Anh trai đang chấp hành án tù có được kết hôn với ngành công an không ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi :

Cho hỏi là tôi có anh trai bị đi tù 2 năm vì tội cố ý gây thương tích và đang chấp hành án phạt tù. Nay tôi đang quen một anh làm bên công an chúng tôi tính đến chuyện hôn nhận nhưng không biết pháp luật có cho phép không ?

Câu trả lời :

Luật sư tư vấn:

Để có thể kết hôn với công an, trước hết bạn phải đáp ứng các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 luật hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 8. Điều kiện kết hôn

  1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

+ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

+ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

+ Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

+ Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

  1. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”

Các trường hợp cấm kết hôn gồm có:

+ Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

+ Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Ngoài ra,do công an là lực lượng vũ trang nhân dân, có trách nhiệm bảo vệ trật tự an toàn xã hội, an ninh tổ quốc nên có những quy định đặc thù riêng; nếu bạn muốn kết hôn với người đang phục vụ trong ngành công an nhân dân thì còn phải đáp ứng các điều kiện đặc thù của ngành công an, cụ thể là không thuộc một số trường hợp sau:

– Gia đình làm tay sai cho chế độ phong kiến, Nguy quân, Ngụy quyền;

– Bố mẹ hoặc bản thân có tiền án hoặc đang chấp hành án phạt tù;

– Gia đình hoặc bản thân theo Đạo thiên chúa, Cơ đốc, Tin lành…;

– Gia đình hoặc bản thân là người dân tộc Hoa;

– Bố mẹ hoặc bản thân là người nước ngoài (kể cả đã nhập tịch)

Ngoài ra có một số quy định khác nhưng tùy thuộc vào từng vị trí công việc cụ thể.

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn có anh trai hiện nay đang đi tù, nay muốn kết hôn với người trong ngành công an thì có thể hai bạn sẽ không tiến tới hôn nhân được, để biết rõ thông tin này bạn nên nhờ người yêu bạn hỏi rõ tại đơn vị nơi người yêu bạn đang công tác để được biết rõ hơn.

Nhờ anh chị giúp em về lĩnh vực lao động với?


Chị A làm việc cho công ty X từ tháng 1/5/2010 theo hợp đồng không xác định thời hạn (lương 5tr). Tháng 1/1/2016 công ty X xác nhập vô công ty XX . Do không bố trí đủ công việc cho nhân viên nên công ty cho thôi việc chị A và một số nhân viên khác … a. công ty cho thôi việc đúng hay sai ?tại sao ? b. Công ty thôi việc phải đúng thủ tục gì? c. Quyền lợi chị A phải giải quyết thế nào ? Công ty vẫn chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp cho chị A .

Sổ hộ khẩu có ảnh hưởng tới quyền sở hữu đất đai hay không?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi:

Xin chào. Cho tôi hỏi:

Hiện tại, để thực hiện thủ tục mua bán đất thì tất cả thành viên trong gia đình đã đủ tuổi thành niên phải cùng nhau ký vào hợp đồng mua bán vì đây là tài sản chung của hộ gia đình.

Tuy nhiên, khi ra làm việc tại UBND cấp xã thì họ lại căn cứ vào Sổ hộ khẩu để xác định thành viên cần ký tên.

Vậy trong trường hợp này UBND cấp xã làm như vậy có đúng hay không?


Trả lời: Tại Luật cư trú 2006 có quy định về sổ hộ khẩu như sau:

“Điều 24. Sổ hộ khẩu

1. Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân.”

Theo đó, sổ hộ khẩu có thể hiểu như là giấy tờ để xác định nơi thường trú của công dân.

Tại Khoản 16 và Khoản 29 Điều 3 Luật đất đai 2013 định nghĩa về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và hộ gia đình sử dụng đất như sau:

16. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

….

29. Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.”

Từ những quy định trên ta thấy rằng, việc có tên hay không có tên trong sổ hộ khẩu không ảnh hưởng đến quyền sở hữu đất đai của người sử dụng đất bởi quyền sở hữu của người sử dụng đất sẽ được ghi nhận tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chứ không phải ghi nhận tại sổ hộ khẩu. Vì vậy, việc UBND cấp xã căn cứ vào sổ hộ khẩu để xác định quyền sử dụng của các thành viên trong gia đình là không thực sự phù hợp.

Trên đây là nội dung trả lời về ảnh hưởng của sổ hộ khẩu đến quyền sở hữu đất đai. Bạn có thể tìm hiểu thêm thông tin về vấn đề này tại Luật đất đai 2013.

Sinh viên Luật liệu có cần chứng chỉ anh văn, tin học ?


       Hiện nay, ở một số thông tin tuyển dụng thường hay yêu cầu các ứng viên cần có bằng anh văn như TOEIC, IELTS,..hay bằng tin học MOS,….Tuy nhiên, những bằng cấp này liệu có thật sự cần thiết và quan trọng đối với người học Luật ?

       Nếu định hướng nghề nghiệp của ngành Luật theo con đường làm nhà nước như công tác ở Toà án, VKS, Thi hành án,..thì việc sử dụng ngoại ngữ hay tin học có thể không nhiều nên các thông tin tuyển dụng ở các cơ quan này thường ít khi đề cập đến các chứng chỉ ngoại ngữ. Tuy nhiên khi bạn xác định hướng làm việc ở các doanh nghiệp hay các văn phòng – công ty Luật có quan hệ với nước ngoài thì có một chứng chỉ ngoại ngữ hay một chứng chỉ tin học quốc tế giúp bạn ghi điểm với các nhà tuyển dụng và có một mức lương hậu hĩnh, tương xứng với năng lực của mình.

       Đơn giản vì nếu doanh nghiệp có hợp tác với đối tác nước ngoài thì các hợp đồng, văn bản cần phải có song ngữ, mà không phải công ty hay văn phòng luật nào cũng có 1 bộ phận dịch thuật riêng, thì việc của bạn ở phòng pháp chế hay bản thân là một chuyên viên pháp lý thì bạn phải hỗ trợ soạn thảo các hợp đồng văn bản đó cả ở tiếng Việt và tiếng Anh, như vậy sẽ đỡ mất thời gian và chi phí để doanh nghiệp mang ra nơi khác dịch thuật.

       Bản thân là một người học luật thì việc đàm phán hợp đồng nằm trong phạm vi hoạt động của bạn, trong trường hợp cần đàm phán các điều khoản với đối tác nước ngoài thì bạn cần có vốn ngoại ngữ “đủ dùng” để có thể đi đến kết quả tốt cho việc ký kết hợp đồng

       Doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, và họ lúc nào cũng muốn sử dụng một người đã được trang bị các kiến thức căn bản như tin học để có thể dễ dàng nắm bắt được công việc và làm việc hiệu quả, các nhà tuyển dụng không hề muốn tốn thời gian để đào tạo lại cho bạn những kiến thức căn bản mà đáng lẽ ra bạn đã phải biết từ lâu rồi.

       Tuy nhiên, nếu bạn không có những bằng cấp, chứng chỉ đó thì sao ?

       Câu trả lời là chẳng sao cả nếu bạn tự bồi dưỡng khả năng ngoại ngữ và tin học của bạn, tự tin thể hiện nó ở buổi phỏng vấn, nhà tuyển dụng họ không phải cần những tấm bằng đó để làm đẹp hồ sơ nhân viên của họ mà đơn giản chỉ vì họ muốn tiết kiệm thời gian sàng lọc các ứng viên, các chứng chỉ đó là minh chứng cho quá trình học tập của bạn và khi nhìn vào họ sẽ không phải tốn thời gian để test năng lực anh văn hay tin học của bạn thêm lần nữa.

       Vậy nên lời khuyên ở đây là mặc dù khả năng thực tế của bạn quan trọng hơn rất nhiều so với các loại bằng cấp, chứng chỉ, nhưng nhà tuyển dụng sẽ không thể biết được khả năng của bạn tới đâu nếu chưa tiếp xúc với bạn mà chỉ có thể xem trước các hồ sơ xin việc mà tiến hành sàng lọc, do đó các chứng chỉ đó có thể sẽ là bước đệm giúp bạn dễ dàng đi đến buổi phỏng vấn cùng nhà tuyển dụng. Nếu có thời gian và khả năng, bạn nên ôn luyện và “thủ” sẵn vài chứng chỉ có giá trị quốc tế để có thể thuận lợi trong quá trình xin việc và có mức thu nhập hài lòng.

Hậu quả pháp lý khi tự ý đăng ảnh của người khác


Tham khảo:

>>>Mua bán hoặc làm lộ thông tin khách hàng sẽ bị xử phạt ra sao?;

>>>Từ 01/7/2020, chê người khác mập, lùn, xấu, ế phải bồi thường tổn thất tinh thần đến 16 triệu;

Vừa qua,chắc hẳn các bạn cũng chưa nguôi bức xúc về hành động của ông Trần Chí Hiếu (tức Hiếu Orion) khi đăng tải trên story facebook cá nhân của mình về hình ảnh so sánh hai nữ tiếp viên hàng không của hai hãng bay tại Việt Nam, có đính kèm icon không phù hợp với văn hóa và mang tính miệt thị đối với hãng nói chung, mỗi nhân viên hàng không nói riêng (Tham khảo: Zing.vn)

Được biết việc đăng tải này của ông Hiếu Orion không được nữ tiếp viên đồng ý và tỏ vẻ khá bất ngờ khi ông đã đăng tải lên facebook với nội dung như vậy. Vậy liệu với hành động này của ông Hiếu Orion có đúng luật? và mức phạt đối với hành vi này có thể phải chịu theo quy định như thế nào? Mời các bạn cùng tham khảo bài viết sau:

Trường hợp 1: người vi phạm bị buộc gỡ bỏ hình ảnh, xin lỗi công khai và bồi thường thiệt hại (nếu có) theo Bộ luật dân sự 2015

Theo Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh thì khi sử dụng hình ảnh của người khác phải có sự đồng ý của người đó, nếu vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người đó (trừ khi hai bên có thỏa thuận khác). Tuy nhiên, có 2 trường hợp sau thì không cần phải xin phép:

–  Sử dụng hình ảnh vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

–  Sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

Ngoài hai trường hợp trên nếu người nào có hành vi vi phạm đối với hình ảnh của người khác, đăng tải lên mạng xã hội mà không có sự đồng ý của người đó người vi phạm bị buộc gỡ bỏ hình ảnh, xin lỗi công khai và bồi thường thiệt hại (nếu có) đối với hành vi vi phạm theo quy định (Căn cứ khoản 3 Điều 32 Bộ luật dân sự 2015) như sau:

“Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.”

Trường hợp 2: Người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính từ 10 triệu – 20 triệu đồng

Trong trường hợp này mà người sử dụng hình ảnh của người khác không có sự đồng ý của người đó và việc đăng tải lên trang mạng với mục đích làm ảnh hưởng đến hình ảnh của người đó thì người này có thể bị phạt hành chính lên đến 20 triệu đồng. Căn cứ tại điểm e và điểm g Khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định cụ thể như sau:

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

e) Thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân khác mà không được sự đồng ý hoặc sai mục đích theo quy định của pháp luật;

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;

….”

Trường hợp 3: người vi phạm có thể bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm, theo Bộ luật hình sự 2015

Trong trường hợp việc sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân để thu lợi bất chính hoặc với mục đích làm nhục, xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự, gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cá nhân thì căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 288 Bộ luật Hình sự 2015, về “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” quy định như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó;

…”

Ngoài ra, người vi phạm trong trường hợp này cũng có thể bị truy tố về “Tội làm nhục người khác” theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 theo quy định như sau:

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

….”

Vậy nên, trước khi đưa thông tin của người khác lên mạng xã hội bạn nên xin phép ý kiến của người đó và nghĩ về hậu quả có thể xảy ra để tránh rủi ro cho bản thân cũng như quyền và lợi ích của người khác cũng được bảo vệ.

Tăng lương cơ sở: Không phải cán bộ, công chức có bị ảnh hưởng?


Mới đây Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết dự toán ngân sách nhà nước năm 2020, theo đó lương cơ sở tăng từ 1.490.000 lên 1.600.000 triệu đồng/ tháng (Xem TẠI ĐÂY). Theo đó, khi thay đổi lương cơ sở không chỉ ảnh hưởng đến cán bộ, công chức mà quyền lợi của một số đối tượng khác là người lao động thông thường, người bị ảnh hưởng đến quyền và lợi ích dân sự,… cũng thay đổi theo, cụ thể như sau:

Tăng lương cơ sở: Không phải cán bộ, công chức có bị ảnh hưởng

1. Tăng mức bồi thường thiệt hại Dân sự do sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm  bị xâm phạm, thiệt hại về mồ mả.

Xem chi tiết: TẠI ĐÂY

2. Tăng tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT các khoản trợ cấp, hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe

Xem chi tiết: TẠI ĐÂY

3. Tăng mức khen thưởng với Đảng viên:

Mức tặng thưởng kèm theo Huy hiệu Đảng

– Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng : tiền thưởng kèm theo bằng 1,5 lần mức tiền lương cơ sở.

– Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng : tiền thưởng kèm theo bằng 2,0 lần mức tiền lương cơ sở.

– Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng : tiền thưởng kèm theo bằng 3,0 lần mức tiền lương cơ sở.

– Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng : tiền thưởng kèm theo bằng 3,5 lần mức tiền lương cơ sở.

– Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng : tiền thưởng kèm theo bằng 5,0 lần mức tiền lương cơ sở.

– Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng : tiền thưởng kèm theo bằng 6,0 lần mức tiền lương cơ sở.

– Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng : tiền thưởng kèm theo bằng 8,0 lần mức tiền lương cơ sở.

– Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng : tiền thưởng kèm theo bằng 10,0 lần mức tiền lương cơ sở.

– Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng : tiền thưởng kèm theo bằng 15,0 lần mức tiền lương cơ sở.

Căn cứ: Hướng dẫn 56-HD/VPTW

Để Triết học không còn là nỗi ám ảnh của sinh viên


>>> Vì sao Dân Luật phải học Triết?

Triết học là nỗi ám ảnh của nhiều bạn sinh viên, ngay cả đối với những bạn là sinh viên Luật – là những người cần phải học tốt môn này là nền tảng lý luận để phục vụ cho các môn học Luật sau này.

Để Triết học không còn là nỗi ám ảnh của sinh viên

Vậy làm gì để không còn ám ảnh môn Triết học? Mình sẽ giúp các bạn làm chuyện đó!

Trước tiên, bạn phải hiểu thế nào là chủ nghĩa duy tâm, thế nào là chủ nghĩa duy vật.

Duy tâm là bạn coi trọng ý thức hơn vật chất, xem ý thức có vai trò quyết định vật chất, kiểu như chỉ cần có niềm tin là có thể sống được.

Còn duy vật là bạn coi trọng vật chất hơn ý thức, xem vật chất có vai trò quyết định vật chất, điển hình là câu nói “Có thực với vực được đạo”

Từ đó, có khái niệm “duy vật biện chứng”, đó là mọi sự vật tồn tại luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và nó có vai trò quyết định ý thức.

Phép biện chứng duy vật gồm 2 nguyên lý, 3 quy luật và 6 cặp phạm trù:

2 nguyên lý: mối liện hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:

Mọi sự vật, hiện tượng tồn tại luôn có mối quan hệ tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau, không có sự vật hiện tượng nào mà chỉ tồn tại một cách độc lập, tách rời nhau, từ đó, rút ra được bài học thực tế:

+ Muốn nhận xét đúng một sự việc hoặc sự vật, hiện tượng cần phải xem xét chúng ở các mặt, các phương diện và yếu tố để đánh giá chính xác, tránh quan điểm phiến diện, chỉ nhìn vào một sự việc mà đánh giá chung cho toàn bộ. Điển hình đó là câu chuyện “Thầy bói xem voi”

+ Đồng thời, cần phải đặt các sự việc hoặc sự vật, hiện tượng đó trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử khác nhau để đánh giá. Điển hình là khi đưa ra bản án cho một kẻ phạm tội trộm cắp cần phải xem xét rằng tiền sử của người đó đã từng phạm tội hay chưa, nếu chưa thì lý do gì mà người đó phạm tội, có thể vì lý do đang túng thiếu cần tiền chữa bệnh cho con để thực hiện hành vi chẳng hạn, từ đó mới xem xét giảm án thích hợp cho người này.

Nguyên lý về sự phát triển:

Mọi sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong trạng thái vận động và phát triển theo đường xoắn ốc, cái mới ra đời thay thế cái cũ, trên cơ sở cái cũ. Nhận thức được nguyên lý này, bạn phải hiểu rằng mọi thứ luôn cần phải có thời gian tích lũy, khi tích lũy đạt đến một mức độ nhất định thì đòi hỏi bạn phải bước tiến lên một bậc mới, tiến bộ hơn, phát triển hơn.

Từ đó cần phải tránh tâm lý ù lì, không chấp nhận sự phát triển như một quy luật tất yếu hoặc nôn nóng, chưa tích lũy đủ mà đã muốn tiến lên bậc mới.

3 quy luật: Quy luật lượng – chất, quy luật mâu thuẫn và quy luật phủ định của phủ định

Quy luật lượng – chất: Chỉ ra cách thức của sự vận động và phát triển

Lượng là cái thường xuyên biến đổi, còn chất là cái tương đối ổn định, lượng biến đổi đến một mức độ nhất định sẽ chuyển hóa thành chất mới thay thế chất cũ.

Trong quy luật này có dùng một số từ như “độ”, “bước nhảy”, “điểm nút”. Cụ thể: Độ là khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật, điểm nút là thời điểm mà tại đó, sự thay đổi về lượng đủ để làm thay đổi về chất của sự vật và bước nhảy là chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật.

Lấy một ví dụ cụ thể cho các bạn về quy luật này như sau:

Sinh viên tích lũy một lượng kiến thức đủ mới trở thành cử nhân. Trong đó: lượng là lượng kiến thức phải đạt được, chất là sinh viên. Độ là từ năm 1 đến năm 4, còn điểm nút chính là năm 1 và năm 4,  bước nhảy chính là từ sinh viên lên cử nhân. Lúc này, chất là cử nhân.

Rút ra bài học thực tế: Cần phải tích lũy đủ về lượng thì mới có thể thay đổi về chất, tránh tư tưởng nóng vội chưa tích lũy đủ về lượng đã muốn thay đổi về chất (chưa học xong đã muốn đi làm công việc mình đang học) hoặc bảo thủ, trì trệ khi đã tích lũy đủ về lượng nhưng lại không muốn thay đổi về chất (học xong rồi nhưng lại không muốn đi làm)

Quy luật mâu thuẫn: Chỉ ra nguồn gốc của sự vận động và phát triển

Trong mỗi sự vật, hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng những mặt, khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn bên trong bản thân sự vật, hiện tượng đó. Và sự thống nhất, đấu tranh giữa các mặt đối lập này là nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển, dẫn đến cái mới ra đời thay thế cái cũ.

Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển, nên cần phải phân tích, sự vật, hiện tượng để tìm ra những mâu thuẫn trong các mặt, khuynh hướng và mối liên hệ giữa chúng mà giải quyết, tránh việc điều hòa các mâu thuẫn đó.

Đơn cử là câu chuyện không biết thì phải học.

Quy luật phủ định của phủ định:

Cái mới ra đời thay thế cái cũ nhưng trên nền tảng kế thừa cái cũ. Cái mới này trong quá trình phát triển tiếp theo lại dần trở nên cũ, lỗi thời nên nó lại bị phủ định bởi một cái mới cao hơn. Cứ như thế mà thông qua số lần phủ định kế tiếp nhau mà sự vật, hiện tượng sẽ phát triển không ngừng theo đường xoắn ốc.

Điển hình là văn bản pháp luật mới ra đời luôn dựa trên nền tảng của văn bản pháp luật cũ, giữ lại những điểm hay của văn bản pháp luật cũ, đồng thời bãi bỏ những điểm chưa hay, chưa tốt để thay thế bằng điểm mới hay hơn, tốt hơn tại văn bản pháp luật mới.

Rút ra được bài học thực tế: Cái mới ra đời là tất yếu, cái mới thay thế cái cũ, nhưng dựa trên nền tảng cái cũ, tránh phủ định sạch trơn cái cũ hoặc là không đón nhận sự ra đời của cái mới.

6 cặp phạm trù: Cái riêng và cái chung; Nguyên nhân và kết quả; Tất nhiên và ngẫu nhiên; Nội dung và hình thức; Bản chất và hiện tượng; Khả năng và hiện thực

Cái riêng và cái chung: Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình.

Ví dụ: mỗi con người là một thực thể riêng biệt, phân tích kỹ bên trong mỗi con người đều có những điểm chung như đều có khối óc có thể điều khiển được hành vi của mình và trái tim cảm nhận được thế giới xung quanh.

Nguyên nhân và kết quả: Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, nguyên nhân như thế nào sẽ sinh ra kết quả như thế ấy.

Ví dụ: Gieo nhân nào thì gặt quả nấy.

Tất nhiên và ngẫu nhiên: Tất nhiên vạch ra đường đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên, tất nhiên quy định ngẫu nhiên, đồng thời, ngẫu nhiên bổ sung cho tất nhiên. Do vậy trong thực tế phải căn cứ vào cái tất nhiên, chứ không phải căn cứ vào cái ngẫu nhiên, nhưng cũng không được bỏ qua cái ngẫu nhiên, không tách rời cái tất nhiên ra khỏi cái ngẫu nhiên.

Ví dụ: Để đạt được kết quả tốt trong học tập thì chăm chỉ, siêng năng học tập là điều tất nhiên, nhưng nhưng đến ngày thi thì bị vấn đề về sức khỏe làm kết quả thi thấp là điều ngẫu nhiên.

Nội dung và hình thức: Nội dung và hình thức có mối liên hệ thống nhất, gắn bó chặt chẽ lẫn nhau. Không có nội dung nào mà lại không có hình thức, cũng không có một hình thức nào lại không chứa nội dung. Nội dung quyết định hình thức và hình thức cũng tác động trở lại đối với nội dung. Hình thức phù hợp sẽ thúc đẩy nội dung phát triển và ngược lại.

Ví dụ: Nội dung một quyển sách như thế nào thì mới quyết định phải làm trang bìa như thế nào, nếu như nội dung vui nhộn nhưng trang bìa có cách bố trí tiêu đề và màu bìa là gam màu buồn thì không thể tạo sự hứng khởi cho người đọc quyết định đọc quyển sách đó.

Bản chất và hiện tượng: Bản chất bao giờ cũng biểu hiện ra thành những hiện tượng nhất định, còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của một bản chất nhất định. Bản chất quyết định hiện tượng, bản chất như thế nào thì hiện tượng sẽ như thế ấy.

Ví dụ: bản chất của nước là chất lỏng được thể hiện bằng hiện tượng

Khả năng và hiện thực: Khả năng và hiện thực tồn tại thống nhất, không tách rời nhau và luôn chuyển hóa lẫn nhau; khả năng trong những điều kiện nhất định sẽ biến thành hiện thực. Vì thế mà trong thực nhận thức và thực tiễn cần dựa vào hiện thực và để khả năng biến thành hiện thực cần phát huy tối đa tính năng động chủ quan của con người trong nhận thức và thực tiễn.

Ví dụ: Trước mắt, là giấy, bút và thước kẻ là hiện thực thì khả năng có thể tạo ra hộp đựng quà.

Lý luận nhận thức duy vật biện chứng là nhận thức và thực tiễn

Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử và xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.

Thực tiễn bao gồm hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị xã hội và hoạt động khoa học, trong đó, hoạt động sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định, chi phối đối với các hoạt động còn lại. (Có tiền và tài sản rồi thì mới nghĩ đến chuyện đảm bảo ổn định an ninh xã hội và phát triển khoa học là tiền đề để tạo ra của cải, vật chất mới)

Nhận thức là quá trình phản án tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc của con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm tạo ra tri thức về thế giới khách quan đó. Nhận thức gồm nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác và biểu tượng) và nhận thức lý tính (khái niệm, phán đoán và suy lý)

Mối liên hệ giữa thực tiễn và nhận thức: Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức. Thực tiễn là cơ sở và mục đích của nhận thức. Đồng thời, qua hoạt động thực tiễn đem lại cho con người những tài liệu cho nhận thức, giúp nhận thức nắm bắt được bản chất, quy luật vận động của thế giới.

Ví dụ: Khi học các môn vật lý, hóa học, học sinh thường được tham gia các buổi thí nghiệm song song với các buổi học lý thuyết, các buổi thí nghiệm này chính là thực tiễn để kiểm tra lại đúng đắn của lý thuyết mình vừa học. Đồng thời, trước khi đưa ra các chân lý thì các nhà khoa học đã có quá trình nghiên cứu thực tiễn để đưa ra quy luật.

Hết phần chủ nghĩa duy vật biện chứng, giờ đến phần chủ nghĩa duy vật lịch sử

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất:

Lực lượng sản xuất là toàn bộ lực lượng được con người sử dụng trong quá trình sản xuất tạo ra của cải, vật chất, bao gồm: người lao động (thể lực, trí lực và sức lao động) và tư liệu sản xuất (tư liệu lao động và đối tượng lao động)

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, bao gồm quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức và quản lý, quan hệ phân phối. (ai nắm quyền sở hữu thì người đó cũng có quyền tổ chức, quản lý và phân phối)

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, cụ thể, trong quá trình sản xuất, lực lượng sản xuất không ngừng phát triển, đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời, cần phải đổi mới để phù hợp với lực lượng sản xuất mới. Quan hệ sản xuất cũng có tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất, nếu phù hợp nó sẽ là động lực để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, bằng không sẽ kiềm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Ví dụ: nguyên nhân tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa của các nước Đông Âu đó chính là không có sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, và ở nước ta cũng vậy, đã mắc phải sai lầm nóng vội, chủ quan duy ý chí, duy trì quá lâu quan hệ sản xuất bao cấp tập trung dân chủ, dẫn đến người lao động ỷ lại, trì trệ trong lao động sản xuất, không phát huy được sáng kiến mới thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Sau này, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, chúng ta mới dám nhìn thẳng nhìn đúng vào vấn đề để giải quyết tình trạng này, tuân thủ theo đúng quy luật.

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:

Cơ sở hạ tầng: là toàn bộ các quan hệ sản xuất tác động qua lại lẫn nhau tạo nên cơ cấu kinh tế của xã hội đó. Bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội trước và quan hệ sản xuất mầm mống, trong đó quan hệ sản xuất thống trị đóng vai trò quyết định, chi phối các quan hệ sản xuất còn lại.

Kiến trúc thượng tầng: là toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội (ý thức chính trị, pháp quyền, tôn giáo) cùng với các thiết chế chính trị xã hội (nhà nước, đảng phái, giáo hội) tương ứng được hình thành trên cơ sở kiến trúc thượng tầng nhất định.

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối liên hệ thống nhất với nhau, trong đó, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, song kiến trúc thượng tầng cũng tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng.

Ví dụ: Tầng lớp nào nắm giữ quyền lực về kinh tế thì cũng sẽ nắm giữ quyền lực về chính trị xã hội.

Tồn tại xã hội và ý thức xã hội:

Tồn tại xã hội: Toàn bộ đời sống vật chất của xã hội và những điều kiện sinh hoạt vật chất của nó, bao gồm: môi trường tự nhiên, điều kiện dân số.

Ý thức xã hội: toàn bộ những quan điểm, tư tưởng, tâm tư, tình cảm, tập tục truyền thống…của xã hội phản ánh lại tồn tại xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, bao gồm: ý thức xã hội thông thường, ý thức lý luận (tâm lý xã hội và hệ tư tưởng)

Tồn tại xã hội có trước, nó sinh ra và quyết định ý thức xã hội. Tồn tại xã hội như thế nào sẽ sinh ra ý thức xã hội như thế ấy, tức là người ta không thể tìm nguốc gốc tư tưởng trong đầu óc con người mà phải tìm nó trong chính tồn tại xã hội.

Ví dụ: Mình không thể tìm ra ý tưởng để viết bài này khi không có sự tồn tại những ám ảnh khi học môn này của các bạn sinh viên.

Các hình thái kinh tế xã hội

Lịch sử xã hội đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội, bao gồm:

– Hình thái kinh tế xã hội công xã nguyên thủy.

– Hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ.

– Hình thái kinh tế xã hội phong kiến

– Hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa tư bản

– Hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa xã hội

Mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau sẽ tương ứng với lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất khác nhau, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng khác nhau.

Như vậy, về cơ bản các bạn sinh viên chỉ cần nắm những nội dung cơ bản sau:

1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng

2. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Vật chất, ý thức, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa phương pháp luận

3. Phép biện chứng duy vật

2 nguyên lý: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển

3 quy luật: Quy luật lượng chất; quy luật mâu thuẫn và quy luật phủ định của phủ định.

6 cặp phạm trù: Cái riêng và cái chung; Nguyên nhân và kết quả; Tất nhiên và ngẫu nhiên; Nội dung và hình thức; Bản chất và hiện tượng; Khả năng và hiện thực

Lý luận nhận thức duy vật biện chứng

4. Chủ nghĩa duy vật lịch sử

– Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

– Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

– Tồn tại xã hội và ý thức xã hội

5. Các hình thái kinh tế xã hội

Chúc các bạn học tốt môn này nhé!

P/S: Học tốt chứ không phải học giỏi nhé, học tốt là hiểu được những gì mình học và vận dụng chúng vào thực tế cuộc sống, còn học giỏi là phải đạt kết quả tốt, 2 cái khác nhau.