kienthuc4share xin gửi tới các bạn tài liệu luật học – Tình huống môn bồi thường thiệt hại ngoài hợp kèm đáp án

CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN:
Nguyễn Tất Viễn – Vụ trưởng Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật
Phạm Thị Hòa – Phó Vụ trưởng Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật
BIÊN SOẠN:

Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật
2
LỜI GIỚI THIỆU

Bồi thường thiệt hại bao gồm bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi
thường thiệt hại về tinh thần được phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các quyền, lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh được những tranh
chấp xảy ra thì mọi cá nhân, tổ chức phải nắm vững và thực hiện đúng đắn nội
dung quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại. Vì vậy, việc nâng cao hiểu
biết pháp luật về lĩnh vực này là một vấn đề rất cần thiết.
Nhằm đáp ứng được yêu cầu đó, Vụ phổ biến, giáo dục pháp luật – Bộ Tư
pháp biên soạn cuốn sách: “Hỏi đáp pháp luật về bồi thường thiệt hại”. Cuốn
sách được trình bày dưới hình thức hỏi đáp với nội dung ngắn gọn, hấp dẫn, thể
hiện những nội dung cơ bản về pháp luật bồi thường thiệt hại.
Hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu pháp luật thiết thực đối với cán bộ tư
pháp, các hoà giải viên, tuyên truyền viên và người dân ở cơ sở.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc!
Hà Nội, tháng 8/2006
VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT –
BỘ TƯ PHÁP

3
PHẦN I
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ

Câu 1: Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng được pháp luật quy định như thế nào?
Xuất phát từ những quy định, những nguyên tắc của pháp luật nói chung
và luật dân sự nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có điều
kiện sau:
– Có thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm
phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức.
+ Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ làm phát sinh thiệt hại về vật chất
bao gồm chi phí cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất,
thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ.
+ Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí
hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút
do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.
+ Thiệt hại do bị tổn thất về tinh thần. Bộ luật Dân sự quy định: Toà án
có thể buộc người xâm hại “bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về
tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân thích gần gũi của nạn nhân”.
Những quy định này chỉ định hướng nhưng chưa có tính định lượng trong
việc bồi thường thiệt hại. Bởi vậy, Toà án là người phải xác định trong trường
hợp nào được bồi thường, bồi thường bao nhiêu, bồi thường cho ai
Ví dụ: Thiệt hại về tài sản, biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài
sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn
liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản. Đây là những thiệt hại
vật chất của người bị thiệt hại.
4
– Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật.
Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản là một
quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức. Mọi người đều phải tôn trọng
những quyền đó của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào
“xâm phạm” đến các quyền đó. Bởi vậy, Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2005
quy định về thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm. Việc “xâm phạm” mà gây
thiệt hại có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kể cả
những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm
các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dân cư
– Có lỗi của người gây thiệt hại.
Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Xét về
hình thức lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, lỗi được thể
hiện dưới dạng cố ý hay vô ý.
Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của
mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc
không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có
khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy
trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại
sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung. Con
người phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi, có khả năng nhận thức và làm chủ
được hành vi của mình. Bởi vậy, những người không có khả năng nhận thức
và làm chủ được hành vi của mình sẽ không có lỗi trong việc thực hiện các
hành vi đó.
Tuy nhiên, có trường hợp người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi
thường nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước
5
mắt và lâu dài của họ hoặc thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, thì không
phải bồi thường.
– Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.
Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành
vi trái pháp luật là nguyên tắc của thiệt hại xảy ra. Điều này được quy định tại
Điều 609 Bộ luật Dân sự dưới dạng: “Người nào xâm phạm mà gây thiệt
hại thì phải bồi thường”. Ở đây chúng ta có thể thấy hành vi đó.
Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp
luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn. Do đó cần phải
xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng,
khách quan và toàn diện. Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về
nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây thiệt hại.
Câu 2: Bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự được giải quyết
trên những nguyên tắc nào?
Trả lời:
Điều 605 Bộ luật Dân sự quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại như
sau:
– Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể
thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật
hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều
lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
– Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý
mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của
mình.
– Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt
hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
6
Câu 3: Năng lực bồi thường thiệt hại được pháp luật quy định như
thế nào?
Trả lời:
Người gây ra thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân,
cơ quan nhà nước Nhưng việc bồi thường thiệt hại phải do người khác có
“khả năng” bồi thường và chính họ phải tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, mặc
dù hành vi gây ra thiệt hại có thể không do chính họ thực hiện. Bộ luật Dân
sự quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
(Điều 606 Bộ luật Dân sự) mà không quy định về năng lực bồi thường của các
chủ thể khác. Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào
quan hệ dân sự, Bộ luật Dân sự quy định năng lực hành vi, tình trạng tài sản
và khả năng bồi thường của cá nhân cụ thể như sau:
– Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi đầy đủ phải tự bồi
thường;
– Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha,
mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ
không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng
thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại
Điều 621 Bộ luật dân sự.
Người từ 15 tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi
thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ
phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình;
– Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt
hại mà có người giám hộ thì người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng
tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hội
không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải
bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình
7
không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi
thường.
Câu 4. A làm nghề lái xe ôm. Một hôm, A cho B là người hàng xóm
mượn xe để về quê, từ quê lên, do uống rược say nên B đã lao xe vào gốc
cây bên đường khiến xe bị hư hỏng rất nặng. Xe hỏng khiến A không thể
chở khách được, thu nhập của A bị giảm sút. Vậy khi A có yêu cầu thì B
có phải bồi thường thiệt hại cho A không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 608 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì trong trường
hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:
– Tài sản bị mất;
– Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng;
– Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;
– Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Như vậy, đối chiếu theo quy định trên thì B phải bồi thường thiệt hại cho
A vì B mượn tài sản của A, gây hư hỏng làm ảnh hưởng đến việc khai thác lợi
ích từ tài sản đó của A, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của gia đình A. Mức bồi
thường thiệt hại do hai bên thoả thuận trên cơ sở chi phí sửa chữa chiếc xe.
Câu 5: Người gây thiệt hại cho người khác về sức khoẻ mà chưa đến
mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải bồi thường cho người bị thiệt
hại những chi phí gì?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì
người gây thiệt hại cho sức khoẻ của người khác phải bồi thường
thiệt hại cho người đó những chi phí sau:
– Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:
+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức
năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
8
+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu
nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì
áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc
người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao
động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí
hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
– Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo
quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh
thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các
bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi
tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Câu 6. Vừa qua, tôi có đọc một số bài báo viết về việc xét xử các vụ án
dân sự, trong đó báo có đề cập đến việc tòa án xác định thiệt hại do tính
mạng bị xâm hại.
Tôi xin hỏi, theo quy định của pháp luật thì thiệt hại do tính mạng bị
xâm hại được xác định như thế nào? Mức bồi thường thiệt hại là bao nhiêu?
Trả lời:
Việc xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm được quy định tại Điều
610 Bộ luật Dân sự năm 2005. Cụ thể là:
– Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt
hại trước khi chết;
+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp
dưỡng.
9
– Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại
theo quy định nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần
cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại,
nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi
dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền
này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu
không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu
do Nhà nước quy định.
Hiện nay, mức lương tối thiểu được quy định tại Nghị định số
118/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ về điều chỉnh mức lương tối
thiểu chung, theo đó từ ngày 01 tháng 10 năm 2005 mức lương tối thiểu chung là
350.000 đồng/tháng. Như vậy, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần nếu
các bên không thỏa thuận được là không quá 21.000.000 đồng (hai mốt triệu
đồng).
Câu 7. Vừa qua, tôi có dự phiên tòa xét xử lưu động tổ chức tại trụ sở
Uỷ ban nhân dân phường. Khi tuyên án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã
đọc bản án, trong đó có phần liên quan đến bồi thường thiệt hại của cá nhân
do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Tôi xin hỏi thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao
gồm những loại thiệt hại nào ? Mức bồi thường thiệt hại là bao nhiêu ?
Trả lời:
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm được quy định tại
Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2005 như sau.
– Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt
hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:
+ Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

10
+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
– Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi
thường thiệt hại theo quy định trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về
tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do
các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười
tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Câu 8. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị
xâm phạm được Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định như thế nào ?
Trả lời:
Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm
được quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể là:
– Trong trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì
người bị thiệt hại được hưởng bồi thường cho đến khi chết.
– Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này
có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng trong thời hạn
sau đây:
+ Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết
và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám
tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã
tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;
+ Người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng
tiền cấp dưỡng cho đến khi chết
.

11
Câu 9. Một người có hành vi chống trả người đang xâm phạm lợi ích
của nhà nước, lợi ích tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của
người khác mà gây thiệt hại được pháp luật hình sự và pháp luật dân sự
quy định như thế nào?
Trả lời:
Trong thực tế, có nhiều trường hợp một người, do phải chống trả một
người khác đang có hành vi xâm phạm lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể, bảo vệ
lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà gây thiệt hại cho người có
hành vi xâm hại. Đây là những trường hợp phòng vệ- tuỳ theo sự tương xứng
tính chất, mức độ của sự xâm hại với thiệt hại gây ra cho người có hành vi xâm
hịa để xác định là phòng vệ chính đáng hay phòng vệ vượt quá giới hạn chính
đáng.
Trong luật hình sự, phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi
ích của nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của
người khác mà chống trả lại một cách tương xứng người đang có hành vi xâm
phạm các lợi ích nói trên. Người có hành vi phòng vệ chính đáng không bị coi là
tội phạm. Chỉ khi hành vi chống trả rõ ràng là quá mức cần thiết thì người có
hành vi đó mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi chống trả rõ ràng quá
mức cần thiết là hành vi không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi xâm hại. Đây là trường hợp do đánh giá sai tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi xâm hại mà người phòng vệ đã lựa chọn phương tiện
hoặc phương pháp gây ra thiệt hại là quá mức cần thiết cho người xâm hại, trong
khi không cần thiết phải gây thiệt hại như vậy.
Trong luật dân sự, nguyên tắc bồi thường thiệt hại cũng được xác định
dựa trên yếu tố “phòng vệ chính đáng” hay “vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng”. Theo quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì người gây thiệt
hại trong trường hợp phòng vệ đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt

12
hại. Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi
thường cho người bị thiệt hại.
Câu 10. T do uống rượu say xỉn, không tự chủ được hành vi đã quậy
phá làm vỡ nhiều đồ đạc có giá trị của anh H. Khi T tỉnh rượu, anh H yêu
cầu T phải bồi thường. T không chịu vì cho rằng, do say chứ T không cố ý
phá phách, gây thiệt hại cho anh H. Xin hỏi, trong trường hợp này T có
phải bồi thường cho anh H không ?
Trả lời:
Mặc dù không cố ý nhưng hành vi của T quậy phá, gây ra thiệt hại cho anh
H là hành vi vi phạm pháp luật và T phải chịu trách nhiệm, phải bồi thường thiệt
hại cho anh H( người bị thiệt hại).
Việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp do dùng chất kích thích gây ra
được quy định tại Điều 615 Bộ Luật Dân sự năm 2005 như sau: Người do uống
rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng
nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, gây thiệt hại cho người khác thì
phải bồi thường.
Do vậy, T phải bồi thường thiệt hại cho anh H.
Câu 11. N và nhóm bạn của mình rủ nhau ra sông thi bơi, lặn đã vô ý
làm tấm lưới quây cá nhà bà T bị hở, do đó một số cá nhà bà T nuôi đã bơi
ra ngoài. Vậy Bộ luật dân sự quy định việc bồi thường thiệt hại trong
trường hợp này như thế nào?
Trả lời:
Điều 616 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: trong trường hợp nhiều
người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người
bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác
định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ
lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.

13
Như vậy, N và nhóm bạn của mình đều có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại cho bà T tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người. Nếu không xác định được
mức độ lỗi của mỗi người thì từng người phải bồi thường thiệt hại theo phần
bằng nhau.
Câu 12. Do ông B quên không đóng cửa vườn dưa nên con bò nhà anh
D đã vào vườn và làm hư hại một phần vườn dưa nhà ông B. Ông B yêu cầu
anh D phải bồi thường thiệt hại do con bò gây ra, nhưng anh D không đồng
ý vì cho rằng do lỗi của ông B không đóng cửa vườn. Trong trường hợp này,
việc bồi thường thiệt hại được xác định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 617 Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt
hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi thì khi người bị thiệt hại cũng có lỗi
trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại
tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của
người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.
Trong trường hợp trên, ông B tuy là người bị thiệt hại nhưng thiệt hại đó
một phần do lỗi của ông vì ông quên không đóng cửa vườn, nên ông phải chịu
một phần trách nhiệm đối với thiệt hại xảy ra. Còn anh D cũng có lỗi do đã
không trông coi bò để bò phá vườn dưa, anh cũng phải chịu trách nhiệm đối với
thiệt hại xảy ra và phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của
mình.
Câu 13. Trường hợp người của pháp nhân trong khi thực hiện nhiệm
vụ được pháp nhân giao gây thiệt hại cho người khác thì pháp nhân hay
người gây thiệt hại phải bồi thường ?

14
Trả lời:
Pháp nhân là một tổ chức được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt
chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài
sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Pháp
nhân có thể là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế
Theo quy định tại Điều 618 Bộ luật dân sự năm 2005, trường hợp người
của pháp nhân gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao
thì pháp nhân phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Nếu pháp nhân đã
bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại
phải hoàn trả cho mình một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Câu 14. Cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi
hành công vụ, gây thiệt hại cho người khác thì xử lý thế nào. Ai là người
phải bồi thường đối với các thiệt hại đã xảy ra.
Trả lời :
Điều 619 Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công
chức gây ra như sau :
Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán
bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ.
Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ,
công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ,
công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ .
Khoản 5, Điều 39 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 được sửa đổi, bổ
sung năm 2003 quy định:
Cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành nhiệm
vụ, công vụ gây thiệt hại cho người khác thì phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức
khoản tiền mà cơ quan, tổ chức đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy
định của pháp luật.

15
Căn cứ vào các quy định trên khi cán bộ, công chức có hành vi vi phạm
pháp luật trong khi thi hành công vụ, gây thiệt hại cho người khác thì cơ quan, tổ
chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức
của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Cán bộ, công chức có hành vi vi
phạm pháp luật trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ gây thiệt hại cho người
khác thì phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức khoản tiền mà cơ quan, tổ chức đã
bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Câu 15. Cơ quan điều tra huyện A đã ra quyết định khởi tố vụ án
hình sự và khởi tố bị can M về tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 Bộ luật
hình sự năm 1999 và ra lệnh tạm giam M để điều tra. Lệnh tạm giam đã
được Viện kiểm sát nhân dân huyện A phê chuẩn. Nhưng sau qua trình điều
tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện A ra quyết định huỷ bỏ lệnh tạm giam vì
M không thực hiện hành vi phạm tội. M có đơn yêu cầu bồi thường thiệt
hại. Hỏi trường hợp của M có được bồi thường thiệt hại không ? Nếu có thì
cơ quan nào có trách nhiệm bồi thường ?
Trả lời :
Điều 620 Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền
của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, quy định :
Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền
của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng.
Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã
gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người
có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ.
Điểm 1.2 mục 1 phần I Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT –
VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC ngày 25/3/2004 giữa Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Bộ Công an, Toà án nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ quốc
phòng, Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số
388/2003/NQ-UBTVQH11 thì trường hợp của anh M thuộc diện các trường hợp

16
được bồi thường thiệt hại. Anh M có quyền làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại
do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Điều 10 Nghị
quyết số 388/2003/NQ –UBTVQH, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại
quy định như sau :
– Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã ra quyết định
khởi tố bị can có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp có quyết
định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người bị khởi tố không thực hiện hành vi
phạm tội.
– Cơ quan đã ra lệnh tạm giữ, tạm giam có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại trong trường hợp việc tạm giữ bị huỷ bỏ vì người bị tạm giữ không có hành
vi vi phạm pháp luật hoặc việc tạm giam bị huỷ bỏ vì người bị tạm giam không
thực hiện hành vi phạm tội ; nếu việc tạm giữ, tạm giam có phê chuẩn của Viện
kiểm sát, thì Viện kiểm sát đã phê chuẩn phải bồi thường.
Như vậy, theo các quyết định nêu trên, thì cơ quan có trách nhiệm bồi
thường trong trường hợp này là Viện kiểm sát nhân dân huyện A, nơi có quyết
định phê chuẩn lệnh tạm giam của Trưởng công an huyện A.
Câu 16. Cháu tôi 9 tuổi được đi cắm trại tại công viên do nhà trường tổ
chức, do nghịch ngợm, cháu cùng một số bạn đã dẫm nát hai luống hoa, cây
cảnh mới trồng. Ban quản lý công viên yêu cầu nhà trường phải đền bù
thiệt hại. Nhà trường cho rằng bố, mẹ các cháu đã gây thiệt hại là người
phải bồi thường. Bố mẹ các cháu cho rằng vụ việc xảy ra trong thời gian
nhà trường quản lý nên trường có trách nhiệm bồi thường. Xin hỏi trong
trường hợp này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về ai?
Trả lời:
Điều 621 Bộ luật dân sự quy định về bồi thường thiệt hại do người dưới mười
lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học,
bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý như sau:

17
Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì
trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
Trong trường hợp quy định nêu trên, nếu trường học chứng minh được mình
không có lỗi trong quản lý thì cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm
tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.
Căn cứ quy định tại Điều 621 thì thiệt hại do các cháu gây ra trong thời
gian thuộc sự quản lý của nhà trường, do đó nhà trường có trách nhiệm bồi
thường đối với thiệt hại xảy ra.
Câu 17. Ông A, chủ nhà hàng ăn uống, tôi có thuê một người trông
giữ xe cho khách, do bất cẩn người đó đã làm mất một chiếc xe máy của
khách. Người khách bị mất xe đòi tôi bồi thường. Theo quy định của pháp
luật, ông A hay người trông giữ xe phải bồi thường?
Trả lời:
Điều 622 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định, cá nhân, pháp nhân và các
chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra
trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công,
người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo
quy định của pháp luật.
Như vậy, trong trường hợp này, trước hết, ông A có trách nhiệm bồi
thường cho người bị hại vì thiệt hại do người làm công gây ra trong khi thực hiện
công việc được giao. Sau đó, ông A có quyền yêu cầu người trông giữ xe hoàn
trả toàn bộ hay một phần tiền theo quy định của pháp luật.
Câu 18. Nguồn nguy hiểm cao độ là gì? Pháp luật quy định như thế
nào về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?
Trả lời:
Điều 623 Bộ luật dân sự quy định về nguồn nguy hiểm cao độ như sau:

18
– Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ
giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ,
chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác
do pháp luật quy định.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản,
trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định
của pháp luật.
– Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử
dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
– Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn
nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường
hợp sau đây:
+ Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
+ Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
– Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái
pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp
luật phải bồi thường thiệt hại.
– Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn
nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm
hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
Câu 19. Pháp luật quy định như thế nào về bồi thường thiệt hại do
làm ô nhiễm môi trường?
Trả lời:

19
Theo quy định tại Ðiều 624 Bộ luật dân sự, thì cá nhân, pháp nhân và các
chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy
định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có
lỗi.
Theo Điều 133 Luật bảo vệ môi trường, việc giải quyết bồi thường thiệt
hại về môi trường được quy định như sau:
– Tự thoả thuận của các bên;
– Yêu cầu Trọng tài giải quyết;
– Khởi kiện tại Toà án.
Việc tính toán chi phí thiệt hại về môi trường được quy định như sau:
– Tính toán chi phí thiệt hại trước mắt và lâu dài do sự suy giảm chức
năng, tính hữu ích của các thành phần môi trường;
– Tính toán chi phí xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường;
– Tính toán chi phí giảm thiểu hoặc triệt tiêu nguồn gây thiệt hại;
– Thăm dò ý kiến các đối tượng liên quan;
Tuỳ điều kiện cụ thể có thể áp dụng một trong những biện pháp quy định
kể trên để tính toán chi phí thiệt hại về môi trường, làm căn cứ để bồi thường và
giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường.
Câu 20: Nhà ông A và nhà ông B là hai nhà liền kề. Vườn xoài nhà
ông A có một số cành xoài trùm lên phần mái nhà của ông B gây vỡ nhiều
mảng ngói của nhà ông B. Vậy ông B có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt
hại hay không?
Trả lời:
Ông A có quyền sử dụng đất theo đúng mục đích sử dụng theo quy định
của pháp luật. Mảnh vườn đó thuộc quyền sử dụng của ông A. Vấn đề ông A

20
trồng cây gì là thuộc quyền của ông A, miễn là không phải cây mà pháp luật cấm
trồng, hoặc việc trồng đó ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, và có nguy cơ
phương hại đến các công trình liền kề. Trong trường hợp này, ông A phải dự liệu
tới việc tán lá phủ sang nhà liền kề, và do đó phải để ra một khoảng cách thích
hợp giữa cây mình trồng với nhà của ông B. Ở đây, ông A đã không làm điều đó,
mà để hậu quả xảy ra đối với nhà ông B. Vậy ông B có quyền yêu cầu đòi bồi
thường thiệt hại.
Theo quy định của Bộ luật dân sự cụ thể tại Điều 626 quy định, chủ sở
hữu phải bồi thường thiệt hại do cây cối đổ, gãy gây ra, trừ trường hợp thiệt hại
xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.
Câu 21: Pháp luật quy định như thế nào về bồi thường thiệt hại do
nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra?
Trả lời:
Điều 627 Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định, chủ sở hữu, người được chủ
sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dưng khác phải bồi thường
thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở
gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của
người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.
Câu 22. Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể được pháp luật quy
định như thế nào?
Trả lời:
Điều 628 Bộ luật dân sự quy định về bồi thường thiệt hại do xâm phạm
thi thể như sau:
– Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác xâm phạm thi thể phải bồi thường thiệt
hại.
– Thiệt hại do xâm phạm thi thể gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục
thiệt hại.

21
– Người xâm phạm thi thể phải bồi thường một khoản tiền theo quy định
nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người
thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết, nếu không có những
người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này.
Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không
thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà
nước quy định.
Ví dụ: Nguyễn Văn A phải bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Văn B về hành
vi xâm phạm thi thể, nhưng giữa A và B không thoả thuận được khoản tiền này.
Do vậy, Nguyễn Văn A phải bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Văn B theo quy
định của pháp luật. Cụ thể như sau:
Theo quy định hiện nay của pháp luật về tiền lương, thì mức lương tối
thiểu là 350.000đồng/ 1tháng x 30 tháng = 10.500.000đồng
Như vậy, Nguyễn Văn A phải bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Văn B là
10.500.000đồng.
Câu 23. Tôi có mua một chiếc máy bơm nước của Hàn Quốc tại một đại
lý gần nhà với thời hạn bảo hành là 24 tháng, gia đình tôi đưa vào sử dụng
được hai tháng thì máy bơm hỏng, theo địa chỉ ghi trên phiếu bảo hành, tôi
đem chiếc máy bơm nước ra trạm bảo hành của hãng, thì nhân viên của
hãng nói là tôi đã mua phải chiếc máy bơm giả của Trung Quốc và không
bảo hành cho tôi. Vậy xin hỏi theo quy định của pháp luật trong trường hợp
này tôi có được bồi thường không?
Trả lời:
Điều 630 của Bộ luật dân sự quy định về việc bồi thường thiệt hại do vi
phạm quyền lợi của người tiêu dùng như sau: cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác
sản xuất, kinh doanh không bảo đảm chất lượng hàng hoá mà gây thiệt hại cho
người tiêu dùng thì phải bồi thường.

22
Đối chiếu với các quy định của pháp luật, thì cửa hàng bán máy bơm nước
có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại vì đã đã có hành vi vi phạm trong hoạt
động kinh doanh không bảo đảm chất lượng hàng hoá gây thiệt hại cho người
tiêu dùng. Mức bồi thường sẽ do hai bên thoả thuận. Trong trường hợp không
thoả thuận được, người có yêu cầu được bồi thường thiệt hại có thể yêu cầu Toà
án giải quyết.
PHẦN II: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG

Câu 24. Anh Nguyễn Văn H được Doanh nghiệp A tuyển vào học nghề
may với cam kết làm việc cho doanh nghiệp này ít nhất là 3 năm sau khi
được đào tạo. Tuy nhiên, sau khi làm việc ở Doanh nghiệp A được 1 năm,
anh H đã xin nghỉ việc để chuyển sang làm việc cho doanh nghiệp khác. Do
đó, Doanh nghiệp A đã yêu cầu anh H bồi thường chi phí dạy nghề. Yêu cầu
của Doanh nghiệp A có phù hợp với quy định của pháp luật hay không?
Trả lời:
Trong trường hợp này, Doanh nghiệp A yêu cầu anh H bồi thường chi phí
dạy nghề là hoàn toàn có cơ sở pháp lý. Khi được tuyển vào học nghề, anh A đã
cam kết sẽ làm việc cho doanh nghiệp ít nhất là 3 năm. Sau 1 năm, anh A đã nghỉ
việc, như vậy đã không làm đúng cam kết.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 24 của Bộ luật Lao động thì người học
nghề sau khi học xong, nếu không làm việc theo cam kết thì phải bồi thường chi
phí dạy nghề.
Chi phí này bao gồm các khoản chi phí cho người dạy, tài liệu học tập,
trường lớp, máy móc thiết bị, vật liệu thực hành và các chi phí khác đã hỗ trợ,

23
tạo điều kiện cho người học. Mức bồi thường do doanh nghiệp được thoả thuận
trước và ghi rõ trong hợp đồng học nghề .
Câu 25. Người lao động không phải bồi thường chi phí dạy nghề cho
người sử dụng lao động trong những trường hợp nào?
Trả lời:
Theo quy định của khoản 4 Điều 24 Bộ luật Lao động và khoản 3, khoản
5 Điều 32 Nghị định số 02/NĐ-CP ngày 09/01/2001 của Chính phủ Quy định chi
tiết thi hành Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề thì người lao động
không phải bồi thường chi phí dạy nghề cho người sử dụng lao động trong
trường hợp hợp đồng học nghề chấm dứt trước thời hạn vì lý do bất khả kháng
sau đây:
– Người học nghề là nữ, trong quá trình thực hiện hợp đồng học nghề mà
có thai, nếu có giấy chứng nhận của y tế cấp huyện trở lên về việc thực hiện hợp
đồng học nghề sẽ bị ảnh hưởng xấu đến thai nhi, thì khi chấm dứt hợp đồng học
nghề không phải bồi thường phí dạy nghề, sau thời gian nghỉ thai sản, nếu có
nguyện vọng và đủ điều kiện, thì được tiếp tục theo học.
– Sau 3 tháng kể từ lúc kết thúc học nghề mà doanh nghiệp, hợp tác xã
không giao kết hợp đồng lao động với người học nghề, thì người đó có quyền
giao kết hợp đồng lao động với người khác và không phải bồi thường phí dạy
nghề.

Câu 26. Do sử dụng dây chuyền theo công nghệ mới trong sản xuất
nên phân xưởng nơi chị K làm việc dôi dư một số lao động, trong đó có chị
K. Chủ doanh nghiệp không thể sắp xếp chỗ làm mới cho chị K nên chị phải
nghỉ việc. Trong trường hợp này, chị K có được bồi thường thiệt hại hay
không?

24
Trả lời:
Nếu chị K đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng
trở lên thì trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi công nghệ sản xuất, chị K bị
mất việc làm và chủ doanh nghiệp không thể sắp xếp cho chị công việc mới thì
chị K được nhận trợ cấp mất việc làm.
Mức trợ cấp mất việc làm mà người sử dụng lao động phải trả cho người
lao động trong trường hợp này được tính như sau: cứ mỗi năm làm việc trả một
tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương (khoản 1 Điều 17 Bộ
luật Lao động).

Câu 27: Anh Nguyễn Văn A là công nhân làm việc cho một công ty
TNHH sản xuất đồ hộp H từ ngày 01/01/2002. Ngày 01/01/2005, do thay đổi
cơ cấu, tình hình sản xuất của công ty gặp nhiều khó khăn nên Công ty
không thể giải quyết việc làm mới cho anh A. Do vậy, Công ty cho anh A
thôi việc. Xin hỏi theo quy định của pháp luật, anh A sẽ được trợ cấp mất
việc làm là bao nhiêu? (mức lương của anh A trong 01 năm trước khi xảy ra
sự việc này là 700.000 đ/tháng).
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Lao động, mức trợ cấp mất việc
làm được xác định là: cứ 01 năm làm việc trả 01 tháng lương, nhưng thấp nhất
cũng bằng 02 tháng lương. Điều này có nghĩa là:
+ Nếu thời gian làm việc ≤ 02 năm, người lao động sẽ được trợ cấp một
khoản tiền là 02 tháng lương.
+ Nếu thời gian làm việc > 02 năm, số tiền mà người lao động sẽ được trợ
cấp là: cứ 01 năm làm việc trả 01 tháng lương.
Theo khoản 3 Điều 12 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 14/4/2003 quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về việc làm (sau đây
gọilà Nghị định số 39/2003/NĐ-CP) quy định, thời gian làm việc để được hưởng

25
trợ cấp mất việc làm là từ đủ 01 năm (12 tháng) trở lên, nếu có tháng lẻ được
tính như sau:
– Dưới 01 tháng: không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm.
– Từ 01 tháng đến dưới 06 tháng: tính bằng 06 tháng làm việc để hưởng trợ
cấp mất việc làm bằng 1/2 tháng lương.
– Từ đủ 06 tháng trở lên: tính bằng 01 năm làm việc để hưởng trợ cấp mất
việc làm bằng 01 tháng lương.
Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương theo hợp đồng
lao động, được tính bình quân 06 tháng liền kề trước khi sự việc xảy ra, gồm:
tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có) (Điều 12
NĐ 39/2003/NĐ-CP, Điều 15 NĐ114/2002/NĐ-CP).
Như vậy, trong trường hợp trên, anh Nguyễn Văn A đã làm việc ở công ty
được 03 năm (từ 01/01/2002 đến 01/01/2005), anh A sẽ được trợ cấp mất việc
làm là 03 tháng lương (tức là 3 tháng x 700.000 đ/tháng = 2.100.000).
Câu 28. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động thì phải bồi thường thiệt hại cho người lao động như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 41 Bộ luật lao động quy định, người sử dụng lao động phải
bồi thường thiệt hại cho người lao động nếu người sử dụng lao động đã đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Khoản tiền bồi thường được xác định tương ứng với tiền lương và phụ cấp
lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với
ít nhất 02 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).
Tiền lương làm căn cứ tính bồi thường trong trường hợp này là tiền lương
theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 06 tháng liền kề trước khi sự
việc xảy ra, gồm: tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ
(nếu có) (Điều 15 NĐ114/2002/NĐ-CP).

Click để xem thêm các tài liệu Luật học của kienthuc4share nhé các bạn ^^

HaiChauBK

Leave a Reply