Nghi ngờ bắt có trẻ em dân quây đốt xe Forturer tại Hải Dương

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Vào đêm 20/7, trên mạng xã hội Facebook xuất hiện một video clip ghi lại cảnh tượng người dân huyện Thanh Hà, Hải Dương bắt giữ một nhóm gồm 3 người đi xe ô tô Fortuner biển Hải Dương. Đám đông còn đập phá và đốt chiếc xe ô tô. Thông tin đăng tải trên mạng xã hội còn cho rằng nhóm người trong xe ô tô thôi miên, bắt cóc trẻ em, bị người dân phát giác.

Những hình ảnh và thông tin này thu hút sự quan tâm của đông đảo cư dân mạng. Để tìm hiểu rõ thực hư sự việc, sáng ngày 21/7, ông Vũ Xuân Hào – Chủ tịch UBND xã Hồng Lạc, huyện Thanh Hà, Hải Dương, xác nhận có xảy ra sự việc trên tại địa bàn xã. Tuy nhiên ông khẳng định: “Thông tin cho rằng nhóm người trên xe ô tô có hành động bắt cóc trẻ em là hoàn toàn không đúng sự thật”. Ông cho biết thêm, lực lượng công an huyện, cơ động đã được huy động đến để đảm bảo an toàn cho những người đã bị dân bắt giữ. Chiếc xe Fortuner đã bị đốt cháy trơ khung. Lãnh đạo huyện Thanh Hà đang có mặt tại hiện trường để điều tra, làm rõ vụ việc.

Ý kiến trả lời của Luật sư như sau:

 

Hành vi của những người dân bắt giữ người trái phép và đốt phá chiếc xe Fortuner đã xâm phạm quyền tự do của công dân và xâm phạm sở hữu.

Cụ thể, với hành vi bắt giữ người trái phép, các cá nhân trực tiếp thực hiện hành vi này có thể cấu thành tội bắt, giữ người trái pháp luật được quy định tại Điều 123 BLHS hiện hành. Theo thông tin trên truyền thông thì người dân mới tiến hành bắt và giữ người trái phép 2 người trong 3 người trên xe Fortuner mà chưa có hành vi giam trái phép. Bắt người trái pháp luật là hành vi bắt người mà không có lệnh của những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, không thuộc trường hợp phạm tội quả tang, không thuộc trường hợp bắt người có lệnh truy nã hoặc tuy có lệnh của những người có thẩm quyền nhưng việc tiến hành bắt không đúng thủ tục như bắt người vào ban đêm (sau 22 giờ) mà không thuộc trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang. Hình thức bắt có thể là dùng vũ lực như trói, khoá tay hoặc đe doạ dùng vũ lực buộc người bị bắt phải đến nơi mà người phạm tội đã chọn. Giữ người trái pháp luật là hành vi ra lệnh tạm giữ người không đúng với quy định của pháp luật; giữ người không có lệnh của người có thẩm quyền; giữ người quá hạn; giữ người thuộc trường hợp không được tạm giữ. Với hành vi cụ thể trong trường hợp này thì các cá nhân trực tiếp thực hiện hành vi có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Với hành vi đốt phá chiếc xe Fortuner của người dân thì có thể cấu thành tội Hủy hoại tài sản của người khác theo Điều 143 BLHS hiện hành. Huỷ hoại tài sản là làm cho tài sản mất hẳn giá trị sử dụng không thể khôi phục lại được và như vậy toàn bộ giá trị tài sản không còn. Ở đây, chiếc xe ô tô đã bị cháy hoàn toàn, không thể khôi phục lại được. Với hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả cụ thể như vậy thì các cá nhân thực hiện hành vi đốt phá chiếc xe Fortuner có thể bị truy cứu theo Khoản 2 Điều 143 với tình tiết tăng nặng là dùng chất cháy nổ. Với hành vi này có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, tùy vào mức độ tham gia của từng cá nhân.

Tình trạng do nghi ngờ mà người dân đã trực tiếp thực hiện bắt giữ người, thậm chí đánh đập và phá hoại tài sản diễn ra không chỉ một hai trường hợp. Khi đó, mọi người kích động, chưa xác định cụ thể hành vi, mới dừng lại ở nghi ngờ mà đã thực hiện những hành vi trái pháp luật. Lời khuyên cho mọi người vào trường hợp này là cần xác minh cụ thể hành vi, sau đó tiến hành trình báo với cơ quan chức năng gần nhất, tránh trường hợp có những hành động không sáng suốt, biến mình từ “muốn bắt giữ tội phạm trở thành tội phạm”.

 

Lý do đề nghị xét xử vắng mặt bị hại


Phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự số 386/2019/HSPT ngày 16/09/2019 vào lúc 14 giờ ngày 29/10/2019 tại Phòng số 9 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại đề nghị xét xử vắng mặt với các lý do sau:

1.         Đến nay, tôi vẫn chưa được xem Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 30/07/2019 của Tòa án nhân dân quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

2          Thư ký Tòa án Nguyễn Kim Thanh Xuân trả lời là: Tòa án không cho phép cung cấp căn cứ pháp luật (tên văn bản quy định) về việc ghi âm và ghi hình phiên tòa cho tôi.

3.         Cơ quan cảnh sát điều tra không làm rõ sự liên quan của Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ Phát Minh Vượng trong vụ án này. Đây là dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và cơ hội cho tội phạm có tổ chức hoạt động trong vỏ bọc doanh nghiệp gây nguy hiểm cho xã hội phát triển.

4.         Ông Thái Thành Chung tiếp tục không tham gia tố tụng để làm rõ sự thật và tình tiết tăng nặng.

5.         Tòa án không trả lời có hay không có tài liệu bổ sung trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án này.

6.         Tôi không có niềm tin rằng: Các tranh luận của tôi sẽ được lắng nghe và các yêu cầu của tôi sẽ được chấp nhận.

7.         Đơn kháng cáo của tôi đã trình bày đầy đủ, rõ ràng, trung thực và khách quan vụ việc và các tình tiết của vụ án. Tôi phản đối và bác bỏ mọi nội dung trái với những nội dung đã trình bày trong đơn kháng cáo của tôi.

Vì các lý do trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt tôi theo Quyết định số 4740/QĐXXPT-HS ngày 08/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, công bố công khai đầy đủ nội dung đơn này và đơn kháng cáo của tôi tại phiên tòa.

Tìm xem chi tiết hồ sơ vụ án: bảo vệ pmv trần quốc dũng

Doanh nghiệp lần đầu không làm thủ tục hải quan có bị xử phạt không?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Doanh nghiệp không làm thủ tục hải quan theo đúng thời hạn quy định tại Điều 25 Luật hải quan 2014 sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 6 Nghị định 45/2016/NĐ-CP.

Việc vi phạm về thủ tục hải quan có thuộc diện kiểm soát cao (luồng đỏ) hay không, cơ quan hải quan sẽ căn cứ vào tiêu chí đánh giá việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp như tần suất vi phạm pháp luật hải quan và pháp luật thuế; tính chất, mức độ vi phạm pháp luật hải quan và pháp luật thuế; việc hợp tác với cơ quan hải quan trong thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan và chấp hành các quyết định khác của cơ quan hải quan (khoản 1 Điều 14 Nghị định 08/2015/NĐ-CP). Từ đó cơ quan hải quan sẽ phân loại mức độ rủi ro trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh được thực hiện (Điều 15 Nghị định 08/2015/NĐ-CP).

Theo Nghị định 08/2015/NĐ-CP, nếu hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu của các chủ hàng nhiều lần vi phạm pháp luật Hải quan, hàng hóa thuộc diện miễn kiểm tra thực tế nhưng cơ quan hải quan phát hiện có dấu hiệu vi phạm qua phân tích thông tin của cơ quan, thì hàng hóa đó sẽ buộc phải tiến hành kiểm tra thực tế (Tùy trường hợp, có thể kiểm tra bằng máy móc hoặc thủ công). Và vì vậy, hàng hóa lúc này hiển nhiên được phân vào nhóm luồng đỏ, với các biện pháp kiểm tra cẩn trọng hơn.

Việc vi phạm về thời hạn thủ tục hải quan của doanh nghiệp là lần đầu vi phạm và vì thế có thể doanh nghiệp sẽ không rơi vào trường hợp kiểm soát cao, tuy nhiên doanh nghiệp cần hợp tác với cơ quan hải quan trong việc thực hiện thủ tục kiểm tra giám sát hải quan.

Cần căn cứ vào việc kiểm tra chi tiết hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa của cơ quan hải quan theo quy định tại mục 3 Thông tư 38/2015/TT-BTC.

 

Năm 2020 mức bồi thường thiệt hại trong dân sự tăng vượt bậc?


Năm 2020 mức bồi thường thiệt hại trong dân sự tăng vượt bậc?

Tham khảo:

>>> Khi nào cha, mẹ có trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do bị cáo là chưa thành niên gây ra?

>>> Phân biệt phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại;

>>> 04 trường hợp được giảm mức bồi thường thiệt hại;

Tiếp tục với sức nóng của việc tăng lương cơ sở từ 1.49 triệu đồng theo quy định hiện hành lên 1.6 triệu đồng theo dự kiến của chính phủ, đã kéo theo hàng loạt các khoản chi phí khác tăng theo, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong dân sự cũng được xem là tăng đáng kể mà người vi phạm cũng cần phải lưu ý, cụ thể tăng như thế nào? Mời bạn cùng tham khảo bài viết sau:

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo Bộ luật dân sự 2015 tại điều 584 đã quy định cụ thể về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với người vi phạm như sau:

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Do đó, theo các căn cứ nêu trên nếu người nào có hành vi vi phạm gây ảnh hưởng đến người khác trong một số trường hợp cụ thể sẽ bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Cụ thể mức bồi thường như thế nào cũng được Bộ luật dân sự 2015 nêu rõ tại mục 2, mục 3 Chương XX về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được tổng hợp một số hành vi phổ biến dưới bảng sau.

Mức bồi thường cụ thể trong các trường hợp phổ biến

Theo đó, căn cứ thêm đề xuất của chính phủ về việc tăng lương cơ sở lên 1,6 triệu đồng thì mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 cũng tăng vượt bậc.

STT

Mức bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể

Mức bồi thường tối đa bị ấn định theo quy định, nếu không tự thỏa thuân được

Mức bồi thường tối đa theo quy định hiện hành

(Mức lương cơ sở 1.49 triệu đồng, căn cứ: Nghị định 38/2019/NĐ-CP)

Mức bồi thường tối đa từ 01/07/2020

(Mức lương cơ sở dự kiến 1.6 triệu đồng theo đề xuất của Chính Phủ.

1

Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

Không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định

(Căn cứ: khoản 2 Điều 590

74 500 000 đồng

80 000 000 đồng

2

Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

Không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định

(Căn cứ Điều 591)

149 000 000 đồng

160 000 000 đồng

3

– Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín

– Thiệt hại về mồ mả bị xâm phạm

Không quá 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định

(Căn cứ Điều 592 và Điều 607)

14 900 000 đồng

16 000 000 đồng

4

Thiệt hại do thi thể bị xâm phạm

Không quá 30 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định

(Căn cứ Điều 606)

44 700 000 đồng

48 000 000 đồng

Do đó, từ nay phải cẩn thận hơn, hạn chế gây thiệt hại đến người khác, tránh trường hợp lương tăng dẫn đến ăn chơi xa đọa và gánh hậu quả khó lường.

Phân biệt phạm tội hai lần trở lên và tái phạm trong hình sự


Tham khảo

>>> Xác định tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?;

>>> Nhận diện tình tiết Tái phạm và Tái phạm nguy hiểm;

Phạm tội hai lần trở lên và tái phạm là hai tình tiết được xác định là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Trong quá trình áp dụng có thể các bạn có thể nhầm lẫn một trong hai khái niệm này không biết trường hợp nào thì áp dụng là tái phạm? trường hợp nào là áp dụng theo phạm tội hai lần trở lên? sau đây mình sẽ tổng hợp bảng so sánh sau. Hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn trong quá trình nghiên cứu.

Tiêu chí

Phạm tội hai lần trở lên

Tái phạm

Khái niệm

Trước đây, trong BLHS năm 1999, có đưa ra tình tiết phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 (các tình tiết tăng nặng TNHS). Hiện nay, tại BLHS 2015 sử dụng cụm từ Phạm tội hai lần trở lên” tại điểm g khoản 1 Điều 51. Tuy nhiên, cả BLHS 1999 và 2015 vẫn không nêu ra khái niệm cụ thể đối với phạm tội nhiều lần là như thế nào. Nhưng thông qua một số văn bản hướng dẫn từ phía các cơ quan tư pháp trung ương hướng dẫn trong các tội cụ thể như sau:

Ví dụ theo quy định tại Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 thì quy định là phạm tội hai lần được hiểu là phạm cùng một tội, từ 02 lần trở lên, nhưng những lần trước chưa bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội danh đó.

Bạn xem thêm TẠI ĐÂY;

Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Căn cứ khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự 2015.

Đặc điểm

Xét về bản chất của tình tiết “Phạm tội nhiều lần” nay là “Phạm tội 02 lần trở lên” có các đặc điểm sau:

– Thứ nhất: phạm tội 02 lần trở lên là người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng hoặc nhiều đối tượng khác nhau

Ví dụ: bạn trộm cắp tài sản ở cửa hàng A lần 1 không bị phát hiện, sau đó bạn tiếp tục trộm tại cửa hành B và bị phát hiện (lưu ý: không hạn chế có thể hơn hai lần bạn mới bị phát hiện). Lúc này bạn sẽ căn cứ điểm g khoản 1 Điều 52 thì bạn sẽ có tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên để định khung hình phạt….

– Thứ hai: Xét riêng từng hành vi phạm tội riêng lẽ thì mỗi hành vi ấy đã đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập.

– Thứ ba: các hành vi phạm tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật, như: Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án… và cùng bị đưa ra xét xử một lần trong cùng một vụ án.

– Thứ tư: Là tất cả các hành vi phạm tội đó đều được quy định tại một điều luật cụ thể trong phần riêng Bộ luật hình sự (cùng là tội trộm cắp, hiếp dâm…), có thể cùng một khoản, cũng có thể phạm tội ở các khoản khác nhau của cùng một điều luật.

– Thứ năm: Nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại.

(Tham khảo: Phạm Thị Hồng Đào – moj.gov.vn)

– Một là, người đó đã bị kết án. Người đã bị kết án là người có bản án kết tội của Toà án mà không phụ thuộc vào việc bản án đó có hiệu lực PL hay chưa.

Vì vậy, ngay từ khi tuyên án kết tội thứ nhất đối với một người mà người đó lại phạm tội mới theo quy định tại khoản 1 điều 53 thì được coi là tái phạm (quy định này không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội).

– Hai là, người bị kết án chưa được xoá án tích. Điều này có nghĩa là điều kiện bắt buộc là việc kết án đó phải phát sinh án tích và án tích chưa được xoá, mà người đó lại phạm tội mới thì mới xem là tái phạm.

– Ba là, phạm tội mới do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Để xác định tái phạm, luật hình sự quy định tội phạm mới được thực hiện phải thuộc một số trường hợp phạm tội nhất định như phạm tội mới do cố ý, hoặc tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý, thể hiện nhân thân của người phạm tội không chịu tiếp thu các biện pháp cải tạo giáo dục của pháp luật.

Bạn xem chi tiết TẠI ĐÂY;

Căn cứ pháp lý

Điều 55 Bộ luật hình sự 2015

Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ban hành ngày 24/12/2007.

Thông tư liên tịch 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ban hành ngày 14/11/2015;

Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ban hành ngày 12/05/2006;

Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của HĐTP TANDTC ban hành ngày 17/04/2003;

Lưu ý: các văn bản trên tính tới thời điểm hiện tại vẫn còn hiệu lực.

Điều 53 Bộ luật hình sự 2015;

 

Một trong hai người ủy quyền chết: hợp đồng ủy quyền thực hiện như thế nào?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Đây là một tình huống mình thấy rất hay trên FB của một vị luật sư, là một tình huống trong thực tế nên mình viết lại để mọi người thảo luận về trường hợp này. Mình cũng không có câu trả lời cụ thể, hi vọng mọi người sẽ cùng thảo luận để tìm ra cách giải quyết hợp lý nhất.

Tình huống:

A và B cùng ủy quyền cho C thực hiện việc chuyển nhượng một miếng đất (miếng đất này là đứng tên A và B, đồng sở hữu).

Thời gian ủy quyền: 05 năm từ 01/01/2017.

Tuy nhiên đến năm 06/2018 B chết.

Vậy trong trường hợp này hợp đồng ủy quyền sẽ xử lý như thế nào?

Vướng mắc:

– Hợp đồng ủy quyền tiếp tục thực hiện vì vẫn còn chủ thể khác còn sống

– Nội dung hợp đồng liên quan đến tài sản của A vẫn tiếp tục thực hiện

– Hợp đồng ủy quyền chấm dứt toàn bộ

Mở rộng vấn đề:

Nếu muốn đi sâu hơn vào tình huống này mình sẽ bổ sung thêm.

Với hợp đồng ủy quyền như trên, B chết, C vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng vì A và C ở rất xa nên C không biết B đã chết.

Sau ngày B chết một ngày C đã ký hợp đồng mua bán với D, việc công chứng đã hoàn tất, hai bên đã giao tiền xong thì mới biết là B đã chết thì lúc đó sẽ xử lý như thế nào? Nếu D không chấp nhận việc trả lại miếng đất.

Tổ chức hành nghề công chứng có phải chịu trách nhiệm bồi thường gì không?

Cá nhân có thu nhập từ hai nơi trở lên

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Cá nhân A vừa ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, vừa ký hợp đồng khoán việc tại một công ty. Trong năm 2016 cá nhân A vừa có thu nhập từ tiền lương, vừa có thu nhập từ khoán việc. Thu nhập từ khoán việc công ty giữ lại 10% thuế TNCN
Xin hỏi :
1) Công ty ký 2 loại hợp đồng với cá nhân A như vậy có đúng không?
2) Khi quyết toán thuế TNCN 2016, nếu cá nhân A có ủy quyền cho công ty Quyết toán thì công ty có tính thêm thu nhập từ khoán việc vào thu nhập từ tiền lương để quyết toán không?
 

Về mặt quy định thì không có điều khoản nào cấm việc ký 2 hợp đồng lao động với cùng 1 người lao động, tuy nhiên trên thực tế, các cơ quan quản lý lao động và Bảo hiểm xã hội sẽ không chấp nhận.

Nếu giả sử công ty đã làm 2 hợp đồng như vậy, người lao động có 2 khoản tiền lương, tiền công như anh nêu mà có hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên thì tính tổng thu nhập để tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần ban hành theo Thông tư 111/2013/TT-BTC Hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân.

Trường hợp cả 2 hợp đồng đều có thời hạn dưới 3 tháng thì mới khấu trừ thuế TNCN là 10% nếu mỗi lần chi trả thu nhập từ 2.000.000 đồng trở lên.
Người lao động trong năm chỉ có duy nhất thu nhập bên anh hoặc có thu nhập bên anh, đồng thời có thêm thu nhập vãng lai ở nơi khác bình quân không quá 10 triệu đồng/tháng, đã bị khấu trừ 10% thuế TNCN tại nơi này và còn làm việc bên anh tại thời điểm quyết toán thuế thì được ủy quyền cho bên công ty anh quyết toán thuế thu nhập cá nhân căn cứ Thông tư 92/2015/TT-BTC. Các trường hợp khác thì người lao động tự quyết toán với cơ quan thuế. Thu nhập để quyết toán thuế ở công ty anh là tổng tiền lương trả theo thời gian và tiền lương khoán, tức là tổng tiền lương, tiền công của cả 2 hợp đồng.