Hành vi sử dụng trái phép bí mật kinh doanh

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Xác định bí mật kinh doanh

Theo quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi , bổ sung 2009) Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.

Bí mật kinh doanh theo định nghĩa tại khoản 10 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004 có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, các thông tin không phải là hiểu biết thông thường, có nghĩa là công chúng nói chung và các đối tượng có quan tâm không thể tiếp cận, tìm hiểu thông tin bằng các biện pháp, phương tiện thông thường.

Thứ hai, những khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng những thông tin đó. Giá trị kinh tế mà thông tin đem lại xuất phát từ yếu tố bí mật, không phổ biến của nó. Một khi thông tin được tiết lộ, ai cũng biết, giá trị thương mại của những thông tin và lợi thế cạnh tranh nó đem lại cho chủ sở hữu sẽ không còn.

Thứ ba, được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng gì có thể tiếp cận được. Đặc điểm cuối cùng sẽ phải đòi hỏi chủ sở hữu hay người nắm giữ bí mật kinh doanh hợp pháp (thông qua hợp đồng, ủy quyền) phải bảo mật thông tin bằng các biện pháp cần thiết, nhằm có thể ngăn cản công chúng và các đối tượng quan tâm tiếp cận, tìm hiểu, thu thập và phổ biến thông tin. Điều đó cũng có nghĩa là về chủ quan, bản thân chủ sở hữu cũng phải ý thức được những tính chất bí mật của thông tin. Nếu chủ sở hữu mà không có ý thức bảo mật, vô ý do cẩu thả hoặc chủ động cung cấp thông tin cho người khác, thì cho dù bí mật kinh doanh có giá trị thực sự, pháp luật cũng sẽ từ chối bảo hộ.

Hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh.

Quy định tại Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh:

– Tiếp cận,thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

– Bộc lộ hay sử dụng các thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;

– Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc,ép buộc,dụ dỗ,lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ phải bảo mật thông tin nhằm tiếp cận,thu thập hoặc làm bộc lộ bí mật kinh doanh;

– Tiếp cận,thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc là lưu hành các sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan có thẩm quyền;

– Sử dụng,bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết được bí mật kinh doanh đó do người khác thu được có liên quan đến một trong những hành vi quy định tại các điểm a,b,c và d Khoản 1, Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ.

– Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật quy định tại Điều 128 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh bao gồm chủ sở hữu bí mật kinh doanh,người được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng bí mật kinh doanh,người quản lý bí mật kinh doanh.

Trân trọng!

 

Hướng dẫn thủ tục lấy lại xe bị tạm giam

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


>>> 25 trường hợp vi phạm bị giam xe máy từ ngày 01/8/2016

Khi tham gia giao thông, nếu lỡ vi phạm và bị tạm giam phương tiện, nhiều người không biết phải làm như thế nào để có thể lấy lại xe bị tạm giam (tạm giữ)  này. Vì thế, sau đây mình sẽ hướng dẫn các bạn thủ tục lấy xe bị tạm giam:

Bước 1: Chuẩn bị giấy tờ

– Chứng minh nhân dân hoặc Thẻ căn cước công dân.

– Quyết định xử phạt, biên bản nộp phạt

– Giấy tờ có liên quan đến xe (Giấy phép lái xe, Giấy đăng ký xe…) (nếu có)

Lưu ý: Nếu bạn không đích thân đến nộp phạt thì bạn có thể ủy quyền cho người khác và trường hợp ủy quyền bạn phải lập văn bản ủy quyền có xác nhận của UBND cấp xã – nơi bạn đang tạm trú hoặc thường trú.

Bước 2: Sau khi chuẩn bị các loại giấy tờ nêu trên, bạn mang đến Kho bạc Nhà nước (nơi được chỉ định trong Quyết định xử phạt) để nộp phạt và các chi phí lưu kho, bến bãi và bảo quản tang vật.

Bước 3: Khi đã nộp tiền phạt và các chi phí liên quan, bạn đến nộp tại Phòng CSGT đường bộ, sau đó, bạn sẽ được lập biên bản trả lại phương tiện bị giam giữ và lấy lại xe.

Căn cứ pháp lý: Thông tư 47/2014/TT-BCA

Xử lý hóa đơn in sai chưa giao cho khách hàng và hóa đơn in sai bị mất

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Thắc mắc:

Hiện công ty em có 2 trường hợp xử lý hóa đơn nhờ anh chị tư vấn giúp ạ:

Trường hợp 1: Công ty đã xuất hóa đơn chi hoa hồng đại lý cho công ty bảo hiểm vào năm 2015, đến nay phát hiện ra hóa đơn không in mã số thuế khách hàng và hóa đơn chưa giao cho khách hàng.

Trường hợp 2: Công ty đã xuất hóa đơn chi hoa hồng đại lý cho công ty bảo hiểm vào năm 2016 và chưa giao liên hóa đơn cho khách nhưng liên đó đã bị mất, liên chính vẫn còn. Công ty có thể photo và đóng dấu sao y bản chính được không ạ.

Trân trọng cảm ơn.

 

Giải đáp:

TRƯỜNG HỢP 1:

Khi công ty đã xuất hóa đơn và chưa giao cho khách hàng thì sẽ Xử lý đối với hóa đơn đã lập theo quy định tại khoản 1, Điều 20 của Thông tư 39/2014/TT-BTC: Trường hợp lập hóa đơn chưa giao cho người mua, nếu phát hiện hóa đơn lập sai, người bán gạch chéo các liên và lưu giữ số hóa đơn lập sai.

TRƯỜNG HỢP 2:

Căn cứ theo Khoản 2 của Điều 24, Thông tư 39/2014/TT-BTC có nội dung quy định về xử lý trong trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn:

“2 .Trường hợp khi bán hàng hóa, dịch vụ người bán đã lập hóa đơn theo đúng quy định nhưng sau đó người bán hoặc người mua làm mất, cháy, hỏng liên 2 hóa đơn bản gốc đã lập thì người bán và người mua lập biên bản ghi nhận sự việc, trong biên bản ghi rõ liên 1 của hóa đơn người bán hàng khai, nộp thuế trong tháng nào, ký và ghi rõ họ tên của người đại diện theo pháp luật (hoặc người được ủy quyền), đóng dấu (nếu có) trên biên bản và người bán sao chụp liên 1 của hóa đơn, ký xác nhận của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu trên bản sao hóa đơn để giao cho người mua. (….)”.

Như vây, khi công ty đã xuất hóa đơn  và chưa giao cho khách nhưng đã bị mất mà liên chính vẫn còn thì người đại diện theo pháp luật đóng dấu và ký tên vào lập biên bản ghi nhận sự việc; sao chụp liên 1 của hóa đơn.

Cần lưu ý 04 điều này để tránh bị giả mạo chữ ký


Tham khảo>>>Học cách nhận dạng chữ ký giả mạo!

                  >>>Nhận diện chữ ký giả;


Ngày nay, việc giả mạo chữ kí của người khác để thực hiện các giao dịch tại ngân hàng, chiếm đoạt tài sản,… diễn ra rất phổ biến. Vì những khẽ hở trong chữ ký của bạn như: Chữ ký quá đơn giản, sử dụng ít đường nét, sử dụng các nét chữ cái quen thuộc,…đã làm cơ sở để các đối tượng giả mạo chữ ký của bạn và thực hiện hành vi sai trái.

Vậy, để hạn chế bị người khác giả mạo chữ ký, chúng ta cần làm gì? 

Thứ nhất: Đừng nên chọn cho mình một chữ ký quá đơn giản.

Nhiều bạn khi bắt đầu thành thạo với chữ viết, thường sẽ bắt chước và tạo cho mình một chữ ký. Những chữ ký này thường rất đơn giản vì lúc đó bạn chưa nghĩ đến hậu quả của việc sẽ có người giả chữ ký của mình;

Nên những ai còn giữ cho mình những chữ ký thời niên thiếu hay chữ ký chỉ bao gồm các đường nét chữ cái thông thường thì nên đổi chữ ký, để tránh bị giả mạo chữ ký sau này;

Nguyên tắc vàng ở đây là chữ ký có ít chữ cái thì kẻ xấu càng dễ mô phỏng, còn bạn sẽ càng khó chứng minh đã bị giả mạo.
 
Thứ hai: Cần phải cá nhân hóa chữ ký của mình.
 
Mẫu tự trong chữ ký không nên giống như mẫu tự trong sách tập viết của trẻ con cấp 1. Tốt nhất là ta nên đưa vào chữ ký một vài điểm nhấn cá nhân để tạo ra phong cách đặc trưng khó có thể bị làm giả.
 
Ví dụ: chữ “o” có thể được viết theo chiều ngược kim đồng hồ, chữ “I” có thể không có dấu chấm trên đầu
 
Thứ ba, một chữ ký càng có nhiều đường giao nhau và nhiều điểm chuyển ngoặt (sự thay đổi trong hướng bút) sẽ càng khó bị giả mạo.
 
Chữ ký thay vì dùng các kí tự thông thường như A, B,… thì bạn nên biến hóa chữ ký màu mè hơn, chữ A bạn có thể viết hoa kéo dài các đường nét tạo thêm điểm nhấn,… và khi có người bắt chước chữ ký của bạn có thể bị rối trong hướng đi của bút và khó để mô phỏng lại chữ ký của bạn.
 
Thứ tư, tốc độ ký tên cần nhanh, cử động ký tên cần lưu loát. 
 
Khi ký bạn cần có tốc độ ký nhanh, không nên viết quá chậm vì như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ giả mạo chữ ký. Cần ký theo một kiểu thống nhất nhưng không nên cố tạo ra những chữ ký giống nhau như một.
 
Vậy trên đây là những điểm lưu ý để các bạn hạn chế được việc bị giả mạo chữ ký, do đó, mong rằng khi đọc xong bài viết này mỗi bạn sẽ có cho mình một chữ ký thật ấn tượng và nếu ai có những cách thức khác thì mình cùng góp ý và cùng nhau lưu ý lại nhé!

CSGT xử phạt, ngân hàng giữ giấy đăng ký, người mua xe trả góp bị làm khó?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Việc CSGT kiểm ra, xử phạt các chủ phương tiện không có giấy đăng ký xe bản chính khi tham gia giao thông khiến nhiều tài xế lo lắng, bởi hiện có rất nhiều người khi vay tiền ngân hàng mua xe trả góp thì ngân hàng buộc thế chấp giấy đăng ký xe bản chính.

Rất nhiều vụ việc CSGT các địa phương xử lý vi phạm hành chính đối với người điều khiển ô tô sử dụng bản sao giấy đăng ký xe, do bản chính đã cầm cố (thế chấp) tại ngân hàng (NH) khiến tài xế lo lắng.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Hữu Dánh khẳng định: “Việc lực lượng CSGT các địa phương xử lý những trường hợp vi phạm mà sử dụng giấy đăng ký xe bản sao trong thời gian qua là hoàn toàn chính xác”.

Trong thực tế, các chủ phương tiện giao thông khi vay NH mua xe trả góp thì bên thế chấp không được NH giao lại bản chính giấy đăng ký xe mà chỉ được giao bản sao có xác nhận của NH, dẫn đến tình trạng người điều khiển phương tiện giao thông chỉ có thể xuất trình bản sao đăng ký xe có xác nhận của NH khi bị CSGT kiểm tra trường hợp vi phạm giao thông. Trong trường hợp này, người vi phạm sẽ bị lập biên vi phạm lỗi không có giấy đăng ký xe.

Theo quy định của luật Giao thông đường bộ, lái xe không mang đầy đủ các giấy tờ khi lưu thông sẽ bị phạt từ 80.000 – 120.000 đồng (đối với người điều khiển xe mô tô, gắn máy), phạt từ 200.000 – 400.000 đồng (đối với người điều khiển ô tô).

Ngân hàng lo rủi ro cao:

Phía các tổ chức tín dụng cho rằng, nếu không giữ giấy tờ xe bản gốc làm tài sản thế chấp thì sẽ gia tăng rủi ro, nợ xấu. Vì nếu bên thế chấp vẫn giữ đăng ký xe bản gốc thì khả năng một tài sản thế chấp nhiều nơi là dễ xảy ra. “Khoản vay mua xe có thể lên tới 70% giá trị xe. Nếu ngân hàng không giữ giấy tờ xe thì không khác nào cho vay tín chấp, khi khách hàng không trả được nợ hoặc cố tình chây ỳ sẽ rất khó xử lý”.

Khi ngân hàng được phép giữ Giấy đăng ký xe của khách hàng nhưng vẫn xảy ra rủi ro không đòi được nợ, có ngân hàng từng phải “treo thưởng” để tìm được chiếc xe mà chủ xe đã thế chấp Giấy đăng ký xe ở ngân hàng. Vì vậy, nếu ngân hàng cho vay mà không giữ giấy tờ thì rủi ro còn cao hơn nhiều.

Cùng chủ đề bàn luận, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng:

Theo Điều 9, Nghị định 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm quy định “bổ sung Điều 20a về Giữ giấy tờ về tài sản thế chấp” có quy định như sau: “Trong trường hợp tài sản thế chấp là tàu bay, tàu biển hoặc phương tiện giao thông quy định tại Điều 7a, nghị định này, thì bên thế chấp giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu tàu bay, Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam, Giấy đăng ký phương tiện giao thông trong thời hạn hợp đồng thế chấp có hiệu lực”.

Trước đó, ngày 24/5/2017, Ngân hàng Nhà nước cũng đã có Công văn 3851/NHNH-PC yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc quy định khi cho khách hàng vay thế chấp ô tô, xe gắn máy, thì khách hàng vẫn là người giữ giấy đăng ký xe.

Như vậy, về mặt quy định, ngân hàng sẽ không được giữ Giấy đăng ký phương tiện giao thông của khách hàng

 

Không dừng xe theo hiệu lệnh của cảnh sát giao thông có thể bị xử lý hình sự?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Tình trạng người dân chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh dừng xe, kiểm tra giấy tờ của cảnh sát giao thông ngày càng diễn ra nhiều. Vì nhiều nguyên nhân mà tình trạng này chưa có dấu hiệu giảm. Một trong những nguyên nhân đó là mọi người chưa nhận thức được mức độ nghiêm trọng của hành vi đó. Với hành vi này, người vi phạm có thể bị xử lý rất nặng, thậm chí là truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ theo Điều 257, một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.

Trong trường hợp người dân khi điều khiển phương tiện giao thông, nếu cảnh sát giao thông khi thấy có vi phạm Luật giao thông đường bộ, yêu cầu dừng xe, kiểm tra, lập biên bản thì chủ vị xử lý hành chính theo thủ tục hành chính. Tuy nhiên, nến người đó không dừng xe, có hành vi chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh thì trong nhiều trường hợp nghiêm trọng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ là vừa qua, tại Thành phố Biên Hòa,  tỉnh Đồng Nai xảy ra vụ việc một thiếu tá CSGT bám vào gương chiếu hậu bên trái xe tải yêu cầu dừng lại thì trượt ngã và bị bánh sau xe tải trên cán lên người tử vong tại chỗ. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã khởi tố tài xế xe tải về tội chống người thi hành công vụ.

Tuy nhiên, tùy vào từng hành vi, mức độ nghiêm trọng mà người vi phạm có thể  xét xử phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự. Đối với việc xử phạt hành chính thì theo quy định tại Điều 20, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ.

Nếu hành vi ở mức độ nghiêm trọng như vụ ở Thành phố Biên Hòa thì người đó mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì hành vi này đã đủ cấu thành tội phạm. Cụ thể theo Khoản 1 Điều 257 thì “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc  họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng  đến  ba năm”.

Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Đối tượng tác động của tội phạm này là người thi hành công vụ, thông qua việc xâm phạm đến người thi hành công vụ mà xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ công.

Người thi hành công vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao một nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. Người đang thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc, nếu chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc nhiệm vụ mà bị xâm phạm thì không thuộc trường hợp chống người thi hành công vụ, mà tuỳ trường hợp cụ thể để xác định một tội phạm khác có tình tiết vì lý do công vụ của nạn nhân. Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Trong trường hợp này, cảnh sát giao thông chính là người đang thi hành công vụ.

Người phạm tội chống người thi hành công vụ có thể thực hiện một trong các hành vi khách quan như: dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ… Với hành vì chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh dừng xe, có thể như có hiệu lệnh dừng xe mà vẫn đâm thẳng cảnh sát giao thông cũng được coi là dùng vũ lực đối với với người thi hành công vụ.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các hành vi khách quan là tội phạm đã hoàn thành. Nhiệm vụ có thể vẫn được thực hiện, mặc dù người phạm tội đã thực hiện hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ hoặc dùng thủ đoạn ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, về đường lối xử lý thực tiễn xét xử cho thấy, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp do có hành vi chống người thi hành công vụ mà dẫn đến việc thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ bị gián đoạn hoặc gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Qua sự phân tích trên thì người dân cần ý thức rõ hành vi không tuân thủ hiệu lệnh của cảnh sát giao thông có thể gây hậu quả nghiêm trọng như nào, từ đó, có ý thức hơn trong việc tuân thủ Luật giao thông đường bộ.

 

Xử lý tang vật bị tạm giữ, tịch thu trong vụ việc bạo lực gia đình


1. theo điều 49 nghị định 167/2013, người dùng công cụ, phương tiện xâm hại đến sức khỏe thành viên trong gia đình thì bị phạt tiền từ 1500k đến 2000k và có biện pháp khắc phục hậu quả là buộc xin lỗi công khai nếu bị hại có yêu cầu. vậy người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt có được thêm hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính (ví dụ: dao) không?????

2. trong trường hợp cơ quan công an đang tạm giữ dao (tang vật vi phạm hành chính trong vụ việc bạo lực gia đình), xác định dao này là dao nấu ăn thuộc sở hữu của người vi phạm thì xử lý tang vật như thế nào???

3. trong 1 vụ việc vi phạm hành chính người ký quyết định xử phạt là chủ tịch xã, người ký quyết định tạm giữ tang vật, tiêu hủy tang vật là trưởng công an xã được hay không???

Mong các anh chị giải thích giúp em. Em cảm ơn ạ

Khi người lao động bị tai nạn, người sử dụng lao động có trách nhiệm gì?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Theo Điều 38 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như sau:

  1. Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;
  2. Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp như sau:
  3. a) Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;
  4. b) Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;
  5. c) Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;
  6. Trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;
  7. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức như sau:
  8. a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;
  9. b) Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
  10. Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều này với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng;
  11. Giới thiệu để người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật;
  12. Thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra tai nạn lao động đối với các vụ tai nạn lao động chết người;
  13. Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việc;
  14. Lập hồ sơ hưởng chế độ về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định.
  15. Tiền lương để làm cơ sở thực hiện các chế độ bồi thường, trợ cấp, tiền lương trả cho người lao động nghỉ việc do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được quy định trong trường hợp trên là tiền lương bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động

 

Chồng ‘ vụng trộm ‘ bên ngoài có bị phạt tù không ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Trong cuộc trò chuyện với mấy người bạn gần nhà, chị hàng xóm kế bên vừa khóc vừa kể với tôi chuyện chồng bỏ vợ và con để quan hệ bên ngoài với một cô gái khác. Với hành vi này, anh chồng phải chịu mức phạt thế nào?

Bị nhắc nhở

Bị cảnh cáo

Bị phạt tiền

Trường hợp đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác sẽ bị phạt hành chính, căn cứ tại Điểm b, Khoản 1, Điều 48 Nghị định 110/2013 NĐ-CP.

Nếu bị phạt tiền, người chồng này sẽ phải chịu mức bao nhiêu?

1 đến 2 triệu đồng

1 đến 3 triệu đồng

1 đến 4 triệu đồng

Phạt từ 1 đến 3 triệu đồng đối với trường hợp người đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác, quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP.

 

Trong trường hợp từng bị xử phạt nhưng anh chồng vẫn chứng nào tật đó, anh ta sẽ bị xử phạt thế nào?

Bị nhắc nhở

Tiếp tục phạt hành chính

Cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù

Trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng mà còn vi phạm sẽ phải chịu mức phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù. Đây là quy định tại Khoản 1, Điều 147 Bộ luật hình sự năm 1999.

 

Nếu bị phạt tù, anh ta sẽ phải lĩnh mức án thế nào?

1 tháng đến 1 năm

2 tháng đến 1 năm

3 tháng đến 1 năm

Phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm đối với người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác mà đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, căn cứ tại Khoản 1, Điều 147 Bộ luật hình sự năm 1999.

 

 

Nếu chồng chị bạn tôi phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của tòa án tiêu hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt ra sao?

Phạt tù 3 tháng đến một năm.

Phạt tù một đến 3 năm.

Phạt tù 6 tháng đến 3 năm.

Phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm đối với trường hợp đã có quyết định của Tòa án buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, theo Khoản 2, Điều 147 Bộ luật hình sự năm 1999.

 

NGƯỜI TIÊU DÙNG, TỪ NẠN NHÂN TRỞ THÀNH BỊ CÁO: VÌ THIẾU HIỂU BIẾT PHÁP LUẬT

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Luật sự Đoàn Khắc Độ

Không ít trường hợp, người tiêu dùng từ chỗ là nạn nhân đã trở thành bị cáo trong một vụ án hình sự, hoặc bị bắt tạm giữ hình sự, chỉ vì thiếu hiểu biết pháp luật, đã có những hành vi vi phạm pháp luật. Đơn cử là “vụ án con ruồi”, anh Võ Văn Minh từ chỗ nạn nhân của chai nước ngọt có con ruồi lại trở thành bị án; mới đây là vụ anh Nguyễn Cảnh Cường, ở TP.Vinh, do nóng ruột vì con uống sữa bị đau bụng đã xông vào siêu thị đập hư hỏng 07 lon sữa và bị công an bắt tạm giữ hình sự…. và còn nhiều vụ khác nữa… Anh Minh và anh Cường từ chỗ là nạn nhân của thực phẩm kém chất lượng đã trở thành bị can, bị cáo, bị tạm giữ hình sự.

Qua những sự  việc nêu trên, tôi muốn nói đến việc thực hiện cái quyền của người tiêu dùng trong việc bảo vệ quyền lợi của mình khi phải sử dụng sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng.

Trong quan hệ mua bán sản phẩm, hàng hóa giữa người bán và người tiêu dùng thì thường người tiêu dùng nằm ở bên yếu thế. Nhà nước cũng đã có các quy định để bảo vệ bên yếu thế này, thể hiện trong Luật Bảo Vệ quyền lợi người tiêu dùng (Luật BVQLNTD) và Luật An toàn thực phẩm (Luật ATTP) và các văn bản pháp luật có liên quan. Nhưng cần lưu ý là pháp luật chỉ bảo vệ cho hành vi đúng pháp luật.

KHI SỬ DỤNG THỰC PHẨM KHÔNG AN TOÀN, NGƯỜI TIÊU DÙNG NÊN HÀNH XỬ ĐÚNG PHÁP LUẬT

Quyền của người tiêu dùng thực phẩm được quy định khá rõ tại Điều 9 Luật ATTP. Trong đó có quyền “Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra.”.

Người tiêu dùng thực hiện quyền này thông qua một trong các cơ chế: Thương lượng; Hòa giải; Trọng tài; Tòa án (Điều 30 Luật BVQLNTD).

Như vậy, khi dùng một đồ ăn, thức uống không an toàn gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe thì người tiêu dùng có quyền yêu cầu nơi kinh doanh thực phẩm đó bồi thường thiệt hại. Nếu hai bên không thương lượng được thì có thể nhờ một tổ chức có thẩm quyền để hòa giải, hoặc khởi kiện ra Tòa hay Trọng tài.

Tóm lại: Khi người tiêu dùng bị thiệt hại do sử dụng các thực phẩm hoặc hàng hóa khác gây ra thì cần có cách thức phù hợp trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại, có thể tham khảo ý kiến của luật sư, các chuyên gia pháp luật, nhằm tránh những trường hợp đáng tiếc vì hành động bộc phát, mà từ tư cách là bị hại lại trở thành người vi phạm pháp luật, thậm chí là bị can, bị cáo trong vụ án hình sự. 

Luật sư Đoàn Khắc Độ, Giám đốc Công ty Luật TNHH Đại Đức

Điện thoại: 0903 168 986

Email: do@luatdaiduc.vn

Website: www.luatdaiduc.vn