kienthuc4share xin gửi tới các bạn đề thi luật – Tổng hợp nhận đình và tình huống kèm đáp án môn Luật Ngân hàng

hần 1: Các câu nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý
1. Quỹ tín dụng nhân dân không được cung ứng dịch vụ thanh toán.
(sai- quỹ tín dụng nhân dân trung ương đc cung ứng dv thanh tóan- ự tìm cơ sở pl nhé)
2. Công ty cho thuê tài chính không được thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá.
(sai)
3. Ngân hàng NNVN bảo lãnh cho tổ chức vay vốn nước ngoài khi có chỉ định của Thủ
tướng Chính Phủ.
(sai- khi có quyết định cụ thể của ttg xem luật NHNN)
4. Ngân hàng không được cho vay vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng đối với một
khách hàng vay.
(sai- có trường hợp ngọai lệ- xem Luật các TCTD phần hạn mức cho vay)
5. Tổ chức tín dụng không được góp vốn vào một doanh nghiệp vượt quá 11% vốn điều
lệ của tổ chức tín dụng.
(Sai- ko đc vượt quá 11% vốn điều lệ của Dn nhận vốn góp- xem luật các TCTD)
Phần 2: Bài tập.
A là chủ của Doanh nghiệp tư nhân X. Đồng thời A cũng sở hữu 12% vốn điều lệ của
công ty cổ phần Y. A là thành viên ban giám sát của công ty tài chính Z( có vốn điều lệ là
500 tỉ đồng)
1. Doanh nghiệp tư nhân X muốn vay của công ty tài chính Z trên và dựa trên tài sản bảo
đảm của ông A là quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản. Hỏi liệu công ty tài Z có đồng ý
cho vay hay không? Vì sao?
(không đc vì ông A là thành viên ban kiểm sóat công ty tài chính Z thuộc đối tượng ko dc
vay vốn- xem Quy chế cho vay và luật các tctd)
1
2. Công ty Y muốn vay của công ty tài chính Z 30 tỉ. Tài sản đảm bảo là toàn bộ nhà
xưởng vào máy móc thiết bị dây chuyền sản xuất của công ty được định giá là 40 tỉ đồng.
Hỏi công ty tài chính Z có đồng ý cho vay không? Vì sao?
(ko đc cho vay- chỉ đc cho vay tối đa 5% của 500 tỉ tức là 25 tỉ – xem phần hạn mức cho
vay trong luật các TCTD để giải)
3. Do công ty Y vi phạm nghĩa vụ trả tiền vay dẫn đến nợ quá hạn nên công ty Z đã quyết
định xử lí tài sản bảo đảm. Khoản nợ của công ty Y là 35 tỉ. Sau khi xử lí tài sản thì được
30 tỉ, vẫn còn thiếu 5 tỉ. Vì vậy công ty Y đã thỏa thuận với A lấy 5 tỉ trong phần vốn góp
của mình tại công ty tài chính Z để trả hết còn nợ còn lại. Hỏi công ty Z có đồng ý
không? Vì sao?
Câu 1 Nhận định? giải thích (6đ)
a. Mọi tổ chức tín dụng đều được vay tái cấp vốn từ Ngân hàng nhà nước.
b. Hợp đồng tín dụng phải được công chứng, chứng thực mới có giá trị pháp lý.
c. Các giao dịch mua bán của người nước ngoài trên lãnh thổ VN được phép thanh toán
bằng ngoại tệ
d. Séc bảo chi thể hiện cam kết bảo lãnh của ngân hàng sẽ trả đủ số tiền trên tờ séc cho
người thụ hưởng.
e. Tín dụng ngân hàng là 1 hình thức của hoạt động cho vay.
f. Chỉ có thống đốc ngân hàng nhà nước mới có quyền đặt TCTD vào tình trạng kiểm
soát đặc biệt.
Câu 2:
Cty TNHH Thành Công do ông Thành làm giám đốc – đại diện theo pháp luật, được
thành lập và hoạt động theo đúng pháp luật hiện hành. Ngày 10/4/2K9, cty Thành công
2
có yêu cầu xin vay 2 tỹ đồng tại ngân hàng thương mại Nam Bắc; thời han vay: 6 tháng,
lãi: 1,1%/tháng, mục đích sử dụng: kinh doanh. yêu cầu:
a. Ông thành có được phép dùng ngôi thuộc sở hữu của mình được định giá 5 tỷ, thế chấp
để đảm bảo các khoản vay trên của cty Thành công ko? vì sao?
b. Giả sử đến 6/2k9, do cần vốn để sửa chữa nhà nên ông Thành muốn sử dụng ngôi nhà
trên để tiếp tục thế chấp ờ Ngân hàng Á đông để vay số tiền 1 tỷ. Căn cứ vào những quy
định pháp luật hiện hành, anh chị hãy hướng dẫn các thủ tục pháp lý cho ông Thành để
thực hiện nguyện vọng nói trên.
C. Giả sử, đến ngày 10/10/2k9 là thời điểm đáo hạn khoản nợ của cty Thành công đối với
ngân hàng Nam Bắc nhưng cty kinh doanh thua lỗ không trả được nợ, trong khi đó khoản
nợ của ông Thành chưa đến hạn, Ngân hàng Nam Bắc có được xử lý ngôi nhà là tài sản
thế chấp để thu nợ hay không? Tại sao?
Câu 1: Nhận định (6 điểm)
A. Cty tài chính không được mở tài khoản và cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách
hàng.
B. CHi nhánh ngân hàng Đầu tư và phát triểu tỉnh Bình Dương là một pháp nhân.
C. Bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng.
D. Người bị ký phát trong quan hệ thanh toán bằng séc là ngân hàng hoặc tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán.
E. Ngân hnàg nước ngoài chỉ được phép mở chi nhành mà không được phép thành lập
ngân hàng 100% vốn nước ngoài trên lãnh thổ VN.
F. Ngân hàng nhà nước VN là cơ quan quảng lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt
động ngân hàng.
3
Câu 2. 4 điểm
A) Phân tích nguyên tắc hạn chế rủi ro, khắc phục tổn thất trong hoạt động cấp tín dụng
của các tổ chức tín dụng.
B) Vì sao tổ chức tín dụng không được phép trực tiếp thực hiện hoạt đông kinh doanh bất
động sản.
Lý thuyết: các câu nhận định sau đây đúng hay sai? tại sao? (6 điểm)
1. Tổ chứ tín dụng đc dùng vốn tự có để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp.
2. Chủ tịch HĐQT của TCTD này không được tham gia điều hành TCTD khác.
3. TCTD đc coi lâm vào tình trạng phá sản nếu TCTD đó không thanh toán đc các khoản
nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu.
4. Thư tín dụng là cam kết bảo lãnh của ngân hàng mở thư tín dụng đối với bên bán.
5. Tái cấp vốn là hoạt động mua bán ngắn hạn giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ.
6. Tài sản bảo đảm bắt buộc phải thuộc sở hữu của người đi vay.
Phần 2
Bài tập (4 điểm)
Ngày 23/5/2009, ông Thạch kí hợp đồng tín dụng số 234/2009 với ngân hàng Nam Hải
vay 1 tỷ đồng trong thời hạn 6 tháng, lãi suất 1,2%/ tháng. phương thức trả nợ: vốn gốc
trả làm 2 lần vào cuối tháng thứ 3 và cuối tháng thứ 6. tiền lãi sẽ trả vào đầu mỗi tháng kể
từ tháng giải ngân đầu tiên.tuy nhiên do tình hình kinh doanh gặp khó khăn nên ông
Thạch đã vi phạm không trả lãi 3 tháng liên tiếp kể từ ngày giải ngân.
1. Anh chị hãy tư vấn cho ông Thạch cách giải quyết?
4
2. Sau khi có văn bản thông báo thu hồi nợ trước hạn, ngân hàng đã chấm dứt HĐTD và
yêu cầu ông Thạch phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Hỏi ngân hàng có thu hồi nợ trước hạn
đc k?
3. Ngân hàng quyết định làm đơn khởi kiện ông Thạch ra tòa.xác định tòa án có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp trong trường hợp này?
Lý thuyết(6 điểm)
1, Tín chấp là biện pháp bảo đảm không bằng tài sản.
2,Tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn để huy
động vốn.
3,Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng có điều kiện.
4,Hợp đồng tín dụng phải được lập thành văn bản và có công chứng, chứng thực mới có
hiệu lực pháp luật.
5,Mọi tổ chức tín dụng đều được thực hiện hoạt động bao thanh toán.
6:Tổ chức tín dụng chỉ cho vay trên cơ sở nhu cầu vốn vay của khách hàng và vốn tự có
của tổ chức tín dụng đó.
Bài tập (4 điểm)
1:Ngân hàng X huy động vốn từ các cổ đông để góp vốn vào dự án nhà ở Hùng
Vương.Nhận xét hành vi của ngân hàng.
2:Ngân hàng Y bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.Trong thời gian kiểm soát đặc
biệt, ông A là Giám đốc một chi nhánh của ngân hàng Y đã có hành vi chuyển nhượng cổ
phần của mình tại ngân hàng cho ông B.Ban kiểm soát đặc biệt đã ra quyết định đình chỉ
hoạt động nói trên và quyền điều hành của ông A.Nhận xét hành vi của Ban kiểm soát.
ĐỀ CƯƠNG MÔN LUẬT NGÂN HÀNG
Chương 1: NHNN VIỆT NAM
5
1/ Hiểu biết về các mô hình NHTW trên thế giới:
NHTW là một định chế tài chính giữ vai trò quản lý tiền tệ và hoạt động của hệ thống
ngân hang nhằm điều tiết lưu thong tiên tệ, góp phần ổn định và tăng trưởng nền kinh tế.
Mỗi quốc gia sẽ có mô hình NHTW riêng phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh
tế xã hội và thể chế chính trị của chính quốc gia đó. Trên thế giới hiện nay tồn tại hai mô
hình ngân hàng trung ương phổ biến, đó là NHTW trực thuộc CP và NHTW độc lập với
chính phủ.
– NHTW trực thuộc CP: là mô hình mà trong đó Ngân hàng trung ương nằm trong
chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về nhân sự, về tài chính và
đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách
tiền tệ. Điển hình là Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
– Chính Phủ quyết định các chính sách tiền tệ cũng như việc thực thi chúng. NHTW
là một cơ quan chuyên môn trong hệ thống các cơ quan của chính phủ về lĩnh vực
tài chính, sử dụng các công cụ tài chính để thực thi các chính sách do Chính phủ
đưa ra.
– Có hai dạng trực thuộc:
+ là một cơ quan ngang bộ và dưới quyền trực tiếp của người đứng đầu chính phủ
là Thủ tướng
+ dưới quyền của một cơ quan thuộc chính phủ như Bộ Tài chính.
– Mô hình này thể hiện quan điểm cho rằng các chính sách tiền tệ là một bộ phận
của chính sách kinh tế tài chính nên cần đặt dưới sự quản lý chung của CP.
– Ưu điểm: Chính sách tiền tệ được quản lý trong tổng hoà các chính sách kinh tế
khác giúp cho nền kinh tế phát triển ổn định và đảm bảo kế hoạch dài hạn của
quốc gia. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ và Ngân hàng chặt chẽ giúp cho chính
sách kinh tế vĩ mô được điều chỉnh và kiểm soát một cách hiệu quả.
Mô hình này phù hợp với các quốc gia có thị trường tài chính chưa phát triển cao
với khả năng dự báo và thống kê còn kém. Sự can thiệp của CP sẽ là sự hỗ trợ cho
các chủ thể khi thị trường tài chính biến động sâu sắc.
– Khuyết điểm: CP nhiều lúc đưa ra quyết định không phù hợp với thị trường vì bị
ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan, tác động của các chính sách khác hoặc do tiêu cực
trong chính trị. Do đó, một số chính sách không phù hợp với sự vận hành của thị
trường.
– Sự độc lập không cao.
– Cả chính sách tài khóa ( thu chi của Chính phủ do Bộ tài chính quản lí) và chính
sách tiền tệ ( do NHNN quản lí) đều chịu sự chi phối và điều chỉnh của Chính
Phủ.
– Thường thấy ở các quốc gia tập quyền cao như: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,
Indonesia, Việt Nam…
1.1 NHTW độc lập chính phủ: là mô hình trong đó Ngân hàng trung ương không chịu
sự quản lí của Chính phủ mà là của Quốc hội. quan hệ giữa Ngân hàng trung ương và
chính phủ là quan hệ hợp tác. Điển hình là Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ.
– Theo mô hình này, NHTW là một cơ quan trực thuộc Quốc hội và chỉ chịu trách
nhiệm trước Quốc Hội về tất cả những hoạt động của mình, Mặc dù độc lập nhưng
6
giữa NHTW và Chính phủ vẫn có mối quan hệ hợp tác với nhau, không chi phối
nhau. NHTW được quyết định tất cả các mục tiêu, chỉ tiêu hoạt động và việc thực
thi các chính sách tiền tệ của quốc gia.
– Mô hình này dựa trên quan điểm tiền tệ là nguồn hoạt động của quốc gia, cần
được quản lý độc lập . Tính chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực cao nhất đại
diên cho toàn dân là Quốc Hội thể hiện quyền lực của toàn dân trong việc quyết
định tất cả các vấn đề của quốc gia.
– Ưu điểm:
+ Do tính độc lập nên các chính sách tiền tệ chỉ tuân theo sự vận hành của thị
trường mà không chịu áp lực từ các thế lực chính trị và ý chí chủ quan của CP.
+ Tăng hiệu quả của mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, giảm thâm
hụt ngân sách và ổn định hệ thống tài chính.
+ Được giao quyền lựa chọn mục tiêu mà không chịu sự can thiệp, chủ đạo từ
chính phủ hay cơ quan liên quan khác.
+ Độc lập trong việc thực thi chính sách nên tăng tính chủ động và giảm độ trễ nãi
của chính sách tiền tệ.
+ có thể từ chối trong mục tiêu thâm hụt ngân sách.
+ Tự chủ về cơ chế tổ chức và cơ chế tài chính, nhân sự.
+ Có trách nhiệm giải trình đầy đủ và minh bạch.
– Nhược điểm:
+ Mô hình này chỉ phù hợp với các quốc gia có thị trường tài chính phát triển cao
với trình độ thống kê và dự báo thị trường tốt. hoàn toàn tuân theo quy luật thị
trường đôi khi làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế chung của
quốc gia, các chủ thể có tiềm lực không cao dễ dẫn đến nguy cơ gục ngã trước sự
khắc nghiệt của thị trường.
+ Sự thực hiện hài hòa giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.
+ Thường thấy ở các quốc gia như: Hoa Kỳ, Anh, đức và Nhật bản…
3/ Chứng minh Ngân hàng trung ương là Ngân hàng của Ngân hàng? Phân tích vai
trò người cho vay cuối cùng của Ngân hàng trung ương? Liên hệ thực tiễn tại Việt
Nam?
Trả lời:
Ngân hàng Trung ương là “ngân hàng của các ngân hàng”, là ngân hàng độc quyền phát
hành tiền, là cơ sở quản lý của quốc gia về tiền tệ, hoạt động ngân hàng. Ngân hàng TW
có những chức năng vô cùng quan trọng trong việc điều hành sự ổn định của hoạt động
hệ thống ngân hàng nói riêng và cả nền kinh tế nói chung. Những chức năng của ngân
hàng TW bao gồm: phát hành tiền, là cơ quan thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, là
ngân hàng của chính phủ và đóng vai trò là “Ngân hàng của các ngân hàng – là người cho
vay cuối cùng. Xin đi phân tích chức năng “ngân hàng của các ngân hàng, đóng vai trò là
người cho vay cuối cùng”:
Chức năng ngân hàng của các ngân hàng của ngân hàng TW thể hiện rất rõ qua vai trò
là người cho vay cuối cùng (lender of last resort). Như chúng ta đã biệt, trong quá trình
hoạt động của mỗi ngân hàng đều có lúc khó khăn và không đủ khả năng thanh toán do
những yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau. Điều này vô cùng nguy hiểm nếu như
7
không giải quyết một cách nhanh chóng. Bởi hoạt động của hệ thống ngân hàng luôn
tồn tại hiệu ứng Domino. Khi một ngân hàng khó khăn, hay sụp đổ có thể kéo theo 1
loạt các ngân hàng khác sụp đổ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc gia.
Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại bằng nhiều
phương pháp khác nhau:
+Tái chiết khấu: ngân hàng trung ương mua lại những phiếu nợ chưa đến hạn mà
ngân hàng thương mại đã chiết khấu cho khách hàng trước đấy, thông qua nghiệp vụ
này ngân hàng trung ương có thể giúp các ngân hàng thõa mãn được nhu cầu thanh
toán, đồng thời ngân hàng trung ương cũng thực hiện việc cung ứng tiền tệ cho nền
kinh tế theo yêu cầu của chính sách tiền tệ. Vì vậy trong nghiệp vụ tái chiết khấu, lãi
suất tái chiết khấu cũng là công cụ quan trọng hàng đầu để có thể tác động đến việc
mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng cho nền kinh tế. Nghĩa là, ngân hàng
trung ương không là người tác nghiệp, không phải là người rực tiếp cho vay đối với
nền kinh tế nhưng hoàn toàn có khả năng chi phối đến khối lượng tín dụng mà hệ
thống ngân hàng trong nước cung ứng cho nền kinh tế.
+Cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân hàng
thương mại.
+Cho vay bù đắp vốn trong thanh toán liên
ngân hàng.
Tuy nhiên, chức năng ngân hàng của các ngân hàng không chỉ dừng lại ở vai trò
người cho vay cuối cùng, ngân hàng TW còn là tổ chức chịu trách nhiệm trọng yếu trong
việc tổ chức hệ thống thanh toán quốc gia, là nơi mở tài khoản và thực hiện trung gian
thanh toán cho các ngân hàng trung gian. Ngân hàng trung ương còn nhận tiền gửi và
bảo quản tiền tệ cho các ngân hàng thương mại. Đặc biệt nó có thể là cơ quan chịu trách
nhiệm chính hoặc duy nhất hoặc phối hợp trong việc tổ chức giám sát, quản lý hoạt động
của các ngân hàng trung gian tuỳ theo luật mỗi nước.
Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam:
Dưới tình hình thực tế của Việt Nam, chức năng; nhiệm vụ;quyền hạn của NHNN
Việt Nam được quy định tại NĐ 96/2008/NĐ-CP. Theo quy định này, ngoài việc thực
hiện các nhiệm vụ quản lí nền kinh tế vĩ mô thì về hoạt động nghiệp vụ ngân hàng của
NHTW được quy định tại mục 14. Theo đó, NHTW thực hiện các nghiệp vụ sau đây:
a) Tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền; thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu
hồi, thay thế và tiêu hủy tiền;
b) Thực hiện tái cấp vốn để cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh toán
cho nền kinh tế;
c) Điều hành thị trường tiền tệ; thực hiện nghiệp vụ thị trường mở;
d) Tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân hàng; quản lý nhà nước đối với hoạt
động thanh toán; cung ứng dịch vụ thanh toán; tổ chức thực hiện chính sách khuyến
khích, mở rộng và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt sau khi được cấp có thẩm
quyền phê duyệt;
đ) Làm đại lý và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước;
8
e) Tổ chức hệ thống thông tin và cung ứng dịch vụ thông tin ngân hàng; quản lý
các tổ chức hoạt động thông tin tín dụng; phân tích xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Việt
Nam;
g) Thực hiện các nghiệp vụ khác của Ngân hàng Trung ương.
Mà đa phần đối tượng mà NHTW hướng đến chính là các NHTM, NHCS chính vì vậy,
ngay cả trong thực tiễn ở Việt Nam cũng cho thấy được vai trò của NHTW VN khá tương
đồng với các nước trên thế giới.
Chức năng của NHNN:
a. Phát hành tiền và điều tiết lưu thông là việc đưa tiền đã in vào lưu thông thông qua
nguyên tắc cân đối giữa cung và cầu; bảm đảo cân bằng giữa vàng, hàng hóa, trái
phiếu, ngoại tệ; tập trung thống nhất qua 4 kênh: cho vay đối với nên kinh tế tái
cấp vốn, cho vay chính phủ việc cho vay này dẽ bị lạm phát cho lượng tiền lưu
thông trên thị trường tang tuy nhiên về lâu dài nguồn vốn sẽ phát huy hiệu quả tích
cực, phát hành qua thị trường mở, phát hành tiền để tang dự trữ tiền tệ của-
NHTW tham gia thị trường ngoại hối với tư cách là người tổ chức và điều hành thị
trường.
b. NH của các NH ( như trên câu 5)
c. NH của CP
– NHNN là chủ ngân hàng của CP: thể hiện qua việc chính phủ ủy quyền cho bộ
tài chính or kho bạc ( tùy theo từng quốc gia) đứng tên và làm chủ tài khoản ở
ngân hàng trung ương gửi các khoản tiền thế, ngân sách và rút ra sử dung khi
có nhu cầu cần thiết. điều này càng thể hiện rõ nét khi CP rơi vào tình trạng
thâm hụt ngân sách lúc này NHTW sẽ cho vay về nguyên tắc có thể thế chấp
bằng các loại tài sản mà chính phủ. Trong trường hợp không thế chấp thì ngân
hàng có quyền từ chối. Nếu ngân hàng trung ương không từ chối được thì nó
đành phát hành tiền mặt ngoài dự kiến cho chính phủ làm cho tổng cung về
tiền tăng lên và nền kinh tế cũng sẽ biến động theo.
– Là ngân hàng của CP thông qua việc NHNN làm đại lý cho CP: ngân hàng
trung ương thay mặt chính phủ tổ chức thu thuế qua hệ thống ngân hàng của
nó, thay mặt chính phủ trong các thỏa thuận tài chính, viện trợ, vay mượn,
chuyển nhượng và thanh toán với nước ngoài. Mở tài khoản và giao dịch với
kho bạc nhà nước. Ngoài ra với tư cách này nó có thể phát hành trái phiếu, cổ
phiếu… trong và ngoài nước.
– Là cố vấn TC cho CP: do chính sách tiền tệ có ảnh hưởng nhất định đến nền
kinh tế QG do đó khi NHNN sẽ cố vấn cho CP giúp hài hòa các chính sách tiền
tệ trong điều tiết vĩ mô của CP, đại diện CP trong việc thương lượng đàm phán
và ký kết các ĐUQT trong lĩnh vực tiền tệ NH.Với vai trò này NHNN đã ảnh
hưởng 1 cách gián tiếp đến việc điều tiết chính sách tiền tệ của CP.
Câu 8/ ý nghĩa của sự xuất hiện thành viên độc lập? sự xuất hiện này có lợi và hại gì
đối với TCTD? Tham gia vào HĐQT THDL có lợi gì? Quyền và nghĩa vụ?
KN: Theo Tổ chức tài chính quốc tế (IFC) thành viên Hội đồng quản trị độc lập không
được công ty hoặc cá nhân liên quan tuyển dụng trong vòng 5 năm gần đây; không có
9
mối quan hệ với công ty tư vấn của công ty hoặc các bên liên quan; không có quan hệ với
khách hàng hoặc nhà cung cấp lớn của công ty hoặc các bên liên quan…
Như vậy có thể hiểu Thành viên độc lập trong HĐQT là người có khả năng đưa ra ý kiến
độc lập và khách quan tại mọi thời điểm, không chịu sự tác động chi phối đến các quyết
định hoặc xung đột lợi ích. Như vậy ý nghĩa của sự xuất hiện thành viên độc lập là:
– Cân bằng giữa lợi ích của đông lớn và cổ đông nhỏ bởi TV độc lập họ hoàn
toàn có ý kiến độc lập k bị ảnh hưởng bởi các cổ đông lớn trong HĐQT từ đó
tạo ra thế đối trọng với các cổ đông lớn, bảo vệ lợi ích chung cũng như của các
cổ dông nhỏ
– Do được bổ nhiệm là cổ động độc lập tức cá nhân đó phải được sự tin tưởng và
có một trình độ nhất định, họ sẽ khách quan trong việc lắng nghe để hóa giải
những bất đồng trong ban lãnh đạo công ty.
– Giúp nâng cao hiệu quả và minh bạch hơn, làm giảm nguy cơ lạm dụng quyền
hạn của những người quản lý công ty lợi ích giữa một bên là cổ đông với tư
cách người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều hành công ty
với tư cách người trực tiếp quản lý sử dụng vốn. Những người quản lý thường
không phải là cổ đông nắm giữ phần vốn góp đáng kể nhưng lại là người điều
hành mọi hoạt động của công ty và vì vậy có thể họ sẽ ưu tiên các quyền lợi cá
nhân, quyền lợi nhóm hơn là quyền lợi của các cổ đông.
Bất lợi
– khó khăn bởi đối với tổ chức tín dụng, việc tìm kiếm những người có đủ điều
kiện, tiêu chuẩn và kinh nghiệm để trở thành thành viên Hội đồng quản trị độc
lập là rất khó khăn đối với trình độ nhân lực ở VN hiện nay. TVĐL có thể
không phải là những người có am hiểu sâu sắc về TCTD lĩnh vực hoạt động .
Chính vì thiếu kiến thức chuyên sâu và sự am hiểu nên họ khó có thể đưa ra
những chất vấn thích đáng
– các thành viên HĐQT không là người trực tiếp điều hành hoạt động, lại không
có trong tay bộ máy điều hành nên đôi khi tiếng nói của họ thường trở thành
“không chính thống” và trở nên không mấy hiệu lực.
– không thể động lập theo đúng nghĩa đen của nó vì để được bổ nhiệm là TVĐL
họ phải được HĐQT bổ nhiệm thông qua tham vấn tín nhiệm từ các thành viên
điều hành do đó sẽ ảnh hưởng nhất định đến sự độc lập của TVĐL khi đưa ra
các vấn đề.
Giải pháp
– điều kiện trở thành thành viên HĐQT
– chức năng, nhiệm vụ quyền hạn như những quyết định nào thì cần có sự phê
duyệt đồng thuận của tất cả các thành viên HĐQT độc lập, chẳng hạn các giao
dịch vượt quá một ngưỡng giá trị nào đó,…
– chế độ xử lý khi vi phạm
– cơ chế bảo vệ quyền lợi của TV độc lập
– nhóm họp thường xuyên, không có sự tham gia của thành viên điều hành để
chia sẻ ý kiến và những mối lo ngại. Cần chỉ định một thành viên ID cao cấp
10
để lãnh đạo nhóm ID nhằm tăng cường việc chất vấn và kiểm soát kỹ lưỡng
công tác quản lý
Tham gia vào HĐQT TVĐL có lợi ích giống như những người lao động bình thường
được TCTD phát lương. Việc quy định quyền hạn và nghĩa vụ thường do từng TCTD quy
định trong hợp đồng với các thành viên độc lập trong đó 1 nghĩa vụ quan trọng nhất là
bảo mật thông tin- cam kết không được tiết lộ thông tin, không được xung đội lợi ích,
hoàn toàn mang tính độc lập
Liên hệ VN: vẫn còn xem nhẹ vị trí vai trò cua TVĐL chỉ bổ sung thành viên độc lập cho
đủ đội hình, tính độc lập không rõ nét hoặc vai trò rất mờ nhạt theo quy định của phap
luật. trên thế giới thành viên độc lập làm nhằm tăng cường sự minh bạch;
4/ Cấu trúc tổ chức của hệ thống Ngân hàng Việt Nam hiện nay?
Trả lời:
Hệ thống ngân hàng là một cấu phần đặc biệt của nền kinh tế với vai trò thể hiện ở cả 2
cấp độ vĩ mô và vi mô. Ở cấp độ vĩ mô, NHNN VN có vai trò ngân hàng trung ương –
điều hành kinh tế vĩ mô qua thực hiện chính sách tiền tệ và quản lí họat động tổng thể của
toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng. Ở cấp độ vi mô, các TCTD là các t/c kinh doanh
cung cấp dịch vụ và họat động sinh lời.
Ngày 16/6/2010 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng được
Quốc hội khóa XII chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011.
Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân
hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực
hiện chức năng Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín
dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước
nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm sự an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các
tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Chính phủ đã ban
hành Nghị định quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hiện nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện theo Nghị định số 96/2008/NĐ-CP
ngày 26/8/2008 của Chính phủ. Về cơ cấu tổ chức, theo Nghị định 96/2008/NĐ-CP,
Ngân hàng Nhà nước có 24 đơn vị trực thuộc, trong đó 19 đơn vị giúp Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng trung
ương, 5 đơn vị là tổ chức sự nghiệp.Cơ cấu tổ chức của NHNN bao gồm đứng đầu ngân
hàng NN là Thống đốc NHNN (hiện nay là Thống đốc Nguyễn Văn Bình), đến các phó
thống đốc và tiếp đến là : vụ cục NHTW, văn phòng đại diện NHNN tại tpHCM, các tổ
chức sự nghiệp và 63 chi nhánh NHNN tại các tỉnh, thành phố.
Tổ chức tín dụng là các doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt
động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm : ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng,
tổ chức tài chính vĩ mô và quỹ tín dụng nhân dân.
Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 , ở Việt Nam có các loại tổ chức tín dụng sau:
11
• Các tổ chức tín dụng nhà nước
• Các ngân hàng thương mại cổ phần
• Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài
• Ngân hàng hợp tác xã
• Quỹ tín dụng nhân dân
• Các ngân hàng liên doanh
• Các công ty tài chính
• Các công ty cho thuê tài chính
• Văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài
• Ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài.
NHTW=> NHTG:
Ngân hàng chính sách: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.
Ngân hàng thương mại:
+ NHTM Nhà nước: NHTM CP Ngoại thương Việt Na; NHTM CP Công thương Việt
Nam; NHTM CP đầu tư và phát triển VN; NH Nông nghiệp và phát triển nông thông
VN; NH phát triển nhà ĐB SCL.
+ NHTM Cổ phần: 34 NH ( Tính đến 31/12/2012) điển hình như: NHTM CP Sài Gòn
Thương Tín, NHTMCP Đông Á, NHTMCP Á Châu ACB, NHTMCP Sài Gòn công
thương…
+ NH Liên doanh: vid public bank, indovina bank limitted, việt thái vinasiam bank, việt
nga vietnam-russia joint venture bank
+ 100% vốn nước ngoài: 5 NH như HSBC, Standar chartered, Shinhan VietNam, ANZ,
Hong Leong.
+ CN NH Nước ngoài: 50 NH điển hình như: BIDC TPHCM, BIDC Hà Nội, ANZ ( úc)
+ VP Đại diện NH Nước ngoài: RHB ( Malaysia), Intesa Sanpaolo (Italia), JP Morgan
Chase Bank (Mỹ)
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân
hàng theo quy định. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao
gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc
một số hoạt động ngân hàng theo quy định, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân
và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi
ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng
phi ngân hàng khác.
Với sự phát triển kinh tế hiện này, tại VN tồn tại rất nhiều các tổ chức tín dụng duới
nhiều hình thức khác nhau. Tính đến tháng 12 / 2010 , ở VN có 5 ngân hàng thương mai
nhà nước, 1 ngân hàng chính sách , 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 5 ngân hàng liên
doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 17 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài
chính và rất nhiều các quỹ tín dụng. Qua những số liệu trên cho thấy sự phát triển của
ngành tin dụng tại VN rất mạnh mẽ, chủ yếu là sự phát triển của các ngân hàng thương
mại cổ phần.
12
Trong hệ thống các tổ chức tín dụng, có thể nói rằng Ngân hàng nhà nước đóng vài trò là
ngân hàng TW , là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, và ngân
hàng độc quyền phát hành tiền vào lưu thông.
Hệ thống các tổ chức tin dụng tại VN hiện nay đang chịu sự điều chỉnh của 2 luật : Luật
ngân hàng nhà nước 2010 và luật các tổ chức tín dụng 2010 . Sự ra đời của 2 luật này đã
phần nào khắc phục được những bất cập trong luật cũ và đáp ứng được nhu cầu phát triển
và hội nhập của nước ta.
5/ Tại sao Ngân hàng thương mại luôn bị đặt trong tình trạng kiểm soát chặt chẽ
nhất so với bất kì một tổ chức nào khác trong nền kinh tế?
Trả lời:
Ngân hàng thương mại luôn bị đặt trong tình trạng kiểm soát chặt chẽ nhất so với bất kì
một tổ chức nào khác trong nền kinh tế vì:
 Ngân hàng thương mại có những điểm khác biệt so với các đơn vị kinh tế khác trong
nền kinh tế, chính những điểm khác biệt này giúp cho NHTM thể hiện được vai trò
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Một số đặc điểm đó là:
– Thứ nhất, NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính-tiền tệ _ là một
lĩnh vực hết sức nhạy cảm, tác động trực tiếp đến mọi ngành nghề, mọi hoạt động,
mọi chủ thể trong nền kinh tế. Do đó, khi những lĩnh vực này có biến động xấu
hoặc bất thường thì hoạt động kinh doanh của NHTM sẽ gặp khó khăn, sẽ dẫn
đến những thiệt hại cho nền kinh tế. Hơn nữa, sản phẩm kinh doanh của NHTM là
các dịch vụ gắn liền với sự chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế. vì vậy, nếu thiếu
sự kiểm soát chặt chẽ của Cơ quan chức năng có thể dẫn đến chính sách tiền tệ
thiếu ổn định, nguy cơ xảy ra khủng hoảng tài chính là rất cao.
– Thứ hai, hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào niềm tin và mức độ tín
dụng của khách hàng đối với Ngân hàng. Điều nay, giúp cho NH dễ dàng huy
động vốn và sử dụng vốn vay từ công chúng nếu niềm tin và mức độ tín dụng của
khách hàng dành cho NH càng cao. Tuy nhiên, điều này cũng dễ dẫn đến nguy cơ,
NH hoạt động không hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của công chúng và
của cả một nền kinh tế.
– Thứ ba, hoạt động kinh doanh của NHTM có thể xuất hiện các rủi ro như rủi ro
về thanh khoản, rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro hệ thống vào bất cứ giai đoạn
nào của nền kinh tế.
– Thứ tư, hoạt động kinh doanh của các NHTM chịu ảnh hưởng dây chuyền với
nhau. Điều này dẫn đến, do tính hệ thống khi một NH mất khả năng thanh toán thì
sẽ tạo ra một tác động lan truyền đến các NHTM khác.
 Trong nền kinh tế thị trường, NHTM thực hiện 3 chức năng cơ bản: trung gian tài
chính, trung gian thanh toán và tạo tiền. đây là ba chức năng cơ bản mà kết quả hoạt
động của nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phồn thịnh hay suy yếu của một nền kinh tế,
chính vì vậy chúng cần phải được thực hiện một cách sao cho hiệu quả nhất,
 Cuối cùng là xuất phát từ vai trò của Ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế: điều
tiết nguồn vốn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho nền kinh tế, tạo điều
kiện thúc đẩy thị trường tài chính phát triển và góp phần thực thi chính sách tiền tệ
quốc gia.
13
Kết luận: từ những phân tích nêu trên, thiết nghĩ cần phải có một cơ chế giám sát
chặt chẽ đối với NHTM hơn bất kì một tổ chức nào trong nền kinh tế. Điều này,
nhằm hướng đến mục tiêu: bảo về lợi ích của khách hàng ( người gửi tiền và người
tiêu dùng), ổn định hệ thông tiền tệ, gia tăng hiệu quả và khả năng cạnh tranh cũng
như hướng đến một nền kinh tế phồn thịnh lâu dài.
7/ So sánh Sec thanh toán và ủy nhiệm chi? Giải thích tại sao Sec thanh toán sử
dụng hạn chế ở Việt Nam?
– Séc: là một mệnh lệnh thanh toán do người ký phát ra lệnh cho ngân hàng để trả
cho người được chỉ định trên tờ séc hoặc trả theo lệnh của người này hoặc trả cho
người cầm séc.
– Ủy nhiệm chi (UNC): là lệnh chi do chủ tài khoản lập (bên mua) theo mẫu in sẵn
của ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích một số tiền nhất
định từ tài khoản của mình để chi trả cho người thụ hưởng.
– GIỐNG NHAU:
• Séc và UNC là những phương tiện thanh toán.
• Đều thanh toán qua ngân hàng
• Thực hiện mệnh lệnh theo yêu cầu
• Thực hiện trên cơ sở ghi nợ cho khách hàng và ghi có cho người thụ hưởng.
• Mẫu giấy séc và UNC do ngân hàng cung cấp.
• Séc và UNC là mệnh lệnh do chủ tài khoản yêu cầu ngân hàng thực hiện.
• Tiết kiệm các chi phí lưu thông xã hội liên quan đến: in ấn, phát hành, kiểm
đếm và vận chuyển tiền mặt.
• Thuận tiện trong việc sử dụng, hạn chế sử dụng nhiều bằng tiền mặt.
• Tiện lợi, đơn giản, dễ mang theo.
– KHÁC NHAU:
SÉC Ủy Nhiệm Chi
– Bản chất
– Quy trình
– Thanh toán bằng tiền mặt hoặc
chuyển khoản.
– Không nhất thiết người thụ hưởng
phải có tài khoản mở tại ngân hàng.
– Chỉ thanh toán bằng chuyển khoản.
– Buộc người thụ hưởng phải có tài
khoản mở tại ngân hàng này.
– Tờ Séc được thanh toán thì không
chỉnh sửa.
– Đảm bảo có sự rõ ràng, nếu có sự
sai lệch sẽ không thanh toán.
– Tờ Ủy nhiệm chi có thể chỉnh sửa
theo mục đích của người ký phát.
– khi chỉnh sửa thì phải ký thêm một
chữ ký nữa để xác nhận.
Mệnh lệnh thanh toán Vô điều kiện
ra lệnh ngân hang thanh toán theo
nội dung của tờ Séc.
Phải ghi đầy đủ nội dung yêu cầu.
Nếu không đủ tiền thanh toán sẽ bị
phạt
Một yêu cầu của khách hàng đối với
ngân hàng.
Không nhất thiết ghi đầy đủ nội dung
thanh toán
Nếu không đủ tiền thanh toán thì không
phạt nhưng cũng không thanh toán cho
đến khi nạp thêm tài khoản.
Giao cho người thụ hưởng Chủ tài khoản trực tiếp nộp tiền vào NH
14
– Thời hạn
– Tính chuyển
nhượng
– Tiêu chí
Thanh toán đương nhiên 30 ngày sau
khi phát
Tự do chuyển nhượng
Phải mua tờ SEC, không ghi nội
dung thanh toán
và yêu cầu NH thanh toán.
Ngay trong ngày làm việc.
Không được chuyển nhượng.
NH chủ động phát hành, có ghi nội
dung thanh toán vì họ giao dịch trực
tiếp nên ghi để người thụ hưởng biết.
Ở Vn ta ko có thói quen dùng séc vì nhiều lí do: trong đó có 3 lý do chính sau:
Thứ nhất do dịch vụ ngân hàng mới phát triển ở VN mấy năm gần đây, nền tảng từ đầu
chưa có vì thế việc phổ biến thói quen này còn phải mất một thời gian dài.
Thứ hai là nếu dùng séc thì ta phải có nhiều dịch vụ thanh toán bằng séc, cần đầu tư trang
thiết bị.
Thứ ba là người VN ta ko có thói quen dùng tiền mặt – mua sắm trong siêu thị, việc các
chợ địa phương đã đáp ứng phần lớn nhu cầu mua bán, đi siêu thị mua sắm ko phải thói
quen thường ngày của các bà nội trợ. Việc dùng séc và thực hiện các giao dịch qua thẻ
nói chung chỉ thích hợp với một số bộ phận người dân, đó là những người có thể dễ tiếp
cận với các dịch vụ hiện đại, chủ yếu là ở thành phố, nơi có nhiều dịch vụ ngân
hàng chứ còn ở nông thôn thì điều này rất khó, mà dân ta đa số làm nông nghiệp. Và chỉ
khi việc mua sắm đều chủ yếu diễn ra ở những trung tâm mua sắm thì việc đầu tư máy
thanh toán bằng thẻ mới hiệu quả.
Chương 2: Địa vị pháp lý của TCTD
1/ Trình bày nội dung, điều kiện, mục đích áp dụng các công cụ của chính sách tiền
tệ?
 Trả lời:
Theo quy định tại Mục 1, Chương III của Luật NHNNVN thì Thống đốc NHNN
quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm tài
cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mờ và các
công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính Phủ.
TÊN
CÔNG
CỤ
NỘI DUNG ĐIỀU KIỆN MỤC ĐÍCH
Tái cấp
vốn
NHNN cấp tín dụng cho các TCTD.
Với 3 hình thức cho vay có đảm bảo
bằng cầm cố giấy tờ có giá; chiết khấu
giấy tờ có giá, các hình thức tái cấp
vốn khác.
Chỉ tái cấp vốn trong
trường hợp TCTD mất
khả năng thanh toán do
thiếu hụt vốn tạm thời.
Thời gian ngắn ( dưới
12 tháng)
Nhằm cung ứng
vốn ngắn hạn và
phương tiện thanh
toán cho các TCTD,
giải quyết được tình
trạng thiếu hụt vốn
tạm thời.
Lãi suất NHNN công bố lãi suất tái cấp vốn,
lãi suất cơ bản và các loại lãi suất
khác.
Có sự thay đổi trong
chính sách quản lí tiền
tệ quốc gia, các điều
Điều hành chính
sách tiền tệ, chống
cho vay nặng lãi.
15
NHNN quy định cơ chế điều hành lãi
suất áp dụng trong quan hệ giữa các
TCTD với nhau và với khách hàng và
với các quan hệ tín dụng khác.
kiện kinh tế chính trị xã
hội thay đổi.
Trong trường hợp thị
trường tiền tệ có những
diễn biến bất thường.
Tỷ giá hối
đoái
Tỷ giá hối đoái của đồng VN được
hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại
tệ trên thị trường nhưng có sự điều
tiết của nhà nước.
NHNN công bố tỉ giá hối đoái, quyết
định chế độ tỉ giá, cơ chế điều hành tỉ
giá…
Khi thị trường ngoại tệ
có những biến động
nhất định
ổn định thị trường
ngoại tế, hài hòa
chính sách tiền tệ
quốc gia.
Dự trữ bắt
buộc
NHNN quy định một số tiền cụ thể
mà các TCTD phải gửi tại NHNN.
Theo đó, NHNN quy định mức dự trữ
bắt buộc đối với từng loại hình TCTD
và từng loại tiện gửi tại TCTD.
Nhằm thực hiện
chính sách tiền tệ
quốc gia, đảm bảo
khả năng thanh toán
của các TCTD,
nhằm hạn chế rủi ro
trong các hoạt động
của TCTD, bảo vệ
quyền lợi khách
hàng.
Nghiệp vụ
thị trường
mở
Nhà nước thự hiện thông qua việc
mua bán giấy tờ có giá đối với TCTD.
Nhằm thực hiện
chính sách tiền tệ
quốc gia.
2/ Chứng minh hoạt động kinh doanh tiền tệ của TCTD là hoạt động kinh doanh có
điều kiện?
Theo quy định của pháp luật hiện hành, hoạt động kinh doanh tiền tệ của TCTD là hoạt
động kinh doanh có điều kiện vì khi một tổ chức muốn thực hiện hoạt động kinh doanh
này, phải đáp ứng đầy đủ một số điều kiện nhất định thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền
mới cấp giấy phép kinh doanh cho tổ chức đó.
Theo đó, các tổ chức muốn kinh doanh hoạt động tiền tệ phải đáp ứng đầy đủ bốn điều
kiện sau đây:
 Thứ nhất, điều kiện về vốn: vốn điều lệ tối thiểu phải bằng mức vốn pháp định.
Vốn pháp định là mức vốn do pháp luật quy định bắt buộc doanh nghiệp phải có khi
thành lập và trong suốt quá trình kinh doanh vốn sở hữu của doanh nghiệp không được
thấp hơn vốn pháp định. Vốn pháp định được đặt ra nhằm bảo vệ lợi ích của chủ nợ và
các khách hàng. Vốn pháp định được dùng để khắc phục những rủi ro tài chính và đảm
bảo sự an toàn cho khách hàng. Vốn pháp định là cần thiết đối với những chủ thể hoạt
động trong lĩnh vực tài chính như ngân hàng, công ty tài chính, công ty chứng khoán,
công ty quản lý quỹ vì những chủ thể này kinh doanh những khoản tài chính do khách
16
hàng gửi vào, tức là kinh doanh những tài sản không phải của mình. Điều 19 Luật các
TCTD quy định mức vốn pháp định đối với từng loại hình TCTD, chi nhánh NH nước
ngoài sẽ do Chính phủ. TCTD, chi nhánh NH nước ngoài phải duy trì giá trị thực của vốn
điều lệ hoặc vốn được cấp tối tiểu bằng mức vốn pháp định.
MỨC VỐN PHÁP ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
(Ban hành kèm theo Nghị định số 10/2011/NĐ-CP ngày 26 tháng 01 năm 2011 của
Chính phủ)
STT Loại hình tổ chức tín dụng
Mức vốn pháp định
áp dụng cho đến
năm 2011
I Ngân hàng
1 Ngân hàng thương mại
a Ngân hàng thương mại Nhà nước 3.000 tỷ đồng
b Ngân hàng thương mại cổ phần 3.000 tỷ đồng
c Ngân hàng liên doanh 3.000 tỷ đồng
d Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 3.000 tỷ đồng
đ Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài 15 triệu USD
2 Ngân hàng chính sách 5.000 tỷ đồng
3 Ngân hàng đầu tư 3.000 tỷ đồng
4 Ngân hàng phát triển 5.000 tỷ đồng
5 Ngân hàng hợp tác 3.000 tỷ đồng
6 Quỹ tín dụng nhân dân
a Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương 3.000 tỷ đồng
b Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 0,1 tỷ đồng
II Tổ chức tín dụng phi ngân hàng
1 Công ty tài chính 500 tỷ đồng
2 Công ty cho thuê tài chính 150 tỷ đồng

 Thứ hai, điều kiện về hình thức tổ chức hoạt động
Nếu như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế được tự do lựa chọn loại hình doanh
nghiệp như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh
nghiệp tư nhân theo quy định của Luật doanh nghiệp thì đối với các tổ chức tín dụng sự
lựa chọn này bị hạn chế, gần như là được ấn định sẵn chứ cũng không có sự lựa chọn.
Theo đó, Luật các TCTD 2010 quy định, đối với các NHTM trong nước chỉ được thành
lập, tổ chức dươi hình thức công ty cổ phần trừ NHTM Nhà nước; đối với NHTM nhà
nước thì chỉ được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty TNHH một thành viên do
Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ; đối với TCTD phi ngân hàng trong nước thì hình
thức được lựa chọn là công ty cổ phần, công ty TNHH; đối với TCTD liên doanh, 100%
vốn nước ngoài chỉ được thành lập dưới hình thức công ty TNHH, NH HTX, quỹ tín
dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã; tổ chức tài chính vi mô
chỉ được thành lập tổ chức dưới hình thức công ty TNHH.
 Thứ ba, điều kiện về nhân lực
17
Bất cứ trong một lĩnh vực kinh doanh nào, yếu tố con người là quan trọng nhất, là hạt
nhân quyết định thành bại trong kinh doanh. Trong lĩnh vực tài chính, tín dụng, ngân
hàng, thì yếu tố này càng quan trọng hơn nữa, bởi yêu cầu kiến thức, chuyên môn nghiệp
vụ và kinh nghiệm cao để đảm bảo thực hiện tốt và hiệu quả các hoạt động diễn ra. Ngoài
ra, kinh doanh tiền tệ còn đòi hỏi người kinh doanh phải có uy tín cao. Uy tín và khả
năng tài chính của người sáng lập ra TCTD có ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của TCTD
đó. Chính vì vậy, pháp luật quy định một số điều kiện về uy tín và năng lực tài chính của
thành viên sáng lập là cần thiết. Chủ sơ hữu cảu TCTD là Cty TNHH 1 TV, cổ đông sáng
lập, thành viên sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài
chính để góp vốn; cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là cá nhân có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ và có đủ khả năng tài chính để góp vốn (điểm b K1 Đ 20 Luật các TCTD)
Đối với, người quản lý, người điều hành, thành viên ban kiểm soát có đủ điều kiện, tiêu
chuẩn theo quy định tại Điều 50 Luật các TCTD. Đó là các điều kiện về đạo đức nghề
nghiệp, về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ tối thiểu của TCTD, về học vấn, bằng cấp, kinh
nghiệm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán, những ràng buộc về quan
hệ nhân thân, về nơi cư trú. Pháp luật đặt ra những điều kiện như vậy là do những người
này góp phần rất lớn đảm bảo bộ máy của TCTD hoạt động luôn trơn tru, hiệu quả, ngoài
ra hoạt động kinh doanh của TCTD phức tạp, chứa nhiều rủi ro, nên những người quản trị
điều hành, kiểm soát cần có chuyên môn cao.
 Thứ tư, điều kiện về cơ sở vật chất: để có thể kinh doanh pháp luật quy định
TCTD phải có các cơ sở vật chất đủ kiện theo quy định, cụ thể:
Cơ sở dữ liệu dự phòng: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải xây
dựng cơ sở dữ liệu dự phòng để bảo đảm hoạt động an toàn và liên tục. Việc xây dựng cơ
sở dữ liệu dự phòng của quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô và các tổ chức tín
dụng không nhận tiền gửi thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. (Đ 15 Luật
các TCTD)
Điều kiện về kho tiền và trụ sở: Để khai trương hoạt động, tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài được cấp Giấy phép phải có đủ các điều kiện sau đây: có kho tiền
đủ điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, có trụ sở đủ điều kiện bảo đảm an
toàn tài sản và phù hợp với yêu cầu hoạt động ngân hàng (Đ 26, Luật các TCTD)
Ngoài ra nếu TCTD có các hoạt động ngân hàng điện tử thì cần phải có các thiết bị điện
tử, máy tính phù hợp cũng như có các cơ chế biện pháp bảo đảm an toàn và bảo mật
trong hoạt động ngân hàng điện tử theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước để quản lý
rủi ro và quy định của pháp luật về giao dịch điện tử (Xem điều 97, 133 Luật các TCTD).
3/ So sánh quy trình thành lập và đăng kí kinh doanh của các TCTD với các DN
khác trong nền kinh tế? tại sao lại có sự khác nhau đó?
Tiêu chí DN theo Luật DN 2005 TCTD theo Luật TCTD
ĐK đăng kí
kinh doanh
– Khá dễ dàng, không mang tính
xin – cho mà là đăng kí hợp pháp
và đủ điều kiện theo quy định
pháp luật của các tổ chức, cá
nhân.
– Phải đáp ứng đầy đủ các điểu
kiện đặc biệt chặt chẽ hơn vì đây
là lĩnh vực nhạy chảm và rủi ro
cao.
Cơ quan có Sở Kế hoạch đầu tư NHNN theo quy định tại Điều 18
18
thẩm quyền Luật các tổ chức tín dụng.
Trình tự, thủ
tục
Đối với các doanh nghiệp kinh
doanh ngành nghề không cần điều
kiện thì các doanh nghiệp nộp đủ
hồ sơ đăng kí kinh doanh tại cơ
quan đăng kí kinh doanh có thẩm
quyền, cơ quan đăng kí kinh
doanh sẽ trả lời trong thời hạn 10
ngày, nếu đủ điều kiện sẽ cấp giấy
chứng nhận kinh doanh cho DN.
Đối với các doanh nghiệp kinh
doanh ngành nghề có điều kiện thì
cần phải được cơ quan có thẩm
quyền cấp phép kinh doanh. Lúc
này giấy phép kinh doanh đồng
thời là giấy chứng nhận đăng kí
kinh doanh.
Các doanh nghiệp muốn kinh
doanh tiền tệ, thành lập TCTD thì
phải nộp hồ sơ xin cấp giấy phép
lên cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cụ thể là NHNN theo trình
tự thủ tục do NHNN quy định.
Trong thời hạn 180 ngày hoặc 60
ngày ( đối với văn phòng đại diện)
NHNN sẽ xem xét hồ sơ và quyết
định Cấp giấy phép hay không cho
DN. Theo quy định tại Điều 22
Luật các TCTD.
Sau khi được Cấp giấy phép, các
tổ chức tín dụng tiến hành đăng kí
kinh doanh, đăng kí hoạt động.
Sau đó phải tiến hành công bố
thông tin, và phải thực hiện hoạt
động khai trương thì mới được tiến
hành hoạt động kinh doanh.
Có thể hiểu rằng, đây là hai chế độ
tách biệt, phải được cấp phép rồi
sau đó đăng kí kinh doanh chứ
giấy phép không đồng thời là giấy
chứng nhận đăng kí kinh doanh.
Thời gian giải
quyết
Theo quy định tại Điều 15 Luật
DN thì thời gian để cơ quan nhà
nước có thẩm quyền xem xét và
trả lời hồ sơ là 10 ngày.
Thơi hạn ngắn, nhanh chóng.
Theo quy định tại Điều 22 Luật
các TCTD. Trong thời hạn 180
ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ
hợp lệ, Ngân hàng Nhà nước cấp
Giấy phép hoặc từ chối cấp Giấy
phép cho tổ chức đề nghị cấp
phép.
Thời hạn được quy định lâu hơn.
Công bố thông
tin
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày
được cấp giấy chứng nhận đăng kí
kinh doanh, doanh nghiệp phải
đăng trên mạng thông tin doanh
nghiệp của cơ quan đăng kí kinh
doanh hoặc một trong các loại tờ
báo viết hoặc báo điện tử trong 3
số liên tiếp.
CBTT về nội dung giấy phép trên
phương tiện thông tin của NHNN
và trên một tờ báo viết hằng ngày
trong 3 số liên tiếp hoặc báo điện
tử của Việt Nam ít nhất 30 ngày
trước ngày dự kiến khai trương
hoạt động. (Theo quy định tại Điều
25 Luật các TCTD).
Điều kiện khai Theo quy định của Luật DN 2005 Theo quy định tại Điều 26
19
trương và hoạt
đông.
thì DN sau khi đăng kí kinh doanh
và được cấp giấy Chứng nhận
đăng kí kinh doanh thì có thể tiến
hành kinh doanh mà không cần
phải thực hiện khai trương .
Luật các tổ chức tín dụng, thì Tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, văn phòng đại
diện của tổ chức tín dụng nước
ngoài, tổ chức nước ngoài khác có
hoạt động ngân hàng được cấp
Giấy phép chỉ được tiến hành hoạt
động kể từ ngày khai trương hoạt
động.
Phải thực hiện hoạt động
khai trương trong vòng 12 tháng
kể từ ngày được cấp giấy phép
hoạt động.
Nhận xét: Từ những quy định về việc đăng kí kinh doanh và hoạt động của các Doanh
nghiệp theo Luật DN và của các TCTD theo Luật các TCTD ta có thể thấy có những sự
khác biệt nhất định. Nhìn chung, quy định để được thành lập doanh nghiệp theo LDN khá
dễ dàng và thủ tục đơn giản, thời gian ngắn và dễ tiến hành còn đối với các TCTD thì quy
định này khó khăn và đòi hỏi thủ tục phức tạp hơn, thời gian cũng lâu hơn. Điều này
được giải thích bởi sự nhạy cảm và đặc biệt hoạt động tín dụng của TCTD. Đây là hoạt
động kinh doanh tiền tệ, mang nhiều rủi ro và tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế, chính
vì vậy cần phải đáp ứng những điều kiện khó khăn, trình tự và thủ tục được kiểm soát
chặt chẽ để đảm bảo rằng khi được thành lập các TCTD này mang lại hiệu quả và hạn chế
rủi ro cho nhà đầu tư.
4/ Trình bày các biện pháp để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng?
5/ Vì sao trong TCTD cổ phần không có cổ phần ưu đãi hoàn lại? Tại sao lại có quy
định về HĐQT? Nhằm bản vệ ai?
Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu
cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi
hoàn lại (K1, Đ 83 LDN 2005). Loại cổ phần này dành cho cổ đông nắm giữ nó có được
một số ưu đãi hơn so vơi cổ đông phổ thông, tuy nhiên cũng đặt ra một số hạn chế (điều
này là phù hợp với nguyên tắc công bằng) như Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại
không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng
quản trị và Ban kiểm soát (K3, Đ 83 LDN 2005). Tính ưu đãi của loại cổ phần này thẻ
hiện ở chỗ, cổ đông nắm giữ CP ưu đãi hoàn lại có quyền bất cứ khi nào yêu cầu CTCP
mà cổ đông đó góp vốn hoàn lại số vốn đã góp. Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại cùng với các
loại cổ phiếu ưu đãi khác chính là một trong những công cụ hữu hiệu giúp CTCP huy
động vốn nhanh chóng và dễ dàng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của các nhà đầu tư. Điều
này tạo nên đặc trưng cho CTCP, đó là cơ cấu vốn và tài chính linh hoạt. TCTD TMCP
bản chất là CTCP, nhưng nhu cầu vốn của TCTD TMCP lớn hơn nhiều so với những
CTCP bình thường, vậy thì tại sao PL không cho phép TCTD TMCP phát hành CP ưu
đãi hoàn lại, cụ thể K2 Đ 5 Luật các TCTD quy định tổ chức tín dụng có thể có cổ phần
ưu đãi, cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây: cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi
biểu quyết. Pháp luật quy định như vậy là xuất phát từ Điều 19 Luật các TCTD quy định
20
TCTD, chi nhánh NH nước ngoài phải duy trì giá trị thực của vốn điều lệ hoặc vốn được
cấp tối tiểu bằng mức vốn pháp định. Trong khi mức vốn pháp định của các TCTD theo
quy định pháp luật thường rất lớn (thấp nhất là 0,1 tỷ đối với quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
và cao nhất 5000 tỷ đối với ngân hàng phát triển). Do đó, nếu cho phép TCTD TMCP
được phép phát hành cổ phần ưu đãi hoàn lại thì sẽ dẫn đến một số rủi ro.
Thứ nhất, vì quyền được hoàn lại bất cứ lúc nào theo yêu cầu hoặc đáp ứng các điều kiện
ghi trên cổ phiếu, cổ đông có quyền rút lại vốn đã góp, vì vậy mức vốn điều lệ của TCTD
đó sẽ giảm, chính sự sự thay đổi đó có thể dẫn tới sự bất ổn định trong cơ cấu vốn, và có
thể ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh của TCTDTMCP đó.
Thứ hai, nếu mức giảm trong cơ cấu vốn điều lệ dẫn tới giá trị thực của vốn điều lệ, nghĩa
là TCTDTMCP không đáp ứng được yêu cầu đặt ra tại Đ 19 Luật các TCTD, đồng nghĩa
TCTDTMCP này không còn đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Thật khó tưởng tượng nếu các cổ đông nắm giữ CP ưu đãi cùng yêu cầu TCTDTMCP
hoàn lại vốn góp (có chủ đích hoặc không có chủ đích), trong khi lại đối mặt với áp lực
trả tiền gửi do tới thời gian đáo hạn hoặc do yêu cầu của người gửi tiền thì liệu TCTMCP
đó có đủ năng lực tài chính để giải quyết. TCTD khi đó không chỉ đối mặt với việc không
đủ điều kiện tiếp tục kinh doanh, mà còn có nguy cơ bị phá sản. Khi một TCTD gặp khó
khăn trong hoạt động kinh doanh thì không chỉ ảnh hưởng đến TCTD đó là còn ảnh
hưởng đến toàn hệ thống TCTD trên thị trường và nền kinh tế nói chung. Một ngân hàng
sụp đổ có thể làm tê liệt cả hệ thống ngân hàng. Do đó, pháp luật không cho phép
TCTDTMCP được phép phát hành CP ưu đãi hoàn lại.
6/ Tại sao nói TCTD có quyền tự chủ kinh doanh nhưng bị hạn chế?
Trả lời:
Để làm rõ nhận định trên cần hiểu thế nào là quyền tự chủ trong kinh doanh. Hiểu theo
một khái niệm thông thường nhất, thì nội hàm của quyền tự chủ trong kinh doanh của
một chủ thể kinh doanh là chủ thể kinh doanh đó được tự do lựa chọn loại hình doanh
nghiệp, lựa chọn mặt hàng kinh doanh, chủ động về cơ cấu tổ chức, nhân sự, tự lựa chọn
cho mình hình thức đầu tư, hàng hóa và giá cả.
Theo đó, các tổ chức và cá nhân khác khi muốn kinh doanh các lĩnh vực mà nhà nước
không cấm thì có đầy đủ quyền tự do được kể trên, miễn là đáp ứng đủ các điều kiện quy
định trong Luật doanh nghiệp. Tuy nhiên, riêng đối với các tổ chức tín dụng trong lĩnh
vực tài chính thì khi muốn thành lập doanh nghiệp kinh doanh hoạt động tín dụng thì đòi
hỏi phải đáp ứng được rất nhiều điều kiện khắc khe, lúc này các tổ chức cá nhân muốn
thành lập tổ chức tín dụng cũng được tự do lựa chọn, nhưng phạm vi những sự lựa chọn
này rất hẹp, cụ thể như sau:
– Về loại hình doanh nghiệp: nếu như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế được tự do
lựa chọn loại hình doanh nghiệp như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật doanh nghiệp thì đối
với các tổ chức tín dụng sự lựa chọn này bị hạn chế, gần như là được ấn định sẵn chứ
cũng không có sự lựa chọn. Theo đó, Luật các TCTD 2010 quy định, đối với các NHTM
trong nước chỉ được thành lập, tổ chức dươi hình thức công ty cổ phần trừ NHTM Nhà
nước; đối với NHTM nhà nước thì chỉ được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty
TNHH một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ; đối với TCTD phi ngân
21
hàng trong nước thì hình thức được lựa chọn là công ty cổ phần, công ty TNHH; đối với
TCTD liên doanh, 100% vốn nước ngoài chỉ được thành lập dưới hình thức công ty
TNHH, NH HTX, quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác
xã; tổ chức tài chính vi mô chỉ được thành lập tổ chức dưới hình thức công ty TNHH.
– Cơ cấu tổ chức và nhân sự: các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế được tự do quyết
định về cơ cấu tổ chức, về nhân sự. TCTD cũng là một doanh ngiệp nên việc tổ chức,
quản lí điều hành của TCTD phải tuân thủ các quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, vì là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt nên cơ cấu tổ chức, quản lí và
điểu hành của TCTD có những điểm đặc thù, phải chịu sự giám sát của NHNN và tuân
thủ theo các quy định cụ thể của CP và NHNN. (ĐiỀu 32-35 Luật TCTD).
– Mặt hàng kinh doanh, hàng hóa và giá cả: Nếu như các doanh nghiệp khác được tự do lựa
chọn hàng hóa để kinh doanh (miễn là không phải hàng hóa bị cấm theo quy định của
pháp luật) và được tự do đưa ra giá cả cạnh tranh trên thị trường thì các TCTD không có
quyền lựa chọn này. TCTD là tổ chức kinh doanh tiền tệ, đây là loại hàng hóa đặc biệt,
nhạy cảm chính vì vậy các tổ chức không được tùy tiện đưa ra giá cả của loại hàng hóa
này, như không được tự do đưa ra mức lãi suất (giá cả của việc sử dụng tiền) và phải
tuân theo quy định của NHNN. Phù hợp với lãi suất do NHNN công bố.
– Lĩnh vực đầu tư: các TCTD bị hạn chế về sự tư do lựa chọn lĩnh vực đầu tư, ví dụ như
theo quy định tại Điều 132 Luật các TCTD 2010 thì các TCTD không được đầu tư kinh
doanh vào lĩnh vực bất động sản. Đây cũng là một điểu dễ hiểu, vì hoạt động kinh doanh
tiền tệ của NH là 1 lĩnh vực rất nhiều rủi ro và nhay cảm nếu như đầu tư thêm vào lĩnh
vực bất động sản nữa thì tăng thêm rủi ro và không linh hoạt được nguồn vốn đầu tư.
Trong khi đó, các doanh nghiệp khác thì được tự do và thoải mái hơn trong việc lựa
chọn lĩnh vực đầu tư.
– Lựa chọn khách hàng: nếu như các doanh nghiệp bình thường được quyền tự do lựa chọn
khách hàng của mình, bất kì ai mà họ muốn giao dịch thì đối với TCTD bị hạn chế thông
qua một số trường hợp mà pháp luật quy định hạn chế cấp tín dụng hoặc đối tượng
không được cấp tín dụng.
7/ Mối quan hệ hiệu lực giữa HĐ tín dụng và HĐ bảo đảm cho vay? [Hay nói cách
khác HĐ tín dụng và HĐ bảo đảm cho vay có phải là hợp đồng chính phụ hay
không? Vì sao?]
(Tham khảo bài viết Đặc điểm pháp lý và mối quan hệ hiệu lực giữa hợp đồng thế chấp
tài sản với hợp đồng tín dụng của TS Nguyễn Văn Tuyến)
HĐ tín dụng và HĐ bảo đảm cho vay có mối quan hệ độc lập tương đối về mặt hiệu lực,
không hoàn toàn là HĐ chính – phụ.
Trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006, nhà làm luật đã có sự thay đổi
quan niệm theo hướng thực tế hơn, không hoàn toàn coi mối quan hệ giữa hợp đồng tín
dụng và hợp đồng thế chấp là mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ. Cụ thể
là, Điều 15 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 quy định:
“1. Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng
đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có
nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả
thuận khác.
22
2. Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm,
trừ trường hợp có thoả thuận khác.
3. Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện
mà các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực
hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm
không chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
4. Giao dịch bảo đảm bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện không làm chấm
dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
5. Trong trường hợp giao dịch bảo đảm không chấm dứt theo quy định tại khoản 1 và
khoản 3 Điều này thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán
nghĩa vụ hoàn trả của bên có nghĩa vụ đối với mình.”
Theo quy định tại Điều 15 nói trên, nếu áp dụng cho hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng
thế chấp tài sản thì có thể hình dung mối tương quan về hiệu lực giữa hai hợp đồng này
(hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp) như sau:
Trường hợp thứ nhất, có hai khả năng xảy ra:
– Nếu hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp bị vô hiệu hoặc đã có hiệu lực nhưng
bị hủy bỏ bởi thỏa thuận của các bên hoặc bởi ý chí đơn phương của một bên nhưng chưa
được thực hiện thì hợp đồng thế chấp bị chấm dứt. Cần lưu ý rằng theo quy định của điều
luật nêu trên thì trong trường hợp này, hợp đồng thế chấp bị chấm dứt, nghĩa là đã có
hiệu lực rồi sau đó mới chấm dứt hiệu lực do không cần thiết duy trì hiệu lực của hợp
đồng thế chấp nữa, chứ không phải là hợp đồng thế chấp bị vô hiệu ngay từ khi ký kết.
– Nếu hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp bị vô hiệu hoặc đã có hiệu lực nhưng
bị hủy bỏ bởi thỏa thuận của các bên hoặc bởi ý chí đơn phương của một bên và đã được
thực hiện một phần hoặc toàn bộ thì hợp đồng thế chấp không bị đương nhiên chấm dứt,
trừ trường hợp các bên có thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thế chấp này vì thấy không cần
thiết phải tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa. Trong trường hợp này, nếu hợp đồng thế chấp
không bị chấm dứt trong khi tổ chức tín dụng đã giải ngân cho khách hàng thì bên nhận
thế chấp (tổ chức tín dụng) có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi số tiền đã giải ngân
cho khách hàng.
Trường hợp thứ hai, hợp đồng thế chấp bị vô hiệu hoặc bị hủy bỏ, chấm dứt đơn
phương sẽ không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng, trừ trường hợp các bên
tham gia hợp đồng tín dụng thỏa thuận hủy bỏ hay chấm dứt hợp đồng này.
Từ việc phân tích trên, có thể thấy: Xét trong mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với
hợp đồng bảo đảm tiền vay thì không thể coi hợp đồng tín dụng là hợp đồng chính và hợp
đồng bảo đảm tiền vay (trong đó có hợp đồng thế chấp tài sản) là hợp đồng phụ. Do đó,
cũng không có cơ sở để khẳng định rằng, bản chất mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng
với hợp đồng thế chấp là quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ, vì các lý do sau
đây:
Thứ nhất, về khía cạnh học thuật, tự thân mỗi hợp đồng này (tức hợp đồng tín dụng và
hợp đồng thế chấp) đều đã có đầy đủ các yếu tố để được coi là một hợp đồng thực thụ. Vì
thế, tự nó sẽ phát sinh hiệu lực nếu thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân
sự (theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005), chứ không cần phải phụ thuộc vào
hiệu lực của hợp đồng khác. Điều này có nghĩa, hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp
23
tài sản đều là những hợp đồng độc lập, không hề ảnh hưởng và chi phối đến hiệu lực của
nhau, cho dù mục đích của việc thiết lập hợp đồng thế chấp là nhằm đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng.
Từ lập luận như vậy, có thể kết luận rằng, nếu hợp đồng tín dụng bị vô hiệu hoặc bị chấm
dứt, hủy bỏ thì cũng không ảnh hưởng gì đến hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản.
Ngược lại, nếu hợp đồng thế chấp tài sản bị vô hiệu hoặc bị chấm dứt, hủy bỏ thì cũng
không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng tín dụng và khi đó, hợp đồng tín dụng
trở thành hợp đồng không có bảo đảm bằng tài sản.
Thứ hai, về khía cạnh pháp luật thực định, tại Điều 410 Bộ luật Dân sự 2005, tuy nhà làm
luật vẫn mô tả rõ bản chất pháp lý của mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ
nhưng đồng thời cũng khẳng định rằng, các quy định về mối quan hệ này không áp dụng
cho các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự, trong đó có biện pháp thế chấp tài sản. Có
thể thấy, nhà làm luật lựa chọn giải pháp này cho mối quan hệ giữa hợp đồng có nghĩa vụ
được bảo đảm với hợp đồng bảo đảm là khá hợp lý, vì nó giúp cho bên chủ nợ tránh được
những rủi ro về kinh tế trong trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu
mà bên chủ nợ (bên nhận bảo đảm) đã thực hiện hợp đồng này với người đối ước.
Hạn chế rủi ro nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD từ quy định
trong Luật các TCTD 2010
1. Quy định về các hạn chế bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD
Hoạt động của các TCTD tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, liên quan đến quyền lợi của công
chúng gửi tiền và sự ổn định, phát triển của nền kinh tế, việc bảo đảm an toàn trong
hoạt động của TCTD là rất quan trọng. Do đó, Luật các TCTD 2010 đã có nhiều quy
định mang tính hạn chế các rủi ro trên để bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD.
(1) Các đối tượng cấm không được cấp tín dụng (Điều 126 LCTCTD2010)
Nhóm đối tượng cấm đầu tiên phát sinh trên cơ sở hạn chế các quan hệ cấp tín dụng
nội bộ, cụ thể, không được cấp tín dụng cho thành viên Hội đồng quản trị, thành viên
Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và các chức danh tương đương.
Ngoài ra, không được cấp tín dụng đối với pháp nhân là cổ đông có người đại diện
phần vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát của TCTD,
pháp nhân là thành viên góp vốn, chủ sở hữu của tổ chức tín dụng. Vì:
– Những người này có quyền lực trong TCTD nên quy định này nhằm hạn chế xung
đột lợi ích, tránh tình trạng lạm dụng ảnh hưởng của những người này đến việc ra
quyết định cấp tín dụng của TCTD, có thể gây mất an toàn cho TCTD và hệ thống
các TCTD;
– Việc hạn chế cấp tín dụng đối với cổ đông lớn, cổ đông sáng lập của TCTD là
nhằm hạn chế việc các tập đoàn, tổng công ty lạm dụng việc thành lập TCTD để
huy động vốn và cho vay nội bộ – hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro, nhằm bảo
đảm an toàn cho TCTD và phù hợp với thông lệ chung trong hoạt động ngân hàng.
Nhóm đối tượng cấm thứ hai là người thân của một trong các đối tượng thuộc nhóm
trên bao gồm bố, mẹ, vợ, chồng, con, vì cũng dựa trên mục đích đảm bảo tính khách
quan, hạn chế sự thiên vị và lệ thuộc do mối quan hệ gia đình tác động đến các quyết
định cấp tín dụng này.
Lưu ý:
24
– Không áp dụng quy định trên đ/v Qũy tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi
mô vì mục tiêu của các tổ chức này là hỗ trợ các thành viên đồng thời cũng là
những người góp vốn để xây dựng và thành lập tổ chức. Do đó, quy định sẽ không
hợp lý nếu áp dụng trong trường hợp này, làm mất đi quyền lợi tất yếu của các đối
tường này;
– TCTD, Chi nhánh NH nước ngoài không được cấp tín dụng cho khách hàng trên
cơ sở bảo đảm của đối tượng trên; không được bảo đảm dưới bất kỳ hình thức nào
để TCTD khác cấp tín dụng cho đối tượng trên.
– TCTD không được cấp tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực KD
chứng khoán mà TCTD nắm quyền kiểm soát.
– TCTD không được cấp tín dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng cổ phiếu của chính
TCTD hoặc công ty con của TCTD.
– TCTD không được cho vay để góp vốn vào một TCTD khác trên cơ sở nhận tài
sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính TCTD nhận vốn góp.
(Các quy định “lưu ý” còn lại nói trên được đưa ra cũng trên nguyên tắc tránh
các rủi ro phát sinh từ mối quan hệ phụ thuộc giữa bên cấp tín dụng và bên được
cấp tín dụng)
(2) Hạn chế và giới hạn cấp tín dụng (Điều 127 và 128 Luật các TCTD 2010)
Thực tế cho thấy rủi ro của TCTD khi cấp tín dụng cho một khách hàng không phụ
thuộc vào nghiệp vụ tín dụng mà phụ thuộc vào rủi ro của đối tác liên quan. Do đó,
quy định này nhằm hạn chế sự tập trung rủi ro quá mức của TCTD vào một hoặc một
nhóm khách hàng, đưa ra giới hạn cấp tín dụng tổng thể đối với một khách hàng, chứ
không xác định hạn mức tín dụng cho một khách hàng theo từng loại nghiệp vụ tín
dụng như trước đây. Trên cơ sở đó, quy định Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với
một khách hàng hoặc một nhóm KH có giới hạn từ 15% – 25% vốn tự có đối với
NHTM, CN NH nước ngoài, QTDND, TC tài chính vi mô nhưng đạt mức 25% – 50%
vốn tự có đối với TCTD phi NH.
Từ đó hạn chế tối đa tốt nhất các rủi ro phát sinh từ hoạt động CẤP TÍN DỤNG
của TCTD
(3) Giới hạn góp vốn, mua cổ phần (Điều 129, 134, 135 LCTCTD 2010)
Luật các TCTD năm 2010 đã đưa ra các quy định cụ thể theo hướng thông lệ chung
được áp dụng đối với hoạt động ngân hàng là giới hạn phạm vi hoạt động của các
TCTD vào các hoạt động chính và những lĩnh vực hoạt động có liên quan trực tiếp
đến hoạt động chính bằng việc quy định cụ thể các giới hạn góp vốn, mua cổ phần của
TCTD.
Luật các TCTD năm 2010 hạn chế việc góp vốn, mua cổ phần chéo, góp vốn, mua cổ
phần ngược giữa TCTD, công ty con, công ty liên kết, công ty kiểm soát. Cụ thể, Luật
quy định công ty con, công ty liên kết của cùng một công ty kiểm soát không được
góp vốn, mua cổ phần của nhau; Công ty con, công ty liên kết của một TCTD không
được góp vốn, mua cổ phần của chính TCTD đó; TCTD đang là công ty con, công ty
liên kết của công ty kiểm soát không được góp vốn, mua cổ phần của công ty kiểm
soát đó và TCTD không được góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp, TCTD
khác là cổ đông, thành viên góp vốn của chính TCTD đó.
25

Click để xem thêm tổng hợp đề thi Luật tại kienthuc4share bạn nhé

HaiChauBK

27 COMMENTS

  1. hi bạn, ban có thể gửi cho mình file word duoc không? mình đang cần gấp vì mai phải thi môn này rồi. email của minh :vmquan2004@yahoo.com , cảm ơn bạn nhiều.

Leave a Reply