Xử phạt ra sao khi chủ trọ không trả lại tiền đặt cọc cho khách ?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Câu hỏi

Tôi ký hợp đồng thuê nhà 2 năm, đặt cọc 2 tháng tiền thuê nhà 20 triệu đồng. Trước hạn này, khi tôi không muốn thuê nữa, chủ nhà đồng ý song không trả lại tiền đặt cọc. Họ nói tôi đã vi phạm hợp đồng vì còn 6 tháng nữa mới hết. Tôi phải làm gì trong trường hợp này.

Luật sư tư vấn

Luật sư Hoàng Thị Hải Yến xin đưa ra ý kiến của mình như sau:

Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015:

Đặt cọc được thực hiện là việc một bên (đặt cọc) giao cho bên kia (bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (gọi là tài sản đặt cọc) trong cùng một thời hạn thì sẽ bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để được thực hiện về nghĩa vụ trả tiền. Nếu mà bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện ký kết hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, trong trường hợp của bạn được hiểu việc bạn đặt cọc cho chủ nhà là để thực hiện hợp đồng thuê nhà, bảo đảm cho bạn thực hiện đúng những thỏa thuận trong hợp đồng (ví dụ như không chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, giữ gìn tài sản của người cho thuê…).

Khoản 2 Điều 131 Luật nhà ở năm 2014 quy định trường hợp thuê nhà ở không thuộc sở hữu nhà nước thì việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở được thực hiện khi có một trong các trường hợp sau:

a) Hợp đồng thuê nhà ở hết hạn; trường hợp trong hợp đồng không xác định thời hạn thì hợp đồng chấm dứt sau 90 ngày, kể từ ngày bên cho thuê nhà ở thì phải có thông báo cho bên thuê nhà ở biết việc chấm dứt hợp đồng;

b) Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng….

Bên cạnh đó, Điều 132 Luật nhà ở năm 2014 cũng quy định: “3. Bên thuê nhà ở sẽ có quyền tự đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở khi bên cho thuê nhà ở có một trong các hành vi sau đây:

a) Không sửa chữa nhà ở khi có hư hỏng nặng;

b) Tăng giá thuê nhà ở bất hợp lý hoặc tăng giá thuê nhà mà không thông báo cho bên thuê nhà biết trước theo thỏa thuận;

c) Khi quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba.

Bên đơn phương chấm dứt thực hiện những hợp đồng thuê nhà thì phải thông báo cho bên kia biết trước ít nhất 30 ngày, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; nếu vi phạm quy định tại khoản này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Việc bạn thông báo trước 30 ngày để chủ nhà (người cho thuê) biết về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà và đã được chủ nhà đồng ý thì được xem là trường hợp chấm dứt hợp đồng thuê nhà do hai bên thỏa thuận theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 131 Luật nhà ở năm 2014.

Do đó, nếu hai bên đã thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng thì phía bên nhận đặt cọc (bên cho thuê nhà) sẽ phải trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc là bạn.

Để đòi lại tài sản là tiền đặt cọc, trước tiên bạn cần thương lượng với chủ nhà về nghĩa vụ bên cho thuê nhà phải trả lại tiền đặt cọc. Trong trường hợp bên cho thuê không đồng ý, bạn có thể gửi đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp đến Tòa án cấp huyện nơi có bất động sản (tức là nơi có nhà cho thuê) để được giải quyết.

 

Tổng hợp quy định về xử lý vi phạm hành chính trong sở hữu trí tuệ


Xử lý vi phạm trong sở hữu trí tuệ được hiểu là khi có hành vi vi phạm thì cơ quan chức năng như thanh tra, công an, cơ quan hải quan sẽ tiến hành ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức xử phạt vi phạm hành chính là phạt tiền và có thể áp dụng các biện pháp bổ sung như tịch thu phương tiện, tiêu huỷ hàng hoá vi phạm;

Xử lý vi phạm hành chính trong sở hữu trí tuệ được quy định như sau:

*Các trường hợp vi phạm áp dụng xử lý hành chính trong sở hữu trí tuệ:

Tổ chức, cá nhân thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây bị xử phạt vi phạm hành chính; (khoản 27, Điều 1 Luật sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ 2009).

–  Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc cho xã hội;

–  Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này;

–  Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ tem, nhãn hoặc vật phẩm khác mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giả mạo hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.

*Quyết định áp dụng biện pháp hành chính gồm các hình thức, biện pháp xử lý sau:

+ Hình thức xử phạt chính là: Cảnh cáo hoặc phạt tiền;

+ Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng có thời hạn hoặc không có thời hạn giấy phép có liên quan đến hoạt động sở hữu trí tuệ; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính về sở hữu trí tuệ;

+ Các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu huỷ vật phẩm, hàng hoá vi phạm; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên sản phẩm, hàng hoá, phương tiện kinh doanh; buộc phân phối hoặc sử dụng vào mục đích phi thương mại với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác thương mại bình thường của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.

Căn cứ: Điều 214 Luật sửa đổi Luật sở hữu trí tuệ 2009; 

* Thẩm quyền xử lý: 

–  Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

– Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật;
 
– Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật;
 
– Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan;

Tuy nhiên, không phải bất cứ cơ quan quản lý Nhà nước nào cũng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và được xử phạt bất kỳ loại vi phạm hành chính trong tất cả các lĩnh vực. Chỉ có những cơ quan Nhà nước được pháp luật quy định mới được thực hiện quyền xử phạt và chỉ có quyền xử phạt những hành vi vi phạm trong lĩnh vực được pháp luật giao cho.

Mặt khác, không phải bất cứ ai trong cơ quan hành chính có thẩm quyền xử phạt đều được xử phạt và mức độ xử phạt là như nhau, mà pháp luật chỉ quy định một số chức danh nhất định của cơ quan hành chính đó mới có thẩm quyền xử phạt và quyền hạn xử phạt cũng khác nhau tuỳ theo chức danh mà pháp luật quy định.

Tổng hợp văn bản xử lý vi phạm hành chính trong sở hữu trí tuệ, gồm:

Căn cứ: Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy định cụ thể về các hành vi vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ bị xử lý bằng biện pháp hành chính, gồm các văn bản sau:

+ Nghị định 105/2006/NĐ- CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;

+ Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định về sử phạt hành chính trong lĩnh vực công nghiệp;

+ Thông tư 11/2015/TT-BKHCN Hướng dẫn thi hành một số điều Nghị định 99/2013/NĐ-CP;

+ Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định sử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả quyền liên quan;

+ Nghị định 28/2017/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung Nghị định 131/2013/NĐ-CP;

+ Nghị định 31/2016/NĐ-CP Quy định sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kểm dịch thực vật;

Lưu ý: Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

Xử lý hóa đơn in sai chưa giao cho khách hàng và hóa đơn in sai bị mất

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Thắc mắc:

Hiện công ty em có 2 trường hợp xử lý hóa đơn nhờ anh chị tư vấn giúp ạ:

Trường hợp 1: Công ty đã xuất hóa đơn chi hoa hồng đại lý cho công ty bảo hiểm vào năm 2015, đến nay phát hiện ra hóa đơn không in mã số thuế khách hàng và hóa đơn chưa giao cho khách hàng.

Trường hợp 2: Công ty đã xuất hóa đơn chi hoa hồng đại lý cho công ty bảo hiểm vào năm 2016 và chưa giao liên hóa đơn cho khách nhưng liên đó đã bị mất, liên chính vẫn còn. Công ty có thể photo và đóng dấu sao y bản chính được không ạ.

Trân trọng cảm ơn.

 

Giải đáp:

TRƯỜNG HỢP 1:

Khi công ty đã xuất hóa đơn và chưa giao cho khách hàng thì sẽ Xử lý đối với hóa đơn đã lập theo quy định tại khoản 1, Điều 20 của Thông tư 39/2014/TT-BTC: Trường hợp lập hóa đơn chưa giao cho người mua, nếu phát hiện hóa đơn lập sai, người bán gạch chéo các liên và lưu giữ số hóa đơn lập sai.

TRƯỜNG HỢP 2:

Căn cứ theo Khoản 2 của Điều 24, Thông tư 39/2014/TT-BTC có nội dung quy định về xử lý trong trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn:

“2 .Trường hợp khi bán hàng hóa, dịch vụ người bán đã lập hóa đơn theo đúng quy định nhưng sau đó người bán hoặc người mua làm mất, cháy, hỏng liên 2 hóa đơn bản gốc đã lập thì người bán và người mua lập biên bản ghi nhận sự việc, trong biên bản ghi rõ liên 1 của hóa đơn người bán hàng khai, nộp thuế trong tháng nào, ký và ghi rõ họ tên của người đại diện theo pháp luật (hoặc người được ủy quyền), đóng dấu (nếu có) trên biên bản và người bán sao chụp liên 1 của hóa đơn, ký xác nhận của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu trên bản sao hóa đơn để giao cho người mua. (….)”.

Như vây, khi công ty đã xuất hóa đơn  và chưa giao cho khách nhưng đã bị mất mà liên chính vẫn còn thì người đại diện theo pháp luật đóng dấu và ký tên vào lập biên bản ghi nhận sự việc; sao chụp liên 1 của hóa đơn.

CSGT xử phạt, ngân hàng giữ giấy đăng ký, người mua xe trả góp bị làm khó?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Việc CSGT kiểm ra, xử phạt các chủ phương tiện không có giấy đăng ký xe bản chính khi tham gia giao thông khiến nhiều tài xế lo lắng, bởi hiện có rất nhiều người khi vay tiền ngân hàng mua xe trả góp thì ngân hàng buộc thế chấp giấy đăng ký xe bản chính.

Rất nhiều vụ việc CSGT các địa phương xử lý vi phạm hành chính đối với người điều khiển ô tô sử dụng bản sao giấy đăng ký xe, do bản chính đã cầm cố (thế chấp) tại ngân hàng (NH) khiến tài xế lo lắng.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Hữu Dánh khẳng định: “Việc lực lượng CSGT các địa phương xử lý những trường hợp vi phạm mà sử dụng giấy đăng ký xe bản sao trong thời gian qua là hoàn toàn chính xác”.

Trong thực tế, các chủ phương tiện giao thông khi vay NH mua xe trả góp thì bên thế chấp không được NH giao lại bản chính giấy đăng ký xe mà chỉ được giao bản sao có xác nhận của NH, dẫn đến tình trạng người điều khiển phương tiện giao thông chỉ có thể xuất trình bản sao đăng ký xe có xác nhận của NH khi bị CSGT kiểm tra trường hợp vi phạm giao thông. Trong trường hợp này, người vi phạm sẽ bị lập biên vi phạm lỗi không có giấy đăng ký xe.

Theo quy định của luật Giao thông đường bộ, lái xe không mang đầy đủ các giấy tờ khi lưu thông sẽ bị phạt từ 80.000 – 120.000 đồng (đối với người điều khiển xe mô tô, gắn máy), phạt từ 200.000 – 400.000 đồng (đối với người điều khiển ô tô).

Ngân hàng lo rủi ro cao:

Phía các tổ chức tín dụng cho rằng, nếu không giữ giấy tờ xe bản gốc làm tài sản thế chấp thì sẽ gia tăng rủi ro, nợ xấu. Vì nếu bên thế chấp vẫn giữ đăng ký xe bản gốc thì khả năng một tài sản thế chấp nhiều nơi là dễ xảy ra. “Khoản vay mua xe có thể lên tới 70% giá trị xe. Nếu ngân hàng không giữ giấy tờ xe thì không khác nào cho vay tín chấp, khi khách hàng không trả được nợ hoặc cố tình chây ỳ sẽ rất khó xử lý”.

Khi ngân hàng được phép giữ Giấy đăng ký xe của khách hàng nhưng vẫn xảy ra rủi ro không đòi được nợ, có ngân hàng từng phải “treo thưởng” để tìm được chiếc xe mà chủ xe đã thế chấp Giấy đăng ký xe ở ngân hàng. Vì vậy, nếu ngân hàng cho vay mà không giữ giấy tờ thì rủi ro còn cao hơn nhiều.

Cùng chủ đề bàn luận, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng:

Theo Điều 9, Nghị định 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm quy định “bổ sung Điều 20a về Giữ giấy tờ về tài sản thế chấp” có quy định như sau: “Trong trường hợp tài sản thế chấp là tàu bay, tàu biển hoặc phương tiện giao thông quy định tại Điều 7a, nghị định này, thì bên thế chấp giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu tàu bay, Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam, Giấy đăng ký phương tiện giao thông trong thời hạn hợp đồng thế chấp có hiệu lực”.

Trước đó, ngày 24/5/2017, Ngân hàng Nhà nước cũng đã có Công văn 3851/NHNH-PC yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc quy định khi cho khách hàng vay thế chấp ô tô, xe gắn máy, thì khách hàng vẫn là người giữ giấy đăng ký xe.

Như vậy, về mặt quy định, ngân hàng sẽ không được giữ Giấy đăng ký phương tiện giao thông của khách hàng

 

Không dừng xe theo hiệu lệnh của cảnh sát giao thông có thể bị xử lý hình sự?

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Tình trạng người dân chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh dừng xe, kiểm tra giấy tờ của cảnh sát giao thông ngày càng diễn ra nhiều. Vì nhiều nguyên nhân mà tình trạng này chưa có dấu hiệu giảm. Một trong những nguyên nhân đó là mọi người chưa nhận thức được mức độ nghiêm trọng của hành vi đó. Với hành vi này, người vi phạm có thể bị xử lý rất nặng, thậm chí là truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ theo Điều 257, một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.

Trong trường hợp người dân khi điều khiển phương tiện giao thông, nếu cảnh sát giao thông khi thấy có vi phạm Luật giao thông đường bộ, yêu cầu dừng xe, kiểm tra, lập biên bản thì chủ vị xử lý hành chính theo thủ tục hành chính. Tuy nhiên, nến người đó không dừng xe, có hành vi chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh thì trong nhiều trường hợp nghiêm trọng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ là vừa qua, tại Thành phố Biên Hòa,  tỉnh Đồng Nai xảy ra vụ việc một thiếu tá CSGT bám vào gương chiếu hậu bên trái xe tải yêu cầu dừng lại thì trượt ngã và bị bánh sau xe tải trên cán lên người tử vong tại chỗ. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã khởi tố tài xế xe tải về tội chống người thi hành công vụ.

Tuy nhiên, tùy vào từng hành vi, mức độ nghiêm trọng mà người vi phạm có thể  xét xử phạt hành chính hoặc bị xử lý hình sự. Đối với việc xử phạt hành chính thì theo quy định tại Điều 20, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ.

Nếu hành vi ở mức độ nghiêm trọng như vụ ở Thành phố Biên Hòa thì người đó mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì hành vi này đã đủ cấu thành tội phạm. Cụ thể theo Khoản 1 Điều 257 thì “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc  họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng  đến  ba năm”.

Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Đối tượng tác động của tội phạm này là người thi hành công vụ, thông qua việc xâm phạm đến người thi hành công vụ mà xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ công.

Người thi hành công vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao một nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. Người đang thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc, nếu chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc nhiệm vụ mà bị xâm phạm thì không thuộc trường hợp chống người thi hành công vụ, mà tuỳ trường hợp cụ thể để xác định một tội phạm khác có tình tiết vì lý do công vụ của nạn nhân. Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Trong trường hợp này, cảnh sát giao thông chính là người đang thi hành công vụ.

Người phạm tội chống người thi hành công vụ có thể thực hiện một trong các hành vi khách quan như: dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ… Với hành vì chống đối, không tuân thủ hiệu lệnh dừng xe, có thể như có hiệu lệnh dừng xe mà vẫn đâm thẳng cảnh sát giao thông cũng được coi là dùng vũ lực đối với với người thi hành công vụ.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các hành vi khách quan là tội phạm đã hoàn thành. Nhiệm vụ có thể vẫn được thực hiện, mặc dù người phạm tội đã thực hiện hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; đe doạ dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ; dùng thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ hoặc dùng thủ đoạn ép buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, về đường lối xử lý thực tiễn xét xử cho thấy, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp do có hành vi chống người thi hành công vụ mà dẫn đến việc thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ bị gián đoạn hoặc gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Qua sự phân tích trên thì người dân cần ý thức rõ hành vi không tuân thủ hiệu lệnh của cảnh sát giao thông có thể gây hậu quả nghiêm trọng như nào, từ đó, có ý thức hơn trong việc tuân thủ Luật giao thông đường bộ.

 

Xử lý tang vật bị tạm giữ, tịch thu trong vụ việc bạo lực gia đình


1. theo điều 49 nghị định 167/2013, người dùng công cụ, phương tiện xâm hại đến sức khỏe thành viên trong gia đình thì bị phạt tiền từ 1500k đến 2000k và có biện pháp khắc phục hậu quả là buộc xin lỗi công khai nếu bị hại có yêu cầu. vậy người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt có được thêm hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính (ví dụ: dao) không?????

2. trong trường hợp cơ quan công an đang tạm giữ dao (tang vật vi phạm hành chính trong vụ việc bạo lực gia đình), xác định dao này là dao nấu ăn thuộc sở hữu của người vi phạm thì xử lý tang vật như thế nào???

3. trong 1 vụ việc vi phạm hành chính người ký quyết định xử phạt là chủ tịch xã, người ký quyết định tạm giữ tang vật, tiêu hủy tang vật là trưởng công an xã được hay không???

Mong các anh chị giải thích giúp em. Em cảm ơn ạ

Xử lý tình huống đất đai cho hợp lý


Nhờ các bạn trao đổi tình huống sau:

A có 300m2 đất, có sổ đỏ. A bán cho B 200m2. Còn 100m2 A không bán. Khi làm thủ tục mua bán do không đủ điều kiện diện tích tối thiểu tách thửa nên đã HĐ công chứng chuyển cho B toàn bộ 300m2

Sau khi B được cấp giấy đỏ thì B lại bán cho C, do không tách thửa nên B bán cho C toàn bộ 300m2 đất( các bên có làm giấy thòa thuận bên ngoài, theo đó A gửi C 100m2 đất còn lại). Thủ tục mua bán xong, C đứng toàn bộ giấy đỏ 300m2 đất

Do mâu thuẫn: A kiện đòi B trả lại 100m2 đất( A không tranh chấp với B, C về 200m2 đất đã bán).

Vậy: C có phải trả lại A 100m2 đất không, trả bằng tiền hay đất. Nếu trả bằng đất tức 100m2 thì không đủ điều kiện tách thửa (A không được đứng tên riêng sổ đỏ  100m2, C cũng không thể đứng tên riêng sổ đỏ 200m2 đất) đất thì có đúng không

Xin cảm ơn

Luật sư tư vấn xử phạt hành vi hiếp dâm và cướp tài sản

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Tình huống pháp luật :

Cho tôi hỏi hành vi như sau thì bị phạt như thế nào ạ? Phạm những tội nào?

Tôi có biết trường hợp như sau : Anh P có đi nhậu với bạn bè, sau lúc tàn cuộc nhậu mọi người về nhà, riêng anh P điều khiển xe máy đi tìm gái bán dâm nhưng không có nên quay xe đi về. Khi đi ngang qua 1 trường tiểu học, nhìn thấy chị H là giáo viên tiểu học, do nhà xa nên chị ở lại trường  một mình. P nảy sinh ý định quan hệ tình dục với chị H.P dựng xe đi vào trường, giả vờ hỏi chuyện đồng thời quan sát xung quanh. Lúc này, chị H đang ngồi làm việc, bên cạnh có 01 điện thoại di động hiệu Samsung S6.

Sau một lúc nói chuyện, chị H mời anh P về vì lý do đã khuya, anh P liền quật ngã chị H xuống giường và giở trò đồi bại với chị H, mặc cho chị H van xin, khóc lóc, chóng cự. Sau khi thực hiện xong hành vi đồi bại P lấy điện thoại và số tiền trong ví chị H để trên bàn là 2 triệu đồng. Sau đó P còn đe dọa chị H nếu kể với ai sẽ quay lại giết chết.Sau đó P bỏ đi, ngay khi P bỏ đi chị H đã báo công an địa phương tiến hành bắt P, đến sáng thì P bị bắt.

Luật sư tư vấn:

Chào bạn!

Theo thông tin bạn cung cấp thì chúng tôi xác định anh P phạm tôi hiếp dâm và cướp tài sản bởi lẽ:

Thứ nhất:

Hành vi của P là hành vi  dùng vũ lực giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ. Cụ thể P đã quật ngã chị h xuống giường, mặc cho chị khóc lóc van xin, chống cự và hiếp dâm chị H, lợi dụng lúc chị H đang ở 1 mình nên P đã nảy ra ý định và thực hiện hành ci hiếp dâm chị H.

Hành vi trên hoàn toàn thỏa mãn cấu thành tội hiếp dâm được quy định theo điều 111, bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Trường hợp của P rơi vào trường hợp theo khoản 1, điều 111, BLHS:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Vậy hành vi của P sẽ bị xử phạt từ hai năm đến bảy năm.

Thứ hai:

Ngoài hành vi hiếp dâm chị H ra, bị còn lấy điện thoại và số tiền có trong ví của chị H.

Hành vi này là hành vi cướp tài sản vì sau khi tấn công tình dục chi H lợi dụng chị H không chống cự được P đã lấy điện thoại và tiền có trong ví. Hành vi này thỏa mãn tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133. Tội cướp tài sản (BLHS) 

“1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm”

Với hành vi cướp tài sản này P sẽ bị xử phạt từ ba năm đến mười năm.

Như vậy P phạm đồng thời hai tội đó là “hiếp dâm” và “cướp tài sản” theo quy định của BLHS.

Vậy với hai tội danh trên P có thể nhận mức án phạt từ cao nhất khi cộng cả hai tội danh là 17 năm tù.

Cảm ơn bạn!

 

Hình thức xử phạt đối với hành vi vứt rác không đúng nơi quy định.

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Độc giả hỏi:

Thưa luật sư, hiện nay pháp luật quy định xử phạt như thế nào đối với những hành vi như vứt mẩu tàn thuốc lá hay tiểu tiện, đại tiện, vứt rác thải sinh hoạt không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng. Rất mong luật sư giải đáp.

Luật sư trả lời:

Khoản 1 Điều 20 Nghị định  155/2016/NĐ-CP quy định xử phạt đối với các hành vi bạn nêu như sau:

a) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi vứt, thải, bỏ đầu, mẩu và tàn thuốc lá không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng;

b) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vệ sinh cá nhân (tiểu tiện, đại tiện) không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng;

c) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vứt, thải, bỏ rác thải sinh hoạt không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng, trừ vi phạm quy định tại điểm d khoản này;

d) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi vứt, thải rác thải sinh hoạt trên vỉa hè, đường phố hoặc vào hệ thống thoát nước thải đô thị hoặc hệ thống thoát nước mặt trong khu vực đô thị.

 

Mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định cung cấp thông tin về đất đai

[Tình Huống Pháp Lý] #tinhhuongphaply #ulawshare #uls


Độc giả gửi qua thư điện tử hỏi:

 Thưa Luật sư, việc cơ quan nhà nước cố tình không cung cấp hoặc cung cấp không chính xác các thông tin đất đai liên quan đến thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân thì có bị xử phạt hay không?

 

Luật sư trả lời:

Điều 29 Nghị định 102/2014/NĐ-CP có quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin đất đai liên quan đến thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân như sau:

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi chậm cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra về đất đai sau 07 ngày kể từ ngày công bố quyết định thanh tra hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân.

2. Phạt tiền từ trên 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin đất đai không chính xác, không đầy đủ của người có trách nhiệm liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân.

3. Phạt tiền từ trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân.”