Tập hợp những câu hỏi – đáp trong lĩnh vực đất đai

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Vừa qua, để giải đáp thắc mắc cho nhân dân và quý doanh nghiệp, Bộ Tài nguyên Môi trường tổ chức cuộc giao lưu hỏi đáp trực tuyến để trả lời những vấn đề này. Có thể nói đất đai là một trong những vấn đề rối rắm, gây nhiều vướng mắc, hoang mang cho không chỉ người dân và doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Sau đây là trích dẫn các nội dung câu hỏi và trả lời từ phía Bộ Tài nguyên Môi trường, các Sở Tài nguyên Môi trường.

1. Các đối tượng phải lập dự án đầu tư thuộc diện phải lập cam kết bảo vệ môi trường

Hỏi: Kính hỏi Sở Tài nguyên và Môi trường: Theo Khoản 2 Điều 12 của Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường của các đối tượng phải lập dự án đầu tư. Như vậy, đối tượng lập dự án đầu tư là những dự án nào?

Đáp: Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 30/12/2013.

Tại thời điểm ban hành Nghị định, căn cứ Luật Đầu tư năm 2005 (Khoản 1 Điều 45) quy định: “Đối với dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn đầu tư dưới mười lăm tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư”;

Hiện nay, áp dụng Luật Đầu tư năm 2014, theo Khoản 2 Điều 36: Các trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư:

a) Dự án đầu tư của nhà đầu tư trong nước;

b) Dự án đầu tư của tổ chức kinh tế quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này;

c) Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế.

Đối với những dự án sản xuất, kinh doanh không thuộc trường hợp nêu trên thì thuộc đối tượng phải lập dự án đầu tư. Do đó, trong quá trình áp dụng xử phạt theo Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 cần đối chiếu thời điểm lập dự án (trước hay sau Luật Đầu tư năm 2014) để xác định dự án thuộc đối tượng lập dự án đầu tư hay không.

2. Hạn mức diện tích chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở

Hỏi: Hiện nay, tôi có nhu cầu chuyển đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở để xây dựng nhà trọ cho thuê, tôi đồng ý không nợ tiền sử dụng đất, nhưng hiện nay có một số huyện trên địa bàn tình Bình Dương lại hạn chế diện tích và mỗi người chỉ được chuyển mục đích sang đất ở trong hạn mức được giao đất để phục vụ xây dựng nhà ở. Cho tôi hỏi việc trả lời như vậy đúng hay sai và trường hợp tôi muốn xây dựng nhà trọ cho thuê (khoảng 10-20 phòng) thì phải làm thế nào, và trình tự thủ tục ra sao. Có phải chuyển sang tổ chức và xin chủ trương thực hiện dự án như Điều 14 Nghị định 43/2014/NĐ-CP không?

Đáp:

a) Quy định pháp luật hiện hành về căn cứ pháp lý và hạn mức chuyển mục đích sử dụng đất:

– Điều 52 Luật đất đai năm 2013 quy định căn cứ để chuyển mục đích sử dụng đất cụ thể như sau:

+ Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

+ Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

– Khoản 2, Điều 59 Luật đất đai năm 2013 quy định Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình cá nhân.

– Đồng thời, theo quy định pháp luật hiện hành thì Nhà nước chỉ quy định hạn mức giao đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với đất ở (tại Bình Dương hiện đang áp dụng Quyết định 37/2014/QĐ-UBND ngày 09/10/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh); Nhà nước không quy định hạn mức chuyển mục đích sử dụng đất.

b) Về thủ tục thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà trọ

– Theo hướng dẫn của Tổng Cục Quản lý đất đai tại Văn bản số 507/TCQLĐĐ-CSPC ngày 20/4/2016: “yêu cầu hộ gia đình, cá nhân phải có đất ở hợp pháp mới được kinh doanh nhà trọ. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp mà có nhu cầu phát triển nhà ở thì phải thực hiện thủ tục chuyển mục đích đất nông nghiệp sang đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai để có quyền sử dụng đất ở hợp pháp và sau đó thực hiện phát triển nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở. Nhà nước không giao đất, cho thuê đất trực tiếp đối với hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án phát triển nhà ở”.

– Về việc kinh doanh nhà trọ: tùy theo mức vốn đầu tư mà nhà đầu tư phải đăng ký hộ kinh doanh cá thể hoặc thành lập Doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về đầu tư

+ Trường hợp chủ đầu tư là hộ kinh doanh cá thể thì xin chủ trương và lập thủ tục chuyển mục đích tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất.

Thủ tục được thực hiện tại Khoản 2 Điều 4 và Điều 16 Quyết định 49/2015/QĐ-UBND ngày 02/11/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

+ Trường hợp chủ đầu tư là Doanh nghiệp (tổ chức kinh tế) thì xin chủ trương và lập thủ tục chuyển mục đích tại Ủy ban nhân dân tỉnh.

Thủ tục được thực hiện tại Khoản 1, Điều 4 và Điều 12 Quyết định 49/2015/QĐ-UBND ngày 02/11/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

3. Có được chuyển trở lại từ đất sản xuất kinh doanh sang đất nông nghiệp không?

Hỏi: Năm 2006 tôi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của dân tại xã Khánh Bình; huyện Tân Uyên và đã chuyển mục đích qua đất sản xuất kinh doanh và đã xin cấp giấy phép đăng ký kinh doanh sản suất thùng Carton. Tên công ty là: “Công ty TNHH BAO BÌ GIẤY HÀ TĨNH” – Tôi là giám đốc.

Tổng diện tích nhận chuyển nhượng: 6.672,6 m2 và được tách thành 2 sổ mang số thửa 634 và thửa 31 tờ bản đồ 39 xã Khánh Binh (bây giờ là phường Khánh Bình)

Trong đó chuyển mục đích:

– Đất giao:                                            1.000 m2

– Đất thuê thanh toán tiền 1 lần:          4.796,6 m2

– Đất hành lang lộ giới:                        876 m2

Nhưng vì do tôi không tham khảo trước kích thước dây chuyền sản xuất nên chiều dài thửa đất không đủ để lắp đặt dây chuyền.

Vì vậy tôi không triển khai được dự án. Và tôi muốn chuyển ngược lại từ đất sản xuất kinh doanh sang đất nông nghiệp.

Tôi đã lên phòng tiếp dân UBND tỉnh Bình Dương hỏi liệu tôi có chuyển được đất sản xuất kinh doanh qua đất nông nghiệp hay không, thì tôi được trả lời là “ĐƯỢC” và tôi được hướng dẫn là về làm thủ tục giải thể xong và nộp hồ sơ cho sở TNMT kèm với đơn xin chuyển.

Tôi đã làm đúng như hướng dẫn và nộp hồ sơ cho sở TNMT. Tôi đã chờ sở TNMT rất lâu mới được trả lời là chưa có tiền lệ. Và sở kêu tôi chờ sở xin ý kiến của bộ TNMT. Tôi đã chờ mãi tới bây giờ (đã 10 năm) mà sở vẫn chưa có câu trả lời.

Vậy hiện bây giờ sở TNMT giải quyết cho tôi như thế nào? Tôi có chuyển được mục đích từ đất sản xuất kinh doanh qua đất nông nghiệp hoặc qua đất ở cho 2 thửa đất nói trên hay không? 

Theo tôi được biết là tỉnh đã có chủ trương di dời các công ty ra khỏi khu vực này để ưu tiên cho đất ở – Vậy công ty của tôi có được nằm trong số đó không? Nếu được thì tôi làm những thủ tục gì? Nếu không được thì xin sở cũng cho tôi biết lý do.

Đáp:

+ Theo quy định tại Điều 52, Luật Đất đai 2013 thì một trong những căn cứ để chuyển mục đích sử dụng là phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

+ Đối với trường hợp tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất.

+ Đối với đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể thì Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 65 Luật Đất đai 2013.

Đề nghị ông mang hồ sơ liên hệ trực tiếp Bộ phận tiếp nhận hồ sơ của Sở Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn thực hiện thủ tục theo quy định. Địa chỉ Khu hành chính tập trung của Trung tâm hành chính tỉnh Bình Dương, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

4. Khi nào Bộ Xây dựng có hướng dẫn cụ thể về khoản phạt 40% giá trị phần xây dựng sai phép?

Hỏi: Cho tôi hỏi khi nào Bộ xây dựng có hướng dẫn chi tiết, cụ thể (về khoản phạt 40% giá trị phần xây dựng sai phép) theo Khoản 9 Điều 13 Nghị định 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 để Phòng Tài Nguyên Môi Trường quận 2, TpHCM áp dụng trong trường hợp của tôi.

Đáp: Liên quan đến nội dung ông (bà) đề cập thì hiện nay đã có hướng dẫn thực hiện. Đồng thời, ngày 14/10/2015, Sở Tài nguyên và Môi trường có Công văn số 7876/TNMT-VPĐK về biện pháp phối hợp về quản lý đất đai, xây dựng để giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận thuộc thẩm quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường cho hộ gia đình, cá nhân, theo đó đối với các trường hợp xây dựng sai phép trước ngày 01/5/2009, nếu chủ sở hữu không có nhu cầu công nhận phần diện tích sai phép (hoặc sai mẫu nhà) thì cấp giấy chứng nhận công nhận phần diện tích xây dựng đúng giấy phép xây dựng (hoặc đúng mẫu nhà) và ghi chú phần diện tích không công nhận do xây dựng sai phép chủ sở hữu phải chấp hành theo quy định, trường hợp chủ sở hữu có như cầu công nhận phần diện tích xây dựng sai phép thì chủ sở hữu phải liên hệ cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng để có ý kiến xử lý bằng văn bản theo quy định tại điểm a, điểm h khoản 1, điều 31 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; Đối với các trường hợp vi phạm xây dựng sau ngày 01/5/2009 thì hướng dẫn chủ sử dụng liên hệ cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng để có ý kiến xử lý bằng văn bản theo quy định tại điểm a, điểm h, khoản 1, Điều 31 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Do đó, đề nghị ông (bà) liên hệ phòng Quản lý Đô thị quận 2 (Đội quản lý trật tự đô thị quận 2) để có hướng dẫn thực hiện theo thẩm quyền./.

4. Phải chờ bao lâu mới được trả lời Đơn xin khai nhận di sản thừa kế và hợp thức hóa tờ đoạn mãi thuộc bằng khoán điền thổ?

Hỏi: Đất của gia đình chúng tôi không có quyết định thu hồi đất. Thì tất cả các quyền lợi về nhà đất của dân phải được đảm bảo theo đúng quy định pháp luật. Nay xin hỏi: Đơn xin khai nhận di sản thừa kế và hợp thức hóa tờ đoạn mãi thuộc bằng khoán điền thổ số 59 Chợ Lớn gửi Chủ tịch ủy ban nhân dân Quận 6 TP.HCM ngày 22/10/2007 đã được hứa sẽ trả lời trong thời gian sớm nhất.

Nhưng đến hôm nay đã hơn 9 năm vẫn chưa được giải quyết, trả lời. Thì gia đình chúng tôi phải chờ bao lâu nữa?

Đáp: Khu đất số 10 và 10/2 An Dương Vương có vị trí thuộc Bằng khoán 59 Chợ lớn-Phú định do Nguyễn Văn Mười (chết năm 1996) và bà Nguyễn Thị Vang (chết năm 2002) đứng bộ.

Ngày 25/02/2002 Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 752/QĐ-UB về việc cho Công ty Xây dựng và phát triển kinh tế quận 6 để đầu tư xây dựng khu dân cư Phía Nam Lý Chiêu Hoàng (khu 1) tại phường 10 quận 6.Khu đất số 10 và 10/2 An Dương Vương, phường 10 quận 6 được

Năm 2003, Ủy ban nhân dân thành phố điều chỉnh tách một phần diện tích thuộc dự án khu 1 giao cho Ban Quản lý Dự án Đại lộ Đông Tây và Môi trường nước thành phố để đầu tư xây dựng Khu tái định cư tại Phường 10 Quận 6, trong đó có phần Khu đất số 10 và 10/2 An Dương Vương.

Ngày 28/8/2006, Hội đồng Bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng Dự án Đầu tư xây dựng Khu tái định cư Phường 10 Quận 6 ban hành Quyết định số 2236/QĐ-HĐBT về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại đối với trường hợp Khu đất số 10 và 10/2 An Dương Vương. Do các đồng thừa kế của Nguyễn Văn Mười và bà Nguyễn Thị Vang  không đồng ý giá trị bồi thường và không liên hệ nhận tiền nên ngày 07/01/2008 nên Hội đồng Bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng Dự án Đầu tư xây dựng Khu tái định cư Phường 10 Quận 6 đã gởi tổng giá trị số tiền bồi thường, hỗ trợ thiệt hại đối với trường hợp Khu đất số 10 và 10/2 An Dương Vương vào ngân hàng.

Sau đó, các đồng thừa kế của Nguyễn Văn Mười và bà Nguyễn Thị Vang   có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 2236/QĐ-HĐBT về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại đối với trường hợp Khu đất số 10 và 10/2 An Dương Vương.

Ngày 02/12/2014, Tòa án nhân dân quận 6 có bản án số 15/2014/HC-ST về khiếu kiện Quyết định hành chính, theo đó bác yêu cầu khởi kiện của các đồng thừa kế của Nguyễn Văn Mười và bà Nguyễn Thị Vang.

Ngày 14/4/2015,  Tòa án nhân dân thành phố có bản án số 436/2015/HC-PT, không chấp nhận kháng cáo của 7 đồng thừa kế của Nguyễn Văn Mười và bà Nguyễn Thị Vang.

Do đó, Việc các con ông Mười và bà Vang đề nghị được khai di sản thừa kế và đăng ký cấp giấy chứng nhận khu đất trên là không có cơ sở xem xét giải quyết.

5. Nhiều dự án kiểm đếm xong, công khai phương án nhưng vài năm không thấy phê duyệt và trả tiền bồi thường, liệu có mập mờ trong quy định này không?

Hỏi: Xin hỏi Bộ TNMT từ khi có thông báo thu hồi đất (1) đến công khai phương án bồi thường (2) đến phê duyệt phương án bồi thường (3) và đến khi trả tiền cho người dân bị thu hồi đất (4) là từng bước trên bao nhiêu ngày? Luật Đất đai quy định chậm trả tiền thì phải trả lãi. Nhưng tôi không thấy quy định về thu hồi đất của Vĩnh Phúc (35/2014/QĐ-UBND) là bao nhiêu ngày theo các bước trên. Khi chủ dự án có tiền thì ra quyết định phê duyệt phương án, còn không có tiền thì thôi. Nhiều dự án kiểm đếm xong, công khai phương án nhưng vài năm không thấy phê duyệt và trả tiền. Rồi vài năm sau khi có tiền thì ra quyết định mà không kiểm đếm lại, không bồi thường cho dân trong khoảng thời gian đó (bị cấm xây dựng chuồng trại chăn nuôi phát triển kinh tế). xin hỏi có mập mờ trong quy định này không?

Đáp: Căn cứ Luật Đất đai số 45 ngày 29 tháng 11 năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. UBND tỉnh Vĩnh Phúc  ban hành Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của tỉnh Vĩnh Phúc quy định chi tiết một số điều về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh. Nội dung quyết định thể hiện các nội dung mà Luật, Nghị định, Thông tư trên giao cho UBND tỉnh quy định một số vấn đề cụ thể.

Do các văn bản Luật Đất đai số 45 ngày 29 tháng 11 năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường không quy định về thời gian thực hiện trình tự các bước trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng: từ khi ra thông báo thu hồi đất đến khi công khai phương án bồi thường, phê duyệt phương án bồi thường, chi trả tiền bồi thường cho người dân bị thu hồi đất là bao nhiêu ngày và cũng không quy định UBND cấp tỉnh ban hành quyết định quy định về trình tự, thủ tục thu hồi, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất nên UBND tỉnh Vĩnh Phúc chưa có căn cứ để ban hành quyết định về nội dung này.

Nội dung câu hỏi này, sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc sẽ nghiên cứu và xin ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường để tham mưu UBND tỉnh ban hành quyết định riêng vể trình tự, thủ tục thu hồi đất bồi thường giải phóng mặt bằng.

Tôi yêu Việt Nam! “Từ bao lâu tôi đã yêu nụ cười của bạn Từ bao lâu tôi đã yêu quê hương Việt Nam Những con đường nên thơ và những dòng sông ước mơ Từ trái tim xin 1 lời Tôi yêu Việt Nam”

Nuôi trồng thủy sản có phải xin cấp giấy phép kinh doanh ngành nghề không?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


CÂU HỎI:

Nuôi trồng thủy sản có bắt buộc phải có GCN đăng ký kinh doanh về nuôi trồng thủy sản không?

TRẢ LỜI:

Thứ nhất, Căn cứ theo điểm 2.a, Mục I của Thông tư 02/2006/ TT-BTS hướng dẫn Nghị định 59/2005/NĐ-CP về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản do Bộ thủy sản ban hành:

“I. VỀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG (hướng dẫn một số nội dung quy định tại Chương I của Nghị định)

…..

2. Các trường hợp không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 59 (Khoản 3 Điều 2 của Nghị định):

a) Hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản; kinh doanh nguyên liệu thủy sản dùng cho chế biến thực phẩm (bao gồm các hoạt động: mua bán, thu gom, bảo quản, vận chuyển thủy sản) có quy mô nhỏ, theo phương pháp thủ công không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định khi có thu nhập thấp theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (sau đây gọi chung là Nghị định số 109/2004/NĐ-CP) nhưng phải bảo đảm các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm và pháp luật về bảo vệ môi trường.(….)”

 

Căn cứ theo quy định này thì, hộ gia đình và cá nhân nuôi trồng thủy sản có thu nhập thấp( thu nhập thấp hơn mức quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) theo phương pháp thủ công (theo quy định của Bộ thuỷ sản); khai thác thuỷ sản bằng tàu cá có trọng tải dưới 0,5 tấn hoặc không sử dụng tàu cá thì sẽ không phải đăng ký kinh doanh.

 

 Thứ hai, Ngoài những tổ chức cá nhân nuôi trồng thủy sản ở trên thì đối với các tổ chức, cá nhân còn lại thuộc đối tượng thuộc Điều 2 của Nghị Định 59/2005/NĐ-CP tiến hành hoạt động nuôi trồng thủy sản thì căn cứ theo quy định Điều 8 của Nghị Định này:

 

“Điều 8. Những ngành nghề sản xuất, kinh doanh thuỷ sản không cần giấy phép

Những ngành nghề sản xuất, kinh doanh thuỷ sản sau đây không cần giấy phép, nhưng phải bảo đảm các điều kiện của pháp luật quy định: sản xuất, kinh doanh ngư cụ và trang thiết bị khai thác thuỷ sản; đóng mới, cải hoán tàu cá; sản xuất, kinh doanh giống thuỷ sản; nuôi trồng thuỷ sản; sản xuất, kinh doanh thức ăn nuôi thuỷ sản; chế biến thuỷ sản; kinh doanh nguyên liệu thuỷ sản dùng cho chế biến thực phẩm”.

 

Theo đó, những tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản sẽ không cần giấy phép kinh doanh ngành nghề nuôi trồng thủy sản nhưng vẫn phải xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và  Giấy chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thủy sản.

 

Tổng hợp quy định về xử lý vi phạm hành chính trong sở hữu trí tuệ


Xử lý vi phạm trong sở hữu trí tuệ được hiểu là khi có hành vi vi phạm thì cơ quan chức năng như thanh tra, công an, cơ quan hải quan sẽ tiến hành ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức xử phạt vi phạm hành chính là phạt tiền và có thể áp dụng các biện pháp bổ sung như tịch thu phương tiện, tiêu huỷ hàng hoá vi phạm;

Xử lý vi phạm hành chính trong sở hữu trí tuệ được quy định như sau:

*Các trường hợp vi phạm áp dụng xử lý hành chính trong sở hữu trí tuệ:

Tổ chức, cá nhân thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây bị xử phạt vi phạm hành chính; (khoản 27, Điều 1 Luật sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ 2009).

–  Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc cho xã hội;

–  Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này;

–  Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ tem, nhãn hoặc vật phẩm khác mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giả mạo hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.

*Quyết định áp dụng biện pháp hành chính gồm các hình thức, biện pháp xử lý sau:

+ Hình thức xử phạt chính là: Cảnh cáo hoặc phạt tiền;

+ Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng có thời hạn hoặc không có thời hạn giấy phép có liên quan đến hoạt động sở hữu trí tuệ; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính về sở hữu trí tuệ;

+ Các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu huỷ vật phẩm, hàng hoá vi phạm; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên sản phẩm, hàng hoá, phương tiện kinh doanh; buộc phân phối hoặc sử dụng vào mục đích phi thương mại với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác thương mại bình thường của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.

Căn cứ: Điều 214 Luật sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ 2009; 

* Thẩm quyền xử lý: 

–  Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

– Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật;
 
– Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật;
 
– Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan;

Tuy nhiên, không phải bất cứ cơ quan quản lý Nhà nước nào cũng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và được xử phạt bất kỳ loại vi phạm hành chính trong tất cả các lĩnh vực. Chỉ có những cơ quan Nhà nước được pháp luật quy định mới được thực hiện quyền xử phạt và chỉ có quyền xử phạt những hành vi vi phạm trong lĩnh vực được pháp luật giao cho.

Mặt khác, không phải bất cứ ai trong cơ quan hành chính có thẩm quyền xử phạt đều được xử phạt và mức độ xử phạt là như nhau, mà pháp luật chỉ quy định một số chức danh nhất định của cơ quan hành chính đó mới có thẩm quyền xử phạt và quyền hạn xử phạt cũng khác nhau tuỳ theo chức danh mà pháp luật quy định.

Tổng hợp văn bản xử lý vi phạm hành chính trong sở hữu trí tuệ, gồm:

Căn cứ: Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy định cụ thể về các hành vi vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ bị xử lý bằng biện pháp hành chính, gồm các văn bản sau:

+ Nghị định 105/2006/NĐ- CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;

+ Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định về sử phạt hành chính trong lĩnh vực công nghiệp;

+ Thông tư 11/2015/TT-BKHCN Hướng dẫn thi hành một số điều Nghị định 99/2013/NĐ-CP;

+ Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định sử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả quyền liên quan;

+ Nghị định 28/2017/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung Nghị định 131/2013/NĐ-CP;

+ Nghị định 31/2016/NĐ-CP Quy định sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kểm dịch thực vật;

Lưu ý: Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

Tổng hợp 10 hành vi vi phạm hành chính phổ biến trong hôn nhân gia đình


Không phải ai cũng may mắn có được một cuộc hôn nhân suôn sẻ, hạnh phúc. Thực tế cho thấy, đa số các cặp vợ chồng đều có những vấn đề của riêng mình và thường khổ sở vì đời sống hôn nhân không hạnh phúc.

Bên cạnh đó, còn có những đối tượng lợi dụng hôn nhân gia đình để trục lợi cá nhân, có những hành vi gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác; Nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý hành chính quy định tại Nghị định 110/2013/NĐ-CP và Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung nghị định 110.

Sau đây là bảng tổng hợp các hành vi vi phạm hành chính phổ biến trong hôn nhân gia đình:

Nội dung

Mức phạt

Hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn và môi giới kết hôn

(Điều 28 Nghị định 110/2013/NĐ-CP)

Hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký kết hôn.

Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng

Cam đoan không đúng về tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn

Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng

Hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký kết hôn

Từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng

– Lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích xuất cảnh, nhập cảnh; nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài;

– Lợi dụng việc kết hôn để hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước hoặc để thực hiện các mục đích trục lợi khác.

từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng

Biện pháp khắc phục hậu quả:

– Hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi quy định tại Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều này;

– Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 Điều này.

Hành vi vi phạm quy định về cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

(Điều 30 Nghị định 110/2013/NĐ-CP)

Hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp để làm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng

–  Sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân;

– Cam đoan không đúng về tình trạng hôn nhân để làm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân;

– Sử dụng giấy tờ giả để làm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

– Cung cấp thông tin sai lệch để được cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; sử dụng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không đúng mục đích.

Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng

Hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng

Biện pháp khắc phục hậu quả:

– Hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi quy định tại Điểm c Khoản 2, Khoản 3 Điều này.

Hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn

(Điều 47 Nghị định 110/2013/NĐ-CP)

Hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.

Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng

Hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó

từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng

Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

(Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP – khoản 35 Điều 1, Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung nghị định 110)

– Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

– Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

– Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

– Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

– Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng

– Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân;

– Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có cùng dòng máu về trực hệ.”

từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng

Hành vi vi phạm quy định về giám hộ

(Điều 49 Nghị định 110/2013/NĐ-CP)

Hành vi trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ giám hộ sau khi đã làm thủ tục đăng ký giám hộ

Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng

– Lợi dụng việc đăng ký giám hộ để trục lợi;

– Lợi dụng việc đăng ký giám hộ để xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động.

từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng

Biện pháp khắc phục hậu quả:

– Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại Khoản 2 Điều này

Hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai sinh

(Điều 27 Nghị định 110/2013/NĐ-CP)

hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

– Làm chứng sai sự thật về việc sinh;

– Cố ý khai không đúng sự thật về nội dung khai sinh;

– Sử dụng giấy tờ giả để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

– Làm chứng sai sự thật về việc sinh;

– Cố ý khai không đúng sự thật về nội dung khai sinh;

– Sử dụng giấy tờ giả để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

Biện pháp khắc phục hậu quả:

– Hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi quy định tại Điểm c Khoản 3, Khoản 4 Điều này

Hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai tử

(Điều 31)

Hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai tử.

Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng

hành vi sử dụng giấy tờ giả hoặc làm chứng sai sự thật cho người khác để làm thủ tục đăng ký khai tử

từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng

hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký khai tử.

từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng

– Đăng ký khai tử cho người đang sống;

– Cố ý không đăng ký khai tử cho người chết để trục lợi.

từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng

Biện pháp khắc phục hậu quả:

– Hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều này;

–  Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều này.

Hành vi vi phạm quy định về đăng ký giám hộ

(Điều 32)

hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký giám hộ

Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng

– Sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký giám hộ;

– Sử dụng giấy tờ giả để làm thủ tục đăng ký giám hộ.

từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng

Hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký giám hộ.

từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng

Biện pháp khắc phục hậu quả:

Hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi quy định tại Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều này.

Hành vi vi phạm quy định về đăng ký việc nhận cha, mẹ, con

(Điều 33)

Hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng

– Sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con;

– Sử dụng giấy tờ giả để làm thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con;

– Ép buộc người khác nhận cha, mẹ, con.

từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng

Hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con.

từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng

Biện pháp khắc phục hậu quả:

– Hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi quy định tại Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều này

Hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi

(Điều 50)

Hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký cho, nhận con nuôi.

Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng

– Cho, nhận con nuôi khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có văn bản không chấp nhận việc cho, nhận con nuôi;

– Sử dụng giấy tờ giả để làm thủ tục đăng ký cho, nhận con nuôi.

từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồn

– Khai báo gian dối để đăng ký việc cho, nhận con nuôi;

– Làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký cho, nhận con nuôi;

– Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số;

– Lợi dụng việc cho con làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của nhà nước.

tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng

– Dụ dỗ, mua chuộc, ép buộc, đe dọa để có sự đồng ý của người có quyền đồng ý cho trẻ em làm con nuôi;

– Lợi dụng việc cho, nhận hoặc giới thiệu trẻ em làm con nuôi để trục lợi, trừ trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 3 Điều này;

– Làm dịch vụ môi giới cho hoặc nhận con nuôi trái pháp luật;

– Lợi dụng việc nhận con nuôi nhằm bóc lột sức lao động.

từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng

Biện pháp khắc phục hậu quả:

– Hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi quy định tại Điểm b Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều này;

– Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi quy định tại Điểm b Khoản 2, Điểm b và Điểm d Khoản 3, các điểm b, c và d Khoản 4 Điều này.

 

 

Chịu trách nhiệm pháp lý về tội không cứu người trong tình trạng nguy hiểm

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Truy cứu tội không giúp người đang ở tình trạng nguy hiểm tới tính mạng

Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra tại quận Long Biên, HN sáng 29/2/2016, người điều khiển ô tô Camry BKS 29A – 866xx…Trước vấn đề này, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – VP Luật Newvision đưa ra quan điểm như sau:…

CHỊU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VỀ TỘI “KHÔNG CỨU GIÚP NGƯỜI ĐANG TRONG TÌNH TRẠNG NGUY HIỂM” XOAY QUAY VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG LIÊN HOÀN Ở LONG BIÊN (HÀ NỘI)
 
Vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra tại quận Long Biên, Hà Nội sáng 29/2/2016, thông tin ban đầu xác định, người điều khiển ô tô Camry BKS 29A – 866xx gây tai nạn là Nguyễn Quang Vinh (SN 1977, trú tại tổ 15, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội). Anh ta đã đến cơ quan công an để trình diện vào đầu giờ chiều cùng ngày. 
 
Qua tìm hiểu vụ việc trên, hậu quả của vụ tai nạn khiến cho ông Trần Viết Tiến (SN 1952, trú tại phường Bồ Đề, quận Long Biên) điều khiển xe máy chở theo cháu ruột là Trần Gia Hân (2009) xe ô tô tiếp tục đâm vào bà Nguyễn Thị Trúc (SN 1969, trú tại phố Ái Mộ, phường Bồ Đề, quận Long Biên) khi bà Trúc đang đi bộ ngược chiều. Sau đó ô tô đâm vào gốc cây trước số nhà 25, phường Ái Mộ, đuôi xe văng ra đường va chạm với xe ô tô BKS 30A-687xx do anh Đ.M.H (SN 1978, quê Phú Thọ) điều khiển.
 
Hậu quả vụ tai nạn khiến ông Tiến và bà Trúc tử vong tại chỗ, cháu Trần Gia Hân tử vong trên đường đi cấp cứu.
 
Xoay quanh vấn đề này chúng ta thường xét xem anh Nguyễn Quang Vinh có bị xử lý hình sự hay không? Và mức phạt hình sự sẽ là như thế nào? Tuy nhiên, nhìn nhận dưới góc độ bao quát hơn, thì ngoài người lái chiếc xe gây tai nạn thì còn ai phải chịu trách nhiệm về cái chết thương tâm của 3 nạn nhân này.
 
Qua facebook cá nhân của cô giáo Dương Kim Liên – cô giáo dạy trong trường học của 1 em học sinh bị chết trong vụ việc nêu trên đã chia sẻ, trong lúc cháu Trần Gia Hân vẫn còn sống tại vụ tai nạn, cô đã kêu gọi mọi người gọi taxi đưa cháu đến bệnh viện trước khi cấp cứu 115 đến, tuy nhiên gọi đến hai chiếc taxi thì hai chiếc taxi đều quay đầu bỏ chạy để mặc cô Liên và mọi người kêu cứu. Qua tình tiết trên, có thế thấy, thái độ vô cảm của những người lái taxi bỏ chạy kia có đáng bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
 
 
Trước vấn đề này, theo Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – VP Luật Newvision đưa ra quan điểm: Theo điều 102 Bộ luật hình sự hiện hành quy định về tội không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm như sau:
 
1. Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:
a) Người không cứu giúp  là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm;
b) Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
 
Tội này có hình phạt thấp nhất là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm tùy theo mức độ, tính chất của hành vi. Không cứu giúp người khác bị nạn rõ ràng là hành vi cần phải lên án.
 
Để xem xét trách nhiệm hình sự của người này thì cần rất thận trọng xem xét nhiều yếu tố cần thiết. Trước hết hành vi này phải là cố ý không cứu người. Theo quy định tại Điều 102 BLHS, cố ý không cứu người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là hành vi thấy người đang ở trong tình trạng sắp chết, tuy có điều kiện cứu mà không cứu dẫn đến người đó bị chết.
 
Trong trường hợp của 2 taxi bỏ chạy không cứu người trong trường hợp này, đã đủ cấu thành tội không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm theo điều 102 BLHS hiện hành. Đồng thời, Luật sư Tuấn cũng nhấn mạnh, hành vi vô cảm của con người không chỉ bị lên án bởi lương tâm con người mà pháp luật cũng điều chỉnh phải trừng trị những người vô cảm khi thấy người khác mà không cứu.
 
Tuy nhiên, hiện nay, các cơ quan chức năng cũng chưa xác định được 2 taxi bỏ chạy này.
  
Trong vụ việc này, qua lời chia sẻ của cô giáo Dương Kim Liên, cô giáo đã nhờ cả lực lượng an ninh. Nhưng họ cho rằng phải có nhiệm vụ “bảo vệ hiện trường” mà không đưa cháu bé đi cấp cứu. Theo Luật sư, nhiệm vụ nào sẽ được ưu tiên, thưa luật sư?
 
              – Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Trong trường hợp này thì việc đưa người đi cấp cứu phải là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, cần phải bảo vệ tính mạng con người cấp bách. Việc bảo vệ hiện trường lực lượng an ninh có thể thực hiện nhiều phương pháp để xử lý.
 
 
Với vụ việc cụ thể này, muốn truy trách nhiệm cho những người đã từ chối đưa cháu bé đi cấp cứu, theo luật sư cần phải làm gì? Việc đó có khó khăn không thưa luật sư?
       
           – Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Pháp luật quy định như vậy, tuy nhiên để xử phạt hành chính và buộc tội cá nhân và tổ chức không hề đơn giản, cụ thể trong trường hợp bị xử phạt hành chính thì phải chứng minh được hành vi của người đã yêu cầu người nào đó có điều kiện mà không cứu giúp.
 
Trường hợp để khởi tố được thì phải chứng minh được hành vi của người tuy có điều kiện mà không cứu giúp thì cũng không hề đơn giản. Việc thu thập đầy đủ chứng cứ để chứng minh cá nhân tổ chức nào đó có điều kiện là tương đối khó. 
 
Tuy nhiên hoàn toàn có thể làm được nếu chúng ta thu thập đầy đủ như ghi âm, ghi hình và những người làm chứng khác, nếu các tài liện này phù hợp với nhau chúng ta có thể khởi tố hành vi của người nào đó, như vậy mới có tác dụng tuyên truyền và phòng ngừa của pháp luật ./.
 

 

Xử lý tang vật bị tạm giữ, tịch thu trong vụ việc bạo lực gia đình


1. theo điều 49 nghị định 167/2013, người dùng công cụ, phương tiện xâm hại đến sức khỏe thành viên trong gia đình thì bị phạt tiền từ 1500k đến 2000k và có biện pháp khắc phục hậu quả là buộc xin lỗi công khai nếu bị hại có yêu cầu. vậy người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt có được thêm hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính (ví dụ: dao) không?????

2. trong trường hợp cơ quan công an đang tạm giữ dao (tang vật vi phạm hành chính trong vụ việc bạo lực gia đình), xác định dao này là dao nấu ăn thuộc sở hữu của người vi phạm thì xử lý tang vật như thế nào???

3. trong 1 vụ việc vi phạm hành chính người ký quyết định xử phạt là chủ tịch xã, người ký quyết định tạm giữ tang vật, tiêu hủy tang vật là trưởng công an xã được hay không???

Mong các anh chị giải thích giúp em. Em cảm ơn ạ

Thủ tục cải chính năm sinh trong sổ hộ khẩu, CMND


 

>>>Tất cả những điều cần biết về hộ khẩu, tạm trú và tạm vắng;

>>>Những điều có thể bạn chưa biết về chứng minh nhân dân;


Trên thực tế, do yếu tố lịch sử và cả yếu tố con người, việc nhầm lẫn năm sinh, tên lót, thậm chí cả họ tên… là khá phổ biến trong thời gian trước đây. Việc xác định ai đúng/ ai sai là rất khó để xác định. Vậy, theo quy định hiện hành muốn cải chính thông tin bị sai sót thì sẽ làm như thế nào?

Sau đây là bài viết hướng dẫn cải chính năm sinh trong sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân, hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn:

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định 123/2015/NĐ-CP về giá trị pháp lý của Giấy khai sinh như sau:

1. Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân.
 
2. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó.
 
3. Trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong Giấy khai sinh của người đó thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý hồ sơ hoặc cấp giấy tờ có trách nhiệm điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong Giấy khai sinh.

Theo quy định trên thì Giấy khai sinh được xem là tiền đề cho việc nhập Khẩu và làm chứng minh dân dân. Do đó, để cải chính thông tin bị sai trên sổ hộ khẩu và chứng minh nhân dân sẽ dựa trên giấy khai sinh gốc.

Trường hợp cải chính thông tin trên sổ hộ khẩu:

Căn cứ khoản 2 Điều 29 Luật Cư trú 2006 quy định các trường hợp được điều chỉnh thay đổi trong sổ hộ khẩu như sau:

2. Trường hợp có thay đổi về họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh hoặc các thay đổi khác về hộ tịch của người có tên trong sổ hộ khẩu thì chủ hộ hoặc người có thay đổi hoặc người được uỷ quyền phải làm thủ tục điều chỉnh. Người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu, giấy khai sinh hoặc quyết định đ­ược phép thay đổi của cơ quan có thẩm quyền về đăng ký hộ tịch; nộp phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu.

….

Theo quy định trên thì nếu thông tin về năm sinh có sai sót thì được phép điều chỉnh và thủ tục điều chỉnh như sau:

Căn cứ: Điều 29 Luật cư trú 2006;  Điểm 1Điều 12 Thông tư 35/2014/TT-BCA.

Hồ sơ:

– Phiếu báo thay đổi thông tin hộ khẩu; 

– Sổ hộ khẩu (bản gốc);

– Giấy tờ và tài liệu chứng minh thông tin thay đổi: Giấy khai sinh bản gốc;

Trường hợp bị mất giấy khai sinh gốc: bản sao giấy khai sinh (quy định tại Điều 11, Nghị định số số 110/2004/NĐ-CP ngày 08-4-2004 của Chính phú về công tác văn thư quy định bản sao văn bản, thì bản sao vẫn có giá trị như bản chính, khi bản chính vẫn còn hiệu lực); Bằng cấp liên quan có thể chứng minh; các giấy tờ khác có thể chứng minh thông tin về ngày tháng năm sinh cần thay đổi (như: bản lời khai của nhân chứng; xác nhận của phường, xã nơi bạn cư trú;..);

Nơi nộp hồ sơ: Tại cơ quan công an có thẩm quyền.

– Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã;

– Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Thời hạn giải quyết:
 
– Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, Công an huyện, quận, thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh phải thông báo cho tàng thư căn cước công dân và Công an xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người có thay đổi.
 
– Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, Công an xã, thị trấn thuộc huyện thuộc tỉnh có trách nhiệm chuyển hồ sơ điều chỉnh, bổ sung cho Công an huyện lưu tàng thư hồ sơ hộ khẩu. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Công an huyện phải thông báo cho tàng thư căn cước công dân.
 
Lưu ý: Người thực hiện việc thay đổi là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; đối với người chưa thành niên thì việc làm thủ tục phải thông qua người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật về dân sự.

Trường hợp cải chính thông tin trên chứng minh nhân dân:

Căn cứ: Điểm b, khoản 1 Điều 6 Nghị định 05/1999/NĐ-CP; khoản 2 Điều 1 Nghị định 170/2007/ND-CP

Hồ sơ:

– Đơn trình bày nêu rõ lý do xin đổi, cấp lại CMND. Trường hợp cấp lại thì đơn phải có xác nhận của công an phường, xã, thị trấn nơi thường trú;

– Sổ hộ khẩu (bản gốc/ đã điều chỉnh, có quyết định của cơ quan có thẩm quyền);

– Chụp ảnh;

– In vân tay hai ngón trỏ;

– Khai tờ khai xin cấp Chứng minh nhân dân;

Lưu ý: Nộp lại Chứng minh nhân dân có thay đổi nội dung theo quy định cho cơ quan công an.

Thời gian giải quyết việc cấp Chứng minh nhân dân:

Kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ và làm xong thủ tục theo quy định cơ quan Công an phải làm xong Chứng minh nhân dân cho công dân trong thời gian sớm nhất;

– Tại thành phố, thị xã là không quá 07 ngày làm việc đối với trường hợp cấp mới, cấp đổi, 15 ngày làm việc đối với trường hợp cấp lại;

– Tại các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo,..không quá 20 ngày làm việc;

– Các khu vực còn lại là không quá 15 ngày làm việc.

Căn cứ: khoản 2 Điều 1 Nghị định 106/2013/NĐ-CP.

Mức phí khi yêu cầu thay đổi thông tin, cấp lại hộ khẩu, chứng minh nhân dân hay căn cước công dân.

Căn cứ theo quy định tại điểm a, b, khoản 2 Điều 5 Thông tư 250/2016/TT-BTC hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thỉ khoản thu đối với việc thay đổi thông tin, cấp lại Sổ hộ khẩu, CMND thì tùy thuộc vào điều kiện thực tế của địa phương mà quy định mức thu cho phù hợp, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc sau: Mức thu đối với khoản này tại các quận của thành phố trực thuộc Trung ương, hoặc phường nội thành của thành phố thuộc tỉnh cao hơn mức thu đối với khu vực khác.

Khác biệt trong cách hiểu về “bất động sản hình thành trong tương lai” theo quy định pháp luật hiện hành


Bộ luật dân sự 2015 đã đưa ra định nghĩa về tài sản hình thành trong tương lai. Tại lĩnh vực chuyên ngành, Luật Kinh doanh bất động sản 2014 cũng có điều khoản định nghĩa về nhà ở, công trình xây dựng (bất động sản) hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ nội hàm hai định nghĩa này, chúng ta không khỏi đặt ra thắc mắc về sự khác biệt trong cách hiểu về bất động sản hình thành trong tương lai.

Bộ luật dân sự 2015

Luật Kinh doanh bất động sản 2014

Khoản 2 Điều 108 quy định:

2. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:

a) Tài sản chưa hình thành;

b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.

Khoản 4 Điều 3 quy định:

Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai là nhà, công trình xây dựng đang trong quá trình xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng.

Qua các quy định trên, có thể thấy sự khác biệt giữa Bộ luật dân sự 2015 và Luật kinh doanh bất động sản 2014 như sau:

 – Theo pháp luật dân sự:  nhà ở (hay công trình xây dựng) hình thành trong tương lai phải là:

  + Nhà ở (hay công trình xây dựng) chưa hình thành;

  + Hoặc đã hình thành nhưng chủ thể vẫn chưa được xác lập quyền sở hữu sau thời điểm xác lập giao dịch.

Theo quy định của pháp luật kinh doanh bất động sản: được xem là nhà ở (hay công trình xây dựng) hình thành trong tương lai nếu nhà ở (hay công trình xây dựng) đó đang được xây dựng nhưng chưa được nghiệm thu sử dụng. Nói rõ hơn, chỉ cần bất động sản chưa hoàn thành nhưng đang được xây dựng thì được coi là bất động sản hình thành trong tương lai. Đây chính là điểm khác biệt so với quy định tại Bộ luật dân sự 2015 khi mà việc xác định không hề dựa vào thời điểm chủ thể đã được xác lập quyền sở hữu hay chưa.

Xong, khi xem xét giao dịch trong kinh doanh bất động sản thì chúng ta sẽ tuân thủ theo quy định của pháp luật chuyên ngành (Luật Kinh doanh bất động sản 2014) để xác định xem đó có phải là bất động sản hình thành trong tương lai hay không. Còn những giao dịch dân sự khác thì sẽ áp dụng theo Bộ luật dân sự 2015.

 

Đặc điểm về Quyền và Nghĩa vụ của người làm chứng trong BLTTHS


Cho em hỏi các nhận biết Đặc ĐIểm về Quyền và Nghĩa vụ của Người Làm chứng

Cũng như Đặc Điểm của Người làm chứng với ạ

Em cần 1 số thông tin để hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp của mình

Em cám ơn anh chị đã đọc .

Cho em hỏi về việc hàng xóm chặt cây do em trồng trên vỉa hè


Nhà em có trồng cây ở vỉa hè, và bị hàng xóm chặt mất, sau đó e có trồng lại cây mới (cây không thuộc địa phần giáp ranh giữa hai nhà)

em hỏi nếu hàng xóm em ra chặt tiếp em có được kiện không