Xử phạt ra sao khi chủ trọ không trả lại tiền đặt cọc cho khách ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi

Tôi ký hợp đồng thuê nhà 2 năm, đặt cọc 2 tháng tiền thuê nhà 20 triệu đồng. Trước hạn này, khi tôi không muốn thuê nữa, chủ nhà đồng ý song không trả lại tiền đặt cọc. Họ nói tôi đã vi phạm hợp đồng vì còn 6 tháng nữa mới hết. Tôi phải làm gì trong trường hợp này.

Luật sư tư vấn

Luật sư Hoàng Thị Hải Yến xin đưa ra ý kiến của mình như sau:

Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015:

Đặt cọc được thực hiện là việc một bên (đặt cọc) giao cho bên kia (bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (gọi là tài sản đặt cọc) trong cùng một thời hạn thì sẽ bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để được thực hiện về nghĩa vụ trả tiền. Nếu mà bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện ký kết hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, trong trường hợp của bạn được hiểu việc bạn đặt cọc cho chủ nhà là để thực hiện hợp đồng thuê nhà, bảo đảm cho bạn thực hiện đúng những thỏa thuận trong hợp đồng (ví dụ như không chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, giữ gìn tài sản của người cho thuê…).

Khoản 2 Điều 131 Luật nhà ở năm 2014 quy định trường hợp thuê nhà ở không thuộc sở hữu nhà nước thì việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở được thực hiện khi có một trong các trường hợp sau:

a) Hợp đồng thuê nhà ở hết hạn; trường hợp trong hợp đồng không xác định thời hạn thì hợp đồng chấm dứt sau 90 ngày, kể từ ngày bên cho thuê nhà ở thì phải có thông báo cho bên thuê nhà ở biết việc chấm dứt hợp đồng;

b) Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng….

Bên cạnh đó, Điều 132 Luật nhà ở năm 2014 cũng quy định: “3. Bên thuê nhà ở sẽ có quyền tự đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở khi bên cho thuê nhà ở có một trong các hành vi sau đây:

a) Không sửa chữa nhà ở khi có hư hỏng nặng;

b) Tăng giá thuê nhà ở bất hợp lý hoặc tăng giá thuê nhà mà không thông báo cho bên thuê nhà biết trước theo thỏa thuận;

c) Khi quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba.

Bên đơn phương chấm dứt thực hiện những hợp đồng thuê nhà thì phải thông báo cho bên kia biết trước ít nhất 30 ngày, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; nếu vi phạm quy định tại khoản này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Việc bạn thông báo trước 30 ngày để chủ nhà (người cho thuê) biết về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà và đã được chủ nhà đồng ý thì được xem là trường hợp chấm dứt hợp đồng thuê nhà do hai bên thỏa thuận theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 131 Luật nhà ở năm 2014.

Do đó, nếu hai bên đã thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng thì phía bên nhận đặt cọc (bên cho thuê nhà) sẽ phải trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc là bạn.

Để đòi lại tài sản là tiền đặt cọc, trước tiên bạn cần thương lượng với chủ nhà về nghĩa vụ bên cho thuê nhà phải trả lại tiền đặt cọc. Trong trường hợp bên cho thuê không đồng ý, bạn có thể gửi đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp đến Tòa án cấp huyện nơi có bất động sản (tức là nơi có nhà cho thuê) để được giải quyết.

 

Chia mảnh đất bà nội để lại không có di chúc ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi

Bà nội tôi có một mảnh đất mà không có di chúc để lại,hiện tôi sinh sống cùng vợ con tại đó từ nhỏ đến giờ.Bà nội tôi có 3 người con bố tôi và 2 người con gái, bố tôi đã mất trong chiến tranh lúc nhỏ.Bố tôi có 3 người con ,tôi là con trai và 2 người chi gái,và mẹ tôi nay 70 tuổi,cho nên tôi là trưởng tộc. Vì thế luật sự cho tôi hỏi là:

  • Thứ nhất: Theo như luật thừa kế thi tôi có được đứng tên mãnh đất đó được không,ai có thể đòi quyền chia đất đai ở đây không?nếu có thì tôi không đồng ý chia thì liệu pháp luật có cho chia không?
  • Thứ hai :Bà nội tôi mất cách đến thời điểm này là đã được 5 năm,theo luật thì khi nào tôi có thể đứng tên sổ đỏ mảnh đất đó? kính mong luật sự trả lời giúp tôi.

Trả lời:

Vì bà nội bạn không để lại di chúc nên toàn bộ tài sản của bà nội bạn để lại sẽ được chia thep pháp luật. Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 thì người được hưởng thừa kế sẽ được quy định như sau:

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

  1. Người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
  2. a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, mẹ nuôi, cha nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  3. b) Với hàng thừa kế thứ hai sẽ bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người đã chết mà người đã chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  4. c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người đã chết mà người chết lại là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
  5. Những người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng phần di sản là bằng nhau.
  6. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối việc nhận di sản”

Kết luật với mảnh đất của bà nội bà để lại sẽ được chia cho hàng thừa kế thứ nhất cho những người còn sống là 2 người cô ruột của bạn. Tuy nhiên vì bố bạn chết trước bà nội bạn nên theo điều 652 về thừa kế thế vị của Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu như còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt sẽ được hưởng nếu còn sống.” thì bạn và 2 người chị gái sẽ được hưởng phần thừa kế mà lẽ ra bố bạn nếu còn sống sẽ được hưởng( bố bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng 2 người cô ruột của bạn)

Chia di sản:

  • 2 người cô ruột: mỗi người nhận được 1/3 giá trị của mảnh đất
  • bạn và 2 người chị ruột: mỗi người nhận được 1/9 giá trị của mảnh đất.

Thứ nhất, bạn có thể đứng tên trên mảnh đất đó nếu bạn thỏa thuận mua lại phần giá trị mảnh đất của những người thừa kế khác: 2 người cô ruột và 2 người chị ruột.

Thứ hai,tất cả những người thừa kế của bà nội bạn nêu trên đều có quyền đòi chia đất theo điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với trường hợp là bất động sản và 10 năm đối với động sản”. Và bạn sẽ phải tuân thủ đúng theo nguyên tắc chia thừa kế của pháp luật do bà nội bạn không để lại di chúc.

 

Vừa làm vừa học nghiệp vụ luật sư được không?


Chào anh chị em và các bạn, em có một thắc mắc mong các anh chị có kinh nghiệm giải đáp giúp em với ạ. Sau khi em tốt nghiệp ngành luật thì em đi làm công việc hành chính văn phòng tại công ty sản xuất chứ không đi làm đúng ngành ạ. Bây giờ em có định đi học nghiệp vụ luật sư vào buổi tối. Sau khi nghiên cứu chương trình đào tạo, em thấy có môn phải đi thực tập tại cơ sở hành nghề luật trong khoảng 2 tuần và nộp báo cáo nữa. Anh chị nào đã từng học cho em ý kiến với, vì em đi làm công ty các buổi sáng hết rồi thì việc thực tập và nộp báo cáo này như thế nào ạ?

Có vi phạm sở hữu trí tuệ không khi sinh viên Luật photo giáo trình ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls



Có vi phạm sở hữu trí tuệ không khi sinh viên Luật photo giáo trình ?

Nuôi trồng thủy sản có phải xin cấp giấy phép kinh doanh ngành nghề không?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


CÂU HỎI:

Nuôi trồng thủy sản có bắt buộc phải có GCN đăng ký kinh doanh về nuôi trồng thủy sản không?

TRẢ LỜI:

Thứ nhất, Căn cứ theo điểm 2.a, Mục I của Thông tư 02/2006/ TT-BTS hướng dẫn Nghị định 59/2005/NĐ-CP về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản do Bộ thủy sản ban hành:

“I. VỀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG (hướng dẫn một số nội dung quy định tại Chương I của Nghị định)

…..

2. Các trường hợp không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 59 (Khoản 3 Điều 2 của Nghị định):

a) Hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản; kinh doanh nguyên liệu thủy sản dùng cho chế biến thực phẩm (bao gồm các hoạt động: mua bán, thu gom, bảo quản, vận chuyển thủy sản) có quy mô nhỏ, theo phương pháp thủ công không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định khi có thu nhập thấp theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (sau đây gọi chung là Nghị định số 109/2004/NĐ-CP) nhưng phải bảo đảm các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm và pháp luật về bảo vệ môi trường.(….)”

 

Căn cứ theo quy định này thì, hộ gia đình và cá nhân nuôi trồng thủy sản có thu nhập thấp( thu nhập thấp hơn mức quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) theo phương pháp thủ công (theo quy định của Bộ thuỷ sản); khai thác thuỷ sản bằng tàu cá có trọng tải dưới 0,5 tấn hoặc không sử dụng tàu cá thì sẽ không phải đăng ký kinh doanh.

 

 Thứ hai, Ngoài những tổ chức cá nhân nuôi trồng thủy sản ở trên thì đối với các tổ chức, cá nhân còn lại thuộc đối tượng thuộc Điều 2 của Nghị Định 59/2005/NĐ-CP tiến hành hoạt động nuôi trồng thủy sản thì căn cứ theo quy định Điều 8 của Nghị Định này:

 

“Điều 8. Những ngành nghề sản xuất, kinh doanh thuỷ sản không cần giấy phép

Những ngành nghề sản xuất, kinh doanh thuỷ sản sau đây không cần giấy phép, nhưng phải bảo đảm các điều kiện của pháp luật quy định: sản xuất, kinh doanh ngư cụ và trang thiết bị khai thác thuỷ sản; đóng mới, cải hoán tàu cá; sản xuất, kinh doanh giống thuỷ sản; nuôi trồng thuỷ sản; sản xuất, kinh doanh thức ăn nuôi thuỷ sản; chế biến thuỷ sản; kinh doanh nguyên liệu thuỷ sản dùng cho chế biến thực phẩm”.

 

Theo đó, những tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản sẽ không cần giấy phép kinh doanh ngành nghề nuôi trồng thủy sản nhưng vẫn phải xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và  Giấy chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thủy sản.

 

Việt kiều có được mua nhà và đứng tên ở Việt Nam không?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


CÂU HỎI: Cho hỏi việt kiều hiện có thể mua nhà và đưng tên ở Việt Nam không ?     

 

TRẢ LỜI:

Thứ nhất, căn cứ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2.b, Điều 8 của Luật Nhà ở 2014:

“Điều 8. Điều kiện được công nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam; đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có đủ điều kiện quy định tại Điều 160 của Luật này.

2. Có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức sau đây:

b) Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản (sau đây gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản); mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật;”

Đối với người Việt Nam định cư  ở nước ngoài để trở thành đối tượng sở hữu nhà ở thì cần phải có những giấy tờ  chứng minh quy định tại khoản 2.a và 2.b, Điều 5 của Nghị Định 99/2015 hướng dẫn Luật nhà ở 2014:

“Điều 5. Giấy tờ chứng minh đối tượng được sở hữu nhà ở

….

2. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải có giấy tờ theo quy định sau đây:

a) Trường hợp mang hộ chiếu Việt Nam thì phải còn giá trị và có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh Việt Nam vào hộ chiếu;

b) Trường hợp mang hộ chiếu nước ngoài thì phải còn giá trị có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh Việt Nam vào hộ chiếu và kèm theo giấy tờ chứng minh còn quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ xác nhận là người gốc Việt Nam do Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan quản lý về người Việt Nam ở nước ngoài cấp hoặc giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.(…)”

Như vậy, nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài có đủ những giấy tờ chứng minh trên và được phép nhập cảnh vào Việt Nam thì sẽ được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Phạm tội theo bộ luật hình sự không?


Ngày 21/02/2019 , Nguyễn VĂn H (34 tuổi,là chủ xe tải ) thuê Lê Văn K (27 tuổi ) lái xe chở gạo cho mình. Khi xe đang lưu thông trên trên quốc lộ, H bảo K :”Trông chú may fcó vẻ mệt, để anh lái cho một đoạn ”.K biết rõ H không có có bằng lái nhưng biết lái xe; hơn nữa vì cả nể chủ xe, nên K đã giao tay lái cho H.Chạy được một đoạn, H tăng tốc cho xe lấn sang trái để vượt qua xe ô tô phía trước và đã va chạm vào xe máy của anh M đang lưu thông ngược chiều, làm anh M chết tại chỗ.

Vậy H có phàm tội không ? thuộc khung phạt nào ? Tại sao ?

K có phạm tội không ? Nếu có, thì K có dấu hiệu phạm tội gì ? 

Có được giao dịch bằng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam hay không?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Chào các bạn.

Mình gặp một tình huống:

Bên mua (Cty VN) ký hợp đồng với bên bán (Cty VND) nhưng bên mua lại ủy quyền cho bên thứ 3 (Cty nước ngoài) thanh toán tiền cho bên bán với loại tiền tệ là USD thì bên bán nhận tiền đó có hợp lệ với quy định của luật thuế Việt Nam hay không? Và cần chứng từ gì để chứng minh?

Theo mình thì giải quyết như sau:

Thứ nhất, theo Khoản 13 của Pháp lệnh ngoại hối sửa đổi năm 2013 sửa đổi quy đinh tại Điều 22 của Pháp lệnh ngoại hối 2005:

Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”

Căn cứ theo Điều 4 của Thông tư 32/2013/TT-NHNN: quy định về các trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.

Do đó, nếu giao dịch này không thuộc trường hợp được phép thanh toán bầng ngoại tệ thì giao dịch này sẽ bị nghiêm cấm.

Ngược lại. nếu giao dịch trên thuộc trường hợp được phép thanh toán bằng ngoại tệ thì trong hợp đồng phải có điều khoản ghi nhận cụ thể về số tiền, phương thức thanh toán và biên lai giao tiền hoặc biên lai chuyển tiền.

Mọi người thấy hướng giải quyết như này đã ổn chưa, nhận chỉ giáo a

 

Có được điều chuyển người lao động sang làm công việc khác luôn không?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ:

Công ty mình là Công ty cổ phần có > 50% vốn Nhà nước.

Hiện nay, Công ty đang sắp xếp lại lao động (Lý do: Vì Công ty hiện tại đang thừa lao động ở vị trí này, nhưng lại thiếu ở vị trí khác), nên chuyển một số NLĐ làm công việc khác (chuyển hẳn không phải tạm tạm). Vậy, hồ sơ cho việc sắp xếp lao động gồm những gì để đúng quy định Nhà nước? (Có phải làm Biên bản họp thống nhất với tổ chức Công đoàn Công ty không)

– Mình đã đọc NĐ 108/2014/ND-CP về việc tinh giảm biên chế cho đơn vị Nhà nước. vậy việc áp dụng này sẽ không phù hợp với DN mình. DN mình phải áp dụng quy định nào để đúng Luật.

 
TRẢ LỜI:
 
Việc điều chuyển công việc của người lao động trong công ty cổ phần vốn nhà nước không thuộc đối tượng áp dụng của Nghị Định 108/2014/NĐ-CP mà thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ Luật lao động 2012, cụ thể:

Căn cứ Điều 30 của Bộ Luật lao động 2012 thì người lao động sẽ thực hiện công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết với người sử dụng lao động.

Do đó; khi muốn điều chuyển người lao động làm công việc khác thì người sử dụng lao động phải thỏa thuận với người lao động:

Như vậy, công ty chị chỉ được quyền điều chuyển công việc của người lao động khi được sự đồng ý của NLĐ. Khi đó, 2 bên chỉ cần tiến hành sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật này và không cần phải tiến hành họp với tổ chức công đoàn của công ty.

Ngược lại, nếu người lao động không đồng ý việc điều chuyển này thì phía công ty có quyền điều chuyển công việc của NLĐ không có 60 ngày cộng dồn trong 1 năm theo quy định tại Điều 8 của Nghị Định 05/2015/NĐ-CP. Sau thời hạn này, nếu NLĐ không đồng ý mà phía công ty vẫn muốn điều chuyển hẳn thì NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc 2 bên có thể thoả thuận chấm dứt hợp đồng và tiến hành các thủ tục về chấm dứt hợp đồng theo quy định cuả pháp luật.

 

Số tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp của NLĐ có được bảo lưu hay không?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ:
Xin cho mình hỏi? 
Nếu trong trường hợp lần thứ nhất tôi nghỉ việc không kịp làm thủ tục và hưởng bảo hiểm thất nghiệp trong khoảng thời gian 3 tháng sau khi nghỉ việc. Thì sau này khi tôi nghỉ việc lần sau số tiền bảo hiểm thất nghiệp tôi đóng trước đó có được hưởng hay không? Pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?
 
TRẢ LỜI:
Căn cứ vào Khoản 6 Điều 18   Nghị định 28/2015/NĐ-CP Nghị định 28/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Việc làm và bảo hiểm thất nghiệp, có quy định về giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau :
 
Sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày người lao động hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp và không thông báo bằng văn bản với tổ chức bảo hiểm xã hội nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thì người lao động đó được xác định là không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với số tiền trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không đến nhận được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.
 
Trong thời hạn 07 ngày làm việc sau thời hạn nêu trên, tổ chức bảo hiểm xã hội phải thông báo bằng văn bản với trung tâm dịch vụ việc làm nơi người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp về việc người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp. Thông báo về việc người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định.
 
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bảo hiểm xã hội, trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét, trình Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
 
Quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được trung tâm dịch vụ việc làm gửi: 01 bản đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để thực hiện bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; 01 bản đến người lao động. Quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định.
 
Như vậy, với trường hợp của bạn số tiền bạn đóng trước đó được bảo lưu cho lần hưởng tiếp theo bạn nhé..