Quyền miễn trừ Tư pháp


Quốc gia nào được hường quyền miễn trừ tư pháp? Quốc gia nào không được hưởng quyền miễn trừ tư pháp? Cho Ví dụ cụ thể và Phân tích?

Mong mọi người giúp em với ạ

Khái niệm thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi: tìm hiểu về:Khái niệm về thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; căn cứ pháp lý hiện hành hay cơ sở lý luận của nó?

Tra lời:

– Khái niệm: Thế chấp tài sản là  việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.

– Hiệu lực của Hợp đồng thế chấp tài sản: có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

– Việc thế chấp tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:

+ Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt.

+  Việc thế chấp tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

+ Tài sản thế chấp đã được xử lý.

+ Theo thỏa thuận của các bên.

Việc thế chấp quyền sử dụng đất và thế chấp tài sản gắn liền với đất có thể thực  hiện đồng bộ hoặc tách biệt;  có thể 2 bên tự thế chấp với nhau hoặc nhờ đến bên thứ ba; pháp luật quy định cụ thể như sau;

Đối với thế chấp quyền sử dụng đất, được quy định tại Điều 325, Bộ Luật Dân sự 2015:

“1. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Đối với việc thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 326, Bộ luật dân sự 2015:

“1. Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đồng thời là người sử dụng đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất thì khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Đối với quyền và nghĩa vụ của bên nhận và bên thế chấp tài sản, bên thứ ba giữ  tài sản thế chấp được thực hiện theo các quy định từ Điều 320 đến Điều 325 của Bộ luật Dân sự 2015.

 

Hỏi đáp về thế chấp quyền sử dụng đất

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi:

” Mọi người ơi cho em hỏi, theo Khoản 2 Điều 325 Bộ luật dân sự 2015 có quy định :”Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Vậy nếu một người thế chấp quyền sử dụng đất của mình cho ngân hàng mà các tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền sở hữu của họ thì khi tài sản bị xử lí ngân hàng chỉ được bán đấu giá mảnh đất thôi phải không ạ?. Nhưng nếu bán đấu giá mảnh đất mà  quyền sử dụng đất đó lại bị ảnh hưởng bởi quyền bề mặt (của chủ các tài sản gắn liền với đất) thì khả năng bán được sẽ không cao. Vậy điều này có phải là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu phải không ạ? Em xin cảm ơn! “

Trả lời: 

Theo quy định tại Điều 325 Bộ luật dân sự 2015 thì có 2 trường hợp xảy ra khi thế chấp quyền sử dụng đất như sau:

Trường hợp 1: Khi thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Ví dụ: A thế chấp quyền sử dụng 80 m2 đất để vay ngân hàng khoản tiền 500 triệu. Nhưng trên đất, A đã có căn nhà 4 tầng nhưng chưa được chứng nhận quyền sở  hữu. Như vậy, đối tượng của hợp đồng thế chấp là quyền sử dụng 80 m2 đất. Hết hạn hợp đồng nếu A không trả được nợ cho ngân hàng. Khi rơi vào các trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm, ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý cả căn nhà 4 tầng trên đất của A.

Trường hợp 2: Khi thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

− Trong trường hợp này, quan hệ thế chấp và xử lý tài sản thế chấp có 3 chủ thể khác nhau, đó là: Chủ sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ hoạt động xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất. Theo đó, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình. Quyền và nghĩa vụ của chủ sử dụng đất (bên thế chấp) sẽ được chuyển giao cho người nhận chuyển nhượng (bên mua được tài sản thế chấp).

Ví dụ: anh A cho anh B thuê quyền sử dụng 800m2 đất thời hạn 20 năm. Anh B đã tiến hành xây dựng nhà xưởng và cải tạo 800m2 đất để khai thác giá trị sử dụng của lô đất. Do cần tiền để làm ăn, anh A đã tiến hành thế chấp quyền sử dụng 1000m2 đất mà mình có cho ngân hàng để vay tiền trong thời hạn 10 năm. Hết 10 năm A không trả được nợ cho ngân hàng, Ngân hàng tiến hành các thủ tục để xử lý toàn bộ 1000m2 đất của A. Khi bán đấu giá quyền sử dụng 800m2 đất, anh C đã nhận chuyển nhượng thành công. Tất cả khoảng thời gian để ngân hàng yêu cầu xử lý, xử lý, mua bán đấu giá thành công là 6 tháng. Theo quy định trên, anh B vẫn được khai thác quyền sử dụng 800m2 đất đến hết thời hạn (còn 9 năm 6 tháng). Anh C tuy đã nhận chuyển nhượng thành công và là người có quyền sở hữu quyền sử dụng 800m2 đó nhưng phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của anh A trong hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với anh B và anh B vẫn được tiếp tục sử dụng nhà xưởng trong phạm vi quyền và nghĩa vục của mình. Mặt khác, giữa anh A, anh B và anh C hoàn toàn có thể có thỏa thuận khác. Ví dụ thay vì anh C có quyền khai thác sử dụng 800m2 trong thời hạn 9 năm 6 tháng, các bên có thể thỏa thuận thòi hạn kéo dài thêm hoặc ngắn hơn. Hoặc thay vì anh A chấm dứt hoàn toàn quyền của mình trong hợp đồng thuê hoặc quyền sở hữu quyền sử dụng đất, các bên có thể thỏa thuận anh A vẫn là chủ thể mang quyền trong hợp đồng thuê với anh B, còn người có quyền sử dụng đất là anh C.

⇒ Như vậy,  nếu một người thế chấp quyền  sử dụng đất của mình cho ngân hàng mà các tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền sở hữu của họ thì khi tài sản bị xử lí, ngân hàng chỉ được bán đấu gía quyền sử dụng đất, còn chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

− Nếu ngân hàng bán đấu giá mảnh đất mà  quyền sử dụng đất đó lại bị ảnh hưởng bởi quyền bề mặt( của chủ các tài sản gắn liền với đất) thì khả năng bán được sẽ không cao. Và điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu.

− Nếu bên thế chấp và bên nhận không thỏa thuận được giá bán TSBĐ thì ngay cả trong trường hợp bên bảo đảm bất hợp tác, phía ngân hàng cũng có thể chỉ định tổ chức thẩm định giá để xác định giá bán tài sản. Tuy nhiên, với loại tài sản đặc biệt như quyền sử dụng đất thì rất khó xác định bởi chưa có căn cứ xác định “giá thị trường” đối với loại đất này khi có hai cơ chế để tính giá đối với quyền sử dụng đất:

+ Thứ nhất: tính theo “khung giá” do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành khi giao đất có thu tiền hay cho thuê đất đối với các chủ thể là cá nhân, hộ gia đình, tổ chức có nhu cầu sử dụng đất.

+ Thứ hai: xác định theo thỏa thuận của các chủ thể có quyền sử dụng đất khi chuyển nhượng, cho thuê đối với các chủ thể khác.

 

Đặc điểm về Quyền và Nghĩa vụ của người làm chứng trong BLTTHS


Cho em hỏi các nhận biết Đặc ĐIểm về Quyền và Nghĩa vụ của Người Làm chứng

Cũng như Đặc Điểm của Người làm chứng với ạ

Em cần 1 số thông tin để hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp của mình

Em cám ơn anh chị đã đọc .

Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi ly hôn


Tháng 09/2019 Tòa án nhân dân tỉnh V đã xét xử ly hôn giữa anh A và chị B. Tòa án tuyên chị B được quyền sử dụng đất diện tích 250m2 và nhà ở trên đất và phải hoàn lại cho anh A 400 triệu đồng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên 02 vợ chồng nhưng đã thất lạc. Tòa án đã cấp bản án kem theo trích đo địa chính thửa đất và nhà cho chị B. 

Hỏi trong trường hợp này chị B phải có những giấy tờ gì để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị? (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên 02 vợ chồng bản gốc đã bị thất lạc).  Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm những gì? Chị B có phải hoàn lại giá trị cho anh A 400 triệu và án phí trước khi đi đăng ký quyền sử dụng đất không?. 

Công an xã được quyền dừng xe và xử phạt giao thông khi nào?


Thông thường, việc dừng xe và xử phạt người vi phạm khi tham gia giao thông đường bộ là cảnh sát giao thông (thường dễ nhận dạng nhất và được người dân hay gọi là “chú công an mặc áo vàng”). Vậy, có khi nào các bạn gặp trường hợp các chú công an xã buộc bạn dừng xe và yêu cầu xử phạt chưa?

Lúc trước ở quê mình đã từng bị và đã làm theo những gì công an xã yêu cầu, mặc dù cứ nghĩ “ủa! công an xã có quyền xử phạt mình ư”. Nay học luật về rồi mới biết, đúng là công an xã có quyền đó thiệt, nhưng thực hiện ở trường hợp và trong một giới hạn nhất định.

Sau đây, mình sẽ chỉ ra các trường hợp mà công an xã sẽ có quyền được yêu cầu dừng xe và xử phạt qua hai điểm mình lưu ý dưới đây, mình vừa giúp mình có thêm kiến thức và cho những bạn quan tâm mình cùng biết nhé.

Theo quy định Nghị định 27/2010/NĐ-CP của chính phủ về việc “huy động các lực lượng cảnh sát khác và công an xã phối hợp với cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết”. Nghị định được được hướng dẫn bởi Thông tư 47/2011/TT-BCA của Bộ công an ban hành ngày 02/07/2011.

Mình lưu ý hai điểm sau:

1. Theo quy định thì lực lượng công an xã chỉ được tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ khi có quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền.

 Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị đinh số 27/2010/NĐ-CP quy định như sau:

“1. Việc huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ chỉ thực hiện trong những trường hợp cần thiết quy định tại Điều 4 Nghị định này và do người có thẩm quyền quy định tại Điều 5 Nghị định này quyết định bằng văn bản.

2. Mọi hoạt động trong khi tham gia, phối hợp tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ phải thực hiện theo quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; việc tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông phải thực hiện theo đúng địa bàn, tuyến đường, thời gian quy định trong văn bản huy động của cơ quan, người có thẩm quyền”.

Như vậy, theo quy định trên thì lực lượng công an xã chỉ tham gia thực hiện quyền xử phạt giao thông khi có Quyết định hoặc Kế hoạch huy động của người có thẩm quyền,

Người có thẩm quyền ở đây là: Bộ trưởng Bộ Công an; Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội; Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Trưởng Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. (Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 27/2010/NĐ-CP).

Lúc này nếu bạn bị công an xã dừng xe bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu các lực lượng này xuất trình văn bản huy động để chứng minh thẩm quyền của mình.

Trường hợp: Nếu không có một trong hai loại văn bản trên mà lực lượng công an xã và cảnh sát khác, mà công an xã tự ý thực hiện dừng phương tiện để xử phạt là không đúng với quy định của pháp luật.

2. Công an xã không có quyền dừng phương tiện để kiểm tra hành chính.

Căn cứ theo Khoản 4 Điều 7 Thông tư 47/2011/TT-BCA quy định về “nhiệm vụ của lực lượng cảnh sát khác và công an xã” thì lực lượng công an xã chỉ được thực hiện xử lý vi phạm về an toàn giao thông trong các trường hợp sau:

– Chỉ đươc dừng phương tiện để xử lý các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông như: điều khiển xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định, chở hàng hóa cồng kềnh; đỗ xe ở lòng đường trái quy định; điều khiển phương tiện phóng nhanh, lạng lách, đánh võng, tháo ống xả, không có gương chiếu hậu hoặc chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện theo quy định của pháp luât… mà không được dừng phương tiện để kiểm tra hành chính.

– Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát hiện vi phạm hành chính vượt quá thẩm quyền thì phải lập biên bản vi phạm hành chính và báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết.

Vậy, không phải trường hợp nào việc công an xã yêu cầu dừng xe và xử phạt là đúng đâu nhé, thường ở quê mình sẽ gặp trường hợp này nhiều hơn. Nên sau này lỡ có gặp phải bạn cứ mạnh dạn yêu cầu công an xã xuất trình giấy tờ chứng minh có thẩm quyền nhé.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng dân sự

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi: Xin chào, tên tôi là Văn Tân. Tôi muốn tìm hiểu quy định mới nhất về quyền hạn và nhiệm vụ của Thẩm phán trong tố tụng dân sự ?

Trả lời: Quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:
 

Điều 48. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán

Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.

2. Lập hồ sơ vụ việc dân sự.

3. Tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, tổ chức phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.

4. Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

5. Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự, quyết định tiếp tục đưa vụ việc dân sự ra giải quyết.

6. Giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.

7. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của Bộ luật này.

8. Quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử, đưa việc dân sự ra giải quyết.

9. Triệu tập người tham gia phiên tòa, phiên họp.

10. Chủ tọa hoặc tham gia xét xử vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự.

11. Đề nghị Chánh án Tòa án phân công Thẩm tra viên hỗ trợ thực hiện hoạt

động tố tụng theo quy định của Bộ luật này.

12. Phát hiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Bộ luật này.

13. Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật.

14. Tiến hành hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.

Quyền xác định, xác định lại dân tộc

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi: Chào anh/chị, tôi tên là Minh Hiếu. Tôi đang muốn tìm hiểu về quy định quyền xác định, xác định lại dân tộc ?

Trả lời: Về quyền xác định, xác định lại dân tộc được quy định tại Điều 29 Bộ luật dân sự 2015 như sau:
 

Điều 29. Quyền xác định, xác định lại dân tộc

1. Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình.

2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em.

3. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp sau đây:

a) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau;

b) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình.

4. Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.

5. Cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc nhằm mục đích trục lợi hoặc gây chia rẽ, phương hại đến sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam.

Hướng dẫn cách viết giấy ủy quyền thông dụng


Mọi người vẫn thường nghe rất nhiều đến các trường hợp ủy quyền và ký thay khi có sự đồng ý của người ủy quyền. Vậy giấy ủy quyền là gì? và cách viết giấy ủy quyền như thế nào?

Sau đây, là bài viết hướng dẫn các bạn về cách lập Giấy Ủy quyền thông dụng.

Trên thực tế, cách viết giấy ủy quyền cũng tương tự các loại đơn từ và giấy tờ khác, biểu mẫu này cũng trình bày  theo mẫu chuẩn và trang trọng, bao gồm các thành phần quốc hiệu, tên loại giấy tờ, nội dung trình bày,…Các bạn nên đọc kỹ nội dung và cách ghi Giấy ủy quyền để tránh nhầm lẫn, sai sót khi biên soạn giấy tờ nhé!

1. Giấy ủy quyền là gì?

Giấy ủy quyền là một hình thức đại diện ủy quyền do chủ thể bằng hành vi pháp lý đơn phương thực hiện, trong đó ghi nhận việc người ủy quyền chỉ định người được ủy quyền đại diện mình thực hiện một hoặc nhiều công việc trong phạm vi quy định tại Giấy ủy quyền

Lưu ý: bạn đừng nhầm lẫn giữa giấy ủy quyền và hợp đồng ủy quyền quy định tại Điều 562 Bộ luật dân sự 2015 nhé!

Bài tham khảo>>> Giấy ủy quyền hay Hợp đồng ủy quyền?

Khác với những loại văn bản khác, khi chúng ta lập giấy liên quan đến việc ủy quyền có thể chỉ bằng sự thỏa thuận giữa hai bên chủ thể tham gia mà không cần dựa theo một văn bản pháp lý nào cả.

Do đó, chỉ được giấy ủy quyền chỉ được thừa nhận trong thực tế mà không có văn bản nào quy định cụ thể nào về vấn đề này.

2. Cách viết giấy ủy quyền.

Đa số tất cả văn bản tại Việt Nam luôn bắt đầu là quốc hiệu và tiêu ngữ, nên giấy ủy quyền cũng vậy.

– Mở đầu văn bản sẽ là Quốc hiệu tiêu ngữ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – tự do – hạnh phúc

– Đến tên loại giấy tờ

Giấy ủy quyền + sự việc bạn muốn ủy quyền

Ví dụ: Giấy ủy quyền tham gia tố tụng tại tòa; Giấy ủy quyền bảo quản di sản thừa kế,…..

– Thông tin bên ủy quyền.

Bao gồm: Họ và tên, sinh năm, số CMND, Hộ khẩu thường trú

Ví dụ: Hoàng Thị H, 1997, 245307351, Tân Bình – TP.Hồ Chí Minh.

– Thông tin liên hệ bên nhận ủy quyền:

Họ và tên, sinh năm, số CMND, Hộ khẩu thường trú

Ví dụ: Nguyễn Văn T, 1991, 245303683, Tam Bình – Vĩnh Long.

– Nội dung ủy quyền

Yêu cầu trình bày rõ ràng toàn bộ nội dung vụ việc ủy quyền, ghi rõ giấy uy quyền này có giá trị từ ngày …đến ngày…

Sau khi thỏa thuận, hoàn tất nội dung trong giấy ủy quyền, bạn phải photo ít nhất là 03 bản đưa đến UBND cấp xã (Tư Pháp) hoặc Phòng công  chứng giữa các cá nhân trong pháp nhân) công chứng giấy ủy quyền. Nơi công chứng sẽ lưu lại một bản, mỗi bên sẽ giữ một bản làm căn cứ sau này.

Trường hợp có tranh chấp xảy ra giữa các bên thì Tòa án căn cứ trên văn bản gốc đã đưa cho mỗi bên lúc lập thỏa thuận ủy quyền để làm căn cứ giải quyết trước tòa.

Lưu ý:

– Trường hợp vì lý do nào đó bạn không thể trực tiếp làm Giấy ủy quyền được thì bạn có thể ủy quyền cho một người nào đó thực hiện công việc đó thay bạn.

– Về thời hạn Giấy ủy quyền: Thời hạn uỷ quyền sẽ do hai bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định, nếu không có thoả thuận và pháp luật không có quy định thì mẫu giấy uỷ quyền có hiệu lực được thi hành là một năm, kể từ ngày xác lập việc uỷ quyền.

– Nếu bên chủ thể và đối tượng được ủy quyền thỏa thuận quy định rõ ràng với nhau về các điều khoản hay hiệu lực của giấy này thì việc ủy quyền sẽ có hiệu lực theo mẫu trong thời gian đã thương lượng.

– Tuy nhiên, đối với những trường hợp đối tượng của mẫu giấy này là tài sản có thời hạn sử dụng như các hoạt động trong lĩnh vực bất động sản chẳng hạn thì thời hạn có hiệu lực của mẫu giấy ủy quyền không được vượt quá thời hạn sử dụng đất.

3. Khi xảy ra tranh chấp liên quan đến giấy ủy quyền thì xử lý như thế nào?

– Vì giấy ủy quyền được thành lập trên sự thỏa thuận giữa hai bên. Do đó, khi xảy ra tranh chấp, trước tiên hai bên sẽ ngồi lại để tự hòa giải với nhau. Nếu không tự hòa giải được thì bạn gửi đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân cấp huyện tại nơi bị đơn cư trú để yêu cầu giải quyết. Tòa sẽ căn cứ trên lời khai của các đương sự, người làm chứng (nếu có) và bản gốc giấy ủy quyền đã giao về cho các bên tại lúc thành lập giấy ủy quyền để giải quyết tại tòa.

Bạn có thể tham khảo  mẫu giấy ủy quyền tại file đính kèm (mẫu mình tham khảo tại Vn.Doc).

Vấn đề quyền lợi người tiêu dùng

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


 

Câu hỏi 1:  Pháp luật hiện hành có những quy định gì để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng khi mua bán hàng qua mạng hay không?

Hiện này, có rất nhiều văn bản pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng nói chung và người tiêu dùng khi mua bán hàng qua mạng nói riêng. Có thể nhắc tới như:

– Luật dân sự năm 2015

– Luật hình sự  1999.

– Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng  2010

– Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27-10-2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng,

– Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13-01-2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung,

– Nghị định số 08/2013/NĐ-CP ngày 10-01-2013 về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả,

– Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15-11-2013 quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nói chung và người tiêu dùng khi mua bán hàng qua mạng nói riêng.

Theo đó, Căn cứ theo Điều 8 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định về quyền  của người tiêu dùng như sau:

” Điều 8. Quyền của người tiêu dùng

1. Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp.

2. Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng…..

3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.

4. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định cụ thể về các vấn đề như: Xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 11 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010). Luật bảo vệ người tiêu dùng còn có riêng  các  chương quy định về:  trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng (chương II Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010),  trách nhiệm của tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (chương III Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (chương V Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010).

⇒Tóm lại, với các quy định cụ thể nêu trên đã góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng khi mua bán hàng qua mạng.

Câu hỏi 2: Vì sao có những quy định pháp luật rồi mà vẫn có rất nhiều những trường hợp không đòi được quyền lợi? Phải chăng trong quá trình thực thi quy định pháp luật, chúng ta đã vướng phải những khó khăn gì?

Có nhiều lý do , tuy nhiên theo tôi thì một số lý do chủ yếu như sau:

Thứ nhất: Xét dưới góc độ người tiêu dùng

– Người tiêu dùng mua hàng không lấy hóa đơn, chứng từ  tài liệu liên quan tới giao dịch.

– Người tiêu dùng  không đọc kỹ hướng dẫn trước khi mua hàng qua mạng, không tìm hiểu thông tin về nội dung giao dịch hàng hóa, nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa , không tìm hiểu thông tin  về cá nhân, tổ chức cung cấp hàng hóa trên mạng.

– Hạn chế về kiến thức, nhiều trường hợp NTD bị thiệt hại nhưng không biết phải hỏi ai, không biết khiếu nại ở đâu hoặc bỏ qua vụ việc vì cho rằng mức thiệt hại không lớn.

– Do tâm lý ngại đụng chạm, ngại “gõ cửa” cơ quan công quyền, ngại đơn từ… nhưng một phần cũng vì bản thân NTD chưa ý thức được quyền của mình với các nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ và địa chỉ để khiếu nại.

Thứ hai: Xét dưới góc độ cá nhân, tổ chức cung cấp hàng hóa qua mạng

– Do phía cá nhân, doanh nghiệp thiếu thiện chí, không cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa; nội dung giao dịch hàng hóa, nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa;

– Do phía phía cá nhân, doanh nghiệp không cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch

Thứ ba: Xét dưới góc độ quy định của pháp luật và cơ quan nhà nước.

– Trong quá trình thực thi pháp luật thì theo tôi các quy định pháp luật vẫn chưa phát huy được vai trò trong việc bảo vệ quyền lợi NTD.

– Còn nhiều vấn đề bất cập như chậm trễ trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật; một số quy định đề ra trong Luật chưa được cụ thể hóa và thực hiện nghiêm túc; công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD còn nhiều hạn chế; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ NTD vẫn yếu kém..

– Hiện nay, các cấp đều có cơ quan bảo vệ người tiêu dùng, nhưng có vẻ như thiếu cơ quan cầm trịch và thiếu sự phân công chuyên trách, đào tạo kỹ năng cho các cơ quan nói trên. Điều này không chỉ khiến những người làm công tác bảo vệ người tiêu dùng đôi khi bối rối trong xử lý, đồng thời cũng khiến người tiêu dùng không có một địa chỉ đương nhiên để tìm tới khi quyền lợi bị xâm hại.

– Ngoài ra, Luật có một chương riêng, quy định chức năng của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng; trong đó có chức năng giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, đến nay, Hiệp hội vẫn chưa được cấp kinh phí để hoạt động. Ngoài ra, Hội còn có thẩm quyền trong việc đưa một vụ việc ra tòa nhưng đến nay vẫn chưa có thông tư hướng dẫn của các cơ quan chức năng.

Câu hỏi 3: Theo ông, khi bị lừa đảo vì mua hàng qua mạng, người tiêu dùng cần làm gì để đòi lại quyền lợi hợp pháp của mình?

Theo Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự, công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Do vậy, khi phát hiện dấu hiệu lừa đảo, người tiêu dùng có thể tố cáo hành vi này đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận/huyện, nơi người đó cư trú. Nếu không xác định được nơi cư trú của người đó, bạn có thể làm đơn tố cáo gửi Công an quận/huyện, nơi bạn cư trú. Trong đơn tố cáo, bạn cần trình bày rõ nội dung sự việc và gửi kèm các bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo là có cơ sở (nội dung tin nhắn trên điện thoại, qua facebook, số điện thoại, địa chỉ facebook…).

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tùy tính chất, mức độ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự hoặc xử lý hành chính theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình