩnh vực đời sống xã hội, bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền nhà nước cho tới khi tạo ra được những cơ sở của CNXH trên lĩnh vực đời sống xã hội. Có 2 kiểu quá độ tùy thuộc vào điểm đi lên CNXH của các nước:

 

 

– Quá độ trực tiếp: Từ TBCN lên XHCN

 

– Quá độ gián tiếp: Từ xã hội tiền TBCN lên CNXH, bỏ qua TBCN

 

Đặc điểm của thời kỳ quá độ: Các nhân tố xã hội thời kỳ mới đan xen với thời kỳ chế độ cũ, đồng thời đấu tranh với nhau trên từng lĩnh vực đời sống chính trị, văn hóa, tư tưởng, tập quán.

 

Đặc điểm cụ thể:

– Chính trị: Bản chất của thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ quá độ chuyển tiếp về mặt chính trị do nhà nứớc chuyên chính vô sản và ngày càng được cũng cố hòan thiện.

 

– Kinh tế: Đặc trưng của TKQĐ là nền kinh tế nhiều thành phần, tập trung là thành phần kinh tế nhà nứơc. Các thành phần kinh tế vừa hỗ trợ vừa cạnh tranh lẫn nhau.

.

– Xã hội: Đây là thế mạnh của TKQĐ, đã gần như loại bỏ sự hằn thù của sự đấu tranh giai cấp. Tương ứng với từng lọai thành phần kinh tế có những cơ cấu giai cấp – tầng lớp khác nhau, vừa mang tính đối kháng, vừa hỗ trợ nhau.

 

-Văn hóa,tư tửởng: Tồn tại nhiều loại tư tưởng, văn hóa tinh thần khác nhau, có xen lẫn sự đối lập nhưng vẫn họat động trên phương châm: ”tốt đạo, đẹp đời “

 

 

  1. Tính tất yếu chung

 

Vận dụng lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen vào công cuộc xậy dựng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga trước đây, V.I.Lênin đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan đối với mọi nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đối với những nước có lực lượng sản xuất phát triển cao thì thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có nhiều thuận lợi hơn, có thể ngắn hơn so với những nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa từ nền kinh tế kém phát triển.

 

Theo V.I.Lênin, sự cần thiết khách quan phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là do đặc điểm ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và cách mạng vô sản quy định.

 

Quan hệ sản xuất phong kiến và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đều dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Do vậy, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có thể ra đời từ trong lòng xã hội phong kiến. Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đến một trình độ nhất định, sẽ làm sâu sắc them mâu thuẫn của xã hội phong kiến, cách mạng tư sản sẽ nổ ra. Nhiệm vụ của cách mạng tư sản chủ yếu chỉ là giải quyết về mặt chính quyền nhà nước, làm cho kiếm trúc thượng tầng thích ứng với cơ sở hạ tầng của nó.

 

Cách mạng vô sản có điểm khác biệt căn bản với cách mạng tư sản. Do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, còn quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nên chủ nghĩa xã hội không thể ra đời từ trong lòng xã hội tư sản. Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa ra đời sau khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp vô sản giành được chính quyền và bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.

 

Hơn nữa, sự phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ lâu dài, không thể ngay một lúc có thể hoàn thiện được. Để phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, xây dựng chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xây dựng kiểu xã hội mới, cần phải  có thời gian. Nói cách khác, tính tất yếu phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ sự phân tích như vậy, V.I.Lênin cho rằng cách mạng vô sản thắng lợi mới chỉ là sự khởi đầu cho thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội.

 

Phân tích bối cảnh hiện thực ở Châu Âu trong nhũng năm 80-90 của thế kỷ XIX ,và triển vọng của cuộc CMXH do giai cấp công nhân và chính đảng CM của nó lãnh đạo, .Engel cho rằng: đã đến lúc chính đảng của giai cấp công nhân phải nắm lấy quyền quản lý đất nước, tiếp thu những thành quả kinh tế, xã hội do giai cấp tư sản tạo ra và lấy đó làm tiền đề vật chất để “tạo lập ra chế độ XH mới cũng như sinh ra những con người mà chỉ có họ mới đủ sức mạnh, ý chí nghị lực, có năng lực sáng tạo lý luận và họat động thực tiễn, luôn nhạy bén với sự biến đổi của hiện thực lịch sử là 1 trong những nhiệm vụ hàng đầu của Đảng CM “. Bởi tiếp theo thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản sẽ là một TKQĐ lâu dài, hết sức phức tạp và khó khăn. Coi thời kỳ quá độ này là một cuộc đấu tranh lâu dài ác liệt, Engel cho rằng: “cuộc đấu tranh này chỉ đi đến thắng lợi cuối cùng khi chính đảng Cách mạng của giai cấp công nhân có được đội ngũ những ngừời công nhân sáng suốt về chính trị, kiên trì nhẫn nại nhất trí, có kỉ luật, những phẩm chất mà nhờ đó họ thu được những thành công rực rỡ”.Bời vì họ là những người đang nắm trong tay “tính tất yếu của lịch sử” của cuộc đấu tranh này

 

  1. Tính tất yếu đối với Việt Nam

 

Như đã biết, xã hội có áp bức ắt hẳn có đấu tranh, và nhân dân ta đã lấy đấu tranh để chống lại áp bức bóc lột của Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, từ ngàn đời khát khao về một xã hội công bằng tốt đẹp thể hiện qua những cuộc đấu tranh chống ngọai xâm và ước mơ giải phóng dân tộc, dân ta phải đấu tranh với kẻ thù đàn áp .Đó là tính tất yếu của xã hội. Nhưng vì sao chúng ta lựa chọn con đường đi lên XHCN, bỏ qua TBCN? Có thể thấy những nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh cũng đã từng lựa chọn con đường cách mạng tư sản để đấu tranh nhưng không thành công. Điều đó cho thấy con đường đấu tranh bằng cách mạng Tư sản không phù hợp với thực trạng nước ta bấy giờ .

 

Đến với con đường đấu tranh của HCM, Người đã chọn hình thức đấu tranh vô sản, do giai câp công nhân, nông dân lãnh đạo, và đã giành được thắng lợi thể hiện ở CMT8 thành công, miền Bắc đi lên xây dựng XHCN, cuộc cách mạng này chứng minh sự lựa chọn của Đảng và nhân dân ta là đúng đắn, phù hợp với thực tế VN.

 

 

Đồng thời ,theo lý luận của khoa học của Lê Nin thì :

 

  1. a) CNXH có thể diễn ra ở các nước thuộc địa.

 

  1. b) Giữa 2 giai đọan của chế độ CNXH ko có vách ngăn phù hợp, vì vậy miền Bắc đi lên CNXH trước miền Nam.

 

  1. c) “Quá độ bỏ qua” chế độ TBCN trong thời đại hịên nay chỉ là sự vận dụng đúng lịch sử của nhân lọai đã có như Nga Đức Pháp Mỹ… từ chế độ nô lệ bỏ qua chết độ phong kiến lên TBCN

 

Tóm lại, có thể trả lời câu hỏi:”Vì sao Việt Nam đi lên CNXH bỏ qua TBCN ?” qua các lý so sau:

 

-Phù hợp với chí ý nguyện vọng của nhân dân

 

-Phù hợp với hiện thực Việt Nam

 

-Phù hợp với cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin

 

Đây chính là cơ sở lý luận mang tính tất yếu của thời kỳ qúa độ lâu dài ở VN. Vậy tính tất yếu của TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam là gì?

 

  1. Đây chính là quy luật phù hợp với sự chuyển đổi đối với các nước đi lên XHCN trong thời đại ngày nay, hay nói cách khác đấy chính là sự phù hợp với lý luận cách mạng ko ngừng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Sau cuộc cách mạng dân tộc dân chủ thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN ở miền Bắc, nước ta chuyển ngay sang cách mạng XHCN, vừa xây dựng XHCN ở miền Bắc, vừa đấu tranh chống Đế Quốc Mỹ ở miền Nam, đồng thời đấy cũng là sự phù hợp với xu thế của thời đại ngày nay: CNTB với những mâu thuẫn ngày càng gay gắt và sâu sắc chắc chắn sẽ bị thay thế bởi hệ thống XHCN trên phạm vi tòan thế giới. CNTB không phải là tương lai của loài người. Đây là xu hướng khách quan thích hợp với lịch sử.

 

  1. Đây là sự phù hợp với lịch sử của Việt Nam thể hiện ở sự phù hợp TKQĐ ở nước ta với lý luận chung về tính chất tất yếu của TKQĐ, cụ thể là:

 

– Nhà nứớc ta đã thực hiện rõ điều này trên quan điểm: ”Bỏ qua CNTB tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN nhưng hấp thu kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới thời TBCN.”

 

– Đất nước ta còn yếu kém, nhìều tàn dư của chế độ xã hội cũ và chiến tranh để lại. Công cuộc đi lên CNXH là một công việc khó khăn phức tạp do đó cần phải có thời gian để cải tạo xã hội, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho CNXH

.

– Và sự thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở nứoc ta đã có đủ điều kiện quá độ lên TBCN, đó là những điều kịên:

 

+ Nhân dân đoàn kết tin tưởng vào chế độ XHCN

 

+ Chính quyền thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng CS

 

+ Có sự giúp đỡ của các nước tiên tiến, các nước XHCN anh em và phong trào cách mạng tiến bộ của thế giới

 

Tóm lại, thời kỳ qúa độ lên CNXH bỏ qua thời kỳ TBCN là tính tất yếu, là sự lựa chọn sáng suốt của Đảng và nhân dân ta.

 

  1. Tiền đề khách quan, chủ quan để Việt Nam bỏ qua tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội

 

  1. Tiền đề khách quan

 

– Cuộc CM khoa học công nghệ hiên đại đang phát triển, toàn cầu hóa kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, hòa nhập kinh tế thế giới trở thành điều kiện tất yếu, nó mở ra khả năng thuận lợi để khắc phục những hạn chế của nước kém phát triển như: thiếu vốn, công nghiệp lạc hậu, năng lực quản lý kém…

– Thời đại ngày nay, quá độ lên CNXH là xu hướng khách quan của loài người. Đi trong dòng lịch sử, chúng ta đã và đang nhận được sự đồng tình ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của loài người ,của các quốc gia độc lập đang đấu tranh để lựa chọn con đường phát triển tiến bộ của mình

 

  1. Tiền đề chủ quan

 

– Có nguồn lao động dồi dào, cần cù, thông minh, trong đó có đội ngũ công nhân kỹ thuật cao, lành nghề có hàng chục ngàn người là tiền đề quan trọng để tiếp thu, sử dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trên thế giới.

– Có vị trí tự nhiên thuận lợi :

 

+ Có bờ biển kéo dài hơn 3.246 km2, có nhiều mỏ dầu khí chưa đựợc khám phá hết, có ngư trường rộng lớn… đó là nhiều ưu đãi của thiên nhiên, tạo điều kiện cho giao lưu hội nhập quốc tế

 

+ Có hai vựa lúa lớn: Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long, có các vị trí thuận lợi trồng cây công nghiệp khác như Bình Dương, Đồng Nai…

 

– Quá độ lên CNXH không những phù hợp với qui luật phát triển của lịch sử mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, những người đã chiến đấu hi sinh thân mình vì độc lập tự do của dân tộc, vì sự ấm no của mọi người, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ văn minh – những yêu cầu ấy chỉ có XHCN mới đáp ứng được

 

– Xây dựng CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đó là nhân tố vô cùng quan trọng giúp giữ gìn sự tồn tại và phát triển của công cuộc xây dựng và phát triển của tổ quốc VN XHCN

 

III. Nhiệm vụ của Việt Nam khi bỏ qua Tư bản chủ nghĩa

 

–  Phát triển nhanh mạnh lực lượng sản xuất, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH, muốn vậy phải phát triển cả lực lượng sản xuất và sức lao động, đặc biệt là sức lao động (nhân tố con người) phải thực hiện Công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) nền kinh tế quốc dân, phải phát triển nhanh nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta.

–  Xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN.

–  Kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo.

–  Kinh tế hợp tác xã bao gồm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ v.v… Kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

–  Kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức khác nhau tồn tại phổ biến.

–  Chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

–  Phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội.

–  Đảng khẳng định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Xây dựng hệ thống chính trị XHCN.

–  Xây dựng nhà nước là của dân do dân và vì dân.

–  Mọi người sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.

–  Phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

–  Thực hiện dân chủ XHCN. Phát huy khả năng sáng tạo, tính tích cực chủ động của mọi cá nhân.

 

IV.Mục tiêu và phương hướng cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

 

Theo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã chỉ rõ: xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng là 1 chế độ có 6 đặc trưng cơ bản chính:

 

1) Do nhân dân lao động làm chủ

 

2) Có nề kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu

 

3) Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

 

4) Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển bản thân.

 

5) Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết cùng giúp nhau tiến bộ

 

6) Có quan hệ hợp tác hữu nghị với nhân dân các nước trên thế giới,

các đặc trưng trên góp phần hình thành ưu điểm của các nước XHCN, các đặc điểm này ngày càng được hoàn chỉnh, duy trì.

 

Qua suốt 20 năm đổi mới, hoàn thiện trên con đường đi lên XHCN, Đảng ta đã xác định TKQĐ đất nước còn dài, còn nhiều khó khăn phải đương đầu, nhiều chặn đường phải trải qua.

 

 

  1. Mục tiêu

 

Mục tiêu quan trọng của chặng đường đầu là: Đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định và vững chắc, tạo tiền đề cho sự phát triển sau này .

Mục tiêu kế tiếp là đẩy mạnh công nghiêp hóa, hiện đại hóa nhằm đến năm 2020 nước ta trở thành nước cơ bản công nghiệp hiện đại (tập trung xây dựng đội ngũ kỹ thuật, kỹ sư lành nghề trình độ cao, xây dựng mối quan hệ tổ chức sản xuất hiện đại, quốc phòng được cũng cố…)

 

  1. Phương hướng

 

– Xây dựng nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân vì dân, lấy dân là nền tảng họat động, dựa trên cơ cấu thành phần chính là công nhân, nông dân, thành phần tri thức, tất cả do Đảng Cộng sản lãnh đạo .

 

– Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền móng nông nghiệp toàn diện, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội, cải thiện đời sống cá nhân.

 

– Thiết lập từng bước mối quan hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đa dạng về hình thức sở hữu và phân phối phát triển thành phần hàng hóa nhìều thành phần vận hành theo nền kinh tế thị trường theo định hứớng XHCN.

 

– Tiến hành CM XHCN trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

 

– Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, đòan kết với các phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập của dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Xây dựng XHCN gắn liền với bảo vệ tổ quốc.

 

– Xây dựng Đảng trong sạch và vững mạnh về chính trị, bồi dưỡng công các chính trị, tư tưởng các cán bộ. Đảm bảo công tác giữ an ninh trật tự xã hội, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp XHCN ở nước ta

 

KẾT LUẬN

 

Như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn là con đường phát triển rút ngắn theo phương thức quá độ gián tiếp. Đó là con đường phát triển tất yếu, khách quan, hợp quy luật theo tiến trình phát triển lịch sử – tự nhiên của cách mạng Việt Nam, là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Với Việt Nam, con đường phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là con đường phát triển tất yếu, khách quan, hợp quy luật. Và, về thực chất, đó là con đường phát triển rút ngắn theo phương thức quá độ gián tiếp nhằm tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực, nhằm phát triển nhanh lực lượng sản xuất và xây dựng nền kinh tế hiện đại.

Tóm lại, xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là quá trình rất khó khăn, phức tạp, tất yếu “phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”

Trên đây là toàn bộ bài tập học kỳ của em với đề tài “Vấn dề “bỏ qua” chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Vì đây là một dề tài khá rộng, tổng quát và có thể tiếp xúc từ nhiều khía cạnh mà khuôn khổ bài tập học kỳ lại có hạn nên có thể bài làm của em không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý từ các thầy, các cô để bài làm được hoàn thiện hơn.

 

Em xin chân thành cảm ơn!

 

 

 

 

 

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội 2009
  2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội 2008
  3. Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Giáo trình kinh tế chính trị học Mác – Lênin, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội 1999
  4. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Kinh tế chính trị, Giáo trình Kinh tế Chính trị Mác-Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB CTQG, Hà Nội 2001

Chủ trương của Đảng về đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại

Nước ta là một bộ phận không thể tách rời của thế giới, gắn liền với tiến trình phát triển của thế giới. Hiểu biết sâu sắc tình hình thế giới là điều kiện không thể thiếu để xác định những mục tiêu, nhiệm vụ cho đất nước. Xa rời với sự vận động chung, tự cô lập mình với thế giới bên ngoài là những sai lầm nguy hại, có thể ảnh hưởng đến sự sinh tồn của cả dân tộc. Việt Nam chúng ta đã từng có một thời kỳ như vậy, chỉ bó hẹp quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa mà không quan tâm đến tình hình của các nước khác cũng như thế giới nói chung, bị bảo vậy, cô lập bởi chính các nước trong khu vực. Nhưng rất may, Đảng ta đã có những điều chỉnh kịp thời trong chính sách ngoại giao, giúp đưa đát nước thoát khỏi tình thế đó. trong đó phải kể đến chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại.

 

 

Hoàn cảnh lịch sử

 

Tình hình thế giới

 

Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX tình hình thế giới có nhiều biến động. Sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã tác động sâu sắc đến nền kinh tế thế giới. Xu thế chạy đua phát triển kinh tế đã dẫn đến cục diện hòa hoàn giữa các nước lớn. Các nước đang phát triển cũng dần đổi mới chính sách đối ngoại, thực hiện chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế để tranh thủ sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và công nghệ. Hai xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách ngoại giao của các nước, trong đó có các nước Đông Nam Á.

 

Trong khi đó, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng sâu sắc. Đến đầu những năm 90, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ hoàn toàn. Trật tự thế giới hai cực theo đó cũng tan rã, mở ra thời kỳ mới với việc hình thành trật tự thế giới đa cực.

 

Tình hình trong nước và những tác động của tình hình thế giới đến việc hình thành chính sách đổi mới.

 

Về mặt chính trị – ngoại giao, do không nắm bắt kịp thời xu thế phát triển của thế giới mà chính sách đối ngoại của chúng ta mười năm trước đổi mới đã bộc lộ nhiều hạn chế. Việt Nam vẫn trong thế bị bao vây, cô lập: lấy cớ “Sự kiện Campuchia” các nước ASEAN và một số nước khác thực hiện cấm vận chúng ta; Mỹ ba lần phủ quyết chúng ta gia nhập Liên hợp quốc… bị cô lập lại bị các thế lực thù địch chống phá, cộng với các chính sách phát triển sai lầm, không phù hợp với hoàn cảnh khiến nước ta lâm vảo cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội nghiêm trọng.

 

Những biến động của tình hình thế giới cũng tác động sâu sắc đến nhận thức và tư duy của Đảng, là cơ sở cho sự đổi mới các chính sách. Đặc biệt sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô là bài học quý giá cho chúng ta. Đảng nhận định rằng sự sụp đổ đó không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung mà là sự sụp đổ của một mô hình xã hội chủ nghĩa đã bị biến dạng, mang nhiều khuyết tật. Từ đó Đảng đã rút ra nhiều kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 

Đối với xu hướng toàn cầu hóa, Đảng khảng định: toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, có cả mặt tích cực và tiêu cực. Chúng ta cần phải tham gia quá trình toàn cầu hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực nhưng vẫn đảm bảo độc lập, tự chủ.

 

Xuất phát từ tình hình cụ thể trong và ngoài nước và nhu cầu phát triển của nước ta, những đánh giá về cục diện thế giới và khu vực nói trên, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra vào tháng 12/1986, Đảng ta bắt đầu đã có những đổi mới sâu sắc và mang tính chiến lược về đường lối và chính sách đối ngoại.

 

Nội dung đường lối đối ngoại thời kì đổi mới

 

Những nội dung chính

 

Có thể nêu ra một số chủ trương, chính sách lớn được đề cập trong các văn kiện của Đảng liên quan đến đối ngoại như:

 

Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững;

 

Mở rộng thêm các quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa;

 

Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp;

 

Bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế phù hợp với các nguyên tắc, quy định của WTO;

 

Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước;

 

Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm trong hội nhập kinh tế quốc tế;

 

Giải quyết các tốt các vấn đề văn hóa, xã hội và môi trường trong quá trình hội nhập;

 

Tăng cường hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực an sinh xã hội như giáo dục, bảo hiểm, y tế, từ đó đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo;

 

Giữ vững và tăng cường quốc phòng, an ninh trong quá trình hội nhập;

 

Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại;

 

Đối mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại.

 

Chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại

 

Trong đường lối ngoại giao thời kì đổi mới của Đảng không thể không nhắc đến chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại. Đây là một trong những chủ trương quan trọng, thể hiện rõ nét sự đổi mới của Đảng trong quan điểm và tư duy về công tác đối ngoại. Có thể nói việc đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại là cơ sở tiền đề để chúng ta thực hiện được các chủ trương khác như hội nhập kinh tế quốc tế hay nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

 

Nội dung

 

Trước thời kì đổi mới, chúng ta đánh giá các quốc gia, các dân tộc khác chỉ đơn thuần theo tiêu chí chính trị; cách mạng và phản cách mạng, xã hội chủ nghĩa và phi xã hội chủ nghĩa, tốt và xấu, bạn và thù; có khuynh hướng đánh giá một cách chủ quan về sức mạnh tuyệt đối của chủ nghĩa xã hội mà không nhận thấy chủ nghĩa tư bản với khoa học công nghệ đã và đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là nền kinh tế. Do đó, Đảng chủ trương tập trung phát triển quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực Đông Nam Á và các xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô – coi quan hệ với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách ngoại giao. Điều này khiến cho quan hệ đối ngoại của Việt Nam bị bó hẹp trong hệ thống xã hội chủ nghĩa và trong khu vực.

 

Tại Đại hội VI, lần đầu tiên Đảng đặt cơ sở cho việc mở rộng quan hệ kinh tế ra ngoài các nước xã hội chủ nghĩa bằng chủ trương: “Chúng ta cần tranh thủ những điều kiên thuận lợi mới về hợp tác kinh tế và khoa học kĩ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi việc phân công và hợp tác trong Hội đồng tương trợ kinh tế, đồng thời tranh thủ mở rộng quan hệ với các nước khác”. Triển khai chính sách này, tháng 12/1987, ta đã ban hành Luật đầu tư nhằm thu hút vốn từ các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội. Đại hội VI cũng đưa ra nhiều điều chỉnh quan trọng khác trong đó có chủ trương bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Đây là những chủ trương mở đầu cho quá trình đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại.

 

Nối tiếp tinh thần của Đại hội VI, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 Khóa VII tháng 6/1992 về chính sách đối ngoại là một Nghị quyết hết sức quan trọng, đã cơ bản hoàn chỉnh đường lối, chính sách đối ngoại đổi mới của nước ta. Mục tiêu đối ngoại của ta là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Để thực hiện được mục tiêu đó một trong những việc chúng ta cần làm đó là đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế song song với giữ vững nền độc lập tự chủ. Độc lập tự chủ, phát huy cao độ nội lực là nền tảng để phát triển các quan hệ quốc tế và hội nhập quốc tế. độc lập tự chủ không có nghĩa là biệt lập, trái lại, phải mở rộng, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ quốc tế, xây dựng được thế đứng vững chắc trên trường quốc tế.

 

Chúng ta mở rộng quan hệ đối ngoại theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Chúng ta mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và mọi vùng lãnh thổ trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị – xã hội và ý thức hệ; trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học – công nghệ, văn hóa, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh…; cả quan hệ song phương và đa phương; cả quan hệ ngoại giao của Quốc hội, Chính phủ, quan hệ đối ngoại của Đảng và đối ngoại nhân dân. Chúng ta coi trọng phát triển quan hệ hòa bình, hợp tác, hữu nghị với các nước lánh giềng, khu vực, mở rộng quan hệ ngày càng sâu, ổn định, bền vững với các nước lớn, các trung tâm kinh tế – tài chính quốc tế lớn là những lực lượng ảnh hưởng đáng kể đến an ninh và phát triển của nước ta. Đồng thời ta không xem nhẹ phát triển quan hệ với các nước khác, các nước bè bạn truyền thống, các lực lượng cách mạng và tiến bộ, những người yêu chuộng hòa bình và công lí trên thế giới.

 

Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng tháng 6/1996 quyết định đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, hướng hoạt động đối ngoại sang phục vụ phát triển kinh tế là chủ yếu và Nghị quyết Đại hội IX tháng 4/2001 nâng lên một mức cao hơn, chủ trương “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.

 

Từ chính sách đối ngoại chủ yếu dựa vào Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, ta đã chuyển sang chính sách đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, với phương thức tập hợp lực lượng rất linh hoạt, theo từng vấn đề và từng thời điểm cụ thể. Trong quan hệ quốc tế chúng ta không đơn giản phân định đích – ta, thù – bạn mà nhận định một cách biện chứng hơn: những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hoạt động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Trong mỗi đối tượng vẫn có mặt cần tranh thủ hợp tác; trong một số đối tác quan trọng nhưng vẫn có thể có sự khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta thì vẫn phải đấu tranh; xác định đối tương, đối tác tùy theo tình huống, hoàn cảnh, tránh mơ hồ, cứng nhắc.

 

Với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa trong các quan hệ ngoại giao của Đảng, chúng ta đã đạt được một số thành tựu nhất định cũng như gặp phải một số hạn chế.

 

Kết quả

 

Ta đã phá được thế đất nước bị bao vây, cấm vận, cô lập; thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, trên mọi phương diện từ chính trị, kinh tế đến an ninh, quốc phòng. Đến nay, VIệt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 180 quốc gia, có quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Chúng ta đã có 98 cơ quan đại diện tại các quốc gia và vùng lãnh thổ khắp 5 châu lục trên thế giới. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao dân tộc, chúng ta đã đảm nhiệm thành công cương vị ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và Chủ tịch ASEAN năm 2010. Thế và lực của đất nước ngày càng vững mạnh, vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao hơn bao giờ hết. Tất cả đều là minh chứng cho chủ trương đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế.

 

Ta đã đi từ bình thường hóa quan hệ đến xác lập khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài với các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ, Liên minh châu Âu. Nhìn chung, quan hệ giữa ta với các nước lớn đã có những tiến bộ rõ rệt. Các nước lớn, trong đó có cả Mỹ, đều đã cử nguyên thủ sang thăm chính thức nước ta và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta ngược lại cũng đã đi thăm chính thức các nước đó. Với Trung Quốc, ta đã ký Tuyên bố chung, Thông cáo chung Việt Nam – Trung Quốc với phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Với Mỹ, ta đã ký Hiệp định Thương mại Việt Nam – hoa kỳ và nhiều văn bản hợp tác khác. Ta cũng đã ký Hiệp định về hợp tác với Liên minh châu Âu, Tuyên bố về quan hệ đối tác chiến lược với Nga và Khuôn khổ quan hệ đối tác tin cậy và ổn định lâu dài với Nhật Bản.

 

Trong khu vực, việc rút quân tình nguyện khỏi Campuchia và chủ động tham gia giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia là bước đi lớn, tạo tiền đề thuận lợi để gia nhập ASEAN. Các vấn đề về biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước trong khu vực như Philippine, Thái Lan, Malaysia…phần lớn cũng được chúng ta giải quyết trong hòa bình bằng các biện pháp ngoại giao, góp phần xây dựng một khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định và thịn vượng lâu dài. Đồng thời cùng với ASEAN, chúng ta cũng tích cực giải quyết các tranh chấp trên biển Đông với Trung Quốc.

 

Trong lĩnh vực kinh tế, việc mở rộng quan hệ với nhiều nước, đặc biệt là các nước lớn đã giúp chúng ta tranh thủ được nhiều nguồn vốn ODA và FDI, mở rộng thị trường ngoài nước, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Năm 2011, giải ngân ODA của Việt Nam đạt 3,65 tỷ USD. Con số này chỉ chiếm chưa đầy một nửa số vốn 7,9 tỷ USD cam kết tại Hội nghị CG năm 2010, nhưng đã tăng 10% so với mức giải ngân hơn 2,9 tỷ USD của năm 2010. Tại Hội nghị CG tháng 12/2011, các nhà tài trợ tiếp tục cam kết cho Việt Nam trong năm tài khoá 2012 là 7,4 tỷ USD.[footnoteRef:2] Không chỉ vậy, chúng ta còn tiếp thu các kĩ thuật khoa học, công nghệ tiên tiến của nước ngoài để áp vào trong nước, tăng sức sản xuất và cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước. Tất cả là động lực to lớn thúc nền kinh tế của chúng ta không ngừng phát triển với tốc độ nhanh chóng trong suốt thời gian qua, kể từ khi Đảng thực hiện chính sách đổi mới. Theo thống kê tốc độ tăng trưởng kinh tế của chúng ta tăng tương đối đồng đều quá các năm, nhất là về cuối năm. GDP cả nước năm 2011 tăng 5,89%; quy mô nền kinh tế ước đạt 119 tỷ USD, với mức GDP bình quân đầu người đạt 1.300 USD/năm[footnoteRef:3]. [2: Thống kê của viện chiến lược và chính sách tài chính] [3: ]

 

Những thực tế trên đã chứng tỏ đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng là đúng đắn, thể hiện sự trưởng thành về nhận thức, quan điểm. Tuy nhiên không phải là không có những khó khăn, thử thách mà chúng ta phải đối mặt. Thứ nhất, cùng với quá trình mở rộng quan hệ ngoại giao những lo ngại về an ninh trong nước cũng gia tăng với nhiều mầm mống nguy hại như sự can thiệp từ bên ngoài, các lực lượng khủng bố, cực đoan…Thứ hai, trong quan hệ với các nước, đặc biệt là các nước lớn, chúng ta còn lúng túng, bị động, dễ bị chi phối, áp đặt. Thứ ba, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem lại nhiều thách thức cho nền kinh tế trong nước như sự cạnh tranh của hàng ngoại, hàng giả, hàng nhái…Thứ ba, việc mở rộng giao lưu văn hóa khiến du nhập vào Việt Nam nhiều yếu tố văn hóa không lành mạnh, không phù hợp với văn hóa truyền thống người Việt, thậm chí còn mang tính chất phản động. Và còn rất nhiều khó khăn, thách thức nữa chờ chúng ta khi tiến hành mở rộng quan hệ ngoại giao, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, đòi hỏi Đảng phải thật tỉnh táo, đúng đắn khi đề ra các chính sách, đường lối tiếp theo.

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – Bài tập học kỳ Mác Lênin

Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực lượng sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng .

 

Thời kỳ quá độ lên chủ nghiã xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt để về mọi mặt. Từ xã hội cũ sang xã hội mới XHCN. Thời kỳ đó bắt đầu từ khi giai cấp vô sản lên nắm chính quyền. Cách mạng vô sản thành công vang dội và kết thúc khi đã xây dựng xong cơ sở kinh tế chính trị tư tưởng của xã hội mới. Đó là thới kỳ xây dựng từ lực lượng sản xuất mới dẫn đến quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới hình thành lên các quan hệ sở hữu mới. Từ cơ sở hạ tầng mới hình thành nên kiến trúc thượng tầng mới. Song trong một thời gian dài chúng ta không nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội về quy luật sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên tính đa dạng hoá các loại hình sở hữu ở Việt Nam từ đó tạo nên tính đa dạng của nền kinh tế nhiền thành phần. Thực tế cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu chứ không đơn thuần là hai hình thức sở hữu trong giai đoạn xưa kia. Vì vậy nghiên cứu “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật này ở Việt Nam” có vai trò quan trọng mang tính cấp thiết cao vì thời đại ngày nay chính là sự phát triển của nền kinh tế thị trường hàng hoá nhiều thành phần. Nghiên cứu vấn đề này chúng ta còn thấy được ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của nó hết sức sâu sắc .

 

NỘI DUNG

 

I- SỰ NHẬN THỨC VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT. 1/ Đôi nét về phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

 

  1. Phương thức sản xuất là gì?

 

Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định. Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Phương thức sản xuất đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội. Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuẩt ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.

 

b.Lực lượng sản xuất là gì?

 

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ của con người với tự nhiên hình thành trong quá trình sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ khống chế tự nhiên của con người. Đó là kết quả năng lực thực tiễn của con người tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất đảm bảo sự tồn tại và phát triển của loài người.

 

Trong cấu thành của lực lượng sản xuất, có thể có một vài ý kiến nào đó khác nhau về một số yếu tố khác của lực lượng sản xuất, song suy cho cùng thì chúng đều vật chất hoá thành hai phần chủ yếu là tư liệu sản xuất và lực lượng con người. Trong đó tư liệu sản xuất đóng vai trò là khách thể, còn con người là chủ thể.

 

Tư liệu sản xuất được cấu thành từ hai bộ phận đó là đối tượng lao động và tư liệu lao động. Thông thường trong quá trình sản xuất phương tiện lao động còn được gọi là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế. Trong bất kỳ một nền sản xuất nào công cụ sản xuất bao giờ cũng đóng vai trò là then chốt và là chỉ tiêu quan trọng nhất. Hiện nay công cụ sản xuất của con người không ngừng được cải thiện và dẫn đến hoàn thiện, nhờ thành tựu của khoa học kỹ thuật đã tạo ra công cụ lao động công nghiệp máy móc hiện đại thay thế dần lao động của con người. Do đó công cụ lao động luôn là độc nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất.

 

Bất kỳ một thời đại lịch sử nào, công cụ sản xuất bao giờ cũng là sản phẩm tổng hợp, đa dạng của toàn bộ những phức hợp kỹ thuật được hình thành và gắn liền với quá trình sản xuất và phát triển của nền kinh tế. Nó là sự kết hợp của nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất và trực tiếp nhất là trí tuệ con người được nhân lên trên cơ sở kế thừa nền văn minh vật chất trước đó.

 

Nước ta là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều nơi mà con người chưa từng đặt chân đến nhưng nhờ vào tiến bộ của KHKT và quá trình công nghệ tiên tiến con người có thể tạo ra được sản phẩm mới có ý nghĩa quyết định tới chất lượng cuộc sống và giá trị của nền văn minh nhân loại. Chính việc tìm kiếm ra các đối tượng lao động mới sẽ trở thành động lực cuốn hút mọi hoạt động cuả con người.

 

Tư liệu lao động dù có tinh sảo và hiện đại đến đâu nhưng tách khỏi con người thì nó cũng không phát huy tác dụng của chính bản thân. Chính vậy mà Lê Nin đã viết: “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động “. Người lao động với những kinh nghiệm, thói quen lao động, sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất. Tư liệu sản xuất với tư cách là khách thể của LLSX, và nó chỉ phát huy tác dụng khi nó được kết hợp với lao động sống của con người . Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “ Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con người lên vị trí hàng đầu, vị trí trung tâm thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng khoa học và tiến bộ xã hội”.

 

Người lao động với tư cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất xã hội phải là người có thể lực, có tri thức văn hoá, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm và thói quen tốt, phẩm chất tư cách lành mạnh, lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm cao trong công việc. Trước đây do chưa chú trọng đúng mức đến vị trí của người lao động, chúng ta chưa biết khai thác phát huy mọi sức mạnh của nhân tố con người. Đành rằng năng lực và kinh nghiệm sản xuất của con người còn phụ thuộc vào những tư liệu sản xuất hiện có mà họ đang sử dụng. Nhưng tích cực sáng tạo của họ đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

 

  1. Quan hệ sản xuất là gì?

 

Quan hệ sản xuất là phạm trù triết học chỉ quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất và quan hệ về phân phối các sản phẩm làm ra… Quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng sự hình thành và phát triển một cách khách quan không phụ thuộc vào ý chí con người.

 

Nếu như quan niệm lực lượng sản xuất là mặt tự nhiên của sản xuất thì quan hệ sản xuất lại là mặt xã hội của sản xuất.

 

Quan hệ sản xuất gồm có 3 mặt:

 

+ Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu (gọi tắt là quan hệ sở hữu)

 

+ Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức, quản lý xã hội và trao đổi hoạt động cho nhau (gọi tắt là quan hệ tổ chức, quản lý).

 

+ Quan hệ giữa người với người trong phân phối, lưu thông sản phẩm làm ra (gọi tắt là quan hệ phân phối lưu thông)

 

Trong ba mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ sử hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu là quan hệ cơ bản và đặc trưng cho từng xã hội. Quan hệ về sở hữu quyết định

 

quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối các sản phẩm làm ra.

 

Trong cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất vấn đề quan trọng mà Đại hội VI nhấn mạnh là phải tiến hành cả ba mặt đồng bộ: chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối không nên coi trọng một mặt nào cả về mặt lý luận, không nghi ngờ gì rằng: chế độ sở hữu là nền tảng quan hệ sản xuất. Nó là đặc trưng để phân biệt chẳng những các quan hệ sản xuất khác nhau mà còn các thời đại kinh tế khác nhau trong lịch sử như mức đã nói.

 

– Thực tế lịch sử cho thấy rõ bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào đều mang một mục đích kinh tế là nhằm bảo đảm cho lực lượng sản xuất có điều kiện tiếp tục phát triển thuận lợi và đời sống vật chất của con người cũng được cải thiện. Đó là tính lịch sử tự nhiên của các quá trình chuyển biến giữa các hình thái kinh tế – xã hội trong quá khứ và cũng là tính lịch sử tự nhiên của thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa.

 

– Và xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất của sở hữu cũng quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế – xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng khong đối lập mà còn phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của chế độ kinh tế – xã hội mới.

 

Nếu suốt trong quá khứ, đã không có một cuộc chuyển biến nào từ hình thái kinh tế – xã hội sang hình thái kinh tế – xã hội khác hoàn toàn là một quá trình tiến hoá êm ả, thì thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa hoặc trước tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa (CSCN) trong thời đại ngày nay càng không thể là một quá trình êm ả. Chủ nghĩa Mác – Lênin chưa bao giờ coi hình thái kinh tế – xã hội nào đã tồn tại kể từ trước đến nay là chuẩn nhất. Trong mỗi hình thái kinh tế – xã hội cùng với một quan hệ sản xuất thống trị, điển hình còn tồn tại những quan hệ sản xuất phụ thuộc, lỗi thời như là tàn dư của xã hội cũ. Ngay ở cả các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất cũng không chỉ có một quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thuần nhất. Tất cả các tình hình trên đều bắt nguồn từ phát triển không đều về lực lượng sản xuất không những giữa các nước khác nhau mà còn giữa các vùng và các ngành khác nhau của một nước. Việc chuyển từ quan hệ sản xuất lỗi thời lên cao hơn như C.Mác nhận xét: “Không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi…” phải có một thời kỳ lịch sử tương đối lâu dài mới có thể tạo ra điều kiện vật chất trên.

 

2- Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

 

  1. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp.

 

Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế – chính trị năm 1859 C.Mác viết “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất. Những qui luật này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ…” Người ta thường coi tư tưởng này của Mác là tư tưởng về “Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”.

 

Cho đến nay hầu như qui luật này đã được khẳng định cũng như các nhà nghiên cứu triết học Mác xít. Khái niệm “phù hợp” được hiểu với nghĩa chỉ phù hợp mới tốt, mới hợp qui luật, không phù hợp là không tốt, là trái qui luật. Có nhiều vấn đề mà nhiều lĩnh vực đặt ra với từ “phù hợp” này. Các mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng thức khác nhau mà nhìn một cách tổng quát thì đó là những dạng quan hệ sản xuất và dạng những lực lượng sản xuất từ đó hình thành những mối lien hệ chủ yếu cơ bản là mối liên hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Nhưng mối liên hệ giữa hai yêu tố cơ bản này là gì? Phù hợp hay không phù hợp. Thống nhất hay mâu thuẫn? Trước hết cần xác định khái niệm phù hợp với các ý nghĩa sau.

 

– Phù hợp là sự cân bằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập hay “sự yên tính” giữa các mặt.

 

– Phù hợp là một xu hướng mà những dao động không cân bằng sẽ đạt tới.

 

Trong phép biện chứng sự cân bằng chỉ là tạm thời và sự không cân bằng là tuyệt đối. Chính đâylà nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển . Ta biết rằng trong phép biện chứng cái tương đối không tách khỏi cái tuyệt đối nghĩa là giữa chúng không có mặt giới hạn xác định. Nếu chúng ta nhìn nhận một cách khác có thể hiểu sự cân bằng như một sự đứng im, còn sự không cân bằng có thể hiểu như sự vận động. Tức sự cân bằng trong sản xuất chỉ là tạm thời còn không cân bằng không phù hợp giữa chúng là tuyệt đối. Chỉ có thể quan niệm được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận tính chân lý vĩnh hằng của sự vận động. Cũng vì vậy chỉ có thể quan niệm được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận, nhận thức được sự phát triển trong mâu thuẫn của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chừng nào ta thừa nhận tính vĩnh viễn không phù hợp giữa chúng.

 

Từ những lý luận đó đi đến thực tại nước ta cũng vậy với quá trình phát triển lịch sử lâu dài của mình từ thời đồ đá đến nay thời văn minh hiện đại. Nước ta đi từ sự không phù hợp hay sự lạc hậu từ trước lên đến nay nền văn minh đất nước. Tuy nhiên quá trình vận động và phát triển của sản xuất là quá trình đi từ sự không phù hợp đến sự phù hợp, nhưng trạng thái phù hợp chỉ là sự tạm thời, ngắn ngủi, ý muốn tạo nên sự phù hợp vĩnh hằng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất là trái tự nhiên, là thủ tiêu cái không thủ tiêu được, tức là sự vận động.

 

Tóm lại, có thể nói thực chất của qui luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là qui luật mâu thuẫn. Sự phù hợp giữa chúng chỉ là một cái trục, chỉ là trạng thái yên tĩnh tạm thời, còn sự vận động, dao động sự mâu thuẫn là vĩnh viễn chỉ có khái niệm mâu thuẫn mới đủ khả năng vạch ra động lực của sự phát triển mới có thể cho ta hiểu được sự vận động của qui luật kinh tế.

 

  1. Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

 

Tất cả chúng ta đều biết, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt hợp thành của phương thức sản xuất có tác động qua lại biện chứng với nhau. Việc đẩy quan hệ sản xuất lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một hiện tượng tương đối phổ biến ở nhiều nước xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nguồn gốc của tư tưởng sai lầm này là bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn có nhanh chủ nghĩa xã hội thuần nhất bất chấp qui luật khách quan. Về mặt phương pháp luận, đó là chủ nghĩa duy vật siêu hình, quá lạm dụng mối quan hệ tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự lạm dụng này biểu hiện ở “Nhà nước chuyên chính vô sản có khả năng chủ động tạo ra quan hệ sản xuất mới để mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất”.

 

Nhưng khi thực hiện người ta đã quên rằng sự “chủ động” không đồng nghĩa với sự chủ quan tuỳ tiệ, con người không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của quan hệ sản xuất mà mình muốn có. Ngược lại quan hệ sản xuất luôn luôn bị qui định một cách nghiêm ngặt bởi trạng thái của lực lượng sản xuất, bởi quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất chỉ có thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nó được hoàn thiện tất cả về nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.

 

+ Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành biến đổi của quan hệ sản xuất: lực lượng sản xuất là cái biến đổi đầu tiên và luôn biến đổi trong sản xuất con người muốn giảm nhẹ lao động nặng nhọc tạo ra năng suất cao phải luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động. Chế tạo ra công cụ lao động mới. Lực lượng lao động qui định sự hình thành và biến đổi quan hệ sản xuất ki quan hệ sản xuất không thích ứng với trình độ, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất và ngược lại.

 

+ Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất khi đã được xác lập thì nó độc lập tương đối với lực lượng sản xuất và trở thành những cơ sở và những thể chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối với lực lượng sản xuất. Thường lạc hậu so với lực lượng sản xuất và nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ sản xuất, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nếu lạc hậu so với lực lượng sản xuất dù tạm thời thì nó kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó qui định mục đích của sản xuất qui định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, qui định phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó nó ảnh hưởng tới thái độ tất cả quần chúng lao động. Nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển công cụ sản xuất, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất hợp tác phân công lao động quốc tế.

 

  1. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 1/ Những sai lầm về quy luật quan hệ sản xuất – lực lượng sản xuất trước kia:

 

Trong tiến trình lãnh đạo và quản lý đất nước của Đảng và Nhà nước ta trong suốt mấy chục năm qua, thực tiễn cho thấy những mặt được cũng như những mặt cũng như hạn chế trong quá trình nắm bắt và vận dụng các quy luật kinh tế cũng như quy luật quan hệ sản xuất – lực lượng sản xuất vào thực tiễn ở nước ta, với đặc điểm của nước ta là Nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp kém, con trâu đi trước cái cày đi sau, trình độ quản lý thấp cùng với nền sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc là chủ yếu. Mặt khác Nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh, nhiều năm bị đế quốc Mỹ bao vây cấm vận nhiều mặt, nhất là về kinh tế. Do vậy lực lượng sản xuất chưa có điều kiện phát triển. Sau khi giành được chính quyền, trước yêu cầu xây dựng CNXH trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, Nhà nước ta đã dùng sức mạnh chí trị tư tưởng để xóa bỏ nhanh chế độ tư hữu, chuyển sang chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân và tập thể, lúc đó được coi là điều kiện chủ yếu, quyết định, tính chất, trình độ xã hội hoá sản xuất cũng như sự thắng lợi của CNXH ở nước ta. Songtrong thực tế cách làm này đã không mang lại kết quả như mong muốn, vì nó trái quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, đã để lại hậu quả là:

 

Thứ nhất: Đối với những người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ) thì tư hữu về TLSX là phương thức kết hợp tốt nhất giữa sức lao động và TLSX. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng TLSX dưới hình thức cá nhân bị tập trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người lao động bị tách khỏi TLSX, không làm chủ được qúa trình sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo HTX, họ cũng không phải là chủ thể sở hữu thực sự dấn đến TLSX trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể.

 

Thứ hai: Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành. Về pháp lý TLSX cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có quyền sở hữu chi phối, định đoạt TLSX và sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì người lao động chỉ là người làm công ăn lương, chế độ lương lại không hợp lý không phản ánh đúng số lượng & chất lượng lao động của từng cá nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công hữu về TLSX cùng với ông chủ của nó trở thành hình thức, vô chủ, chính quyền (bộ, ngành chủ quản) là đại diện của chủ sở hữu là người có quyền chi phối, đơn vị kinh tế mất dần tính chủ động, sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại không ai chịu trách nhiệm, không có cơ chế giàng buộc trách nhiệm, nên người lao động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình.

 

Đây là căn nguyên nảy sinh tiêu cực trong phân phối, chỉ có một số người có quyền định đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi.

 

Tuy vậy, trong quá trình lãnh đạo xã hội đẩy mạnh phát triển kinh tế Đang ta đang vận dụng quy luật sao cho quan hệ sản xuất luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất̉, trên thực tế Đ ảng và Nhà nước ta đang từng bước điều chỉnh quan hê san xuât cả tầm vi mô và vĩ mô thời coi trọng việc đẩy mạnh phát triển lưc lương san xuât. Điều đó đã có một tác động tích cực đối với nền kinh tế nước ta.

 

2/ Sự hình thành và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.

Nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng, trong thời gian qua do quá cường điệu vai trò của quan hệ sản xuất do quan niệm không đúng về mối quan hệ giữa sở hữu và quan hệ khác, do quên mất điều cơ bản là nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa. Đồng nhất chế độ công hữu với chủ nghĩa xã hội lẫn lộn đồng nhất giữa hợp tác hoá và tập thể hoá. Không thấy rõ các bước đi có tính qui luật trên con đường tiến lên CNXH nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về thực chất là theo đường lối “đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ sản xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Thiết lập chế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể”. Quan niệm cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để tạo địa bàn rộng rãi, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đã bị bác bỏ. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội này đã mâu thuẫn với những cái phân tích trên.

 

Nhưng thực ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với những hình thức kinh tế – xã hội xa lạ được áp đặt một cách chủ quan kinh tế thích hợp cần thiết cho lực lượng sản xuất mới nảy sinh và phát triển. Khắc phục những hiện tượng tiêu cực trên là cần thiết về mặt này trên thực tế chúng ta chưa làm hết nhiệm vụ mình phải làm. Phải giải quyết đúng đắn giữa mâu thuẫn lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất từ đó khắc phục những khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế. Thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bước đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất luôn luôn thúc đâỷ sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao. Trên cơ sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nước cách mạng. Cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản và luôn bán tự do rộng rãi có lợi cho sự phát triển sản xuất. Mới đây các nhà báo của nước ngoài phỏng vấn Tổng bí thư Lê Khả Phiêu rằng “với một người có bằng cấp về quân sự nhưng không có bằng cấp về kinh tế ông có thể đưa nước Việt Nam tiến lên không”, trả lời phỏng vấn Tổng bí thư khẳng định rằng Việt Nam chúng tôi khác với các nước ở chỗ chúng tôi đào tạo một người lính thì người lính ấy phải có khả năng cầm súng và làm kinh tế rất giỏi, và ông còn khẳng định là không chấp nhận Việt Nam theo con đường chủ quan của tư bản, nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đất nước Việt Nam và vẫn quan hệ với chủ nghĩa tư bản trên cơ sở có lợi cho đôi bên và như vậy cho phép phát triển thành phần kinh tế tư bản là sáng suốt. Quan điểm từ đại hội VI cũng đã khẳng định không nhưng khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cả thế mà phải phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều quan trọng là phải nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ. Để thực hiện vai trò này một mặt nó phải thông qua sự nêu gương về các mặt năng suất, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện đầy đủ đối với nhà nước. Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể thực hiện chính sách khuyến khích phát triển. Tuy nhiên với thành phần kinh tế này phải có những biện pháp để cho quan hệ sản xuất thực hiện phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ. Vì như thế mới thực sự thúc đẩy sự phát triển của lực lượng lao động.

 

Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế tập trung ở hai lực lượng chính: lực lượng sản xuất của doanh nghiệp nhà nước (thường gọi là quốc doanh, thuộc thành phần kinh tế nhà nước); lực lượng sản xuất ngoài quốc doanh (thường gọi là dân doanh, thuộc kinh tế tư nhân).

 

Ông bà ta thường nói: muốn biết bơi phải nhảy xuống nước. Còn Lênin, trong tác phẩm Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụ của các Ban giáo dục chính trị, đã viết: “Hoặc là tất cả những thành tựu về mặt chính trị của chính quyền X ô viết sẽ tiêu tan, hoặc là phải làm cho những thành tựu ấy đứng vững trên một cơ sở kinh tế. Cơ sở này hiện nay chưa có. Đấy chính là công việc mà chúng ta cần bắt tay vào làm đúng theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

 

3/ Công nghiệp hoá vận dụng tuyệt vời quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.

 

Thuộc phạm trù của lực lượng sản xuất và vận động không ngoài biện chứng nội tại của phương thức sản xuất, vấn đề công nghiệp hoá gắn chặt với hiện đại hoá, trước hết phải được xem xét từ tư duy triết học. Trước khi đi vào công nghiệp hoá – hiện đại hoá và muốn thành công trên đất nước thì phải có tiềm lực về kinh tế con người, trong đó lực lượng lao động là một yếu tố quan trọng. Ngoài ra phải có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất đây mới là nhân tố cơ bản nhất.

 

Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá với tiềm năng lao động lớn cần cù, thông minh, sáng tạo và có kinh nghiệm lao động nhưng công cụ của chúng ta còn thô sơ. Nguy cơ tụt hậu của đất nước ngày càng được khắc phục. Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề của đất nước về công nghiệp hoá – hiện đại hoá trước hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợp quy luật gắn liền với một cơ cấu các thành phần kinh tế hợp qui luật, cũng như cơ cấu một xã hội hợp giai cấp. Cùng với thời cơ lớn, những thử thách ghê gớm phải vượt qua để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước vì dân giàu nước mạnh công bằng văn minhhãy còn phía trước mà nội dung cơ bản trong việc thực hiện là phải nhận thức đúng đắn về qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiện nay của nước ta.

 

KẾT LUẬN

 

Đảng ta đã vận dụng sự phù hợp của mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay và tương lai.

 

Trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định là: “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, văn minh”.

 

Chúng ta đều biết rằng từ trước tới nay công nghiệp hoá hiện đại hoá là khuynh hướng tất yếu của tất cả các nước. Đối với nước ta, từ một nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nước phát triển thì tất yếu cũng phải đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá như là: “Một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ’’.

 

Trước những năm tiến hành công cuộc đổi mới chúng ta đã xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của các thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Song về mặt nhận thức chúng ta đã đặt công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở vị trí gần như đối lập hoàn toàn với công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa. Trong lựa chọn bước đi đã có lúc chúng ta thiên về phát triển công nghiệp nặng, coi đó là giải pháp xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội, và không coi trọng đúng mức việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Công nghiệp hoá cũng được hiểu một cách đơn giản là quá trìng xây dựng một nền sản xuất được khí hoá trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.

 

Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghiệp với việc tranh thủ các cơ hội đi tắt, đón đầu, hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới. Mặt khác chúng ta phải chú trọng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo thị trường, có sự điều tiết của nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Đây là hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời , chúng luôn tác động thúc đẩy hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển . Bởi lẽ “Nếu công nghiệp hoá hiện đại hoá tạo lên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới , thì việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp”

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

Leave a Reply