Không dừng xe theo hiệu lệnh của cảnh sát giao thông có thể bị xử lý hình sự?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Tình trạng người dân chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh dừng xe, kiểm tra giấy tờ của cảnh sát giao thông ngày càng diễn ra nhiều. Vì nhiều nguyên nhân mà tình trạng này chưa có dấu hiệu giảm. Một trong những nguyên nhân đó là mọi người chưa nhận thức được mức độ nghiêm trọng của hành vi đó. Với hành vi này, người vi phạm có thể bị xử lý rất nặng, thậm chí là truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ theo Điều 257, một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.

Trong trường hợp người dân khi điều khiển phương tiện giao thông, nếu cảnh sát giao thông khi thấy có vi phạm Luật giao thông đường bộ, yêu cầu dừng xe, kiểm tra, lập biên bản thì chủ vị xử lý hành chính theo thủ tục hành chính. Tuy nhiên, nến người đó không dừng xe, có hành vi chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh thì trong nhiều trường hợp nghiêm trọng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ là vừa qua, tại Thành phố Biên Hòa,  tỉnh Đồng Nai xảy ra vụ việc một thiếu tá CSGT bám vào gương chiếu hậu bên trái xe tải yêu cầu dừng lại thì trượt ngã và bị bánh sau xe tải trên cán lên người tử vong tại chỗ. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã khởi tố tài xế xe tải về tội chống người thi hành công vụ.

Tuy nhiên, tùy vào từng hành vi, mức độ nghiêm trọng mà người vi phạm có thể  xét xử phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự. Đối với việc xử phạt hành chính thì theo quy định tại Điều 20, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ.

Nếu hành vi ở mức độ nghiêm trọng như vụ ở Thành phố Biên Hòa thì người đó mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì hành vi này đã đủ cấu thành tội phạm. Cụ thể theo Khoản 1 Điều 257 thì “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc  họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng  đến  ba năm”.

Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Đối tượng tác động của tội phạm này là người thi hành công vụ, thông qua việc xâm phạm đến người thi hành công vụ mà xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ công.

Người thi hành công vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao một nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. Người đang thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc, nếu chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc nhiệm vụ mà bị xâm phạm thì không thuộc trường hợp chống người thi hành công vụ, mà tuỳ trường hợp cụ thể để xác định một tội phạm khác có tình tiết vì lý do công vụ của nạn nhân. Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Trong trường hợp này, cảnh sát giao thông chính là người đang thi hành công vụ.

Người phạm tội chống người thi hành công vụ có thể thực hiện một trong các hành vi khách quan như: dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ… Với hành vì chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh dừng xe, có thể như có hiệu lệnh dừng xe mà vẫn đâm thẳng cảnh sát giao thông cũng được coi là dùng vũ lực đối với với người thi hành công vụ.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các hành vi khách quan là tội phạm đã hoàn thành. Nhiệm vụ có thể vẫn được thực hiện, mặc dù người phạm tội đã thực hiện hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ hoặc dùng thủ đoạn ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, về đường lối xử lý thực tiễn xét xử cho thấy, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp do có hành vi chống người thi hành công vụ mà dẫn đến việc thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ bị gián đoạn hoặc gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Qua sự phân tích trên thì người dân cần ý thức rõ hành vi không tuân thủ hiệu lệnh của cảnh sát giao thông có thể gây hậu quả nghiêm trọng như nào, từ đó, có ý thức hơn trong việc tuân thủ Luật giao thông đường bộ.

 

Thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


  • Thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án kinh doanh thương mại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  • 1. Thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án kinh doanh thương mại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • Thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại là 02 năm, kể từ ngày đương sự biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

    2. Một số thời hiệu khởi kiện cụ thể:

    – Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 Luật này (Điều 319 Luật thương mại năm 2005);

    – Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là 03 năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp (Điều 30 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000);

    – Thời hiệu khởi kiện về hư hỏng, mất mát hàng hóa hàng hóa vận chuyển theo chứng từ vận chuyển là 01 năm, kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng (Điều 97 Bộ luật hàng hải năm 2005);

    – Thời hiệu khởi kiện đối với vụ việc liên quan đến hợp đồng thuê tàu là 02 năm, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng (Điều 142 Bộ luật hàng hải năm 2005);

    – Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng đại lý tàu biển là 02 năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp (Điều 162 Bộ luật hàng hải năm 2005);

    – Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng cứu hộ hàng hải là 02 năm, kể từ ngày két thúc hành động cứu hộ (Điều 195 Bộ luật hàng hải năm 2005)

Khác biệt trong cách hiểu về “bất động sản hình thành trong tương lai” theo quy định pháp luật hiện hành


Bộ luật dân sự 2015 đã đưa ra định nghĩa về tài sản hình thành trong tương lai. Tại lĩnh vực chuyên ngành, Luật Kinh doanh bất động sản 2014 cũng có điều khoản định nghĩa về nhà ở, công trình xây dựng (bất động sản) hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ nội hàm hai định nghĩa này, chúng ta không khỏi đặt ra thắc mắc về sự khác biệt trong cách hiểu về bất động sản hình thành trong tương lai.

Bộ luật dân sự 2015

Luật Kinh doanh bất động sản 2014

Khoản 2 Điều 108 quy định:

2. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:

a) Tài sản chưa hình thành;

b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.

Khoản 4 Điều 3 quy định:

Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai là nhà, công trình xây dựng đang trong quá trình xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng.

Qua các quy định trên, có thể thấy sự khác biệt giữa Bộ luật dân sự 2015 và Luật kinh doanh bất động sản 2014 như sau:

 – Theo pháp luật dân sự:  nhà ở (hay công trình xây dựng) hình thành trong tương lai phải là:

  + Nhà ở (hay công trình xây dựng) chưa hình thành;

  + Hoặc đã hình thành nhưng chủ thể vẫn chưa được xác lập quyền sở hữu sau thời điểm xác lập giao dịch.

Theo quy định của pháp luật kinh doanh bất động sản: được xem là nhà ở (hay công trình xây dựng) hình thành trong tương lai nếu nhà ở (hay công trình xây dựng) đó đang được xây dựng nhưng chưa được nghiệm thu sử dụng. Nói rõ hơn, chỉ cần bất động sản chưa hoàn thành nhưng đang được xây dựng thì được coi là bất động sản hình thành trong tương lai. Đây chính là điểm khác biệt so với quy định tại Bộ luật dân sự 2015 khi mà việc xác định không hề dựa vào thời điểm chủ thể đã được xác lập quyền sở hữu hay chưa.

Xong, khi xem xét giao dịch trong kinh doanh bất động sản thì chúng ta sẽ tuân thủ theo quy định của pháp luật chuyên ngành (Luật Kinh doanh bất động sản 2014) để xác định xem đó có phải là bất động sản hình thành trong tương lai hay không. Còn những giao dịch dân sự khác thì sẽ áp dụng theo Bộ luật dân sự 2015.

 

NGƯỜI TIÊU DÙNG, TỪ NẠN NHÂN TRỞ THÀNH BỊ CÁO: VÌ THIẾU HIỂU BIẾT PHÁP LUẬT

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Luật sự Đoàn Khắc Độ

Không ít trường hợp, người tiêu dùng từ chỗ là nạn nhân đã trở thành bị cáo trong một vụ án hình sự, hoặc bị bắt tạm giữ hình sự, chỉ vì thiếu hiểu biết pháp luật, đã có những hành vi vi phạm pháp luật. Đơn cử là “vụ án con ruồi”, anh Võ Văn Minh từ chỗ nạn nhân của chai nước ngọt có con ruồi lại trở thành bị án; mới đây là vụ anh Nguyễn Cảnh Cường, ở TP.Vinh, do nóng ruột vì con uống sữa bị đau bụng đã xông vào siêu thị đập hư hỏng 07 lon sữa và bị công an bắt tạm giữ hình sự…. và còn nhiều vụ khác nữa… Anh Minh và anh Cường từ chỗ là nạn nhân của thực phẩm kém chất lượng đã trở thành bị can, bị cáo, bị tạm giữ hình sự.

Qua những sự  việc nêu trên, tôi muốn nói đến việc thực hiện cái quyền của người tiêu dùng trong việc bảo vệ quyền lợi của mình khi phải sử dụng sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng.

Trong quan hệ mua bán sản phẩm, hàng hóa giữa người bán và người tiêu dùng thì thường người tiêu dùng nằm ở bên yếu thế. Nhà nước cũng đã có các quy định để bảo vệ bên yếu thế này, thể hiện trong Luật Bảo Vệ quyền lợi người tiêu dùng (Luật BVQLNTD) và Luật An toàn thực phẩm (Luật ATTP) và các văn bản pháp luật có liên quan. Nhưng cần lưu ý là pháp luật chỉ bảo vệ cho hành vi đúng pháp luật.

KHI SỬ DỤNG THỰC PHẨM KHÔNG AN TOÀN, NGƯỜI TIÊU DÙNG NÊN HÀNH XỬ ĐÚNG PHÁP LUẬT

Quyền của người tiêu dùng thực phẩm được quy định khá rõ tại Điều 9 Luật ATTP. Trong đó có quyền “Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra.”.

Người tiêu dùng thực hiện quyền này thông qua một trong các cơ chế: Thương lượng; Hòa giải; Trọng tài; Tòa án (Điều 30 Luật BVQLNTD).

Như vậy, khi dùng một đồ ăn, thức uống không an toàn gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe thì người tiêu dùng có quyền yêu cầu nơi kinh doanh thực phẩm đó bồi thường thiệt hại. Nếu hai bên không thương lượng được thì có thể nhờ một tổ chức có thẩm quyền để hòa giải, hoặc khởi kiện ra Tòa hay Trọng tài.

Tóm lại: Khi người tiêu dùng bị thiệt hại do sử dụng các thực phẩm hoặc hàng hóa khác gây ra thì cần có cách thức phù hợp trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại, có thể tham khảo ý kiến của luật sư, các chuyên gia pháp luật, nhằm tránh những trường hợp đáng tiếc vì hành động bộc phát, mà từ tư cách là bị hại lại trở thành người vi phạm pháp luật, thậm chí là bị can, bị cáo trong vụ án hình sự. 

Luật sư Đoàn Khắc Độ, Giám đốc Công ty Luật TNHH Đại Đức

Điện thoại: 0903 168 986

Email: do@luatdaiduc.vn

Website: www.luatdaiduc.vn

Bài tập xác định hành vi xâm phạm nhãn hiệu SHTT


Công ty Reebok International Ltd (của Anh ) là chủ sở hữu nhãn hiệu Reebok và hình bông tuyết cho sản phẩm quần áo giày dép và đồ đi chân . Công ty giày da Hưng Thịnh muốn nộp đơn đăng kí và bảo hộ nhãn hiệu “Rebook” cho sản phẩm giày dép da do công ty mình sản xuất . Anh/ chị đánh giá về khả năng được cấp văn bằng bảo hộ của công ty giày da Hưng Thịnh ? Mn giúp e câu này với biết là công ty Reebok của Anh đã có đầy đủ chứng chỉ về nhãn hiệu được cấp tại việt nam

 

 

Hướng dẫn cách viết hợp đồng để không bị vô hiệu


Tham khảo:

>>> So sánh hợp đồng dân sự vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng dân sự:

>>> Hướng dẫn cách viết di chúc để không bị vô hiệu;

>>> Những điều khoản sai sót có thể làm hợp đồng vô hiệu;

Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 thì Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Theo đó, hợp đồng là một dạng của giao dịch dân sự và được thiết lập dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên. Vậy việc giao kết hợp đồng như thế nào để không bị vô hiệu? mời các bạn cùng tham khảo bài viết sau:

1. Về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Căn cứ theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 về giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

– Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

– Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Lưu ý: về hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Tham khảoTổng hợp các loại hợp đồng bắt buộc phải công chứng;

Về mặt chuyên ngành thì hợp đồng có hiệu lực nếu đảm bảo điều kiện về:

– Thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể thức nhất định phù hợp với những quy định của pháp luật đối với từng loại hợp đồng.

Ví dụ: Như hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất bắt buộc phải công chứng, chứng thực hoặc như hợp đồng hợp tác đầu tư BCC với nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện việc kê khai và thông báo với các cơ quan quản lý đầu tư.

– Nội dung phải có đủ nội dung theo hướng dẫn của luật chuyên ngành.

Vi dụ: Hợp đồng mua bán thì ngoài việc tuân thủ quy định cơ bản tại Bộ luật dân sự thì nếu mua bán đất đai cần tuân thủ quy định của luật đất đai, luật kinh doanh bất động sản, luật nhà ở,…

Theo đó, hợp đồng chỉ vô hiệu khi bị tòa án tuyên vô hiệu từng phần hay vô hiệu toàn phần. Nội dung bị tuyên vô hiệu sẽ bị loại trừ cho các bên nghĩa vụ thực hiện theo các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng. Các bên sẽ hoàn trả lại cho nhau các giá trị tại thời điểm ký kết. Vậy nên, về thủ tục, hình thức và nội dung khi giao kết hợp đồng là vô cùng quan trọng, do đó cần tuân thủ và thực hiện cho đúng theo quy định.

2. Những lưu ý để hợp đồng không bị vô hiệu như sau:

Thứ nhất về hình thức

Căn cứ vào Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hình thức hợp đồng (tức giao dịch dân sự) như sau:

“Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó“. 

Do đó, theo từng trường hợp theo luật định mà hợp đồng đó cần tuân thủ về hình thức để đảm bảo tính có hiệu lực của hợp đồng.

Ví dụ: Căn cứ khoản 2 Điều 455 về giao kết hợp đồng trao đổi tài sản bắt buộc phải lập thành văn bản và có công chứng thì mới có hiệu lực như sau:

“2. Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định”

Tham khảo: 15 giao dịch bắt buộc phải công chứng, chứng thực mới có giá trị pháp lý

Thứ hai về nội dung

Căn cứ Điều 398 Bộ luật dân sự thì khi giao kết hợp đồng thì các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng và theo đó hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:

– Đối tượng của hợp đồng;

– Số lượng, chất lượng;

– Giá, phương thức thanh toán;

– Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

– Quyền, nghĩa vụ của các bên;

– Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;

– Phương thức giải quyết tranh chấp.

Thứ ba về thời hạn có hiệu lực của hợp đồng

Căn cứ Điều 401 Bộ luật dân sự về hiệu lực của hợp đồng như sau:

– Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.

– Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.

Thứ tư Phụ lục hợp đồng

Căn cứ Điều 403 quy định về phụ lục hợp đồng như sau:

– Hợp đồng có thể có phụ lục kèm theo để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng.

– Trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi.

Thứ năm các trường hợp hợp đồng vô hiệu như sau:

Căn cứ quy định tại Điều 407 Bộ luật dân sự 2015 thì hợp đồng vô hiệu trong các trường hợp sau:

– Do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123);

– Do giả tạo ( Điều 124);

– Do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125);

– Do bị nhầm lẫn (Điều 126);

– Do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng hiếp để thành lập hợp đồng (Điều 127);

– Do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128);

– Do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129);

– Hợp đồng bị vô hiệu một phần (Điều 130): khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch.

–  Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

– Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.

Vậy, trong quá trình giao kết hợp đồng bạn cần lưu ý những điều trên đây, để đảm bảo hợp đồng giao kết hạn chế tối đa bị vô hiệu.

Phân biệt nhãn hiệu và tên thương mại


Căn cứ Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 (sau đây viết tắt là LSHTT)

So sánh Tên thương hiệu Nhãn hiệu
Khái niệm Là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh Là dấu hiệu (chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,…)
Chức năng Dùng để phân biệt các chủ thể kinh doanh với nhau Dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau
Căn cứ xác lập Chỉ cần được sử dụng hợp pháp Phải được cấp  văn bằng bảo hộ (trừ nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ khi đáp ứng đủ các điều kiện tại Điều 75 LSHTT
Chủ sở hữu Tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp Tổ chức, cá nhân được cấp văn bằng ( trừ nhãn hiệu nổi tiếng)
Điều kiện và phạm vi bảo hộ

Căn cứ Điều 76 LSHTT, có khả năng phân biệt theo Điều 78 LSHTT

Bảo hộ chỉ trong khu vực kinh doanh và lĩnh vực kinh doanh

Căn cứu Điều 72 LSHTT, phải nhìn thấy và có khả năng phân biệt theo Điều 74 LSHTT

Bảo hộ phạm vi toàn quốc

Thời gian bảo hộ Không có thời gian bảo hộ     Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm theo Khoản 6 Điều 93 LSHTT

Trên đây là những nội dung cơ bản phân biệt giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong LSHTT.

Hợp đồng vô hiệu do giả tạo nhìn từ những biến tướng hợp đồng vay tài sản

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls



Hợp đồng vô hiệu do giả tạo nhìn từ những biến tướng hợp đồng vay tài sản

Rất nhiều người đang hiểu sai Điều 37 Bộ luật lao động


Thông lệ ở Việt Nam là cứ mỗi đợt sau tết là các cuộc tháo chạy của nhân sự ở các doanh nghiệp diễn ra hàng loạt, với tâm lý “nhận thưởng tết xong rồi nghỉ” khiến cho nhiều doanh nghiệp phải điêu đứng mấy tháng trời sau tết vì khủng hoảng nhân sự. Nhiều doanh nghiệp chuẩn bị cho những khủng hoảng đó, hoặc đề phòng cách đó có thông báo trước khi nghỉ tết mấy tháng là “ai muốn nghỉ thì nghỉ trước tết, sau tết công ty không duyệt đơn xin thôi việc.”

Tuy nhiên với những thông báo như thế này, rất nhiều người vẫn không hề lăn tăn và nghĩ rằng “muốn nghỉ thì nghỉ chứ, ai cấm được đâu, nộp đơn 30 ngày rồi nghỉ đúng luật thôi”.

Nhưng thực tế là những người với suy nghĩ như trên không hiểu hoặc hiểu mà hiểu sai hoàn toàn bản chất về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động.

Điều 37 Bộ luật lao động 2012 quy định:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

 

 

Thực tế Bộ luật lao động không hề quy định “dễ dãi” đối với người lao động như vậy, không phải muốn ký hợp đồng là ký, không phải muốn chấm dứt hợp đồng là chấm dứt mà không cần điều kiện.

Như các bạn đã thấy, Khoản 1 Điều 37 quy định về những trường hợp mà người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Có nghĩa là, chỉ khi rơi vào những trường hợp này thì người lao động mới có quyền nộp đơn xin nghỉ, và thời hạn báo trước là 03 ngày, 30 ngày, 45 ngày tùy vào trường hợp cụ thể được quy định như trên. Với quan điểm, “nộp đơn trước 30 ngày rồi nghỉ” với những nhân viên có mục đích “nhận thưởng tết xong rồi nghỉ” là hoàn toàn sai lầm.

Các bạn có nộp đơn báo trước ngày nghỉ 30 hay 45 ngày gì đi nữa, nhưng nếu không có lý do như quy định tại Khoản 1 Điều 37 như trên thì bạn không có quyền nghỉ việc, nếu nghỉ thì bạn vi phạm hợp đồng và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Các bạn cần phải phân biệt được, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Việc bạn nộp đơn, ban giám đốc duyệt đơn cho nghỉ, đó là thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, trường hợp này nộp đơn bao nhiêu ngày không quan trọng, chỉ cần có sự chấp thuận từ người sử dụng lao động là được. Còn khi bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì sự chấp thuận của người sử dụng lao động không hề có giá trị, không cần thiết, mà điều quan trọng là bạn phải có lý do đúng luật định như mình đã nêu ở trên.

 

Đây là chữ ký