Điều kiện phối khí và làm tổng đại lý kinh doanh gas

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi:

E chào anh Tuấn,Công ty TNHH H là khách hàng thân thiết của bên anh chắc anh nắm rõ vì bên em ký hợp đồng nhờ bên anh đăng ký nhãn hiệu sản phẩm thương hiệu H.Có một số thông tin nhờ anh Tuấn tư vấn và trả lời giúp bên e như sau:

Kết quả đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho H tiến triển tới đâu rồi anh? và khi nào bên H nhận được văn bằng bảo hộ từ cục sở hữu trí tuệ.Nếu chưa có kết quả sớm thì có thể cho bên e xin một văn bản từ cục sở hữu trí tuệ là đang trong thời gian thẩm định không ạ?để bên e gửi các bên cơ quan ban ngành khi họ thanh kiểm tra.

Do đặc thù kinh doanh ngành nghề gas là có điều kiện,phía công ty chúng tôi chưa nắm rõ luật và thiếu kinh nghiệm nên nhờ anh Tuấn cho công ty tôi một số vấn đề sau:

Khó khăn về phía đại lý:

+H cung cấp gas cho các đại lý,và hôm vừa rồi đội thanh tra thị trường số 1 tại hà nam đã phạt đại lý 2.000.000 với nguyên nhân là : gas H chưa đủ điều kiện làm tổng đại lý ( chưa có giấy phép đủ điều kiện phân phối)nên chưa được quyền cung cấp bán cho đại lý mặc dù kể cả có ký kết hợp đồng mua bán, có xuất hóa đơn đỏ cũng không có tác dụng.( họ chiếu theo NĐ 19 và NĐ 107).Chính vì gas H chưa đủ điều kiện làm tổng đại lý phân phối nên khi đại lý bên H đăng ký với sở công thương bán gas H thì không đăng ký được.Vậy e scan lại đăng ký kinh doanh nhờ anh Tuấn tư vấn giúp H ạ.

Khó khăn về phía công ty khi mà đội thanh tra số 8 lên kiểm tra công ty nhưng chưa ra quyết định xử phạt

+ H chưa đăng ký giá với sở công thương

+ H chưa đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm

Trả lời:

Thứ nhất, về thời gian đăng ký nhãn hiệu thì theo Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì thời hạn các quy trình đăng ký bảo hộ nhãn hiệu như sau::

  • Thẩm định hình thức từ 1-2 tháng kể từ ngày nộp đơn
  • Công bố Đơn trên Công báo là 2 tháng kể từ ngày được chấp nhận là đơn hợp lệ
  • Thẩm định nội dung từ 9-12 tháng kể từ ngày công bố đơn.
  • Cấp và công bố Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu 1-2 tháng sau khi có kêt quả thẩm định nội dung.

Như vậy, thông thường thời gian đăng ký thông thường của nhãn hiệu khoảng 12 – 18 tháng tuỳ thuộc vào số lượng đơn nộp vào Cục tại thời điểm xét nghiệm.

Thứ hai, các thắc mắc của quý công ty được giải đáp dựa trên các căn cứ pháp luật sau:

  • Nghị định 19/2016/NĐ-CP về kinh doanh khí thay thế cho nghị định 107/2009/NĐ-CP về kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng
  • Thông tư 03/2016/TT-BCT quy định chi Tiết một số Điều của Nghị định số 19/2016/NĐ-CP về kinh doanh khí.
  • Nghị định 97/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, xăng dầu và khí dầu mỏ hóa lỏng
  • Nghị định 177/2013/ND -CP quy định chi tiết một số điều của Luật giá số 11/2012/QH13
  1. Điều kiện phân phối khí và làm tổng đại lý kinh doanh LPG

Theo điều 9 NĐ 16/2016 để được phân phối khí thì quý công ty phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

  • Đối với thương nhân phân phối LPG kinh doanh LPG
  • Có bồn chứa với dung tích tổi thiểu là 300m3
  • Có số lượng chai LPG các loại (không tính chai LPG mini) đủ Điều kiện lưu thông trên thị trường thuộc sở hữu của thương nhân với tổng dung tích chứa tối thiểu 2.620.000 L
  • Có trạm nạp LPG vào chai thuộc sở hữu được cấp Giấy chứng nhận đủ Điều kiện hoặc có hợp đồng thuê nạp LPG vào chai với thương nhân kinh doanh LPG đầu mối khác.
  • Sau 2 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đủ Điều kiện làm thương nhân phân phối LPG, phải có trạm nạp LPG vào chai thuộc sở hữu của thương nhân;
  • Có hệ thống phân phối LPG, bao gồm: Cửa hàng bán LPG chai hoặc trạm cấp LPG hoặc trạm nạp LPG vào phương tiện vận tải được cấp Giấy chứng nhận đủ Điều kiện hoặc khách hàng công nghiệp và có tối thiểu 20 (hai mươi) tổng đại lý hoặc đại lý kinh doanh LPG đáp ứng đủ Điều kiện quy định tại Nghị định này.
  • Đối với thương nhân phân phối LPG kinh doanh qua đường ống:
  • Có bồn chứa với dung tích tổi thiểu là 100m3
  • Phải có trạm cấp LPG thuộc sở hữu của thương nhân được cấp Giấy chứng nhận đủ Điều kiện.
  • Đối với thương nhân phân phối LNG
  • Có bồn chứa với dung tích tổi thiểu là 3000m3
  • Phải có cơ sở vật chất phục vụ hệ thống phân phối LNG trực thuộc, bao gồm: Sở hữu trạm cấp LNG hoặc trạm nạp LNG vào phương tiện vận tải được cấp Giấy chứng nhận đủ Điều kiện.
  • Đối với thương nhân phân phối CNG
  • Có bồn chứa với dung tích tổi thiểu là 10.000m3
  • Phải có cơ sở vật chất phục vụ hệ thống phân phối CNG trực thuộc, bao gồm: Sở hữu hoặc đồng sở hữu hoặc thuê xe bồn CNG hoặc đường ống vận chuyển CNG tối thiểu 01 năm; sở hữu trạm cấp CNG hoặc trạm nạp CNG vào phương tiện vận tải được cấp Giấy chứng nhận đủ Điều kiện.

Theo điều 11 NĐ 16/2016 để được làm tổng đại lý kinh doanh LPG thì quý công ty phải đáp ứng các yêu cầu sau:

  • Có kho với tổng sức chứa tối thiểu 2.000 chai LPG và LPG chai (trừ chai LPG mini) thuộc sở hữu hoặc đồng sở hữu hoặc thuê tối thiểu 01 năm.
  • Có hệ thống phân phối LPG, bao gồm: Cửa hàng bán LPG chai hoặc trạm cấp LPG hoặc trạm nạp LPG vào phương tiện vận tải được cấp Giấy chứng nhận đủ Điều kiện và có tối thiểu 10 đại lý đáp ứng đủ Điều kiện làm đại lý theo quy định của Nghị định này.
  • Có hợp đồng đại lý tối thiểu một năm, còn hiệu lực với thương nhân kinh doanh LPG đầu mối.

Về các giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh khí được quy định chi tiết tại Thông tư 03/2016/TT-BCT ( điều 7- điều 15)

  1. Kê khai niêm yết giá

Quy công ty phải đăng ký giá và kê khai niêm yết giá với sở công thương theo Nghị định 177/2013/ND -CP  quy định chi tiết một số điều của Luật giá số 11/2012/QH13

  1. Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay thì việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá không phải là nghĩa vụ bắt buộc đốì với các doanh nghiệp.Tuy nhiên, về nhãn hiệu thì có các hành vi sau bị xử phạt theo Thông tư 03/2016/TT-BCT như sau:

  • Chai LPG không phù hợp với nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ theo quy định phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
  • Đối với hành vi làm thay đổi hình dạng, kết cấu, trọng lượng ban đầu của chai LPG trái phép: “Mài lô gô, thay đổi nhãn hiệu, seri” phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

 

Phân biệt hành vi pháp lý đơn phương và hợp đồng tặng cho


Mọi người cho em hỏi làm thế nào để phân biệt hành vi pháp lý đơn phương và hợp đồng tặng cho vậy ạ. Em cảm ơn ạ !

Tổng hợp quy định về xử lý vi phạm hành chính trong sở hữu trí tuệ


Xử lý vi phạm trong sở hữu trí tuệ được hiểu là khi có hành vi vi phạm thì cơ quan chức năng như thanh tra, công an, cơ quan hải quan sẽ tiến hành ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức xử phạt vi phạm hành chính là phạt tiền và có thể áp dụng các biện pháp bổ sung như tịch thu phương tiện, tiêu huỷ hàng hoá vi phạm;

Xử lý vi phạm hành chính trong sở hữu trí tuệ được quy định như sau:

*Các trường hợp vi phạm áp dụng xử lý hành chính trong sở hữu trí tuệ:

Tổ chức, cá nhân thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây bị xử phạt vi phạm hành chính; (khoản 27, Điều 1 Luật sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ 2009).

–  Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc cho xã hội;

–  Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này;

–  Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ tem, nhãn hoặc vật phẩm khác mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giả mạo hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.

*Quyết định áp dụng biện pháp hành chính gồm các hình thức, biện pháp xử lý sau:

+ Hình thức xử phạt chính là: Cảnh cáo hoặc phạt tiền;

+ Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng có thời hạn hoặc không có thời hạn giấy phép có liên quan đến hoạt động sở hữu trí tuệ; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính về sở hữu trí tuệ;

+ Các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu huỷ vật phẩm, hàng hoá vi phạm; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên sản phẩm, hàng hoá, phương tiện kinh doanh; buộc phân phối hoặc sử dụng vào mục đích phi thương mại với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác thương mại bình thường của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.

Căn cứ: Điều 214 Luật sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ 2009; 

* Thẩm quyền xử lý: 

–  Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

– Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật;
 
– Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật;
 
– Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan;

Tuy nhiên, không phải bất cứ cơ quan quản lý Nhà nước nào cũng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và được xử phạt bất kỳ loại vi phạm hành chính trong tất cả các lĩnh vực. Chỉ có những cơ quan Nhà nước được pháp luật quy định mới được thực hiện quyền xử phạt và chỉ có quyền xử phạt những hành vi vi phạm trong lĩnh vực được pháp luật giao cho.

Mặt khác, không phải bất cứ ai trong cơ quan hành chính có thẩm quyền xử phạt đều được xử phạt và mức độ xử phạt là như nhau, mà pháp luật chỉ quy định một số chức danh nhất định của cơ quan hành chính đó mới có thẩm quyền xử phạt và quyền hạn xử phạt cũng khác nhau tuỳ theo chức danh mà pháp luật quy định.

Tổng hợp văn bản xử lý vi phạm hành chính trong sở hữu trí tuệ, gồm:

Căn cứ: Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy định cụ thể về các hành vi vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ bị xử lý bằng biện pháp hành chính, gồm các văn bản sau:

+ Nghị định 105/2006/NĐ- CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;

+ Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định về sử phạt hành chính trong lĩnh vực công nghiệp;

+ Thông tư 11/2015/TT-BKHCN Hướng dẫn thi hành một số điều Nghị định 99/2013/NĐ-CP;

+ Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định sử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả quyền liên quan;

+ Nghị định 28/2017/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung Nghị định 131/2013/NĐ-CP;

+ Nghị định 31/2016/NĐ-CP Quy định sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kểm dịch thực vật;

Lưu ý: Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

Xử lý hóa đơn in sai chưa giao cho khách hàng và hóa đơn in sai bị mất

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Thắc mắc:

Hiện công ty em có 2 trường hợp xử lý hóa đơn nhờ anh chị tư vấn giúp ạ:

Trường hợp 1: Công ty đã xuất hóa đơn chi hoa hồng đại lý cho công ty bảo hiểm vào năm 2015, đến nay phát hiện ra hóa đơn không in mã số thuế khách hàng và hóa đơn chưa giao cho khách hàng.

Trường hợp 2: Công ty đã xuất hóa đơn chi hoa hồng đại lý cho công ty bảo hiểm vào năm 2016 và chưa giao liên hóa đơn cho khách nhưng liên đó đã bị mất, liên chính vẫn còn. Công ty có thể photo và đóng dấu sao y bản chính được không ạ.

Trân trọng cảm ơn.

 

Giải đáp:

TRƯỜNG HỢP 1:

Khi công ty đã xuất hóa đơn và chưa giao cho khách hàng thì sẽ Xử lý đối với hóa đơn đã lập theo quy định tại khoản 1, Điều 20 của Thông tư 39/2014/TT-BTC: Trường hợp lập hóa đơn chưa giao cho người mua, nếu phát hiện hóa đơn lập sai, người bán gạch chéo các liên và lưu giữ số hóa đơn lập sai.

TRƯỜNG HỢP 2:

Căn cứ theo Khoản 2 của Điều 24, Thông tư 39/2014/TT-BTC có nội dung quy định về xử lý trong trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn:

“2 .Trường hợp khi bán hàng hóa, dịch vụ người bán đã lập hóa đơn theo đúng quy định nhưng sau đó người bán hoặc người mua làm mất, cháy, hỏng liên 2 hóa đơn bản gốc đã lập thì người bán và người mua lập biên bản ghi nhận sự việc, trong biên bản ghi rõ liên 1 của hóa đơn người bán hàng khai, nộp thuế trong tháng nào, ký và ghi rõ họ tên của người đại diện theo pháp luật (hoặc người được ủy quyền), đóng dấu (nếu có) trên biên bản và người bán sao chụp liên 1 của hóa đơn, ký xác nhận của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu trên bản sao hóa đơn để giao cho người mua. (….)”.

Như vây, khi công ty đã xuất hóa đơn  và chưa giao cho khách nhưng đã bị mất mà liên chính vẫn còn thì người đại diện theo pháp luật đóng dấu và ký tên vào lập biên bản ghi nhận sự việc; sao chụp liên 1 của hóa đơn.

Chịu trách nhiệm pháp lý về tội không cứu người trong tình trạng nguy hiểm

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Truy cứu tội không giúp người đang ở tình trạng nguy hiểm tới tính mạng

Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra tại quận Long Biên, HN sáng 29/2/2016, người điều khiển ô tô Camry BKS 29A – 866xx…Trước vấn đề này, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – VP Luật Newvision đưa ra quan điểm như sau:…

CHỊU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VỀ TỘI “KHÔNG CỨU GIÚP NGƯỜI ĐANG TRONG TÌNH TRẠNG NGUY HIỂM” XOAY QUAY VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG LIÊN HOÀN Ở LONG BIÊN (HÀ NỘI)
 
Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra tại quận Long Biên, Hà Nội sáng 29/2/2016, thông tin ban đầu xác định, người điều khiển ô tô Camry BKS 29A – 866xx gây tai nạn là Nguyễn Quang Vinh (SN 1977, trú tại tổ 15, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội). Anh ta đã đến cơ quan công an để trình diện vào đầu giờ chiều cùng ngày. 
 
Qua tìm hiểu vụ việc trên, hậu quả của vụ tai nạn khiến cho ông Trần Viết Tiến (SN 1952, trú tại phường Bồ Đề, quận Long Biên) điều khiển xe máy chở theo cháu ruột là Trần Gia Hân (2009) xe ô tô tiếp tục đâm vào bà Nguyễn Thị Trúc (SN 1969, trú tại phố Ái Mộ, phường Bồ Đề, quận Long Biên) khi bà Trúc đang đi bộ ngược chiều. Sau đó ô tô đâm vào gốc cây trước số nhà 25, phường Ái Mộ, đuôi xe văng ra đường va chạm với xe ô tô BKS 30A-687xx do anh Đ.M.H (SN 1978, quê Phú Thọ) điều khiển.
 
Hậu quả vụ tai nạn khiến ông Tiến và bà Trúc tử vong tại chỗ, cháu Trần Gia Hân tử vong trên đường đi cấp cứu.
 
Xoay quanh vấn đề này chúng ta thường xét xem anh Nguyễn Quang Vinh có bị xử lý hình sự hay không? Và mức phạt hình sự sẽ là như thế nào? Tuy nhiên, nhìn nhận dưới góc độ bao quát hơn, thì ngoài người lái chiếc xe gây tai nạn thì còn ai phải chịu trách nhiệm về cái chết thương tâm của 3 nạn nhân này.
 
Qua facebook cá nhân của cô giáo Dương Kim Liên – cô giáo dạy trong trường học của 1 em học sinh bị chết trong vụ việc nêu trên đã chia sẻ, trong lúc cháu Trần Gia Hân vẫn còn sống tại vụ tai nạn, cô đã kêu gọi mọi người gọi taxi đưa cháu đến bệnh viện trước khi cấp cứu 115 đến, tuy nhiên gọi đến hai chiếc taxi thì hai chiếc taxi đều quay đầu bỏ chạy để mặc cô Liên và mọi người kêu cứu. Qua tình tiết trên, có thế thấy, thái độ vô cảm của những người lái taxi bỏ chạy kia có đáng bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
 
 
Trước vấn đề này, theo Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – VP Luật Newvision đưa ra quan điểm: Theo điều 102 Bộ luật hình sự hiện hành quy định về tội không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm như sau:
 
1. Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:
a) Người không cứu giúp  là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm;
b) Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
 
Tội này có hình phạt thấp nhất là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm tùy theo mức độ, tính chất của hành vi. Không cứu giúp người khác bị nạn rõ ràng là hành vi cần phải lên án.
 
Để xem xét trách nhiệm hình sự của người này thì cần rất thận trọng xem xét nhiều yếu tố cần thiết. Trước hết hành vi này phải là cố ý không cứu người. Theo quy định tại Điều 102 BLHS, cố ý không cứu người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là hành vi thấy người đang ở trong tình trạng sắp chết, tuy có điều kiện cứu mà không cứu dẫn đến người đó bị chết.
 
Trong trường hợp của 2 taxi bỏ chạy không cứu người trong trường hợp này, đã đủ cấu thành tội không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm theo điều 102 BLHS hiện hành. Đồng thời, Luật sư Tuấn cũng nhấn mạnh, hành vi vô cảm của con người không chỉ bị lên án bởi lương tâm con người mà pháp luật cũng điều chỉnh phải trừng trị những người vô cảm khi thấy người khác mà không cứu.
 
Tuy nhiên, hiện nay, các cơ quan chức năng cũng chưa xác định được 2 taxi bỏ chạy này.
  
Trong vụ việc này, qua lời chia sẻ của cô giáo Dương Kim Liên, cô giáo đã nhờ cả lực lượng an ninh. Nhưng họ cho rằng phải có nhiệm vụ “bảo vệ hiện trường” mà không đưa cháu bé đi cấp cứu. Theo Luật sư, nhiệm vụ nào sẽ được ưu tiên, thưa luật sư?
 
              – Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Trong trường hợp này thì việc đưa người đi cấp cứu phải là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, cần phải bảo vệ tính mạng con người cấp bách. Việc bảo vệ hiện trường lực lượng an ninh có thể thực hiện nhiều phương pháp để xử lý.
 
 
Với vụ việc cụ thể này, muốn truy trách nhiệm cho những người đã từ chối đưa cháu bé đi cấp cứu, theo luật sư cần phải làm gì? Việc đó có khó khăn không thưa luật sư?
       
           – Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Pháp luật quy định như vậy, tuy nhiên để xử phạt hành chính và buộc tội cá nhân và tổ chức không hề đơn giản, cụ thể trong trường hợp bị xử phạt hành chính thì phải chứng minh được hành vi của người đã yêu cầu người nào đó có điều kiện mà không cứu giúp.
 
Trường hợp để khởi tố được thì phải chứng minh được hành vi của người tuy có điều kiện mà không cứu giúp thì cũng không hề đơn giản. Việc thu thập đầy đủ chứng cứ để chứng minh cá nhân tổ chức nào đó có điều kiện là tương đối khó. 
 
Tuy nhiên hoàn toàn có thể làm được nếu chúng ta thu thập đầy đủ như ghi âm, ghi hình và những người làm chứng khác, nếu các tài liện này phù hợp với nhau chúng ta có thể khởi tố hành vi của người nào đó, như vậy mới có tác dụng tuyên truyền và phòng ngừa của pháp luật ./.
 

 

Không dừng xe theo hiệu lệnh của cảnh sát giao thông có thể bị xử lý hình sự?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Tình trạng người dân chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh dừng xe, kiểm tra giấy tờ của cảnh sát giao thông ngày càng diễn ra nhiều. Vì nhiều nguyên nhân mà tình trạng này chưa có dấu hiệu giảm. Một trong những nguyên nhân đó là mọi người chưa nhận thức được mức độ nghiêm trọng của hành vi đó. Với hành vi này, người vi phạm có thể bị xử lý rất nặng, thậm chí là truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ theo Điều 257, một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.

Trong trường hợp người dân khi điều khiển phương tiện giao thông, nếu cảnh sát giao thông khi thấy có vi phạm Luật giao thông đường bộ, yêu cầu dừng xe, kiểm tra, lập biên bản thì chủ vị xử lý hành chính theo thủ tục hành chính. Tuy nhiên, nến người đó không dừng xe, có hành vi chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh thì trong nhiều trường hợp nghiêm trọng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ là vừa qua, tại Thành phố Biên Hòa,  tỉnh Đồng Nai xảy ra vụ việc một thiếu tá CSGT bám vào gương chiếu hậu bên trái xe tải yêu cầu dừng lại thì trượt ngã và bị bánh sau xe tải trên cán lên người tử vong tại chỗ. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã khởi tố tài xế xe tải về tội chống người thi hành công vụ.

Tuy nhiên, tùy vào từng hành vi, mức độ nghiêm trọng mà người vi phạm có thể  xét xử phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự. Đối với việc xử phạt hành chính thì theo quy định tại Điều 20, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ.

Nếu hành vi ở mức độ nghiêm trọng như vụ ở Thành phố Biên Hòa thì người đó mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì hành vi này đã đủ cấu thành tội phạm. Cụ thể theo Khoản 1 Điều 257 thì “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc  họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng  đến  ba năm”.

Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Đối tượng tác động của tội phạm này là người thi hành công vụ, thông qua việc xâm phạm đến người thi hành công vụ mà xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ công.

Người thi hành công vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao một nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. Người đang thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc, nếu chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc nhiệm vụ mà bị xâm phạm thì không thuộc trường hợp chống người thi hành công vụ, mà tuỳ trường hợp cụ thể để xác định một tội phạm khác có tình tiết vì lý do công vụ của nạn nhân. Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Trong trường hợp này, cảnh sát giao thông chính là người đang thi hành công vụ.

Người phạm tội chống người thi hành công vụ có thể thực hiện một trong các hành vi khách quan như: dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ… Với hành vì chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh dừng xe, có thể như có hiệu lệnh dừng xe mà vẫn đâm thẳng cảnh sát giao thông cũng được coi là dùng vũ lực đối với với người thi hành công vụ.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các hành vi khách quan là tội phạm đã hoàn thành. Nhiệm vụ có thể vẫn được thực hiện, mặc dù người phạm tội đã thực hiện hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ hoặc dùng thủ đoạn ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, về đường lối xử lý thực tiễn xét xử cho thấy, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp do có hành vi chống người thi hành công vụ mà dẫn đến việc thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ bị gián đoạn hoặc gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Qua sự phân tích trên thì người dân cần ý thức rõ hành vi không tuân thủ hiệu lệnh của cảnh sát giao thông có thể gây hậu quả nghiêm trọng như nào, từ đó, có ý thức hơn trong việc tuân thủ Luật giao thông đường bộ.

 

Xử lý tang vật bị tạm giữ, tịch thu trong vụ việc bạo lực gia đình


1. theo điều 49 nghị định 167/2013, người dùng công cụ, phương tiện xâm hại đến sức khỏe thành viên trong gia đình thì bị phạt tiền từ 1500k đến 2000k và có biện pháp khắc phục hậu quả là buộc xin lỗi công khai nếu bị hại có yêu cầu. vậy người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt có được thêm hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính (ví dụ: dao) không?????

2. trong trường hợp cơ quan công an đang tạm giữ dao (tang vật vi phạm hành chính trong vụ việc bạo lực gia đình), xác định dao này là dao nấu ăn thuộc sở hữu của người vi phạm thì xử lý tang vật như thế nào???

3. trong 1 vụ việc vi phạm hành chính người ký quyết định xử phạt là chủ tịch xã, người ký quyết định tạm giữ tang vật, tiêu hủy tang vật là trưởng công an xã được hay không???

Mong các anh chị giải thích giúp em. Em cảm ơn ạ

Xử lý tình huống đất đai cho hợp lý


Nhờ các bạn trao đổi tình huống sau:

A có 300m2 đất, có sổ đỏ. A bán cho B 200m2. Còn 100m2 A không bán. Khi làm thủ tục mua bán do không đủ điều kiện diện tích tối thiểu tách thửa nên đã HĐ công chứng chuyển cho B toàn bộ 300m2

Sau khi B được cấp giấy đỏ thì B lại bán cho C, do không tách thửa nên B bán cho C toàn bộ 300m2 đất( các bên có làm giấy thòa thuận bên ngoài, theo đó A gửi C 100m2 đất còn lại). Thủ tục mua bán xong, C đứng toàn bộ giấy đỏ 300m2 đất

Do mâu thuẫn: A kiện đòi B trả lại 100m2 đất( A không tranh chấp với B, C về 200m2 đất đã bán).

Vậy: C có phải trả lại A 100m2 đất không, trả bằng tiền hay đất. Nếu trả bằng đất tức 100m2 thì không đủ điều kiện tách thửa (A không được đứng tên riêng sổ đỏ  100m2, C cũng không thể đứng tên riêng sổ đỏ 200m2 đất) đất thì có đúng không

Xin cảm ơn

“Triệu tập” lái xe trả tiền lẻ qua trạm BOT – dưới góc nhìn pháp lý !

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Trong thời gian gần đây, tình trạng ùn tắc giao thông liên tiếp diễn ra tại các trạm thu phí BOT trên cả nước, như trạm BOT Hạc Trì, Tam Nông (Phú Thọ), trạm BOT Bến Thủy (Nghệ An), trạm BOT Cầu Rác (Hà Tĩnh), Trạm BOT Cai Lậy (Tiền Giang) do vấp phải phản ứng mạnh mẽ của người dân từ việc thu phí bất hợp lý. Mới đây, tại trạm trạm thu phí số 1, quốc lộ 5 (thuộc địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) đã phải phải xả trạm, ngừng thu phí, để giảm ùn tắc sau khi nhiều lái xe mua vé bằng tiền lẻ. Tuy nhiên, vấn đề trở nên căng thẳng hơn và khiến không ít người dân hoang mang sau khi biết được thông tin một số tài xế trả tiền lẻ với mệnh giá thấp khi mua vé qua Trạm thu phí số 1 trên quốc lộ 5 (Hưng Yên) đã bị cơ quan công an triệu tập để điều tra về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Đại tá Đỗ Đình Hào – Giám đốc Công an tỉnh Hưng Yên xác nhận đang điều tra dấu hiệu gây rối an ninh, trật tự trong vụ tài xế trả tiền lẻ khi qua trạm thu phí trên quốc lộ 5; nếu đủ căn cứ sẽ tiến hành khởi tố vụ án. Tuy nhiên nếu nhìn nhận trên góc độ pháp lý thì thấ rất khó để cơ quan điều tra có thể khởi tố vụ án hình sự những người đã sử dụng tiền lẻ có mệnh giá thấp trả phí BOT.

Thứ nhất, cần xem xét lại việc đặt trạm thu phí số 1 tại huyện Văn Lâm đã phù hợp hay không và việc thu phí có đảm bảo tính hợp lý chưa?

Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên cho biết hiện nay việc đặt trạm thu phí số 1 tại huyện Văn Lâm là không phù hợp. Điều này đã khiến cho nhiều tài xế phản ứng gay gắt bên cạnh đó việc thu phí quá cao đã dẫn tới tình trạng rất nhiều tài xế tìm mọi cách có thể để né trạm thu phí, không chỉ gây thất thu ngân sách mà làm cho các tuyến đường liên xã, liên huyện cũng bị xuống cấp nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn giao thông, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Người dân (Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng) cũng cho biết, tuyến Quốc lộ 5 nhiều năm qua hầu như không được đầu tư nên xuống cấp, trong khi mức phí thu lại không ngừng tăng lên. Trả một số tiền rất cao nhưng nhận lại một giá trị không tương xứng thì sự phản ứng từ người dân là điều dễ hiểu, đặc biệt là với những người dân ở gần trạm BOT.

Bởi vậy, thay vì truy cứu trách nhiệm của người dân, hãy truy trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước để tồn tại tình trạng này trong nhiều năm qua.

Thứ hai, việc sử dụng tiền lẻ hay tiền có mệnh giá nhỏ để trả phí BOT có vi phạm pháp pháp luật hay không?

Căn cứ Luật Ngân hàng nhà nước thì việc sử dụng tiền lẻ hay tiền có mệnh giá nhỏ trong lưu thông, trao đổi hàng hóa là không vi phạm pháp luật, bởi Tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam” (Điều 17 Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam). Cách gọi “tiền lẻ” – “tiền chẵn” xuất phát từ sự phân biệt của người dân đối với mệnh giá của đồng tiền;  không có quy định nào về tiền lẻ – tiền chẵn. Dù đồng tiền có mệnh giá thấp hay cao thì về pháp lý, đều được coi là phương tiện thanh toán hợp pháp.

Hơn nữa, tại Khoản 3 điều 23 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định : “Nghiêm cấm việc từ chối nhận, lưu hành đồng tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông do Ngân hàng Nhà nước phát hành”. Bởi vậy, bất cứ trường hợp nào từ chối tiếp nhận đồng tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông đều là hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ ba, việc thanh toán bằng “tiền lẻ” khi qua trạm thu phí BOT có liên quan gì không khi cơ quan có thẩm quyền xem xét những căn cứ cấu thành tội phạm gây rối trật tự công cộng theo quy định của pháp luật?

Để quy kết một người có tội hay không đều phải xem xét các dấu hiệu pháp lý của tội phạm. Nếu không đáp ứng các dấu hiệu pháp lý về khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ.

Việc cơ quan công an triệu tập một số tài xế để xác minh, điều tra khi chưa có đủ căn cứ để khởi tố vụ án là trái với quy định của pháp luật. Theo đó, điều 35 Bộ luật tố tụng hình sự quy định giấy triệu tập chỉ được áp dụng “khi đã khởi tố vụ án”.

Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi cố ý phá vỡ tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội được quy định cụ thể tại điều 245 Bộ Luật hình sự năm 1999.

Tại Điểm 5 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn 2003 hướng dẫn:

“Hành vi gây rối trật tự công cộng mà để hậu quả xảy ra thuộc một trong các trường hợp sau đây bị coi là “gây hậu quả nghiêm trọng” và phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 245 Bộ luật Hình sự:

1. Cản trở, ách tắc giao thông đến dưới 2 giờ;

2. Cản trở sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân;

…”

Trong khi đó, hành vi của các tài xế sử dụng tiền lẻ là đúng luật, chỉ để thể hiện quan điểm cá nhân, thái độ bức xúc của họ đối với trạm thu phí BOT; hoàn toàn không có cơ sở pháp lý nào để có thể xem đó là căn cứ “quy kết” hành vi này “mang tính chất nguy hiểm” của tội phạm hay “gây hậu quả nghiêm trọng.

Trong sự việc này, cơ quan điều tra cần làm rõ việc có hay không đối tượng nào đứng đằng sau kích động các tài xế trả tiền lẻ và đối tượng nào đã kích động người dân địa phương chặn xe tải khi qua trạm thu phí để cố ý gây rối vì mục đích khác; có sự hỗn loạn, la hét, chửi bới xảy ra không?

Về mặt khách quan của tội phạm, phải đảm bảo có xảy ra hành vi gây rối trật tự công cộng, trong khi như trên đã nêu, việc sử dụng “tiền lẻ” trả phí qua trạm BOT là tuân thủ quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước, thì làm sao có thể xem đấy là “hành vi gây rối…”, hay là “căn cứ cấu thành tội phạm” được?

Động cơ của các tài xế khi trả “tiền lẻ” xuất phát từ sự không hợp lý trong thu phí của trạm BOT mà ngay bản thân ông Chủ tịch tỉnh cũng phải thừa nhận, thì đây cũng đâu phải là “động cơ phạm tội”?

 

Hướng dẫn cách xử lý khi nhà hàng xóm lấn chiếm đất


Hành vi lấn, chiếm đất của người khác là vi phạm pháp luật. Vậy mà, thực tế hành vi này diễn ra rất phổ biến. Nhiều trường hợp do nhận thức người dân chưa đủ để biết về hành vi vi phạm của mình sẽ bị xử lý như thế nào. Vậy, nếu bạn phát hiện hành vi lấn, chiếm đất từ nhà hành xóm thì bạn sẽ sử lý như thế nào cho hợp lý.

sau đây là bài viết hướng dẫn cách xử lý khi nhà hàng xóm lẫn chiếm đất, mong rằng sẽ giúp ích cho các bạn:

Theo quy định tại Điều 176 Bộ luật dân sự 2015 quy định về mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản thì:

“1. Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.

2. Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thỏa thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó.

Trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn phải dỡ bỏ.

…..”

Căn cứ thêm Khoản 1 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013 cũng nghiêm cấm hành vi lấn, chiếm đất đai.

Theo quy định nêu trên, nếu hàng xóm nhà bạn có hành vi lấn, chiếm đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bạn thì đó là hành vi vi phạm pháp luật và bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp để giải quyết .

Sau đây là các bước hướng dẫn bạn cách xử lý khi bị hàng xóm lấn chiếm đất như sau:

Căn cứ: Theo khoản 1 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013, thì nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Do đó, trước tiên bạn có thể thương lượng, tự hòa giải với hàng xóm để giải quyết vụ việc.

Trường hợp hai bên không thể tự thỏa thuận, thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết hòa giải tại cơ sở.

Theo khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013, bạn gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để tiến hành hòa giải.

– Trách nhiệm tổ chức việc hòa giải: là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác.

– Thời hạn giải quyết hòa giải tại cơ sở: là không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

– Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

=> Nếu hòa giải thành: Thì hai bên làm theo biên bản hòa giải thành.

Nếu sau khi hòa giải thành có thay đổi hiện trạng về ranh giới đất thì thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 5 điều 202 luật đất đai 2013 như sau:

+ Tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau: Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường để sửa lại ranh giới;

+ Các trường hợp khác: gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường.

=> Nếu hòa giải không thành: thì theo khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, bạn có quyền khởi kiện tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất đang  tranh chấp để giải quyết.

Bạn tham khảo thêm nhé: Trình tự giải quyết vụ án dân sự theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015;