Có kho hàng ngoại tỉnh thì có phải đăng kí địa điểm kinh doanh không, thủ tục thế nào?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Theo mình biết thì kho hàng có thể được xác định là địa điểm kinh doanh theo quy định tại Điều 44 tại Luật Doanh nghiệp 2014 về đơn vị phụ thuộc của công ty

“1. Chi nhánh: Thực hiện hoạt động kinh doanh và chức năng đại diện

2. Văn phòng đại diện: Chỉ thực hiện chức năng đại diện

3. Địa điểm kinh doanh: Là nơi diễn ra hoạt động kinh doanh

Hoạt động kinh doanh là toàn bộ quá trình từ đầu tư, sản xuất đến hoạt động phân phối sản phẩm.

Như vậy, nên xác định kho chứa hàng trong trường hợp này là địa điểm kinh doanh cần phải đăng kí địa theo quy định của pháp luật. Việc đăng ký nhằm minh bạch được thông tin, thuận lợi trong việc hạch toán kế toán và đặc biệt là các cuộc kiểm tra của cục quản lý thị trường.

Căn cứ Khoản 2 Điều 33 Nghị định 78/2015/NĐ-CP  “Địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp có thể ở ngoài địa chỉ đăng ký trụ sở chính. Doanh nghiệp chỉ được đặt địa điểm kinh doanh tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính hoặc đặt chi nhánh…”.

Theo quy định trên và nếu trong trường hợp có kho hàng ngoại tỉnh, không cũng một nơi với trụ sở hay chi nhánh thì trước khi tiến hành đăng kí địa điểm kinh doanh theo quy định tại Khoản 2 Điều 33 Nghị định 78/2015/NĐ-CP  thì phải tiến hành thủ tục đăng ký hoạt động chi nhánh tại các nơi có kho hàng. Chị có thể tham khảo thủ tục đăng ký chi nhánh tại Khoản 1 Điều 33 Nghị định 78/2015/NĐ-CP.

Mình không hiểu vi sao phải quy định kho hàng phải được đăng ký khi có trụ sở chính hay chi nhánh, vì việc quyết toán thuế, hay chứng minh hàng hóa có thể thông qua các hóa đơn chứng từ cụ thể. Và kho hàng cũng không phải là đối tượng chịu quyết toán thuế?

Mong nhận được sự hỗ trợ để hiểu thêm vấn đề ?

Nghề công chứng đã hình thành và phát triển tại Việt Nam thế nào?


 

     Điều 2 Luật Công chứng 2014 ghi nhận: Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

     Như vậy, công chứng là hoạt động dịch vụ công đặc biệt phục vụ và tạo ra những bảo đảm, an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ngăn ngừa rủi ro, hạn chế tranh chấp dân sự góp phần bảo đảm trật tự kinh tế – xã hội.

     Hiện nay, hoạt động công chứng của nước ta phát triển nhanh chóng, cho thấy sự phát triển của kinh tế xã hội, khi nhu cầu giao kết dân sự của người dân càng tăng cao. Thực tiễn, sự hình thành và phát triển của công chứng Việt Nam gắn liền với các giai đoạn của lịch sử nước ta và được phân định thành các giai đoạn sau:

1. Thời kỳ Pháp thuộc đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

     Hoạt động công chứng xuất hiện khá sớm ở Việt Nam, kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Hoạt động chủ yếu phục vụ cho chính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Tiêu biểu là sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng (được áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P.Pasquies). Theo đó, người thực hiện công chứng là công chứng viên mang quốc tịch Pháp do Tổng thống Pháp bổ nhiệm và giữ chức vụ suốt đời. Khi đó Việt Nam chỉ có một văn phòng công chứng ở Hà Nội, ba văn phòng công chứng ở Sài Gòn, Ngoài ra ở các thành phố Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẵng thì việc công chứng do Chánh lục sự Tòa án sơ thẩm kiêm nhiệm.

2. Thời kì sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1991

    Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 1 tháng 10 năm 1945 Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Vũ Trọng Khánh đã ký quyết định về một số vấn đề liên quan đến hoạt động công chứng như: bãi chức công chứng viên người Pháp tên là Deroche tại văn phòng công chứng; bổ nhiệm một công chứng viên người Việt Nam là ông Vũ Quý Vỹ (luật khoa cử nhân, luật sư tập sự tại Tòa thượng thẩm Hà Nội) thay thế cho công chứng viên người Pháp tại Hà Nội, những quy định cũ về công chứng của Pháp vẫn được áp dụng, trừ những quy định trái với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa.

     Để đáp ứng các nhu cầu giao dịch dân sự của nhân dân, ngày 15 tháng 11 năm 1945 Hồ Chủ Tịch ký Sắc lệnh 59/SL quy định về thể lệ thị thực các giấy tờ. Xét về nội dung đây chỉ là một thủ tục hành chính càng về sau việc áp dụng Sắc lệnh 59/SL càng mang tính hình thức, chủ yếu xác nhận ngày tháng năm, chữ ký và địa chỉ thường trú của đương sự. Sau đó, vào ngày 29 tháng 2 năm 1952 Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh 85/SL quy định về thể lệ trước bạ về các việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất. Do hoàn cảnh lịch sử bấy giờ Sắc lệnh 85/SL chỉ áp dụng đối với những vùng thuộc Ủy ban kháng chiến. Cũng theo sắc lệnh này, Ủy ban kháng chiến cấp xã hoặc thị xã được nhận thực vào văn tự theo hai nội dung: nhận thực chữ ký của các  bên mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất; nhận thực người đứng ra bán, cho, đổi là chủ của những nhà cửa, ruộng đất, đem bán, cho hay đổi.

Hoạt động công chứng giai đoạn này không được phát triển là vì:

+ Thứ nhất là do điều kiện kinh tế- xã hội, hoàn cảnh chiến tranh của nước ta thời kì này;

+ Thứ hai là do nước ta không chấp nhận chế độ sở hữu của các thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh và tập thể. Vì vậy, tổ chức công chứng không được thành lập trong giai đoạn này. Hoạt động công chứng chỉ mang tính chất chứng thực các quan hệ sở hữu tư nhân. Mọi giao lưu kinh tế, dân sự đều dựa trên quan hệ hành chính, quan hệ thương mại hầu như không phát triển. Do vậy, không nhất thiết phải thiết lập các tổ chức hành nghề để thực hiện hoạt động công chứng.

     Theo quy định của Nghị định số 143/HĐBT ngày 22 tháng 11 năm 1981 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Bộ Tư pháp, Bộ tư pháp đã ra Thông tư số 574/QLTPK ngày 10 tháng 10 năm 1987 về công tác công chứng Nhà nước. Theo đó là sự ra đời của phòng công chứng Thành phố Hồ Chí Minh, phòng công chứng Hà Nội và một số phòng công chứng Thành phố Hồ Chí Minh, phòng công chứng Hà Nội và một số phòng công chứng ở các địa bàn khác (nếu có nhu cầu). Sau đó, để tạo điều kiện cho các địa phương tiếp cận gần hơn với hoạt động công chứng, Bộ Tư pháp đã ban hành tiếp Thông tư số 858/QLTPK ngày 15 tháng 10 năm 1987 hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng. Tại thời điểm này, chủ thể thực hiện công chứng duy nhất là phòng công chứng.

Căn cứ vào những văn bản này, các tỉnh, thành phố trong cả nước đã tiến hành thành lập các phòng công chứng điều này đã góp phần tạo nên mạng lưới các phòng công chứng nhà nước trên phạm vi toàn quốc.

    Tại miền Nam Việt Nam, sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, công chứng dưới thời chính quyền Ngụy- Sài Gòn được điều chỉnh bởi Dụ 43 ngày 29 tháng 11 năm 1954 quy định về ngạch chưởng khế (chưởng khế là người Việt Nam) do Bảo Đại ký với tư cách là Quốc trưởng. Mục đích ban hành chưởng khế là nhằm thiết lập trong quản hạt của mỗi Tóa án cấp sơ thẩm thuộc bộ tư Pháp có một phòng công chứng, song trên thực tế chỉ thiết lập được duy nhất một văn phòng chưởng khế tại Sài Gòn và văn phòng đó đã hoạt động cho đến năm 1975.

3. Thời kì từ năm 1991 đến nay

a) Sự phát triển của hoạt động chứng thực trong giai đoạn từ thời kỳ đầu đổi mới cho đến trước thời điểm Nghị định số 75/2000/NĐ-CP được ban hành
     Trong thời kỳ đầu đất nước ta bước vào giai đoạn đổi mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường giai đoạn mới khai sinh, các giao dịch dân sự, kinh tế cũng trở nên phong phú, đa dạng hơn. Chính sự gia tăng của các giao dịch này đã tất yếu đòi hỏi phải có một cơ quan chuyên môn “gác cổng” để đảm bảo an toàn cho các giao dịch đó. Chính vì vậy, hoạt động công chứng, chứng thực ở nước ta đã được tái lập, kiện toàn và phát triển. Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự ra đời của hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công chứng, chứng thực ở cấp độ thông tư, nghị định.  Thời kỳ này, hai hoạt động công chứng và chứng thực luôn gắn kết chặt chẽ với nhau và cùng được điều chỉnh chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật.
    Các văn bản điều chỉnh hoạt động chứng thực giai đoạn này bao gồm: Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng nhà nước; Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về công chứng Nhà nước của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước; Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 về công chứng, chứng thực. Giai đoạn này, do đặc điểm tình hình của nước ta trong thời kỳ đầu đổi mới, số lượng các Phòng Công chứng và công chứng viên còn hạn chế, (trên cả nước chỉ có hơn 100 Phòng Công chứng và hơn 300 công chứng viên), chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của người dân. Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể thực hiện các yêu cầu công chứng ở những nơi chưa có Phòng Công chứng hoặc có nhưng việc đi lại còn khó khăn, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã đã được giao nhiệm vụ chứng thực  (trong đó có việc mà bản chất thuộc về hoạt động công chứng, đó là chứng thực hợp đồng, giao dịch) và  những công việc chứng thực mà Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện trong giai đoạn này cũng được gọi là việc “công chứng”, VD: chứng nhận hợp đồng, giao dịch, bản sao, chữ ký… Thời kỳ này, người thực hiện chứng thực tại UBND các cấp cũng được gọi là công chứng viên.
     Có thể nói, thời kỳ này, hai hoạt động công chứng và chứng thực còn bị lẫn lộn về nhiều mặt: về tên gọi, về chủ thể, về nội dung, về phạm vi thực hiện… và luôn được điều chỉnh chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật. Các Phòng công chứng bên cạnh việc công chứng hợp đồng, giao dịch vẫn được giao thực hiện công việc chứng nhận bản sao (có tính chất giản đơn hơn), còn Ủy ban nhân dân cấp xã lại không có thẩm quyền chứng thực bản sao. Thời kỳ này, khái niệm chứng thực cũng manh nha hình thành song còn rất mờ nhạt. Trên thực tế, các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội chỉ biết đến khái niệm “công chứng” mà không biết đến khái niệm “chứng thực”. Chính điều này đã dẫn đến tình trạng người dân đổ dồn về các Phòng Công chứng để yêu cầu công chứng bản sao, gây ra tình trạng quá tải, ách tắc  tại các Phòng công chứng trong một thời gian dài (giai đoạn này Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng có thẩm quyền chứng thực bản sao nhưng rất ít người biết đến, thậm chí có trụ sở UBND cấp huyện chỉ cách Phòng Công chứng vài trăm mét nhưng rất ít người đến yêu cầu chứng thực bản sao trong khi tại Phòng Công chứng thì quá tải).
Trong giai đoạn này, việc phải giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện một số việc của công chứng nhằm đáp ứng các mục tiêu:
– Từng bước hoàn thiện cơ quan công chứng chuyên trách, để bảo đảm thực hiện các yêu cầu công chứng một cách chặt chẽ, tin cậy;
– Tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong việc thực hiện các yêu cầu công chứng, chứng thực;
     Như vậy, giai đoạn này có sự pha trộn giữa hoạt động công chứng với tư cách là hoạt động nghiệp vụ của công chứng viên với hoạt động chứng thực là hành vi hành chính của cơ quan hành chính công quyền (Ủy ban nhân dân các cấp). Điều này thể hiện ở việc Phòng Công chứng vừa chứng nhận các hợp đồng, giao dịch vừa chứng nhận bản sao giấy tờ từ bản chính; mặt khác UBND cấp huyện cũng vừa chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính vừa chứng thực hợp đồng, giao dịch. Việc pha trộn giữa hai loại hoạt động công chứng và chứng thực như vậy đã dẫn tới tình trạng không phân biệt hành vi nào là hành vi mang tính dịch vụ, có thu phí hoặc lệ phí và hành vi nào là hành vi hành chính, là trách nhiệm của cơ quan hành chính công quyền phải phục vụ dân. Mặt khác, sự pha trộn đó cũng biến hoạt động công chứng thành hoạt động mang tính chất hành chính khô cứng, quan liêu.
Giai đoạn này, Phòng Công chứng là cơ quan nhà nước, do Nhà nước thành lập và trực thuộc Sở Tư pháp. Công chứng viên là công chức nhà nước, việc làm và thu nhập luôn được đảm bảo, không phụ thuộc vào lượng khách hàng, vì vậy dẫn đến hiện tượng nhiều Phòng công chứng/công chứng viên có biểu hiện cửa quyền, sách nhiễu, gây khó khăn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tình trạng người dân phải xếp hàng, chờ đợi trước cửa Phòng Công chứng để được công chứng diễn ra phổ biến. Tình trạng nhờ vả, chạy chọt để được công chứng một hợp đồng, giao dịch (thậm chí cả bản sao) cũng phổ biến. Chính sự độc quyền này đã tạo cho công chứng viên có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền. Nạn “cò công chứng” cũng vì thế mà trở nên phổ biến, gây bức xúc trong nhân dân.
Giai đoạn này, các việc công chứng, chứng thực được thực hiện cũng rất đơn giản và do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục công chứng/chứng thực nên có thể nói hoạt động công chứng/chứng thực chưa được diễn ra bài bản, chuyên nghiệp. Trình tự/thủ tục công chứng/chứng thực giai đoạn này còn chưa hạn chế được sự tùy tiện. 

b) Giai đoạn từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP cho đến trước thời điểm Luật Công chứng năm 2006Nghị định số 79/2007/NĐ-CP được ban hành 
      Ngày 8/12/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực. Giai đoạn này sự phát triển của hoạt động công chứng/chứng thực đã được nâng lên một bước, quy củ và nền nếp hơn, tuy nhiên chưa mang tính đột phá. Giai đoạn này, sự phân biệt giữa hoạt động công chứng và chứng thực chưa có sự thay đổi đáng kể so với trước đây. Điểm khác biệt lớn nhất là kể từ khi Nghị định này được ban hành thì khái niệm “chứng thực” mới chính thức được ra đời, tồn tại song song, độc lập bên cạnh khái niệm “công chứng”. Tại khoản 2 Điều 2 của Nghị định này đã chỉ rõ: “Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này”. Như vậy, Nghị định 75/2000/NĐ-CP đã chính thức khẳng định hoạt động chứng thực là hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã. Từ đây, những việc tuy có tính chất như công chứng nhưng do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện thì được gọi là chứng thực.  
Như vậy, ở giai đoạn này, hai hoạt động công chứng và chứng thực bước đầu đã có sự phân biệt, tuy nhiên mới chỉ dừng lại phân biệt ở chủ thể thực hiện, chưa căn cứ vào hành vi, tính chất công việc. Ví dụ cùng một loại việc  nhưng nếu do Phòng Công chứng thực hiện thì được gọi là công chứng, do Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện thì được gọi là chứng thực.
   Có thể nói, việc ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng thể chế về hoạt động chứng thực. Nghị định số 75/2000/NĐ-CP với những quy định khá chi tiết, cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục… thực hiện các loại việc chứng thực, lần đầu tiên đã tạo cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ, rõ ràng cho hoạt động chứng thực, tạo thuận lợi cho người thực hiện chứng thực. Nghị định số 75/2000/NĐ-CP đã đưa hoạt động chứng thực, đặc biệt là hoạt động chứng thực hợp đồng, giao dịch ở nước ta đi vào nền nếp và có những đóng góp tích cực trong việc đáp ứng nhu cầu chứng thực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mọi vùng miền, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn…, góp phần phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch dân sự, kinh tế.
Giai đoạn này, đối tượng của hai loại hoạt động công chứng và chứng thực vẫn chưa được phân biệt dứt khoát. Tuy trên thực tế có việc thuộc hành vi công chứng như: chứng nhận các hợp đồng, các giao dịch nhưng cũng có việc thuộc về hành vi hành chính như chứng nhận bản sao từ bản chính, nhưng Nghị định 75/2000/NĐ-CP không có sự phân định rõ thẩm quyền chứng nhận của công chứng với thẩm quyền thị thực hành chính của Ủy ban nhân dân. Cụ thể là có một số loại việc tương đối phức tạp nhưng vẫn được giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã chứng thực mà đáng lẽ ra những việc đó chỉ nên giao cho cơ quan công chứng chứng nhận (VD: chứng nhận hợp đồng, kể cả hợp đồng mà đối tượng là bất động sản, chứng thực di chúc…) hoặc có những việc đơn giản như chứng thực bản sao vẫn được giao cho Phòng Công chứng, trong khi các Phòng Công chứng giai đoạn này đều đang quá tải. Nhiều chủng loại hợp đồng, giao dịch dân sự cùng được chứng nhận tại cả Phòng Công chứng và tại UBND cấp huyện tùy theo địa hạt và tùy theo giá trị tài sản ghi trong hợp đồng. Nguyên nhân của tình trạng này vẫn là do số lượng các Phòng Công chứng chưa đủ để đáp ứng yêu cầu của người dân (giai đoạn này số lượng các Phòng Công chứng trên cả nước đã tăng lên nhưng cũng chỉ được khoảng hơn 300 Phòng; tại những tỉnh, thành phố lớn như Hà nội, thành phố Hồ Chí minh cũng chỉ có khoảng 4- 5 Phòng Công chứng), dẫn đến Ủy ban nhân dân cấp huyện vẫn phải thực hiện nhiệm vụ của Phòng Công chứng.
    Tuy nhiên, cả về mặt lý luận và thực tiễn đều cho thấy việc giao nhiệm vụ chứng nhận một số hợp đồng dân sự cho Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng như việc giao cho công chứng viên chứng nhận bản sao giấy tờ tài liệu còn có một số mặt chưa thực sự phù hợp trong giai đoạn này, từ đó làm quá tải các Phòng Công chứng, gây phiền hà cho công dân khi yêu cầu chứng nhận các việc giản đơn và các công chứng viên không có thời gian để tập trung vào nhiệm vụ chính là công chứng hợp đồng, giao dịch.
    Thực tế này dẫn đến đòi hỏi khách quan, tất yếu là cần phải có thêm nhiều phòng công chứng, nhiều công chứng viên để đảm nhiệm việc công chứng các hợp đồng, giao dịch, tạo điều kiện để UBND cấp huyện, cấp xã giảm dần việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch, tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ chính là quản lý nhà nước.
    Mặt khác, giai đoạn này những hạn chế, tiêu cực của hoạt động công chứng/chứng thực vẫn tồn tại như giai đoạn trước đây và có xu hướng ngày càng tăng. Bên cạnh đó, hoạt động chứng thực chưa khẳng định được vị trí độc lập của mình bên cạnh hoạt động công chứng. Hoạt động chứng thực chữ ký người dịch vẫn được giao cho các Phòng Công chứng, các Phòng Tư pháp không có thẩm quyền này. Hoạt dộng công chứng bản sao vẫn đổ dồn vào các Phòng Công chứng, trong khi đó số lượng các Phòng Công  lại rất hạn chế do Nhà nước không đủ nguồn lực để thành lập thêm nhiều Phòng Công chứng.  Trong khi đó, đời sống kinh tế – xã hội của nước ta trong giai đoạn này đã có sự phát triển mạnh mẽ, vượt bậc so với giai đoạn trước khiến cho nhu cầu công chứng/chứng thực của cơ quan, tổ chức, cá nhân ngày càng tăng, còn UBND cấp xã vẫn chưa được giao thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính. Chính vì vậy tình trạng ách tắc, quá tải tại các Phòng Công chứng ngày càng trở nên trầm trọng.
     Có thể nói, giai đoạn này hoạt động công chứng/chứng thực chưa thực hiện tốt vai trò của mình với tư cách là công cụ pháp lý hỗ trợ sự phát triển triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ngược lại, hoạt động công chứng/chứng thực giai đoạn này phần nào đó còn kìm hãm sự phát triển của các quan hệ kinh tế – xã hội.


c) Giai đoạn từ khi Luật Công chứng năm 2006 và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP được ban hành cho đến trước thời điểm Luật Công chứng năm 2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP được ban hành
     Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra, đặc biệt là Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị, với mục đích tạo điều kiện cho công tác công chứng, chứng thực ở Việt Nam phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, phục vụ tốt hơn nhu cầu công chứng, chứng thực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội, ngày 29/11/2006, Quốc Hội đã thông qua Luật công chứng và ngày 18/5/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. Từ đây, hoạt động công chứng và chứng thực đã tách bạch. Việc ban hành Luật công chứng và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP là phù hợp trong giai đoạn này, đặc biệt việc xã hội hóa hoạt động công chứng và giao việc chứng thực bản sao cho UBND cấp xã thực hiện là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực, đưa hoạt động công chứng phát triển theo hướng chuyên nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế và gắn hoạt động chứng thực với vai trò của chính quyền địa phương.
     Từ thời điểm này, hoạt động công chứng và chứng thực đã có sự tách bạch, nhiệm vụ của hoạt động công chứng và chứng thực đã được phân biệt tương đối rạch ròi, phù hợp với tình hình thực tế của giai đoạn này. Theo đó, tổ chức hành nghề công chứng được giao nhiệm vụ chính là công chứng hợp đồng, giao dịch, không còn đảm nhận nhiệm vụ mang tính chất chứng thực là chứng thực bản sao, chữ ký.  Theo quy định của Luật Công chứng thì Phòng công chứng và Văn phòng công chứng có nhiệm vụ là:“chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Còn Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã theo quy định của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP được giao nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản và chứng thực chữ ký (giai đoạn này, UBND cấp xã đã được chính thức giao nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chính). Việc mở rộng phân cấp thẩm quyền chứng thực cho Ủy ban nhân dân cấp xã đã đưa cơ quan chứng thực đến gần dân hơn, tạo thuận lợi cho người dân. Đồng thời, việc tổ chức hành nghề công chứng chấm dứt công chứng bản sao đã “buộc” người dân làm quen với hoạt động chứng thực bản sao tại UBND cấp xã, cấp huyện, chấm dứt tình trạng ách tắc, quá tải tại các phòng công chứng.
     Tuy nhiên, dù đã cố gắng phân định như vậy nhưng giai đoạn này nhiệm vụ của hoạt động công chứng và chứng thực vẫn có sự giao thoa, chồng lấn, chưa thể hoàn toàn  phân định tách bạch, rõ ràng cho phù hợp với bản chất của hai loại hoạt động này. Nguyên nhân là do hiện nay mạng lưới tổ chức hành nghề công chứng chưa đủ để đáp ứng được nhu cầu của nhân dân trên địa bàn toàn quốc nên UBND cấp huyện, cấp xã tại một số địa bàn nơi chưa có tổ chức hành nghề công chứng hoặc tuy có nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân vẫn tạm thời thực hiện nhiệm vụ chứng thực hợp đồng, giao dịch. 


d) Giai đoạn từ khi Luật Công chứng năm 2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP được ban hành cho đến nay
     Do đặc điểm tình hình hình giai đoạn này đã có sự thay đổi, sau nhiều năm thực hiện xã hội hóa hoạt động công chứng, số lượng các tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên trên toàn quốc đã tăng lên đáng kể, không còn tình trạng ách tắc, quá tải tại các tổ chức hành nghề công chứng nữa. Cùng với đó, cơ chế xin – cho trước đây đã được thay thế bằng cơ chế dịch vụ, mà ở đó khách hàng được coi trọng; những tiêu cực trước đây trong hoạt động công chứng cũng không còn. Trước tình hình này, ngày   20/6/2014 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Công chứng mới. Luật Công chứng năm 2014 đã giao trở lại cho tổ chức hành nghề công chứng thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và thẩm quyền công chứng bản dịch. Có thể nói, việc giao trở lại cho tổ chức hành nghề công chứng các thẩm quyền này là phù hợp với tình hình hiện nay, một mặt vừa tạo thêm một “kênh” để người dân lựa chọn, một mặt vừa tạo điều kiện cho các tổ chức hành nghề công chứng duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động.
     Còn với sự ra đời của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, thì về cơ bản hoạt động chứng thực vẫn được duy trì tại UBND cấp huyện, cấp xã, bên cạnh đó là hoạt động chứng thực bản sao, chữ ký tại tổ chức hành nghề công chứng. Tuy nhiên, để đảm bảo phù hợp với điều kiện, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác chứng thực, việc chứng thực hợp đồng, giao dịch đã được đơn giản hóa, đặc biệt là giá trị pháp lý của hợp đồng, giao dịch được chứng thực. Theo đó, hợp đồng, giao dịch được chứng thực chỉ có giá trị “hình thức,” tức có giá trị pháp lý thấp hơn so với hợp đồng, giao dịch được công chứng. Điều này là phù hợp với thực tế vì hiện nay, tại những tỉnh, thành phố lớn nơi có điều kiện kinh tế – xã hội phát triển thì việc chứng thực hợp đồng, giao dịch đã được chuyển giao cho các tổ chức hành nghề công chứng. Chỉ tại những địa phương vùng sâu, vùng, xa, vùng kinh tế khó khăn… thì UBND cấp huyện, cấp xã vẫn tiếp tục đảm đương nhiệm vụ chứng thực hợp đồng, giao dịch. Việc chứng thực hợp đồng, giao dịch theo quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP một mặt vừa làm giảm thủ tục cũng như lệ phí cho bà con nơi đây, mặt khác vẫn đảm bảo yêu cầu của pháp luật trong trường hợp giao dịch đó buộc phải có công chứng/chứng thực. Chỉ trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì do hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị pháp lý thấp hơn nên độ an toàn không cao bằng hợp đồng, giao dịch được công chứng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy giao dịch diễn ra tại những địa phương này thường là đơn giản, có giá trị nhỏ vì vậy khả năng phát sinh tranh chấp không cao hoặc nếu có cũng không quá khó để giải quyết.

 

Nguồn: Tổng hợp

 

 

Công khai tuyển dụng ưu tiên “con ông cháu cha”, phạt thế nào?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) vừa công bố trên website thông tin tuyển dụng năm 2015 với nhiều tiêu chí.

Đáng nói, Agribank công khai tiêu chí ưu tiên cho con em người nhà cán bộ ngân hàng: “Đối tượng ưu tiên là: con cán bộ hiện đang công tác tại các chi nhánh, văn phòng đại diện, các đơn vị thuộc Trụ sở chính của Agribank chưa có người con nào làm việc tại Agribank (con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi hợp pháp) được cộng 30 điểm (thang điểm 100)”.

 

 

Hình như đây là việc vô tiền khóang hậu, bởi lẽ chuyện tuyển dụng ưu ái thế này chưa thấy có ai hô hào hẳn lên website một cách công khai. Hôm nay check link tuyển dụng của Agribank thấy vẫn còn thông tin, chưa gỡ bỏ. Vụ này sẽ làm lơ cho qua hay sẽ phạt, nếu phạt thì cơ quan chức năng nào có quyền phạt Agribank?

Án phạt nào cao nhất cho những kẻ bắt cóc trẻ em để lấy nội tạng?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Nạn bắt cóc trẻ em để lấy nội tạng không phải là mới xuất hiện ngày một ngày hai. Vấn nạn này đã có từ rất lâu về trước và Luật Hình sự Việt Nam cũng có những chế tài nghiêm khắc cho loại tội phạm này.

Tuy nhiên, gần đây, dư luận xôn xao vì vấn nạn này xuất hiện công khai trở lại và gây ra nhiều vụ việc đau lòng. Mặc dù biết được hậu quả phải gánh chịu nếu bị cơ quan chức năng bắt giữ nhưng những đối tượng phạm tội này vì món lợi nhuận béo bở nên vẫn tiếp tục mở rộng đường dây, thực hiện hành vi phạm pháp. Sau đây, căn cứ vào luật hình sự Việt Nam, chúng ta đi phân tích cụ thể cấu thành và hình phạt cho loại tội phạm này.

Với hành vi bắt cóc trẻ em, sau đó giết hại nhằm mục đích lấy nội tạng sẽ cấu thành tội giết người theo Khoản 1 Điều 93 BLHS hiện hành với tình tiết tăng nặng là giết trẻ em và để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; loại tội phạm này thường có thêm tình tiết tăng nặng nữa là phạm tội có tổ chức, giết nhiều người và thực hiện tội phạm một cách man rợ. Sau đây là các yếu tố cấu thành loại tội phạm này:

− Mặt chủ quan: đây là lỗi cố ý, hung thủ biết hậu quả xảy ra nhưng vẫn thực hiện và mong muốn chúng xảy ra để đạt được mong muốn là lấy được bộ phận của nạn nhân.

− Mặt khách quan: xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác.

− Khách thể: Có hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật. Có hậu quả xảy ra làm nạn nhân chết. Và có mối quan hệ nhận quả giữa hành vi và hậu quả.

− Chủ thể: các đối tượng phạm tội thỏa mãn điều kiện về tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS. Đây là tội phạm có tính chất đặc biệt nghiêm trọng nên đối tượng thực hiện chỉ cần đủ14 tuổi trở lên là đã phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Về tình tiết tăng nặng:

  • Giết trẻ em: Giết trẻ em là trường hợp người phạm tội đã cố ý tước đoạt tính mạng của trẻ em. Theo Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì người dưới 16 tuổi là trẻ em. Giết trẻ em được coi là trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự, không chỉ xuất phát từ quan điểm bảo vệ trẻ em là bảo vệ tương lai của đất nước, bảo vệ lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn bảo vệ những người không có khả năng tự vệ. Việc xác định tuổi của người bị hại, xác định là trẻ em là một yêu cầu bắt buộc của cơ quan tiến hành tối tụng. Phạm tội đối với trẻ em nói chung và giết trẻ em nói riêng không phải là tình tiết thuộc ý thức chủ quan của người phạm tội mà là tình tiết khách quan, do đó không cần người phạm tội phải nhân thức được hoặc buộc họ phải nhận thức được đối tượng mà mình xâm phạm là trẻ em thì mới coi là tình tiết tăng nặng, mà chỉ cần xác định người mà người phạm tội xâm phạm là trẻ em thì người phạm tội đã bị coi là phạm tội đối với trẻ em.
  • Giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân: Đây là trường hợp giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân thay thế hoặc để bán cho người khác dùng vào việc thay thế bộ phận đó.
  • Có tổ chức: Là trường hợp nhiều người tham gia vào một vụ giết người, có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện việc giết người; có sự phân công; có kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc giết người. Những vụ việc như này thường hình thành đường dây, có sự phân công rõ ràng với từng công việc, từ việc dụ dỗ, bắt cóc, đến giết hại và bán nội tạng nạn nhân.
  • Giết nhiều người: Giết nhiều người là trường hợp người phạm tội  có ý định giết từ hai người trở lên hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả nhiều người chết xảy ra. Thường hành vi bắt cóc trẻ em để lấy nội tạng sẽ diễn ra theo đường dây, có tổ chức, thực hiện mới quy mô chứ không đơn lẻ. Vậy nên thường sẽ có nhiều trẻ em là nạn nhân của chúng.
  • Thực hiện một cách man rợ: Tính chất man rợ của hành vi giết người thể hiện ở chỗ, làm cho nạn nhân đau đớn, quằn quại trước khi chết như: mổ bụng, moi gan, khoét mắt, chặt chân tay, xẻo thịt, lột da, …Các hành vi này, người phạm tội  thực hiện trước khi tội phạm hoàn thành, tức là trước khi nạn nhân bị chết. Thông thường, đối tượng phạm tội chỉ thực hiện việc lấy nội tạng sau khi nạn nhân chết. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp vì một số lý do nhất định đã tiến hành khi nạn nhân chưa chết. Khi đó, hành vi phạm tội sẽ có thêm tình tiết tăng nặng này.

Và với tính tiết tăng nặng như vậy, người phạm tội có thể nhận bản án với hình phạt là phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình tùy vào mức độ tham gia phạm tội của từng người và từng vụ án khác nhau.

 

Công an xã được quyền dừng xe và xử phạt giao thông khi nào?


Thông thường, việc dừng xe và xử phạt người vi phạm khi tham gia giao thông đường bộ là cảnh sát giao thông (thường dễ nhận dạng nhất và được người dân hay gọi là “chú công an mặc áo vàng”). Vậy, có khi nào các bạn gặp trường hợp các chú công an xã buộc bạn dừng xe và yêu cầu xử phạt chưa?

Lúc trước ở quê mình đã từng bị và đã làm theo những gì công an xã yêu cầu, mặc dù cứ nghĩ “ủa! công an xã có quyền xử phạt mình ư”. Nay học luật về rồi mới biết, đúng là công an xã có quyền đó thiệt, nhưng thực hiện ở trường hợp và trong một giới hạn nhất định.

Sau đây, mình sẽ chỉ ra các trường hợp mà công an xã sẽ có quyền được yêu cầu dừng xe và xử phạt qua hai điểm mình lưu ý dưới đây, mình vừa giúp mình có thêm kiến thức và cho những bạn quan tâm mình cùng biết nhé.

Theo quy định Nghị định 27/2010/NĐ-CP của chính phủ về việc “huy động các lực lượng cảnh sát khác và công an xã phối hợp với cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết”. Nghị định được được hướng dẫn bởi Thông tư 47/2011/TT-BCA của Bộ công an ban hành ngày 02/07/2011.

Mình lưu ý hai điểm sau:

1. Theo quy định thì lực lượng công an xã chỉ được tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ khi có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền.

 Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị đinh số 27/2010/NĐ-CP quy định như sau:

“1. Việc huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ chỉ thực hiện trong những trường hợp cần thiết quy định tại Điều 4 Nghị định này và do người có thẩm quyền quy định tại Điều 5 Nghị định này quyết định bằng văn bản.

2. Mọi hoạt động trong khi tham gia, phối hợp tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ phải thực hiện theo quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; việc tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông phải thực hiện theo đúng địa bàn, tuyến đường, thời gian quy định trong văn bản huy động của cơ quan, người có thẩm quyền”.

Như vậy, theo quy định trên thì lực lượng công an xã chỉ tham gia thực hiện quyền xử phạt giao thông khi có Quyết định hoặc Kế hoạch huy động của người có thẩm quyền,

Người có thẩm quyền ở đây là: Bộ trưởng Bộ Công an; Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội; Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Trưởng Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. (Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 27/2010/NĐ-CP).

Lúc này nếu bạn bị công an xã dừng xe bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu các lực lượng này xuất trình văn bản huy động để chứng minh thẩm quyền của mình.

Trường hợp: Nếu không có một trong hai loại văn bản trên mà lực lượng công an xã và cảnh sát khác, mà công an xã tự ý thực hiện dừng phương tiện để xử phạt là không đúng với quy định của pháp luật.

2. Công an xã không có quyền dừng phương tiện để kiểm tra hành chính.

Căn cứ theo Khoản 4 Điều 7 Thông tư 47/2011/TT-BCA quy định về “nhiệm vụ của lực lượng cảnh sát khác và công an xã” thì lực lượng công an xã chỉ được thực hiện xử lý vi phạm về an toàn giao thông trong các trường hợp sau:

– Chỉ đươc dừng phương tiện để xử lý các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông như: điều khiển xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định, chở hàng hóa cồng kềnh; đỗ xe ở lòng đường trái quy định; điều khiển phương tiện phóng nhanh, lạng lách, đánh võng, tháo ống xả, không có gương chiếu hậu hoặc chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện theo quy định của pháp luât… mà không được dừng phương tiện để kiểm tra hành chính.

– Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát hiện vi phạm hành chính vượt quá thẩm quyền thì phải lập biên bản vi phạm hành chính và báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết.

Vậy, không phải trường hợp nào việc công an xã yêu cầu dừng xe và xử phạt là đúng đâu nhé, thường ở quê mình sẽ gặp trường hợp này nhiều hơn. Nên sau này lỡ có gặp phải bạn cứ mạnh dạn yêu cầu công an xã xuất trình giấy tờ chứng minh có thẩm quyền nhé.

Như thế nào là phạm tội lần đầu


Phạm tội lần đầu là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời là căn cứ tha tù trước thời hạn theo quy định của Bộ luật hình sự 2015. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán nhân dân tối cao, phạm tội lần đầu được hiểu như sau:

Được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Trước đó chưa phạm tội lần nào;

2. Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự;

Các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự:

– Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

  • Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
  • Khi có quyết định đại xá.

– Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

  • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
  • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
  • Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
  • Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

3. Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;

4. Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích.

Các trường hợp được coi là không có án tích

– Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn luật định

– Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 điều 70 Bộ luật Hình sự 2015

– Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;
  • Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
  • Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này.

– Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới.

Theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015, để đủ yếu tố trở thành tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội lần đầu phải là trường hợp ít nghiêm trọng. Tức là:

– Phạm tội gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù;

– Phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm.

 

Vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới trong trường hợp nào?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi:

Chồng vay tiền nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, thì vợ có chịu trách nhiệm liên đới đối với khoản vay đó không?

Câu trả lời:

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

“Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này”.

Trong đó, khoản 1 Điều 30 có quy định:

“Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”.

Như vậy, khoản tiền chồng vay để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ cũng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với khoản này.

Khi nào Luật sư bị “đuổi” khỏi tòa

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Trong thực tế, có khá nhiều trường hợp Luật sư bị hội đồng xét xử “đuổi” khỏi phiên tòa. Mặc dù vai trò của Luật sư được ghi nhận trong pháp luật, nhưng khi tham gia tố tụng phải tuân thủ nội quy và chấp hành sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa. Như vậy, khi nào thì Luật sư có thể bị “đuổi” khỏi phiên tòa?

Đối với phiên tòa dân sự:

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định các hành vi vi phạm nội quy phiên tòa được xử lý như sau:

– Người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa quy định tại Điều 234 của Bộ luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị chủ tọa phiên tòa xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

– Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định buộc người vi phạm nội quy phiên tòa rời khỏi phòng xử án. Cơ quan công an có nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa thi hành quyết định của chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính người gây rối trật tự tại phiên tòa.

– Trường hợp người vi phạm nội quy phiên tòa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

Nội quy phiên tòa được quy định như sau:

1. Khi vào phòng xử án, mọi người đều phải chấp hành việc kiểm tra an ninh của lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa.

2. Nghiêm cấm mang vào phòng xử án vũ khí, hung khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, đồ vật cấm lưu hành, truyền đơn, khẩu hiệu và tài liệu, đồ vật khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa, trừ vật chứng của vụ án phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ trợ được người có thẩm quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.

3. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa tại bàn thư ký chậm nhất là 15 phút trước giờ khai mạc phiên tòa và ngồi đúng vị trí trong phòng xử án theo hướng dẫn của Thư ký phiên tòa; trường hợp đến muộn thì phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa thông qua lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.

4. Nhà báo tham dự phiên tòa để đưa tin về diễn biến phiên tòa phải chấp hành sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa về khu vực tác nghiệp. Nhà báo ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của Hội đồng xét xử phải được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa. Việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh của đương sự, người tham gia tố tụng khác phải được sự đồng ý của họ.

5. Mọi người tham dự phiên tòa phải có trang phục nghiêm chỉnh; có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.

6. Không đội mũ, nón, đeo kính màu trong phòng xử án, trừ trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa; không sử dụng điện thoại di động, không hút thuốc, không ăn uống trong phòng xử án hoặc có hành vi khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa.

7. Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường hợp được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án khi có lý do chính đáng.

Người dưới mười sáu tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa.

8. Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án, trừ trường hợp đặc biệt được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa.

9. Chỉ những người được Hội đồng xét xử đồng ý mới được hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho ngồi để hỏi, trả lời, phát biểu.

Như vậy, đối với luật sư khi vi phạm các quy định của nội quy phiên tòa có thể bị chủ tọa phiên tòa ra quyết định buộc rời khỏi phòng xử án.

Đối với tòa hình sự

Nội quy phiên tòa được quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự cụ thể như sau:

– Mọi người vào phòng xử án phải mặc trang phục nghiêm túc, chấp hành việc kiểm tra an ninh và thực hiện đúng hướng dẫn của Thư ký Tòa án.

– Mọi người trong phòng xử án phải tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa.

– Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án. Bị cáo phải đứng khi Kiểm sát viên công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố. Người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa muốn trình bày ý kiến phải được chủ tọa phiên tòa đồng ý; người trình bày ý kiến phải đứng khi trình bày ý kiến, khi được hỏi.

– Những người vì lý do sức khỏe có thể được chủ tọa phiên tòa cho phép ngồi.

– Tại phiên tòa, bị cáo đang bị tạm giam chỉ được tiếp xúc với người bào chữa cho mình. Việc tiếp xúc với những người khác phải được chủ tọa phiên tòa cho phép.

– Người dưới 16 tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập đến phiên tòa.

Cũng giống như phiên tòa dân sự, người vi phạm nội quy phiên Tòa cũng có thể bị chủ tọa phiên Tòa ra quyết đinh buộc rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính theo quy định tại khoản 2 điều 467 Bộ luật Tố tụng Hình sự

“2. Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định buộc người vi phạm rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính. Cơ quan công an có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa thi hành quyết định của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính người gây rối trật tự phiên tòa.”

Trên thực tế, không ít trường hợp luật sư bị Chủ tọa phiên tòa buộc rời khỏi phòng xét xử. Tuy nhiên, ở những trường hợp đó phải xem xét đến việc hành vi buộc rời khỏi phiên Tòa có đảm bảo tính khách quan hay không.

Nếu hành vi buộc rời khỏi phiên Tòa mang nhiều ý chí chủ quan của Chủ tọa phiên tòa, điều này gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động tố tụng, cũng như gây khó khăn trong hoạt động hành nghề của các Luật sư.

Trang phục thanh tra ngành Giao thông vận tải được quy định như thế nào?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi:

Xin chào, tên tôi là Thu Hà. Tôi đang muốn tìm hiểu quy định về “Trang phục thanh tra ngành Giao thông vận tải”. Rất mong nhận được câu trả lời.

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại Điều 5 Thông tư 52/2015/TT-BGTVT quy định về phù hiệu, cờ hiệu, trang phục; phương tiện, thiết bị kỹ thuật của thanh tra ngành Giao thông vận tải do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành, trang phục thanh tra ngành Giao thông vận tải được quy định như sau:

1. Trang phục của thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành, công chức, viên chức, nhân viên được giao nhiệm vụ thanh tra thuộc Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở, Thanh tra Cục Hàng hải, Thanh tra Cục Hàng không và các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải bao gồm: áo, quần (xuân – hè, thu – đông), mũ kêpi, cà vạt (cravat), thắt lưng, giầy da, bít tất, dép quai hậu, ủng cao su, mũ bảo hiểm, sao mũ, cành tùng, cúc cấp hiệu, cầu vai, cấp hàm, biển tên, quần áo đi mưa, cặp tài liệu.

Mẫu trang phục thanh tra ngành Giao thông vận tải quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này.

2. Tùy từng điều kiện và đặc thù công tác, thanh tra ngành Giao thông vận tải được trang bị bảo hộ lao động theo quy định của pháp luật.

3. Quy cách, màu sắc, chất lượng trang phục thanh tra ngành Giao thông vận tải thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 8 Thông tư này.

4. Thanh tra viên, công chức thuộc Thanh tra Hàng hải, Thanh tra Hàng không và công chức thanh tra chuyên ngành, viên chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thuộc Cục Hàng hải Việt Nam, Cục Hàng không Việt Nam, Cảng vụ Hàng hải, Cảng vụ Hàng không được sử dụng áo sơ mi màu trắng, có hình khiên gắn trên tay áo bên trái và mũ kêpi có màu trắng.

Trên đây là nội dung tư vấn về Trang phục thanh tra ngành Giao thông vận tải. Để hiểu rõ và chi tiết hơn vui lòng xem thêm tại Thông tư 52/2015/TT-BGTVT.