Luật Sư Trả lời về việc Tranh chấp hợp đồng mua bán !

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi của độc giả:

Một độc giả có địa chỉ email là: dangvung…@gmail.com có gửi thư điện tử cho Văn phòng Luật sư chúng tôi, với nội dung câu hỏi như sau:

 

Em chào anh Nguyễn Văn Tuấn.

Em có lên trang thư viện pháp luật và nhìn thấy bài viết của anh vì vậy em viết mail này mong anh có thể tư vấn giúp em.

Vấn đề của em là: Cách đây 4 tháng trước gia đình em có bán hàng cho một người mua với tổng số tiền là 930 triệu đồng. Trong hợp đồng có ghi rõ số tiền, chữ ký, địa chỉ cùng với số chứng minh thư của người mua; tuy nhiên không ghi ngày phải trả. Sau khi người mua nhận được hàng thì không chịu trả tiền cho gia đình em. Gia đình em có gọi điện thì thời gian đầu người này không chịu nghe máy và có khi gọi được thì người khác nghe máy. Tới bây giờ gọi điện thì bà đó vẫn không chịu trả và kì kèo chỉ trả 200 triệu đồng nhưng vẫn chưa thấy bà ta trả.

Như vậy gia đình em có thể kiện người mua này được không? và nếu kiện thì cơ hội thắng có cao không? Bởi vì gia đình em hoàn toàn suy sụp sau vụ này nếu như không chắc thắng gia đình em không thể kiện (vì gia đình em cũng đang phải vay ngân hàng và cũng chưa có đủ tiền trả lại số tiền hàng mà mua từ các đại lý nhỏ). Gia đình em cũng rất mong muốn thuê luật sư để kiện tuy nhiên chưa hiểu rõ nhiều về luật pháp và nếu được em mong đoàn luật sư của công ty anh có thể làm luật sư cho bên gia đình em.

Mong anh giúp đỡ gia đình em. Em cảm ơn anh.

 

Luật sư trả lời:

Chào Quý độc giả !

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến công ty Luật Newvision. Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Giữa gia đình bạn và người mua có ký kết hợp đồng mua bán. Vì bạn không nói rõ về gia đình có hoạt động kinh doanh và có là “thương nhân” ( có đăng kí kinh doanh) hay không, nên chúng tôi đưa ra phương án áp dụng bộ luật dân sự 2005 và luật thương mại năm 2005.

Về cơ bản, nghĩa vụ của 2 bên như sau:

–                      Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng hàng hóa, về đóng gói, đảm bảo số lượng, mẫu mã…theo thỏa thuận của các bên; có nghĩa vụ giao hàng đúng thời gian và địa điểm theo thỏa thuận…

–                      Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng đúng thời gian, địa điểm để tránh rủi ro…và nghĩa vụ thanh toán đó là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về thời hạn thanh toán thì Luật thương mại 2005 dự liệu như sau:

+ Thời hạn thanh toán: bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm giao hàng hoặc giao chứng từ có liên quan đến hàng hóa. Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua.

Đồng thời, theo quy định tại Khoản 2 Điều 432 Bộ luật dân sự 2005, khi các bên không có thoả thuận về thời hạn thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay khi nhận tài sản.

 

Như vậy, thời hạn thực hiện hợp đồng giữa gia đình bạn và bên mua đó là ngay khi người mua nhận hàng.

Đối với trường hợp: sau khi người mua nhận được hàng thì không chịu trả tiền cho gia đình bạn. Gia đình bạn có gọi điện thì thời gian đầu người này không chịu nghe máy và có khi gọi được thì người khác nghe máy. Tới bây giờ gọi điện thì bà đó vẫn không chịu trả và kì kèo chỉ trả 200 triệu đồng nhưng vẫn chưa thấy bà ta trả.

Có thể thấy rằng bên mua đã vi phạm về thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán, cho nên chiểu theo quy định luật thương mại 2005 về chậm thực hiện nghĩa vụ thanh tóan thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

Đồng thời, theo điều 438 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định, trường hợp bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng chậm thanh toán thì bên bán có quyền yêu cầu trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.( Khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự).

Trường hợp các bên không thoả thuận được và dẫn đến tranh chấp thì có quyền khởi kiện ra Toà án nhân dân để được giải quyết.

Như vậy, gia đình bạn có thể khởi kiện người mua ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người mua, hoặc trụ sở của bên mua nếu bên mua là tổ chức ( theo quy định điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 33 BLTTDS năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo cấp và thao lãnh thổ).

 

Về việc bên mua kì kèo chỉ trả 200 triệu, thì căn cứ vào hợp đồng giữa 2 bên đã ghi rõ số tiền phải trả, cho nên bên mua phải có nghĩa vụ thực hiện đúng số tiền theo hợp đồng đã kí kết giữa 2 bên.

 

Trân trọng./.

 

Luật Sư Trả lời – Tranh chấp hợp đồng mua bán ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi của độc giả:

Một độc giả có địa chỉ email là: dangvung…@gmail.com có gửi thư điện tử cho Văn phòng Luật sư chúng tôi, với nội dung câu hỏi như sau:

 

Em chào anh Nguyễn Văn Tuấn.

Em có lên trang thư viện pháp luật và nhìn thấy bài viết của anh vì vậy em viết mail này mong anh có thể tư vấn giúp em.

Vấn đề của em là: Cách đây 4 tháng trước gia đình em có bán hàng cho một người mua với tổng số tiền là 930 triệu đồng. Trong hợp đồng có ghi rõ số tiền, chữ ký, địa chỉ cùng với số chứng minh thư của người mua; tuy nhiên không ghi ngày phải trả. Sau khi người mua nhận được hàng thì không chịu trả tiền cho gia đình em. Gia đình em có gọi điện thì thời gian đầu người này không chịu nghe máy và có khi gọi được thì người khác nghe máy. Tới bây giờ gọi điện thì bà đó vẫn không chịu trả và kì kèo chỉ trả 200 triệu đồng nhưng vẫn chưa thấy bà ta trả.

Như vậy gia đình em có thể kiện người mua này được không? và nếu kiện thì cơ hội thắng có cao không? Bởi vì gia đình em hoàn toàn suy sụp sau vụ này nếu như không chắc thắng gia đình em không thể kiện (vì gia đình em cũng đang phải vay ngân hàng và cũng chưa có đủ tiền trả lại số tiền hàng mà mua từ các đại lý nhỏ). Gia đình em cũng rất mong muốn thuê luật sư để kiện tuy nhiên chưa hiểu rõ nhiều về luật pháp và nếu được em mong đoàn luật sư của công ty anh có thể làm luật sư cho bên gia đình em.

Mong anh giúp đỡ gia đình em. Em cảm ơn anh.

 

Luật sư trả lời:

Chào Quý độc giả !

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến công ty Luật Newvision. Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Giữa gia đình bạn và người mua có ký kết hợp đồng mua bán. Vì bạn không nói rõ về gia đình có hoạt động kinh doanh và có là “thương nhân” ( có đăng kí kinh doanh) hay không, nên chúng tôi đưa ra phương án áp dụng bộ luật dân sự 2005 và luật thương mại năm 2005.

Về cơ bản, nghĩa vụ của 2 bên như sau:

–                      Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng hàng hóa, về đóng gói, đảm bảo số lượng, mẫu mã…theo thỏa thuận của các bên; có nghĩa vụ giao hàng đúng thời gian và địa điểm theo thỏa thuận…

–                      Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng đúng thời gian, địa điểm để tránh rủi ro…và nghĩa vụ thanh toán đó là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về thời hạn thanh toán thì Luật thương mại 2005 dự liệu như sau:

+ Thời hạn thanh toán: bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm giao hàng hoặc giao chứng từ có liên quan đến hàng hóa. Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua.

Đồng thời, theo quy định tại Khoản 2 Điều 432 Bộ luật dân sự 2005, khi các bên không có thoả thuận về thời hạn thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay khi nhận tài sản.

 

Như vậy, thời hạn thực hiện hợp đồng giữa gia đình bạn và bên mua đó là ngay khi người mua nhận hàng.

 

Đối với trường hợp: sau khi người mua nhận được hàng thì không chịu trả tiền cho gia đình bạn. Gia đình bạn có gọi điện thì thời gian đầu người này không chịu nghe máy và có khi gọi được thì người khác nghe máy. Tới bây giờ gọi điện thì bà đó vẫn không chịu trả và kì kèo chỉ trả 200 triệu đồng nhưng vẫn chưa thấy bà ta trả.

Có thể thấy rằng bên mua đã vi phạm về thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán, cho nên chiểu theo quy định luật thương mại 2005 về chậm thực hiện nghĩa vụ thanh tóan thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

Đồng thời, theo điều 438 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định, trường hợp bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng chậm thanh toán thì bên bán có quyền yêu cầu trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.( Khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự).

Trường hợp các bên không thoả thuận được và dẫn đến tranh chấp thì có quyền khởi kiện ra Toà án nhân dân để được giải quyết.

Như vậy, gia đình bạn có thể khởi kiện người mua ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người mua, hoặc trụ sở của bên mua nếu bên mua là tổ chức ( theo quy định điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 33 BLTTDS năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo cấp và thao lãnh thổ).

 

Về việc bên mua kì kèo chỉ trả 200 triệu, thì căn cứ vào hợp đồng giữa 2 bên đã ghi rõ số tiền phải trả, cho nên bên mua phải có nghĩa vụ thực hiện đúng số tiền theo hợp đồng đã kí kết giữa 2 bên.

 

Trân trọng./.

 

Dạng đề kiểm tra năng lực Đại học Luật TpHCM


Tổng hợp những dạng câu hỏi mô phỏng dạng đề kiểm tra năng lực Đại học Luật TpHCM.

Dưới đây là những file đề kèm theo đáp án mời các bạn kham thảo

 

Trả lời độc giả về vấn đề thuận tình ly hôn hay đơn phương ly hôn ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


 

Độc giả gửi câu hỏi:

Chào Văn phòng Luật sư NewVision Law,

Tôi có một số thắc mắc liên quan đến thủ tục ly hôn, mong nhận được sự tư vấn từ văn phòng luật sư.

1. Hiện tôi đang nuôi con nhỏ 9 tháng tuổi và muốn làm thủ tục ly hôn, chồng tôi đã ký vào đơn thuận tình ly hôn, vậy tôi có thể làm thủ tục theo trường hợp thuận tình ly hôn?

2. Tôi và chồng tôi có hộ khẩu ở 2 huyện khác nhau (tôi có hộ khẩu ở huyện X, chồng tôi hộ khẩu huyện Y), tôi đang sống và làm việc ở hà nội tuy nhiên chưa có hộ khẩu, chưa đăng ký tạm trú, vậy tôi có thể gửi đơn ở đâu?

3. Thủ tục ly hôn kéo dài bao lâu và gồm những thủ tục gì?

4. Chồng tôi làm nghề tự do, vậy số tiền trợ cấp nuôi con hàng tháng sẽ tính như thế nào, tối thiểu là bao nhiêu?

Rất mong nhận được sự tư vấn từ văn phòng luật sư.

Trân trọng cảm ơn!

(Bạn Quỳnh Trang, có địa chỉ email là: trangpq…@gmail.com)

 

Luật Sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới văn phòng luật sư Newvisionlaw , đối với trường hợp của bạn tôi xin tư vấn như sau:

 

Đối với câu hỏi thứ nhất:

1. Hiện tôi đang nuôi con nhỏ 9 tháng tuổi và muốn làm thủ tục ly hôn, chồng tôi đã ký vào đơn thuận tình ly hôn, vậy tôi có thể làm thủ tục theo trường hợp thuận tình ly hôn?

Căn cứ theo quy định tại điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo quy định trên thì bạn có quyền đơn phương ly hôn khi bạn đang nuôi con nhỏ 9 tháng tuổi, tuy nhiên chồng bạn lại không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp này. Đối với trường hợp thuận tình ly hôn nghĩa là cả 2 vợ chồng bạn đều yêu cầu ly hôn. Do đó, khi chồng bạn không có quyền kí vào đơn yêu cầu ly hôn thuận tình.

Cho nên, bạn không thể ly hôn thuận tình trong trường hợp này.

 

Đối với câu hỏi thứ 2:

2. Tôi và chồng tôi có hộ khẩu ở 2 huyện khác nhau (tôi có hộ khẩu ở huyện X, chồng tôi hộ khẩu huyện Y), tôi đang sống và làm việc ở hà nội tuy nhiên chưa có hộ khẩu, chưa đăng ký tạm trú, vậy tôi có thể gửi đơn ở đâu?

Như đã trả lời câu hỏi trên, vợ chồng bạn không có quyền yêu cầu thuận tình ly hôn, cho nên bạn chỉ có quyền đơn phương ly hôn, vì thế, bạn sẽ nộp hồ sơ ly hôn đơn phương tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú ( là tòa án cấp huyện nơi cư trú của chồng bạn).

 

Đối với câu hỏi thứ 3:

2.Thủ tục ly hôn kéo dài bao lâu và gồm những thủ tục gì?

Kể từ ngày khởi kiện (Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại tòa án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.)

+ Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn kiện tòa án phải tiến hành thụ lý vụ án, tức thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí, tòa án thụ lý án khi người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí.

+ Trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp tòa án ra một trong các quyết định sau đây: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (đoàn tụ hoặc thuận tình ly hôn); Tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ giải quyết vụ án; Đưa vụ án ra xét xử (nếu có một bên không đồng ý ly hôn hoặc có tranh chấp về con, tài sản).

+ Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự.

+Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử tòa án phải mở phiên tòa.

Sau 15 ngày, kể từ ngày xét xử, nếu không có kháng cáo, kháng nghị, án sẽ có hiệu lực thi hành.

Như vậy, thông thường, tổng thời gian giải quyết ly hôn đối với trường hợp thuận tình ly hôn là trong hạn 130 ngày; đơn phương ly hôn trong hạn 170 ngày.

 

Đối với câu hỏi thứ 4:

3. Chồng tôi làm nghề tự do, vậy số tiền trợ cấp nuôi con hàng tháng sẽ tính như thế nào, tối thiểu là bao nhiêu?

Theo quy định tại điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do đó mức cấp dưỡng phụ thuộc vào sự thỏa thuận của vợ chồng bạn, quy định của pháp luật không quy định mức tối thiểu đối với trường hợp này. Trong trường hợp 2 bạn không thỏa thuận được thì được yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trân trọng./.

 

———————————————-

Địa chỉ:  Số 9,Ngách 6A ,Ngõ 6 ,Đường Phạm Văn Đồng ,Q.Cầu Giấy,TP.Hà Nội

 

TRẢ LỜI VỀ VIỆC HỢP ĐỒNG MUA BÁN THỨC ĂN CHĂN NUÔI

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi của Độc giả:

TÔI CÓ BÁN THỨC ĂN CHĂN NUÔI CHO MỘT KHÁCH HÀNG, NHƯNG KHÔNG CÓ GIẤY HỢP ĐỒNG, T CÓ GHI ÂM MỘT CUỘC NÓI CHUYỆN GIỮA TÔI VÀ KHÁCH HÀNG ĐÓ, TRONG CUỘC GHI ÂM ĐÓ CÓ CHỨNG MINH RẰNG CHÚNG TÔI CÓ HỢP ĐỒNG MUA BÁN VÀ KHÁCH HÀNG ĐÓ GIỮ NHƯNG cố tình nói LÀM MẤT, VẬY CHÚNG TÔI CÓ LẤY LẠI ĐƯỢC TIỀN KHÔNG? SỐ TIỀN LÀ 20 TRIỆU ĐỒNG.

(Bạn Ms.Yến, có địa chỉ email là: Lam.oanh…@gmail.com)

 

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật NewVision Law, đối với trường hợp của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Hiện nay theo quy định của pháp luật Việt Nam hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau cụ thể:

Theo quy định Điều 401 Bộ Luật Dân sự năm 2005. Hình thức hợp đồng dân sự:

1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

 

Tương tự Luật Thương Mại năm 2005 cũng quy định không hạn chế hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.

Theo Điều 24. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá

1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

 

Như vậy, đối với hợp đồng mua bán thức ăn chăn nuôi của bạn với khách hàng có thể được xác lập bằng văn bản hoặc bằng lời nói, và điều đó được pháp luật công nhận. Tuy nhiên bạn với khách hàng làm hợp đồng rồi bị mất, và chỉ có bản ghi âm để chứng minh 2 bên đã làm hợp đồng.

Theo Điều 33, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 (BLTTDS) bạn có thể gửi đơn khởi kiện đòi lại tiền đến Tòa án nhân dân huyện quận nơi bị đơn (là khách hàng củ bạn) cư trú, làm việc để yêu cầu giải quyết. Và để đảm bảo đơn kiện được Tòa án chấp thuận và thụ lý bạn phải cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc xác định đã có quan hệ mua bán hàng hóa trên thực tế, các tài liệu chứng minh có việc mua bán, nhận hàng hóa giữa hai bên theo quy định tại điều 166 BLTTDS.

 

Theo quy định tại Điều 83 BLTTDS về xác định chứng cứ, “chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc”. Đối với “các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó”. Có nghĩa là việc mua bán giữa hai bên không thiết lập hợp đồng mà chỉ có bản ghi âm. Để bản ghi âm này trở thành chứng cứ, nội dung bản ghi âm phải ghi nhận việc có hợp đồng mua bán nhưng bị làm mất giữa hai bên. Đồng thời bạn phải xuất trình được văn bản xác nhận xuất xứ (ví dụ nếu ghi âm bằng điện thoại, bạn phải được nhà cung cấp dịch vụ mạng cung cấp cuộc gọi, thời gian…).

 

Nếu bạn không xuất trình được thì bản ghi âm này khó thể trở thành chứng cứ trong vụ án.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn không thiết lập hợp đồng mua bán cũng không có giấy biên nhận nên bạn có thể xuất trình cho Tòa án các chứng cứ như bản ghi âm xác nhận có việc mua bán và làm hợp đồng mua bán của bị đơn đối với nguyên đơn, để làm chứng cứ khởi kiện đòi lại số tiền 20 triệu đồng của bạn.

 

Trân trọng./.

 

Luật Sư Trả lời – vụ việc mượn máy chụp ảnh, thì phạm tội gì ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi của Độc giả:

Xin kính chào văn phòng tư vấn Phát luật !

Em có 1 câu chuyện rất mong văn phòng tư vấn giúp em để em có thể giải quyết ạ !

Chuyện là em có cho 1 người bạn mượn 1 chiếc máy ảnh mới trị giá hơn 22 triệu đồng để anh ta đi chụp thuê. Sau vài ngày em gọi điện để lấy máy ảnh về sử dụng thì anh ta có nói gửi 1 người bạn mang trả em và người đó làm mất. Gần 2 tháng trôi qua mà em chưa đòi được máy ảnh, công việc của em cần sử dụng rất nhiều, khi gọi điện thì anh ta chỉ hứa rồi lại không thấy mua trả em máy ảnh. Khi gọi điện thì anh ta chỉ nói đợi người bạn anh ta thu xếp.  Vì người quen nên em không làm giấy tờ gì khi cho mượn máy, nhưng khi cho mượn đã có 2 người bạn đi cùng chứng kiến sự việc. Vậy bây giờ em có thể làm đơn kiện được không ạ, và hành vi này được gọi là tội gì trong bộ luật ạ?

Rất mong được sự tư vấn của văn phòng ạ!

Em xin cảm ơn !

(Dương Nguyễn Quang – Email: duongapple…@gmail.com)

 

Luật Sư trả lời:

Dựa vào những tình tiết bạn kể trên thì có thể xảy ra 2 trường hợp:

Trường hợp 1: bạn của bạn chỉ vi phạm nghĩa vụ Dân sự đối với hành vi chậm trả tài sản mượn. Điều đó có nghĩa là bạn của bạn không có động cơ chiếm đoạt tài sản , mà chỉ đơn thuần là đã không cẩn thận làm mất mà chưa có tiền để mua lại máy ảnh cho bạn.

Khi đó, giữa 2 bạn tồn tại hợp đồng mượn tài sản theo điều 512 BLDS năm 2005, hợp đồng mượn giữa 2 bạn được thể hiện bằng lời nói. Theo đó bạn có quyền theo điều 517 BLDS: “1. Đòi lại tài sản ngay khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.

2. Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn.

3. Yêu cầu bồi thường thiệt lại đối với tài sản do người mượn gây ra”.

Theo quy định này, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu bạn của bạn trả lại tài sản. Việc bạn của bạn không chịu trả lại máy ảnh của bạn đã xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn. Do vậy, bạn có thể làm đơn khởi kiện lên tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn của bạn cư trú. Cùng với việc nộp đơn khởi kiện bạn nên cung cấp các tài liệu mà bạn có thể thu thập được để chứng minh việc cho mượn tài sản này.

Trường hợp 2: bạn của bạn có thể phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản  theo quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 điều 140  của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (khẳng định dựa vào động cơ)

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

 

Như vậy, dựa vào tình tiết bạn nêu thì bạn của bạn đã có hành vi mượn máy ảnh trị giá khoảng 22 triệu đồng của bạn, rồi có thể bạn của bạn cố tình gian dối để sau 2 tháng vẫn chưa trả lại cho bạn, để có thể khẳng định được bạn của bạn có phạm tội hình sự hay không điều đó còn phụ thuộc vào các dấu hiệu phạm tội như lỗi, động cơ, mục đích, mặt khách quan, mặt chủ quan của chủ thể vi phạm nữa. Điều đó phụ thuộc vào các quá trình tố tụng của cơ quan tố tụng để có thể kết luận được chính xác.

Theo Điều 101 Luật Tố tụng hình sự 2003 quy định về tố giác tội phạm thì:

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.”

Đặt trong trường hợp của bạn thì bạn có thể trình báo trực tiếp lên công an phường nơi bạn thường trú, tạm trú hoặc nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật.

 

Trân trọng./.

 

(Luật Sư Nguyễn Văn Tuấn – Đoàn LS Hà Nội)

 

Trả cổ tức theo kiểu chưa từng có

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Thời gian gần đây rộ lên thông tin Hoàng Anh Gia Lai phát hành cổ phiếu công ty con HAGL Agrico để trả cổ tức hoặc cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu của công ty mẹ đã khiến không ít nhà đầu tư băn khoăn, đặc biệt về tính pháp lý của thương vụ này.

Trong bài trả lời cho một tờ báo, ông Võ Trường Sơn, Tổng giám đốc Hoàng Anh Gia Lai công nhận chuyện này chưa từng có tiền lệ trên thị trường Việt Nam. Tuy vậy, đây không phải lần đầu tiên chúng tôi đưa ra những sản phẩm tài chính chưa từng có trên thị trường”. Về nguồn gốc của quyết định “chấn động” này, ông Võ Trường Sơn cho biết tháng 9 vừa qua, Hoàng Anh Gia Lai đã thông qua nghị quyết trả tức bằng cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu của công ty với tỷ lệ 15%. “Hiện tại HAGL đang nhờ đơn vị tư vấn để đưa ra những quyết định nhằm đảm bảo lợi ích cổ đông và phù hợp với các quy định hiện hành” – đại diện HAGL nhấn mạnh

Nguồn thông tin: Cafef.vn

—————————————————————

Mọi người có ý kiến gì về vấn đề này không, riêng mình cũng không hiểu tính pháp lý của động thái này của HAGL là có hay không đây? Giả sử cổ đông không đồng ý nhận cổ phiếu công ty con mà muốn nhận tiền thì sao? 

Giúp em trả lời các câu hỏi của tình huống sau đây với ạ!


Tình huống : A cho B vay 100 triệu hẹn ngày 1/12/2012 trả. 1/10/2012 A bị ô tô C lấn tuyến đâm chết. Vợ A mai táng cho A hết 10 triệu 1/ Có bao nhiêu QUAN HỆ PHÁP LUẬT phát sinh,thay đổi , chấm dứt ? 2/ Chỉ ra chủ thể , khách thể và sư kiện pháp lý . Cảm ơn m.n.

Nghỉ khám thai, doanh nghiệp hay bảo hiểm trả lương?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Hỏi: Tôi đang làm việc cho công ty dệt may ở Hà Nội, hiện đang có thai được 01 tháng. Tôi nghe nói, khi nghỉ đi khám thai sẽ được hưởng 100% tiền lương. Đề nghị luật sư tư vấn, Tiền lương những ngày tôi nghỉ đi khám thai là do công ty trả hay là do quỹ bảo hiểm xã hội trả? (P.A.T – Hoàng Mai, Hà Nội)
 
 
Công ty Luật TNHH Everest trả lời:
Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định:
 
– Hồ sơ hưởng chế độ thai sản: “Trường hợp lao động nữ đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý, người lao động thực hiện biện pháp tránh thai theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này phải có giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội đối với trường hợp điều trị ngoại trú, bản chính hoặc bản sao giấy ra viện đối với trường hợp điều trị nội trú.” (Khoản 2 Điều 101)
 
– Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản: “1. Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày trở lại làm việc, người lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 100, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 101 của Luật này cho người sử dụng lao động. Trường hợp người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi con nuôi thì nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 101 của Luật này và xuất trình sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội. 2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ quy định tại Điều 100 và Điều 101 của Luật này nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội. 3. Trách nhiệm giải quyết của cơ quan bảo hiểm xã hội:  a) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người sử dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động; b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi con nuôi, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động. 4. Trường hợp cơ quan bảo hiểm xã hội không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do” (Điều 102).
 
Căn cứ quy định viện dẫn trên, bảo hiểm xã hội là đơn vị chi trả cho chị tiền lương những ngày nghỉ để đi khám thai. Thời gian nghỉ việc đi khám thai, chị cần cung cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội do cơ sở y tế cấp để nộp lên cho người sử dụng lao động. Khi nhận đủ giấy tờ, người sử dụng lao động  có trách nhiệm nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
 
Nguồn: Luật Việt
 
 

Có phải trả lãi do quá hạn vay khi 2 bên không có thỏa thuận ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


CÂU HỎI

Năm 2015 tôi có cho anh Nguyễn Đình A vay tiền và hai bên thỏa thuận rằng không tính lãi. Tuy nhiên anh Nguyễn Đình A lại không trả nợ cho tôi đúng với thời hạn đã cam kết 15/04/2016. Vậy nên tôi đã yêu cầu anh A trả lãi cho tôi trong thời gian chậm trả nợ. Nhưng anh A lại cho rằng tôi cho anh A vay tiền không tính lãi nên sẽ không trả lãi cho tôi vì lý do chậm trả nợ. Xin hỏi Luật sư liệu tôi có quyền yêu cầu anh A phải trả lãi khi anh A trả chậm tiền nợ cho tôi có được hay không ?

(Hoàng Anh Hùng – Ngô Quyền, Hải Phòng)

LUẬT SƯ TRẢ LỜI

Đầu tiên xin cảm ơn bạn đã gửi những thắc mắc bạn gặp phải đến cho công ty Luật Newvision. Đại diện công ty Luật chúng tôi Luật sư Tuấn sẽ giúp bạn giải đáp những thắc mắc của bạn như sau:

Theo khoản 4, Điều 466 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 có quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay bao gồm: Nếu trường hợp vay nợ không có lãi mà đến khi hết hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự với số tiền trả chậm tương ứng với thời gian trả chậm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.

Hơn nữa tại Điều 468, Bộ luật dân sự 2015 cũng có quy định về lãi suất như sau:

Lãi suất vay được các bên thỏa thuận.

Khi có trường hợp giữa các bên thỏa thuận với nhau về lãi suất thì sẽ không quá 20%/năm của khoản vay trừ những trường hợp luật khác có những quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh lại mức lãi suất và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

-Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận mà vượt quá lãi suất giới hạn đã quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá sẽ không có hiệu lực.

-Trường hợp các bên thỏa thuận với nhau về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được sẽ được tính bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.

Căn cứ vào các quy định trên, nếu giữa bạn và anh Nguyễn Đình A không có thoả thuận về việc anh Nguyễn Đình A không phải trả lãi khi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì bạn có quyền yêu cầu anh Nguyễn Đình A phải trả lãi cho bạn đối với khoản nợ chậm trả theo với lãi suất theo quy định của pháp luật mặc dù bạn cho anh Nguyễn Đình A vay không lãi suất trong kỳ hạn vay.