Khái niệm thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi: tìm hiểu về:Khái niệm về thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; căn cứ pháp lý hiện hành hay cơ sở lý luận của nó?

Tra lời:

– Khái niệm: Thế chấp tài sản là  việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

– Hiệu lực của Hợp đồng thế chấp tài sản: có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

– Việc thế chấp tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:

+ Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt.

+  Việc thế chấp tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

+ Tài sản thế chấp đã được xử lý.

+ Theo thỏa thuận của các bên.

Việc thế chấp quyền sử dụng đất và thế chấp tài sản gắn liền với đất có thể thực  hiện đồng bộ hoặc tách biệt;  có thể 2 bên tự thế chấp với nhau hoặc nhờ đến bên thứ ba; pháp luật quy định cụ thể như sau;

Đối với thế chấp quyền sử dụng đất, được quy định tại Điều 325, Bộ Luật Dân sự 2015:

“1. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Đối với việc thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 326, Bộ luật dân sự 2015:

“1. Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đồng thời là người sử dụng đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất thì khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Đối với quyền và nghĩa vụ của bên nhận và bên thế chấp tài sản, bên thứ ba giữ  tài sản thế chấp được thực hiện theo các quy định từ Điều 320 đến Điều 325 của Bộ luật Dân sự 2015.

 

Luật sư sử dụng tài liệu mật để tham gia bào chữa có được chấp nhận?


Tài liệu mật là gì?

Tài liệu mật ở đây được hiểu là tài liệu bí mật, không được để lộ ra ngoài; gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

Hai trường hợp luật sư được sử dụng tài liệu mật như sau:

Thứ nhất: Luật sư bào chữa các vụ án có sử dụng tài liệu mật của nhà nước.

Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh 30/2000/PL-UBTVQH10 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, thì tài liệu mật thuộc bí mật nhà nước được nêu tại pháp lệnh như sau:

Bí mật nhà nước là những tin về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời gian, lời nói có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Vì nhiệm vụ bảo vệ tài liệu mật nhà nước là quan trọng, nên cần có những hình phạt nặng mang tính răn đe. Mức phạt về tội cố ý để lộ thông tin tài liệu bí mật nhà nước được quy định như sau:

Căn cứ Điều 337 được sửa đổi bởi Khoản 125 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017

1. Người nào cố ý làm lộ bí mật nhà nước, chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 110 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Bí mật nhà nước thuộc độ tối mật;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Gây tổn hại về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Bí mật nhà nước thuộc độ tuyệt mật;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Gây tổn hại về chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.”.

Căn cứ: Điều 2 Pháp lệnh 30/2000/PL-UBTVQH10 thì nhiệm vụ bảo về thông tin bí mật nhà nước là nhiệm vụ quan trọng của đất nước Việt Nam. Mọi cơ quan nhà nước và mỗi công dân đều có nhiệm vụ bảo vệ bí mật nhà nước.

Do đó, trong trường hợp nếu Luật sư được tòa cho phép sử dụng tại liệu mật để nghiên cứu, thì luật sư có nghĩa vụ bảo mật và không được để lộ thông tin ra bên ngoài, hoặc sử dụng để bào chữa tại tòa; trừ khi có quy định khác của Thẩm phán.

Thứ hai: Luật sư bào chữa các vụ án có sử dụng tài liệu mật của khách hàng có thể là cá nhân, tổ chức.

Theo quy định tại Điều 25 Luật Luật sư 2006; Luật sửa đổi, bổ sung Luật luật sư 2012:

1. Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề;

Trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Luật sư không được sử dụng thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3. Tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên trong tổ chức hành nghề không tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình.

Trong trường hợp này, khi luật sư tham gia bào chữa theo quy định, Luật sư không được để lộ tài liệu mật của khách hàng trước tòa; trừ khi, được sự cho phép của khách hàng bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Hình thức kỷ luật nếu vi phạm: Căn cứ Điều 85 Luật Luật sư 2006, và Luật sửa đổi, bổ sung Luật luật sư 2012.

Nếu Luật sư vi phạm quy định của Luật này, Điều lệ, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam và quy định khác của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau đây:

– Khiển trách;

– Cảnh cáo;

– Tạm đình chỉ tư cách thành viên Đoàn luật sư từ sáu tháng đến hai mươi bốn tháng;

– Xoá tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn luật sư.

Việc xem xét quyết định kỷ luật luật sư thuộc thẩm quyền của Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư theo đề nghị của Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư.

Trong trường hợp luật sư bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xoá tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn luật sư thì Đoàn luật sư phải thông báo bằng văn bản với Sở Tư pháp và đề nghị Bộ Tư pháp thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, đề nghị Liên đoàn luật sư Việt Nam thu hồi Thẻ luật sư.

Ngoài ra, nếu việc để lộ tài liệu mật của khách hàng trong quá trình tố tụng, gây hậu quả thiệt hại nặng nề về tài sản, có các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định Luật hình sự 2015, thì Luât sư sẽ bị truy tố theo quy định.

Hỏi đáp về thế chấp quyền sử dụng đất

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi:

” Mọi người ơi cho em hỏi, theo Khoản 2 Điều 325 Bộ luật dân sự 2015 có quy định :”Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Vậy nếu một người thế chấp quyền sử dụng đất của mình cho ngân hàng mà các tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền sở hữu của họ thì khi tài sản bị xử lí ngân hàng chỉ được bán đấu giá mảnh đất thôi phải không ạ?. Nhưng nếu bán đấu giá mảnh đất mà  quyền sử dụng đất đó lại bị ảnh hưởng bởi quyền bề mặt (của chủ các tài sản gắn liền với đất) thì khả năng bán được sẽ không cao. Vậy điều này có phải là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu phải không ạ? Em xin cảm ơn! “

Trả lời: 

Theo quy định tại Điều 325 Bộ luật dân sự 2015 thì có 2 trường hợp xảy ra khi thế chấp quyền sử dụng đất như sau:

Trường hợp 1: Khi thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Ví dụ: A thế chấp quyền sử dụng 80 m2 đất để vay ngân hàng khoản tiền 500 triệu. Nhưng trên đất, A đã có căn nhà 4 tầng nhưng chưa được chứng nhận quyền sở  hữu. Như vậy, đối tượng của hợp đồng thế chấp là quyền sử dụng 80 m2 đất. Hết hạn hợp đồng nếu A không trả được nợ cho ngân hàng. Khi rơi vào các trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm, ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý cả căn nhà 4 tầng trên đất của A.

Trường hợp 2: Khi thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

− Trong trường hợp này, quan hệ thế chấp và xử lý tài sản thế chấp có 3 chủ thể khác nhau, đó là: Chủ sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ hoạt động xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất. Theo đó, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình. Quyền và nghĩa vụ của chủ sử dụng đất (bên thế chấp) sẽ được chuyển giao cho người nhận chuyển nhượng (bên mua được tài sản thế chấp).

Ví dụ: anh A cho anh B thuê quyền sử dụng 800m2 đất thời hạn 20 năm. Anh B đã tiến hành xây dựng nhà xưởng và cải tạo 800m2 đất để khai thác giá trị sử dụng của lô đất. Do cần tiền để làm ăn, anh A đã tiến hành thế chấp quyền sử dụng 1000m2 đất mà mình có cho ngân hàng để vay tiền trong thời hạn 10 năm. Hết 10 năm A không trả được nợ cho ngân hàng, Ngân hàng tiến hành các thủ tục để xử lý toàn bộ 1000m2 đất của A. Khi bán đấu giá quyền sử dụng 800m2 đất, anh C đã nhận chuyển nhượng thành công. Tất cả khoảng thời gian để ngân hàng yêu cầu xử lý, xử lý, mua bán đấu giá thành công là 6 tháng. Theo quy định trên, anh B vẫn được khai thác quyền sử dụng 800m2 đất đến hết thời hạn (còn 9 năm 6 tháng). Anh C tuy đã nhận chuyển nhượng thành công và là người có quyền sở hữu quyền sử dụng 800m2 đó nhưng phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của anh A trong hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với anh B và anh B vẫn được tiếp tục sử dụng nhà xưởng trong phạm vi quyền và nghĩa vục của mình. Mặt khác, giữa anh A, anh B và anh C hoàn toàn có thể có thỏa thuận khác. Ví dụ thay vì anh C có quyền khai thác sử dụng 800m2 trong thời hạn 9 năm 6 tháng, các bên có thể thỏa thuận thòi hạn kéo dài thêm hoặc ngắn hơn. Hoặc thay vì anh A chấm dứt hoàn toàn quyền của mình trong hợp đồng thuê hoặc quyền sở hữu quyền sử dụng đất, các bên có thể thỏa thuận anh A vẫn là chủ thể mang quyền trong hợp đồng thuê với anh B, còn người có quyền sử dụng đất là anh C.

⇒ Như vậy,  nếu một người thế chấp quyền  sử dụng đất của mình cho ngân hàng mà các tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền sở hữu của họ thì khi tài sản bị xử lí, ngân hàng chỉ được bán đấu gía quyền sử dụng đất, còn chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

− Nếu ngân hàng bán đấu giá mảnh đất mà  quyền sử dụng đất đó lại bị ảnh hưởng bởi quyền bề mặt( của chủ các tài sản gắn liền với đất) thì khả năng bán được sẽ không cao. Và điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu.

− Nếu bên thế chấp và bên nhận không thỏa thuận được giá bán TSBĐ thì ngay cả trong trường hợp bên bảo đảm bất hợp tác, phía ngân hàng cũng có thể chỉ định tổ chức thẩm định giá để xác định giá bán tài sản. Tuy nhiên, với loại tài sản đặc biệt như quyền sử dụng đất thì rất khó xác định bởi chưa có căn cứ xác định “giá thị trường” đối với loại đất này khi có hai cơ chế để tính giá đối với quyền sử dụng đất:

+ Thứ nhất: tính theo “khung giá” do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành khi giao đất có thu tiền hay cho thuê đất đối với các chủ thể là cá nhân, hộ gia đình, tổ chức có nhu cầu sử dụng đất.

+ Thứ hai: xác định theo thỏa thuận của các chủ thể có quyền sử dụng đất khi chuyển nhượng, cho thuê đối với các chủ thể khác.

 

Anh trai đang chấp hành án tù có được kết hôn với ngành công an không ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi :

Cho hỏi là tôi có anh trai bị đi tù 2 năm vì tội cố ý gây thương tích và đang chấp hành án phạt tù. Nay tôi đang quen một anh làm bên công an chúng tôi tính đến chuyện hôn nhận nhưng không biết pháp luật có cho phép không ?

Câu trả lời :

Luật sư tư vấn:

Để có thể kết hôn với công an, trước hết bạn phải đáp ứng các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 luật hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 8. Điều kiện kết hôn

  1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

+ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

+ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

+ Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

+ Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

  1. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”

Các trường hợp cấm kết hôn gồm có:

+ Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

+ Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Ngoài ra,do công an là lực lượng vũ trang nhân dân, có trách nhiệm bảo vệ trật tự an toàn xã hội, an ninh tổ quốc nên có những quy định đặc thù riêng; nếu bạn muốn kết hôn với người đang phục vụ trong ngành công an nhân dân thì còn phải đáp ứng các điều kiện đặc thù của ngành công an, cụ thể là không thuộc một số trường hợp sau:

– Gia đình làm tay sai cho chế độ phong kiến, Nguy quân, Ngụy quyền;

– Bố mẹ hoặc bản thân có tiền án hoặc đang chấp hành án phạt tù;

– Gia đình hoặc bản thân theo Đạo thiên chúa, Cơ đốc, Tin lành…;

– Gia đình hoặc bản thân là người dân tộc Hoa;

– Bố mẹ hoặc bản thân là người nước ngoài (kể cả đã nhập tịch)

Ngoài ra có một số quy định khác nhưng tùy thuộc vào từng vị trí công việc cụ thể.

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn có anh trai hiện nay đang đi tù, nay muốn kết hôn với người trong ngành công an thì có thể hai bạn sẽ không tiến tới hôn nhân được, để biết rõ thông tin này bạn nên nhờ người yêu bạn hỏi rõ tại đơn vị nơi người yêu bạn đang công tác để được biết rõ hơn.

Tập hợp bài tập về giải quyết các loại tranh chấp


Chào các bạn, mình hiện đang ngâm cứu giải quyết các bài tập về tranh chấp. Vì vậy , mình lập ra topic này để chúng ta cùng nhau chia sẻ những khó khăn, vướng mắc.

Đầu tiên, muốn giải được các bài tập về tranh chấp, trước chúng ta phải xác định được: Đó là tranh chấp gì? Sau đó nghiên cứu các văn bản: Bộ luật dân sự (2005, 2015), Bộ luật tố tụng dân sự (2004, 2015) và các quy định liên quan đến từng loại tranh chấp. Cụ thể:

Tranh chấp về dân sự

– Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản

– Tranh chấp về hợp đồng dân sự

– Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

– Tranh chấp về thừa kế tài sản

– Tranh chấp về quyền sử dụng đất đai và tài sản gắn liền với đất

……………….

Với những tranh chấp liên quan đến đất đai thì đọc thêm cả các văn bản chuyên ngành: Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn được tập hợp tại đây.

Tranh chấp về hôn nhân và gia đình

– Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.

– Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

– Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

– Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

– Tranh chấp về cấp dưỡng.

– Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

– Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.

…..

Với những tranh chấp về hôn nhân và gia đình cần đọc thêm: Luật hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn.

Tranh chấp về kinh doanh, thương mại

–  Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

–  Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

–  Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.

–  Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

…….

Tranh chấp về thương mại thường phát sinh giữa các thương nhân với nhau từ các hoạt đồng thương mại.  Thêm vào đó, với các tranh chấp thương mại, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án hay trong tại có thẩm quyền giải quyết. Vì vậy, ngoài BLDS, BLTTDS thì để giải quyết được loạu tranh chấp này, các bạn cũng cần phải nghiên cứu Luật thương mại, Luật trọng tài thương mại và các văn bản liên quan.

Tranh chấp về lao động

– Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động

– Tranh chấp về tiền lương , thời gian làm việc, kỷ luật lao động

– Tranh chấp trong quan hệ lao động , trong quan hệ học nghề , trong quan hệ bảo hiểm xã hội…

Với những tranh chấp này thì ngoài BLDS, cần nghiên cứu ngay Bộ luật lao động, Luật bảo hiểm xã hôi, Luật bảo hiểm y tế …và các văn bản liên quan trong từng trường hợp cụ thể.

Mọi người  chia sẻ để cùng nhau học thật tốt nhé!

Các trường hợp được giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong luật hình sự


Bài viết tham khảo:

>>> So sánh Miễn TNHS, Miễn hình phạt và Miễn chấp hành hình phạt theo Bộ luật hình sự 2015;

>>> Tổng hợp hình phạt dành cho cá nhân và pháp nhân theo Bộ luật hình sự mới nhất;


Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự 2015 quy định như sau: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.” Theo quy định này thì đối với bất kì một hình phạt nào trước khi quyết định mức hình phạt đều được xem xét về tình tiết giảm nhẹ để được giảm mức hình phạt tạo điều kiện để người phạm tội có thể làm lại cuộc sống của mình, trừ trường hợp tội đặc biệt nghiêm trọng không được giảm nhẹ theo quy định.

Vậy khi đang chấp hành hình phạt thì có trường hợp nào được giảm mức hình phạt hay không. Sau đây mình sẽ tổng hợp các trường được giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong luật hình sự như sau:

1.  Đối với các trường hợp được giảm đối với mức hình phạt đã tuyên (Căn cứ:  Điều 63 Bộ Luật hình sự 2015).

Trường hợp: Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân.

Nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân.

Trường hợp: Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên.

Trường hợp: Người bị kết án tù chung thân.

Thì đối với lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm.

Trường hợp:  Người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân.

Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm.

Trường hợp: Người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý.

Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung.

Trường hợp: Người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 63 Bộ Luật Hình sự 2015.

Trường hợp: Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này.

Nếu thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.

2. Đối với trường hợp đặc biệt được giảm thời hạn chấp hành hình phạt (Căn cứ: Điều 64 Bộ Luật Hình sự 2015).

Người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định tại Điều 63 của Bộ luật này.

Như vậy, đối với những phạm nhân hay những người phạm tội có các tình tiết giảm nhẹ giúp giảm nhẹ tội, ăn năn, hối cải trước tội mình đã gây ra thì sẽ được pháp luật ban hành quy định khoan hồng với các đối tượng này. Mặc dù, bản án đã tuyên nhưng thái độ chấp hành tốt, lập công trong quá trình cải tạo tại nơi giam giữ,….thì tù nhân đó sẽ được hưởng các quy định về giảm mức hình phạt theo quy định của pháp luật.

Tranh chấp tài sản cho vay tiền

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Anh/ chi cho em xin góp ý về tình huống này

Tôi cho đối tượng A vay tiền 1 tỷ đồng lãi suất thỏa thuận miệng 1.7% / tháng

Bác tôi cho đối tượng A vay 300 triệu đồng lãi suất thỏa thuận miệng 1.9%/ tháng

Đối tượng A có thanh toán tiền lãi một vài tháng. Đến thời hạn thanh toán gốc, đối tượng A không chịu trả tôi và Bác tôi tiền gốc.

Xin A/C tư vấn đối tượng A có bị trách nhiệm truy cứu hình sự hay không?

E cảm ơn.

Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất khi chưa có GCNQSDĐ


Bài tham khảo:

>>> Hướng dẫn đòi lại đất khi người khác đứng tên;

>>> Quy trình giải quyết tranh chấp đất đai cần biết;


Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (GCNQSDĐ) được Luật đất đai 2013 đưa ra khái niệm “là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”. Vậy trường hợp chủ sở hữu chưa có hoặc không có loại giấy chứng từ nêu trên thì khi xảy ra tranh chấp sẽ giải quyết như thế nào? khi đất đó là do họ khai phá ra từ trước đây, do thất lạc hay chưa được cấp giấy chứng nhận khi nhận chuyện nhượng,..

Sau đây là bài viết hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất đai khi không có GCNQSDĐ, mời các bạn cùng tham khảo.

Căn cứ khoản 1 Điều 100 Luật đất đai 2013 quy định về các loại giấy tờ cần thiết để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho Hộ gia đình, cá nhân như sau:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

1. Trường hợp chưa có GCNQSDĐ hoặc một trong các giấy tờ trên thì làm thế nào?

Căn cứ khoản 1 Điều 91 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật đất đai 2013 Tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có GCNQSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ nêu trên thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện dựa theo các căn cứ sau:

– Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đất đai đưa ra.

Ví dụ: Như biên lai thu thuế đất, giấy tờ thuê mướn nhân công đào đất, giấy tờ chứng minh quá trình khai thác hưởng hoa lợi từ đất, người làm chứng… (nếu có).

– Thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích đất đang có tranh chấp thông qua việc cơ quan có thẩm quyền đo đạc, thẩm định tại chỗ, vẽ sơ đồ thửa đất, diện tích đất tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa phương (áp dụng đối với nơi chia đất theo nhân khẩu). 

– Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

– Chính sách ưu đãi người có công, bởi Nhà nước có quyền giao đất, công nhận QSDĐ.

– Quy định của pháp luật về giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.

Ngoài những chứng cứ nêu trên, cơ quan có thẩm quyền giải quyết còn có thể căn cứ vào kết quả xác minh thực tế, biên bản hòa giải của xã, ấp, lời khai của các đương sự, giấy tờ giao dịch liên quan đến QSDĐ tự lập của các bên, khả năng sử dụng đất của các bên, kết quả giám định… (nếu có).

2. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp (Căn cứ: Điều 203 Luật đất đai 2013)

Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

– Một là: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền được thực hiện như sau:

+ Tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết;

Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

+ Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết;

Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

Mời bạn xem chi tiết trình tự thủ tục theo Luật tố tụng hành chính tại đây.

– Hai là: Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

Mời bạn xem chi tiết trình tự thủ tục theo Luật tố tụng dân sự tại đây.

Như vậy, đối với trường hợp này, do hai bên (hoặc một trong hai bên) không có GCNQSDĐ nên một trong hai bên có thể gửi đơn đến tòa án nhân dân có thẩm quyền nơi có đất tranh chấp hoặc nộp đơn đến UBND huyện yêu cầu giải quyết theo quy định.

Thời hạn giải quyết không quá 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

PHÂN BIỆT THẾ CHẤP VÀ CẤM CỐ


Thế chấp và cầm cố là những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Hai biện pháp này có những điểm gì giống và khác nhau?

thế chấp cầm cố biện pháp bảo đảm

thế chấp cầm cố biện pháp bảo đảm

thế chấp cầm cố biện pháp bảo đảm

thế chấp cầm cố biện pháp bảo đảm

thế chấp cầm cố biện pháp bảo đảm

thế chấp cầm cố biện pháp bảo đảm

thế chấp cầm cố biện pháp bảo đảm

Hướng dẫn cách xử lý tài sản thế chấp khi ly hôn


Tham khảo:

>>>Chia tài sản sau ly hôn theo Luật mới;

>>>Lưu ý cần biết khi ly hôn giành quyền nuôi con;

>>>Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài ?

Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp). Theo đó, tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Trừ trường hợp, có thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp. Vậy trong trường hợp ly hôn thì tài sản thế chấp của vợ chồng sẽ được xử lý như thế nào?

1. Xác định người (Vợ/chồng/cả hai) có nghĩa vụ đối với tài sản thế chấp

Trước tiên, cần xác định tài sản thế chấp đó được vợ chồng sử dụng vào mục đích gì? là tài sản chung hay tài sản riêng được hình thành trước hay sau hôn nhân? Vì căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

– Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

– Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

– Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

– Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

– Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

– Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Do đó, khi có tranh chấp có thể xảy ra hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Nếu một trong hai bên (vợ/ chồng) có bằng chứng chứng minh tài sản thế chấp là tài sản được hình thành trước hôn nhân và việc thế chấp được sử dụng vào mục đích riêng của vợ hoặc chồng mà không sử dụng vào mục đích thiết yếu của gia đình.

=> Người (vợ hoặc chồng) phải có nghĩa vụ thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với tài sản thế chấp đó.

Trường hợp 2: 

Nguồn gốc của tài sản thế chấp

– hình thành trước thời kỳ hôn nhân do người vợ (hoặc chồng) đứng tên.

– hình trong trong thời kì hôn nhân (do vợ/chồng/cả hai cùng đứng tên)

Nhưng, việc thế chấp được sử dụng chung vào mục đích thiết yếu của gia đình.

=> Cả hai vợ và chồng phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với tài sản thế chấp đó. Cụ thể:

Căn cứ Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn, như sau:

– Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn. Trừ trường hợp: vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

– Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

Do đó, sau ly hôn thì tính pháp lý của tài sản thế chấp vẫn còn đó. Vậy nên, cần xác định nghĩa vụ của vợ/ chồng đối với tài sản thế chấp để liên đới thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của tài sản thế chấp với bên thứ ba, trừ trường hợp: vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Cách xử lý đối với tài sản thế chấp sau ly hôn

Trình tự, thủ tục xử lý khi có tranh chấp về tài sản thế chấp sau khi ly hôn như sau:

Thứ nhất: Việc giải quyết sẽ ưu tiên do hai bên vợ chồng tự thỏa thuận về cách xử lý đối với tài sản thế chấp (để có tính pháp lý cao thì việc thỏa thuận giữa hai bên có lập văn bản và công chứng).

Ví dụ: Hai vợ chồng thỏa thuận chồng sẽ trả và đưa vợ một khoản tiền tương ứng 50% tài sản thế chấp, sau khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp đó thuộc về ông chồng,…

Lưu ý: Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng để giải quyết.

Thứ hai: Nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết theo quy định.

Trong quá trình giải quyết tòa sẽ xem xét giải quyết dựa trên các yếu tố sau đây:

– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Theo đó, các bên phải có nghĩa vụ chứng minh và cung cấp bằng chứng cho rằng lời mình nói là có cơ sở và xác thực để tòa xem xét giải quyết.

=>Tham khảo chi tiết về thủ tục giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn: TẠI ĐÂY.