CSGT xử phạt, ngân hàng giữ giấy đăng ký, người mua xe trả góp bị làm khó?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Việc CSGT kiểm ra, xử phạt các chủ phương tiện không có giấy đăng ký xe bản chính khi tham gia giao thông khiến nhiều tài xế lo lắng, bởi hiện có rất nhiều người khi vay tiền ngân hàng mua xe trả góp thì ngân hàng buộc thế chấp giấy đăng ký xe bản chính.

Rất nhiều vụ việc CSGT các địa phương xử lý vi phạm hành chính đối với người điều khiển ô tô sử dụng bản sao giấy đăng ký xe, do bản chính đã cầm cố (thế chấp) tại ngân hàng (NH) khiến tài xế lo lắng.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Hữu Dánh khẳng định: “Việc lực lượng CSGT các địa phương xử lý những trường hợp vi phạm mà sử dụng giấy đăng ký xe bản sao trong thời gian qua là hoàn toàn chính xác”.

Trong thực tế, các chủ phương tiện giao thông khi vay NH mua xe trả góp thì bên thế chấp không được NH giao lại bản chính giấy đăng ký xe mà chỉ được giao bản sao có xác nhận của NH, dẫn đến tình trạng người điều khiển phương tiện giao thông chỉ có thể xuất trình bản sao đăng ký xe có xác nhận của NH khi bị CSGT kiểm tra trường hợp vi phạm giao thông. Trong trường hợp này, người vi phạm sẽ bị lập biên vi phạm lỗi không có giấy đăng ký xe.

Theo quy định của luật Giao thông đường bộ, lái xe không mang đầy đủ các giấy tờ khi lưu thông sẽ bị phạt từ 80.000 – 120.000 đồng (đối với người điều khiển xe mô tô, gắn máy), phạt từ 200.000 – 400.000 đồng (đối với người điều khiển ô tô).

Ngân hàng lo rủi ro cao:

Phía các tổ chức tín dụng cho rằng, nếu không giữ giấy tờ xe bản gốc làm tài sản thế chấp thì sẽ gia tăng rủi ro, nợ xấu. Vì nếu bên thế chấp vẫn giữ đăng ký xe bản gốc thì khả năng một tài sản thế chấp nhiều nơi là dễ xảy ra. “Khoản vay mua xe có thể lên tới 70% giá trị xe. Nếu ngân hàng không giữ giấy tờ xe thì không khác nào cho vay tín chấp, khi khách hàng không trả được nợ hoặc cố tình chây ỳ sẽ rất khó xử lý”.

Khi ngân hàng được phép giữ Giấy đăng ký xe của khách hàng nhưng vẫn xảy ra rủi ro không đòi được nợ, có ngân hàng từng phải “treo thưởng” để tìm được chiếc xe mà chủ xe đã thế chấp Giấy đăng ký xe ở ngân hàng. Vì vậy, nếu ngân hàng cho vay mà không giữ giấy tờ thì rủi ro còn cao hơn nhiều.

Cùng chủ đề bàn luận, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng:

Theo Điều 9, Nghị định 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm quy định “bổ sung Điều 20a về Giữ giấy tờ về tài sản thế chấp” có quy định như sau: “Trong trường hợp tài sản thế chấp là tàu bay, tàu biển hoặc phương tiện giao thông quy định tại Điều 7a, nghị định này, thì bên thế chấp giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu tàu bay, Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam, Giấy đăng ký phương tiện giao thông trong thời hạn hợp đồng thế chấp có hiệu lực”.

Trước đó, ngày 24/5/2017, Ngân hàng Nhà nước cũng đã có Công văn 3851/NHNH-PC yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc quy định khi cho khách hàng vay thế chấp ô tô, xe gắn máy, thì khách hàng vẫn là người giữ giấy đăng ký xe.

Như vậy, về mặt quy định, ngân hàng sẽ không được giữ Giấy đăng ký phương tiện giao thông của khách hàng

 

Anh trai đang chấp hành án tù có được kết hôn với ngành công an không ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi :

Cho hỏi là tôi có anh trai bị đi tù 2 năm vì tội cố ý gây thương tích và đang chấp hành án phạt tù. Nay tôi đang quen một anh làm bên công an chúng tôi tính đến chuyện hôn nhận nhưng không biết pháp luật có cho phép không ?

Câu trả lời :

Luật sư tư vấn:

Để có thể kết hôn với công an, trước hết bạn phải đáp ứng các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 luật hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 8. Điều kiện kết hôn

  1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

+ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

+ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

+ Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

+ Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

  1. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”

Các trường hợp cấm kết hôn gồm có:

+ Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

+ Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Ngoài ra,do công an là lực lượng vũ trang nhân dân, có trách nhiệm bảo vệ trật tự an toàn xã hội, an ninh tổ quốc nên có những quy định đặc thù riêng; nếu bạn muốn kết hôn với người đang phục vụ trong ngành công an nhân dân thì còn phải đáp ứng các điều kiện đặc thù của ngành công an, cụ thể là không thuộc một số trường hợp sau:

– Gia đình làm tay sai cho chế độ phong kiến, Nguy quân, Ngụy quyền;

– Bố mẹ hoặc bản thân có tiền án hoặc đang chấp hành án phạt tù;

– Gia đình hoặc bản thân theo Đạo thiên chúa, Cơ đốc, Tin lành…;

– Gia đình hoặc bản thân là người dân tộc Hoa;

– Bố mẹ hoặc bản thân là người nước ngoài (kể cả đã nhập tịch)

Ngoài ra có một số quy định khác nhưng tùy thuộc vào từng vị trí công việc cụ thể.

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn có anh trai hiện nay đang đi tù, nay muốn kết hôn với người trong ngành công an thì có thể hai bạn sẽ không tiến tới hôn nhân được, để biết rõ thông tin này bạn nên nhờ người yêu bạn hỏi rõ tại đơn vị nơi người yêu bạn đang công tác để được biết rõ hơn.

Có kho hàng ngoại tỉnh thì có phải đăng kí địa điểm kinh doanh không, thủ tục thế nào?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Theo mình biết thì kho hàng có thể được xác định là địa điểm kinh doanh theo quy định tại Điều 44 tại Luật Doanh nghiệp 2014 về đơn vị phụ thuộc của công ty

“1. Chi nhánh: Thực hiện hoạt động kinh doanh và chức năng đại diện

2. Văn phòng đại diện: Chỉ thực hiện chức năng đại diện

3. Địa điểm kinh doanh: Là nơi diễn ra hoạt động kinh doanh

Hoạt động kinh doanh là toàn bộ quá trình từ đầu tư, sản xuất đến hoạt động phân phối sản phẩm.

Như vậy, nên xác định kho chứa hàng trong trường hợp này là địa điểm kinh doanh cần phải đăng kí địa theo quy định của pháp luật. Việc đăng ký nhằm minh bạch được thông tin, thuận lợi trong việc hạch toán kế toán và đặc biệt là các cuộc kiểm tra của cục quản lý thị trường.

Căn cứ Khoản 2 Điều 33 Nghị định 78/2015/NĐ-CP  “Địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp có thể ở ngoài địa chỉ đăng ký trụ sở chính. Doanh nghiệp chỉ được đặt địa điểm kinh doanh tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính hoặc đặt chi nhánh…”.

Theo quy định trên và nếu trong trường hợp có kho hàng ngoại tỉnh, không cũng một nơi với trụ sở hay chi nhánh thì trước khi tiến hành đăng kí địa điểm kinh doanh theo quy định tại Khoản 2 Điều 33 Nghị định 78/2015/NĐ-CP  thì phải tiến hành thủ tục đăng ký hoạt động chi nhánh tại các nơi có kho hàng. Chị có thể tham khảo thủ tục đăng ký chi nhánh tại Khoản 1 Điều 33 Nghị định 78/2015/NĐ-CP.

Mình không hiểu vi sao phải quy định kho hàng phải được đăng ký khi có trụ sở chính hay chi nhánh, vì việc quyết toán thuế, hay chứng minh hàng hóa có thể thông qua các hóa đơn chứng từ cụ thể. Và kho hàng cũng không phải là đối tượng chịu quyết toán thuế?

Mong nhận được sự hỗ trợ để hiểu thêm vấn đề ?

Biên bản thỏa thuận đăng con lên facebook có vi phạm pháp luật không ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Mới đây,trên mạng đang truyền nhau việc ông bố gây bão với “biên bản thỏa thuận” để đăng ảnh con lên Facebook. Qua tìm hiểu, ông bố Trần Thanh Sơn (có tài khoản Facebook Thanh Sơn, Bắc Kạn) lập biên bản này với mục đích vui vẻ. Trong biên bản, cả hai bên là bố mẹ và con cùng nhau thống nhất: Bên trẻ em đồng ý cho bên người lớn thoải mái đăng ảnh trên mạng xã hội như Facebook, Zalo… mà không kiện cáo, thắc mắc và đòi hỏi bất cứ điều gì. “Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc thì hai bên sẽ cùng nhau giải quyết trên tinh thần hợp tác.Vậy chúng tôi lập biên bản này làm cơ sở để bên người lớn yên tâm đăng ảnh trẻ em trên mạng xã hội mà không lo sai luật, đi tù.Biên bản được lập thành 3 bản bằng Tiếng Việt, mỗi cá nhân giữ một bản có giá trị như nhau và có hiệu lực kể từ ngày ký”. Ngay sau khi đăng tải bởi một tài khoản facebook trên một diễn đàn lớn, cộng đồng mạng tỏ ra khá thích thú với “biên bản” này. Biên bản nhanh chóng thu hút gần 8.000 like (thích) và hàng trăm bình luận trên mạng xã hội. Có ý kiến đồng tình vì sự hài hước của ông bố, có ý kiến cho rằng phụ huynh này không thực hiện đúng luật.

Trên thực tế , có vụ việc trên là do từ ngày 1/6/2017, Luật trẻ em chính thức có hiệu lực. Có tổng cộng 15 nhóm hành vi bị đạo luật này nghiêm cấm. Trong đó, dư luận xôn xao nhiều nhất là: “Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em”(Điều 21, Chương II của luật Trẻ em). Theo đó, “Công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 7 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em” (Khoản 11, Điều 6, Luật Trẻ em) là hành vi bị nghiêm cấm. Trong Điều 33 Nghị định 56/2017/NĐ-CP hướng dẫn Luật trẻ em của Chính phủ, lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chúng ta đã có những quy định cụ thể về những thông tin bí mật đời sống riêng tư của trẻ em. “Thông tin bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em là các thông tin về: Tên, tuổi; đặc điểm nhận dạng cá nhân; thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong bệnh án; hình ảnh cá nhân; thông tin về các thành viên trong gia đình, người chăm sóc trẻ em; tài sản cá nhân; số điện thoại; địa chỉ thư tín cá nhân; địa chỉ, thông tin về nơi ở, quê quán; địa chỉ, thông tin về trường, lớp, kết quả học tập và các mối quan hệ bạn bè của trẻ em; thông tin về dịch vụ cung cấp cho cá nhân trẻ em”. Trên thực tế, quyền riêng tư của trẻ em rất dễ bị xâm phạm, đặc biệt là trên môi trường mạng với sự phát triển như vũ bão của Internet, mạng xã hội… mà người thực hiện hành vi xâm phạm quyền riêng tư của trẻ đôi khi lại chính là người thân thích của trẻ: là cha, mẹ, anh, chị… Những thông tin quá chi tiết của trẻ nếu đăng tải lên mạng xã hội, rất có thể vô tình khiến các con gặp nguy hiểm với các loại tội phạm xã hội như tội phạm tình dục, bắt cóc, buôn người… vẫn đang âm thầm theo dõi trên mạng.

 

Trong khi đó nhiều trẻ không muốn công khai những hình ảnh, thông tin lên mạng xã hội. Dù khen hay chê, trẻ đều khó hồn nhiên, tự tin khi tiếp xúc với ai biết trẻ từ thông tin cha mẹ đã công khai. Có trẻ xấu hổ, ngại ngùng, nhiều lần lặp lại có thể trở nên tự ti, mặc cảm. Có trẻ sẽ kiêu ngạo khi những thành công của bản thân được tung hô rồi nhận thức sai về bản thân. Từ kiêu ngạo đến tự ti không xa, khi gặp phải một thất bại nào đó, trẻ dễ đánh mất hình tượng đứa trẻ giỏi giang cha mẹ tạo nên. Đặc biệt, ở giai đoạn trẻ dậy thì, trẻ càng phản ứng rất tiêu cực khi cha mẹ tự ý đăng thông tin về con trên mạng. Nhiều cha mẹ cho biết họ đã bị con chặn face, con giận cha mẹ khi thấy cha mẹ nói gì đó về con trên mạng…Với trẻ nhỏ, trẻ chưa biết việc cha mẹ đăng hình, nhưng khi trẻ lớn lên, những gì trẻ nhìn thấy về mình xuất hiện trên mạng sẽ khiến trẻ ám ảnh, ngại ngùng, bất mãn…Không ai muốn bị phơi bày về bản thân cho người khác bình phẩm. Cha mẹ cũng vậy, sao lại làm với con? Khi cha mẹ tôn trọng con là một con người, một cá thể duy nhất, độc lập, cần được sống tự do thì cha mẹ sẽ hiểu việc quyết định có chia sẻ thông tin cho ai đó hay không là quyền của con. Cha mẹ không thể lấy quyền phụ huynh mà định đoạt. Mặc dù có thể xuất phát từ tình yêu thương, hoàn toàn không cố ý nhưng vì chủ quan, không hiểu biết đầy đủ quy định của pháp luật nên đã thực hiện hành vi vi phạm đến quyền riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em, đặc biệt là sự xâm phạm về hình ảnh cá nhân.

Thực tế, việc phụ huynh đăng hình ảnh của con lên Facebook đã được nhiều nước đưa vào luật. Trong đó, các bậc cha mẹ có thể phải đối mặt với một khoản phạt tiền hoặc ngồi tù chỉ vì “khoe” hình ảnh con cái của mình lên mạng xã hội. Còn ở Việt Nam, đây là lần đầu tiên vấn đề này chính thức được đưa vào Luật. Nhiều cha mẹ khoe ảnh, thông tin của con lên mạng xã hội mà không kiểm tra đầy đủ quyền thiết lập riêng tư sẽ khiến con có thể đối mặt với nhiều vấn đề nguy hại. Chính vì vậy, theo Nghị định 56 quy định về cơ chế để bảo vệ trẻ em bằng cách : trẻ em có thể bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, gửi thông tin mà các em cho rằng bất lợi đối với mình bằng cách gọi điện đến tổng đài quốc gia về trẻ em 18001567. Đây là điện thoại tư vấn, hỗ trợ cho trẻ em do Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội vận hành. Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em hoạt động 24 giờ tất cả các ngày, được Nhà nước bảo đảm nguồn lực hoạt động.

Hiện nay việc xử lý, chế tài chưa được quy định cụ thể. Nếu những người đăng thông tin này không phải cha mẹ của trẻ thì cha mẹ của trẻ có quyền khởi kiện, yêu cầu người đăng phải gỡ bỏ thông tin, đính chính, bồi thường thiệt hại… Nhưng nếu người đăng thông tin là cha mẹ của trẻ mà chính cha mẹ của trẻ lại là người giám hộ đương nhiên thì không thể thực hiện được việc khởi kiện. Hơn nữa, liên quan đến việc xin phép con, “sẽ có một kết quả là nếu bố mẹ tự ý đăng ảnh con và bị phạt thì các con sẽ lại trả lời rằng các cháu có đồng ý. Và ai là người sẽ chứng kiến việc đồng ý hay không đồng ý của các cháu?”. Vì vậy, để tránh vi phạm pháp luật và đặc biệt là bảo đảm được sự an toàn cho các con bố mẹ cần thay đổi tư duy, tôn trọng ý kiến của con và hiểu được các mối nguy hiểm khi đăng tải quá nhiều hình ảnh, thông tin cá nhân của con lên các trang mạng xã hội.Vì thế, việc nâng cao ý thức của phụ huynh trong việc thực hiện Luật Trẻ em là rất cần thiết.

Như vậy, dù hiện nay Luật đã quy định, tuy vẫn còn nhiều kẽ hở, thiếu sót nhưng từ đây các bậc làm cha, làm mẹ nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung đã biết việc đăng tải thông tin bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em không chỉ là vi phạm pháp luật mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, an toàn của trẻ. Chỉ vì một chút “khoe con” mà có thể con cái mình trở thành nạn nhân của những tệ nạn xã hội… Vì vậy, “ hãy yêu con vì bạn thấy hạnh phúc chứ không phải để chứng tỏ với thế giới ”.

Tổng hợp những mẫu đơn dành cho Đảng viên


Để thuận tiện trong quá trình hoạt động và phát triển Đảng viên. Sau đây mình sẽ tổng hợp những mẫu đơn phổ biến dành cho Đảng viên, để các bạn có thể lưu lại và sử dụng sau này:

1. Các mẫu đơn xin gia nhập Đảng.

– Đơn xin vào Đảng – Mẫu 1- KNĐ;

– Lý lịch của người xin vào Đảng – Mẫu 2- KNĐ;

– Giấy giới thiệu người vào Đảng – Mẫu 3- KNĐ;

– Giấy giới thiệu cử đảng viên hoặc cấp ủy viên đi thẩm tra lý lịch của người xin vào Đảng – Mẫu 19-KNĐ;

– Bản tự kiểm điểm của đảng viên dự bị (đề nghị công nhận đảng viên chính thức) – Mẫu 10- KNĐ;

– Bản nhận xét đảng viên dự bị (của đảng viên được phân công giúp đỡ) – Mẫu 11- KNĐ;

– Tổng hợp ý kiến của các đoàn thể chính trị – xã hội nơi người vào Đảng sinh hoạt và chi ủy nơi cư trú đối với người vào Đảng (Mẫu 5-KNĐ)

– Lý lịch đảng viên – Mẫu 1- HSĐV

2. Mẫu đơn xin rời khỏi đảng;
 
– Đơn xin ra khỏi đảng – Tham khảo Mẫu 01;
 
3. Mẫu đơn tự kiểm điểm, kỷ luật bản thân của đảng viên.
 
– Bản tự kiểm điểm – Tham khảo Mẫu 02;
 
4. Mẫu đơn liên quan đến Thẻ Đảng viên.
 
– Phiếu đảng viên (Mẫu 2-HSĐV)
 
– Phiếu bổ sung hồ sơ đảng viên (Mẫu 3-HSĐV) 
 
– Mẫu đơn xin cấp lại thẻ Đảng viên – Tham khảo Mẫu 03;
 
– Bản kiểm điểm về việc mất thẻ Đảng viên – Tham khảo mẫu 04;
 
5. Các mẫu đơn khác:
 
– Mẫu đơn xin đi nước ngoài của Đảng viên – Tham khảo mẫu 05;
 
– Mẫu đơn chuyển sinh hoạt Đảng – Tham khảo Mẫu 06;
 
– Bản tự kiểm điểm Đảng viên sinh con thứ 3 – Tham khảo Mẫu 07;
 
Các mẫu “tham khảo” được lấy từ VnDoc.com.

Căn cứ: Điều lệ đảng cộng sản việt nam; Hướng dẫn 01-HD/TW năm 2016 về thi hành Điều lệ Đảng do Ban Chấp hành Trung ương ban hành; Hướng dẫn 09-HD/BTCTW về Nghiệp vụ công tác đảng viên; Quy định 102-QĐ/TW năm 2017 về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm do ban chấp hành trung ương ban hành.

Các bạn xem tham khảo nếu mình thiếu văn bản nào nữa thì mình cùng bổ sung nhé!


Tham khảo >>>Danh mục các biểu mẫu dùng trong Đảng;

                   >>>Là Đảng viên, ít nhất bạn phải biết 12 điều sau đây:

Điều kiện đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi: Điều kiện đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán?. Tôi muốn được hoạt động dịch vụ kế toán riêng lẻ (không thành lập doanh nghiệp) thì phải thỏa mãn những điều kiện gì ạ?

Câu trả lời: Quy định về hành nghề dịch vụ kế toán được quy định tại Điều 58 Luật Kế toán 2015. Cụ thể:

“Điều 58. Đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán

1. Người có chứng chỉ kế toán viên hoặc chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của Luật kiểm toán độc lập được đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán qua doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc hộ kinh doanh dịch vụ kế toán khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự;

b) Có thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán, kiểm toán từ 36 tháng trở lên kể từ thời điểm tốt nghiệp đại học;

c) Tham gia đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức theo quy định.

2. Người có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện đăng ký hành nghề và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán. Bộ Tài chính quy định thủ tục cấp và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán.

3. Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán chỉ có giá trị khi người được cấp có hợp đồng lao động làm toàn bộ thời gian cho một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc làm việc tại hộ kinh doanh dịch vụ kế toán.

4. Những người không được đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán gồm: 

…”.

Như vậy, theo quy định trên, để hành nghề dịch vụ kế toán, thì chị cần phải có chứng chỉ kế toán viên hoặc chứng chỉ kiểm toán viên. Và phải có hợp đồng lao động làm toàn bộ thời gian cho một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc làm việc tại hộ kinh doanh dịch vụ kế toán.

Những điều cần lưu ý khi ra khỏi Đảng


Xem thêm: Là Đảng viên, ít nhất bạn phải biết 12 điều sau đây;

                  Tất tần tật quy định về thời hạn giải quyết các thủ tục về hộ tịch;

                  Cập nhật các trường hợp không được ủy quyền;


Căn cứ Điều 8 Điều lệ Đảnta thấy có hai trường hợp là Đảng viên bị xóa tên khỏi danh sách Đảng viên:

+ Trường 1: Đảng viên vi phạm quy định về Điều lệ Đảng bị xem xét xóa tên trong danh sách Đảng viên;

+ Trường hợp 2: là Đảng viên không vị phạm tư cách Đảng viên và tự xin ra khỏi Đảng;

Vậy trong hai trường hợp này được quy định như thế nào và cần lưu ý những gì sau khi rời Đảng. Nội dung dưới đây mình sẽ nêu các quy định của pháp luật về các trường hợp nêu trên

* Đối với trường hợp 1:

Chi bộ xem xét xóa tên những Đảng viên vi phạm như sau:

+ Đảng viên bỏ sinh hoạt Đảng hoặc không đóng Đảng phí ba tháng trong năm mà không có lý do chính đáng;

+ Đảng viên tự ý trả Thẻ Đảng viên hoặc tự hủy Thẻ Đảng viên;

+ Đảng viên giảm sút ý chí phấn đấu, không làm nhiệm vụ Đảng viên, đã được chi bộ giáo dục nhưng sau thời gian 12 tháng phấn đấu không tiến bộ; Đảng viên hai năm liền vi phạm tư cách Đảng viên;

+ Đảng viên không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị theo quy định của Bộ Chính trị 

Căn cứ: (Quy Định tại Điều 8 Quy định 29-QĐ/TW và Hướng dẫn 01-HD/TW);

LƯU Ý:

– Nếu Đảng viên có khiếu nại, thì gửi đơn khiếu nại trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định xóa tên;

– Từ khi nhận được đơn khiếu nại từ Đảng viên thì cơ quan có thẩm quyền cấp ủy có trách nhiệm phải giải quyết trong thời hạn không quá 90 ngày làm việc đối với cấp tỉnh, huyện và tương đương; không quá 180 ngày làm việc đối với cấp Trung ương;

– Không xem xét giải quyết trong trường hợp: Quá thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày đảng viên nhận được quyết định xóa tên; đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét, kết luận; cá nhân hoặc tập thể khiếu nại hộ; khiếu nại khi chưa có quyết định xóa tên của cấp ủy đảng có thẩm quyền;

Vậy, khi nhận được quyết định xóa tên Đảng viên, bạn phải lập tức nghiên cứu kĩ. Nếu bạn cảm thấy có có điều không hợp tình, hợp lý thì khiếu nại ngay tránh mất quyền lợi bản thân; nhưng đừng quên những trường hợp không được xem xét giải quyết đấy;

* Đối với trường hợp 2:

Chỉ xem xét cho ra khỏi Đảng đối với những đảng viên chưa vi phạm về tư cách. Nếu vi phạm tư cách đảng viên thì phải xử lý kỷ luật về Đảng, sau đó mới xét cho ra khỏi Đảng.

Thủ tục xin ra khỏi đảng viên:

– Đảng viên xin ra khỏi Đảng phải làm đơn, nói rõ lý do xin ra khỏi Đảng, báo cáo chi bộ;

– Chi bộ, đảng ủy bộ phận (nếu có), đảng ủy cơ sở xem xét, báo cáo cấp ủy có thẩm quyền xét, quyết định cho ra khỏi Đảng và làm thủ tục xóa tên trong danh sách đảng viên;

– Đảng ủy cơ sở được ủy quyền kết nạp đảng viên, khai trừ đảng viên thì ra quyết định xóa tên trong danh sách đảng viên.

LƯU Ý:

Đảng viên đã được cấp ủy có thẩm quyền quyết định cho ra khỏi Đảng, nếu có nhu cầu được cấp giấy xác nhận tuổi đảng thì cấp ủy có thẩm quyền xét, cấp “Giấy xác nhận tuổi đảng” cho những người đó.

Vậy sau khi xem xét thấy hợp lệ cơ quan chi bộ có thẩm quyền sẽ gửi quyết định để bạn được xóa tên khỏi danh sách Đảng viên.

* Trường hợp đã rời Đảng và có mong muốn vào lại thì có dễ dàng không?

– Chỉ chấp nhận quay lại Đảng 1 lần;

– Thời gian quay lại Ít nhất là 36 tháng kể từ khi ra khỏi Đảng (riêng người bị án hình sự về tội ít nghiêm trọng thì phải sau 60 tháng kể từ khi được xóa án tích);

– Làm đơn xin kết nạp lại vào Đảng; phải được ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy (hoặc tương đương) đồng ý bằng văn bản, cấp ủy có thẩm quyền (huyện ủy và tương đương) xem xét, quyết định;

– Những Đảng viên xin kết nạp lại cần trải qua một thời gian dự bị;

– Thực hiện lại thủ tục kết nạp Đảng ban đầu theo quy định tại khoản 1,2,3 Điều 4 Điều lệ Đảng;

Không xem xét, kết nạp lại những người trước đây ra khỏi Đảng vì lý do:

– Tự bỏ sinh hoạt đảng; làm đơn xin ra Đảng (trừ trường hợp vì lý do gia đình đặc biệt khó khăn);

– Gây mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng; bị kết án vì tội tham nhũng; bị kết án về tội nghiêm trọng trở lên.

Do đó, bạn chỉ cần cố gắng để hoàn thiện bản thân về phẩm chất đạo đức, trình độ… thì vẫn có cơ hội đước xét kết nạp Đảng lại.

Căn cứ: Khoản 5, Điều 7 Quyết định 29/QĐ-TW

Tham khảo mẫu đơn trong file đính kèm: 

Đăng ký khai sinh cho con có mất phí không?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Xin chào Cộng đồng Dân luật, tôi tên Minh sinh sống và làm việc tại Nghệ An. Vợ tôi sinh con được hơn một tuần và giờ tôi muốn đi đăng ký khai sinh cho con, thì tôi sẽ đăng ký tại cơ quan nào? Đóng phí bao nhiêu? Tôi có thể tìm hiểu tại văn bản pháp luật nào? Mong sớm nhận được câu trả lời, chân thành cảm ơn!

Trả lời:

– Căn cứ theo quy định tại Điều 13 Luật hộ tịch 2014, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh.

Bên cạnh đó, thì theo Khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú 2006 có quy định: Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

– Theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Luật Hộ tịch 2014, miễn lệ phí đăng ký hộ tịch trong những trường hợp sau:

+ Đăng ký hộ tịch cho người thuộc gia đình có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật;

+ Đăng ký khai sinh, khai tử đúng hạn, giám hộ, kết hôn của công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.

Vậy theo như thông tin chia sẻ trên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký thường trú hoặc nơi tạm trú của anh hoặc của vợ sẽ là cơ quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho con của anh chị. Trường hợp đăng ký khai sinh cho con là công dân Việt Nam và cư trú ở trong nước thì được miễn lệ phí đăng ký hộ tịch.

Trường hợp đăng ký khai sinh không đúng hạn (quá 60 ngày kể từ ngày sinh con) thì phải đóng lệ phí tùy thuộc vào điều kiện thực tế của địa phương mà quy định mức thu cho phù hợp (Theo Điểm c Khoản 2 Điều 5 Thông tư 250/2016/TT-BTC).

Trên đây là nội dung tư vấn: Có phải đóng lệ phí khi đăng ký khai sinh cho con. Để hiểu rõ và chi tiết hơn vui lòng xem thêm tại Luật Hộ tịch 2014. Mong là những thông tin chia sẻ trên đây sẽ giúp ích cho bạn.

Trân trọng!

Không có hộ khẩu có xin cấp đăng ký xe tại Hà Nội được không?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Em hiện có hộ khẩu tại Quảng Ninh, nhưng đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội, em muốn xin cấp đăng ký xe tại Hà Nội, vậy em có thể lấy địa chỉ tại Cơ quan đang công tác để thực hiện đi đăng ký xe được không?

Trả lời:

Nội dung đăng ký xe và làm biển số xe được hướng dẫn tại Thông tư 15/2014/TT-BCA, cụ thể, khi làm biển số xe, chủ xe phải cung cấp các giấy tờ của mình sau theo quy định tại Điều 9 Thông tư 15/2014/TT-BCA:

“Điều 9. Giấy tờ của chủ xe

1. Chủ xe là người Việt Nam, xuất trình một trong những giấy tờ sau:

a) Chứng minh nhân dân. Trường hợp chưa được cấp Chứng minh nhân dân hoặc nơi đăng ký thường trú ghi trong Chứng minh nhân dân không phù hợp với nơi đăng ký thường trú ghi trong giấy khai đăng ký xe thì xuất trình Sổ hộ khẩu.

b) Giấy giới thiệu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác, kèm theo Giấy chứng minh Công an nhân dân; Giấy chứng minh Quân đội nhân dân (theo quy định của Bộ Quốc phòng).

Trường hợp không có Giấy chứng minh Công an nhân dân, Giấy chứng minh Quân đội nhân dân thì phải có giấy xác nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác.

c) Thẻ học viên, sinh viên học theo hệ tập trung từ 2 năm trở lên của các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, học viện; giấy giới thiệu của nhà trường.”

Theo đó thì về thông thường, biển số Hà Nội chỉ cấp cho người có hộ khẩu Hà Nội. Ngoại trừ những đối tượng sau có thể được đăng ký biển số xe Hà Nội như:

– Học sinh, sinh viên đang theo học hệ tập trung từ 2 năm trở lên của các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, học viện trên địa bàn thành phố Hà Nội với điều kiện có thẻ sinh viên và giấy giới thiệu của nhà trường thì cũng có thể được đăng ký biển số xe Hà Nội.

– Quân nhân và công an không có hộ khẩu Hà Nội nhưng đang công tác trên địa bàn và có đầy đủ Giấy giới thiệu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác, kèm theo Giấy chứng minh Công an nhân dân; giấy chứng minh Quân đội nhân dân (theo quy định của Bộ Quốc phòng); trường hợp không có Giấy chứng minh Công an nhân dân, giấy chứng minh Quân đội nhân dân thì phải có giấy xác nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác cũng có thể đăng ký biển số xe tại Hà Nội.